Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh


Mừng Xuân Di Lặc

Bính Tuất -2006


...... ... .

 

Nét đẹp mùa xuân thẩm mỹ cuộc đời

Phước Lượng

Thể theo qui ước của thế gian “Niên hữu tứ thời...” thì Xuân là mùa đầu tiên trong bốn mùa của một năm theo chu kỳ vận hành của thời tiết Xuân-Hạ - Thu - Đông. Sự biến đổi của môi trường sinh thái tự nhiên theo chu kỳ thời gian đến - đi của mỗi mùa tác động không nhỏ đến tâm lý sinh hoạt thường nhật của con người. Bức tranh thiên nhiên của mỗi mùa trở thành đối tượng lý thú, là nguồn cảm hứng bất tận của thơ ca, âm nhạc và triết lý cuộc sống. Văn cảnh “Thu ăn măng trúc Đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen Hạ tắm ao”, hoặc là “Thu ẩm hoàng hoa tửu, Đông ngâm bạch tuyết thi” là mô tả nét sinh hoạt theo ý thức chủ quan của người phương Đông từ bức tranh thiên nhiên bốn mùa ấy. Ở đó, nét đẹp ban sơ của cảnh vật thiên nhiên được lồng vào trong khung sinh hoạt tương thích của con người, tạo thành nét đẹp sáng tạo trong nghệ thuật sống, rất hữu tình, hài hòa giữa môi trường thiên nhiên và con người, tương xứng giữa không gian và thời gian.

Trên bình diện tâm lý thường nghiệm trong đời sống sinh hoạt, mùa Xuân thường được gắn liền với ý niệm mới mẻ, sáng đẹp, đôi khi nó được ví như là mùa đẹp nhất trong năm. Nhìn chung, điều mà người ta dễ nhận thấy ở cái đẹp của mùa Xuân là vì sắc thái của nó gần như tương phản với sắc thái của những mùa còn lại. Yếu tố không gian và cảnh vật mùa Xuân tạo nên bức tranh thiên nhiên tràn đầy sức sống với vẻ diệu kỳ của tạo hóa. Mùa Xuân cũng thường được nhấn mạnh đến ý nghĩa về một không khí hào hứng, năng động, sôi nổi, ngụ ý cho một sự đổi thay tươi mới trong cuộc đời. Nó mang đến bức thông điệp của ước mơ, niềm tin và hy vọng, truyền trao một sức sống mới; sức trẻ trung và bầu nhiệt huyết cho lý tưởng tương lai sáng đẹp. Ý niệm sinh sôi, hưng thịnh của sự sống được ý thức con người khai thác và sử dụng để làm thăng hoa thêm sinh khí cuộc đời.

