| ...... ... |
. |
TÂN TỴ RA ÐI
NHÂM NGỌ ÐẾN
MINH ÐĂNG
Cách đây hai năm, vào đầu năm 2000, nhơn loại
đã hân hoan bước vào thế kỷ thứ 21û, mở
đầu cho thiên niên kỷ thứ ba với niềm hy vọng:
-Giải quyết các tranh chấp, xây dựng hòa
bình và
-Cải thiện sinh môi vốn đã
bị ô nhiễm trầm trọng, nhứt là vào những thập niên sau
cùng của thế kỷ thứ 20.
Bước vào nă m
2001, nhơn loại vẫn tiếp tục hy vọng, nhưng tiếp tục khổ
đau vì đó
đây chiến tranh vẫn còn tiếp diễn, vì
Cha Trời Mẹ Ðất vẫn còn ray rức sầu thương bởi quả địa
cầu, với tất cả rừng núi, sông ngòi, biển cả, không khí
đều tiếp tục bị ô nhiễm trầm trọng, do chính con người
tạo ra.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, cuộc tấn công khủng
bố bất ngờ và trầm trọng vào Hoa kỳ, một siêu cường của
thế giới, đã làm cho nhơn loại hoang mang, lo lắng và sợ
hãi trước hiểm họa của thế chiến thứ ba, vô cùng khốc
hại.
Tân Tỵ lại sắp đi - Nhâm Ngọ sắp đến.
Trước thềm năm Nhâm Ngọ chúng t a thắp
nén tâm hương, nguyện cầu cho nhơn loại bình tĩnh và sáng
suốt xóa bỏ hận thù, giải quyết tranh chấp để khỏi phải
sa vào hố thẳm của chiến tranh.
Dẫu sao, thì xuân sắp về, Tết sắp đ ến,
chúng tôi xin để lòng mình lắng xuống để
cùng đồng hương xa gần đón
mừng con tuấn mã của năm Nhâm Ngọ. Nhơn dịp nầy chúng
tôi xin cống hiến vài mẫu chuyện NGỰA sau đây:
-NGỰA VÀ NGỰA
-ÐÓN MỪNG TRANG TUẤN MÃ
-BẠCH MÃ PHI MÃ.
-ÐIỀU MÃ SƯ RA TAY TRẢM MÃ.
-NGỰA KIỀN TRẮC ÐƯA THẦY TÌM ÐẠO
-BÓNG CAÂU QUA CỬA SỔ.
I-NGỰA VÀ NGỰA.
Người ta thường bảo; “Nam Nhâm nữ Quý”.
Năm nhâm Ngọ sắp về. Như vâÏ y các trang
tu mi nam tử, sanh vào năm
Nhâm Ngọ, kể như cuộc đời mình lên hương,
nếu tu hành tinh tấn thì nhứt định
sẽ cỡi mây lướt gío đi về Tịnh Ðộ
Trung, nếu tu hành tơ lơ mơ, thì xin...tạm hưởng dục lạc
để rồi hạ hồi phân
giải. “Bần đạo” nói có sách, mách có chứng, vì lẽ,
theo sách vở của ....”bần đạo” thì :
Gái Quý Mão
nằêm co, chồng đ ắm
đuối
Trai Nhâm Ngọ
ngủ kỹ, vợ hiền thương
Trai ngủ kỹ
vợ lo sẵn cà phê hủ tiếu
Gái nằm co
chồng chu toàn chén bát nồi niêu.
Theo lịch Tàu thì có thập can (Giáp, ất,
bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quý) và thập nhị chi (Tý,
Sửu, Dần, Mão...). cho nên có nă m
loại ngựa xuất hiện trong mỗi chu kỳ 60 năm:
-Ngựa Giáp Ngọ
-Ngựa Bính Ngọ
-Ngựa Mậu Ngọ
-Ngựa Canh Ngo,ï và
-Ngựa Nhâm Ngọ.
Trong năm loà i ngựa của lịch
Tàu nầy thì con Ngựa Nhâm Ngọ là đệ nhứt mã (tức number
one).
Rời khỏi lịch Tàu, chúng ta bước vào thế
cuộc để làm quen với nhiều loài ngựa khác. Chúng ta có cả
một rừng ngựa vô cùng phong phú:
-Ngựa đua
-Ngựa kéo xe
-Ngựa chinh chiến
-Ngựa hát xiệc
-Ngựa Poney cho con nít cỡi
-Ngựa vương triều ( nhà vua dùng đ ể
săn bắn, để diễn hành biểu dương uy lực)
-Ngựa cảnh sát để hướng dẫn lưu thông,
để truy tầm kẻ gian ác).
