Tự Do

04/08/202216:55(Xem: 4724)
Tự Do


melbourne

(Tạp văn)

  

Tự do
Tuệ Thiền Lê Bá Bôn
 

Khi tâm hồn vút lên Hy Mã
Ta ung dung vào giữa chợ đời
Lòng mở cửa – yêu thương không vị ngã
Thì cần chi kích thích tố dựng niềm vui

Mọi nhãn hiệu đeo mang chừ vứt bỏ
Ta tự do tự tại giữa vô thường
Sáng chủ nhật lên đồi cao hóng gió
Trải giấc nồng ngoài tiếng hát trùng dương.


(Đường về minh triết, nxb Văn nghệ, 2007)
------

 

ĐOẠN VĂN THÚ VỊ


(Tôi trân trọng cảm ơn đoạn văn thú vị này của Thiền sư học giả Daisetz Teitaro Suzuki, và xin giới thiệu với các tâm hồn thi sĩ vô ngôn – biết dành chút thời gian cho ý chí (linh hồn) chiêm nghiệm quê chung, uống ngụm nước đầu nguồn khát vọng, xả bớt stress bụi đời).
---

“Ba Tiêu (Bashô) là một thi hào lãng du, một người yêu thiên nhiên vô cùng đắm đuối, một loài trữ tình lãng mạn thiên nhiên. Cuộc đời của ông trôi theo cuộc lữ đi từ cực Nam đến cực Bắc của Nhật Bản. May thay, thời đó chưa có tàu hoả. Những tiện nghi của đời sống mới hình như chẳng tốt đẹp gì cho thi ca. Tinh thần phân tích khoa học của đời sống mới tước bỏ hết cái u huyền ẩn mật; thi ca, bài cú (haiku) hình như không sống nổi ở những nơi mất hết cả những huyền vi ẩn mật. Cuộc rối loạn với khoa học là sự kiện đã lột bỏ hết mọi sự ẩn ước, tất cả bị lột trần, và những gì thấy được đều đã nằm trơ ra đó. Nơi nào khoa học ngự trị, óc tưởng tượng gióng trống rút lui.

Chúng ta bị bắt buộc phải đối diện với những sự kiện được gọi là cứng rắn đó, và rồi đầu óc chúng ta trở thành lạnh lùng như xương trắng; nơi nào không có một chút dịu ngọt dành cho chúng ta, thì thi ca bỏ đi; nơi nào là một bãi cát mênh mông nơi đó không thể có tàn cây xanh lá. Trong thời Ba Tiêu, đời sống chưa quá vô vị và nặng nề như thế. Một cái nón tre, một cái gậy trúc và một túi vải có thể đủ cho nhà thơ lang thang đây đó, dừng lại trong khoảnh khắc ở một xóm nhỏ khơi dậy tâm tình lãng mạn, thưởng thức tất cả những lịch nghiệm, dĩ nhiên rất gian khổ trong cuộc lãng du của thời bán khai. Đến khi cuộc du lịch trở thành quá dễ dàng và đủ tiện nghi, ý nghĩa tâm linh của nó không còn nữa. Có thể gọi đây là chủ nghĩa duy cảm, nhưng một tình cảm cô liêu nào đó được nảy sinh từ cuộc lãng du gợi cho ta trầm tư về ý nghĩa của đời sống, bởi vì đời sống kỳ cùng là một cuộc lữ đi từ đầu này đất lạ đến đầu kia vùng đất lạ. Trong cái thời của những năm 60, 70 và 80 đã định sẵn cho chúng ta rồi, chúng ta được phép vén mở bức màn huyền ẩn, nếu có thể. Một dòng đời rất nhẹ nhàng mặc dù là quá ngắn ngủi trôi qua, trong khoảng thời gian này đã cướp mất chúng ta cái cảm giác vĩnh tịch đó.

