Tấm lòng rộng mở
THUẦN
HÓA TÂM HỒN
Nguyên tác:
Taming the Monkey Mind
Tác giả:
Thupten Chodron
Dịch giả:
Thích Minh Thành
---o0o---
Lời nói đầu
^
Tác phẩm "Thuần Hoá Tâm Hồn" hay "Cẩm Nang Ðạo Ðức Hằng Ngày của Người
Phật Tử" do Tỷ-kheo-ni Thupten Chodron biên soạn mang tựa đề "Taming the
Monkey Mind" đã được đánh giá là quyển sách dành cho tất cả mọi người muốn
hiểu sâu sắc tâm hồn của mình. Tất cả các sự vật có mặt trên trần gian này
đều do tâm thức của chúng ta tạo tác ra. Tâm thức của chúng ta là vô tận,
vô biên và vô lượng. Trở về nguồn cội uyên nguyên của tâm thức có nghĩa là
nhận ra được bản chất của chân như tánh.
Xuất phát từ một nhận thức có tính thuyết phục về đạo Phật, quyển "Thuần
Hoá Tâm Hồn" được viết với một văn phong hiện đại, trong sáng và tinh tế;
nghiêm trang nhưng vẫn đan xen đôi nét hóm hỉnh. Cách lập ngôn của tác giả
có tính cách gợi ý và sinh động, đã dành cho người đọc một khoảng trời tự
do rộng rãi để tự mình chiêm nghiệm, tự mình nhận định, chọn lọc và hành
động theo cách riêng của mình.
Thông thường những quyển sách giảng giải về giáo lý đều không thể tránh
khỏi một vài nhược điểm, như chỉ trình bày giáo nghĩa của một tông phái
nào đó mà bỏ qua giáo nghĩa của những tông phái khác. Trong tác phẩm
"Thuần Hoá Tâm Hồn" chúng ta có thể thấy những điểm như vậy không nhiều và
cũng không đụng chạm đến những tư tưởng có tính chủ đạo. Tác giả trình bày
khá cân đối về tất cả những pháp môn hay những tông phái chính. Dẫu sao
thì tác giả cũng phải chọn một truyền thống hay một pháp môn cụ thể nào đó
để tự hành trì tu tập và dùng kinh nghiệm thâm hậu đó làm nền tảng kiến
thức để trình bày cho chúng ta.
Hơn nữa, ưu điểm của quyển sách này là đã diễn giải được những ý tưởng cốt
lõi của đạo Phật về tâm thức và về đời sống của con người, đồng thời nêu
ra phương pháp vận dụng những ý tưởng đó vào việc tu tập bản thân, vào
những mối quan hệ cụ thể trong xã hội, với bạn bè, với gia đình và đồng
nghiệp. Như vậy quyển sách đã đề cập đến những vấn đề rất thiết thực trong
cuộc sống hiện đại, trong một thế giới mà mật độ dân cư càng lúc càng dầy
đặc; giá trị hiện thực của quyển sách hiển lộ rõ ràng ở đây.
Có
hai chương sách bàn về những vấn đề rất nhạy cảm, rất tế nhị, đặc biệt là
đối với nền văn hóa Ðông phương đó là vấn đề tình yêu, tính dục và hôn
nhân theo quan điểm của đạo Phật. Thông thường thì người dịch nên tránh né
đi cho "an toàn" nhưng vì muốn cung cấp thêm kiến giải cho những người
Phật tử còn trẻ tuổi, còn sống giữa "trần đời" nên người dịch bạo dạn giữ
lại hai chương này.
Mật Tông Phật giáo là một dòng truyền thừa đặc biệt của Phật giáo đã có
mặt ở Việt Nam từ rất lâu nhưng không phổ biến, vì vậy mà quần chúng dễ
dàng có cái nhìn phiến diện, sai lầm về tông phái này. Quyển "Thuần Hoá
Tâm Hồn" góp phần làm sáng tỏ một số nét thể hiện căn bản cũng như nền
tảng triết lý của Mật Tông. Ðiều thú vị là tác giả đã nêu được mối liên hệ
gắn bó giữa hình thức hành trì và nội dung tông chỉ của Mật Tông, trái
ngược với sự hiểu biết chung chung và thô thiển rằng Mật Tông chú trọng
đến thần quyền, chú thuật và những mật pháp bí ẩn...
Tác giả đã bàn thảo những vấn đề của thời đại với một cách nhìn khoáng
đạt, nhẹ nhàng, chính nhờ đó mà quyển "Thuần Hoá Tâm Hồn" không chỉ phù
hợp với hầu hết những người Phật tử dù thuộc về sơn môn nào, mà còn dành
cho tất cả mọi người, mọi giới.
Nơi đây, người dịch xin được trân trọng những lời khích lệ và sự quan tâm
giúp đỡ của nhiều vị ân nhân. Cũng xin được ghi nhận công sức đóng góp của
cư sĩ Tiểu Thanh Thiên trong việc ủng hộ tài chánh; cư sĩ Phan Cát Tâm và
cư sĩ Tâm Thủy trong việc tỉ mỉ đọc lại bản thảo.
Trong quá trình chuyển ngữ, người dịch cố gắng trung thành với những ý
tưởng trong nguyên tác nhưng vẫn hướng đến việc tạo nên một dịch phẩm
tiếng Việt dễ hiểu và hấp dẫn. Tuy nhiên, ở một số đoạn người dịch vẫn
chưa đạt được như ý muốn. Rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý độc
giả.
Người dịch
cẩn bút
Thích Minh Thành
Phần Một
NHỮNG MỐI QUAN HỆ CỦA CHÚNG TA
I. CHA MẸ
ĐỐI VỚI CON CÁI
^
Gần gũi và rộng lượng
Mối quan hệ giữa cha mẹ và con
cái là mối quan hệ thiêng liêng nhất, quý giá nhất vì chính nhờ vào tình
thương của cha mẹ mà con cái được sinh ra và
lớn khôn. Ðây là một trong những mối quan hệ có nhiều biến chuyển, nhiều
thay đổi nhất vì mối quan hệ này trải
qua một thời gian rất dài, trong khoảng thời gian
đó, người cha, người mẹ và những người
con đã sống qua nhiều giai
đoạn khác nhau của một đời người. Vì
vậy cả hai phía đều phải nhạy bén đối với
những biến chuyển đang xảy ra trong người thân của mình
để chấp nhận và ủng hộ.
Hiện nay hạn chế sinh
đẻ là chuyện dễ dàng vì vậy mà những
cặp vợ chồng có thể kế hoạch hóa gia đình.
Sau khi kết hôn, hai vợ chồng hãy chờ đợi cho
đến khi khả năng tài chánh của gia đình
vững vàng thì mới nên có con. Tuy nhiên trong trường hợp bất ngờ người vợ
có thai ngoài dự tính thì hãy đón mừng đứa hài
nhi, mong rằng đứa con sẽ có một đời sống
hạnh phúc của một con người.
Ðức Phật dạy cư sĩ Thiện Sanh:
Có 5 điều mà cha mẹ nên thực hiện
đối với con cái:
- Can ngăn
con cái không cho làm những việc quấy ác.