Ảnh tượng về cái đẹp của mùa Xuân là thế. Đâu là cái đẹp của cuộc đời? Tuy nhiên, trước khi tìm hiểu vấn đề, chúng ta cần hiểu rằng “cái đẹp" nằm ở ý thức chủ quan của người thưởng thức, mỗi một sự vật khách quan tự nó không nói lên được cái đẹp, mà nó đẹp khi nó tồn tại qua nhận thức của con người. Vì vậy, khi nói mùa Xuân đẹp tức là có chủ ý so sánh và thừa nhận mỗi mùa chứa đựng mỗi cấp độ thẩm mỹ riêng của nó. Nội hàm của thẩm mỹ cuộc đời bao gồm cái đẹp hình thức biểu hiện và giá trị nội dung của ý thức cảm thụ cái đẹp. Cái đẹp hình thức bộc lộ qua tướng trạng... của một thực thể hay sự thể tồn tại khách quan được trực cảm bằng kinh nghiệm cảm tính. Trong khi đó cái đẹp nội dung tồn tại dưới một dạng thức khác, đó là cái đẹp của tâm thức, cái đẹp của tâm hồn thể nghiệm (aesthetic experience, hoặc aesthetic conciousness).  Cảm hứng trước cái đẹp của mùa Xuân, thưởng thức và tôn vinh nó là cảm xúc thường tình như cảm xúc với những sự kiện khác trong cuộc sống. Tuy nhiên, chúng ta thường không ý thức được, rằng bản chất của cái đẹp như thế lại tồn tại rất ngắn ngủi thoáng qua, và rằng niềm hạnh phúc mà chúng ta đang có đó lại hoàn toàn phụ thuộc vào cái đẹp của cảnh vật mùa Xuân và gắn liền với hoạt cảnh sáng tạo thụ động của con người. Vì vậy, niềm hạnh phúc sẽ xa dần chúng ta theo những cánh hoa rơi, những ly rượu cuối cùng và tiếng pháo chìm dần, tan loãng trong không gian, và theo dòng đời bôn ba xuôi ngược để mưu sinh. Để rồi tâm trạng rất dễ rơi vào chỗ trống vắng buồn bã nuối tiếc vì, một mặt chúng ta bị tác động chính bởi cái đẹp mùa Xuân và cái đẹp hoạt cảnh bên ngoài của con người, mặt khác chúng ta chưa có hoặc chưa chuẩn bị đủ tinh thần để tái tạo cái đẹp mùa Xuân nội tại trong tâm thức mình. Kết quả là chúng ta không thể duy trì được cái đẹp ấy với thời gian và cuộc đời. Có một cái đẹp diệu kỳ trong tâm chưa được đánh thức; cái đẹp không màu sắc, không hình tướng, khó nắm bắt nhưng không phải không tìm thấy được. Nhận diện nét đẹp ngày Xuân, vui với cái vui mùa Xuân, thưởng thức hương vị ngày Xuân thì dễ dàng. Thế nhưng nhận ra và thưởng thức được nét thẩm mỹ  nội tại của mùa Xuân trong tâm không phải là điều đơn giản. Nó đòi hỏi một năng lực thể nghiệm sâu xa. Khác với cái đẹp của thiên nhiên - một hình thái khách quan của thế giới hiện tượng luôn bị biến dạng bởi bản chất vô thường của vạn hữu và bởi cấp độ cảm hứng, đổi thay của tâm thức, phẩm cách cái đẹp nội tại của tâm thức là kết quả của tiến trình tư duy sáng tạo qua thiền định và trí tuệ, là trạng thái khi tâm thấu triệt được thực tánh sanh diệt tương tục của sự vật nói chung và hiện tướng của cái đẹp mùa Xuân bên ngoài và hoạt cảnh cuộc đời nói riêng. Để có được phẩm chất này, việc giữ tâm trong trạng thái tĩnh lặng và thanh thản là điều tối cần. Khi lực hấp dẫn của cái đẹp hiện diện thì kinh nghiệm hay sự cảm xúc về cái đẹp luôn xảy ra trong tâm. Nếu tâm ta được huấn luyện trong yên tịnh và tập trung, nó sẽ nhận thức được bản chất mọi vật một cách sâu xa, tinh tế. Cũng vậy, khi tâm ta trở nên bồn chồn, kích động trước sự biến đổi của cái đẹp cảnh vật thì dù mùa Xuân có đẹp mấy cũng trở nên buồn tẻ, thất vọng -vô nghĩa. Chúng ta chưa biết đem cái đẹp nội tâm trang điểm và làm đẹp con người - cuộc đời. Và vì vậy, tuy chúng ta cứ tưởng mình đang tạo ra sinh khí cho cuộc đời, đang được làm đẹp, sống với cái đẹp và thưởng thức cái đẹp, nhưng kỳ thực chúng ta đang say đắm một cách mù quáng trước lực hấp dẫn của thế giới bên ngoài và trở thành những kẻ xấu xí, hợm mình mà không hay. Chúng ta đang làm hư hoại cái đẹp vì chúng ta đang sống quá xa mảnh đất tâm chân thật của mình, biến mình thành cỗ máy thụ động tạo ra cái đẹp giả tạo! Chúng ta thấy mình đẹp vì chúng ta chỉ biết soi mình bằng tấm gương ảo giác bám bụi vô minh, chấp thủ, vị kỷ... đóng kín trong cái khung tự ngã, như người mang kiếng màu nhìn ngoại cảnh, như cóc ngồi đáy giếng ngắm vòm trời xanh...

