Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh

qd.jpg (8936 bytes)

Tập san Vạn Hạnh


......... .

 

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP. HCM

TĂNG NI SINH KHÓA V

Số 2

--- o0o ---

VAI TRÒ NỮ GIỚI TRONG PHẬT GIÁO

Nguyên Vũ  dịch 

Phật giáo là tôn giáo đầu tiên trên thế gian này thiết lập Giáo hội Tỳ-kheo-ni trên tiền đề cho rằng nữ giới có thể đạt được (chứng ngộ) sự giải thoát tâm linh ngang với nam giới. Ngày nay, chúng ta có khuynh hướng đánh giá thấp tầm quan trọng của thành quả này, nhưng tại Ấn Ðộ, thuở Phật còn sanh tiền, xã hội bị trói buộc vào luật Manu. Nữ giới luôn đặt dưới sự bảo vệ bởi người cha lúc còn trẻ, người chồng khi họ đã lập gia đình, người con trai khi họ đã ở tuổi xế chiều. Nữ giới được xem như vật sở hữu, đặt dưới quyền thống lãnh của nam giới. Sanh con trai trở thành bổn phận bắt buộc trong xã hội và tôn giáo, nếu bổn phận này không được chu tất, người chồng của họ được quyền lấy vợ lẽ. Nữ giới không được cử hành các lễ nghi tôn giáo của chính họ, ngược lại, nam giới thì toàn quyền thực hiện các nghi lễ này trong mọi trường hợp.

Trong bối cảnh lịch sử như thế, Phật giáo đã mở ra một chân trời mới. Nữ giới trong Phật giáo có thể thoát khỏi sự nô dịch lâu nay và bắt đầu thực hiện vai trò lý tưởng của mình, không những trong vai trò người mẹ mà còn trong vai trò nhà truyền giaùo của tôn giáo mới này (Phật giáo), với một vị trí tương xứng so với nam giới trong xã hội này và sự tiến bộ về mặt tâm linh. Việc làm này của nữ giới là sự đột phá trong thời kỳ này và cũng chính vấn đề này dẫn đến nhiều sự phản đối từ phía nam giới, trong đó có cả Tăng giới. Ðức Phật đã nhận biết rõ sự chống đối này như một hệ quả trong thái độ giải phóng nữ giới.

Trong thời đại của đức Phật, nhiều phụ nữ thuộc mọi giai tầng xã hội đã gia nhập Ni đoàn, nhiều người trong số đó đã thành tựu trong việc học pháp (Kinh và Luật) và đã trở thành những vị thầy biện tài, trong số thính chúng của họ có cả quần thần vương tôn. Sự hỗ trợ của hoàng gia là yếu tố then chốt cho việc phát triển của tôn giáo và chúng ta cũng nhận thấy rằng Tỳ-kheo-ni đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đức tin của các gia đình hoàng tộc cũng như giới thường dân. Một số Tỳ-kheo-ni đã thân chứng trong việc nhớ lại tiền kiếp, thân chứng Thiền pháp, xuất sắc trong việc lãnh hội Giới luật, trong việc giảng dạy giáo pháp. Ðức Phật đã từng giành những lời tán dương đặc biệt đến họ.

Vai trò của Ni giới đã được định hình tương xứng với vai trò của Tăng giới. Việc chấp nhận những quy tắc xã hội phổ biến hiện thời, đức Phật đặt Ni giới dưới sự bảo vệ của Tăng giới như người em gái được anh trai bảo vệ. Thật không may, cội rễ xã hội Bà-la-môn giáo đã ăn sâu vào một số chư Tăng, lịch sử đã ghi nhận vài sự kiện xảy ra nơi Ni giới buộc làm những việc giặt ủi, lau chùi quét dọn quá nhiều tới độ họ không còn đủ thời giờ cho việc tu tập tâm linh. Khi đức Phật biết được chuyện này, Ngài đã chế định cấm giới như Tỳ-kheo không được lạm dụng lòng tốt của Tỳ-kheo-ni. Một lần, có thầy Tăng trẻ tuổi quá ư giải đãi trong pháp khất thực đã thọ nhaän phẩm vật khất thực của trưởng lão Ni 120 tuổi. Sau ba ngày thọ nhận thức ăn như thế vị trưởng lão Ni này đã ngã quỵ vì đói. Khi Thế Tôn đến và biết được điều này, Ngài đã chế giới cấm Tỳ-kheo nhận phẩm vật khất thực từ Tỳ-kheo-ni. Thuở Phật còn tại thế, Ngài đã dành mọi điều kiện tốt nhất để có thể hỗ trợ Ni giới, Ngài cũng quan tâm tới việc Ni giới nhận quá ít sự bảo trợ cúng dường từ giới cư sĩ. Mối quan tâm này nhận thấy roõ trong giới cấp phát y cho Tỳ-kheo-ni ngang bằng với Tỳ-kheo. Tuy nhiên, sau khi Phật nhập Niết-bàn điều luật này được Giáo hội Tỳ-kheo hướng dẫn.

Những vấn đề phân biệt đối xử chống lại Ni giới có thể nhận thấy trong một chừng mực nào đó trong cuộc kiết tập lần đầu tiên, ba tháng sau khi đức Phật nhập Niết-bàn. Trong cuộc kiết tập này gồm năm trăm vị A-la-hán nhưng không một ai trong số Tỳ-kheo-ni A-la-hán được tham dự. Trong những lời khiển trách khác, thầy Ananda vị thị giả tận tâm và cũng là người anh em của đức Phật đã bị Hội chúng khiển trách về tội cho phép Tỳ-kheo-ni đảnh lễ Kim thân của Phật. Một khiển trách khác nữa là thầy Ananda đã nhiều laàn khẩn khoản xin đức Phật thành lập Giáo hội Ni. Mặc dù, thầy Ananda không phản bác lời khiển trách này , thầy đã trình bày sự việc trên một cách rõ ràng đến Hội chúng, thầy đã không thừa nhận những việc mà Hội chuùng đưa ra là việc làm sai trái. Tuy thế, sự việc này rõ ràng đã không làm hài lòng một số Tỳ-kheo khi để Ni giới hiện diện bên cạnh họ. Lối suy nghĩ như thế vẫn còn tồn tại cho đến nay ở một vài nơi, bất chấp những lơøi dạy bình đẳng của đức Phật.

“Theo The Role of Women in Buddhism”

 

--- o0o ---

 Mục Lục Vạn Hạnh số 2 | 01 | 02 | 03 | 04 | 05

06 | 07 | 08 | 09 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 |  17

 18 | 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28

--- o0o ---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật ngày: 01-05-2004

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Thư Mục Mừng Xuân

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com