-Lì lợm trong nhà họ Mã là con LỪøA
-Lừa mê ngựa đẻ ra con LA
-Ngựa Ta bà thì tâm viên ý mã
-Con thần mã giúp thầy Huyền Trang (Ðường
Tă ng) đi thỉnh kinh trên
đường Tây du vạn dậm với rừng thẫm núi cao là
con LONG MÃ.
-Ngựa Phi châu có sọc có rằn chia ra làm hai
loại:
a/ Loại lớn con, có sọc đen trắng đầy mì nh
tiếng Pháp gọi là ZÈBRE.
b/ Loại nhỏ con, có sọc ngang phía sau lưng,
tiếng Pháp gọi là OKAPI
Từ những con ngựa trên đây, có họ Mã hẳn
hoi, chúng ta đến tiếp xúc với các anh chàng và cô nàng tuy
cũng được gọi là NGỰA, nhưng hoàn toàn không có bà con,
máu mủ gì với nhà họ MÃ.
Trước hết là con NGỰA TRỜI (hoặc bọ ngựa)
thường đậu trên cành cây hoặc lá cây mà ở Việt Nam ta
có rất nhiều. Người Pháp gọi con ngựa trời là MANTE, một
loại côn trùng rất mạnh và sốn g
bằng cách ăn thịt những côn trùng khác.
Hai chân trước của Mante rất mạnh, dùng để bắt và nắm
chặt những côn trùng khác trước khi ăn thịt. Hai chân trước
nầy chấp lại giống như người ở tư thế chấp tay lễ lạy,
cho nên người Pháp cũng thường gọi ngựa trời là MANTE
RELIGIEUSE (người Anh gọi là Praying mantis). Sau khi giao hợp với
người "chồng thân thương", thì Mante Religieuse lại
dùng "hai bàn tay lễ lạy" ghì chặt chồng và ăn
thịt chồng. Do đó, từ Mante Religieuse được người Pháp
dùng để ám chỉ người đàn bà nham hiểm,
thích mê hoặc những chàng trai nhẹ dạ để
sau đó ám hại, cướp đoạt tài sản.
“Bần đạo” già rồi,
hay nghĩ vẫn vơ: MANTE RELIGIEUSE chấp tay lễ lạy thì bị người
chê trách, người chấp tay lễ lạy thì được ngươØi khen.
Khen chê như thế có đúng hay không?
“Bần đạo” thiệt tình không dám góp ý
mà chỉ biết thở than: "Ôi, kiếp đàn ông là kiếp con
ngựa trời . . . đực".
Từ con ngựa trời, chúng ta đi đến một con
vật to lớn, đen xì , lặn hụp suốt ngày
ở các sông hồ Phi châu. Con vật to lớn nầy, người Tàu gọi
là HÀ MÃ (ngựa nươÙc ), người Pháp gọi là HIPPOPOTAME, người
Anh gọi là HIPPOPOTAMUS.
Nhưng thưa các bạn, lần nầy thì "bần
đạo" sẵn sàng góp ý và thưa rằng: cả ba anh Tàu, Pháp,
Anh đều sai bét, vì con vật to lớn nầy chính là con TRAÂU NƯỚC,
đúng như nhận xét của
người Giao Chỉ, khi quán chiếu thâm sâu cái nước da đen xì
của nó, giống hệt như da trâu ở cái xứ có năm ngàn năm
văn hiến. Do đó, “bần đạo” xin cả gan đóng vai quan toà
để phán xét phân minh và dứt khoát:
Thằng nói xàm: PÔ-TA-MÚT
Thằng nói nhảm: PÔ-PÔ-TAM
Thằng tài lanh: con HÀ MÃ
Cả ba thằng sai quấy như nhau.
À, à, đem cho ta xem lại
Lắng nghe đây lời phán của ta:
Giao chỉ ta
Có năm ngàn năm văn hiến
Có chánh kiến trong cái nhìn
Khi quán chiếu thâm sâu
Thấy rõ ràng
Hắc bì trầm thuỷ
Giống hệt trâu
đen
Bèn quả quyết:
Ðó là con TRÂU NƯỚC.
