| ...... ... |
. |

Tết do chữ Tiết mà ra, là
"thời gian" đặc biệt đã được ấn định trong năm.
Theo Âm Lịch hay lịch ta, trong một năm có nhiều Tết, chẳng
hạn như Tết Nguyên Đán, Tết Đoan Ngọc, Tết Trung Thu, Tết
Trùng Cửụ Tết Nguyên Đán hay Tết Cả. Tết quan trọng và
lớn nhất trong năm của người Việt Nam là Tết Nguyên Đán
(Nguyên là bắc đầu hay đầu tiên, Đán là buổi sớm mai)
Nguyên Đán là ngày đầu tiên của một năm mới âm lịch,
tức là ngày một một tháng Giêng tạ Vì Tết Nguyên Đán là
Tết lớn nhất trong năm, cho nên người ta còn gọi là Tết
Cả. Để khỏi lầm lẫn với dương lịch, Tết Nguyên Đán cũng
còn được gọi là Tết Ta (trong khi mồng một tháng Giêng dương
lịch thì gọi là Tết Tây)
Mâm Ngũ Quả Ngày Tết
Người Việt Nam luôn luôn trọng nghĩạ Bất kỳ lễ lạc nào
đều có sắc thái đề cao tổ tông. Ngày Tết cũng vậy, nhà
nào cũng có tục lệ bày soạn mâm quả để dâng cúng tổ tiên
ông bà. Ngũ là năm (5) vì vũ trụ được tạo bởi năm nguyên
tố căn bẳn: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Mâm ngũ quả thường
gồm năm loại quả mà tên gọi có ý cầu mong một điều gì
đó. Trong mâm quả thường hay có Mãng Cầu, tức là cầu chúc
cho mọi điều đều như ý; có Dừa, vì âm "dừa" tương
tự như là "vừa", có nghĩa là không thiếu; có Sung,
vì gắn với biểu tượng sung mãn về sức khỏe hay tiền
bạc; rồi Đu Đủ, vì đó có nghĩa là mang một năm mới được
đầy đủ thịnh vượng; Ngoài ra còn có Xoài, vì tên "Xoài"
na ná như là "xài", để cầu mong cho tiêu xài không
thiếu thốn. Ngày nay, các mâm ngũ quả còn được chen thêm
nhiều loại quả khác để cho thêm phần đẹp mắt, chẳng
hạn như Dưa Hấu, Táo, Đào Tiên, Quýt ...
Tục
Mâm Quả ngày Tết là một nét đẹp của dân tộc Việt Nam,
nó biểu tượng cho lòng biết ơn ông bà tổ tiên của mỗi
người Việt, cũng như lòng ước mong một năm mới an khang,
nhiều may mắn, tốt đẹp.
Bánh Chưng
Một
trong những đặc trưng không thể thiếu của ngày Tết Việt
Nam là bánh chưng xạnh. Bởi vậy tục ngữ Têt của ta có câu:
Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Nêu cao, tràng pháo, bánh chưng xanh
Bánh chưng là một thứ bánh đặc biết hoàn
toàn Việt Nam, làm bởi gạo nếp đậu xanh, thịt mỡ, tiêu,
hành, gói bằng lá dong hay lá chuối rồi "chưng" lên
(hay nấu, luộc) trong nhiều tiếng đồng hồ cho chín nhừ đị
Cứ vào dịp Tết, người ta gói bánh chưng
và làm bánh dầy cúng tổ tiên để tưởng nhớ tới công ơn
tiền nhân hoặc để biếu Tết lẫn nhaụ Ở nhiều địa phương,
dịp Tết bánh dầy còn là lễ vật để tế thần ở đình
của làng nữạ Đây là thứ bánh dầy thật lớn, có khi to
bằng cái mâm, ngoài ra trước đây, bánh dầy còn dùng làm
lễ vật trong các lễ cưới hỏi nữạ
Sự Tích Bánh Chưng Bánh Dầy
|
|
Ngày xưa, vua Hùng Vương có
18 người con. Riêng hoàng tử thứ 18, tên là Lang Liêu,