- Tập cho con cái làm những việc thiện lành.
- Trang bị cho con cái nghề nghiệp và học thức.
- Cưới gả con cái một cách thích đáng.
- Khi đúng thời thì trao cho con cái của thừa tự.
Cha mẹ hãy can ngăn
con cái, đừng để cho chúng làm những việc có hại cho nó hay có hại
cho người khác. Cha mẹ nên khích lệ con cái san sẻ những gì mà chúng có
với những người khác và đối xử tốt với mọi
người. Nếu con cái được nuôi dạy theo hướng đạo đức thiện lành thì
chúng sẽ trở thành những người trưởng thành có nhiều hạnh phúc và có mối
quan hệ thân thiện với mọi người. Nếu con cái không
được nuôi dạy để trở nên người có
đạo đức và biết sống hạnh phúc, thì dù
có thành đạt đi chăng nữa, đời sống của chúng
cũng gặp nhiều khó khăn, đau khổ.
Cha mẹ phải là những tấm gương
cho con cái. Câu sáo ngữ: "Hãy làm theo những
điều tôi nói, đừng làm theo những gì
tôi làm" thường được dùng
để bào chữa cho những người cha hay
những người mẹ làm những điều mà họ
đã cấm cản con cái của họ làm. Thật ra
những hành động của con cái là bản sao
những hành động của cha mẹ. Vì vậy nếu
cha mẹ gian dối hay đạo đức giả thì có
nghĩa là cha mẹ dạy cho con cái của mình hãy sống gian dối và
đạo đức giả. Muốn giúp cho con cái trở thành
người tốt thì cha mẹ phải sống đời đạo đức và
đối xử tốt với mọi người.
Ðể giúp cho trẻ con phát triển
được những tính tốt, cha mẹ cần phải vui sống
với chúng. Mặc dầu cả cha lẫn mẹ cần phải làm việc
để mưu sinh nhưng không nên trở thành
những người quá ‘tham công tiếc việc’. Làm việc ngoài giờ
để kiếm thêm thu nhập thì có vẻ hấp
dẫn, nhưng nếu số tiền đó phải dùng
để trả cho những chuyên viên tư vấn về
khủng hoảng tâm lý cho trẻ con, và căn gốc
của sự khủng hoảng là vì chúng cảm thấy không
được cha mẹ thương yêu, thì số tiền
kiếm thêm ấy có nghĩa lý gì? Tương tự như vậy, nếu cha mẹ làm việc quá sức
và chính bản thân cha mẹ cảm thấy bị căng
thẳng về tâm lý, suy giảm sức khỏe và số tiền kiếm
được kia còn phải dùng
để mua thuốc an thần, thuốc ngủ, thuốc giảm
đau, hoặc là để trả cho việc trị bệnh
ung bướu hay bệnh tim mạch, thì số tiền kiếm thêm ấy có nghĩa lý
gì? Tương tự như vậy, nếu cha mẹ phải dùng số tiền kiếm thêm kia
để đi nghỉ mát mà không mang con trẻ
đi theo vì sợ chúng quấy nhiễu thì còn
đâu không khí đầm ấm và hạnh phúc của
gia đình. Làm việc quá sức là tự
đánh gục mình và sẽ ngã quỵ trên con
đường xây dựng hạnh phúc.
Hơn nữa, những
đứa trẻ ngày nay thiếu mất tình thương
và sự trìu mến từ cha mẹ. Ngay cả khi cha mẹ trả hết mọi phí khoản cho con
trẻ học nhạc, học nghệ thuật, tham gia những hoạt
động thể thao mà nếu
đứa trẻ không cảm thấy được thương yêu
thì tất cả những thứ đó đều không thể làm
cho chúng trở nên những người trưởng thành có hạnh phúc. Xã hội Tây phương
đang phải chứng kiến trước mắt sự gia tăng
đáng sợ của tội ác, nghiện ngập, ly dị và trẻ con phạm pháp. Không
ít nguyên nhân của sự gia tăng đáng sợ trên
là do cấu trúc của gia đình bị
đổ vỡ và cha mẹ
đã không dành
đủ thời giờ vui sống với con trẻ. Hy vọng là
những xã hội Á châu đang hiện đại hóa ngày
nay học được những bài học sai lầm của
Tây Âu để có thể khỏi phải đến phiên
mình phải mục kích trước mắt những hậu quả
đáng tiếc trên. Kiếm được tiền với giá
là gia đình không
đầm ấm thì quả là một vấn
đề phải suy nghĩ.
Cha mẹ nên tận lực lo cho con
ăn học nhưng tất cả phải phù hợp với
khả năng và sở thích của nó. Nếu một
đứa trẻ không có khả năng và
đam mê âm nhạc thì tại sao cha mẹ lại
bắt buộc chúng phải học những gì mà chúng không yêu thích. Ngược lại, nếu
một đứa trẻ có thiên phú và ham thích
địa chất học thì cha mẹ nên khích lệ
nó theo ngành địa chất.
Trong xã hội hiện
đại, ngay từ tuổi ấu thơ trẻ con đã
phải chịu áp lực của việc học hành, chúng phải học thật nhiều và cố gắng
tối đa để trở thành học sinh giỏi
nhất, đạt thành tích tốt nhất. Ðiều
này đã tạo ra nhiều vấn
đề bất ổn về tâm lý vì trẻ con rất
cần thời giờ để chỉ là trẻ con và
để chơi đùa. Chúng nó cần phải có
được điều kiện khám phá những công việc mới
lạ mà không bị so hơn so kém với đứa
khác và được học mà không phải
làm những bài kiểm tra để bị chấm điểm, để có
danh hiệu này danh hiệu nọ. Con trẻ
được thương yêu vì con trẻ là con trẻ, như thế là như thế; chớ
không phải con trẻ được cha mẹ thương yêu
vì chúng đã phải làm
được điều tốt nhất.
Trong xã hội ngày nay cha mẹ
không phải quan tâm sắp xếp việc hôn phối của con cái như ngày xưa nữa.
Ngày xưa thì công việc làm ăn của gia đình
được chuyển giao cho con cái khi con cái có
đủ năng lực quản lý; ngày nay thì không nhất thiết phải như vậy.
Tuy nhiên, tôi thiết nghĩ rằng, trong xã hội ngày nay, cha mẹ nên cung ứng
những điều kiện vật chất và thể chất
tốt nhất theo khả năng cao nhất của mình.
Cha mẹ nên quan tâm
đến những nhu cầu vật chất và thể chất
của trẻ con một cách thực tiễn. Dĩ nhiên, cha mẹ không thể nào thỏa mãn
mọi yêu cầu của chúng, vượt quá khả năng tài
chánh của mình. Ðáp ứng mọi thứ mà trẻ con muốn chưa hẳn là có lợi cho
chúng mà nhiều khi còn làm cho trẻ con trở thành những
đứa con đua đòi, ỷ lại. Khi những thứ
mà trẻ con ham muốn mà cha mẹ không đáp ứng
được thì họ có thể giải thích là những thứ
đó quá đắt tiền hoặc những thứ đó là
không có bán. Rất ích lợi cho trẻ con nếu cha mẹ dạy cho trẻ con hiểu rằng
dầu cho trẻ con có được những thứ đó thì
chưa chắc chúng có được hạnh phúc hoàn
toàn; và nếu như trẻ con cứ ‘làm dữ’ thì tình trạng của chúng sẽ trở nên
tệ hại hơn nữa. Cha mẹ nên giải thích cho trẻ con sự lợi lạc của việc san
sẻ những vật chất mà chúng có với những người khác.
