Sau một thời gian dài từ khi du nhập, đến thời ý, Phật giáo đã có đủ
thời gian và điều kiện để vươn tới sự hưng thịnh phát triển, đi sâu hòa
nhập vào tư tưởng nếp sống và suy nghĩ, lời nói của người dân Đại Việt.
Phật giáo song hành với dân tộc trong bối cảnh lịch sử đất nước Đại Việt
không chỉ độc lập tự chủ trên cương giới lãnh thổ mà còn phát triển,
thành tựu trên các lĩnh vực văn hóa, chính trị, kinh tế...
Việc nghiên cứu, tìm hiểu bài bia Sùng Thiện Diên Linh của Thượng thư
Nguyễn Công Bật như một bản tổng kết những thành tựu của đất nước trên
các lĩnh vực: tư tưởng, chính trị, kinh tế, văn hóa dưới triều đại Lý
Nhân Tông. Bài viết này đóng góp, bổ sung sự hiểu biết về một tác phẩm
của tác giả bài văn bia có dấu ấn trong lịch sử – văn học ở thời kỳ đầu
xây dựng và phát triển nước Đại Việt, đồng thời, có thêm cơ sở tìm hiểu
văn học thời Lý – Trần trước một di sản văn hóa cha ông để lại.
Không phải ngẫu nhiên, sử thần Lê Văn Hưu khi nhận định đạo Phật đời Lý,
đã phát biểu: “Lý Thái Tổ lên ngôi hoàng đế mới hai năm, nhà tông chưa
xây đàn, xã tắc chưa dựng, đã tạo tác 8 ngôi chùa ở phủ Thiên Đức, lại
sửa sang các tự quán quốc lộ, độ hơn ngàn người làm Tăng...” (1). Sử gia
Ngô Thời Sĩ thì nhận định: “Vua Lý Thái Tổ thì sinh trưởng nhờ cửa Phật,
Khánh Vân nuôi lớn, muốn kiến quốc đã sáng tạo nhiều chùa, cấp điệp độ
chúng Tăng, muốn đưa cả thế giới vào nước Phật” (2). Xem ra, đạo Phật đã
đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc dùng Chánh pháp để đem đạo
vào đời, thực thi khát vọng xây dựng cuộc sống thanh bình thịnh vượng
cho quê hương xứ sở qua các triều đại Đại Việt. Điều đáng lưu tâm ở bài
văn bia “Đại Việt quốc đương gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi”
của Thượng thư Bộ Hình Nguyễn Công Bật không chỉ có giá trị văn học lớn
mà còn thể hiện đường lối dựng nước giữ nước của Lý Nhân Tông, hợp với
lòng dân và hợp với đạo lý nhà Phật. Với giọng văn đầy hào khí và lòng
tự hào độc lập dân tộc, bài văn bia nghiễm nhiên đi vào lòng người như
hơi thở trong lành, đem lại sự khỏe khoắn tươi mát ngọt ngào, như khúc
khải hoàn làm cho chúng ta thích thú vững tiến đi lên.
1. Bài văn bia thể hiện nguồn gốc vạn pháp - cơ sở lý luận xây dựng phát
triển tâm thức con người và đời sống xã hội
Dưới triều đại vua Lý Nhân Tông trị vì, đất nước đang ở thời kỳ xây dựng
phát triển. Phật giáo đã trở thành quốc giáo, dân chúng cả nước hầu hết
là Phật tử, hàng loạt chùa, tháp được xây dựng, Phật giáo trở thành hệ
tư tưởng được triều đình tôn kính và áp dụng trong công cuộc xây dựng
phát triển đất nước, bảo vệ thành quả đạt được với ý thức tự chủ, độc
lập sau một ngàn năm bị phong kiến phương Bắc đô hộ. Tư tưởng "Vạn pháp
duyên sinh vô ngã” của Phật giáo đi vào đời sống hiện thực, góp phần hóa
giải các mâu thuẫn giữa vua chúa với các tầng lớp quý tộc, giữa quý tộc
và nhân dân lao động. Tất cả vì mục đích xây dựng một đời sống hạnh phúc
an lạc trong bối cảnh đất nước Đại Việt đang hùng cường, thịnh vượng.
Chính vì thế, mối quan hệ “Đất vua – chùa làng – phong cảnh Bụt” càng
trở nên khắng khít hơn bao giờ hết.