mồ côi mẹ rất sớm. Tết năm đó, vua cha truyền
lịnh cho các con trai, rằng ai mang đến cho nhà vua
loại bánh nào tuyệt hảo nhất, sẽ được nối ngôi
vua . Các em biết không, những hoàng tử kia còn có mẹ
bên cạnh. Các bà mẹ ra sức chuẩn bị làm các thứ bánh
tuyệt hảo cho con trai mình. Riêng hoàng tử Lan Liêu vì
mồ côi mẹ nên chàng rất lo lắng. Lan Liêu về nhà,
trằn trọc suy nghĩ suốt đêm. Mệt quá, nên chàng
ngủ thiếp đi . Trong cơn mê, có một bà tiên xuất
hiện và khuyên Lang Liêu rằng : "Con hãy nghĩ đến
một thứ bánh nào tượng trưng cho công lao của cha
mẹ đã dành cho con cái. Lang Liêu sực tỉnh. Công ơn
của cha mẹ nuôi dưỡng con cái thật là lớn lắm thay
. Các em nghĩ xem có thứ bánh nào có thể tượng trưng
cho công ơn sinh thành dưỡng dục của cha me không ? Công
cha nghĩa mẹ lớn như trời bể, phải không các em ?
Suy nghĩ mãi, cuối cùng, hoàng tử Lang Liêu lấy đậu
và nếp, làm ra bánh dầy và bánh chưng. Đến kỳ hạn,
vua cha ngồi trên ngai . Các hoàng tử lần lượt đem
những loại bánh mà mình đã đi khắp nơi, nhờ cậy
nhiều người làm giúp đến. Vua cha nếm qua các thứ bánh,
gật gù khen thưởng. Cuối cùng, vua nếm thử loại bánh
của hoàng tử Lan Liêu tự mình làm lấy . Vua lấy làm
ngạc nhiên, hỏi Lang Liêu :
- Loại bánh này vị ngon và lạ quá. Con hãy giải thích
cho ta xem.
- Thưa vua cha, bánh này tượng trưng cho công ơn sinh thành,
dưỡng dục của cha mẹ đối với con cái . Bánh dầy
hình tròn, tượng trưng cho trời . Bánh chưng hình vuông
tượng trưng cho đất. Bởi vì, công ơn cha mẹ lớn
tựa trời đất. Đậu, nếp, và thịt heo tượng trưng
cho công lao nuôi dưỡng, chăm sóc của cha mẹ đã dành
cho con cái ... bằng những món ăn mà bất cứ ai cũng
cần để lớn lên ...
Vua nghe thấy chí lý, lại thấy bánh ăn mặn mà hương
vị, bèn truyền ngôi cho hoàng tử Lang Liêu .Sau khi lên
ngôi, Lang Liêu truyền lịnh cho cả nước giữ tập
tục ăn bánh dầy, bánh chưng vào dịp đầu năm để tưởng
nhớ công ơn của cha mẹ.
|
|
ĐÊM BA MƯƠI
Đêm quan trọng nhất của
năm cũ và năm mới là đêm 30 tháng Chạp hay củ
mật, tức đêm 30 Tết. Sở dĩ gọi là "củ mật"
vì vào độ gần Tết, thường luôn luôn có trộm cướp
cho nên nhà nào cũng phải phòng bị hết sức cẩn
thận. Đặc biệt ở Bắc Phần Việt Nam đêm 30 Tết,
trời đất một màu đen, có khi hai người đi cạnh mà
không nhìn thấy nhau, cho nên tục ngữ có câu "Tối
như đem 30 Tết" là vậỵ
Xưa, đêm 30 Tết cũng còn
là thảm cảnh của những người phải trốn nợ cuối
năm vì không có tiền trẻ cho chủ nợ Thường thì
chủ nợ cố đòi cho được vào cuối năm vì đầu năm
mới "kiêng" đòi nợ, sợ "giông" cả
năm. Bởi vậy người thiếu nợ phải trốn nợ cho
tới khi nào gần giao thừa mới dám trở về nhà... Chính
tục đòi nợ cuối năm mà người ta thường nói "giàu
có ba mươi Tết mới hay".