Qua việc giúp
đỡ trẻ con thích ứng với những ước mong không
được thỏa mãn của chúng, cha mẹ chỉ bày cho trẻ con thấy
được phương cách để làm cho bản thân
chúng giảm đi tánh hay vướng mắc, ngăn ngừa
trẻ con xem những gì chúng đang hưởng
được là tất nhiên, đồng thời giúp cho
chúng biết suy nghĩ đến những nhu cầu và những ước mong của người
khác. Thường thì tâm hồn trong sáng của trẻ con hiểu nhanh hơn người lớn,
hãy tin điều này. Khi một
điều gì
đó được giải thích với một thái độ trầm tĩnh, có biện chứng và giải
thích nhiều lần với những minh họa cụ thể đặt
trong nhiều tình huống khác nhau, trẻ con sẽ hiểu.
Trẻ con, một cách vô thức, xây
dựng hình tượng của bản thân chúng dựa theo lời mà những người lớn chung
quanh nói về chúng. Nếu trẻ con thường xuyên bị mắng là nghịch ngợm và ngu
ngốc thì nghịch ngợm và ngu ngốc sẽ trở nên một ý niệm về bản thân của
chúng rồi dần dần chúng trở thành nghịch ngợm và ngu ngốc. Vì vậy
điều quan trọng là thường xuyên khen
tặng và nói lời thừa nhận về những điều tốt
đẹp mà chúng đã làm
được.
Khi chỉnh sửa những lầm lỗi của
trẻ con thì cha mẹ nên cố gắng giải thích cho chúng hiểu rõ tại sao những
hành động lầm lỗi như thế là có hại.
Một điều quan trọng nữa là làm sao cho
đứa trẻ nhận ra được là chúng
đã phạm sai lầm và
đồng thời cũng biết rằng tuy là chúng
đã làm
điều có lỗi nhưng điều đó không có nghĩa là chúng
đã trở thành người xấu. Nếu con trẻ
bắt đầu nghĩ rằng bản thân chúng là
xấu - thay vì nghĩ rằng hành động đó là
xấu - thì chúng bắt đầu hình dung ra
một hình tượng xấu của bản thân chúng và phát triển theo chiều hướng xấu
đó.
Ðôi khi
để bắt buộc đứa trẻ phải nghe theo một điều
quan trọng, cha mẹ có thể cần phải nói một cách quyết liệt, nhưng trong lòng
của cha mẹ lúc đó nên tràn ngập lòng
từ ái, chớ không nên có một chút giận dữ. Bằng cách như vậy cha mẹ khiến
cho người con biết rằng hành động đó là
không nên làm thêm một lần nào nữa. Cha mẹ không giận dữ cũng không chối
bỏ con của mình chỉ vì nó đã làm hành
động đó.
Làm cha mẹ có nghĩa là phải
bước đi trên sợi dây thăng
bằng giữa hai cực đoan đối nghịch nhau. Một bên là quan tâm săn
sóc quá độ và bên kia là bỏ quên chúng
đi, không chịu hướng dẫn chúng những điều mà chúng cần
được hướng dẫn, không chịu giúp chúng những
khi mà chúng cần được giúp đỡ.
Ðể có thể tránh được cực đoan thứ nhất, tránh
được thái độ chấp mắc và xem con cái là sở hữu thì làm cha mẹ phải
nhớ rằng con cái không phải là vật sở hữu hay là tài sản của họ. Con cái
là những con người có cá tính và đầy đủ nhân
vị; chúng đang hình thành nhân cách riêng và có quyền có những ý
kiến và những quyết định theo ý nghĩ của
riêng chúng.
Qua việc chấp giữ con của mình
quá độ, cha mẹ đã tạo nên một hoàn
cảnh mà bản thân cha mẹ sẽ không có hạnh phúc vì rằng làm sao mà
đứa con đó có thể luôn luôn ở bên cạnh
cha mẹ được khi mỗi ngày nó mỗi lớn
lên. Với sự chấp giữ như vậy thì khi mà đứa
con lớn khôn và có nhu cầu độc lập cao
hơn thì cha mẹ sẽ cảm thấy khó chịu vì họ bắt
đầu không còn có thể gần gũi và kiểm
soát chặt chẽ được những hành vi của
người con nữa. Lúc đó, cha mẹ bị bắt buộc
phải để cho bản thân đứa con tự quyết định nhiều việc.
Nhiều bậc cha mẹ cứ nói
đi nói lại mãi
điều mà con cái nên làm và
điều mà chúng không nên làm nhưng
không hề có ý định giải thích hay thảo luận
với chúng tại sao phải làm và tại sao không
được làm như vậy. Họ chỉ muốn con cái
tuân theo lời họ đã bảo. Thật ra cũng
có trường hợp làm như vậy là đúng. Ðặc
biệt là trong trường hợp sinh mạng của đứa
trẻ bị đe dọa và đứa trẻ chưa có đủ
nhận thức và khả năng quyết định đúng
đắn.
Tuy nhiên cứ mãi bảo ban
điều phải làm và
điều không được làm mà không chịu giải
thích thì không giúp cho đứa trẻ phát triển
khả năng phán xét. Và điều đó cũng
không giúp cho đứa trẻ trở nên dạn dĩ hơn khi bàn bạc những vấn
đề khó khăn của chúng với cha mẹ để có được
những lời khuyên thích đáng. Trẻ con
cảm thấy thân mật với cha mẹ khi nào cha mẹ tỏ ra chịu lắng nghe,
cố gắng thấu hiểu chi tiết những điều chúng
muốn nói, và chịu bàn luận với chúng. Khi cha mẹ chịu khó giải
thích cho đứa trẻ biết tại sao hành
động như vậy là có hại và tại sao hành
động như thế là có lợi ích thì
đứa trẻ sẽ phát triển khả năng phán định để
có những quyết định thích đáng khi trưởng thành. Làm
được như vậy là giúp trẻ con biết suy
nghĩ một cách rõ ràng minh bạch và có những hành
động tốt đẹp. Sau một thời gian rèn
tập cho chúng biết suy nghĩ chín chắn, cha mẹ sẽ cảm thấy yên tâm và
đặt niềm tin tưởng nơi chúng. Do đó, giải
quyết được vấn đề "tranh giành quyền lực" trong gia
đình, một việc rất thường xảy ra ở lứa
tuổi 13 - 19.