Tiền bối của Ba Tiêu (Bashô) là Tây Hành (Saigyô) dưới thời Kiếm Thương (Kamakura; 1168-1334). Ông cũng là một nhà sư lãng du. Sau khi rời bỏ quan chức, một võ quan do triều đình phong, sư để dành cả cuộc đời mình cho cuộc lữ và cuộc thơ. Đó là một nhà sư của đạo Phật. Nhất định bạn đã từng thấy, nơi nào đó khi bạn ghé ngang qua Nhật Bản, chân dung của một nhà thơ trong chiếc áo vân du, hoàn toàn đơn độc, đang ngắm nhìn ngọn Phú Sĩ Sơn. Tôi quên mất hoạ sĩ là ai, nhưng bức tranh gợi nên nhiều mối cảm nghĩ, nhất là trong nỗi cô liêu huyền bí của đời sống con người, dù vậy đó không phải là cảm giác bị bỏ rơi, không phải là tâm tình nặng trĩu cô liêu, nhưng chỉ là một lối chiêm nghiệm cái huyền vi của tuyệt đối. Thì đây là một bài thơ của Tây Hành (Saigyô):

Gió cuốn lên
Khói mờ trên Phú Sĩ
Bay mất ngoài xa xăm
Ai biết về đâu nhỉ?
Cõi lòng tôi cùng lang thang.

Ba Tiêu không phải là một nhà sư tu Phật nhưng cũng là một đệ tử của thiền gia.
Vào đầu thu, khi trời bắt đầu mưa từng độ, trời đất hiện thân của vĩnh tịch. Nhưng cành cây trụi lá, những ngọn núi bắt đầu mang dáng dấp khắc khổ, những con nước trôi nhanh hơn và trong cảnh chiều khi đàn chim, sau một ngày mệt nhọc, đang tìm đường về tổ, một lữ khách đơn côi càng trở nên đăm chiêu về số phận của đời người. Phong độ của ông cùng cử động với phong độ của thiên nhiên. Ba Tiêu hát:

Một lữ khách
Xin gọi tên tôi là thế
Cơn mưa thu này.

Chúng ta không nhất thiết phải là những ẩn sĩ, nhưng tôi không rõ trong mỗi người chúng ta có hay không có một ước vọng triền miên trước một thế giới vượt ngoài cõi đời thông tục tương đối này; vọng về nơi mà linh hồn của mình có thể trầm ngâm chiêm nghiệm số phận riêng tư của nó.

Lúc Ba Tiêu đang còn học thiền với Phật Đỉnh Quốc Sư (Bucchô Kokushi), một hôm Quốc Sư đến viếng ông và hỏi: “Lúc này con ra sao?” Ba Tiêu: “Sau cơn mưa vừa qua, rong rêu xanh hơn trước.”
Phật Đỉnh: “Trước khi rêu xanh thì Phật pháp là gì?”
Ba Tiêu: “Con ếch nhảy vào nước, kìa tiếng động!”

Người ta nói rằng kể từ đó một giai đoạn mới trong lịch sử của bài cú bắt đầu. Bài cú trước thời Ba Tiêu chỉ là một lối chơi chữ, không liên hệ đến đời sống. Ba Tiêu, nhân được thầy của ông hỏi về chân lý rốt ráo của mọi vật trước khi có thế giới sai biệt này, đã thấy một con ếch nhảy xuống giếng cạn, tiếng động rung lên giữa một vùng tĩnh lặng. Đã bắt được nguồn mạch của đời sống và nghệ sĩ ngồi ở đây ngắm nhìn cõi lòng của mình đang xuôi theo dòng sinh hoá triền miên của thế giới, rồi từ đó biết bao nhiêu bài thơ 17 âm tiết truyền lại đến chúng ta. Ba Tiêu quả là một nhà thơ của Vĩnh Tịch.

Một bài thơ bài cú khác của ông như sau:

Một cành cây trụi lá,
Một con quạ đậu trên cành
Chiều thu sang.

Tính cách giản dị của hình thức không phải lúc nào cũng có nghĩa là có một nội dung thô thiển. Có một Cõi Ngoài hoằng đại ở ngay trong con quạ cô liêu đậu trên cành cây khô trụi lá. Mọi vật hiện ra từ một hố thẳm huyền ẩn tuyệt mù, và ngang qua nơi mỗi sự vật đó mà chúng ta có thể ném cái nhìn vào tận đáy sâu của hố thẳm. Các ngài khỏi cần phải làm một bài thơ lớn dài hàng trăm câu mới có thể thổ lộ được cái tình cảm được khơi dậy bởi cái nhìn rọi vào hố thẳm. Khi một tình cảm đạt tới các độ rung cảm của nó chúng ta chỉ còn im lặng, vì không có lời nào nói cho xứng. Thậm chí 17 tiếng cũng là đã quá nhiều rồi. (…..).

