|
Tục
Trồng Cây Nêu
Một trong những cổ tục khó thiếu
trong những ngày Tết của Việt Nam là cây nêụ
Nêu là một cây tre hay cây bương (một
loại tre lớn rỗng ruột, thường dùng làm cột nhà
hay máng nước) dài khoảng 5 hay 6 thước tâỵ Ở
ngọn cây tre hay bương này người ta đeo một vòng tròn
nhỏ có buộc nhiều thứ (tùy theo từng điạ phương)
như vàng mã; bùa trừ tà; cành xương rồng; bầu rượu
bện bằng rơm; hình cá chép bằng giấy (để táo quân
dùng làm phương tiện về trời; giải cờ vải tây, điều
(màu đỏ), đôi khi người ta còn cho treo lủng lẳng
những chiếc khánh nhỏ bằng đất nung nữạ.... Mỗi
khi gió thổi, những khánh đất va chạm nhau tại thành
những tiếng kêu leng keng nghe rất vui taị... Người ta
tin rằng những vật treo ở cây nêu, cộng thêm những
tiếng động của những khánh đất, là để báo hiệu
cho ma quỷ biết rằng nơi đây là nhà có chủ, không
được tới quấy nhiễụ...
Đặc biệt vào buổi tối, người
ta treo một lồng đèn ở cây nêu để Tổ Tiên biết
đường mà về nhà ăn Tết với con cháụ Vào đêm
trừ tịch, cũng như ngày mồng một Tết, người ta còn
cho đối pháo ở cây Nêu để mừng Tổ Tiên về ăn
tết, mừng năm mới tới, xua đuổi ma quỷ hoặc
những điều không maỵ.v.v.. Ở Bắc phần Việt Nam nêu
thường được dựng vào ngày 23 tháng Chạp âm lịch,
là ngày Táo quân về trờị Chính vì từ ngày này cho
tới đêm giao thừa, vắng mặt Táo công, ma quỷ thường
nhân cơ hội này lẻn về quấy nhiễu, màngười ta
phải trồng cây nêu để trừ tà....
Tục Xông Đất
Tục lệ xông đất đã có lâu đời
ở nước tạ Người dân Việt Nam quan niệm ngày mồng
Một là ngày đầu của một năm. Họ cho rằng vào ngày
mồng Một, nếu mọi việc xảy ra suôn sẻ, mau mắn thì
cả năm cũng sẽ được tốt lành thuận lợị Người
khách đến thăm nhà đầu tiên trong một năm cũng vì
thế mà quan trọng. Cho nên cứ cuối một năm, mọi người
có ý tìm xem những người nào vui vẻ, linh hoạt, đạo
đức, và thành công trong bà con hay láng giềng để
nhờ sang thăm. Tục này gọi là tục xông đất.
Người khách đến xông đất phải
đến thăm sáng sớm ngày mùng Một (vì muốn là người
khách đầu tiên), mang theo quà biếu như trái cây, bánh
mứt, và tiền lì xì cho trẻ con trong nhà. Chủ nhà, do
đã sắp đặt trước, sẽ tiếp đón niềm nở và
nhận những lời chúc tốt lành. Người đến xông đất
thường chỉ đến thăm, chúc Tết chừng năm mười phút
chứ không ở lại lâu, hầu cho mọi việc trong năm
của chủ nhà cũng được trôi chảy thong suốt.
