Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh

qd.jpg (8936 bytes)


...... ... .

 

Phật Học Viện Quốc Tế Xuất Bản

Phật Lịch 2540-1996

 

Cho Trọn Mùa Xuân

Thích Đức Niệm

 

 

Thay Lời Tựa

Thời gian cứ mãi trôi.  Vạn vật tiếp nối đổi dời thay hình biến sắc chẳng dừng.  Bởi tâm người bất định, nên hình thành cảnh vật không thường.  Chúng sanh tâm vô thường, nên hình thành cảnh vật bất an.  Khác với tâm chúng sanh, tâm những người giác ngộ thì an định, nên tạo thành cảnh vật thường lạc.  Vọng tưởng là trạng thái tâm thức si mê, tham vọng, phiền não đảo điên.  Bất loạn là thể hiện tâm trí giác ngộ, thường nhiên an lạc.  Kinh Bát-Nhã nói: “Ngài Quán-Tự-Tại Bồ-Tát do tâm thức an định, trí huệ rộng sâu, mà vượt thoát tất cả phiền não điên đảo vọng tưởng, đạt đến cứu cánh an lạc Niết-Bàn”.

Người trần thế do vọng tình huân tập, tâm thức đang trong giấc ngủ say mê, khóc cười trong đại mộng trần thế.  Kẻ hành đạo theo gót chân Phật sống trong trạng thái nửa ngủ nửa thức, nửa tỉnh nửa mê, biết giữ chặt giới định huệ để bảo vệ giới thân huệ mạng không bị ngũ dục thế gian va gió đời cảm nhiễm xâm nhập.  Phật, Bồ-Tát là những người thường sống trong trạng thái tỉnh thức, an định giác ngộ, vượt ngoài đại mộng vọng tưởng phàm tâm, nên các Ngài sống tự tại giải thoát, thường chèo thuyền Bát-Nhã đi lại trong biển đời vô minh vọng thức, đánh trống chánh pháp, reo chuông giác ngộ, cảnh tỉnh người đời, đồng thời thả phao giải thoát cưú người trầm luân đang đắm chìm trong biển đời mộng huyễn phiền luỵ khổ đau.

Xưa nay lịch sử nhân loại cho ta thấy “nhất tướng danh thành vạn cốt khô”. Danh vọng được xây bằng tâm thức vô minh tham vọng là thứ danh vọng ô uế mộng huyễn.  Tuy vẫn biết mộng huyễn, vẫn biết não phiền chồng chất mà con người vẫn miên man say đắm, không chịu tỉnh thức để chấm dứt cuộc sống đại mộng!  Chẳng khác nào các bà mẹ đã khổ đau vì chồng vì con mà vẫn cứ muốn con cái tiếp tục theo con đường tình ái buộc ràng phiền khổ của mình!  Do tâm thức chúng sanh mê vọng vô thường, nên tiếng cười mừng vui danh lợi chưa trọn thì đã tiếp theo tiếng than nước mắt thất vọng.  Nụ cười của người trần thế quả thật ngắn ngủi mong manh, mà tiếng khóc đã vây quanh suốt đời!  Điều đó rõ như ban ngày và dẫy đầy cõi trần thế, như bọt bóng trong lòng bàn tay.  Thế mà người không chịu để ít phút giây nhìn kỹ suy tư, lại cứ suốt ngày đem tâm dong ruổi chạy đông rượt tây để rồi:

Vẫy vùng rồi cũng ba gang đất,

Một nắm rêu phong phủ nhạt màu!

Có sự an lạc nào bằng sự an lạc của tâm hồn thanh tịnh tỉnh thức. Có sự đầy đủ nào bằng sự đầy đủ của người biết sống tri túc buông xả.  Có sự giàu sang phú quý nào bằng sự giàu sang phú quý của người có tâm từ bi vị tha bố thí.  Người đời lúc nào cũng cảm thấy mình nghèo thiếu, vì không biết sống tri túc, buông xả, vị tha, bố thí.  Đời người vô thường chẳng được bấy lâu, mà sao con người không chịu ngừng nghỉ tham tâm chụp bắt bóng danh lợi, để hưởng thanh nhàn giàu sang hạnh phúc?  Một khi lòng thanh tịnh tỉnh thức biết trau giồi đức hạnh là lúc trời xuân tràn ngập tâm hồn.  Chỉ có hạnh phúc của tâm  hồn thanh tịnh tỉnh thức, biết sống với đức tánh hỷ xả vị tha, thì mới thật sự trọn hưởng giàu sang hạnh phúc muôn đời, mới thật sự thưởng thức trời xuân chơn thường an lạc.

Trong ý nghĩa đó, bút giả ghi lại dòng tâm thức của mình chảy dài với thời gian và trải rộng với hoàn cảnh.  Bởi xúc cảnh sanh tình, mùa tiết đến đi, cảnh ngộ trùng phùng, nên văn ý có lúc trùng điệp.  Nhưng dù sao đó cũng là tâm ảnh cảnh huống của bút giả trải qua.

Trời xuân tràn ngập nơi lòng và thể hiện trên môi người thanh tịnh tỉnh thức biết sống đời hỷ xả vị tha.  Nào!  Chúng ta hãy tĩnh tâm lần dở trang sách để cảm nhận trời xuân, xuân đời, xuân đạo, xuân người giác ngộ và xuân kẻ mê tình.

Hoa-Kỳ, Xuân Bính-Tý 1996

Thích-Đức-Niệm

 

Mùa Xuân Hạnh Phúc

Người sống trên đời, ai cũng có một thời xuân xanh, ai cũng mong ước mình được hạnh phúc mãi mãi.  Nhưng trên thực tế thì thời xuân xanh rồi cũng qua đi và hạnh phúc cũng chẳng mấy khi trường tồn.

Tại sao thời xuân xanh lại trôi qua và hạnh phúc chẳng mấy khi trường tồn?  Bởi tâm chúng sanh vô thường biến đổi không cùng, như ngựa không cương dong ruổi đồng nội, như vượn khỉ chuyền cành không phút giây ngừng nghỉ.  Tâm người phút trước nghĩ như thế này, phút sau nghĩ như thế khác.  Giờ trước vui, giờ sau buồn.  Ngày hôm nay thương, ngày mai lại ghét.  Tháng này phát tâm hành thiện tu học, tháng sau thối thất đạo tâm.  Tâm ý lăng xăng như ngọn sóng triều trong cơn gió lốc.  Bởi tâm biến chuyển không ngừng, nên dẫn tạo thân vô thường và theo đó hình thành hoàn cảnh vật đổi sao dời, ruộng dâu cồn bể.

Tâm là chánh nhân đã bất định, nên hình thành vạn cảnh muôn hình vạn trạng sự vật chuyển biến đổi thay, và cứ như thế quay cuồng muôn đời suốt kiếp không bao giờ chấm dứt.  Tâm biến chuyển, sự vật theo đó đổi thay tạo thành kiếp của chúng sanh từng giây từng phút biến động hồi hộp lo âu không tìm thấy đâu là bóng hình của mùa xuân hạnh phúc chân thật trường cửu.

Tâm ô trược phức tạp uẩn khúc, nên tạo thành cảnh đời bất tịnh tạp loạn lắm nỗi đắng cay.  Tâm khi nầy khi khác, khi thiện khi ác, khi phấn chí lúc bi ai, do đó tạo thành cảnh đời thạnh suy, thăng trầm, thanh bình, chiến loạn.  Tất cả đều do tâm.  Kinh Hoa-Nghiêm nói: “Tâm như công họa sư, tạo chủng chủng chư pháp”.  Nghĩa là tâm như người họa sĩ tài ba, vẽ vời ra các cảnh vật thiên sai vạn biệt.

Trẻ thơ sống với cha mẹ ngày ngày được sự nuông chiều, mọi điều ước muốn cha mẹ đáp ứng đầy đủ, không thiếu một thứ gì, thật là cực kỳ êm đềm hạnh phúc.  Nhưng sau đó khởi lòng yêu đương, ái tình vương vấn, nên sanh ra lắm chuyện hẹn hò nghi kỵ hờn dỗi dẫn đến nói dối mẹ cha, từ từ xa dần tình thương gia đình anh chị em, xem thường tình thương của cha mẹ, xao lãng học hành, từ đó tâm thần bất an, đầu óc hoang mang suy tư nghĩ nhớ bóng hình vơ vẩn, dẫn đến tâm lo trí rối, thân thể mỗi lúc mỗi mỏi mòn ốm gầy xanh xao, tạo thành bệnh hoạn v.v... cũng từ đó kết thúc thời xuân xanh, tan tành hạnh phúc, chỉ vì một chút móng khởi vọng tâm.  Do tâm vọng động biến đổi dẫn đến thân thể chuyển thay, hình thành dây chuyền ảnh hưởng đến gia đình xã hội hoàn cảnh.  Thế nên kinh Hoa-Nghiêm nói: “Tâm sanh nên các pháp sanh.  Tâm diệt thì các pháp diệt.  Người thể đạt lý này, đồng giác tánh như Phật”.

Một chú điệu từ thuở bé thơ, theo thầy học đạo suốt mười mấy năm trời, tâm hồn thư thái sáng sạch như buổi bình minh, sống bên cạnh thầy, ngày ngày vui với hoa rừng chim muôn dã thú không gợn chút âu lo tư lự buồn phiền, lòng nhẹ như áng mây bay, tâm thanh tịnh thơm lành như hoa rừng sáng sớm rạng đông, trí trong mát nhẹ nhàng như những hạt sương buổi sáng lóng lánh trên cành, suốt mười mấy năm trời với cuộc sống trong lành thanh đạm an nhàn giải thoát:

Thoát trần một gót thiên nhiên

Cái thân ngoại vật là tiên trong đời

Có những đêm trăng, sau giờ nghe thầy giảng kinh kể chuyện đạo, chú điệu một mình dưới mái am tranh thưởng thức ánh trăng thanh mát dịu với cõi lòng an lành thanh thoát thênh thang.  Thỉnh thoảng vài chú thỏ rừng, đôi ba con nai nhỏ, năm bảy chàng khỉ tung tăng đến gần bên chú.  Chúng ngửi tay liếm chân rồi cắn áo lôi chú ra ven rừng giỡn chơi với chúng như bạn cùng bầy.  Đôi lúc những chú thú rừng ngây thơ hiền hòa này mang trái cây rừng đến cho chú điệu mà chúng hái từ non cao rừng thẳm xa xăm.  Nhờ vậy mà chú điệu có trái cây xanh tốt cúng Phật dâng thầy và chú cũng có dịp hưởng đủ loại trái cây rừng thơm ngon mà chợ đời đô thị không có.  Cuộc sống như thế hạnh phúc hơn gấp muôn triệu lần những mùa xuân xác pháo đầy đường ồn ào huyên náo của thế nhân thị thành.  Nhưng với người trần tục thử hỏi mấy ai cảm thấy được mùa xuân tuyệt vời của chú?  Chẳng những người đời nặng chĩu lòng trần không cảm nhận được cái thanh thoát hồn nhiên, với cõi lòng thênh thang vô biên cùng vũ trụ của chú điệu, mà còn cho cuộc sống ở chùa quá quạnh quẽ buồn hiu!  Chính vì không cảm nhận được sự an lành thanh thoát trong cảnh sống tịch tĩnh thanh sơ, e ngại chú hành đạo chốn núi rừng quạnh hiu khổ cực, nên đã bao lần cha mẹ anh em đến dùng đủ lời ngon ngọt khuyên dụ chú về nhà với gia đình để cùng hưởng cảnh đoàn viên hạnh phúc trong những thú vui dục lạc trần gian.