(…..)

Để kết luận: tinh thần Vĩnh Tịch (viviktadharma), tức tinh thần của Thiền tự bộc lộ dưới danh hiệu “Sabi” (Tịch) trong các bộ môn nghệ thuật khác nhau của đời sống, như thuật làm vườn cảnh, trà đạo, hội hoạ, cắm hoa, trang phục, trang trí, trong cách sống, trong vũ điệu nô, thi ca, vân vân. Tinh thần này bao gồm những yếu tố như: giản dị, tự nhiên, không câu nệ, tế nhị, tự do, thân thiện nhưng tỏ ra hững hờ kỳ lạ, và cái chung đụng thường nhật được bao phủ tuyệt diệu với làn sương mù hướng nội siêu việt.

Để điển hình, tôi xin mô tả một trà thất trong một thiền thất tại chùa Daitokuji (Đại Đức Tự). Ngôi chùa này đứng hàng đầu về trà đạo. Con đường lát đá, với những viên đá không được sắp tề chỉnh, dẫn tới một gian nhà nhỏ tầm thường mái lợp tranh, thấp và rất khiêm tốn. Lối vào không đi bằng cửa, mà được làm như kiểu khoét vách; khi bước vào, khách phải cởi bỏ tất cả những vật mang theo, tức là, bỏ lại hết trường kiếm và đoản kiếm, mà trong thời phong kiến một võ sĩ lúc nào cũng mang theo. Bên trong là một căn phòng nhỏ mờ sáng, vuông vức khoảng mười bộ; trần nhà thấp, mặt cao không đồng đều và bằng vật liệu ghép. Các chỗ ngồi không trơn nhẵn, hầu hết được làm bằng gỗ tự nhiên. Tuy vậy, sau một đỗi, khi cặp mắt quen với khung cảnh mới, căn phòng càng lúc càng sáng hơn. Chúng ta nhận thấy trong góc lỏm một bức “thơ vật” (kakimono), một tác phẩm nghệ thuật viết chữ, trông cổ kính, với một thủ thơ hay một hoạ phẩm theo lối mặc hội (sumiye). Một lò hương toả khói thơm có tác dụng làm êm dịu trí não. Bình hoa chỉ cắm độc nhất một nhánh hoa, không lộng lẫy, không hào nhoáng; nhưng giống như một đoá hoa bách hợp màu trắng, nhỏ, dưới một tảng đá chung quanh có những gốc tùng rợp bóng, đoá hoa khiêm tốn vươn cao trong vẻ đẹp, lôi cuốn khách chú mục vào đó; họ có khoảng bốn hay năm người được mời riêng đến nhấm một chung trà để quên những công vụ ngoài đời thường đè nặng lên mình.

Rồi chúng ta nghe tiếng nước sôi trong ấm, bắc trên bếp lửa có ba chân ở một cái lỗ vuông được đào dưới nền nhà. Âm thanh này thực ra không phải của tiếng nước đang sôi, mà do ấm thiếc nặng; khách thưởng giám có thể so sánh rất chính xác với cơn gió nhẹ thổi qua những ngọn tùng. Chừng đó cũng đã là lớn đối với sự yên tĩnh của gian phòng, vì ở đây người ta cảm tưởng như mình đang ngồi đơn độc trong một thảo am sơn dã mà những người bạn tri âm chỉ là một đám mây trắng và tiếng nhạc của ngọn tùng.

Uống một chung trà với bằng hữu trong khung cảnh này và có lẽ bàn luận về nét phác hoạ thuỷ mặc trong góc phòng, hay một đề tài nghệ thuật nào đó được gợi lên bởi những dụng cụ trà ở trong phòng, mà lạ lùng thay, tâm hồn bốc cao lên khỏi những tế toái của đời sống. Người chiến sĩ cởi bỏ quân vụ chiến đấu hằng ngày, thương gia được giải toả khỏi ý tưởng làm tiền ám ảnh của mình. Quả thực, đó há không là cái mà người ta phải tìm kiếm trong thế giới cạnh tranh và hư nguỵ này, một góc phòng, dù nhỏ nhoi, mà nơi đó người ta có thể vượt lên những giới hạn của tương đối để một thoáng nhìn vào vĩnh cửu?”
---