Suy cho cùng, ở bất kỳ thời đại nào, xã hội nào, thì một trong những nhu cầu và mục đích rất được quan tâm của con người là cái đẹp và đi tìm (xây dựng) cái đẹp. Bởi vì cái đẹp, dù ở cấp độ nào, cũng là một tác nhân tạo nên nguồn hạnh phúc - an lạc. Hiện trạng đó chỉ ra rằng khát vọng tạo ra cái đẹp và cảm thụ cái đẹp là một nhu cầu tất yếu của cuộc sống. Chẳng thế mà nó đang biến thiên theo chiều hướng đi lên của xã hội hiện đại. Nhu cầu ấy không phải chỉ phát xuất từ lý do cá nhân mà còn bị tác động bởi điều kiện sinh hoạt của đoàn thể xã hội xung quanh. Thực tế ấy chẳng có gì để chúng ta phải bận tâm, có thái độ tiêu cực, phê phán hay phủ nhận. Vấn đề ở chỗ là trong khi chúng ta đặt một sự chú trọng quá lớn trong việc thỏa mãn nhu cầu cho cái đẹp bên ngoài, nhưng lại chưa ý thức (hoặc xem nhẹ) đến việc phải làm sao để tìm cho được cái đẹp chân thực, trọn vẹn ẩn đằng sau cái đẹp “theo thời theo mốt” đó, và làm thế nào để duy trì cái đẹp hài hòa đó được tồn tại lâu dài. Để tạo nên cái đẹp và thưởng thức cái đẹp trọn vẹn, chúng ta không chỉ biết lấy không gian và cảnh vật mùa Xuân để làm đẹp cuộc sống bên ngoài, lấy phục sức để làm đẹp thân tướng... mà chúng ta cần phải biết lấy chất liệu hương sắc chân - thiện của tâm thức để tạo nên nét thẩm mỹ cho cuộc đời và thưởng thức nó. Đi tìm cái đẹp theo ý hướng đó có nghĩa là chúng ta đi tìm giá trị cao quý cho cuộc đời. Hay nói khác đi, đó là tính cách năng động của tâm thức biết tư duy theo hướng tích cực của người thưởng xuân, của người có trí biết sử dụng cái đẹp và giá trị vật chất để nâng cao cái đẹp tâm hồn, mà không phải là người chỉ biết lợi dụng cái đẹp và giá trị vật chất để làm nên cái đẹp hình tướng nhằm ngụy trang cho lỗ hổng lớn trong tinh thần một cách trơ trẽn, lố bịch. Chủ động kết hợp được cái đẹp của mùa Xuân thiên nhiên, cái đẹp ngoại tại của con người (sắc tướng của thân và ngoại giới) và nét thẩm mỹ nội tại của tâm thức thì nguồn hạnh phúc sẽ thường tại với chúng ta cho dù mùa Xuân có đi qua, cuộc sống có đơn sơ mộc mạc, cuộc đời có thăng-trầm, vinh-nhục...