Mỗi lần bị dụ dỗ như thế, chú điệu chỉ biết im lặng để từ chối.  Chú thấy cuộc sống nơi am tranh thanh tịnh với thầy thật là giải thoát, hạnh phúc bao la, không một chút bận lòng.  Thời gian lặng lẽ trôi qua theo ngày tháng, chú chả để tâm đến cảnh đời chuyển biến ra sao, chỉ biết sống hồn nhiên vô tư lự, không vướng mắc sự đời.  Nhưng cha mẹ chú nào có cảm nhận được sự giải thoát an lạc ấy, nên dùng đủ mọi thứ khổ nhục kế để quyết thuyết phục chú xiêu lòng hoàn tục cho được!  Anh chị em chú có lúc đã quỳ hàng giờ lạy ôm chân chú ràn rụa nước mắt với những lời thảm thiết nỉ non khiến cho chú xúc động, lòng nao núng, tâm rung cảm, chí không còn kiên trì, nên một ngày nọ chú điệu xiêu lòng vào lạy thầy từ tạ để theo cha mẹ gia đình về lại thế tục.  Thế là ma quyến thuộc đã buộc chặt chú vào lối đi tình cảm, lôi chú ra khỏi cảnh giới an lành thanh thoát của chốn thiền môn, để rồi sau đó từ từ chôn đời sống thanh tịnh của chú vào biển đời ngũ dục phiền lụy.

Chẳng bao lâu, chuyện lập gia đình, chuyện trăm năm môn đăng hộ đối, chú gặp phải người bạn đời (vợ) tánh tình lúc đầu khá tương hợp, lý tưởng dễ dung hòa, nhưng thời gian tâm đầu ý hợp êm ấm hạnh phúc chẳng bao lâu thì ý tưởng mỗi người một hướng, vô hình chung tạo thành cảnh đồng sàng dị mộng, tuy không tan rã, nhưng chú đành phải bóp bụng buồn lòng sống trong câm lặng khổ đau, sống là sống gượng, vì thương các con và để cho cha mẹ gia đình vừa lòng, cũng để người đời nhìn vào còn lấy thể diện!  Thực tế cảnh sống gia đình đã làm cho chú âm thầm khổ tâm ray rứt, rồi dần dần về sau, ngày biếng ăn, đêm trằn trọc khó ngủ và dần dần chú trở nên người ít nói, không còn thích thú tiếp xúc với mọi người.  Nhiều đêm một mình một bóng suy tư, nghĩ nhớ cảnh thanh tịnh chốn thiền môn, chú tiếc nuối cái thời sống với thầy, cùng đùa giỡn với dã thú hoa rừng sao mà thanh tịnh giải thoát quá, giờ đây còn đâu nữa!  Có những đêm một mình nhìn ánh trăng khuya qua cửa sổ, chú tự nghĩ trách thầm cho mình vì một niệm tình cảm vô minh lầm nghe lời quyến thuộc thế tục khuyên dụ mà rời bỏ đời sống quyến thuộc Bồ-đề, đánh mất nguồn sống an lạc!

Biết chừng nào mới thoát được cảnh vợ buộc con trói để trở lại cảnh thiền môn thanh tịnh:

Ta về nơi cảnh tĩnh

Vui lại thiền thống xưa

Trăng nhìn qua kẽ lá

Hoa rừng ngát hương đưa

Suối reo tròn năm tháng

Hoa dại nở suốt mùa...

Nhưng cảnh tĩnh đâu còn nữa!  Mà cảnh sống thực tế giờ đây quá phũ phàng, vợ con nhà cửa buộc ràng đủ thứ phiền lụy!  Chỉ vì một niệm khởi tâm bất giác xiêu lòng nghe theo lời ngọt mật nỉ non của gia đình bà con quyến thuộc mà dẫn đến sự tan tành hạnh phúc mùa xuân đạo hạnh đã có trong cảnh Phật.

Chú không dám trách tình thương của cha mẹ anh chị em đã đặc biệt dành cho chú, lôi kéo chú xa lánh cuộc đời giải thoát an vui trong chốn thiền môn, để ngày nay phải rơi vào cảnh tục lụy thê thằng tử phược chán chường như thế này, mà chú chỉ tự trách mình thiếu kiên tâm vững chí, chỉ một phút khởi vọng tâm nghe lời dụ dỗ ngon ngot không nhận chân ý nghĩa của tình đời “thương ái là họa hại”, để phải hủy hoại một đời thăng hoa thánh thiện, đánh mất mùa xuân hạnh phúc miên trường trong cửa Phật từ bi mà thế nhân không làm sao có được.

Cửa chùa vốn thanh tịnh hiền hòa dù đó là mái tranh vách lá, nhưng không vướng bận bụi nhơ hơn thiệt thị phi của trần thế.  Người Phật tử đến với đạo, nếu biết vận dụng tâm thành, gạt bỏ lợi danh, một lòng chánh niệm chuyên việc tu tâm dưỡng tánh, thì công quả vun bồi phước đức vẹn toàn, hiện đời đạt được thanh tịnh an lành.  Một khi tâm thành chánh niệm thì tự nhiên tạo cho mình mùa xuân vạn hạnh vô biên.

Đến chùa học đạo tu tâm mà còn thấy mình có công có danh có quyền có lợi, muốn thầy phải nghe lời mình thế này thế khác để vừa lòng mình, được lòng vợ con bạn bè mình, những người như thế muôn đời vẫn cảm thấy lòng bất an, mùa xuân hạnh phúc vẫn mãi mãi xa vời, và cửa hang ba đường ác đạo sẵn sàng mở toang chờ đón bước vào.

Bởi vì một khi thấy có thì sẽ thấy không, thấy được thì sẽ thấy mất.  Tâm bệnh của chúng sanh nếu không tu sửa tánh tình thì sẽ mỗi ngày càng thêm vô minh dầy đặc u muội, từ đó phải khổ lụy vì những thứ có không, còn mất, đắc thất, khen chê.  Chính vì tâm chấp trước có không, được mất, đắc thất, khen chê mà đã làm não nề thê thảm kiếp kiếp khách trần danh lợi ái tình.  Họ sẽ phải mãi mãi sống trong những mùa đông điêu linh băng giá, và ngàn đời không bao giờ được sưởi ấm ánh xuân dương an lành hạnh phúc thanh thoát.

Kẻ hám danh trục lợi dục tình, dù thân có mang đầy chuỗi hạt anh lạc, mặc áo của thần tiên thánh Phật thì áo chuỗi đó cũng trở thành áo ma chuỗi đá, chỉ để che đậy cái thân xác dục vọng mà thôi.  Tâm nặng lợi danh tranh hơn hận thua, mà xây chùa đúc tượng thì chùa đó dĩ nhiên Phật không dám ở, tượng đó tất phải quỷ tàng hình.  Thậm chí họ có tự vẽ vời giả trang ngồi tòa sen hay phóng hào quang thì những thứ đó cũng trở thành đồ vàng mã rơm rác.  Kẻ tà niệm cho dù có thuộc làu kinh điển nói cũng trở thành lời của tà ma, bởi do bản chất của họ là tà tâm tham vọng, chẳng khác nào bình chứa rượu lâu năm không xúc rửa chùi lau, đem nước đổ vào thì nước đó tất nhiên hôi mùi rượu.  Huống chi họ nhận là Phật tử thì đó là loài ma vương tham vọng ngụy hình để nhập vào hàng tứ chúng đệ tử Phật với ý đồ cầu lợi tìm danh tranh giành lũng đoạn, khiến cho người hoài nghi Phật pháp, làm cho Phật pháp mau suy tàn!  Kinh Phật dạy: “Kẻ tà nói chánh pháp, chánh pháp biến thành tà.  Người chánh nói tà pháp, tà pháp biến thành chánh”.

Những người đã có tà niệm lợi danh thì ở đâu, đến đạo tràng nào, trước sau gì cũng tạo sự ồn loạn phiền não nghi kỵ cho đại chúng, và cuối cùng thủ đoạn ăn-không-được-thì-khuấy-cho-hôi, được-làm-vua-thua-làm-giặc, có làm như thế tặc tâm ác ý họ mới an vui hả dạ.

Ngày xưa Phật còn tại thế cũng đã có xảy ra những chuyện tương tự.  Ngày nay vào thời mạt pháp, cách Phật đã xa, nhân tâm lại càng vọng động, đạo tâm suy vi, thì tình trạng phiền nhiễu này lại càng thêm dẫy đầy trong cửa Phật!  Vì vậy, những ai còn nặng tâm phàm phu, không đủ nghị lực thanh tịnh hóa thân tâm thì muôn đời khó mà cảm thấy được mùa xuân hạnh phúc.

Xuân tết nhà Phật thường gọi là xuân Di-Lặc.  Tại sao gọi là xuân Di-Lặc?  Lý do là vía của đức Di-Lặc đúng vào ngày mồng một Tết.  Với đức tánh hỷ xả, với nụ cười cởi mở hả hê, với gương mặt tròn đầy, thân hình nở nang, thể hiện thật tánh vô tư tự tại với các chú lục tặc, Ngài hoàn toàn hiển lộ trạng thái an nhiên hỷ xả, ai nhìn vào cũng sanh tâm hoan hỷ.  Đức Di-Lặc tượng trưng cho niềm an vui hạnh phúc vô biên muôn thuở.  Ở nơi Ngài tỏa ra bầu trời xuân an lạc.  Ngày xuân Tết là ngày vui mừng hoan hỷ, ngày tràn đầy hy vọng hạnh phúc của thế nhân.  Thế nên, nhà Phật lấy niềm hoan hỷ của đức Di-Lặc tượng trưng cho mùa xuân hạnh phúc chơn thường bất diệt tạo niềm hoan lạc cho trần gian.

Nếu mùa xuân là mùa cho mọi người vui cười hạnh phúc, cho hy vọng tương lai tươi sáng, cho một năm tràn đầy ý nguyện, thì chính hạnh hỷ xả của nhà Phật qua nụ cười hoan hỷ bất diệt của đức Di-Lặc có thể hình dung mùa xuân hạnh phúc muôn đời.

Người có đức tánh hỷ xả là người có bầu trời xuân hạnh phúc.  Xả là xả bỏ không luyến tiếc, không câu nệ chấp nê, cái gì qua thì cho qua, không vướng tâm bận lòng, dứt khoát buông xả như gió thoảng, như tiếng vang, như nhạn bay qua mặt hồ, như gió thoảng qua cành trúc, như người có lỗi lầm với mình thì mình xả bỏ tha thứ, không chấp trách, không hạch sách, không để tâm ghim gút hận thù. Như thế thì mình và người thông cảm hòa vui.  Nhờ đó dễ dàng tạo cho nhau mùa xuân an lành hạnh phúc chân thật:

Người có lỗi lầm ta thứ tha

Khoan dung đại độ tánh ôn hòa

Đã không buồn tức mà yên tĩnh

Mở rộng lòng thương sống vị tha

Những ai trong cuộc đời một khi những thứ quyền cao chức trọng danh vọng giàu sang rời khỏi tầm tay mà lòng vẫn thản nhiên không mảy may xao xuyến luyến tiếc, thì người đó đích thực thể hiện cõi lòng tự tại thanh thoát, xem nhẹ danh lợi ái tình chẳng khác như cánh hoa hồng gai từ tay rơi xuống đất. Những người như thế lòng tràn đầy mùa xuân hạnh phúc, thong dong tự tại giữa dòng đời phiền lụy trầm luân.

Các bậc thánh nhân giác ngộ xem danh lợi ái ân như rác bụi dính trong con mắt nên các Ngài lúc nào cũng thoải mái tự tại an vui trước cảnh đời thạnh suy tan hợp, qua lời khuyên của bậc cổ đức: “Ngộ thanh ngộ sắc như thạch thượng tài hoa, kiến lợi kiến danh như nhãn trung trước tiết.”  Đại ý rằng, tài hoa sắc đẹp trên đời chẳng qua là trò chơi bóng nước, như cây mọc trên đá; danh vọng tiền tài làm hại đạo tâm như rác bụi dính vào mắt.  Người biết xem nhẹ lợi danh, khinh thường quyền chức, dứt bỏ dục vọng, khi danh lợi ái tình rơi mất thì như rũ sạch bụi áo, người ấy chắc chắn sẽ tạo cho mình mùa xuân hạnh phúc chân thường bất diệt và sẽ thưởng thức vẻ đẹp muôn hình muôn sắc của trời xuân bất tận.