(Daisetz Teitaro Suzuki; THIỀN LỤẬN - quyển hạ; Việt dịch: Tuệ Sỹ; Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản, PL. 2533 – 1989, Thuvienhoasen org; nxb Tri Thức (Việt Nam), 2017)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25/03/2026(Xem: 1220)
Góp nhặt vô thường xếp lại ngăn, Trí tuệ giao thoa nhẹ bước chân Giấc mơ hiện về nhắc tâm trí Nhìn đời bao dung lẫn tri ân Thế gian vạn biến, đừng dính mắc Với lòng bi mẫn giải mã dần Duy trì thói quen hằng quán chiếu Chúc phúc đến ai, chữa sai lầm
20/03/2026(Xem: 433)
Trong bối cảnh Phật giáo đang đối diện với thương mại hóa, hình thức hóa, và sự suy giảm chiều sâu giáo lý, việc tìm lại những mô hình cư sĩ lý tưởng không chỉ mang tính lịch sử mà còn mang tính định hướng cho tương lai. Hai hình tượng nổi bật nhất trong Đại thừa — Duy Ma Cật và Thắng Man Phu Nhân — không chỉ là những nhân vật kinh điển, mà còn là biểu tượng của trí tuệ, từ bi nhập thế và phụng sự xã hội. Điều đặc biệt là cả hai đều: không rời bỏ gia đình, không rời bỏ trách nhiệm xã hội, không rời bỏ đời sống kinh tế – chính trị, nhưng vẫn đạt trí tuệ sâu xa và phát đại nguyện Bồ-tát.
19/03/2026(Xem: 604)
Rơi vào trầm cảm sau khi mẹ qua đời, Lilly Hubbard quyết định quay lại Việt Nam và tìm thấy sự "chữa lành" từ tình người ấm áp ở vùng đất xa lạ. Sáng ngày cuối tháng 2, Lilly, 41 tuổi, theo người bạn đến thăm họ hàng tại khu chợ Đồn, phường Thuận Lộc, TP Huế. Trong lúc chờ đợi, cô ngồi nép vào một góc, dùng điện thoại ghi lại nhịp sống rộn ràng. Một phụ nữ lớn tuổi bán hàng gần đó chú ý đến cô. Bà mỉm cười, đưa tay dùng ngôn ngữ ký hiệu của người câm hỏi Lilly đến từ đâu. Cuộc trò chuyện không lời diễn ra bằng những cái gật đầu, nụ cười và ánh mắt. Khi Lilly xoay màn hình điện thoại cho bà xem đoạn video vừa quay, thấy mình xuất hiện, người phụ nữ bật cười.
19/03/2026(Xem: 580)
Những tia nắng đầu ngày lấp lánh trong trẻo như pha lê, vườn cây hớn hở tắm trong ánh nắng tươi mát, từng phiến lá hả hê nhả dưỡng khí vào đất trời. Màu xanh cây lá mát mắt, mát dịu cả tâm hồn. Màu xanh chắt ra từ nguồn nước mẹ thiên nhiên, từ năng lượng ấm áp của nắng gió để rồi chuyển thành năng lượng sống của vô số chiếc lá. Thần ánh sáng Helios trên chiếc xe kéo bởi những con ngựa có bờm lửa lướt qua bầu trời. Ánh sáng tràn ngập cả không gian khiến cho gã người phải mở mắt ra.
19/03/2026(Xem: 1291)
Cảm tác khi đón nhận tin Thành phố Melbourne theo bản thống kê trong 50 thành phố đáng sống trên thế giới vào năm 2026 (bảng xếp hạng mới nhất của Time Out 2026, Melbourne đã vươn lên vị trí số 1 thế giới) nhờ sự bùng nổ về văn hóa, ẩm thực và sự hài lòng của người dân. Trùng hợp thay, đọc lại tác giả Walter Benjamin (1892-1940) mới thấy người triết gia này từ lâu thể hiện rõ nhất những suy nghĩ của mình về thành phố hiện đại trong bộ tác phẩm đồ sộ (nhưng chưa hoàn thành) mang tên The Arcades Project (Dự án hành lang - Das Passagen-Werk): Đây là "cuốn kinh thánh" về đô thị hiện đại. Nơi ông giải phẫu Paris để thấy linh hồn của chủ nghĩa tư bản và sự tiêu thụ và những thay đổi trong trải nghiệm của con người, hơn thế nữa nó còn là sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại.