Cha mẹ không thể nào làm cho
đứa con của họ thành một
đứa bé lý tưởng theo như trí óc của họ đã
hình dung ra. Mỗi đứa trẻ có những thiên
tư riêng, và những thiên tư đặc biệt này
tương ứng hoặc không tương ứng với điều mà
cha mẹ mong muốn nơi chúng. Cha mẹ không có thể mong mõi
đứa con sống theo mơ ước riêng của cha
mẹ. Là người hướng dẫn cho đứa con chọn nghề
nghiệp, người hôn phối và những trò tiêu khiển thì cha mẹ phải
để tâm tới những điều mà
đứa trẻ ham thích chớ không phải những điều mà
bản thân cha mẹ ham thích. Những bậc cha mẹ sáng suốt chấp nhận những
đứa con của họ như thế và
đồng thời giúp chúng phát triển thuận theo
những năng lực và khuynh hướng riêng của chúng.
Một cực
đoan khác là quên
đứa trẻ đi. Quả thật là không may,
trong một xã hội bận rộn hiện đại điều này
xảy ra rất thường xuyên. Nhiều khi để cung
cấp cho trẻ con thật đầy đủ về mặt vật chất, cha mẹ đã phải làm
việc nhiều đến nỗi không có thời gian dành
cho con cái, cũng không có thời gian để biểu
lộ sự thương yêu hay hướng dẫn những
điều mà chúng nó đang cần. Cha mẹ cần
phải sắp xếp thời gian cho thích đáng. Tốt hơn là làm việc ít hơn
một chút để có một gia đình
đầm ấm hơn.
Làm cha mẹ là một
điều có nhiều thử thách và có thể làm
cho phong phú thêm việc tu tập theo Chánh pháp. Những bài giáo lý về vô
thường rõ ràng và thấm thía hơn khi những đứa
con chuyển biến, lớn dần lên. Sự bất lợi của cơn giận dữ và tầm
quan trọng của lòng kiên nhẫn bây giờ đã
trở nên rõ ràng trong những lần cha mẹ đánh
mất mình trong cơn giận rồi cảm thấy bất lực
đối với đứa con mà mình muốn giúp
đỡ. Một lóe sáng về tình thương rộng
lớn đối với tất cả mọi sinh linh những khi mà
cha mẹ nghĩ đến việc thương yêu mọi
người như thương yêu chính con ruột của mình. Với việc tu tập chánh niệm
cả cha mẹ lẫn con cái có thể cùng tiến bộ với nhau trong việc phát triển
nhân cách.
Hiểu biết cha mẹ của chúng ta
Ngày nay, vấn
đề "Trách nhiệm của con cái
đối với cha mẹ" là một vấn
đề tế nhị. Trong xã hội nơi mà cấu
trúc gia đình
đang bị suy thoái, nhiều người con đã
quên đi nghĩa vụ giúp đỡ cho cha mẹ. Nhiều
trường hợp cha mẹ cứ mải mê tìm cách làm thỏa mãn những mong ước và
những nhu cầu của con cái, nên con cái đã
xem lòng tốt này như là một cái gì tất nhiên và cứ
đòi hỏi cha mẹ mọi thứ trên
đời. Khi mà
đứa trẻ đã có suy nghĩ và hành
động như vậy thì
điều đó không những làm
đau lòng cha mẹ mà còn khiến cho
đứa trẻ cảm thấy lạc lõng và cô
đơn.
Ngành tâm lý học ngày nay
đã nhận thấy rằng những bất an trong
cá tính của một người có nguồn gốc là những sự kiện xảy ra trong thời thơ
ấu. Biết được sự việc nhưng không có nhận
thức sâu sắc, một số người đã oán hận và nghĩ rằng tất cả những vấn
đề khổ sở của họ là do cha mẹ tạo nên.
Ðiều kiện trưởng thành của chúng ta đúng là
đã có một ảnh hưởng quan trọng
đối với chúng ta. Nhưng nếu chúng ta xem cha
mẹ là ngọn nguồn của những khổ sở tức là chúng ta
đang tự mình chấp nhận sống trong
trạng thái tâm lý của một nạn nhân. Chúng ta vướng mắc vào ý nghĩ cho
rằng: "Cha mẹ tôi đã làm như vậy
như vậy nên giờ đây tôi phải khổ sở như thế này"
có nghĩa là chúng ta ngăn cản sự phát triển
của bản thân. Vướng mắc vào ý nghĩ đó
không giúp chúng ta phát triển nhân cách được chút nào cả. Chúng ta
nên tự mình nhận lấy tinh thần trách nhiệm
đối với những sự bất an và những khổ sở mà chúng ta
đang gặp phải trong hiện tại và có
những hành động để điều chỉnh chúng.
Quả thật có những
đứa trẻ đã lớn lên trong những gia
đình tồi tệ, chúng
đã bị bỏ quên hay bị cha mẹ lạm dụng.
Những đứa trẻ này cần phải
được những tấm lòng nhân ái trong xã
hội giúp đỡ để chúng khỏi phải tự nguyền rủa
vì sự có mặt của chúng đã khiến
cho cha mẹ gặp những vấn đề khổ sở. Những đứa
trẻ này cũng không nên đi đến một cực
đoan khác là nguyền rủa cha mẹ, xem đó
là những người đã làm cho chúng
phải khổ sở. Nguyền rủa chỉ làm cho vết thương càng trở nên tồi tệ hơn.
Hiểu biết và tha thứ sẽ có tác dụng chữa lành những vết thương
đó.
Thông thường thì chúng ta rất
giỏi trong việc thấy những lầm lỗi của người khác nhưng chúng ta lại tỏ ra
yếu kém trong việc nhớ lại những phẩm chất và hành vi tốt
đẹp của họ. Ðặc biệt là trường hợp của
cha mẹ. Không cần phải cố gắng cũng có thể thấy và chỉ trích những lầm lỗi
và những hạn chế của cha mẹ chúng ta; không cần phải cố gắng cũng thấy
rằng hiện tại chúng ta đang phải gánh lấy hậu
quả của những lầm lỗi và hạn chế đó.
Khi chúng ta còn nhỏ, cha mẹ của chúng ta có thể
đã làm những việc có tác dụng xấu
đối với chúng ta nhưng trong thâm tâm thì
cha mẹ của chúng ta nghĩ rằng đó là
điều tốt nhất mà họ
đã làm
được cho chúng ta; chúng ta nên nghĩ
đến tình trạng tâm lý bên trong của cha mẹ và hoàn cảnh mà lúc
đó cha mẹ phải sống như thế nào. Suy
nghĩ theo cách này thì chúng ta sẽ hiểu biết và tha thứ, sẽ làm dịu
đi những cơn đau khổ do sự oán hận và
bất bình mang lại.
Nếu chúng ta phàn nàn rằng cha
mẹ của chúng ta không hiểu chúng ta và không chấp nhận chúng ta với những
gì chúng ta đang là, thì chúng ta cũng
nên tự hỏi là chúng ta có hiểu và chấp nhận cha mẹ với những gì cha mẹ
đang là hay không. Cha mẹ với những
lầm lỗi và những điều đáng trách như vậy
không bao giờ có thể giống với hình tượng của bậc cha mẹ mẫu mực mà
chúng ta thường vẽ ra trong trí óc. Làm sao có thể chấp nhận
đem cha mẹ sai lệch đời thường của chúng ta làm
mẫu mực được. Nhưng khi chúng ta có thể chấp
nhận như thế thì chúng ta sẽ trở nên hạnh phúc hơn.