Những ai trong chúng ta nếu liễu đạt cái thân này là giả hợp tạm bợ, sự còn mất của thân nầy chẳng khác nào như bánh đất của trẻ con chơi, thì người đó liễu thoát sanh tử.  Cái thân này sống qua hơi thở, thở ra mà không hít vào là bước vào đời khác.  Mạng sống mong manh như sương trên đầu cành buổi sáng sớm, như áng mây hồng vào lúc hoàng hôn.  Hôm nay còn vui cười xum hợp chưa chắc còn được ngày mai.  Sự lìa xa thân thuộc để ra người thiên cổ, giờ phút trước mạnh khỏe khó lường được giờ phút sau, đấy là chuyện thường tình thế gian.  Sự đời thay đổi chóng mau trong khoảnh khắc.  Thân này đã không chắc thật, thì tiền tài danh vọng là những thứ chúng ta tạo ra, ngoài thân ta, là thứ phụ thuộc chúng ta thì làm sao được lâu bền?  Điều này rõ như ban ngày.  Thân ta đã không chắc thật thì cảnh vật chung quanh nào có trường tồn?  Người có tâm chí cầu đạo Bồ Đề sao không lãnh hội, để sớm đổi cái giả tạm mà nhận lấy cái chân thường, từ đó có được mùa xuân vạn hành miên trường?

Để cho thế nhân triệt ngộ chân tướng của sự vật ở đời là vô thường ngõ hầu từ đó tạo cho con người tỉnh thức để trọn hưởng bầu trời xuân hạnh phúc, nên Vạn-Hạnh thiền sư đã có bài kệ khai thị đại chúng:

Thân như bóng chớp chiều tà

Cỏ xuân tươi tốt thu qua rụng rời

Xá chi suy thịnh cuộc đời

Thịnh suy như hạt sương rơi đầu cành

(Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô

Nhậm vận thịnh suy vô bố úy

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.)

Cùng ý nghĩa đó, kinh Kim-Cang đức Phật dạy rằng:

Xưa nay vạn vật trên đời

Bọt bèo mộng huyễn có rồi hoàn không

Kìa xem điện chớp trên không

Hạt sương sáng sớm đem lòng quán xem.

(Nhứt thiết hữu vi pháp

Như mộng huyễn bào ảnh

Như lộ diệc như điển

Ưng tác như thị quán.)

Người biết sống trong chánh niệm, khéo điều tâm khiển thân, chân thành hành đạo, tu tâm dưỡng tánh, từ đó tạo thành phước đức, thì mặc sức hưởng mùa xuân hạnh phúc.  Ngược lại, kẻ không biết sống trong chánh niệm, lệ thuộc ngoại cảnh, chạy theo tà tâm tham vọng thúc đẩy thì sẽ phải trôi lăn đắm chìm trong biển đời danh lợi thị phi, nổi trôi trong dòng sông ái ân dục vọng, sống ngày nào chỉ tạo thêm tội lỗi.  Kinh Bát-Đại Nhân-Giác đức Phật dạy: “Tâm là nguồn ác, thân là rừng tội” (Tâm thị ác nguyên, hình vi tội tẩu).  Thế nên Cổ-đức nói: Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.

Người đắm chìm trong vòng tâm thức vô minh dục vọng, không biết hồi tâm giác tỉnh thì cứ mải đắm đuối theo đuổi danh lợi, tranh đua hơn thiệt tất phải không bao giờ có được mùa xuân hạnh phúc.  Mùa xuân hạnh phúc lúc nào cũng tràn ngập trong cuộc sống của những ai biết sống trong chánh niệm, biết sống thúc liễm thân tâm, biết sống với cõi lòng thanh tịnh từ bi, hỷ xả, vị tha, và trí túc.

Không sống theo dục tình tham vọng là cõi lòng được an lạc tràn ngập trời xuân.

 

 

Ngày xuân với người Phật tử

Cứ mỗi lần tròn mười hai tháng, ba trăm sáu mươi lăm ngày, đó đây không ai bảo ai, mọi người tự cảm thấy lòng mình trỗi dậy niềm hân hoan như muôn ngàn tia sáng bình minh, chan hòa hương sắc của đất trời, khắp nơi vũ trụ gió thoảng ngàn phương, phưởng phất ánh xuân dương, tất cả như hội tụ nơi lòng nhân thế.  Trên gương mặt mọi người hiện nét tươi hẳn lên, điểm trên đôi môi nụ cười cởi mở hy vọng.  Hy vọng một năm mới tốt lành hạnh phúc sáng sủa.

Xuân về hoa lá nẩy nở tốt tươi như nụ cười vũ trụ.  Nhưng thật sự cảnh vật xanh tươi trong ngày xuân tết chỉ có với quê hương Việt-Nam, trên đất mẹ chôn nhau với tiếng khóc chào đời, chứ người Việt-Nam tỵ nạn cộng sản còn mang kiếp sống tha hương trên đất khách quê hương, thì mỗi độ xuân về nhìn thấy khắp nơi nơi phơi bày băng tuyết giá lạnh, cỏ cây úa lá trơ cành.  Nhưng quê hương Việt-Nam giờ đây dưới chế độ vô thần cộng sản, dân chúng đâu còn lòng dạ bình an tự do hưởng xuân, mà xuân chỉ có cho đảng và cán bộ ưu tiên đặc quyền hưởng lợi của kẻ thống trị!

Xuân tết với người thế gian, ngoài việc cúng quảy tổ tiên, tiếp theo đó là những cuộc liên hoan tiệc tùng rượu thịt, sòng bài canh bạc nhảy nhót say sưa.  Thế nhưng tiếng cười mừng xuân chưa dứt, lời chúc tụng trên môi chưa tròn, là tiếp theo những nỗi lo rầu bệnh hoạn do những cuộc vui chơi dục lạc chè chén quá độ trong ba ngày xuân.  Cảm nhận điều đó nên thi nhân nói:

Xuân cho thỏa chí tang bồng

Thịt quay rượu nặng thỏa lòng ai ơi!

Xuân trong tiếng hát câu cười

Hả hê phỉ sức một đời người thôi.

Xuân đối với người đời là dịp nghỉ ngơi đôi ngày để hưởng thụ, chè chén cuộc cờ, hoặc ngao du thưởng ngoạn lấy lại sức để rồi tiếp tục sáng chiều bôn ba đông tây phấn đấu kiếp trâu cày cho kế sanh nhai trong suốt năm mới.  Nhưng cũng trong dịp xuân tết, bên cạnh những tiệc tùng rượu nồng thịt thắm, áo gấm nữ trang lòe loẹt, thì đó đây cũng có biết bao người đầu tắt mặt tối sống một đời hẩm hiu thiếu thốn nơi ăn chốn ở trăm bề!  Nên chi khi xuân về khiến cho lòng họ tê tái tủi phận xót xa:

Xuân đến làm chi thêm tủi lòng

Với xuân tôi trót chẳng chờ mong

Nắng sương trọn kiếp còn chưa đủ

Xuân đến lòng tôi thêm não nùng

Đâu phải xuân tết đến ai cũng vui mừng, khoe khoang trang điểm tiệc tùng.  Mà lắm khi xuân tết đến làm cho người đang sống trong gia cảnh thiếu trước hụt sau, kẻ lỡ thời thất vận buồn đau não nề:

Xuân đến làm chi đấy hỡi xuân?

Lòng tôi se thắt lại vô ngần

Hoa cười áo thắm trong xuân ấm

Lòng tôi vẫn buốt lạnh căm căm!

Xuân với người Phật tử chân chánh có tâm hạnh tu hành buông xả thì có ý nghĩa đặc biệt hơn người trần thế.  Người Phật tử chân chánh biết sống tri túc, suốt rõ nghiệp duyên nhân quả, sống với thực tại, không hăm hở tham trước khi việc đã thành, không đau khổ sầu thương tiếc nuối khi thất bại tan tành, không vui buồn theo sự còn mất thịnh suy, nhất là không đắm mình trong ngũ dục lạc, nên không xảy ra bệnh hoạn tai nạn một cách oan uổng, cũng không có trạng thái mong muốn vui buồn quá độ.

Xuân đến, ngoài bổn phận con cháu đối với ông bà, ngoài bổn phận hậu bối đối với tiền nhân, người Phật tử còn có bổn phận đối với chính mình.  Bổn phận với chính mình là bình tâm kiểm điểm lại mình, hồi quang phản tỉnh nơi mình, suốt một năm qua có được giác ngộ trên đường giác ngộ thánh thiện hóa chưa?  Có tu tâm sửa tánh hành thiện và phát nguyện tinh tấn hơn chưa?  Với tinh thần từ bi lợi tha hỷ xả mà mình thường đọc tụng luận bàn thì đã làm gì cụ thể chưa?  Nếu chưa là còn thiếu bổn phận, là thoái hóa, là để ngày qua tháng lại thoạt đã bạc đầu mà chưa làm được gì, chưa bước thêm được bước nào trên đường thánh thiện, thì nên sanh tâm hổ thẹn, với chính lòng mình, hổ thẹn với bạn hiền, hổ thẹn khi mình nghiêng mình cúi đầu lễ Phật, vậy thì tự nguyện năm mới cố gắng tinh tấn hơn nữa.  Nếu không, thì sẽ mắc cái lỗi cô phụ lời Phật dạy: “Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành.  Các con nên cố gắng tu hành thì cũng sẽ thành Phật như ta.”  Nếu không như thế, chẳng những phụ lòng từ bi của Phật mà ta còn vô tình phủ nhận khả năng thánh thiện của chính ta.  Bởi đức Phật đã xác quyết tuyên bố rằng: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.”

Mỗi lần xuân đến, người Phật tử phải lặng lòng tịnh tâm phản tỉnh nhớ rằng: Mỗi lần xuân tết đến là ta đã âm thầm xa dần bến bờ tráng kiện sinh lực tuổi trẻ.  Đồng thời ta cũng bước dần đến hố thẳm già yếu suy tàn.  Phật dạy:

Ngày nay đã qua

Mạng người giảm dần

Như cá cạn nước

Nào có vui chi.

Buổi mai mùng một xuân tết đó đây phơi bày xác pháo đầy đường, muôn hoa tươi nở thì ngay trong khi đó đã âm thầm báo hiệu hiện tượng héo hon úa tàn tiếp theo:

Hoa nở để rồi tàn

Trăng tròn để rồi khuyết

Bèo hợp để rồi tan

Người gần để ly biệt

Hoa xuân không nắng cũng phai màu

Trên mặt người kia in vết đau.

Chẳng những vạn vật cỏ cây, mà ngay con người cũng theo thời gian mà tàn phai hương sắc:

Rồi một ngày kia hương sắc tàn

Tuổi đời chôn lấp bụi trần gian

Tới lui mấy độ quan san ấy

Thắm gửi cho đời một tiếng than.

Người Phật tử không để cho ngày tháng trống không trôi qua vô ích, rồi buồn thương cho hương sắc tàn với thời gian năm tháng, mà phải tinh tấn với thời gian bằng cách tu tâm, sửa tánh, chánh niệm, làm lành, niệm Phật, tụng kinh, tham thiền để tiến dài tiến mãi, tiến mau trong ánh đạo vàng giác ngộ giải thoát.  Có ý thức về lẽ sống, thì đời sống mới có ý nghĩa.  Và như thế lòng an lành, tâm hoan hỷ, sống tự tại hài hòa trong ánh xuân tươi mát giải thoát.  Đấy mới thật sự đạt ý nghĩa ngày xuân của người Phật tử.

Phật tử mà không tập sống theo lời Phật dạy là tự đày đọa mình, vong ân Phật.

 

 

Xuân Di Lặc

Hôm nay là ngày xuân tết, ngày mừng vui của mọi người, ngày ai nấy tràn đầy hy vọng nơi lòng.  Dù đang sống ở đâu, ở vào lứa tuổi nào, trong ngày đầu năm xuân tết, cũng đều cảm thấy nhen nhúm nơi lòng niềm hân hoan, rộn ràng bừng dậy nguồn sống hy vọng tươi sáng khắp tâm hồn.

