Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh

qd.jpg (8936 bytes)

Tập san Vạn Hạnh


......... .

 

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP. HCM

TĂNG NI SINH KHÓA V

Số 2

--- o0o ---

TỪ KHÁI NIỆM HÀNH VI CỦA ÐẠO ÐỨC HỌC MÁC-LÊNIN ÐẾN KHÁI NIỆM NGHIỆP CỦA ÐẠO ÐỨC HỌC PHẬT GIÁO

Trần Tuấn Lộ

 

Vấn đề tôi đặt ra cho mình để thử tìm hiểu và giải đáp là giữa khái niệm hành vi của đạo đức học Mác-Lênin, một đạo đức học thế tục, phi tôn giáo, và khái niệm nghiệp của đạo đức học Phật giáo, một đạo đức học toân giáo, có những gì giống nhau và khác nhau. Tại sao?

1. Ðạo đức học Mác-Lênin quan niệm hành vi là một hành động (lời nói, cử chỉ thay lời nói việc làm) hoặc một sự không hành động có hội đủ 2 yếu tố sau đây:

Một là, động cơ (muốn được cái gì mà hành động), ý định nẩy sinh từ động cơ đó (định làm gì hoặc cố ý không làm gì để được cái đang muốn), mục đích cần phải đạt được sau khi đã thực hiện ý định và ý chí đã được vận dụng để thực hiện đúng ý chí. Ðây là yếu tố thuộc về ý thức của chủ thể hành vi, một yếu tố chủ quan, bên trong đảm bảo cho hành vi là một hành vi có ý thức, cố yù.

Hai là, kết quả mà hành vi đó gây ra, một kết quả có ảnh hưởng xấu hay tốt cho lợi ích người khác, của tập thể, của xã hội. Ðây là yếu tố thuộc về đối tượng của hành vi, thuộc về khách thể, một yếu tố khách quan, bên ngoài.

Ðạo đức học Phật giáo, với khái niệm nghiệp, có một quan niệm rộng hơn về hành vi so với quan niệm của đạo đức học Mác-Lênin.

Nếu đạo đức học Mác-Lênin quan niệm hành động chỉ được biểu hiện bằng lời nói (hoặc cử chỉ thay lời nói) và bằng việc làm thì đạo đức học Phật giáo quan niệm nghiệp không chỉ là lời nói (khẩu) và việc làm (thân) mà còn ý nữa. Như vậy, nếu ta hiểu ý là ý định  hành động (định nói gì và nói như thế nào, định làm gì và làm như thế nào) thì ý trong đạo đức học Phật giáo là động cơ, là ý muốn mà từ đó nảy sinh ra hành động (ý, khẩu, thân) được gọi là nghiệp. Trong ba nghiệp (ý nghiệp, khẩu nghiệp và thân nghiệp) thì ý nghiệp là quan trọng nhất.

Ðạo đức học Mác-Lênin hiểu hành động chỉ là lời nói và việc làm, những biểu hiện bên ngoài của cái tâm lý, cái ý thức bên trong của con người hành động. Trong cái tâm lý đó, xét trên bình diện đạo đức học, yếu tố đầu tiên, quan trọng nhất vaø quyết định nhất là  cái động cơ (động cơ sống, động cơ hoạt động và động cơ của từng hành động). Nhưng ngoài động cơ ra, còn cần phải có những yếu tố tâm lý khác để một hành động có thể được thực hiện (xin nhắc lại, hành động ở đây, theo đạo đức học Mác-Lênin, chỉ là lời nói và việc làm): đó là ý định, ý chí và năng lực hành động.

Mối quan hệ giữa động cơ, ý định, ý chí và năng lực hành động là như sau: do một động cơ (tức là một ý muốn có được một cái gì đó) mà khi gặp được một đối tượng có thể thoả mãn được ý muốn đó thì con người nảy ra một ý định sẽ làm gì, nói gì với đối tượng đó. Nhưng để một ý định hành động biến được thành một haønh động thực sự, con người phải có năng lực và ý chí hành động. Năng lực hành động là năng lực biết xác định mục đích và có thể đạt được, biết đề ra phương tiện và phương pháp cần và có thể sử dụng được và biết sưû dụng có hiệu quả các phương tiện và phương pháp đó. Chính yếu tố ý chí và nhất là năng lực (tài, trí) sẽ là khâu trung gian chuyển hóa cái động cơ, cái ý định thành kết quả phù hợp với mục đích hay không, tùy theo chỗ ý chí mạnh hay yếu và năng lực giỏi hay kém.