Khi những
đứa trẻ nhớ về những tình thương mà
cha mẹ đã dành cho chúng thì có nhiều
lợi lạc cho đứa trẻ và cho cha mẹ. Cha
mẹ đã tạo nên thân thể của chúng ta và
săn sóc chúng khi còn trong tình trạng
bấp bênh trứng nước. Cha mẹ đã dạy cho
chúng ta bập bẹ từng chữ, từng lời nói ngây ngô
đầu tiên; cha mẹ
đã cho chúng ta
ăn học và chu cấp nhu cầu vật chất
suốt thời gian chúng ta còn thơ ấu. Nếu cha mẹ không săn
sóc cẩn thận thì chúng ta đã bị
đói khát trong nôi và rất có thể là
thân thể của chúng ta không được toàn
vẹn như ngày hôm nay. Khi còn nhỏ, chúng ta cảm thấy không hài lòng khi
chúng ta bị cha mẹ khép vào kỷ luật bởi những lỗi lầm của mình, nhưng nếu
không làm như vậy thì lớn lên chúng ta thành những con người thô bạo và vô
kỷ luật.
Ở
độ tuổi 13 đến 19 những đứa trẻ thường gặp khó khăn trong cuộc sống chung
với cha mẹ. Chúng nó tự thấy bản thân là người lớn và hay ương
ngạnh khi cha mẹ xử sự và xem chúng nó như trẻ nít. Ðối với cha mẹ thì
đứa trẻ ở độ tuổi đó vẫn là con nít và
phải quan tâm bảo bọc. Thật ra trong đôi mắt
của cha mẹ thì ngay cả khi chúng ta 60 tuổi thì chúng ta vẫn là trẻ
nhỏ. Tôi tức cười khi thấy bà nội của tôi bảo cha tôi (một người
đã 65 tuổi) là hãy mang thêm áo khoác
khi ra khỏi nhà, không khéo thì bị cảm lạnh. Nếu chúng ta chấp nhận tình
huống như vậy và nhẫn nại với cha mẹ thì mối quan hệ giữa chúng ta với cha
mẹ sẽ suôn sẻ hơn.
Rất tốt nếu bạn thấy rằng ở
độ tuổi từ 13 đến 19 thì những
đứa trẻ xử sự trước sau không nhất quán.
Nhiều khi chúng đòi hỏi cha mẹ phải làm nhiều việc giúp cho chúng
cứ như là chúng còn quá nhỏ và không thể tự săn
sóc bản thân. Cũng nhiều khi chúng lại muốn cha mẹ xử sự với chúng nó như
là những người lớn thật sự. Trong tình huống như vậy dĩ nhiên là
cha mẹ sẽ thấy bối rối. Phương pháp tốt nhất là hãy
để cho những đứa trẻ ở vào
độ tuổi này tự khẳng
định mình
đã là người lớn; nhưng là người lớn theo hướng phải biểu hiện ra
những đức tính, phải chứng tỏ là người
hữu dụng và có trách nhiệm.
Nhiều khi cha mẹ cảm thấy khó
khăn trong việc tự điều chỉnh bản thân khi
con cái khôn lớn và trở nên độc lập
hơn. Cha mẹ có cảm giác họ trở thành người thừa thãi và bị con cái
lãng quên. Hậu quả là một số cha mẹ bị trầm uất, một số khác thì lại cố
chen vào cuộc sống của con cái. Thay vì tỏ ra bực tức
đối với thái độ của cha mẹ thì con cái
có thể cố gắng thấu hiểu và quan tâm đến
những xúc cảm của cha mẹ. Chúng ta nên nhạy cảm hơn
đối với những nhu cầu tình cảm của cha
mẹ, chúng ta sẽ khẳng định với cha mẹ về tình
thương yêu kính mến của chúng ta mặc dầu càng lúc chúng ta càng trở nên
độc lập.
Ðôi khi cha mẹ của chúng ta
thấy được những nguy hiểm tiềm ẩn mà
chúng ta không thấy; cha mẹ của chúng ta có thể nhìn xa trông rộng trong
khi chúng ta chỉ thấy tình huống nhất thời trước mắt. Trong những trường
hợp này lời khuyên của cha mẹ là sáng suốt. Mặc dầu những lời khuyên của
cha mẹ dường như làm trở ngại cho những ước muốn của chúng ta nhưng thường
khi chúng ta có thể thấy được giá trị của
những lời khuyên đó. Chúng ta đừng nên
có cảm giác rằng sự tự lập của chúng ta bị tổn thương nếu như chúng ta
nghe theo những lời khuyên của cha mẹ. Tốt hơn là chúng ta nhận ra sự sáng
suốt trong đó và tự nguyện nghe theo.
Nếu chúng ta cảm thấy rằng cha
mẹ của chúng ta là vô lý thì chúng ta có thể thảo luận vấn
đề đó với cha mẹ, nhưng trước hết và
có lợi hơn hết là chúng ta hãy tự mình bình tâm lại trước
đã. Vì
đến với cha mẹ với trạng thái tâm lý bực dọc thì chúng ta chỉ làm
cho cha mẹ khó có thể nghe được điều mà
chúng ta muốn trình bày. Thử hỏi chúng ta có chịu nghe những gì một người
dữ dằn, thô bạo nói với chúng ta không?
Ngay cả khi cha mẹ của bạn vô
lý thì bạn cũng nên nhận ra rằng trong thâm tâm cha mẹ vẫn
đang có ý tốt. Cha mẹ của bạn đã hết
lòng hết sức giúp đỡ và hướng dẫn bạn.
Mặc dầu cha mẹ của bạn sai trái nhưng cha mẹ của bạn lúc nào cũng có một ý
muốn mong bạn được đàng hoàng và an
ổn. Cha mẹ của bạn có thể là thiển cận và cứ lo lắng những
điều mà
đối với bạn là vô nghĩa nhưng dù cho khả năng
của cha mẹ có bị giới hạn thế mấy đi nữa thì cha mẹ của bạn cũng có
ý hướng thiện lành. Nếu chúng ta ý thức được
như vậy thì chúng ta sẽ cảm nhận được
tình thương mà cha mẹ đã cho
chúng ta và chúng ta sẽ không lấy những chuyện như vậy làm tức giận. Chúng
ta sẽ cảm thấy biết ơn đối với những quan tâm
của cha mẹ. Hãy mang tâm trạng biết ơn như vậy mỗi khi trình bày
quan điểm của mình cho cha mẹ nghe,
giải thích quan điểm đó theo một cách khéo
léo, nhỏ nhẹ nào đó khiến cho cha mẹ
dễ hiểu và dễ tiếp nhận.