Niềm vui tự nhiên nẩy nở nơi lòng mọi người trong ngày xuân tết, nên nhà Phật thường chúc cho nhau: “Năm mới chúc quý bà con đạo hữu trọn hưởng mùa xuân Di Lặc.”

Xuan Di Lặc là xuân hoan hỷ, niềm hoan hỷ tràn đầy vô biên, không vướng mắc, không bận lòng, không lo âu, không phải là xuân vui theo thời gian mùa tiết đến đi, mà là xuân thường nhiên bất diệt, xuân miên viễn chơn thường, xuân phát triển khả năng thánh thiện.

Nói đến đức Di Lặc, người ta liền nghĩ ngay đến hình ảnh dáng vóc của một ông Phật bụng phệ, miệng cười hả hê toe toét, với mấy trẻ nít trèo lên mình nghịch phá, mò rún, kéo tai, rờ miệng, thọc mũi làm đủ trò nghịch giỡn.  Trong lúc đó ngài Di Lặc vẫn tươi cười xuề xòa tự tại không chút tỏ ra chướng ngại bực mình.

Nụ cười Di Lặc thật tươi, thật hồn nhiên, thật cởi mở, biểu lộ trọn vẹn cõi lòng rộng mở bao la, buông thả hoàn toàn.  Nụ cười của đức Di Lặc thể hiện tâm hồn thanh thản an nhiên tự tại, không còn mảy may u ẩn chướng ngại nơi lòng.  Phải nói là nụ cười cởi mở giải thoát có một không hai trên trần thế.  Nụ cười Di Lặc là nụ cười muôn thuở, muôn thời, vượt ngoài giới hạn buộc ràng thời gian không gian và hoàn cảnh không còn mảy may dính mắc.  Từ hình thái đặc thù này, quý vị có thể lãnh hội được ý nghĩa tại sao ngày xuân tết, nhà Phật gọi là xuân Di Lặc và chúc cho nhau trọn hưởng mùa xuân Di Lặc.

Đức Di Lặc tượng trưng cho nguồn vui bất tận, an nhiên tự tại, hạnh phúc muôn đời, vượt ngoài vướng mắc hoàn cảnh, thời gian và không gian.  Trong ý nghĩa đó, nhà Phật mong cho mọi người có được đời sống tự tại, giải thoát an vui, hạnh phúc chân thật trường cửu như đức Di Lặc và đặc biệt đối xử với nhau chân tình vui đẹp hài hòa như cảnh năm chú bé chọc phá đủ điều đủ cách mà Ngài vẫn nở nụ cười hỷ xả trên môi.

Làm thế nào để có nụ cười an lạc hạnh phúc chân thật trường cửu như đức Di Lặc?  Nụ cười tràn đầy hoan hỷ đó chỉ có với những ai có tâm hạnh hỷ xả lợi tha.  Lòng vị tha, hạnh buông xả thì tự nó đã chứa chan chân thật hạnh phúc.  Ta thấy mấy đứa bé trèo leo khuấy phá trên người đức Di Lặc mà Ngài vẫn an nhiên cười hả hê, tức là tâm ngài đã hỷ xả tự tại vô ngại, khai thông rộng mở cánh cửa lòng, không ranh giới, không phân biệt cách ngăn nhân ngã, nên không còn ranh giới giữa mình với người, mình với hoàn cảnh.  Ai biết sống đời buông thả, hỷ xả, vị tha là người mở rộng cánh cửa hạnh phúc cho mình và cho đời.  Nên kinh Thủ Lăng Nghiêm, Phật dạy người tu hành muốn được tự tại giải thoát thì phải biết sống “bất tùy phân biệt.”  Tức là không phân biệt chấp trước dính mắc theo trần cảnh.  Nếu còn phân biệt chấp trước theo trần cảnh tức là tâm còn sanh khởi bỉ thử đắc thất, tam độc tham sân si theo đó mà sanh khởi.  Còn tam độc là còn sống trong hẹp hòi ích kỷ, nghi hoặc bất chơn, tức là còn chìm trong biển sóng gió ba đào phiền não khổ lụy, còn trôi lăn trong dòng thác lũ sanh tử luân hồi.

Người đời sở dĩ khổ đau bệnh hoạn bởi do tâm phân biệt chấp trước.  Tâm phân biệt cái này tốt đẹp thì mong muốn, mong muốn chụp bắt không được thì sanh ra buồn khổ.  Tâm chấp chặt vào tiền của, vợ con, ái tình, danh vọng thì lòng luôn luôn bất an.  Bởi vì tâm buồn vui theo những thứ này, còn thì vui, ly tán thì thất vọng buồn  phiền đau khổ.  Một khi chưa đạt lý vô thường, thế gian vạn vật hợp tan mộng huyễn, nên người đời cuồng dại sống theo tâm phân biệt chấp trước.  Do tâm phân biệt, nên đối với sự việc gì không thích thì dù cho có tốt mấy cũng cho là xấu, rồi lạnh nhạt, ghét bỏ, nguyền rủa, tìm cách ám hại.  Còn nếu thương thích thì dù có hư xấu ác độc cũng khen ngợi bao che.  Con người do tâm phân biệt chấp trước nên phải luôn luôn dính mắc, sống trong trạng thái dày vò cuồng si đau khổ suốt kiếp.  Tâm an thì lý đắc, thân khỏe, tinh thần vui.  Tâm bất an thì lý bất đạt, thân bệnh hoạn, tinh thần suy.

Muốn hết đau khổ, ta nên tập sống đời vị tha hỷ xả, mở rộng cõi lòng thương người thương vật như chính tự thương ta.  Việc gì qua nên cho qua, quên đi, đừng thắc mắc nhắc nhở ghi khắc chấp chặt nơi lòng.  Càng khắc sâu trần cảnh danh lợi ngũ dục lại nơi lòng, thì càng tăng thêm cố chấp tiếc thương buồn phiền.  Còn cố chấp thì tâm thần càng chật hẹp bất an, cản ngăn bước tiến bộ trên quang lộ an lành.  Tâm lượng bị thu hẹp, thì vũ trụ tâm thức không còn bao la tươi đẹp thanh bình.  Tâm cố chấp thì không khác gì người khát uống nước biển, càng uống càng khát.  Tài sắc danh lợi ái ân ngũ dục tình đời chỉ là trò chơi nguy hiểm, nhận chìm con người xuống hố thẳm khổ lụy tội lỗi.  Cổ đức đã nói: “Ngộ thinh ngộ sắc như thạch thượng tài hoa, kiến lợi kiến danh như nhãn trung trước tiết.”  Nghĩa là người muốn có đời sống tiến bộ trên quang lộ giác ngộ hạnh phúc thì phải biết nhận thức âm thanh danh sắc ngũ dục ở đời như hoa trồng trên đá, như bụi vướng trong mắt, hàm chứa tánh chất vô thường mộng huyễn.  Nếu mê muội tham đắm chấp trước ngũ dục (tài, sắc, danh lợi, ăn, ngủ) thế gian, thì vô tình để đời mình rơi vào hầm hố chông gai của luân hồi sanh tử đau khổ triền miên.  Dục lạc trần gian có năng lực cuốn phăng như dòng thác lũ đẩy trôi nhận chìm bao kiếp người.  Thi nhân đã bày tỏ quan niệm đó: “Cuồn cuộn Trường Giang đăng lưu thủy thảo hoa đào tận anh hùng; thị phi thành bại chuyển đầu không, thanh sơn y cựu tại, cơ độ tịch dương hồng.”  Nghĩa là, dòng nước sông Trường giang cuồn cuộn chảy xoáy rễ trốc gốc cuốn đi hết bao cỏ cây hoa lá anh hùng.  Danh lợi thị phi thành bại ở đời rồi cũng trắng tay không trong một sớm một chiều.  Núi cây muôn đời xanh biếc, bóng chiều mấy độ tà dương.

Có lẽ nhận chân được tánh chất huyễn mộng của dục lạc cảnh trần, mặc dù tánh chất huyễn mộng, nhưng chúng thể hiện qua tướng trạng ngũ dục lạc với sức hấp dẫn cuốn lôi nổi chìm người đời một cách phi thường làm cho lớp lớp người trần gian đau thương vì đắm đuối, để rồi âm thầm thiêu hủy khả năng cầu tiến trên đường thánh thiện giác ngộ giải thoát.  Tham đắm ngũ dục thế gian chẳng khác như người đam mê thuốc phiện, say sưa tửu sắc cờ bạc, mặc nhiên tự hủy hại mình trên đường lập nghiệp, biến thành nhân cách sa đọa, nên thi nhân đã khéo nhắc nhở:

Nước sông cuồn cuộn cuốn trôi,

Lôi kéo bao kẻ anh hùng

Nhận chìm kiếp sống thanh cao

Đào thải kẻ háo danh sắc

Núi xanh vẫn như thuở nào

Thi nhân còn phác họa bức tranh vân cẩu tuyệt đẹp để nói lên tánh chất vô thường huyễn ảo của thế sự nhân tình hợp tan, kiếp sống con người quá đỗi mong manh như gió thoảng mây bay:

Mây tương cẩu trắng xanh xanh trắng

Trắng rồi xanh, cuộc thế thể chiêm bao

hoa hải đường tươi héo héo tươi

Tươi lại héo người đời như ngọn gió

Sự đời như mây tan hợp.  Kiếp sống con người như gió thoảng, như chiêm bao, mà con người vẫn lao đầu chụp bắt lợi danh sắc tình giả huyễn không lúc nào thôi.  Giáo lý nhà Phật trình bày cho người trần thế nhận chân thế sự vô thường, mạng người trong hơi thở.  Có nhận chân như vậy để không đắm đuối tiếc nuối khổ lụy vào dục lạc vô thường còn mất, để còn có cơ hướng đến cái chơn thường, ngõ hầu được sống trường cửu với tánh linh ngời sáng an lạc, chứ không phải để bi quan yếm thế, trốn tránh cuộc đời.  Cũng như người nào ý thức biết nhận mình dốt, gắng công chịu học để cầu tiến thì trở nên người kiến thức khôn ngoan.  Biết mình bịnh, chịu cầu thầy hay thuốc tốt chữa trị thì thân tâm trở nên  lành mạnh.  Có ý thức mình đang sống trong hoàn cảnh vô thường bất an không hạnh phúc chân thật, thì mới nỗ lực tìm cách tạo cảnh sống an lành hạnh phúc chơn thường.  Tất cả sự tiến bộ hạnh phúc của con người đều do chính con người biết ý thức nhận định nhìn rõ sự thật.  Tất cả đều do tâm tạo.  Tâm sáng lành thì tạo hạnh phúc.  Tâm chân thật thì nhận hưởng chơn thường.  Tâm tham độc thì tạo đời sống bất an.

Làm thế nào để đạt được an lạc chơn thường, hạnh phúc trường cửu?  Điều nầy chỉ có một con đường duy nhất là tu.  Tu là sửa.  Nghĩa là những gì mình vốn đã có rồi, như đồ vật, tánh tình, bây giờ nó hư, nó sai, nó xấu, nên sửa lại cho nó tốt nó đúng.  Tức là tâm ta vốn đã có tánh chất thánh thiện từ bi hỷ xả vị tha rồi, nhưng ta quên đi, lại chạy theo mộng huyễn tình thức tham dục sân si làm cho vẩn đục lu mờ cái đặc tánh thánh thiện từ bi hỷ xả cao đẹp trong ta, để rồi ta phải chịu lắm nỗi sầu bi khổ lụy nổi chìm.  Chẳng khác nào như lư đồng vốn sáng bóng, nhưng bị gió lộng không khí đốt mà thành ten ố.  Bấy giờ muốn chất đồng sáng bóng hiển lộ thì phải đánh bóng. Cũng đồng ý nghĩa nầy, học trò ham chơi không chịu đến trường chăm học; kẻ đồng tử con của nhà triệu phú nghe theo lời dụ dỗ của bạn bè xấu ác bỏ nhà trốn cha mẹ, để đam mê rượu chè cờ bạc xì ke ma túy; kẻ đi ăn xin, chỉ vì quên lời dặn của mẹ cha lấy ngọc cất trong lai áo ra dùng, nên phải cực khổ đói rách dày vò lang thang khắp chốn.