Từ con vật khổng lồ, không phải là HÀ MÃ
mà là TRAÂU NƯỚC, chúng ta bước sang làm quen với các anh
chàng và cô nàng bé nhỏ tí ti được gọi là HẢI MÃ. Sở dĩ
những con vật tí hon duyên dáng nầy được gọi là HẢI MÃ
(Sea Horse) vì chúng sống ở vùng biển ấm và có cái đ ầu
giống như đầu ngựa, dẫu rằng thịt da, xương máu không
dính dấp gì với các anh chàng họ MÃ.
Ðau đớn làm sao, tội nghiệp làm sao cho những
cô nàng và anh chàng HẢI MÃ duyên dáng dễ thương đã từ
xưa được các ông lang Trung Quốc chiếu cố đến và
cho rằng: "loài Hải Mã rất là nên thuốc". Thế là
Hải Mã được bắt về,
phơi khô để làm thành món thuốc cường
dương tráng thận. Ðiều khôi hài là, người AÂu châu sau nầy
cũng bắt chước các anh Ba Tàu, xực con Hải Mã.
Từ các con "ngựa giả" (Ngựa Trời,
Hà Mã, Hải Mã) chúng ta trở về những con ngựa thiệt, mang
dòng họ Mã.
Từ ngàn xưa, con ngựa oai phong dõng mãnh giúp
cho loài người rất nhiều, nên có một người Pháp cao hứng
cho rằng sự chinh phục được con ngựa là sự chinh phục tốt
đẹp nhứt của loài người (la plus belle conquête de l’homme).
"Bần đạo" nghĩ rằng cái anh Phú Lang Sa nầy vì sanh
vào năm Ngọ nên mới quả quyết như vậy. Nếu anh sinh vào năm
Mùi thì anh sẽ tuyên bố dõng dạc: " Sự chinh phục tốt
đẹp nhứt của người
đàn ông, chính là sự chinh phục...cô nàng
đẹp nhứt".
Như chúng ta được biết, trong lịch sử Trung
Quốc có hai con thiê n lý mã lừng danh. Ðó
là con Ô Truy của Hạng Võ và con Xích Thố của Quan Vân Trường.
Ở cái xứ "Căn gu
ru”, đã lâu lắm rồi người ta không còn
dùng thiên lý mã. Anh hùng nào giang sơn nấy và thời thế tạo
anh hùng, nên những con thiên lý mã ngày xưa đã được thay
thế bằng những con CHU SẬU MÃ. Thưa quý vị, CHU là vòng
tròn, SẬU là nhanh, gấp, MÃ là ngựa. Vậy CHU SẬU MÃ là con
ngựa chạy thật nhanh, mà chỉ chạy trong vòng tròn. Mà ngựa
chạy nhanh trong vòng tròn chính là ngựa đua.
Con CHU SẬU MÃ danh tiếng lẫy lừng, to lớn
phi thường và bách chiến bách thắng của Úc châu là con
PHARLAP. Con Pharlap nhứt định to lớn và khoẻ mạnh hơn con Ô
Truy và con Xích Thố thời xa xưa, nhưng làm thân CHU SẬU MÃ
chỉ chạy vòng tròn trong luân hồi sanh tử, trong lúc, con
thiên lý mã, theo một nhà thơ Trung Quốc thì:
“Trường đồ mã sậu vân
thiên lý
Cố quốc sơn hà nguyệt nhứt luân".
Xin tạm dịch:
Ðường xa ngựa phóng, mây ngàn dậm
Quê cũ sơn hà, một bóng trăng.
Hai câu thơ nầy gợi cho ta hình ảnh con thiên
lý mã và ngươØi bạn đồng hành phóng trên đường xa thẳm,
chạy nhanh và bỏ lại quê hương quạnh quẽ trong ánh trăng vàng.
Dẫu sao thì người và ngựa vẫn có mây trắng thong dong, trời
bát ngát, nươÙc trong tĩnh lặng, ánh trăng soi.
Tôi còn nhớ rõ, cách đ ây
hơn sáu mươi năm, tôi lên bảy hoặc tám
tuổi và sống ở đồng quê; người cô Út của tôi, lúc bấy
giờ còn trẻ lắm, có người chồng khoẻ mạnh hiền lành nhưng
sa chân lỡ bước, say mê cờ bạc nên bỏ nhà ra đi.