Cơ sở lý luận để xây dựng con người và xã hội dựa chủ yếu vào tư tưởng
Phật giáo. Vua Lý Nhân Tông đã đệ trình tâm nguyện của mình với Thiền sư
Mãn Giác: “Bậc chí nhân thị hiện, tất lo cứu người, không hạnh nào chẳng
đủ, không việc gì chẳng làm, không chỉ có sức định tuệ, mà cũng có công
phò tá” (3). Điều đó có nghĩa rằng mọi thành viên của Phật giáo không
chỉ đem tài đức ra để phụng đạo mà còn nỗ lực phục vụ cho sự nghiệp phát
triển đất nước.
Xem ra, hầu hết các thành tựu của nước Đại Việt bấy giờ đều bắt nguồn từ
sự thành tựu của tấm lòng vì dân vì nước. Nói cách khác, những thành tựu
đó phải chăng đều bắt nguồn từ thành tựu của tâm – một cái tâm trong
sáng, nhu nhuyến, không chấp trước, làm hóa hiện tất cả những gì con
người và đất nước đang trông đợi. Vì thế, mở đầu bài văn bia, Thượng thư
Nguyễn Công Bật đã giới thiệu nguồn gốc vạn pháp:
“Cái diệu thể thì huyền tịch, là ánh linh quang không ở trong, không ở
ngoài, nhưng là khởi nguyên của năm nguyên tố, còn cái đại dụng thì tràn
đầy, là cõi bao la, có hình thù, có thể chất, nhưng lại nằm trong khí
thái hư. Nó không có dấu hiệu để suy lường; không có bóng hình tìm kiếm.
Nó bao trùm cả trời đất rộng lớn, đâu khá dò xem; nó hòa đồng cả tinh tú
huy hoàng, dễ nào tìm xét. Dù cho then máy của tạo hóa chuyển vần, nó
nghiễm nhiên tồn tại; dù có xô đẩy cho sự mau chậm của âm dương vận
động, thì cái bí yếu vẫn riêng sâu kín. Đó chẳng phải là huyền tịch hay
sao?”.
Như vậy, nguồn gốc vạn pháp chính là “Huyền tịch” hay nói khác đi là
Tâm. Tâm chính là cơ sở ngọn nguồn mà vạn pháp theo đó duyên khởi. Trong
vạn hữu, có gì vận hành mà tâm không rọi chiếu. Chân lý cuộc đời không
thể nằm ngoài tâm. Lý Duyên khởi từng minh chứng: “Cái này có mặt thì
cái kia có mặt, cái này sinh cái kia sanh; cái này không cái kia không,
cái này diệt cái kia diệt”, cho nên chúng sinh hay Phật đều từ nơi tâm
duyên khởi mà có mặt giữa cuộc đời. Vạn pháp dẫu lớn như vũ trụ hay nhỏ
như vi trần cũng thế thôi.
“Rất diệu mà rất tĩnh,
Không dáng cũng không hình
Gượng đặt tên cho nó
Cực nhỏ và cực tinh
Đạm bạc riêng tồn tại
Thuở trước trời đất sinh
Muốn nhuộm đen chẳng được,
Đem mài vẫn nguyên lành.
Diệu thay cái tâm ấy
Thuần túy và tinh anh”
2. Tán dương công đức Phật pháp trong việc xây dựng đời sống hạnh phúc
của một nước thanh bình
Kinh Phật dạy rằng: “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác” nghĩa
là Phật có mặt giữa cuộc đời này, ngoài thế gian này thì không có Phật
pháp. Thế nên, Phật Tổ Như Lai đã hiện thân giữa cuộc đời, tự thân tu
tập, tự thân chứng ngộ. Hay nói khác đi, Ngài đã chuyển hóa tâm thức để
hiện thân đầy đủ với 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, đem giáo pháp mà Ngài đã
chứng ngộ vào đời để chúng sinh nương theo đó tu tập:
“... Người lập nên diệu giáo Bồ đề, để nuôi dưỡng kẻ đói lòng bao thuở;
thắp ngọn đèn rực rỡ, soi đêm tối bao năm. Khiến cho cái hồn nhiên của
tấm lòng phóng đãng được yên; thói tà vạy của tính mê lầm được định. Cho
nên quy y ba giới, quy y mười phương hồi hướng...”.
“Rộng mở lời thề nguyện
Tu hành đủ lục độ
Tham cứu sâu đạo thiền
Trí tuệ đuổi hư ngụy
Dựng giáo lý diệu huyền”.
Đây chính là nếp sống hướng thượng của Phật giáo mà nhà Lý muốn vận dụng
Chánh pháp để tự thân mỗi người sống tỉnh thức, sống đúng đạo lý. Tại
đây, từ vua quan đến thần dân, nhà nhà đều an trú trong hạnh phúc theo
mô hình lý tưởng mà nhà Lý vươn tới: “Đất vua – chùa làng – phong cảnh
Bụt”. Có thể nói, chùa chính là nơi để con người hướng đến sống tốt,
sống hạnh phúc an lành: “... Thi nhau xây chùa, cất cao vật báu. Từ xưa
đến nay, lưu truyền không mất...”.
Rõ ràng, Phật giáo giai đoạn này đã chuyển sang thời kỳ Phật giáo thế
sự. Nhà sư muốn cứu độ chúng sinh thì phải đầy đủ trí tuệ, đức hạnh và
tham gia các công việc cần thiết của quốc gia. Để Phật giáo phát triển
hưng thịnh trong lòng dân, các vua chúa quan lại sẵn sàng đem hết tâm
lực, tài lực ủng hộ Phật giáo. Vì thế, các nhà sư cũng hết sức tùy hỷ
tham gia Phật sự và ủng hộ vương triều trong việc dùng Chánh pháp để trị
dân. Công đức ấy, các nhà sư cũng không hết lời ca ngợi trong những dịp
khánh thành chùa hay bảo tháp, thể hiện tấm lòng đền đáp Tứ ân. Trong
bài văn bia Chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn, Thiền sư Hải Chiếu viết:
“Ôi, sinh nuôi ta, không ai lớn hơn vua, cha, cho nên phải tôn kính; dẫn
dắt ta không gì cao hơn phúc huệ, cho nên phải tôn sùng. Lấy cái phúc
lành ấy, chút cái vận lớn ấy. Trông cho cơ đồ dài lâu, dòng vua bền
thịnh” (4).
Đạo Phật trở thành nền tảng đạo đức xã hội, duy trì trật tự đời sống
nhân dân. Sống đúng Chánh pháp, thực hành Lục độ: bố thí, trì giới, nhẫn
nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ cũng là sống hòa nhập theo quy tắc,
hiến pháp triều đại. Giáo lý nhân quả nghiệp báo cũng đóng góp thiết
thực trong việc chỉnh đốn các ham muốn cá nhân trong vấn đề tư lợi. Vì
vậy, bất cứ cá nhân nào cũng phải lo làm việc công đức, ích nước lợi
dân. Nhà chùa trở thành nhà trường, nhà sư trở thành nhà giáo dạy kiến
thức và lẽ sống cho mọi người. Chính giáo lý Lục độ đã khiến cho Lý
Thường Kiệt trong 19 năm trấn trị Thanh Hóa áp dụng vào việc hành xử
chấp pháp một cách thành công, dân chúng nương đó mà an bình, xã hội nhờ
thế mà ổn định kỷ cương:
“Ông trông tỏ ra khoan minh, ngoài thì ân huệ, sửa đổi tục xấu cho dân,
không quản khó nhọc, làm việc cốt tránh phiền dân, sai dân thì cốt vỗ về
để dân vui lòng mà làm.. đem cái bụng khoan thứ cứu dân, lấy lòng nhân
ái yêu dân.. Lấy oan vũ để trừ lũ ác, lấy chính sự mà xử kiện... Xem sự
đủ ăn là nguyện của dân, với việc cày cấy là gốc của nước.. lại nuôi
nấng kẻ già nua” (5).
Nhờ vậy, lòng dân tin vào chính quyền cũng có nghĩa là tin vào giáo lý
Đức Phật, hết lòng phục vụ đất nước, hết lòng phụng đạo. Việc xây chùa,
dựng tượng tháp thờ Phật nhằm thể hiện tấm lòng vì dân vì nước.
Trong khi đó, Nho giáo cũng muốn gây ảnh hưởng vào lòng dân chúng. Tuy
nhiên, lý thuyết Nho giáo hầu như chỉ bảo vệ quyền lợi giai cấp quý tộc
vua quan trong xã hội phong kiến, nó không đủ cơ sở để lý giải các mâu
thuẫn nội tại giữa tầng lớp quý tộc với nhau và mâu thuẫn đối kháng giữa
quần chúng nhân dân và chính quyền phong kiến. Lực lượng làm cho trên
dưới đồng lòng, tương thân tương ái đúng với truyền thống và đạo lý tư
tưởng người Việt Nam bấy giờ là Phật giáo. Lý Nhân Tông đã thừa nhận vai
trò Phật giáo: không chỉ sáng lập ra triều đại nhà Lý mà còn là lực
lượng nòng cốt bao trùm, kết dính sức mạnh tổng hợp toàn dân trong việc
giữ nước và dựng nước:
“Vạn Hạnh dung tam tế
Chân phù cổ sấm ky
Hương quan danh Cổ Pháp
Chống gậy trấn vương kỳ”
(Vạn Hạnh dung tam tế
Thật hợp với lời xưa
Quê hương tên Cổ Pháp
Chống gậy trấn kinh vua. (6)
Như thế, Phật giáo đã cùng dân tộc sát cánh bên nhau trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ thành quả đã đạt được. Cả hai cùng mục đích thiết thực
xây dựng đời sống người dân Đại Việt an lạc hạnh phúc trong bối cảnh đất
nước thanh bình, đúng với tinh thần bài thơ thiền sư Không Lộ cảm tác
dưới triều Lý:
“Vạn lý thanh giang vạn lý thiên
Nhất thôn tang giá, nhất thôn yên
Ngư ông thụy trước vô nhân hoán
Quá ngọ tinh lai tuyết mãn thuyền”.
(Trời xanh nước biếc muôn trùng
Một thôn sương khói, một vùng dâu đay
Ông chài ngủ tít ai hay
Quá trưa tỉnh dậy tuyết bay đầy thuyền).
(Kiều Thu Hoạch dịch) (7)
3. Vai trò và công hạnh của Lý Nhân Tông đối với sự nghiệp xây dựng và
phát triển đất nước Đại Việt
Tiếp nối truyền thống buổi đầu khai mở triều đại nhà Lý, trong đó, quần
chúng Phật giáo là gốc xây dựng đất nước thịnh vượng, mà đứng đầu là Lý
Thái Tổ. Lý Nhân Tông lên làm vua là sự kiện lịch sử tất yếu. Ông trở
thành một nhân vật lịch sử biểu tượng cho sự kết tinh mọi thành tựu của
cả dân tộc. Nói theo ngôn ngữ nhà Phật, ông là hiện thân của sự giác
ngộ, cho nên trong bài văn bia của Nguyễn Công Bật đã ca ngợi:
“Kính nghĩ đức Hoàng đế bệ hạ, bậc thánh hiền thể đạo, thánh văn thần
võ, anh cách dân vật, vạn linh chiếu ứng, vĩnh long nguyên hóa, thông
minh quảng vận, nhân trí ý nghĩa, thần thánh minh hiếu của triều Lý, là
do đất trời chung đúc, nhật nguyệt kết tinh”.
Ngài lên ngôi trị vì là ý nguyện của toàn dân. Sự toàn bích của ngài
chính là sự uy nghi của cả dân tộc, “sự anh minh của nghìn đời; vượt lên
vẻ kỳ thú của trăm chúa”. Hiển nhiên, Thượng thư Nguyễn Công Bật phải tự
hào về vị vua anh minh của mình như thế nào mới viết được như thế.
Điều đáng nói, vua Lý Nhân Tông là một vị vua anh minh, có công lao lãnh
đạo và xây dựng quốc gia Đại Việt hưng thịnh, phú cường. Đại Việt sử ký
toàn thư nói rõ về ông như sau:
“Húy Càn Đức, con trưởng của Thánh Tông, mẹ đẻ là thái hậu Linh Nhân,
sinh vua ngày 25 tháng Giêng năm Bính Ngọ, Long Chương Thiên Tự thứ 1
(1066), ngày hôm sau lập hoàng thái tử. Thánh Tông băng, vua lên ngôi
hoàng đế, ở ngôi 56 năm (1072 – 1127), thọ 63 tuổi (1066 – 1127), băng ở
điện Vĩnh Quang. Vua trán dô mặt rồng, tay dài quá gối, sáng suốt thần
võ, trí tuệ hiếu dân, nước lớn sợ, nước nhỏ mến, thần giúp người theo,
thông âm luật, chế ca nhạc, dân được giàu đông, mình được thái bình, là
vua giỏi triều Lý. Tiếc rằng mộ đạo Phật, thích điềm lành, đó là điều
lụy cho đức tốt”. (8)
Điều này cũng đủ minh chứng ông là vị vua lãnh đạo dân tộc Đại Việt
không chỉ phú cường và thịnh vượng ở trong nước mà còn có chính sách đối
ngoại với các nước lân bang trong tinh thần tự chủ độc lập, không khuất
phục bất cứ thế lực nào. Điều đáng nói là ông duy trì chính sách hòa
hợp, hòa bình trên tinh thần hai bên cùng có lợi, khiến nước lớn vị nể,
nước nhỏ tâm phục. Thế nên, trong Thơ văn Lý Trần, khi đánh giá về ông,
có đoạn: “Được các bề tôi giỏi hết lòng giúp đỡ, và nhân dân ủng hộ,
triều đại của ông đã có những chiến công lừng lẫy, mấy lần đánh Nam dẹp
Bắc thắng lợi, đập tan âm mưu xâm lược nhà Tống. Về nội trị, vua rất
quan tâm đến công việc nhà nông, thường đi xem dân gặt hái, xuống chiếu
cấm trâu. Đặc biệt mở khoa thi tam trường, lập Quốc Tử Giám, tổ chức thi
để chọn văn thần.. có thể nói ông đã đặt nền móng cho sự phát triển
chính quy của Nho giáo Việt Nam, đồng thời cũng đóng góp vào việc xây
dựng văn hóa nước nhà” (9).
Sự nghiệp xây dựng và giữ nước của dân tộc Đại Việt trong triều đại nhà
Lý bao giờ cũng gắn với sự nghiệp cả cuộc đời ông. Việc xây chùa, dựng
tháp là dịp tổng kết các thành tựu đất nước đạt được để hậu thế noi
theo. Hiển nhiên, công đức của ông phải được thần dân ngưỡng vọng, tán
thán kính đề vào văn bia:
“Trên vừa yên trị trong nước; dưới giúp đỡ lân bang; nhân dân hòa hợp;
trăm họ yên vui. Mùa Xuân vào lệ, dâng kính ngọc ngà; mùa Thu vào chầu,
noi theo chức tước. Họp các nước chư hầu mà yến thưởng... Làm chân chủ
của trời đất; xét huyền cơ của tạo hóa. Vận trí biến thông; hiển mưu đầy
khắp... Hợp với sự thanh bình của bốn biển; hòa cùng sự êm ấm của muôn
dân...”.
Lại nữa, tài trí, đức hạnh của vua Lý Nhân Tông còn được ca ngợi: “Tinh
thông tới chỗ yếu huyền; pháp thuật ngoại quyền, thâu tóm toàn ý chỉ.
Đúc lời đẹp như đá vàng, sáng lòa tinh đẩu...”. Bằng các lễ hội văn hóa
nhân dịp đại lễ hay dịp Trung thu, vua dân đồng tâm hát khúc khải hoàn
“Phật – Thánh – Tiên – Người là một”. Hạnh phúc nào bằng khi cõi Phật ở
tại quê nhà, không phải tìm đâu xa. Trong niềm an lạc, thịnh vượng vô
biên, Đại Việt trở nên oai hùng, đón chào tất cả bè bạn lân bang trong
không khí lễ hội.
“... Kẻ trổ oai trong chốc lát, người đón rước lúc bấy giờ. Lân quốc mến
nên dắt già bế trẻ; chư hầu về mà vượt lũy băng tường. Chăm chú đón xem;
chờ mong được thấy. Khắp chốn trang hoàng gấm vóc; hàng năm vui vẻ ba
ngày. Đưa mọi người lên cõi hồ thiên; đặt quần chúng vào nơi lạc
quốc...”.
Quả thật, Phật giáo đã đồng hành với dân tộc, lúc thịnh vượng cũng như
suy vong. Lúc nào triều đại hợp lòng dân, hợp Phật tâm mỗi người thì lúc
đó đất nước thịnh trị. Việc xây dựng chùa, tháp thực chất là xây dựng
môi trường nếp sống đạo đức dân tộc, nếp sống hướng thượng nhà Phật. Về
sau, Nho sĩ đời Trần Lê Bá Quát cũng phải thừa nhận: “Đạo Phật lấy họa
phúc để cảm lòng người, sao mà được lòng người tin sâu và bền vậy. Trên
từ vương công, dưới đến bình dân, hễ có công việc gì quan hệ đến Phật
thì dù có hết của cải cũng không bủn xỉn. Nay nếu đem việc dựng tháp xây
chùa phó thác cho thì hớn hở vui mừng như cầm được tờ văn tự tín phiếu
về sự báo đáp ngày sau. Cho nên, từ trong kinh đô, đến ngoài châu phủ,
hang cùng ngõ hẻm, chẳng ra lệnh mà tuân theo, không bảo rõ mà tin, chỗ
nào có nhà là có chùa, bỏ đi lại dựng lên, hư nát liền tu sửa, chuông
trống lâu dài cùng với dân cư có tới một nửa. Sự hưng thịnh của đạo Phật
sao mà dễ dàng, sự tôn sùng cũng rất lớn rộng vậy” (10).
4. Đời sống văn hóa nước Đại Việt
Trong xu hướng thịnh vượng như thế, đời sống văn hóa nước Đại Việt phát
triển rực rỡ từ văn hóa vật chất đến văn hóa tinh thần. Những lễ hội văn
hóa dân tộc mang âm hưởng, màu sắc Phật giáo thường xuyên được tổ chức
dưới sự bảo trợ của chính quyền nhà Lý. Lễ hội là dịp để các thành phần
trong xã hội tiếp xúc, thông cảm và hòa hợp với nhau, trên hết, nó thể
hiện tinh thần đoàn kết toàn dân, chứng minh sức mạnh cả dân tộc đối với
các nước lân bang. Điều đó cũng chứng tỏ, Phật giáo không chỉ tham gia
vai trò cố vấn chính trị mà còn tham gia phò tá, đóng góp công sức trên
các lĩnh vực khác của đời sống. Đại Việt sử ký toàn thư cũng ghi nhận 4
lần vua Lý Nhân Tông tổ chức lễ hội, trong đó có lần xuống chiếu cho sứ
thần của Chiêm Thành xem. Văn bia Sùng Thiện Diên Linh diễn tả lễ hội
đèn Quảng Chiếu thật hoành tráng, công phu, để lại dấu ấn lớn trong lòng
dân Đại Việt, biểu dương sức mạnh mà dân tộc đang vươn mình lớn dậy,
bước sang thời kỳ hoàng kim, thắp sáng hàng nghìn ngọn đèn để tỏ ý kinh
thành Thăng Long từ đây chấm dứt đêm dài tăm tối thời Bắc thuộc. Nó cũng
minh chứng tinh thần và sức sống Đại Việt: “Khuynh thiên hạ chi ung hòa,
dạ vi trú thưởng”, Nghĩa là “dốc lòng hòa vui thiên hạ thì đêm mới trở
thành ngày”.
Kiến trúc Phật giáo nhà Lý là một trong những thành tựu nổi bật trong
lịch sử kiến trúc Việt Nam nghiễm nhiên trở thành biểu tượng quốc gia.
Nó là sự tôn vinh một giai đoạn phát triển của nền văn hóa Đại Việt.
Đằng sau các biểu tượng, nó minh chứng cho thái độ sống của người dân:
đoàn kết, hòa hợp, độc lập, tự chủ, thanh bình. Nói như nhà Phật: “Tâm
bình là thế giới bình”. Ngôi chùa mái cong hài hòa; bảo tháp uy nghi cho
con người nghiêng mình đảnh lễ; hoa sen thanh thoát để cõi lòng hướng
thiện.. Tất cả chỉ nói lên một điều, chừng nào con người còn khát vọng
dập tắt khổ đau, chừng đó con người còn vươn tới chân hạnh phúc. Vua Lý
Nhân Tông xây chùa, dựng tượng, đúc chuông, thiết lập bảo tháp Sùng
Thiện nhằm thực thi, mở mang phát triển văn hóa đất nước.
“Rộng vận thần công; cả suy thánh đoán. Sửa sang thắng sự; chăm tới
lương duyên. Dựng đài cao quảng chiếu; hướng sân trước đoan môn. Trong
nêu một cột; ngoài đặt bảy tầng; Uốn hình cung nâng đỡ sen vàng; máy
lồng nhiễu che cho ngọn nến. Giấu cơ vi ở dưới đất như bánh xe xoay
chuyển; rực sáng giữa bầu trời...
Lại có đài cao thất bảo, xếp thành một dãy, chính giữa có ngọn núi vàng.
Đặt tượng đẹp Đa Bảo Như Lai, bày chân hình xe pháp mấy tầng.. Thứ đến
hai tòa bạch ngân; bên tả đặt chân dung tượng A Di Đà; phía hữu để Xá
lợi của sắc thân mầu nhiệm. Chiều cao mở ra thế khỏe; vẻ đẹp phô rõ mái
cong. Long lanh ngỡ tuyết trắng đang tan; rực rỡ ắt trăng thu vằng vặc.
Thứ nữa có hai tòa điểu văn; bên tả đặt thân mẫu Quảng Bác, phía hữu đặt
diệu tướng Bồ đề...”.
“Tôn sùng đạo Phật; hâm mộ thắng nhân, mở chùa Diên Hựu ở tại vườn Tây.
Dấu vết theo quy mô thuở trước; lo toan thánh ý ngày nay. Đào ao thơm
Linh chủ, giữa ao trồi lên một cột đá, trên cột có một đóa sen nghìn
cánh sen xòe ra. Trên hoa dựng một ngôi đền đỏ sẫm; trong đền đặt pho
tượng sắc vàng...”.
Những công trình kiến trúc đời Lý đã chứng minh sự thành tựu đỉnh cao
của kiến trúc Phật giáo. Việc kiến trúc chùa tháp và thiết kế chương
trình lễ hội, chứng tỏ thành tựu khoa học kỹ thuật của nhà Lý đã theo
kịp các nước lân bang. Bằng chứng, trong lễ hội, người dân Đại Việt đã
chế tạo các máy móc điều khiển phục vụ lễ hội như: máy ngầm, sư bằng gỗ
có thể đánh chuông vào những lúc mình muốn. Các thành tựu này cũng có
thể ứng dụng vào quốc phòng, ngầm biểu tượng sức mạnh sẵn sàng đối phó
với bất kỳ kẻ thù nào muốn dòm ngó Đại Việt.
Trong hào khí vươn lên ấy, vua Lý Nhân Tông đã hạ chiếu xây chùa ở núi
Long Đọi: “xây ba mươi tầng chọc trời, mở bốn mươi hống gió. Vách chạm
rồng ổ; xa treo chuông đồng. Tầng trên đặt hộp vàng xá lợi, tỏa tường
quang cho đời thịnh sau này; đỉnh nóc xây tiên khách bưng mâm, hứng móc
ngọc dưới bầu trời tạnh ráo. Tầng dưới chia tám tướng khôi ngô; đứng hộ
vệ thần dân cầm kiếm.., cho nên nhà vua đặt tháp ấy là Sùng Thiện Diên
Linh”.
Sự đồ sộ, uy nghi, cũng như các chi tiết mềm mại, nhu nhuyến trong kiến
trúc chùa tháp nói lên tính cách con người Đại Việt. Suy cho cùng, mục
đích tối thượng mà triều đại nhà Lý thiết lập trong tâm thức mỗi người
dân là ý thức độc lập tự chủ trong mọi hoàn cảnh lịch sử.
Như vậy, quan điểm của vua Lý Nhân Tông về vấn đề xây chùa, dựng tháp
chính là biểu thị sức mạnh đoàn kết toàn dân, khai phóng trí tuệ đời
sống văn hóa Đại Việt. Theo các tài liệu sử ghi, trong 50 năm cầm quyền,
ông đã hơn 18 lần làm chùa và tổ chức lễ hội. Cứ mỗi lần xây xong, toàn
dân tự nguyện cùng nhà nước tổ chức lễ khánh thành, dân chúng an vui vì
có thêm một trung tâm văn hóa giáo dục – đào tạo ra mẫu người yêu nước
thương dân, giàu lòng phụng đạo. Trên hết, chùa còn là cơ sở để toàn dân
trấn giữ đế đô vương triều, bảo vệ chủ quyền dân tộc. Phạm Sư Mạnh đã
từng ca ngợi trong Văn bia tháp Báo Thiên ở kinh đô Thăng Long như sau:
“Trấn áp đông tây củng đế đô
Khuy nhiên nhất tháp độc nguy nguy
Sơn hà bất động kình thiên trụ
Kim cổ nam ma lập địa chùy”.
(Trấn áp Đông Tây giữ đế đô
Ngang nhiên ngọn tháp vút lên nhô
Non sông giữ vững taytrời chống
Nạp xửa khôn tiêu đất cắm vồ) (11).
Vì thế, mỗi người dân đều được hưởng trọn phúc lành nhiệm mầu từ chất
liệu từ bi giải thoát của Đức Từ phụ. Vậy nên, khi đất nước có chiến
tranh, nhờ thấm nhuần giáo lý nhà Phật mà người dân đã từ bỏ hận thù cá
nhân để sống gần gũi, yêu thương nhau, cùng nhau chia sẻ, cùng nhau tham
gia đóng góp vào việc công ích, không phân biệt hoàng thân quốc thích
hay nhân dân lao động nghèo khổ:
“Hương trầm khói tỏa quanh
Gấm vóc khoe xuân sắc
Phúc lành khắp chúng sinh
Gông cùm và tù ngục
Phá bỏ, đời thanh bình”
Đúng như lời nhận định của nhà nghiên cứu Chu Quang Trứ: “Chùa tháp thời
Lý là kiến trúc Phật giáo sớm nhất hiện còn dấu tích trên mặt đất và thư
tịch. Nó khẳng định một giá trị nghệ thuật dân tộc đặc sắc Phật giáo
Việt Nam và của thời đại, xứng đáng mở đầu văn minh Đại Việt và bằng sức
lao động sáng tạo của cả dân tộc có trình độ thẩm mỹ cao” (12).
Có thể nói, dưới triều Lý Nhân Tông, Phật giáo và dân tộc là một thể
thống nhất bất khả phân ly. Sách lược mà vua Lý Nhân Tông vạch ra đáp
ứng nhu cầu lịch sử của đất nước trong thời đại xây dựng và phát triển
nước Đại Việt hùng cường độc lập tự chủ trên mọi lĩnh vực.
Tóm lại, việc tiếp nhận một tác phẩm văn học có giá trị về nghệ thuật là
tiếp nhận một thông điệp mang lại sự vận hành với xu hướng đi lên tất
yếu của lịch sử. Tính thẩm mỹ của tư tưởng phần nào giúp con người nhận
ra chân lý cuộc đời. Nó hóa hiện giữa cuộc đời cho tất cả những ai biết
thực thi bằng cả tấm lòng hướng thượng. Đại Việt quốc đương gia đệ tứ đế
Sùng Thiện Diên Linh tháp bi của Thượng thư Nguyễn Công Bật, cho đến tận
bây giờ không chỉ là bài ca về hào khí dân tộc một thời an thịnh mà còn
có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc phát triển đất nước thời đại
ngày nay. Hầu hết giá trị trong cuộc đời có mặt khi giá trị tâm thức con
người hiện hữu. Phật giáo xây dựng con người bắt nguồn từ việc xây dựng
tâm thức con người. Một tâm thức trong sáng, một trí tuệ cao cả, một tấm
lòng biết yêu thương thì lo gì con người đó không an bình thăng tiến,
nhà nhà thịnh vượng, xã hội hạnh phúc bền vững. Nhà Lý ngự trị hơn 200
năm trong lịch sử nước nhà, thiết nghĩ là nhờ vậy.
(1) Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, NXB Khoa Học Xã
Hội, Hà Nội, 1998, trang 242
(2) Nguyễn Đăng Thục, Khái quát tư tưởng nhà Lý,
tạp chí Vạn Hạnh số 1, 1965.
(3) Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, NXB
TP.HCM, 2002, trang 278.
(4) Chu Quang Trứ, Mỹ thuật Phật giáo là tiêu biểu
của mỹ thuật của dân tộc thời Lý và Trần. Tập Văn Thành Đạo, số 17, Ban
Văn hóa Trung ương – GHPGVN xuất bản, 1990, trang 60.
(5) Chu Quang Trứ, Mỹ thuật Phật giáo là tiêu biểu
của mỹ thuật của dân tộc thời Lý và Trần, Tập Văn Thành Đạo số 17, Ban
Văn hóa Trung ương – GHPGVN xuất bản, 1990, trang 61.
(6) Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập
III, NXB TP.HCM, 2002, trang 279.
(7) Nguyễn Phạm Hùng, Trên hành trình văn học trung
đại, NXB Đại Học Quốc Gia, Hà Nội, 2001, trang 122-123.
(8) Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, NXB Khoa Học Xã
Hội, Hà Nội, 1998, trang 276.
(9) Thơ văn Lý Trần, tập I, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà
Nội, 1977, trang 432.
(10) Nguyễn Đăng Thục, Phật giáo Việt Nam, Mặt Đất,
1974, trang 302.
(11) Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập
III, NXB TP.HCM, 2002, trang 330.
(12) Chu Quang Trứ, Ngôi chùa kiến trúc thời Lý,
dẫn theo Tập Văn Thành Đạo, PL. 2532, trang 50.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, NXB KHXH, Hà
Nội, 1998, trang 242.
2. Nguyễn Đăng Thục, Khái quát tư tưởng nhà Lý, TC
Vạn Hạnh, số 1, 1965.
3. Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập
III, NXB TP.HCM, 2002, trang 278.
4, 5 Chu Quang Trứ, Mỹ thuật Phật giáo là tiêu
biểu... Tập Văn Thành Đạo, số 17, Ban Văn hóa TƯ GHPGVN, 1990, trang 60
- 61.