Chúng sanh cũng giống như thế.  Trong mỗi chúng sanh đều có tánh từ bi hỷ xả trí huệ.  Đức Phật tha thiết khuyên chỉ khai thị cho chúng sanh nên sớm trở về với đặc tánh thánh thiện trí huệ từ bi hỷ xả của chính mình đó khai triển để sống đời vị tha cao thượng, để trọn hưởng bầu trời bao la hạnh phúc. Nhưng chúng sanh không nghe theo, lại chỉ thích sống theo phàm tình dục vọng ích kỷ chấp trước hình danh sắc tướng, đắm mê mộng huyễn ái tình nhục dục xác thân tham ăn mê ngủ, đua đòi rượt bắt đủ thứ phù hoa danh lợi thế gian, mà không bao giờ dừng bước biết đủ.  Nào có biết danh lợi ái tình thế gian vừa nắm trong tay, thì xảy mất liền sau đó.  Chụp bắt dục lạc ở đời chẳng khác nào chụp lấy bọt sóng trên biển, bèo trôi trên sông.  Càng chụp bắt danh lợi ái tình thì càng chuốc lấy khổ lụy vào thân, chứ không bao giờ hạnh phúc dài lâu.  Thi nhân nói:

Hạnh phúc bọt nước nếu cầm tay

Hỡi người ơi! Trên trần thế vạn ngày

Chưa sánh được một ngày trong đạo giới

Lòng người tối tăm mê muội lấy giả làm chơn, chấp hư làm thật, tự nhận chìm suốt trọn kiếp vào chuyện thiệt hơn, thị phi; suốt tháng năm rắp tâm đuổi bắt danh lợi ái tình huyễn hóa đang chờn vờn trước mắt.  Họ đuổi bắt đến kiệt sức uất lòng mà vẫn chưa có phút giây nào tâm hồn thật sống thanh thản.  Chẳng khác nào xưa kia có nàng công chúa nhìn những hạt nước mưa rơi phản chiếu dưới ánh nắng ban mai lấp lánh muôn màu sắc, tưởng đó là những hạt ngọc quý đẹp tuyệt trần, quyết đòi lấy cho được những hạt ngọc nước đó xỏ xâu thành chuỗi.  Ước muốn không thành nên sanh tâm đau khổ phát bệnh đến gần mất mạng.  Nếu không có vị lương y kịp thời đến giải thích làm cho nàng tỉnh ngộ đó là những hạt nước mưa chứ không phải ngọc thật, thì chắc có lẽ nàng sẽ suốt đời ôm lòng ước ao chuỗi ngọc kia mà phải đau khổ triền miên, hủy hoại một đời thanh xuân hương sắc đến tuyệt mạng oan uổng!  Vị lương y tượng trưng cho ai?  Nàng công chúa kia tiêu biểu cho ai?  Xin quý vị giải đáp giùm!

Người đời đuổi bắt phù hoa danh lợi ái tình nào có khác nàng công chúa kia nằng nặc quyết đòi lấy cho được những hạt nước mưa xâu làm chuỗi?  Cứ tưởng ý nghĩ của mình là đúng, vật sở hữu của mình là thật, rồi sanh tâm chấp chặt.  Nào có biết khi vừa chụp bắt được ngũ dục chưa thỏa nụ cười thì nó đã tan biến không còn!  Ước mong chưa tròn thì đã tiêu mất, rồi lại sanh tâm lẫn tiếc thở than!  Bướm lượn trên hoa màu sắc tươi đẹp, dáng điệu nên thơ.  Rờ tay bắt bướm, thì bướm liền rách cánh rụng chân, thân bướm thành sâu nhộng!  Cảm thông nỗi lòng nhân thế, thi nhân diễn tả nỗi xót xa hạnh phúc mộng huyễn của người trần gian và hạnh phúc người biết tu tỉnh với cõi lòng thanh tịnh như sau:

Lấy gió mát, trăng thanh kết nghĩa

Mượn hoa đàm đuốc tuệ làm duyên

Thoát trần một gót thiên nhiên

Cái thân ngoại vật là tiên trong đời.

Hạnh phúc của thế gian mong manh như bọt nước trong tay.  Vui hạnh phúc thế gian là vui ngũ dục lạc.  Bản chất của ngũ dục lạc là uế trược vô thường.  Hạnh phúc của người liễu đạo là người có cõi lòng thanh tịnh thong dong thì khổ hóa vui.  Nên cổ đức cảnh tỉnh người trần thế:

Vui trong tham dục vui là khổ

Khổ để tu hành khổ hóa vui

Ta hãy nghe tăng nhân Thiền Lão sống một đời an bần lạc đạo thanh cao của một nhà tu thanh đạm trong chốn thiền môn, lòng buông thả tất cả việc thế sự, đã kín đáo trao gửi lời nhắn nhủ đến vua Lý Thái Tông, người tượng trưng cho sự sống tràn đầy hạnh phúc trần gian, tột đỉnh danh vọng quyền quý trong thiên hạ:

Nhà vua hỏi: Hòa Thượng sống ở đây bao lâu rồi?

Thiền Lão đáp:

Sống ngày nay chỉ biết ngày nay

Còn xuân thu trước ai hay làm gì

Nhà vua lại hỏi: Thường ngày Hòa Thượng làm gi?

Thiền Lão đáp:

Trúc biếc hoa vàng đây cảnh sắc

Trăng trong mây bạc hiện toàn chơn.

Ta thấy cõi lòng của tăng nhân buông thả tất cả, hài hòa với thiên nhiên vạn vật, giải thoát không còn mảy may vướng bận dính mắc, nội tâm ngoại cảnh rỗng không dung thông, nên lòng của người bao la chan hòa cùng vũ trụ, hài hòa pháp tánh chân như “hiện toàn chơn.”  Trong khi đó tâm của nhà vua thì bị giới hạn với thời gian và cảnh vật.

Không phân biệt thì không chấp trước. Không chấp trước thì không dính mắc.  Không chấp trước không dính mắc thì không bị lợi danh ân tình sai khiến.  Không dính mắc, không bị thế sự cuốn lôi sai khiến thì tự tại vô ngại thản nhiên trước quyền uy danh vọng tình đời.

Một hôm vua nhà Tống trịệu Hòa Thượng Phất Ấn vào triều và ban chiếu chỉ bắt các sư tăng mỗi lần triều kiến nhà vua phải lễ lạy.  Hòa thượng Phật Ấn đối trước vua, nghiêm chỉnh đứng thẳng người đáp: “Người đời quý trọng danh lợi quyền uy, vua thể hiện điều đó hơn hết trên đỉnh cao thiên hạ, nên mọi người phục lạy.  Còn người xuất gia đầu Phật xem địa vị danh lợi quyền uy như gai trước mặt, như rác trong mắt, phải mau xa lánh ném bỏ.  Hoàng thượng cần triệu bần tăng vào triều, chứ bần tăng nào có muốn cân đai võng lọng, danh vọng quyền uy?”  Vua Tống nghe, lòng thầm khâm phục gật đầu khen: “chí lý, chí lý!  Thật là tâm địa hỷ xả!”

Người chánh tâm cầu đạo giác ngộ là người biết hy sinh tham vọng tự kỷ, tự thân đã buông thả hy sinh tất cả, để kiến tạo đạo tràng xứ xứ, phá lưới nghi tham vọng trùng trùng, để hàng phục ma quân, làm rạng ngời chánh pháp, thức tỉnh quần sanh chứ không phải len lỏi tìm cách quen thân với kẻ quyền thế để phô trương danh vọng của mình.  Kẻ thích dựa quyền thế để cầu danh lợi dưỡng là kẻ tục hóa đạo,lấy đạo tạo đời.  Chư Phật các tổ nói những kẻ đó “thân tuy xuất gia mà tâm chưa vào đạo,” “lấy đạo tạo đời mong cầu lợi dưỡng.”

Thật là tự tại giải thoát làm sao, khi người càng biết xa lánh danh vọng quyền uy dục lạc trần gian, an bần lạc đạo, thì càng gần ánh sáng giác ngộ của Phật, càng được tự tại giải thoát, như Lục Tổ Huệ Năng đã bốn lần từ chối hoàng đế Võ Tắc Thiên triệu thỉnh về triều để nhà vua sắc phong, cung phụng cúng dường như bậc sư phụ, dù là quyền uy danh vọng của nhà vua trùm khắp thiên hạ, mà Lục Tổ vẫn chẳng vướng bận lòng.  Vật chất tham vọng càng cao thì đạo hạnh tâm lành càng thấp.  Tổ Liễu Quán vui sống thanh bần hái củi đốt than để hoàn thành đạo hiếu đạo tâm và liễu nghĩa Phật pháp, đã thể hiện trọn vẹn tinh thần tự tại giải thoát đó, khi người bày tỏ với môn đồ trước giờ viên tịch:

Ngoài bảy mươi năm trong thế giới

Không không sắc sắc thảy dung thông

Ngày nay nguyện mãn về quê cũ

Nào phải bận lòng hỏi tổ tông?

Hôm nay ta đang hưởng xuân tết trần gian.  Xuân tết trần gian là xuân tết hữu hạn theo tháng theo mùa có đến có đi.  Ta nên chuyển xuân tết trần gian thành xuân tết hoan hỷ Di Lặc.  Xuân tết Di Lặc là xuân tết chân thật trường cửu siêu việt thời tiết tháng năm.  Phật dạy: Tất cả khổ vui thăng trầm vinh nhục mất còn chơn giả đều do tâm người tạo ra.  “Tâm xuân vũ trụ đều xuân.”  Vậy ta nên thật lòng quán xét lại tự tâm, xem thử hành vi tâm niệm của ta trong năm rồi động tĩnh như thế nào, điều gì sai quấy gây phiền khổ cho mình cho người?  Nếu còn ray rứt buồn khổ nơi lòng, thì chính tâm ta quá nhiều vọng động theo cảnh trần, nên chưa giảm thiểu phiền lụy, chưa nhổ sạch gốc rễ ích kỷ tam độc tham sân si.  Gốc ích kỷ tam độc còn trong lòng thì đừng mong trọn hưởng mùa xuân Di Lặc.

Đức Phật dạy các Tỳ kheo rằng: “Chừng nào ba con rắn độc tham sân si ra khỏi tâm các ông,lúc đó các ông mới an tâm ngủ.”  Lời dạy đó hàm chứa ý nghĩa nhắn nhủ hành giả ngày đêm phải chuyên tâm niệm Phật tham thiền, chuyên cần tu sửa, gột rửa tâm hồn, cho đến khi nào ba con rắn độc tham sân si không còn ẩn núp trong tâm ta nữa, khi đó ta mới thật sự an lành, mới thật sự tắm mát trong ánh sáng mùa xuân Di Lặc.  Nếu tâm còn phân biệt hơn thua, quên hồi quang phản chiếu tự tâm để sửa sai lầm vọng niệm, cứ tiếp tục đắm chìm trong vọng thức mê tình thị phi, thì khó có mùa xuân Di Lặc nơi lòng.

Trong giờ phút thiêng liêng của đêm giao-thừa, tống cựu nghinh tân, tiễn biệt cũ, nghinh tiếp mới, chúng ta hân hoan đón mừng xuân Di-Lặc.  Xin quý vị cùng tôi, thành kính trang nghiêm trước Phật đài, nhìn thẳng tượng Ngài dâng trọn lòng thành phát nguyện: “Chúng con một dạ chí thành phát nguyện, năm mới tinh tấn sống đời vị tha, quyết xả bỏ dục tình tham chấp gút mắc nơi lòng, quyết trục xuất ba rắn độc tham sân si ra khỏi nội tâm, nguyền theo gót chân Phật, sống đời từ bi hỷ xả, xa lìa ngũ dục.”