Trong đê m vắng cô tôi cất
giọng ru con. Lời ru con hoà lẫn với tiếng gíó rì rào và
tiếng võng đưa kẽo kẹt:
"Ngựa ô anh không cỡi, anh cỡi con bò
Ðường trơn anh không chạy, anh chạy gò cỏ
may".
Cô Út ơi, hơn sáu mư ơi
năm đã lặng lẽ trôi qua, giờ đây cô đã
già lắm rồi, cháu cũng bắt đâu cổ lổ sỉ trong cái "cổ
lai hi". Ðêm nay thả hồn về quê cũ Gò Dầu (thuộc tỉnh
Tây Ninh) cháu còn nghe văng
vẳng lời ru con năm xưa và cháu xin nguyện
với lòng mình, trong đoạn
đường còn lại của kiếp phù sinh: không
"cỡi con bò chạy gò cỏ may" mà chỉ " cỡi con
ngựa ô trên đươØng trơn nẻo thẳng".
II-ÐÓN MỪNG TRANG TUẤN MÃ.
Tân Tỵ ra đi
Thắp nén hương trầm
Thương về đất tổ
Nhâm Ngọ trở về
Nâng chung trà cúc
Nhớ lại người xưa.
Người đi kẻ ở còn lưu
luyến
Quê cũ tình xưa vẫn mặn mà.
Xin dẹp hết sầu thương
Ðón mừng trang Tuấn Mã.
Thời gian lặng lẽ trôi qua
Tưởng chừng như lặng lẽ
Thế mà
Trong phút chốc
Hăm bảy năm trời
Quê hương ta rã rời điêu đứng.
Thời gian bay
Như bóng câu qua cửa sổ.
Người ta thường bảo
Mã đáo công thành
Ngảnh mặt lại
Ôi chao!
Ðã ba lần mã đáo:
Mậu Ngọ vào vòng năm bảy tám (1978)
Canh Ngọ nhập cuộc lúc chín mươi (1990)
Vào vòng rồi lầm lũi ra đi
Nhập cuộc xong âm thầm bỏ cuộc.
Ra đi khi nhân dân cò n thống
khổ
Bỏ cuộc lúc non nước vẫn lầm than.
Ngựa Nhâm Ngọ trở về hùng dũng
Chí kiên cường nhứt định xông pha.
Trang Tuấn Mã
Do Thiên Vương Phù Ðổng cỡi
Ngựa sắt phun lửa hùng
Tướng tài cầm roi sắt.
Roi sắt đánh tan tà nh tội
ác
Lửa hùng thiêu sạch hết si tham
Quê hương thoát khỏi vòng lao lý
Dân tộc từ đây sống vẻ vang.
III-BẠCH MÃ PHI MÃ.
Phái Danh Học đời Tống ở Trung Quốc có
đưa ra lập luận BẠCH MÃ PHI MÃ (Ngựa trắng
không phải là ngựa), khi mới nghe qua tưởng chừng như ...lãng
nhách. Thật ra thì lập luận nầy rất chặt chẽ:
-Ngựa là ngựa
-Trắng là trắng
-Ngựa trắng là ngựa trắng
-Ngựa trắng không phải là ngựa
Như vậy có nghĩa là:
-Ngựa là con ngựa nói chung, có thể nói là
con ngựa khái quát
-Trắng là màu trắng
-Ngựa trắng là con ngựa có màu trắng
-Con ngựa trắng (riêng biệt) nầy không phải
là con ngựa (nói chung)
“Bần đạo” tuy già rồi,
nhưng còn vui tánh và thích đùa dai, nên hình dung câu chuyện
một cư sĩ, cũng già cở "bần đạo”,
được một vị Hoà Thượng mời uống trà
trong dịp Xuân về Tết đến. Trà vào lời ra, cư sĩ già cao
hứng kể lại cho vị Hoà Thượng nghe cái lập luận BAïCH
MÃ PHI MÃ và hỏi rằng: "Bạch Hoà Thượng, như vậy có
thể nào chúng ta nói: Hoà Thượng áo vàng không phải là Hoà
Thượng, vì lẽ:
-Hoà Thượng là Hoà Thượng
-Áo vàng là áo vàng
-Hoà Thượng áo vàng là Hoà Thượng áo vàng
-Hoà Thượng áo vàng không phải là Hoà Thượng?"