Một sự khác biệt rõ rệt giữa quan niệm về hành vi của đạo đức học Mác-Lênin và quan niệm về nghiệp của đạo đức học Phật giáo là cái gọi là kết quả của hành vi (theo cách nói của đạo đức học Mác-Lênin) hoặc gọi là quả của nghiệp (theo cách nói của đạo đức học Phật giáo).

Như ở trên đã nói, kết quả của hành vi, theo đạo đức học Mác-Lênin, chủ yếu là khách thể, ở đối tượng của hành vi, chứ không phải ở chủ thể. Kết quả đó tốt hay xấu là tốt hay xấu đối với đối tượng chứ không phải là đối với chủ thể. Trái lại, quả của nghiệp, theo đạo đức học Phật giáo, chủ yếu là ở chủ thể, tức là chính ở bản thân người hành động, chứ không phải ở khách thể, đối tượng của hành vi. Quả đó tốt hay xấu là tốt hay xấu đối với chủ thể chứ không phải là đối với đối tượng-khách thể. Hơn nữa, quả của nghiệp, theo đạo đức học Phật giáo, không chỉ trổ ngay lập tức trong hiện tại mà có thể trổ ra trong tương lai của kiếp sống này hoặc trong tương lai thuộc một kiếp sau tiếp theo kiếp này hoặc xa hơn nữa. Như vậy, nghiệp, với tư cách là nhân cuûa quả, không chỉ là nghiệp trong hiện tại mà còn là nghiệp trong quá khứ, thậm chí, trong một tiền kiếp nào đó.

Sự khác nhau đó giữa đạo đức học Phật giáo và đạo đức học Mác-Lênin, theo tôi, là do đạo đức học Phật giáo được xây dựng trên cơ sở của thuyết nghiệp báo-nhân quả và tái sinh-luân hồi và nhằm mục đích tối hậu là sự giải thoát.

2. Ðối với ba đối tượng là ý định, lời nói và việc làm, đạo đức học Mác-Lênin đánh giá tầm quan trọng của chúng theo thứ tự từ thấp đến cao như sau: thứ nhất là ý định, thứ hai là lời nói và thứ ba là việc làm

Theo thứ tự đó thì: ý định xấu hay tốt (thầm kín trong đầu) chưa quan trọng bằng lời nói xấu hay tốt và lời nói xấu hay tốt lại chưa quan trọng bằng việc làm xấu hay tốt. Hay nói cách khác: việc làm tốt có giá trị hơn lời nói tốt; và lời nói tốt có giá trị hơn ý định tốt. Ngược lại, việc làm xấu, nguy hiểm hơn lời noùi xấu; và lời nói xấu có thể gây tác hại cho người khác, còn ý định xấu (thầm kín ở trong óc) chỉ có hại cho người có ý định đó mà thôi chứ không hại được ai. Ý định tốt hay xấu chỉ có thể có ích hay có hại cho người khác khi nào nó đã biến thành lời nói và việc làm.