Nhìn nhận về cái đẹp luôn tùy thuộc vào cấp độ hiểu biết của mỗi cá nhân. Những người thiên về lối sống hình thức thường nhận thức cái đẹp qua quần áo và vật dụng trang sức. Người nhạy bén về mặt tình cảm thì đôi mắt long lanh và nụ cười tươi trẻ, rạng rỡ... trên khuôn mặt là biểu tượng của cái đẹp. Ở một cấp độ khác, cái đẹp được bộc lộ qua bản tánh ngây thơ, tính tình chất phác. Những cách nhìn nhận như thế thường chỉ nói lên được cái đẹp hết sức phiến diện. Người có thiên hướng sống về lý trí thì, ngoài cái đẹp phiến diện trên đây, cái đẹp nằm ở sự thông minh, chất trực và thiện từ. Cũng có lúc ta cảm thụ cái đẹp nơi một người và bày tỏ thái độ kính trọng người ấy không phải vì hình tướng bề ngoài và phục sức sang trọng của anh ta, mà vì người ấy có đầu óc lanh lợi và trí thông minh, có tính trung thực, đức nhân từ - vị tha, thái độ khiêm tốn và tự trọng. Sự sang trọng chưa nói lên được cái đẹp, giá trị của các vật trang sức đắt tiền cũng chưa nói lên được cái đẹp... Nó chỉ là chiếc áo khoác bên ngoài nhằm thích ứng với môi trường tương quan xã hội. Cái đẹp nằm ở tính cách sống đẹp được thể hiện qua sự hiểu biết trong cách sử dụng các giá trị bên ngoài để làm đẹp giá trị tâm hồn, qua cung cách xử sự với mọi người và trách nhiệm với công việc. Một tấm lòng chân thực, một đức tính thuần hậu, nhân từ được xem như là cái đẹp vĩnh hằng, nó luôn được trân quý và tôn trọng. Như thế, một cá nhân con người được gọi là đẹp thì người ấy không chỉ đẹp ở hình thức bên ngoài mà còn phải đẹp ở ý tưởng bên trong.

Hình tượng Đức Phật Thích Ca tiêu biểu cho cái đẹp hình thể và nội tâm: đó là cái đẹp trầm hùng của tâm đức và trí tuệ và cái đẹp trang nghiêm của thân tướng.

Đức (trí) và tướng hợp thành cái đẹp “bất khả tư nghì” mà mỗi khi chiêm ngưỡng trước ảnh tượng của Ngài, chúng ta thường hay xưng tán rằng “Thế Tôn đức tướng nan tận tán dương” (Vẻ đẹp trang nghiêm về tâm đức và thân tướng của Thế Tôn thì khó mà tán dương cho cùng tận) là muốn tôn vinh và cảm phục cái đẹp toàn diện của Ngài. Theo định hướng lý tưởng ấy thì cái đẹp hình thức bên ngoài chỉ là “điều kiện cần” mà chưa phải là “điều kiện đủ”. Cái đẹp của con người chỉ duy trì được dài lâu khi các điều kiện nội tại được phát huy và duy trì. Cũng giống như một cây hoa đẹp, chúng ta không chỉ biết cắt tỉa, uốn nắn hay làm sạch cành lá... bên trên thân cây không thôi, mà công việc chính là biết chăm sóc phần gốc rễ của nó thì mới tạo được cái đẹp của cây hoa và duy trì được vẻ đẹp lâu dài hơn. Mỗi khi có được khả năng cảm thụ cái đẹp hài hòa như thế, tâm chúng ta thường trở nên thanh tịnh và gần gũi với chính mình hơn. Ngày Tết đến chùa, chúng ta đối diện và chiêm ngưỡng khung cảnh trang nghiêm của các bức tượng được sơn son thếp vàng, bàn thờ được trang hoàng với hoa quả xanh tươi sạch đẹp, không gian trầm lặng trong mùi hương trầm..., tâm ta trở nên yên tĩnh, dễ dàng thoát ly ra khỏi sức hấp dẫn của năm giác quan khi nó đang bị lôi cuốn theo cái đẹp của trần cấu, đang say đắm, mộng mị trong “ khả ái, khả lạc, khả hỉ” của sắc, thanh, hương...  Công năng thức tỉnh năm giác quan là biểu lộ khả năng đi tìm cái đẹp nội tại của tâm hồn. Nhận thức được bản chất cái đẹp ảo ảnh của giả tướng là biểu lộ khả năng duy trì cái đẹp và thái độ cảm thụ cái đẹp nội tại ấy. Từ đây, chúng ta có thể nhìn thấy cái đẹp trong tất cả mọi vật; nó không chỉ có mặt trong hương sắc của hoa lá mà nó còn có mặt trong mỗi cái gai xương rồng. Dù gốc mai già, nơi cảnh tiêu sơ của núi rừng hay trong chậu bon sai trước ngõ, trông có vẻ cằn cỗi dưới lớp rêu phong và những đốt mắt khúc khuỷu, lồi lõm khó cảm, nhưng ở đó lại toát lên một vẻ đẹp khác thường, vẻ đẹp thanh nhã của một sức sống mãnh liệt, vẻ đẹp của sự lầm lì chịu đựng trước gió sương giá lạnh như thách đố với sự khắc nghiệt của thiên nhiên, thời tiết. Để rồi một sớm tinh sương, khi ánh bình minh còn ngủ vùi phía cuối chân trời, khi con chim chưa cất tiếng hót báo hiệu mùa xuân, thì “những nụ mai nõn nà tươi như những hạt cườm tô màu xanh nhạt” được tẩm ướp bởi những giọt sương đêm thanh khiết từ gốc mai cằn cỗi “thô kệch” ấy đã vươn mình ra hấp thụ sức sống tinh ba của trời đất, đánh thức ngày xuân tự lúc nào. Bởi vậy, đối với cái đẹp ấy, người xưa đã cảm phục xưng tụng, tôn vinh “...Nhất sanh đê thủ bái mai hoa”đến thế. Không cần nói ra ta cũng lãnh hội được chủ ý của thi nhân qua lối ẩn dụ tinh tế này. Cái đẹp cốt cách toát ra từ gốc mai già mùa xuân hay cái đẹp tinh khôi của búp sen mùa hạ... đều ám chỉ cái đẹp từ phẩm chất cao thượng, thanh nhã của tâm thức con người.