Vị cư sĩ già nầy rất sung sướng khi nghe Hoà
Thượng cười vui vẻ và đáp: "Không cần lập luận gì
cả. Áo vàng áo đỏ gì cũng không phải là Hoà Thượng"
“Bần đạo” lại hì nh
dung có một cặp vợ chồng ở tuổi xế chiều, ngồi chuyện
trò rất là ấm cúng trong khi uống trà. Bỗng nhiên, người vợ
để chén trà xuống, âu yếm nhìn chồng:
-Mình ơi, mình có biết?
-Biết gì hả mình?
-Mình có biết rằng có người nói: "Chồng
già không phải là chồng?"
Trong lúc ông chồng sửng sốt
trước “Con vợ ăn nhằm thịt bò điên"
nên nói năng quái gỡ, thì bà vợ nhẹ nhàng nói tiếp: "Mình
hãy nghe đây, người ta nói thế nầy:
-Chồng là chồng
-Già là già
-Chồng già là chồng già
-Chồng già không phải là chồng".
Nghe xuôi tai, chồng mới hỏi: "Vậy chớ
chồng già là cái gì, hở mụ?"
Bà vợ âu yếm đáp: "Cái gì thiếp không
biết, thiếp cũng không cần biết. Có một điều thiếp biết
chắc chắn là chồng của thiếp thì thiếp cưng, còn già hay
không giàø là chuyện của ta bà thế sự".
Xuân về Tết đến, xin cầu chúc cho c ác
ông chồng già có được bà vợ "điệu" như vậy.
IV-ÐIỀU MÃ SƯ RA TAY TRẢM MÃ.
Ngày xa xưa, có một điều mã sư (người chuyên
môn huấn luyện ngựa) đ ến
yết kiến đức Phật và nói:
-Thưa Thế Tôn, con biết rằng trong giáo đoàn
Thế Tôn có nhiều đệ tử tu hà nh tinh tấn
và rất đáng tôn kính,
nhưng có lẽ Thế Tôn cũng không tránh khỏi khó khăn vì
một vài đệ tử chẳng những yếu kém trong việc tu hành mà
còn tỏ ra bất phục tùng và gây xáo trộn cho giáo đoàn.
Ðức Thế Tôn đáp:
-Ðúng như vậy.
-Thưa Thế Tôn, như vậy, đối với người
Tăng sĩ bất phục tù ng và gây xáo trộn nầy,
thì Thế Tôn có biện pháp nào để giải quyết ổn thoả?
Ðức Phật nói:
-Ông là điều mã sư, ông đã giải quyết như
thế nào khi phải huấn luyện và điều phục nhiều loại ngựa
khác nhau?
-Thưa Thế Tôn, nói một cách tổng quát thì
có ba loại ngựa: Loại thứ nhứt hiền hoà dễ dạy. Ðối với
loại nầy con chỉ cần vỗ về âu yếm.
Loại thứ hai, không dễ thương như vậy, đôi
khi cò n tỏ ra lì lợm, không chịu phục
tùng. Ðối với loại nầy bên cạnh sự vỗ về, con phải
dùng roi vọt và đối xử rất là cứng rắn.
Loại thứ ba, lì lợm, cứng đầu và bất trị
mặc dầu con phải làm đủ mọi cách. Vỗ về nó không nghe,
dùng roi vọt, thẳng tay trừng trị nó cũng không nghe. Ðối với
loại nầy, thưa Thế Tôn, con buộc lòng phải giết chết để
có thể hành nghề, tiếp tục huấn luyện và điều phục những
con ngựa khác.
Ðức Phật bảo:
-Tôi cũng làm giống như điều mã sư vậy.
Ðiều mã sư ngơ ngác, tỏ vẻ không hiểu,
vì chẳng lẽ đ ức Thế
Tôn lại giết đệ tử không chịu tu hành,
bất phục tùng và gây xáo trộn trong giáo đòan.
Ðức Phật thanh thản nói tiếp:
-Tôi buộc lòng phải cho những tă ng
sĩ đó ra khỏi giáo đòan.
Như vậy thưa các bạn, bị đưa ra khỏi giáo
đoà n có nghĩa là bị giết chết. Vì sao?
Chúng ta hãy nhìn sâu vào cái sống chết để
hiểu lời Phật dạy. Chúng ta thường tham sống sợ chết và
nghĩ rằng: sống là còn thở, tim còn đập, còn đ i
đứng, nói năng, ăn uống. Một khi trút hơi thở cuối cùng,
tim ngừng đập, không còn nói năng, đi đứng, ăn uống, thì
là chết. Quan niệm như vậy cũng đúng,
nhưng chỉ đúng trên phương diện sinh lý
mà thôi.