Nên nhớ rằng cha mẹ của chúng
ta cũng đã sống trong những hoàn cảnh
khó khăn và bị hạn chế bởi chính những
quan niệm có sẵn trước đó. Cha mẹ chúng ta đã
phải sống qua một hoàn cảnh xã hội khác xa với hoàn cảnh xã hội mà chúng
ta đang sống bây giờ, vì vậy mà tự
nhiên là họ có những quan niệm khác với những quan niệm của chúng ta. Sinh
ra và lớn lên như thế nên cha mẹ của chúng ta thấy rằng tất cả những quan
niệm đó đều có giá trị; cũng vậy khi sinh ra
và lớn lên như chúng ta đã sinh
ra và lớn lên thì đối với chúng ta những
khung khái niệm và quan điểm của chúng
ta thật là đúng đắn.
Nếu chúng ta chỉ nghĩ về những
khuyết điểm của cha mẹ thì chúng ta sẽ
thấy rằng cha mẹ chúng ta đầy những lỗi lầm.
Suy nghĩ như vậy thì chúng ta đã
quên đi những phẩm tính tốt đẹp của cha mẹ.
Nếu chúng ta nhớ lại những điều tốt đẹp, những sự săn sóc, thương yêu
mà cha mẹ đã cho chúng ta thì chúng ta
sẽ thấy được những phẩm tính tốt đẹp của cha
mẹ và tấm lòng của chúng ta sẽ mở rộng ra. Khi chúng ta không còn
ngang ngạnh và thô bạo thì cha mẹ của chúng ta sẽ lắng nghe những
điều mà chúng ta muốn trình bày.
Ðức Phật dạy cho cư sĩ Thiện
Sanh 5 pháp mà người con phải có đối với cha
mẹ:
- Ủng hộ, bảo vệ và chu cấp
cho cha mẹ những gì cha mẹ cần.
- Thực hiện những nhiệm vụ mà cha mẹ đã ủy thác.
- Bảo vệ danh thơm tiếng tốt của gia đình.
- Hành động và xử trí như thế nào để xứng đáng với gia sản mà cha mẹ
trao lại.
- Nhân danh cha và mẹ mà bố thí cúng dường rồi hồi hướng công
đức cho cha và mẹ.
Sống
đúng đạo nghĩa thì con cái phải thật
lòng chia sẻ những công việc tạp vụ trong nhà và làm việc
để mang lại lợi ích cho cả gia đình.
Vì cha mẹ đã nuôi nấng và dưỡng dục
con cái khi chúng còn thơ ấu nên con cái phải cảm thấy vui lòng khi
đáp đền công ơn cha mẹ khi cha mẹ bệnh hoạn
hay già yếu. Nếu trong hoàn cảnh mà bản thân con cái không thể nào
tự tay săn sóc cha mẹ được thì con cái
phải tìm người thay thế tận tình làm việc này.
Cha mẹ
đã lớn tuổi thì nhiều khi khó tánh
nhưng nếu hiểu được cuộc sống của cha mẹ hiện
tại khổ nhọc như thế nào thì chúng ta sẽ rộng lòng
đối với những điều khó khăn của người mà
mỗi ngày một già hơn. Nếu chúng ta đặt mình
vào hoàn cảnh của người già thì chúng ta sẽ cảm thông và hiểu biết hơn.
Một ngày nào đó chúng ta sẽ già
đi rồi cũng sẽ cần sự giúp đỡ, săn sóc của
con cái.
Ðể
đáp đền phần nào công ơn cao dày của cha mẹ, con cái phải sống một
đời sống hướng đến những giá trị đạo đức mà
cha mẹ đã dạy bảo họ. Con cái nên tự
mình sống đời sống thiện lành nhờ
đó cha mẹ không phải lo âu và hổ thẹn,
không bị xã hội chỉ trích. Làm được như vậy
con cái đã tự làm cho mình xứng đáng
thừa hưởng tài sản mà cha mẹ để lại.
Khi cha mẹ qua
đời thì con cái nên cúng dường và cầu
nguyện rồi hồi hướng những quả phước tốt đẹp
đến với cha mẹ, nhờ đó cha mẹ được phước báu và
được tái sinh vào cõi an lành. Ðiều
tốt nhất có thể làm ngay bây giờ là con cái nên khuyến khích cha mẹ làm
những điều thiện lành có tính cách xây
dựng và tránh những điều quấy ác tội lỗi.
Chúng ta có thể làm tất cả những phương pháp
đã được
đề cập ở trên để tạo nên một
mối quan hệ tốt đẹp với cha mẹ của chúng ta.
II. TÌNH BẠN
^
Chia sẻ và có tấm lòng
Chớ thân cận bạn ác
Chớ thân kẻ tiểu nhân
Hãy thân người bạn lành
Hãy thân bậc thượng nhân. (kinh Pháp Cú, câu78)
Bạn bè của chúng ta ảnh hưởng
đến chúng ta rất nhiều. Vì vậy việc
chọn bạn để kết giao sẽ quyết định đến sự
tiến bộ của chúng ta. Qua kinh nghiệm của chính bản thân, chúng ta có thể
thấy được mức độ tác động của bạn bè
đối với chúng ta như thế nào: Hãy nhớ lại những thời gian mà chúng
ta bị rơi vào tình trạng rối khổ và chiêm nghiệm xem những lúc ấy do chúng
ta kết thân với những người bạn không xứng
đáng nên đã chuốc lấy những
chuyện rối khổ đó như thế nào. Tương
tự như vậy, hãy nhìn lại những hạnh phúc và những hiểu biết mà chúng ta có
được do sự thân cận của chúng ta với những
người bạn có lòng.
Những phẩm chất nào
để nhận biết đó là người bạn tốt?
Những người nào chúng ta nên tránh né? Ðể ngắn gọn chúng tôi xin trình bày
một đoạn trích từ kinh Thiện Sanh nói về tình
bạn. Xem xét từng điểm và suy nghĩ
trong mối liên hệ đến những sự việc cụ thể
trong cuộc đời thì chúng ta sẽ có được
một hiểu biết rõ ràng về những mối quan hệ bè bạn của chúng ta.
Mặc dầu những
điểm sau đây chỉ cho thấy những phẩm cách mà
chúng ta cần xem người bạn của chúng ta có hay không;
điều không kém quan trọng là chúng ta
cũng phải kiểm tra xem bản thân mình có hay không có những phẩm cách này.
Ðây là cách hướng dẫn rất là thực tiễn, nó chỉ cho chúng ta những tính
cách nào tự thân chúng ta cần nên diệt trừ và những phẩm cách nào tự thân
chúng ta cần nên trau dồi. Nhờ vậy những người tốt sẽ tìm
đến chúng ta để cùng làm bạn tốt với
nhau.
Bạn xấu có bốn hạng, những
người này thật ra là kẻ cừu địch giả vờ làm
bạn đó thôi:
(1) Loại bạn
đến với chúng ta tay không và khi
đi thì trong tay phải có. Ðó là những
kẻ:
- Thăm chúng ta với ý định
lấy đi cái gì đó.
- Tặng chúng ta ít thôi và mong muốn nhận lại nhiều.
- Chỉ giúp chúng ta khi bản thân họ đang bị nguy hiểm.
- Liên hệ với chúng ta chỉ vì những động cơ vị kỷ.