Từ năm mới trở đi, ta quyết tâm sống trọn với lời phát nguyện.  Một khi đã sống với lời phát nguyện, thì kìa, trời xuân Di-Lặc hân hoan đã hiện về tràn ngập lòng ta và chan hòa nguồn sống an lạc khắp trần gian, bình minh của nguồn sống tràn khắp vạn vật.

Nên nở nụ cười bao dung với người và vật thì đó là đích thực xây dựng mùa xuân Di-Lặc.

 

 

Mùa xuân muôn thuở

Đã bao lần xuân đến rồi xuân đi.  Xuân đến tiếp theo sau những ngày đông tàn lạnh buốt.  Xuân đi để lại nắng hạ chói chang.  Nhưng dù cho đông qua, xuân lại, hạ đến, thu chờ thời tiết chuyển đổi có như thế nào đi nữa thì thời gian vẫn lặng lẽ trôi đi không ngừng nghỉ, vũ trụ vạn vật theo đó biến đổi sắc thái khiến cho lòng người xúc cảm hững hờ, vui nhộn hay lưu luyến sầu não ưu tư.  Ấy bởi tại lòng người hệ lụy với thời gian năm tháng, đắm trước với cảnh trần đổi thay mà không tìm thấy chính tự xuân lòng, nên không thưởng thức được mùa xuân thường tại.

Vui buồn theo mùa tiết, hạnh phúc theo hoàn cảnh thời gian, thì đó chỉ là trạng thái tâm lý bất an, rõ ràng nói lên sự mong manh của kiếp người sống theo bèo mây ngoại cảnh.  Cảnh vui thì vui theo cảnh.  Cảnh buồn thì buồn não lòng.  Nhưng thực tế thì cảnh vật nào có vui buồn gì đâu?  Mà buồn vui do lòng người chuyển biến bất an, không sáng tỏ chân tướng của vạn vật đó thôi.  Lòng người chỉ biết hệ lụy đem đời mình chôn vào thú vui của cảnh vật trần thế.  Nhưng cảnh vui dục lạc của trần thế nào có chân thật bền lâu bao giờ?  Mà đó chẳng qua chỉ là những hiện tượng hợp tan tùy duyên tan hợp như những màn kịch biểu diễn trên sân khấu trần gian.  Thế nên, những ai đắm đuối với thú vui ngoại cảnh, thì chỉ nhận được cái vui giả tạm khoảnh khắc, để rồi sau đó chuốc lấy thất vọng mệt mỏi chán chường.  Phim trường, tình ái, sòng bạc đỏ đen chỉ khoái lạc nhất thời có khác nào tuồng cải lương trên sân khấu?  Như thế, cho dù mười, hai mươi, năm mươi, một trăm mùa xuân có đến đi chăng nữa, thì người đời cũng vẫn cảm thấy nỗi lòng thầm kín tiếc nuối buồn phiền, chán chường thất vọng mỗi lần xuân đến xuân đi và không có sự tiến bộ nào cho cuộc sống, mà chỉ thấy còn lại sau mỗi mùa xuân là chất chồng thêm nhiều tuổi đời và thầm lặng đẩy họ xa rời cái thời son trẻ hồn nhiên mạnh khỏe.  Càng nhiều mùa xuân trần thế đến đi thì thật tế còn lại thân tâm hiển lộ sự già suy bẽ bàng tàn tạ, như người mặc áo gấm đi trong đêm sương lâu ngày sờn vai thấm lạnh.

Để tạo cho mình mùa xuân chân thật, mùa xuân hạnh phúc miên trường, thì mỗi lần xuân đến, chúng ta tự kiểm điểm lại một năm qua ta đã làm gì lợi ích cho ta, lợi ích cho người, lợi ích cho đời.  Ta đã có tiến bộ phần nào trong phong độ nhân cách làm người xử thế không?  Ta có chút nào thanh tịnh hóa tâm hồn không?  Ta có mở rộng cõi lòng trong tinh thần hỷ xả vị tha không?  Những câu hỏi đó rất cần thiết cho đời sống xây dựng hạnh phúc và tiến bộ trên đường giác ngộ giải thoát.  Nếu không có được một sự lợi ích tiến bộ nào, tức là ta đã để đời ta vô vị luống qua già suy theo năm tháng với xuân đến đi, khó mà tránh khỏi sa vào hầm hố dục lạc, tinh thần thối hóa trôi theo vô tưởng.

Kẻ đắm mê dục lạc sống đời vô nghĩa đã đành, nhưng bên cạnh lại cũng có lắm người ngày ngày tầm chương trích cú, nghiên cứu nằm lòng những tư tưởng cao siêu, óc chứa đầy văn tự kinh nghĩa, nhưng mỉa mai thay, tâm địa họ bất tịnh nên sanh lòng bất an thường tạo ra những điều đáng phàn nàn gây nên lắm chuyện phiền phức cho người khác!  Cứ như thế, thời gian chất chồng thêm tuổi tác, lặng lẽ trôi dần đến những ngày đầu bạc răng rụng, má cóp da nhăn mà không biết phản tỉnh tu tâm, sửa tánh, thanh tịnh hóa ba nghiệp thân miệng ý, không biết làm phước bồi đức, không biết chừa bỏ thói đời dục vọng ích kỷ đố kỵ hơn thua, thì dù tuổi cao tác lớn, đầu bạc, da nhăn cũng chẳng ích lợi gì cho chính bản thân họ cũng như cho đời!  Cổ đức nói: “Sáng nghe hiểu đạo, chiều chết cũng an vui.”  Đức Phật dạy: “Sống một ngày biết học đạo tu hành còn hơn sống cả trăm năm mà vô đạo.”  Sống mà không biết tu dưỡng đạo đức thì chẳng khác nào loài thú vật cỏ cây.  Kinh Hoa-Nghiêm, đức Phật nói: “Con người là hơn cả.  Bởi con người có khả năng làm tất cả những điều lành thiện ích lợi cho mình và người.”  Sống một ngày biết tu tỉnh thì được hưởng mùa xuân hạnh phúc, hơn là sống trăm năm mà không biết tu thì sẽ chịu giá lạnh của đồng hàn băng tuyết dày vò.

Hơn lúc nào hết, đêm giao thừa, ngày mùng một Tết, trang nghiêm đứng trước hình ảnh đức Di-Lặc Bồ-Tát, trước bàn thờ gia tiên, nghiêng mình thành tâm dâng nén hương khấn nguyện, chúng ta thử lắng đọng tâm tư quán chiếu tận đáy lòng để kiểm điểm trong suốt năm qua ta đã làm gì. Nếu điều lợi ích tích thiện chưa làm là ta vô tình luống để trôi qua thời gian một năm dài trống rỗng, thì trong giờ phút thiêng liêng dâng hương trước bàn thờ nầy, nên khởi tâm thành thiết ân hận tự nguyện với lòng rằng, bắt đầu từ ngày Tết đầu năm nay gắng làm điều lành thiện, tu tâm sửa tánh mãi đến về sau.  Nếu điều lợi ích đã làm thì ngày đầu xuân năm nay phát nguyện cố gắng tinh tấn phát triển hơn nữa.  Nếu như bao năm tháng qua đã lầm lẫn đắm say trong danh lợi tình trường, chạy theo dục vọng tạo nhiều điều bất thiện phiền muộn, thì đêm giao thừa, ngày mùng một Tết đầu năm mới, trong giờ phút linh thiêng của ngày xuân tết, nên thành tâm khẩn thiết phát nguyện dứt bỏ lỗi lầm, cải tạo cho mình một đời sống hiền lương hướng thượng trên đường xây dựng nhân cánh để thăng hoa đời sống.

Đón mừng xuân tết với hết tâm dạ chí thành trong trạng thái tâm hồn thanh thản, phản tỉnh quán chiếu lại tận đáy lòng mình và hồi quán lại hành nghi trong suốt năm qua, trước bàn thờ gia tiên phát nguyện: Từ đêm giao thừa này trở đi, nguyện sống theo gương hiền lương của tổ tiên, sống cho đại nghĩa truyền thống dân tộc và niềm tin đạo pháp.  Như thế tức là ta đã khai mở cho đời ta một tương lai sáng lạn, một kỷ nguyên phát triển thánh thiện hóa đời mình và sống trong tinh thần vị tha hỷ xả làm lợi ích cho người.

Đón mùng xuân trong ý nghĩa trên đây, tức là ta trang bị cho ta một mùa xuân hạnh phúc chân thật miên viễn, một cuộc sống tương lai huy hoàng và cất bước trên đường thánh thiện hạnh phúc.  Thế thì, cho dù mùa xuân đến hay đi, lòng ta mãi mãi nở hoa xuân với mùa xuân chơn thường bất tận, vượt ngoài xuân đến đi theo thời gian năm tháng.  Một khi tâm buông xả là lòng thanh tịnh, tức là thể hiện tâm xuân hòa điệu cùng nguồn xuân vũ trụ.  Tâm ta thanh thản rộng mở là hài hòa với hoa xuân vạn vật tươi nở.  Ý ta hoan hỉ hồn nhiên với nụ cười đức Di-Lặc thì tự nhiên lòng ta có mùa xuân bất tận.  Như thế là ta thật sự sống trong thanh khí của ánh xuân dương, hòa điệu cùng mùa xuân từ bi hỷ xả, vị tha, mùa xuân Di-Lặc, xuân hạnh phúc muôn thuở.

 

Xuân Ly Hương

Xuân lại về.  Xuân về khắp vạn vật.  Xuân đến trong lòng người.  Ngày xưa mỗi lần nghe nói đến xuân tết, nhìn cây cảnh đâm chồi nẩy lộc xanh tươi thì biết đó là hiện tượng của xuân đến.  Ngày xưa, mỗi lần xuân đến, tôi cảm nghe nơi lòng tôi, lòng mọi người rộn ràng rạo rực, như hòa điệu với sức sống của vạn vật, đang vương mình nhảy múa tươi cười trong ánh nắng xuân mai.  Nhưng thật lạ thay, nay xuân đã về trên quả đất mà lòng tôi vẫn thản nhiên,  nhìn xung quanh tôi, cỏ cây hoa lá vàng úa trơ cành, để lộ trạng thái khô khan không mang tính chất nào của xuân tết như những ngày còn sống trên quê hương!

Quê tôi, đêm giao thừa tiếng pháo nổ vang, trước sân mỗi nhà có dựng nêu cao treo đèn lồng tỏa ánh sáng mông lung, thật là linh thiêng huyền ảo vào đêm trừ tịch.  Trẻ già trai gái hân hoan trong bộ áo quần mới, miệng nở nụ cười hồn nhiên chúc mừng cho nhau may mắn đầu năm.  Đó đây mọi ngả đường, từng đoàn người đi chùa lễ Phật, hái lộc đầu xuân.  Lớp lớp người thành kính quì trước Phật đài, dưới làn hương quyện tỏa, hòa với tiếng chuông ngân nga mang lòng thành kính nguyện cầu lan rộng xa khắp mười phương.  Bà con ai nấy đều thấy ấm lòng trong niềm hy vọng năm mới may mắn sáng sủa hơn.

Nhưng ở nơi đây, nơi đất khách quê người này, mọi người cũng nói đến ngày xuân, cũng sắm vội sơ sài vài món quà lễ tết.  Nhưng khí đất, tiếng người khô khan trong dáng điệu hấp tấp vội vàng, làm cho tôi cảm thấy bàng hoàng nín thở, khiến cho lòng tôi lại càng thiết tha tưởng nhớ đến quê hương lạ lùng!  Nỗi lòng thiết tha này tôi chưa từng cảm thấy khi tôi còn sống trên quê hương trong những lần xuân tết đến.  Mà giờ đây, nơi quê người đất khách xứ Cali này, tôi ngồi nhìn sông, sông cạn; nhìn núi, núi khô cằn!  Tôi nhìn người, đâu đâu cũng biểu lộ vẻ vô tình!  Tôi trông ra bốn bề để tìm kỷ niệm hình bóng những mùa xuân năm xưa, tìm mãi khắp khắp xung quanh cảnh vật mà vẫn không thấy một bóng hình kỷ niệm thân thương, vẫn vắng bặt nguồn ấm sưởi lòng của thuở còn ở quê hương đất mẹ!  Phải chăng những hình ảnh khô khan vô tình kia đã ngầm gợi lên cái ý nghĩa thương tình cho kẻ xấu số sống tha hương?  Kẻ tha hương là kẻ sống nương nhờ nơi đất khách, mà trong mỗi người vẫn chan chứa nơi lòng một quá khứ quê hương thân thương!  Ở đó là nơi chôn nhau cắt rún với bao kỷ niệm mà giờ đây thân còn sống gửi quê người, ngày về nơi đất mẹ vẫn còn xa vời vô định.