Nhà Phật nhìn sâu vào lòng sự vật nên coi
thường cái sống chết trên phương diện sinh lý. Ðiều quan
trọng đối với nhà Phật là phải sống thật sự, nghĩa là
sống trong chánh niệm, ý thức mình đang sống. Nếu thật sự
sống thì không có sợ sệt, giận hờn, lo lắng, buồn
phiền. Traí lại, dẫu có đi đứng, n¢m
ngồi, nói năng mà không có ý thức mình
đang sống, mà trôi lăn trong thất tình lục dục, thì không
phải là sống mà là chết.
Chúng ta hãy hình dung một tă ng
sĩ sống trong giáo đoàn, được đức Phật tận tình
hướng dẫn tu học, được
tăng đoàn chăm sóc và nâng đỡ mà không giữ chánh niệm,
không an vui tự tại, không thực tập giáo lý hiện pháp lạc
trú, không đi trên đường giải thoát, mà
trái lại, bất mãn, tranh chấp, gây xáo trộn cho giáo đoàn
để rốt cuộc bị đưa
ra khỏi giáo đoàn, sống trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi. Phải
chăng, Tăng sĩ nầy, từ con đường sống đi vào con đường
chết?
Tất cả mọi người đều đi vào con đường
chết, y như Tăng sĩ nầy, nếu sống trong thất niệm, nếu chạy
theo tà i, sắc, danh thực, thuỵ mà quên sống
cái giây phút hiện tại nhiệm mầu, thanh thản yên vui.
Trong Phật giáo có đoạn kệ “Dâng Hương”
sau đây:
"....Nguyện làm kẻ đồng hành
Trên con đường giác ngộ
Xin mọi loài chúng sanh
Từ bỏ cõi lãng quên
Theo đường giới định tuệ
Quay về trong tỉnh thức "
Phải chăng ba câu chót của đoạn kệ nầy:
" Từ bỏ cõi lãng quên
Theo
đường giới định tuệ
Quay về trong tỉnh thức"
Có nghĩa là từ cõi chết đi về cõi sống?
V-NGỰA KIỀN TRẮC ÐƯA THẦY TÌM ÐẠO.
Vào dịp lễ Phật Ðản năm 2000 (Phật lịch
2544), theo lời yêu cầu cuả anh chị em trong nhóm Thiền Sen
Búp Sydney, chúng tôi có viết bài " Lòng Thương Kính Dâng
Lên Từ Phụ". Trong bài nầy, có một đ oạn
sau đây:
Kính thưa đức Từ Phụ,
Ðệ tử chúng con vô cùng cảm động trước
tình phụ tử của vua cha Tịnh Phạn khi ngài muốn giữ Từ
Phụ, lúc bấy giờ là Thái tử, ở lại cung đ iện
để trở thành một đấng minh quân và
ngài đã ray rức khổ đau
khi nghĩ đến việc Thái tử rời bỏ cung vàng điện ngọc để
ra đi tìm đường giải thoát cho chúng sanh, ra khỏi luân hồi.
Ðệ tử chúng con lắng nghe một vị lão thần
đứng dậy cung kính trình bày: "Hàng vạn sợi dây đ ồng
không trói buộc được những ý tưởng phiêu lưu của Thái tử,
nhưng chỉ cần một sợi tóc của mỹ nhân cũng đủ để cột
chặt cánh chim bằng.”
Thế là một cuộc thi sắc đ ẹp
vô tiền khoáng hậu để tuyển chọn người
vợ hiền duyên dáng dễ thương, và một cuộc thi tài đọ
sức cũng vô tiền khoáng hậu đã diễn ra
giữa các Thái tử khôi ngô tuấn tú.
Kết quả: Thái tử Sĩ Ðạt Ta với tài trí
phi thường, đ ức độ
phi thường và sức mạnh phi thường được kết duyên
với nàng tiên Gia Du Ðà La xinh đẹp nhứt, duyên dáng nhứt
và phúc hậu nhứt.