Người đi xông đất xong có niềm
vui vì đã làm được việc phước. Người được xông
đất cũng sung sướng vì tin tưởng gia đạo mình sẽ
may mắn trong suốt năm tớị
|
CHÚC TẾT VÀ
MỪNG TUỔI
Sáng
sớm mồng một Tết hay ngày "Chính đán",
mọi sinh hoạt ngừng lại, các con cháu tụ họp
ở nhà tộc trưởng để lễ Tổ Tiên chúc tết
ông bà, các bậc huynh trưởng và mừng tuổi
lẫn nhaụ Theo tục lệ, cứ năm mới tới, kể
cả người lớn lẫn trẻ con, mỗi người tự
nhiên tăng lên một tuổị Bởi vậy ngày mồng
một Tết là ngày con cháu "chúc thọ" ông
bà và các bậc cao niên; và các người lớn thì
"mừng tuổi" các trẻ em một cách cụ
thể bằng những đồng tiền mới bỏ trong
những "phong bao". Tục này ở Nam Phần
Việt Nam quen gọi là "lì xì". Tiền
mừng tuổi mà mình nhận được trong ngày tết
gọi là "Tiền mở hàng". Xưa còn có
lệ cho tiền phong bao với số tiền lẻ (chứ không
phải là tiền chẵn). ngụ ý tiền này sẽ sinh
sôi nảy nở thêm nhiềụ
Về chúc Tết, trong
ba ngày Tết, những thân bằng quyến thuộc,
hoặc những người phải chịu ơn người khác
thường phải đi chúc Tết và Mừng Tuổi gia
chủ; sau đó xin lễ ở bàn thờ Tổ Tiên của
gia chủ. Tục này ngày nay ít còn, vì thì giờ
eo hẹp, đường xá xa xôi cho nên đã được
thay thế bằng những thiệp "Chúc Mừng Năm
mới" hay "Cung Chúc Tân Xuân"
Tục Gửi
Tết và Biếu Quà Tết
Vào dịp Tết, để bày tỏ lòng
biết ơn đối với Tổ Tiên hoặc người dưới
đối với người trên; hoặc những người mà mình
phải chịu ơn hay quý mến, người ta thường
hay mua sắm những quà Tết (chẳng hạn như bánh
chưng, hoa quả, mứt...) để đem đi tặng
biếụ Tục lệ biếu Tết này trước đây rất
phổt thông, nào là học trò tết thầy, con nợ
tết chủ nợ, những người được chữa lành
bệnh đi tết các thầy thuốc (thầy lang)..v.v...
Riêng đối với những con, cháu
đem quà Tết hay lễ vật tới cùng ở các nhà
thờ Tổ Tiên nhân ngày Tết, thì gọi là gửi
Tết. Tục này để tỏ lòng biết ơn Tổ Tiên,
kính trọng các bậc phụ huynh trưởng và giữ
mối liên lạc thân ái trong gia tộc....
Các tục biếu Tết hay gửi
Tết này phải được thực hiện trước ngày 30
Tết.
LÌ XÌ
Chữ
lì xì được phiên âm từ tiếng Quảng Đông
sang tiếng Việt, nguyên là chữ lợi thị (tiền
bạc, lợi lộc) trong Hán tự. Để mừng tuổi các
em, những người lớn trong gia đình, họ hàng,
bạn bè của cha mẹ tặng các em những món
tiền nho nhỏ (lì xì) và chúc các em chóng lớn,
học hành đỗ đạt.... Những món tiền này được
cho vào phong bao màu đỏ trơn hoặc có văn hoa vàng.
Cũng như màu hồng thắm, màu đỏ hoặc các màu
có sắc đỏ được tin là tượng trưng cho sự
may mắn. Thuở trước, sau khi nhận những lời
chúc thọ, các vị cao niên trong gia đình lì xì
tất cả con cháu bất kể tuổi tác với những
món tiền nho nhỏ, vừa bạc lẻ vừa tiền
chẵn, ngụ ý chúc con cháu làm ăn phát đạt,
tiền bạc sinh sôi nảy nở trong năm.
|
XUẤT HÀNH
VÀ HÁI LỘC
Đầu năm
mới, người mình còn có tục xuất hành
nữạ Xuất hành là đi ra khỏi nhà trong
ngày đầu năm để đi tìm cái may mắn
cho mình và gia đình. Trước khi xuất hành,
người ta phải chọn ngày, giờ và các phương
hướng tốt để mong gặp được các quý
thần, tài thần, hỉ thần....