Cái đẹp thực thể nội tại của tâm thức ấy không có hình tướng để ta tiếp xúc bằng nhãn quan như việc chiêm ngưỡng cái đẹp của một tướng trạng khách thể bên ngoài. Ta chỉ có thể dùng tuệ nhãn mới tiếp xúc được, mới thưởng thức được. Hình ảnh một vị sư già, với tấm y phai màu chắp vá, đầu đội trời, chân đạp đất chậm rãi từng bước trong chánh niệm lang thang khất thực giữa chốn phồn hoa đô hội, giữa sự sang trọng của cuộc đời thì có gì là đẹp đâu nhỉ!? Có đấy chứ! Đó là lý tưởng, là lẽ sống thoát ly ra khỏi sự ràng buộc và quyến của cảnh trần, là thái độ xả ly cái đẹp huyễn tướng của sắc thân, cái đẹp giả tạm mong manh của vạn hữu. Nhưng nó sẽ không được nhìn thấy và thưởng thức được ở những người không có cảm thụ thẩm mỹ bằng trí tuệ, những người thường chỉ đam mê với cái đẹp bề ngoài, thoáng qua và mộng mị. Chỉ biết bám lấy cái đẹp bề ngoài để nuôi lớn cái tự ngã bên trong là yêu chuộng cái đẹp trá hình, nguỵ tạo. Những người như thế không thể nào thể nhập vào thế giới thẩm mỹ được. Đạo Phật không phủ nhận hay xem nhẹ việc chăm sóc cái đẹp bên ngoài, nhưng đạo Phật hết sức chú trọng đến việc khai thác và phát huy cái đẹp nội tại nơi tâm thức. Cái đẹp nội tại của tâm thức bao trùm lên cái đẹp hình tướng, điều phục và cảm hóa được cái đẹp hình tướng bên ngoài. Nó có công năng điều chỉnh từ cái xấu thành cái đẹp, từ cái đẹp thành cái đẹp hơn. Tục ngữ nói “Cái nết đánh chết cái đẹp” là thế. Hay nói cách khác, trên bình diện luận lý và đạo đức, không có cái đẹp nội tại thì cái đẹp hình tướng không thể có ý nghĩa. Bao giờ cái đẹp còn được bàn đến thì nội dung cốt lõi của vấn đề không thể tách rời được cái đẹp nội tại. Một bậc Thầy đã từng dạy rằng: “Hữu tâm vô tướng - tướng tự tâm sinh. Hữu tướng vô tâm - tướng tùng tâm diệt”. Bởi thế, cái đẹp của tâm mới nói lên được nội dung thẩm mỹ toàn diện, còn cái đẹp của tướng trạng chỉ là cái đẹp phụ thuộc. Khuôn mặt và nụ cười của Ngài Di Lặc, dưới ý niệm thông thường của con người về cái đẹp thì không thể xem là đẹp được. Ngược lại có thể xem là xấu nữa vì nụ cười trông có vẻ thô tháo, toe toét trên một khuôn mặt dị kỳ khác thường chẳng giống ai. Thế nhưng tại sao người ta thường cho rằng khuôn mặt và nụ cười của Ngài lại đẹp hồn nhiên như một đứa trẻ mà người Phật tử thường mượn hình ảnh Ngài để chúc nhau một năm mới vui vẻ như nụ cười Di Lặc? Sở dĩ như thế bởi vì cái đẹp được toát ra từ phẩm chất nội tại của Ngài mà con người sống với lý trí cảm nhận được, đón nhận và thưởng thức nó. Ấy là cái đẹp “từ thị” và hoan hỷ, cái đẹp của một cõi tâm ly cấu lục trần, tự tại và vị tha. Ý nghĩa này chúng ta cũng tìm thấy được ở vẻ đẹp của bức tượng khổ hạnh của đức Phật và các bức tượng La Hán với khuôn mặt dị biệt khác người. Thẩm định tính chất hai mặt (thể chất và tinh thần, hình thức và nội dung) của cái đẹp cho ta cái nhìn chuẩn xác về lý tưởng thẫm mỹ. Từ đó, chúng ta dễ dàng xây dựng được một nghệ thuật sống và rồi cái đẹp sẽ tự nó nói lên được chân giá trị của nó.