18/03/2026(Xem: 712)
Trong các truyện nhà Thiền, chúng ta vẫn nghe ngài Triệu Châu ưa trả lời những câu hỏi về Phật Tánh bằng cách không trả lời, hay có khi chỉ vào gốc cây ngoài sân cho chúng ta ngó nếu người hỏi đang đứng ngoài sân, hay có khi nói rằng hãy uống trà đi nếu người hỏi đang ngồi bên bàn với các ly trà. Làm cách nào chúng ta có thể nâng ly trà lên mà nhận ra Phật Tánh? Dĩ nhiên, không hề có chuyện Tánh Phật ẩn giấu trong lá trà, nước trà, hương trà, vị trà.... Câu chuyện như dường đầy bí ẩn. Thực ra thì không bí ẩn, nếu chúng ta lúc đó trực ngộ rằng Phật Tánh không hề lìa xa thân tâm mình, không hề cụ thể ở ngoải hay ở trong thân tâm mình, nhưng là một toàn thể một thế giới (và đừng gọi là trong/ngoài, đừng gọi là có/không) vẫn không ngừng hiển lộ với chúng ta.
16/03/2026(Xem: 1103)
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù.
13/03/2026(Xem: 2032)
“Đời người như áng mây trôi bồng bềnh giữa hư không. Biết buông nhẹ giữa nhân gian, để mai này thong dong trở về với mênh mông.” Có những lúc giữa dòng đời tất bật, ta bỗng dừng lại và tự hỏi: rốt cuộc mình đến với thế gian này để làm gì? rồi mai này sẽ đi về đâu? Bao năm tháng mải miết chạy theo danh lợi, tình tiền, hơn thua, được mất… đến khi ngoảnh lại mới thấy tất cả chỉ như một giấc mộng dài. Những điều từng khiến ta vui buồn, giận hờn hay tiếc nuối, rồi cũng sẽ lặng lẽ trôi qua như áng mây bay cuối trời.
12/03/2026(Xem: 774)
Thỉnh thoảng, các mạng xã hội của cộng đồng Việt Nam trong và ngoài nước lại nổi lên sóng gió về chuyện các nhà sư nói sai Chánh pháp, hay sống không phù hợp với Chánh pháp. Chuyện đó bây giờ xảy ra thường hơn, tới nổi rất nhiều người trong chúng ta lại cố ý bỏ qua, hy vọng chuyện này sẽ sớm được quên. Tuy nhiên, khi bên cạnh nhà sư xuất hiện thêm một phụ nữ, chuyện lại tăng thêm một bậc sôi nổi để trở thành các phim bộ kiểu mới. Tình, tiền... Biết làm sao bây giờ? Không lẽ chúng ta cứ mãi lặp lại lời dạy rằng hãy y Pháp, chứ đừng y nhơn. Rằng hãy nương dựa vào Pháp, chứ đừng nương dựa theo người...
10/03/2026(Xem: 2131)
Tình hình chiến tranh bây giờ khó làm chúng ta hình dung về một Iran cổ đại nơi được nghe kể về những cổ tích thơ mộng, nơi các nhân vật mang tâm hồn Bồ Tát bước ra từ sương khói của truyện Ngàn Lẻ Một Đêm. Chúng ta cũng sẽ kinh ngạc khi nhớ rằng lịch sử đã từng có các nhà thơ sáng tác trong ngôn ngữ Ba Tư cổ đại (Persian: Farsi), tiền thân của tiếng Iran hiện nay, hay và thâm sâu tới mức không dễ có bao nhiêu thi sĩ hiện nay bước tới mép bờ giấy mực của họ. Và bạn sẽ thấy truyện võ hiệp Kim Dung cũng đã từng lấy một mảng Minh Giáo của Iran cổ đại rất mực từ bi và khắt khe – nơi tu sĩ phải sống độc thân, khổ hạnh, bất bạo động, ăn chay, không rượu thịt -- để chế biến thành cảm hứng văn học, nơi các truyền nhân đều lãng mạn và võ học phi thường như Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu...