Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh

qd.jpg (8936 bytes)

Tập san Vạn Hạnh


......... .

 

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP. HCM

TĂNG NI SINH KHÓA V

Số 2

--- o0o ---

ÐƯỜNG LỐI ÐỨC TRỊ CỦA ASOKA

Thích Tâm Minh

Nghiên cứu về Asoka, tôi đặc biệt chú ý đến chính sách đức trị (Dharma-vijaya) của ông mà theo tôi Asoka đã học được từ đạo Phật. Asoka là vị hoàng đế thứ ba thuộc triều đại Maurya, trị vì Ấn Ðộ từ 270-232 trước Công nguyên. Trong khoảng thời gian 38 năm ấy, ông đã đưa đất nước Ấn Ðộ đạt đến chỗ phồn vinh, thái bình thịnh trị nhờ vào tài năng và đường lối lãnh đạo sáng suốt của ông. Ngoài ra, Asoka là vị hoàng đế đầu tiên trong lịch sử Ấn Ðộ kiên quyết theo đuổi đường lối hòa bình và đề ra các chính sách bang giao hòa hiếu với các nước láng giềng trong khu vực. Ông là vị vua nhân từ, hết lòng thương yêu và chăm lo hạnh phúc cho dân, đồng thời là vị hoàng đế tài ba, có khả năng chinh phục quân sự và đặt ách thống trị lên nhiều lãnh thổ khác nhau nhưng đã khước từ mọi tham vọng xâm lăng, từ bỏ bạo động chiến tranh, chủ trương hòa bình bất bạo động. 

Về cuộc đời và sự nghiệp của ông, các học giả thường nhấn mạnh hai giai đoạn khác nhau. Giai đoạn trước và sau khi Asoka lên ngôi khoảng tám năm và giai đoạn sau chiến thắng Kalinga trở đi, tức tám năm sau khi ông lên ngôi cho đến cuối cuộc đời. Sở dĩ có sự phân biệt như vậy là bởi đã có những chuyển biến quan trọng trong cuộc đời và sự nghiệp chính trị của ông. Về một phương diện nào đó, các tài liệu liên quan không thống nhất trong việc mô tả nhân vật Asoka. Asoka như được đề cập trong các tác phẩm Dìpavamïsa, Mahàvamïsa, DivyàvadànahayAsokàvadàna là một con người hoàn toàn khác với Asoka như được thấy trong các tài liệu bia ký và trụ đá của ông. Nếu như trong các tác phẩm Nam truyền Dìpavamïsa và Mahàvamïsa và trong các tài liệu Bắc truyền lưu giữ trong tác phẩm Divyàvadàna hay Asokàvadàna, Asoka nổi danh với tên gọi Canïdïàsoka (Asoka tàn bạo) thì qua tài liệu bia ký và trụ đá của ông, Asoka xứng đáng được tôn xưng là Dharmàsoka (Asoka Chánh pháp hay nhân từ). Cũng một con người một sự nghiệp ấy nhưng Asoka mang hai biệt danh khác nhau. Ðấy là đặc điểm của nhân vật lịch sử Asoka.

Theo các tài liệu nói trên thì trong khoảng thời gian tám năm đầu mới lên ngôi, giống như ông nội ông, Chandragupta, Asoka áp dụng đường lối trị quốc cứng raén và theo đuổi chính sách xâm lăng nhằm mở rộng đế quốc Maurya. Trận đánh chiếm xứ Kalinga thuộc vùng Orrisa ngày nay là một bằng chứng về chính sách xâm lăng của ông. Nhưng chiến thắng Kalinga cũng đánh dấu một bước ngoaëc quan trọng trong lịch sử triều đại Asoka: chấm dứt chính sách xâm lăng, mở ra một kỷ nguyên mới về hòa bình, tiến bộ xã hội, phát triển tôn giáo, ổn định chính trị, quan hệ ngoại giao và nhiều lĩnh vực khác của vương trieàu Maurya. Kể từ sau trận Kalinga, nghĩa là 262 trước Công nguyên trở đi, Asoka tuyên bố từ bỏ bạo động chiến tranh, chủ trương hòa bình bất bạo động. Ông bắt đầu thực hành Chánh pháp (Dharma), yêu quý Chánh pháp và phổ bieán Chánh pháp.(1) Ðánh giá về bước chuyển biến quan trọng này trong cuộc đời và sự nghiệp của ông, R.C. Mazumdar nói rằng Asoka vĩ đại không phải vì tài năng mở rộng đế quốc to lớn của mình mà vì tính cách của một con ngươøi, những lý tưởng mà ông đại diện và những nguyên tắc trị vì mà ông theo đuổi.(2) Will Durant cho rằng Asoka đã biểu lộ một động thái vô tiền khoáng hậu trong lịch sử ngay sau ngày chiến thắng Kalinga.(3) Ông công khai bày tỏ sự hối tiếc về việc xâm lăng Kalinga ‘bởi đã gây ra cảnh tàn sát chết chóc đầy tang thương cho dân chúng một xứ sở độc lập,’(4) tuyên bố theo đuổi Chánh pháp (Dharma) và khuyến khích Chánh pháp,(5) quyết định dùng Pháp âm (Dharma-ghosïa) thay trống trận (bherì-ghosïa),(6) chủ trương thu phục lòng người bằng đạo đức nhân ái (Dharma-vijaya),(7) nỗ lực giải quyết việc nước việc dân,(8) biến những cuộc dạo chơi săn bắn hưởng lạc của Hoàng gia (vihàra-yàtrà) thành những cuộc du hành thuyết pháp và khuyến khích điều thiện (Dharma-yàtrà).(9) Có thể nói rằng sự chuyển biến tích cực này của Asoka đã mở ra một trang sử mới không chỉ trong lịch sử triều đại Maurya mà còn trong lịch sử loài người, trang sử ‘Tự thắng mình hơn chiến thắng người khác(10) được thực hiện bằng cách ‘Lấy tình thương xóa hận thù, dùng thiện nhân thắng hung tàn, lấy thí xả thắng xan tham, dùng chân thật thắng hư ngụy.’(11)

Tên tuổi Asoka bắt đầu tỏa sáng kể từ khi ông quyết định chuyển đổi tâm tính từ ác sang thiện hay theo đuổi đường lối đức trị. Về chính sách đức trị (Dharma-vijaya) của ông, B.M. Barua cho rằng khái niệm Dharma-vijaya được nói đến trong bia ký Asoka có nghĩa là không nghĩ đến việc chinh phục một lãnh thổ mới bằng chiến tranh xâm lăng dẫn đến các nỗi khổ đắng cay và gây hiểm họa cho văn hóa, đồng thời bảo đảm thiện chí của các lÂn bang và tôn trọng các hiệp ước về toàn vẹn lãnh thổ, song song với việc chiếm trọn cảm tình và lòng biết ơn của các quốc gia này ngang qua các hoạt động văn hóa và từ thiện.(12) Nhận xét này của Barua chỉ phản ánh một phần ý nghĩa của khái niệm Dharma-vijaya được nêu trong bia ký Asoka, tức Dharma-vijaya trong ý nghĩa đối ngoại mà Asoka đã áp dụng đối với các quốc gia láng giềng trong khu vực. Kỳ thực Dharma-vijaya còn mang một ý nghĩa nữa, ấy là về phương diện trị quốc hay đối nội vốn được nhấn mạnh nhiều nơi trong các bia ký và trụ đá của ông. Theo bia ký XIII thì Asoka đã thực hiện thành công mục tiêu thu phục lòng người bằng đạo đức nhân ái (Dharma-vijaya) không chỉ ở trong vương quốc của ông mà còn ở nhiều quốc gia khác. Chỉ dụ chép: “Ðức Thánh thượng cho rằng chiến thắng cao cả nhất là thu phục lòng người bằng đạo đức nhân ái (Dharma-vijaya). Và ngài đã thực hiện thaønh công mục tiêu chiến thắng này trong vương quốc của ngài và trong số các dân tộc vùng biên giới, thậm chí vươn xa 600 do tuần, đến xứ Yona do đức vua Antiocho trị vì và xa hơn là xứ sở của bốn vị vua Ptolemy, Antigono, Maga và Alexander; cũng vậy tại các xứ sở Cholïa, Pànïdïya và Tàmraparnïì ở phương nam. Khắp nơi trong các lãnh thổ và các dân tộc nằm dưới quyền cai quản của ngài như Yona, Kampoja, Nabhaka, Nabhiti, Pitinika, Andhra và Palida, dân chúng đều tuân theo huấn chỉ đạo đức của ngài. Thậm chí đức Thánh thượng mong rằng tại những xứ sở mà các sứ giả của ngài chưa đến được, quần chúng ở những nơi ấy sau khi nghe được các huấn chỉ của ngài sẽ thực hành Chaùnh pháp. Chinh phục bằng đạo đức được thực hiện khắp nơi, mang lại cảm giác thương yêu cho tất cả. Trong các cuộc chinh phục đạo đức ấy, tình thương được mở ra. Dù tình thương ấy chưa bộc lộ mạnh mẽ, đức Thánh thượng xem đÂy là nhân tố đưa đến kết quả lớn trong tương lai. Vì lẽ đó, đạo dụ này được viết ra để các con cái và cháu chắt của Ta không còn nghĩ đến sự chinh phục nào khác ngoài việc thu phục lòng người bằng đạo đức nhân ái. Và chúng cần hiểu rằng chỉ có thu phục lòng người bằng đạo đức nhân ái mới là chiến thắng thực sự. Sự chinh phục như vậy đưa đến lợi ích đời này và đời sau.”

Như vậy, đức trị (Dharma-vijaya) hay chính sách thu phục lòng người bằng đạo đức nhân ái mà Asoka đã chủ trương áp dụng và đã chứng minh giá trị của nó bao hàm toàn bộ đường lối trị quốc lẫn ngoại giao của ông. Tài liệu bia ký và trụ đá nêu rõ đặc điểm về đường lối đức trị của ông thông qua hai phương diện đối nội và đối ngoại như sau:

A. Ðường lối đối nội

Trong lĩnh vực trị quốc hay đối nội, Asoka tỏ rõ thái độ đức trị của ông thông qua việc nỗ lực xây dựng một đất nước thái bình thịnh trị, toàn dÂn an cư lạc nghiệp. Ông là vị Hoàng đế thương dân như con cái và nỗ lực làm việc hết mình vì hạnh phúc của nhân dân. Bia ký Kalinga I và II nêu sự kiện Asoka bày tỏ tấm lòng thương dân như cha mẹ thương yêu con cái và mong muốn hết thảy mọi người được hạnh phúc yên vui. Phát xuất từ tấm lòng thương dân và lo lắng cho hạnh phúc của nhân dân, Asoka từ bỏ các thú vui cá nhân để tập trung giải quyết việc nước việc dân và làm các thiện sưï.(13) Ông nỗ lực làm việc hết mình, không kể giờ giấc và nơi chốn, nhằm mục đích đem lại hạnh phúc và an lạc cho mọi người. Bia ký VI ghi nhận sự kiện Asoka hạ lệnh cho các quan chức có trách nhiệm phải thông báo ngay cho ông mọi vấn đề liên quan đến đời sống nhân dân, thậm chí khi ông đang ăn, đang ngủ, đang ở hậu cung, đang ở tại các trại chăn nuôi, đang ở chỗ thuyết giáo hay khi ông đang vui chơi. Chẳng những thế, Asoka còn thường xuyên du hành nhằm nắm bắt tình hình đất nước và xem xét hiện tình đời sống nhân dân.(14) Ông tự nhận có trách nhiệm thúc đẩy lợi ích của dân và xem nỗ lực phục vụ nhân dân là cách duy nhất trả để trả nợ cho dân.(15) Trong công tác quản lý và điều hành quốc gia, Asoka thành lập đội ngũ quan chức chính phủ các cấp có trách nhiệm chăm lo lợi ích và hạnh phúc cho dân.(16) Ông huấn luyện rất kỹ đội ngũ các quan chức nhà nước, giáo dục họ phải nêu gương cho mọi người về nếp sống cần kiệm liêm chính và thái độ làm việc chí công vô tư;(17) các quan lại phải nắm bắt nguyên nhân hạnh phúc và khổ đau của dân và phải hết lòng chăm lo phục vụ nhân dân.(18) Trong cách nói của mình,(19) Asoka ví dân như trẻ thơ, quan lại như người vú. Dân cần được chăm lo chu đáo bởi các quan lại cần mẫn, giống như các trẻ thơ cần được chăm sóc chu đáo bởi những người vú ân cần.

Asoka quan tâm xây dựng một đất nước thái bình thịnh trị trên cơ sở chăm lo hạnh phúc cho dân, phát huy nếp sống đạo đức của quần chúng và tỏ rõ biện pháp đức trị. Ông tôn trọng tự do tín ngưỡng của mọi người và đối xử bình đẳng với caùc tôn giáo.(20) Ông khuyên dạy tất cả con cái, cháu chắt và thần dân của mình phải muôn đời sống trong đạo đức Chánh pháp và phải có trách nhiệm khuyến khích nếp sống đạo đức Chánh pháp.(21) Asoka quan niệm Chánh pháp (Dharma) là thiện hay tốt lành (sàdhu) được thể hiện qua việc tránh xa điều ác hay tội lỗi, làm các việc lành, sống với tâm lương thiện, hào phóng, chân thật và trong sạch.(22) Ông nhắc nhở mọi người sống đúng Chánh pháp ‘bởi những ai theo đúng Chánh pháp sẽ được hạnh phúc đời này và đời sau.’(23) Ông kêu gọi mọi người tránh xa sát sanh hay làm hại; hiếu kính cha mẹ; tôn trọng thầy cô giáo; đối xử tốt với bà con, bạn bè; cung kính cúng dường các Sa-môn, Bà-la-môn; xử sự hào phóng với kẻ làm công, người giúp việc; giúp đỡ người nghèo khó, kẻ bất hạnh.(24) Ông khuyên mọi người sống từ hòa, chân thật, trong sạch, thanh cao, trọng lẽ phải, tự chế, biết đủ, biết ơn và tiết kiệm.(25) Ông khuyến khích mọi người tiến hành các lễ hội cưới gả, sinh nhật hay tiễn người đi xa bằng những việc làm thiết thực phù hợp Chánh pháp mà ông gọi là vận may Chánh pháp (Dharma-mangala) như bố thí, không sát sanh, tôn trọng thầy cô giáo, cung kính cúng dường các bậc hiền thánh, đối xử nhân hậu với kẻ ăn người ở.(26) Asoka đề cao đạo đức bằng cách đề cao Pháp thí (Dharma-dàna), bảo rằng tất cả mọi người nên từ bỏ sát sanh, hiếu kính cha mẹ, cung kính cúng dường các Sa-môn và Bà-la-môn, giúp đỡ bà con bạn bè, đối xử nhân hậu với kẻ ăn người ở và khuyến khích người khác làm điều tương tự.(27)

Về phương diện chăm lo hạnh phúc cho dân, Asoka rất quan tâm phát triển các chế độ an sinh và phúc lợi xã hội.(28) Ông cho lập nhiều vườn cây ăn quả (xoài) một mặt mở rộng mặt bằng cây xanh và mặt khác phục vụ trái ngọt cho mọi người. Ông thaønh lập đội ngũ y bác sĩ và cho xây dựng hệ thống trạm xá và bệnh viện khắp nơi để lo việc chăm sóc y tế cho dân và chữa trị cho thú vật, sai nhân giống và ươm trồng các loại cây làm thuốc để giúp cho việc điều trị beänh nhân và gia súc. Khắp nơi trên các nẻo đường, ông cho trồng các loại cây xanh tạo bóng mát, sai đào các giếng nước khoảng cách hai ba dặm đường để phục vụ tiện ích cho người và súc vật, cho xây dựng các nhà nghỉ hai bên vệ đường để khách bộ hành có chỗ nghỉ chân hay qua đêm. Các trạm cung cấp nước sạch cũng được xây dựng ở những nơi công cộng để phục vụ cho người và thú vật. Có thể nói rằng chính sách chăm lo hạnh phúc cho dân cuûa Asoka vươn tới tận mọi ngõ ngách và đến tận đáy xã hội. Ngoài các chế độ an sinh phúc lợi xã hội mà mọi công dân Maurya đều được hưởng, Asoka còn có các chế độ ưu tiên dành cho các đối tượng xã hội gặp cảnh ngộ khó khăn hay bị tù đày. Cô nhi quả phụ, người nghèo khó, già cả được hưởng chế độ chăm sóc đặc biệt của nhà nước.(29) Phụ nữ lầm đường lạc lối được giáo dục và được tạo công ăn việc làm thích hợp. Phạm nhân có quyeàn kháng án trong trường hợp bị xử oan, được bảo vệ khỏi tình trạng bị ngược đãi, được phóng thích trong trường hợp phải nuôi con dại hay gặp quá nhiều bất hạnh rủi ro hoặc bị khổ đau bởi tuổi già.(30)

Trong chính sách đối với kẻ lầm đường lạc lối, Asoka tỏ rõ tấm lòng khoan dung trong các trường hợp lỗi lầm và công bằng trong xét xử. Ông tuyên bố sẵn sàng tha thứ cho những ai phạm phải sai lầm nhưng biết ăn năn hối lỗi. Ông chủ trương không truy quét các tội phạm nhưng ra sức thuyết phục chúng trở về con đường lương thiện để hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.(31) Trong các chỉ dụ ghi ở bia ký V và trụ đá IV, Asoka quy định các quan chức Dharma-mahàmàtra và Ràjùka phải có trách nhiệm xem xét đơn khán án của các phạm nhân để ‘pháp luật luôn đi đôi với công lý’(32) và đểkhông một ai phải chịu cảnh tù tội hay khổ đau mà không có lý do.(33) Các quan chức phải tuân thủ con đường Trung đạo (majham patïipàda), nghĩa là phải tỏ ra công bằng và không thiên vị trong công tác điều hành và xử lý công việc.(34) Họ phải quản lý theo Chánh pháp hay pháp luật (Dharma), giải quyết công việc theo pháp luật, khiến cho dân được hạnh phúc nhờ pháp luật và bảo vệ dân bằng pháp luật.(35) Các phạm nhân phải được đối xử công bằng, có quyền kháng án trong trường hợp bị xử oan, được ân giảm hình phạt trong trường hợp phải nuôi con dại, gặp bất hạnh rủi ro hay bị khổ đau bởi tuổi già.(36) Trụ đá V ghi nhận sự kiện rằng 26 năm kể từ khi lên ngôi, Asoka đã 25 lần ân xá cho các phạm nhân.

B. Ðường lối đối ngoại

Trong chính sách đối ngoại, Asoka tỏ rõ lập trường đức trị bằng cách theo đuổi đường lối hòa bình và chủ trương bang giao quốc tế trên cơ sở hiểu biết và giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc. Bia ký Kalinga II ghi lời Asoka tuyên bố về lập trường hòa bình của ông như sau: “Các quốc gia biên giới chưa bị chinh phục có thể nghĩ như thế này: ‘Nhà vua này muốn gì ở chúng ta?’ Mong muốn duy nhất của Ta đối với quốc gia này là họ hãy hiểu rằng họ không nên lo sợ mà hãy tin tưởng ở Ta, rằng họ sẽ nhận được hạnh phúc từ Ta chứ không phải khổ đau, và họ cần hiểu thêm rằng Ta sẽ bao dung tất cả và sẽ giúp họ thực hành Chánh pháp (Dharma) để được lợi ích đời này và đời sau.” Asoka còn khẳng định trong bia ký rằng ý chí, quyết tâm và lời hứa của ông về hòa bình là không bao giờ thay đổi. Ông hạ chỉ cho các quan chức chính phủ phải làm tốt bổn phận của mình để mọi người hiểu rằng ‘Ðức vua là cha của chúng ta; chúng ta là con cái của người; người hiểu chúng ta như hiểu chính mình.’(37)

Song song với lời cam kết của ông về hòa bình, tôn trọng chủ quyền độc lập dân tộc, Asoka mở rộng quan hệ ngoại giao với nhiều quốc gia khác trên cơ sở tạo điều kiện và giúp đỡ các quốc gia này về phương diện chăm sóc y tế và mở rộng mạng lưới an sinh phúc lợi xã hội. Nguồn thông tin bia ký II cho hay Asoka đã cho thiết lập hai loại hình chăm sóc y tế (dve chikìchha), một dành cho người và một dành cho thú vật, không những ở khắp nơi trong vương quốc của ông mà còn ở nhiều quốc gia khác. Các loại cây ăn quả và cây làm thuốc cũng được nhân giống và gieo trồng khắp nơi trong vương quốc của ông và tại các quốc gia láng giềng, trên các tuyến đường các giếng nước được xây dựng và các loại cây xanh tạo bóng mát được gieo trồng để phục vụ tiện ích cho người và thú vật. Bia ký này nói đến một số quốc gia thừa hưởng chế độ đãi ngộ của nhà nước Maurya gồm Cholïa, Pànïdïya, Satiyaputra, Keralaputra, Tàmraparnïì, xứ sở Yona do vua Hy Lạp Antiocho trị vì và bốn quốc gia Hy Lạp khác do các vị vua Ptolemy, Antigona, Maga và Alexander cai quản. Như vậy, từ thế kỷ thứ ba trước Công nguyên y học và văn minh Ðông phương đã được giới thiệu và mở rộng sang thế giới phương Tây, dĩ nhiên bằng con đường hòa bình hữu nghị chứ không phải được đi kèm với chính sách xâm lăng.

Rõ ràng động thái hòa bình và thiện chí của Asoka đã mở ra một bầu không khí hòa bình và hữu nghị rộng lớn chưa từng có trong lịch sử. Nhiều quốc gia ở châu Á và châu Âu chào đón thông điệp hòa bình hợp tác của ông. Bia ký XIII cho hay Asoka đã thành công lớn trong lĩnh vực thu phục nhân tâm của nhiều quốc gia nhờ đường lối đức trị (Dharma-vijàya). Chỉ dụ viết: “Chinh phục lòng người bằng đạo đức nhân ái (Dharma-vijaya) được thực hiện khắp nơi, mang lại cảm giác thương yêu cho tất cả. Trong công cuộc chinh phục bằng đạo đức ấy, tình thương được mở ra. Dù tình thương ấy chưa bộc lộ mạnh mẽ, đức Thánh thượng xem đây là nhân tố đưa đến kết quả lớn trong tương lai.Hẳn là kết quả này đã khiến Asoka có đủ tin tưởng để tiếp tục theo đuổi và ước mơ mở rộng chính sách đức trị của ông, song song với lòng mong muốn đường lối ấy được theo đuổi lâu dài trong tương lai. Thông tin bia ký XIII cho hay Asoka mong muốn đường lối của ông được áp dụng rộng rãi ở những nơi mà sứ giả của ông không đến được và ông căn dặn tất cả con cái và cháu chắt nhiều đời của mình không được nghĩ đến sự chinh phục nào khác ngoài việc thu phục lòng người bằng đạo đức nhân ái (Dharma-vijaya).

Như vậy, Asoka đã theo đuổi đường lối đức trị (Dharma-vijaya) và đã chứng minh sự thành công của ông cả về phương diện trị quốc lẫn ngoại giao. Divyàvadàna bảo Asoka trị vì một vương quốc rộng lớn mà không có đàn áp, không bắt ép người vô tội, không dùng vũ lực mà dùng đức trị.(38) Thông tin bia ký IV cho hay nhờ các huấn chỉ tôn giáo do đức Thánh thượng Priyadarsì ban bố, dân chúng Ấn Ðộ đã tiến bộ đáng kể về phương diện đạo đức. Họ từ bỏ sát sanh, hiếu kính cha mẹ, tôn trọng các bậc trưởng thượng, cung kính cúng dường các Sa-môn và Bà-la-môn. Trong tiểu bia ký I, Asoka bảo chúng ta ông từng sống với Tăng già hơn một năm; thông tin này một mặt nói rõ tấm lòng ngưỡng mộ Phật pháp của ông nhưng mặt khác gián tiếp phản ánh sự kiện rằng vương quốc Maurya của ông đã đạt đến chỗ thái bình thịnh trị đến độ Asoka đã có thể hoàn toàn an tâm tĩnh tu trong tu viện một thời gian khá lâu. Bia ký XIII đề cập sự kiện Asoka đã thu phục nhân tâm không những ở khắp nơi trong nước mà còn ở nước ngoài nhờ theo đuổi đường lối đức trị (Dharma-vijaya). Nhận xét về thành quả của ông, K. Hazra nói rằng nhờ tài lãnh đạo sáng suốt và quản lý giỏi và với sự trợ giúp của đội ngũ quan chức chính phủ các cấp, Asoka đã quản lý hết sức thành công toàn bộ đế quốc to lớn của mình và đã thu phục lòng người một cách dễ dàng.(39) Cũng theo học giả này, Asoka đã giữ vững đế quốc rộng lớn của mình và thiết lập quan hệ thân thiện với các thế lực nước ngoài mà không dùng đến chiến tranh hay chính sách xâm lăng.(40) W. Rahula bảo(41) Asoka là vị hoàng đế lỗi lạc, đã có cam đảm, đức tin và kiến giải đủ để áp dụng những lời dạy của đức Phật về hòa bình, bất bạo động và yêu thương trong việc cai trị một đế quốc rộng lớn cả về nội bộ lẫn ngoại giao. Ông công khai quay lưng lại với chiến tranh, bạo động và đón nhận thông điệp của bất bạo và hòa bình. Không có bằng chứng lịch sử nào nói rằng có vị vua láng giềng nào đã lợi dụng sự sùng đạo của Asoka để tấn công ông về quân sự, hay có một cuộc nổi loạn nào trong đế quốc ông lúc sinh thời. Trái lại hòa bình ngự trị khắp nơi trên lãnh thổ, và ngay cả những xứ bên ngoài vương quốc ông cũng dường như đã chấp nhận sự lãnh đạo nhân từ của ông.


(1) Bia ký XIII.

(2) R.C. Mazumdar, The Age of Imperial Unity, tr. 71.

(3) Nguyễn Hiến Lê, Lịch sử Văn minh Ấn Ðộ, tr. 99-100.

(4) Bia ký XIII.

(5) Bia ký XIII.

(6) Bia ký IV.

(7) Bia ký XIII.

(8) Bia ký VI.

(9) Bia ký VIII.

(10) Pháp cú, kệ số 103 chép: “Dầu thắng hàng vạn địch quân trên chiến trận cũng không bằng tự chiến thắng mình. Chiến thắng chính mình mới là chiến công oanh liệt nhất.”

(11) Pháp cú, kệ số 223.

(12) B.M. Barua, Asoka and his Inscriptions, tr. 235-236.

(13) Bia ký VIII.

(14) Tiểu bia ký I; bia ký

(15) Bia ký VI.

(16) Bia ký V; trụ đá IV.

(17) Bia ký Kalinga I, II; trụ đá I, IV.

(18) Trụ đá IV.

(19) Trụ đá IV.

(20) Bia ký XII; Trụ đá VI, VII.

(21) Bia ký IV, V, IX, XI, XIII.

(22) Trụ đá II.

(23) Trụ đá VII.

(24) Tiểu bia ký II; Bia ký III, IV, VII, VIII, IX, XI, XIII; trụ đá V, VII.

(25) Tiểu bia ký II; bia ký III, VII, XIII; trụ đá II, VII.

(26) Bia ký IX.

(27) Bia ký XI.

(28) Bia ký II; trụ đá VII.

(29) Bia ký V.

(30) Bia ký V.

(31) Bia ký XIII.

(32) Trụ đá IV.

(33) Bia ký Kalinga I.

(34) Bia ký Kalinga I.

(35) Trụ đá I.

(36) Bia ký V.

(37) Bia ký Kalinga II.

(38) Encyclopedia of Buddhism, II, Fascile, 2, tr. 190.

(39) K. Hazra, Royal Patronage of Buddhism in ancient India, tr. 64.

(40) Như trên. 

(41) Thích nữ Trí Hải, Ðức Phật đã dạy những gì, tr. 204.

 

--- o0o ---

 Mục Lục Vạn Hạnh số 2 | 01 | 02 | 03 | 04 | 05

06 | 07 | 08 | 09 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 |  17

 18 | 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28

--- o0o ---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật ngày: 01-05-2004

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Thư Mục Mừng Xuân

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com