(2) Loại bạn
đầu môi chót lưỡi và loại tình bạn
mỏng như cánh chuồn. Ðó là những kẻ:
- Niềm nở rồi hoang phí thời
gian của chúng ta bằng những câu chuyện về quá khứ.
- Niềm nở rồi hoang phí thời gian của chúng ta bằng những câu chuyện về
tương lai.
- Tìm cách đạt được những lợi ích từ chúng ta bằng cách xung phong giúp
đỡ những lúc chúng ta không cần sự giúp đỡ.
- Những khi chúng ta cần giúp đỡ thì họ nêu lên nhiều lý do để thoái
thác và không chịu ra tay.
(3) Loại bạn nịnh hót và giả vờ
quan tâm, săn sóc chúng ta. Ðó là
những kẻ:
- Khích lệ chúng ta khi chúng
ta làm những điều không tốt.
- Ngăn cản chúng ta khi chúng ta làm những điều tốt.
- Ở trước mặt thì khen ngợi chúng ta.
- Ở sau lưng thì chỉ trích chúng ta.
(4) Loại bạn
đưa chúng ta đến chỗ sa đọa. Ðó là
những kẻ:
- Làm người đồng hành với
chúng ta trong các buổi ăn chơi, hút sách.
- Lang thang ngoài phố với chúng ta trong đêm hôm tăm tối.
- Cùng đi xem với chúng ta những buổi biểu diễn không lành mạnh.
- Ði chơi cờ bạc với chúng ta.
Có những quan hệ bằng hữu cởi
mở và thân thiết với những hạng người như trên thì chúng ta sẽ gặp những
khó khăn và rắc rối. Tốt hơn là chúng
ta nên giữ một khoảng cách an toàn nhưng không nên chỉ trích họ. Mặc dầu
có thể cho rằng một hành động nào
đó là không tốt, chúng ta không thể
nói là người đã làm hành
động đó là một người
độc ác, không thể dung thứ. Vẫn có lòng
bi mẫn và có những mong ước tốt đẹp đối với
người đó nhưng chúng ta nhất định không chịu đồng hành vì chúng ta
biết rằng nếu đồng hành với người như
vậy chúng ta sẽ phải đi về một hướng mà
chúng ta không muốn đi.
Cũng theo cách trên Ðức Phật
miêu tả những phẩm chất của người bạn tốt. Ðó là những người mà chúng ta
có thể tin tưởng và nương tựa. Nhờ vào việc kết thân với những người như
vậy chúng ta sẽ có hạnh phúc và sẽ tiến bộ. Ðiều quan trọng không kém việc
tìm những người bạn có những phẩm chất cao thượng là chúng ta cũng phải tự
tu tập những phẩm chất cao thượng nơi tự thân của chúng ta.
Bốn dạng bạn có lòng tốt là:
(1) Người bạn giúp
đỡ chúng ta. Ðó là những người:
- Nhắc nhở mỗi khi chúng ta
cẩu thả hoặc lơ đễnh.
- Bảo vệ tài sản của chúng ta.
- Che chở và an ủi chúng ta trong những lúc chúng ta sợ hãi.
- Giúp đỡ nhiều hơn mức độ mà chúng ta yêu cầu.
(2) Người bạn quan tâm tới
chúng ta trong mọi thăng trầm của cuộc sống.
Ðó là những người:
- Tin cẩn chúng ta.
- Giữ kín những tâm sự riêng tư mà chúng ta đã thố lộ.
- Không bỏ rơi chúng ta khi chúng ta lâm nạn.
- Có thể hy sinh thân mạng cho chúng ta.
(3) Người bạn khích lệ chúng ta
đi theo đường chánh đạo và làm cho
chúng ta trở nên người tốt hơn. Ðó là những người:
- Phản đối khi chúng ta làm
những việc quấy ác.
- Khích lệ khi chúng ta làm những việc lành thiện.
- Tạo điều kiện cho chúng ta nghe những lời dạy hữu ích.
- Chỉ cho chúng ta con đường đi đến hạnh phúc.
(4) Người bạn có lòng bi mẫn và
cảm thông. Ðó là những người:
- Cảm thông cho chúng ta
những khi chúng ta thất bại.
- Hân hoan đối với những thành công và phát đạt của chúng ta mà không
ganh tỵ.
- Phản bác những ai nói xấu chúng ta.
- Tán thưởng những ai nói tốt chúng ta.
Mặc dầu những
điều được trình bày ở trên thì rất sơ
lược và chúng ta có thể có cảm giác rằng đó là
những điều chúng ta đã học từ lâu rồi,
từ khi còn bé; nhưng điều quan trọng là
hãy suy xét lại những mối quan hệ bằng hữu của chúng ta, những hành
động của chúng ta đối với tình bằng
hữu để đánh giá lại mức độ mà chúng ta
đã thực hiện những lời khuyên ở trên
như thế nào rồi. Nhờ vào việc ghi nhớ và áp dụng những lời dạy ở trên vào
những hoàn cảnh cụ thể trong đời sống thì
chúng ta sẽ biết rõ ràng hơn về bản thân của mình và sẽ có
được một định hướng rõ ràng hơn
để tu tiến.
Thương yêu và chấp thủ
Người ta không hiểu làm sao mà
hai lời dạy ngược nhau - lời dạy về không chấp thủ và lời dạy về lòng
thương yêu của Ðức Phật - không bị mâu thuẫn với nhau. Làm sao mà chúng ta
có thể yêu mến một người mà không cảm thấy dính mắc với người ấy?
Không chấp thủ là một trạng
thái thăng bằng của tâm thức nhờ đó chúng ta
không phóng đại lên những phẩm chất của những người mà chúng ta
thương mến. Nhờ một cách nhìn chính xác hơn về người thân mà những vọng
tưởng phi thực tế và cả sự chấp thủ của chúng ta tan dần
đi. Như vậy chúng ta thương yêu người
khác vì họ là họ chớ không phải vì những điều
mà họ đã làm
được cho chúng ta. Tấm lòng không còn
tính chất thiên vị của chúng ta sẽ mở rộng
đến tất cả mọi người, mong rằng mọi người đều có hạnh phúc chỉ vì
mọi người là những con người cụ thể như vậy. Tình cảm ấm áp trước kia chỉ
dành cho một số người nào đó bây giờ có thể
mở rộng cho nhiều người.
Tuy nhiên với những người có
nhiều điểm giống nhau thì dễ dàng trò
chuyện hay trao đổi quan điểm với nhau. Chúng
ta dễ hiểu biết nhau và dễ giúp nhau tiến bộ. Có lẽ chúng ta dành
nhiều thì giờ với những người này hơn là với những người khác. Vì vậy, họ
là bạn của chúng ta mà không cần đến sự vướng
mắc hay chấp thủ. Cần nhắc rằng điểm trọng tâm của tình bạn như vậy
là để cùng nhau tiến bộ chớ không phải
là để làm thỏa mãn những mong muốn vị
kỷ của chúng ta.