Tuy đang sống giữa chốn phồn hoa đô hội ở cái xứ văn minh vật chất nhất của nhân loại này, nhưng lúc nào tôi cũng cảm thấy cô lạnh lẻ loi như đàn chim bắc cực lạc loài đang bay tìm tổ ấm mùa đông.

Xuân đã mấy lần về trên đất khách rồi.  Vậy thì người Việt tỵ nạn tha hương bao giờ mới được trở lại đất mẹ để an cư lạc nghiệp?  Ngưỡng mặt nhìn khoảng trời cao lồng lộng, tôi đã xin hỏi những Đấng cao thâm không biết mấy lần rồi mà sao các đấng ấy vẫn âm thầm lặng thinh!  Quỳ gối hỏi Thượng-đế, Thượng-đế vẫn vô tình không một lời giải đáp!  Người ta bảo Thượng-đế là đấng thần linh toàn năng sanh ra vạn loại và an bài trần gian.  Vậy thì dân tộc Việt-Nam có tội tình gì mà suốt đời vẫn phải bị khốn đốn tang thương?  Hết bị Tàu thống trị thì đến bị Tây đô hộ.  Hết bị Nhật đổ bộ áp đảo thì đến Hồ-Chí-Minh gây tang tóc.  Hết độc tài Ngô-Đình-Diệm, lại đến quân phiệt Nguyễn-Văn-Thiệu cứ liên tục múa rối như thế để rồi ngày nay lại bị Hồ-Chí-Minh và đồ đảng sùng bái chủ thuyết phi nhân cam tâm tình nguyện làm vong nô cho chủ nghĩa cộng sản vô thần gian ác tàn hại dân tộc Việt-Nam.  Sao cứ thế dày xéo quê hương dân tộc tôi tan nát, đất nước phải chia đôi, nồi da xáo thịt lẫn nhau hằng chục năm tạo nên cảnh cốt nhục tương tàn, quê hương triền miên bom đạn, dân lành chết chóc đói nghèo.  Và cho mãi đến giờ phút này, dân tộc tôi vẫn còn chìm đắm trong đêm thâu mịt mù của khói lửa chiến chinh, mặc tình cho loài thú dữ vô thần quỷ đỏ tung hoành cấu xé làm tan nát văn hóa đạo đức ngàn xưa.  Thời xưa Việt gian Pháp thuộc thì thờ Tây.  Ngày nay độc lập tự do hạnh phúc bằng chủ nghĩa cộng sản thì thờ Lê-Nin.  Mao-Trạch-Đông tôn sùng cao hơn cả ông cha và đưa dân đi các nước gọi là anh em làm nô lệ để trà nợ!  Điều tủi nhục khổ đau có một không hai trong lịch sử dân tộc Việt-Nam!  Nòi giống rồng tiên sao lại bị oan khiên nghiệp chướng gì lạ lùng như thế?!

Hỡi những đấng thần linh thượng đế, xin cho một lời giải đáp sáng tỏ về dân tộc và quê hương tôi, rằng đã làm nên những tội tình gì mà đến nỗi liên miên từ thế hệ này đến thế hệ khác phải chịu cực hình thống khổ đến giờ nầy vẫn chưa thôi?  Nếu dân tộc tôi thật có tội, thì tội gì, sao không cho biết để được đoái công chuộc tội?  Để cho thế hệ con cháu chúng tôi được yên thân, quốc gia chúng tôi có được những ngày thái bình, không còn cảnh sanh ly tử biệt:  để dân tộc tôi còn thể diện sống dưới ánh sáng mặt trời giữa cộng đồng nhân loại văn minh?  Nếu bảo rằng vì không tu theo Thượng-đế nên bị phạt, thì có các dân tộc đã nghe sùng tín bái phục theo Thượng-đế mà cũng vẫn bị ngặt nghèo chiến tranh thảm khống hằng thế kỷ đó, thì sao?  Thượng đế ở đâu?  Ngài có thật không, hay chỉ do tưởng tượng?  Nếu có thật sao nỡ làm ngơ trước cảnh đau thương của con cháu do chính Ngài tạo ra?  Toàn năng toàn trí toàn đức của Thượng đế để đâu, sao không đem ra an bài cho thế giới nhân loại hòa bình, cho người thương người, để tránh cho con cháu Ngài giết hại nhau, cho dân tộc Việt-Nam được thảnh thơi đôi chút?  Ngài tạo ra nhân loại làm gì để chém giết nhau mà Ngài vẫn làm thinh, hỡi Thượng-đế?

Nhớ thời lập quốc, đất nước tôi còn nhỏ bé, dân tôi còn thưa thớt, thế mà tổ tiên tôi đã giữ được độc lập tự chủ “Nam-Quốc Sơn-Hà Nam Đế-Cư-Nước Việt-Nam do vua Việt-Nam ngự trị.”  Độc lập vững bền đến gần 400 năm, hiên ngang phát triển bên cạnh một đế quốc Trung-Hoa to lớn gấp trăm lần hơn, lúc nào cũng có dã tâm hầm hừ muốn ăn tươi nuốt sống lãnh thổ Việt-Nam chúng tôi.  Nhưng rồi họ đã phải nể vì.  Ông cha chúng tôi dựng nước và giữ nước, chẳng những độc lập về dân tộc chủ quyền, mà cả đến nền văn hóa học thuật tư tưởng ở thời Lê, Lý, Trần có lúc đã sánh bằng với những thời đại văn hóa sáng chói nhất của Trung-Hoa ở vào những thời Đường, Tống.  Việt-Nam ở vào thời đại Lê, Lý, Trần, dân tôi thái bình thịnh vượng, văn hóa, đạo đức, học thuật, tư tưởng, kinh tế, cực thịnh và không ngừng mở mang bờ cõi.  Đó là những thời thoải mái huy hoàng nhất của dân tộc Việt-Nam, cũng là thời đại được ánh sáng Phật giáo soi sáng dẫn đạo quốc gia dân tộc hướng lên độc lập vinh quang.

Nhờ đâu mà thời Lê, Lý, Trần lại được như vậy?  Và nhờ đâu mà thời đại đó lại có nhiều bực anh hùng dũng lược đủ đức Bi, Trí, Dũng siêu quần bạt tụy như Đinh-Bộ-Lĩnh, Lê-Đại-Hành, Lý-Công-Uẩn, Lý-Thường-Kiệt, Trần-Hưng-Đạo, Trần-Quốc-Toản v.v. đã Bắc phạt Tống, Nam bình Chiêm, đua dân tộc và đất nước đến chỗ vinh quang vô tiền khoáng hậu như thế?  Điều này không có gì khó hiểu cả.  Bởi các vua lúc bấy giờ phần nhiều do các bậc thiền đức chốn thiền môn dạy dỗ hướng dẫn bằng giáo lý của đạo Phật là vô ngã vị tha, bình đẳng từ bi hỷ xả.  Tinh thần của đạo Phật là phụng sự chúng sanh tức là cúng dường chư Phật.  Do các vua thấm nhần tư tưởng nhân bản đạo đức, dùng đức trị quốc an dân, nên làm cho đất nước độc lập thạnh trị, dân tộc an cư lạc nghiệp.

Ngoài ra, các vua còn thỉnh mời các thiền đức cao tăng làm cố vấn cho nhà vua trong việc trị nước an dân và giúp đỡ triều đình đảm nhiệm việc giáo dục quốc dân.  Thiền tăng vốn là những người uyên bác Nho học và Phật học với cõi lòng buông xả không dính mắc quyền danh lợi dưỡng tình trường.  Các ngài đem tinh thần từ bi vị tha tế thế thương nước thương dân, phục vụ.  Lấy tư tưởng vị tha, vô ngã, vô úy, hỷ xả, thành tín, ái quốc, yêu dân không danh không lợi làm giáo khoa giảng dạy, gieo sâu tinh thần từ bi vị tha vào tâm trí học trò.  Sách vở và lời dạy của các bậc thầy thời đó mang tính chất tinh thuần nhân bản, hướng con người đến nhân cách quân tử xả kỷ vị tha, tình thương đùm bọc, trong niềm tin từ bi nhân nghĩa và trí huệ vô ngã, để xây dựng cho nhau một cuộc đời an lạc.  Tinh thần đó được thể hiện như sách Đại-Việt Sử-Ký Toàn-Thư có ghi: “Một hôm trời đông giá rét, vua Lý-Thánh-Tông ngự triều.  Động-Thiên công chúa hầu bên cạnh.  Đang giữa bá quan văn võ đại thần, nhà vua xoay lại nói với công-chúa rằng : Ta ở trong cung điện mặc áo lông cừu mà còn lạnh như thế này.  Những tội nhân trong ngục thiếu áo cơm chắc là đói lạnh lắm.  Trẫm nghĩ mà thương cho họ lỡ ngu dại làm điều phạm pháp phải chịu ngục hình.  Vậy con nên đem chăn chiếu và thức ăn cho họ.  Rồi ngài xoay lại  phán với các đại thần rằng: “Trẫm thiết nghĩ các khanh nên xem xét lại những người tội trạng nhẹ thì nên tha để cho họ được về đoàn tụ với gia đình.”  Nhờ có tinh thần đức độ, vị tha của nhà lãnh đạo quốc gia tỏa ra sáng ngời, và nhờ trí tuệ vô vị lợi, nên thế hệ thanh niên thời đó được giáo dục, hướng dẫn và được thấm nhuần trong tinh thần bi, trí, dũng.  Thế hệ trẻ của thời đó được huấn đào nung đúc trong tinh thần hào khí đạo đức, xả kỷ vị tha, nhờ đó mà tạo thành thế hệ có tư tưởng độc lập tự chủ của dân tộc.  Nên tất cả tinh thần năng lực và tư tưởng của người dân Việt thời đó đều hướng về phục vụ cho dân tộc xứ sở chớ không vong bản vọng ngoại.  Nhờ vậy đất nước Việt-Nam có được thời đại anh hùng dân tộc sáng giá, giữ được độc lập tự chủ, hào quang độc lập tự chủ của các thời Lê, Lý, Trần rạng ngời mãi đến nay.

Ông cha chúng ta sanh ra và sống trong hoàn cảnh khó khăn gấp trăm lần chúng ta.  Thế mà các ngài biết dựa vào tiềm năng nhân bản và niềm tin đạo đức truyền thống của dân tộc để phục vụ quê hương xứ sở.  Còn ngày nay bậc đàn anh của chúng ta được ngoại quốc giúp đỡ, được gửi đi học Tây học Mỹ, mà không biết đem khả năng học vấn để khai thác tiềm năng sẵn có của dân tộc để phục vụ đại nghĩa dân tộc quê hương.  Ngược lại đem tư kiến hạn hẹp địa phương kết bè lập đảng nghe lời xúi xử ngoại bang tranh giành quyền lợi tư kỷ, làm tan hoang tinh thần đoàn kết của dân tộc!  Độc hại hơn nữa, cuồng tín theo ngoại giáo, dựa thế lực ngoại bang phục vụ cho văn hóa tư tưởng vong nô gây nên tang thương chia rẽ dân tộc.  Thậm chí còn làm bồi bút vu khống mạ lỵ những người có tâm huyết nhiệt tình đem hết mình phụng sự đại nghĩa văn hóa đạo đức truyền thống của dân tộc và quê hương.  Việc làm của họ đều theo ngoại bang xúi xử!  Rõ ràng gần đây nhất như Hồ-Chí-Minh và đổ đảng, Ngô-Đình-Diệm và đám cuồng tín đã gây ung thối cho cả xã hội và tầng lớp tuổi trẻ, đầu độc mầm non của dân tộc.  Hậu quả tai hại không lường, để rồi đưa đất nước và dân tộc đến đường cùng rách nát tang thương nghi kỵ chia rẽ như ngày hôm nay!