Sự đánh giá tầm quan trọng của ý định, lời nói và việc làm như đã nêu trên là có ý nghĩa đối với sự giáo dục và tự giáo dục về đạo đức, theo đó, cách tu dưỡng và rèn luyện đạo đức tốt nhất là trong việc làm tốt đẹp (việc thiện) chứ không phải là trong lời nói và trong ý định tốt đẹp (thiện ngôn và thiện ý). Chúng ta cũng thường hay nói lời nói phải đi đôi với việc làm, nói sao làm vậy, làm nhiều hơn nói. Tất nhiên, nói và làm ở đây phải được hiểu là nói điều hay, làm việc tốt. Chúng ta cố gắng để đừng có một ý định xấu nảy sinh trong óc. Nhưng khó đấy, vì nó tùy thuộc rất nhiều vào caùi tâm của ta và vào cái hoàn cảnh chung quanh ta. Vì thế, theo tôi, vấn đề quan trọng hơn không phải là ở chỗ một ý định xấu nảy sinh (nó nảy sinh mà ta không biết trước và nảy sinh rất đột ngột) mà là ở chỗ ta phải nhanh chóng xoá bỏ cho được ý định đó. Nếu ta thất bại trong cuộc đấu tranh thứ nhất này thì ta phải cố gắng trong cuộc đấu tranh thứ hai là đừng biến ý định đó thành lời nói xấu xa, độc ác hoặc dối trá. Nếu ta lại thất bại nữa trong cuộc đấu tranh này thì ta phải cố gắng trong trận cuối cùng : chỉ dừng lại ở lời nói mà không biến thành việc làm.

Ngược lại, chúng ta mong mỏi có được những ý định tốt trong đầu óc. Nhưng quan trọng hơn là phải nói lên ý định đó và nhất là thực hiện ý định đó, lời nói đó bằng việc làm. Còn nếu không thì đừng nói. Nói không làm được thì nói làm chi! Lời nói đi đôi với việc làm, nói và làm thống nhất, làm nhiều hơn nói là một đức tính cần được rèn luyện ở mỗi người chúng ta.

3. Ðạo đức học Mác-Lênin, căn cứ vào mối quan hệ động cơ-kết quả, đã chia các hành vi ra làm 4 loại theo thứ tự tốt nhất đến xấu nhất như sau:

-         Ðộng cơ tốt và kết quả tốt

-         Ðộng cơ xấu và kết quả tốt

-         Ðộng cơ tốt và kết quả xấu

-         Ðộng cơ xấu và kết quả xấu

Như trên đã nói, theo đạo đức học Mác-Lênin, kết quả tốt hay xấu đối với khách thể chứ không phải đối với chủ thể, mặc dù chủ thể có thể cảm thấy thanh thản hay bị cắn rứt trong lương tâm, hoặc cảm thấy hài lòng hay ân hận, những trạng thái tâm lý thường được nói tới trong đạo đức học Mác-Lênin. Còn đạo đức học Phật giáo thì quan niệm quả của nghiệp không phải ở khách thể mà là ở chủ thể, theo quy luật nghiệp báo-nhân quả.

Trong mối quan hệ động cơ-kết quả nói trên, có một yếu tố trung gian để kết quả tốt hay xấu. Ðó là năng lực hành động của chủ thể mà ta thường gọi là cái tài, một khái niệm thường đi đôi với khái niệm cái đức, hay cái tâm. Ðộng cơ tốt phải kèm theo năng lực giỏi thì mới có kết quả tốt đối với khách thể, nếu không như thế thì dù động cơ có tốt nhưng kết quả lại là xấu. Còn động cơ đã xấu rồi mà lại có thêm cái tài nữa thì kết quả càng xấu hơn. Ðó là mối quan hệ đức-tài, tâm trí trong hoạt động nói chung, trong từng hành động nói riêng. Ðạo đức học Mác-Lênin coi trọng kết quả còn hơn cả động cơ nên rất chú trọng đến cái tài. Duy ý chí là quan điểm sai lầm vì nó phủ nhận quy luật khách quan và do đó phủ nhận vai trò của trí tuệ và tài năng. Ðạo đức học Phật giáo là đạo đức học để tu hành, để sửa cái tâm, nên tuy không coi nhẹ tài năng và kết quả nhưng đặc biệt coi trọng cái tâm, vì theo Phật giáo, chính cái tâm tạo ra cái nghiệp, rồi cái nghiệp đó sẽ tạo ra cái quả. Phải chăng vì thế mà Nguyễn Du viết:

Thiện căn ở tại lòng ta,

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.

 

--- o0o ---

 Mục Lục Vạn Hạnh số 2 | 01 | 02 | 03 | 04 | 05

06 | 07 | 08 | 09 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 |  17

 18 | 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28

--- o0o ---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật ngày: 01-05-2004

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Thư Mục Mừng Xuân

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com