Thường thường,
người ta theo các hướng tốt, xuất hành
đi lễ chùa, đền hoặc đi chúc Tết các
bậc huynh trưởng, thân quyến hay bằng
hữụ Đối với nhà nông ngày xưa, đầu
năm mới xuất hành còn để chiêm nghiệm
thời tiết nữạ Vào những ngày đầu năm,
khi mặt trời mọc người ta đi ra khỏi
nhà xem chiều gió thổi, người ta có
thể đoán được năm mới hên hay xui,
chẳng hạn:
- Gió Nam:
chỉ đại hạn
- Gió Tây: chỉ cướp bóc loạn
lạc
- Gió Tây Nam: chỉ bệnh dịch tả
- Gió Bắc: chỉ được mùa vừa
phải
- Gió Tây Bắc: chỉ được mùa đỗ,
đậu
- Gió Đông: chỉ có lụt lớn....
Nếu xuất hành
ra chùa hay đền, sau khi lễ bái, người mình
còn có tục bẻ lấy một "cành lộc"
để mang về nhà lấy may, lấy phước. Đó
là tục "hái lộc." cành lộc là
một cành đa nhỏ hay cành đề, cành xi, cây
xương rồng... là những loại cây quanh năm
tươi tốt và nẩy lộc. Tục hái lộc ở
các nơi đền, chùa ngụ ý xin hưởng chút
lộc của Thần, Phật ban cho nhân năm
mớị Cành lộc này thường đem về cắm
ở bàn thờ Tổ Tiên.
TỤC CÚNG
CƠM
Để đón
mừng Tổ Tiên về ăn tết, ngay từ đêm
30, mọi nhà đều làm cơm để dâng lên
tổ Tiên, nôm na gọi là lễ cúng cơm.
Lễ này kéo dài suốt trong các ngày Tết
cho tới ngày "hóa vàng". xem như
Tổ Tiên đã về ngự trị ở trên bàn
thờ, ngày hai bữa, người ta làm cơm cúng
với những món quý nhất và ngon nhất như
các món nấu cỗ: măng, nấm, miến, bong bóng,
giò chả, bánh chưng.... Đặc biệt trên bàn
thờ gia tiên đèn hương lúc nào cũng
phải nghi ngút và không được để tắt.
Do vậy, người ta thường dùng thứ hương
đặc biệt là hương vòng hay hương sào (là
những thứ hương có nhiều chiều dài và
thân hương thật to có thể cháy với
một thời gian khá lâụ) Lễ vật đặc
biêt cúng gia tiên ngày Tết là một con gà
luộc. Người ta thích giữ lại đôi chân
gà này, treo lên giánh bếp để cho chân gà
khô đi và sau này có dịo nhờ các thầy
tướng số đoán hộ vận mạng năm mới
hên hay xuị Cúng cơm cũng là cổ tục hoàn
toàn Việt Nam.
|
KHAI BÚT
TÂN XUÂN
Vào
những ngày đầu Xuân, các người
có văn học còn có tục "khai bút
Tân Xuân" nữạ
Sự "khai bút" này nhằm
mong mỏi đón nhận được mọi
sự tốt lành nhân năm mới tớị
Thường thường người ta phải
chọn ngày và giờ tốt để khai bút.
Nhiều khi sự khai bút cũng chỉ có
tính cách tượng trưng mà thôi;
chẳng hạn như viết lên giấy
hồng điều vài chữ: ngày, tháng,
năm.... "khai bút đại cát"
hay "tân Xuân đại cát" (nghĩa
là đầu năm mới khai bút để
gặp được những điều tốt lành
lớn).
Đối
với những danh sĩ thì đôi khi khai
bút bằng cách làm một bài thơ đầu
Xuân bày tỏ nguyện vọng hoặc ý
chí của mình. Những bài thơ khai bút
này được viết lên giấy hồng điều
(giấy màu đỏ) hoặc trên giấy
hoa tiên (giấy có vẽ hoa) rồi dán
bài thơ lên tường để thưởng Xuân.
Sau dây là bài thơ nổi tiếng của
cụ Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn
Khuyến:
Tuổi
thêm, thêm được tóc râu phờ,
Nay đã năm mươi, lẻ có ba
Sách vở ích gì cho tuổi ấỷ
Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già!