Đối với đạo Phật, không có cái đẹp nghệ thuật nằm ngoài chân lý. Hay nói cách khác, nghệ thuật, dù là nghệ thuật sống đẹp của con người hay của một tác phẩm là phải chiếu rọi được ánh sáng chân lý và thiện tâm trong nó. Có nghĩa rằng nghệ thuật nếu không phản ảnh được các giá trị chân lý của cuộc đời và giá trị chân thực của cuộc sống của cộng đồng xã hội,  thì nó không có giá trị thẩm mỹ theo cách nhìn thẩm mỹ qua chân lý. Đi tìm cái đẹp qua chân lý và sống với cái đẹp trong chân lý là lý tưởng tôn vinh cái đẹp của con người khi biết sử dụng giá trị thẩm mỹ một cách trọn vẹn để trang sức cho tự thân và cuộc đời. Sống là một tiến trình nghệ thuật tự điều chỉnh trong bản thân của chính nó để tìm chỗ đứng và duy trì sự tồn tại của/cho cái đẹp. Đức tính biết cẩn trọng, cân nhắc, tâm biết tàm-quí, phấn đấu và hy sinh là nguồn xây dựng và thăng hoa cho cái đẹp. Trong khi đó, tâm bất chấp sự hổ thẹn, ngang tàng, kiêu căng ngạo mạn và vị kỷ lại là nguồn hủy diệt cái đẹp. Vì vậy, cái đẹp không phải là đặc quyền duy nhất cho một ai cả, dù già hay trẻ. Mà, có một cái đẹp nhất định nơi những người có tâm thức chính chắn, bộc trực, chân thật. Cái đẹp sẽ trở thành rác rưởi và bị đào thải ra khỏi quần thể sống nếu trong nó thiếu đi nội dung thẩm mỹ. Được trang bị một cách tinh tế bằng ngôn từ hoa mỹ và hành động, được cho là hào hoa lịch thiệp theo kiểu thời thượng, người ta có thể dễ dàng biến một toan tính mưu lợi cá nhân nào đó thành một thứ nghệ thuật sống giả tạo.  Một nghệ thuật thiếu lực hấp dẫn của chân lý, của thiện tâm thì nó chỉ tồn tại bên kia thái cực của cái đẹp đúng nghĩa, như một vật thể lơ lửng trong không gian xa thẳm mất đi trọng lượng vì thiếu lực hấp dẫn của trái đất. Thẩm xét theo định hướng ấy, chúng ta nhận thấy rằng một hành động trách cứ chứa đựng hai khía cạnh giá trị của nó. Nếu nó phát xuất từ động cơ xây dựng, chuyển hóa và mong mỏi cho đối tượng trở thành tốt, đúng thời hợp cảnh thì đó là biểu hiện một cách sống có nghệ thuật, chứa đựng được cái đẹp khiến đối tượng trong cuộc và người ngoài cuộc tiếp nhận với thái độ tán thán, quí kính, tôn trọng. Tuy nhiên, trong cùng một hành động như thế, cùng một ngôn ngữ như thế, nhưng nó lại phát xuất từ động cơ tư duy trịch thượng, cao ngạo, có tính cách đề cao cái ngã, không đúng lúc đúng chỗ thì nghệ thuật sống ấy không những không cho thấy được cái đẹp, mà ngược lại xa rời cái đẹp.