Ngoài ra, đêm 30 Tết, theo
tục xưa, là đêm quan trọng không kém ngày đầu năm.
Ngày từ chiều ba mươi, người ta đã làm "cơm cúng"
gia tiên và tối ba mươi là "đêm không ngủ"
để chuẩn bị đón mừng Tổ Tiên về ăn Tết và đón
giao thừa (tiễn năm cũ và mừng năm mới). Tục này đã
có từ lâu đời và gọi là Lễ Thủ Tuế.
CÂU ĐỐI TẾT
Để trang hoàng nhà cửa và
để thưởng Xuân, trước đây từ các nho học cho
tới những người bình dân "tồn cổ" vẫn còn
trọng tục treo "câu đối đỏ" nhân ngày Tết.
Những câu đối này được viết bằng chữ nho (màu đen
hay vàng) trên những tấm giấy đỏ hay hồng đào cho nên
thường được gọi chung là câu đối đỏ. Những
chữ nghĩa ở các câu đối này thường là những chúc
tụng nhân năm mới, chẳng hạn như:
- Phước thâm tự hải
(hạnh phúc nhiều sâu như biển)
- Lộc cao như sơn (của
cải nhiều cao như núi)
Hay là:
- Thiên tăng tuế
nguyệt, nhân tăng thọ (Trời đất ngày gia tăng ngày
tháng ví như con người mỗi năm tăng thêm tuổi thọ)
- Xuân mãn càn khôn, phúc
mãn đường (mùa xuân về đầy trong Trời Đất ví
như hạnh phúc đầy nhà)
Câu đối cũng còn được
gọi là liễn nữạ Liễn thường là những dải giấy
màu đỏ hay hồng đào, hai đầu dải giấy có làm
trục bằng gỗ hay bằng tre để khi treo lên thì dải câu
đối được ngay ngắn. Cũng có khi liễn không cần có
trục và chỉ là những giải giấy để tiện dán vào
những nơi cần treo như ở hai bên bàn thờ, các cột
nhà cửa, cổng hay ngõ...
Trước đây ở chốn thôn
quê, mỗi khi Tết đến, người ta còn cẩn thận dán
liễn đỏ ở nơi các cửa chuồng lợn, trâu, bò hoặc
ở thân cây dừa, nhãn, ổi, nạ... để ngụ ý cầu
mong cho mọi sự được tốt đẹp như lợn, trâu, bò
hay ăn chóng lớn, sinh đẻ đầy đàn... các cây thì
sai tráị. Những nhà không có đủ khả năng và phương
tiện viết câu đối ăn Tết thường phải nhờ những
cụ đồ Nho chuyên viết và bán những câu đối Tết,
những năm trước chiến tranh 1939-1945 đã được thi sĩ
Vũ Đình Liên mô tả trong bài thơ bất hủ "Ông
Đồ"
Các văn nhân nhân dịp
Tết cũng thường làm câu đối để bày tỏ ý chí
của mình hoặc chỉ trích những thói hư tật xấu
của người đờị Chẳng hạn như :
Thiên hạ xám rồi còn
đốt pháo
Nhân tình bạc thế, lại bôi vôi
(Trần Tế Xương)
Hay:
Tối ba mươi khép cánh
càn khôn
Ních chặt lại kẻo ma vương đưa quỷ tới
Sáng mồng một, lỏng theo tạo hóa
Mở toang ra, cho thiếu nữa đón xuân vào
(Hồ Xuân Hương)
|
|
|
-- o0o --
| Mục lục tác
gi ả
|
---o0o---
Cập nhật ngày:
07-02-2002
|
|