Khổ thay cho đến giờ này, bỏ nước ra đi, đem thân sống nhờ đất khách quê người mà vẫn còn chưa kịp thời tỉnh ngộ, để tự xót thương cho thân phận chính mình, và cảm thông dân tộc giống nòi để đùm bọc lấy nhau, để cùng nỗ lực vươn lên trong cộng đồng nhân loại.  Trái lại, vẫn thói nào tật nấy, ngoan cố tự hào ta đây trí thức anh hùng, kết bè lập nhóm dùng nghề bồi bút to mồm để phục vụ tư tưởng vong bản phi nhân, bằng dùng hết tán tận lương tâm đạo đức và tình người, đến độ phun ra những văn từ luận điệu của tâm địa ác thú độc trùng truyền nhiễm, làm cho tuổi trẻ nghi ngờ, quần chúng hoang mang, niềm tin phá sản, chia rẽ ly tán đến cùng cực.  Vì đâu?  Vì vong bản, cuồng tín ngoại lai mà gây nên tai hại cho cả dân tộc.

Chẳng những đã không đoàn kết mà còn phá hoại khiến cho quần chúng hoang mang, tuổi trẻ chẳng màng đến kỷ cương lễ giáo, không biết nên tin vào đâu nữa!  Cộng sản hay tay sai cộng sản phá rối thì đâu chưa thấy hiện nguyên hình, mà đồng cảnh tỵ nạn với nhau cứ đánh phá liên tục!  Quốc nội cộng sản gài người trong khắp các sinh hoạt dân chúng đã đành.  Còn như quốc ngoại đồng cảnh chạy loạn tỵ nạn cộng sản, ấy thế mà có lắm kẻ lợi dụng cây bút, tiền bạc và chút uy tín cặn bã để chụp mũ vu khống lừa gạt người này, hạ nhục kẻ nọ, xuyên tạc đoàn thể kia làm cho thế hệ tuổi trẻ tha hương và cộng đồng người Việt lương thiện đã phải chán nản, giảm sút niềm tin, tăng thêm nghi ngờ, thì chính những kẻ cầm bút bất chánh đó, nếu không là cộng sản thì ít nhất vô tình tiếp tay cho cộng sản.  Họ quả thật đắc tội với dân tộc cũng bằng như cộng sản.  Cho nên lớp trẻ chúng ta phải hết sức cẩn trọng và tránh xa họ, như tránh xa độc trùng ác thú hay những con bịnh trầm kha truyền nhiễm.  Dù là hạng nào, ở lãnh vực nào, hễ ác ý tạo mâu thuẫn, gây chia rẽ, đặt quyền lợi họ trên quyền lợi chung của đại chúng, thì chính đó là độc trùng ác thú, ta nên tránh xa.  Như thế chúng ta mới mong xây dựng thế hệ thanh niên vững niềm tin, yêu đạo, yêu đời, yêu quê hương dân tộc trong truyền thống đạo đức ngàn đời của tổ tiên.  Chúng ta phải sáng suốt nhận định và mạnh dạn có thái độ dứt khoát như thế, thì mới thật sự hy vọng ngày quang phục quê hương xứ sở, và cứu vãn dân tộc thoát khỏi cảnh lầm than.

Xuân về với đất trời.  Khí xuân rạt rào khắp nơi nơi hòa cùng vũ trụ.  Hồn xuân phảng phất với vạn vật và lòng người.  Hy vọng còn được chút hồn xuân thuần túy quê hương, tinh thần xuân yêu thương dân tộc còn vương vấn đâu đâu thấm vào lòng người con Việt tha hương.  Chúng ta lớp người trẻ và lớp người đứng tuổi, đặc biệt tuổi thanh xuân đầy nhiệt tình và hy vọng, phải kịp thời thức tỉnh, phải mau trở về nguồn đạo và văn hóa truyền thống của ông cha, để khỏi lạc lõng giữa dòng đời vật chất khô cạn tình thương, thiếu vắng hương vị quê hương dân tộc.  Những ai còn thương yêu đất nước giống nòi, còn muốn ngước mặt hướng về những bậc tiền nhân anh hùng dân tộc, còn muốn sống với truyền thống đạo đức tư tưởng văn hóa của ông cha, thì nên trở về với ánh đạo thiêng liêng:

Ánh đạo thiêng liêng quá nhiệm màu

Người dân nước Việt đã ghi sâu

Nếu ai quên hết đường quê cũ

Lúc muốn quay về biết hướng đâu

Về đây với đoàn tăng ni sinh của Phật-Học-Viện Quốc-Tế, với người Phật-tử trong tình tự dân tộc, chúng ta sẽ tìm thấy nguồn mát an lành từ âm hưởng đạo đức truyền thống của ông cha chúng ta để lại.  Có họp đoàn trong niềm tin truyền thống dân tộc, trong lòng đạo từ bi hỷ xả, trong tiếng đồng ca mẹ Việt-Nam yêu dấu ngàn đời, chúng ta mới thấy được hào quang tự chủ độc lập thái bình rạng chiếu của thời Lê, Lý, Trần, mới hòa điệu cùng nhịp sống tâm thức của dân tộc, với hồn thiêng đất nước, với những bậc anh hùng Thường-Kiệt, Công-Uẩn, Hưng-Đạo, Quốc-Toản, Nguyễn-Trãi, Lê-Lợi, Quang-Trung tiếp nối nguồn tâm thức sống động rạt rào tình yêu tổ quốc, một cách hòa điệu chân thành.

Có cảm thông trong tình người, có sống trong tình tự dân tộc, có cảm nhận tư tưỏng truyền thống văn hóa dân tộc bị phá sản thì mới nhận ra tình quê hương tổ quốc bị bóp nghẹt chết dần trong cảnh huống sanh ly tử biệt dưới chế độ cộng sản khắc nghiệt vô thần và bị hư hại bởi kẻ vọng ngoại cuồng thần và bị hư hại bởi kẻ vọng ngoại cuồng tín gây nên.  Lúc đó, chúng ta mới thật sự thao thức cho tiền đồ quê hương dân tộc.  Nếu ai nấy cũng đều trở về với niềm tin từ truyền thống dân tộc, tức là cùng nhau trở về nguồn, thì chúng ta sẽ tránh được lỗi lầm gây tang tóc cho thế hệ tương lai, không đi sai con đường của tiền nhân đã khai sáng và như thế mới tiếp nối chí nguyện rạng ngời của các bậc tiền bối hữu công với dân tộc xứ sở.  Cũng từ nhận thức đó, bằng niềm tin truyền thống, chúng ta sẽ không bao giờ sống với ý thức vong bản đem thân làm kiếp vong nô cho bất cứ chủ thuyết phi nhân vô đạo nào hay thứ cuồng tín nào để phải bị chìm trong hận thù chia rẽ như hiện nay.  Chúng ta phải ý thức như vậy và nên tự hiến mình làm nhịp cầu thông cảm, là nơi tri ngộ tâm thức Việt, là nơi làm sống lại tư tưởng truyền thống Việt-Nam trên bước đường ly hương viễn xứ. Chúng ta nên chọn lối sống không dính mắc ân tình thân sơ, không biên bờ phe phái, mà sự hiện hữu của ta là vì và cho tất cả đại nghĩa đạo pháp và dân tộc.

Hỡi anh em ở cái tuổi măng tơ!  Hỡi những người còn mang dòng máu Ngô-Quyền, Thường-Kiệt, Hưng-Đạo, Quốc-Toản, Lê-Lợi, Quang-Trung, hãy trở về nguồn đạo từ bi giác ngộ, sống trong tinh thần vị tha giúp đời để chung nhau bồi đắp niềm tin dân tộc, để xây dựng lại quê hương xứ sở trong chiều hướng nhân bản an lạc, nước mạnh dân hùng, giữ gìn đạo truyền thống của con rồng cháu tiên.  Về đây, chúng ta hợp đoàn sống trong ánh đạo vàng thiêng liêng.  Ánh đạo vàng đã từ hai ngàn năm trước cùng với tổ tiên dựng nước, giữ nước và mở mang bờ cõi hướng đạo quê hương giống nòi đến ngày nay.  Chúng ta phải tự hào vui trong nguồn văn hóa tư tưởng truyền thống đó.  Nguồn văn hóa chan hòa cùng nguồn đạo từ bi đã tạo thành truyền thống cho lẽ sống đã thấm sâu vào xương tủy máu tim thịt da hơi thở của dân tộc Việt.  Đạo thiền đã từng hướng đạo và nuôi dưỡng sinh khí hùng tráng dân tộc trong khí thế dựng nước và giữ nước, nhào nặn thành nền văn hóa Việt huy hoàng ngàn đời.

Xuân hy vọng, xuân họp đoàn, xuân quê hương truyền thống, xuân chiến thắng sẽ sống mãi trong lòng mọi người Việt chúng ta.  Xuân đến mở rộng chân trời hy vọng.  Ấy là xuân hy vọng trở về quê hương trong ánh sáng huy hoàng.  Ngày về nguồn, về đất mẹ vẫn còn nhiều đường sáng mát bình minh.  Quê hương dân tộc đang chờ đón ta trong ánh xuân dương thanh bình với niềm tin truyền thống bất khuất.

Mùa xuân ngoại cảnh, ta tràn đầy hy vọng trở lại quê hương trong ánh xuân dương mát lành, trong tiếng chim ca hót trên cành ngày xuân, thì lúc đó chủ nghĩa phi nhân ngoại lai tan biến như mây khói.  Mùa xuân nội tâm, ta hồi quang quán chiếu nội tại để đánh bại phiền não vô minh, để cho Phật tánh hiển lộ, để cho tình người dạt dào mà mấy độ xuân rồi ta vẫn chưa thành công chiến thắng.  “Chiến thắng vạn quân không bằng tự chiến thắng mình.”  Chiến thắng mình khi ánh quang minh tâm thức hiển lộ, vô minh dục vọng tan tành, ấy là hoàn thành xây dựng mùa xuân bản thể rạng ngời, không còn sống đời xuân ly hương, đồng thời tuyệt dứt xuân ly hương tâm thức, chấm dứt xuân ly hương tự thân.

Sự đời nào có rắc rối, tại lòng ta nhiều mối đa đoan mà phải than thở phiền lụy đó thôi.

 

 

Mùa Xuân Viễn Xứ

Xuân đã về rồi ư?  Xuân đã về sao không thấy hoa cười, lá tươi, khí trời mát dịu trong ánh xuân dương nắng ấm?  Xuân đã về rồi ư?  Xuân đã về sao không thấy người người thảnh thơi trong bộ áo mới, vẫn không thấy nụ cười hiển lộ trên đôi môi để đón mừng xuân?  Xuân tết ở đây, trên đất khách quê người, không còn là xuân tết của những năm trước khi còn ở quê hương!

Xuân tết ở đây không mang màu sắc đặc tính nào giống với xuân tết quê hương khi tôi còn trên đất mẹ thương yêu!  Người ta bảo nhau xuân tết đã đến rồi.  Nhưng tôi lục lạo tìm mãi nơi lòng tôi và hướng mắt khắp nhìn ra khoảng không gian bốn bề cảnh vật, vẫn không tìm thấy nét xuân tết đâu cả!  Nhìn ra cảnh vật bốn bề, thấy đâu đâu cũng cây cối trơ cành, cỏ hoa khô héo, khí trời buốt lạnh căm căm, nhà nhà vẫn giữ chặt cái vẻ âm thầm biệt lập như những hòn đảo lạnh trơ trên mặt đại dương!  Ngoài đường, người người vẫn như thường ngày hấp tấp vội vã để đến sở làm cho kịp gi