Niềm hỷ lạc với cái đẹp mùa xuân nội tại là cơ hội tốt để chúng ta sống gần với nhau hơn. Trong tinh thần cởi mở, chúng ta dễ dàng cảm thông cho nhau về những bất ổn không may đã xảy ra trong cuộc đời, chia xẻ cho nhau nhiều hơn những cái đẹp thiện cảm, thanh cao, trong sáng và chân tình. Chúng ta cần tận dụng sinh khí và cái đẹp của mùa xuân này để làm thăng hoa cái đẹp tinh thần nơi mỗi cá nhân và cộng đồng, bởi lẽ, trong ý đạo, đối với người Phật tử, thì mùa xuân được gọi là mùa xuân Di Lặc, mùa xuân của hoan hỷ vì Ngài Di Lặc là tượng trưng cho đức tính hoan hỷ  do niềm vui của sự xả bỏ (hỷ xả) và từ tâm quảng đại (từ thị) mang lại. Mùa xuân Di lặc đến, chúng ta tiếp tục hành trình sáng tạo thêm những nét đẹp mới cho mình và cuộc đời bằng tinh thần hỷ xả, bằng tình thương chân thật, bằng sự nỗ lực nhằm thanh tịnh hóa tư duy, hành động và ngôn từ. Chúng ta vẽ ra một bức tranh mới cho cuộc đời bằng cây cọ trí tuệ và sắc màu chân-thiện-mỹ.

Cuộc đời là mảnh đất nuôi sống mọi sự sáng tạo nghệ thuật, ở đó mỗi người là một nghệ nhân hay họa sĩ. Nhưng nghệ nhân, hoạ sĩ nào, qua cung cách trình bày “tác phẩm sống” của mình, vươn đến được cái thẩm mỹ hoàn thiện nhất trong chân lý thì người ấy là nghệ nhân, hoạ sĩ tuyệt vời nhất, cao đẹp nhất. Cái đẹp của tâm thức là giá trị sau cùng của mọi cái đẹp, là nguồn thăng hoa và duy trì nét thẩm mỹ của cuộc đời với thời gian. Nó là chất liệu nuôi dưỡng giá trị đạo đức và đời sống hạnh phúc cho cá nhân và các mối liên hệ trong cuộc sống, là chuỗi nối kết ba hạt huyền châu chân-thiên-mỹ. 

---o0o---

Nguồn: Báo Giác Ngộ, xuân 2006

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 01-02-2006

 


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Mục lục Xuân Di Lặc

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544