Xuân về, ngày loạn còn lơ láo,
Người gặp, khi cùng những ngẩn
ngơ!
Lẩn thẩn lấy chi đền tấc bóng?
Sao con đàn hát vẫn say sưả
Những
người có chức vụ lớn như Tổng
Đốc, Tuần Phủ, Tri Phủ, Tri
huyện.... thì có lên Khai ấn và
Khai triện nữạ Tục này cũng được
thực hiện ở các bộ đường ở
kinh đô Huế dưới triều Nguyễn
nữa (tục khai ấn, triện này mô
phỏng của nhà Thanh)
Ấn và
triện là những con dấu của
những người giữ chức vụ chỉ
huy trong chính quyền. Các vị này
nhân đầu năm làm lễ khai ấn,
triện bằng cách đóng dấu vào
những giấy tờ công văn để cầu
mong cho "thiên hạ thái bình"
và dân chúng được "an cư
lạc nghiệp" Lễ khai ấn và
khai triện thường được cử hành
vào ngày khai hạ mồng 7 tháng giêng
âm lịch. Đối với các quan võ thì
có tục Khai Kiếm nghĩa là dùng gươm
chọc huyết (trâu bò) hay cắt
tiết (lợn, gà, vịt) các con vật
dùng trong các tế lễ....
Còn dân
chúng thì tùy theo nghề nghiệp
của mình cũng làm lễ Khai trương
cửa hàng hay công việc của mình
bằng lễ cúng các vị tổ của các
nghề gọi là "lễ cúng Tiên Sư"
(thường là vào ngày mồng 9 tháng
Giêng âm Lịch)
|
LỄ
TRỪ TỊCH VÀ GIAO THỪA
Đêm
30 Tết cũng còn gọi là đêm
trừ tịch nữa ("trừ"
là bỏ đi, "tịch" là
đêm). Trừ tịch là đêm
cuối cùng của một năm, là
thời gian của năm cũ sắp bước
sang năm mớị Vào giờ phút
giao tiếp giữa năm cũ và năm
mới này, người ta làm lễ
Trừ Tịch và cúng giao thừa
nghĩa là giao cái cũ, đón
nhận cái mớị
Người
ta tin rằng mỗi năm có một
vị thần gọi là Hàng
Khiển trông coi mọi việc
ở trần gian. Bởi vậy trong
dịp năm cũ sắp qua, năm
mới tới, người ta làm lễ
cúng giao thừa để "Tống
cựu, Nghinh tân". Lễ cúng
giao thừa được cử hành
rất là trang nghiêm và
trọng thể không những ở các
tư gia mà còn đuợc cử hành
ở đình của các làng
nữạ
Lễ
tế thần của làng ở Đình
làng nhân năm mới cũng là
một cổ tục thuần tuý
Việt Nam. Xưa, ở chốn làng
quê, vào đêm giao thừa, dân
đình (phái nam, trên 18 tuổi)
và các quan viên của làng
tụ họp ở Đình để tế
lễ cầu cho dân làng được
an cư lạc nghiệp, thiên hạ
thái bình. Theo thứ tự cao
thấp, tất cả đều lần lượt
vào tế thần Thành Hoàng (tức
thần của làng) rồi ăn cỗ
và mừng năm mới lẫn nhau,
sau đó trở về nhà làm lễ
cúng gia tiên.
Tại
tư gia, người ta thường cúng
giao thừa ở ngoài sân hay trước
cửa nhà. Bàn thờ là một hương
hán bày những lễ vật như
hương hoa, rượu, đèn, nến...
đợi đúng 12 giờ đêm tức
năm mới tới, người ta cúng
gia thừa cầu mong năm mới
đem lại nhiều phúc lành cho
gia đình và làng nước. Sau
đó người ta đốt pháo
mừng năm mới, mừng Tổ Tiên
trở về ăn Tết cùng con cháu
và cũng là để xua đuổi
những điều xấu của năm cũ.
|
|
|
|
|