Kính thưa đức từ phụ,
Ðệ tử chúng con vô cùng cảm động và thấy
lòng mình pha lẫn xót xa và thương kính vì, kính thưa Từ Phụ:
Sợi tóc mỹ nhân, dù là mỹ nhân đẹp nhứt, duyên dáng nhứt
và phúc hậu nhứt, cũng không tài nào trói buộc cánh chim bằng
trong cung vàng điện ngọc bên cạnh phụ vương và vợ đẹp,
con thơ.
Ðức Từ Phụ đã dứt khoát ra đ i
để tìm đường giải thoát chúng sanh ra khỏi sanh tử luân hồi.
Ðệ tử chúng con thấy mình là Xa Nặc ngồi
trên lưng con Kiền Trắc
phía sau đức Từ Phụ.
Ðến dòng sông Anôma, thầy trò xuống ngựa.
Từ phụ giao cương cho Xa Nặc. Xa nặc quỳ xuống van xin đi
theo. Con ngựa Kiền Trắc dẫm chân không chịu quay về. Từ
Phụ dạy cho Xa Nặc phải trở về và vỗ về con Kiền Trắc.
Thế rồi, một Thái tử giàu sang nhứt, tài
trí nhứt và đ ức độ
nhứt phải đứng một mình trước dòng
sông Anôma, giữa núi rừng hùng vĩ, hoang vu.
Kính thưa đức Từ Phụ,
Ðệ tử chúng con theo dõi từng bươÙc chân của
đ ức Từ Phụ trong sáu
năm khổ hạnh rừng già....
*
Xuân Nhâm Ngọ sắp về. Hình ảnh con ngựa Kiền
Trắc trở về trong tâm não chúng tôi. Chúng tôi thấy lòng
mình thương nhớ ngập tràn:
Ngựa Kiền Trắc đưa Thầy tìm đạo
Cảnh hãi hùng rừng thẫm núi cao.
Xa Nặc khóc
Xin Thầy cho ở lại
Ngựa dẫm chân
Nhứt quyết không chịu rời.
Thầy dạy bảo:
“Về đi, đừng ưu phiền lo lắng
Thầy vững tâm, đạo cả sẽ thà nh".
Xa Nặc khóc
Ngựa Kiền Trắc quay về cung điện
Thầy ở lại
Sáu năm trời khổ hạnh rừng xanh,
Thầy ơi,
Sáu năm khổ hạnh rừng xanh
Ðạo mầu phổ chiếu, chúng sanh thấm nhuần.
VI-BÓNG CAÂU QUA CỬA SỔ
Vào dịp Tết Năm Kỷ Tỵ (1989), chúng tôi có
làm một bai thơ khá dài, dưới dạng câu đ ối,
để nói lên tấm lòng nhớ thương quê hương,
đạo pháp. Trong bài thơ có mÃy
câu nhÜ sau:
... Úc Âu Á,
mùi vỉn minh Çà n‰m träi
Tây MÏ Nh¿t, khĩi binh lºa cÛng tØng qua
Hôm nay, Xuân Nhâm Ngọ lại sắp về. Chúng
tôi muốn có đôi lời tâm tì nh với các bạn
già nua trong thăng trầm
của đất nước.
Quê hương thống khổ
Dân tộc lầm than.
Sao ta không ôm nhau
Ðể xây dựng từ hoang tàn đổ nát
Sao ta lại chửi nhau
Mà trồng người trong địa ngục trần
gian?...
Các bạn già ơi,
Chúng ta không gợi lại dĩ vãng đ au
buồn để ôm ấp sầu thương, để tỏ lòng
hờn giận. Chúng ta chỉ muốn nhìn lại những bóng câu qua cửa
sổ trong suốt dòng thời gian gần 57 năm (từ
1945 đến nay) để sống trong tình thương của 80 triệu đồng
bào trong và ngoài nước, để sống trong niềm
hy vọng của Xuân Nhâm Ngọ sắp về.
Các bạn già ơi,
Tuổi đời chồng chất sống tha hương
Ðất khách xuân về dạ vấn vương
Non nước còn chìm trong khổ nhục
Quê hương
chưa thoát khỏi đau thương
Người đi muôn dậm, sầu ly biệt
Kẻ ở ngàn nă m,
luống đoạn trường
Nhâm Ngọ trở về lòng phấn khởi
Xuân nầy muôn loại bớt sầu thương.
Sydney, cuối năm Tân Tỵ
MINH ÐĂNG
-- o0o --
| Mục lục tác
gi ả
|
---o0o---
Cập nhật ngày:
07-02-2002
|
|