Không phải dễ gì mà chúng ta
thoát khỏi thói quen chấp thủ. Vì vậy thoạt
đầu tình bạn của chúng ta là một hợp thể gồm sự chấp thủ và tình
thương yêu chân thật. Nhưng khi chúng ta nhận thức
được rằng sự chấp thủ là lỗi lầm thì
chúng ta sẽ cố gắng loại trừ nó. Sự chấp thủ lúc ấy không còn tạo nên
những rắc rối trong tình bằng hữu giữa chúng ta. Phẩm chất của tình bằng
hữu như vậy sẽ càng lúc càng được nâng cao.
Giúp
đỡ bạn bè
Ðiều quan trọng là chúng ta cần
phải nhạy cảm đối với những nhu cầu và
những mong muốn của bạn. Ðiều này phải gắn liền với việc tôn trọng phẩm
cách riêng của cá nhân người ấy. Chúng ta cũng phải từ bỏ thói quen vị kỷ
và thói quen mệnh lệnh sau mỗi khi làm được
điều gì cho người khác. Ngay khi mà chúng ta suy nghĩ nhiều về tư
lợi và lơ là với lợi ích chung của tình bạn thì những rắc rối bắt
đầu phát sinh.
Ðôi khi chúng ta rơi vào trạng
thái tâm lý "ta được gì? ta
được gì?" và chúng ta nhìn bất cứ
người nào và bất cứ vật gì cũng theo chiều hướng là ta
được gì từ người ấy, vật ấy. Lơ
đễnh hay vô ý thức đối với những tác động tốt
hay xấu của chúng ta đối với người khác nhưng chúng ta lại có ý thức rất
mạnh mẽ đối với những lợi ích hay những tai hại mà người khác có
thể làm cho chúng ta. Thái độ tâm lý như vậy
luôn luôn tạo nên những rắc rối giữa chúng ta với người khác; dù
người khác có tốt cách mấy và làm bao nhiêu việc cho chúng ta thì chúng ta
cũng không cảm thấy thỏa mãn. Chúng ta sẽ trở nên cáu kỉnh, không thỏa mãn
và làm cho mình, cho những người chung quanh trở nên khốn khổ.
Trạng thái tâm lý "ta
được gì? ta
được gì?" trở nên rõ ràng hơn khi
chúng ta bước vào một gian phòng có nhiều người lạ mà ta chưa từng biết
mặt. Khi ấy phải chăng chúng ta thường suy
nghĩ: "Ta cần làm gì để những người
này được lợi lạc? Những người này
cần những gì? Ta có thể giải tỏa được những
đau khổ nào cho họ?" Chúng ta cần trung thực
để nhận ra rằng thông thường thì cách
nhìn vị tha như vậy rất mờ nhạt trong tâm của chúng ta, thay vào
đó chúng ta bị đắm chìm vào những tính
toán: "Ai là người có thể giúp cho mình? Những người này có làm hại và
hạ bệ ta không? Ồ, người trông rất sang trọng
đằng kia sẽ ưa thích ta không?"
Sẽ thú vị nếu chúng ta dừng lại
một phút trước khi bước vào những nơi đang có
nhiều người để quán niệm: "Trong kiếp sống này và trong nhiều
kiếp sống trước, tất cả mọi người đã
có lòng tốt đối với ta. Giờ đây ta có cơ hội
để đối xử tốt lại với họ. Gương mặt của những người này dù có khác
nhau như thế nào đi nữa thì họ
đều giống nhau ở chỗ là nhiều lần họ
cảm thấy bất an và muốn được người khác nhận
ra phẩm chất đích thực của họ. Họ mong muốn được thừa nhận rằng họ là
những cá nhân xứng đáng. Giờ đây ta sẽ sử
dụng thời gian này hiện diện với họ và làm cho họ tất cả những gì
mà ta có thể làm được." Những cảm
giác mà chúng ta có được trong những cuộc
phỏng vấn, trong những buổi tiệc vui và trong những buổi họp mặt sẽ
rất là khác so với những giai đoạn trước đây
nếu chúng ta siêng năng thực tập quán
niệm như thế.
Dần dần chúng ta sẽ hình thành
nên thái độ tâm lý "cho và
cho", tức là thường hay suy nghĩ về những gì mà chúng ta có thể cho
người khác. Khi mà chúng ta có thái độ như
vậy thì những vấn đề khó khăn của
chúng ta sẽ không còn có vẻ to lớn nữa và chúng ta cảm thấy có hạnh
phúc với bất cứ người nào hiện diện với chúng ta. Do
đó, những người khác cảm thấy có hạnh phúc và
mến mộ chúng ta và chúng ta có một sự an vui tận tâm hồn, thấy
đời sống trần gian có nhiều ý nghĩa.
Nhạy cảm
đối với những vui buồn của người khác phải
bao hàm việc ý thức được khi nào
mới nên nói và nên nói chuyện gì. Ðừng có hoang phí thì giờ của người khác
bằng những câu chuyện quàng xiên vô bổ. Ðiều này tưởng chừng như dễ làm
nhưng thật sự không dễ như chúng ta tưởng
đâu. Coi chừng trường hợp chúng ta nghĩ rằng chuyện gì
đó là quan trọng và thú vị trong khi
người kia lại không nghĩ như vậy. Có ý tứ về những tính cách riêng, tư ý
và khuynh hướng của người khác khiến cho con người của chúng ta trở nên
chín chắn hơn.
Trở nên chín chắn và rộng lượng
không nhất thiết có nghĩa là kềm hãm sự phát triển cá nhân của chúng ta
để chỉ làm những
điều mà người khác muốn chúng ta làm
mà thôi. Chúng ta phải nhận ra được sự khác
biệt giữa một bên là thái độ tử tế với
người khác phát xuất từ lòng lân mẫn chân tình
đối với họ và một bên là phủ nhận giá
trị của tự thân chúng ta, làm điều mà
người ta muốn chúng ta làm với mục đích là
được lòng của mọi người. Trước khi
chúng ta có được một tấm lòng lân mẫn,
chúng ta phải có được một tư cách biết tự
trọng.
Mặt khác, lòng tự trọng không
giống tánh vị kỷ. Trong khi lòng tự trọng giúp chúng ta nhận ra
được nhân vị của bản thân chúng ta thì
lòng vị kỷ khiến cho chúng ta đeo đuổi theo
những hạnh phúc của cá nhân mình, xem chúng là quan trọng hơn tất
cả hạnh phúc của người khác. Muốn tìm một
điểm thăng bằng giữa sự tự phủ nhận bản thân và tánh vị kỷ thì hãy
thiết lập lại sự bình đẳng cơ bản của con
người chúng ta với tất cả những người khác: Tất cả đều tìm kiếm
hạnh phúc và tránh xa những rối khổ. Tất cả
đều có những phẩm chất tốt đẹp và những nhược
điểm. Tất cả mọi người trên
đời đều đáng được tôn trọng vì tất cả
mọi người đều là những sinh thể có
linh tánh.
Áp lực trang lứa [*]
Mặc dầu chúng ta thường nghĩ
rằng áp lực của những người cùng một thế hệ hay
đồng song chỉ xảy ra trong giới trẻ, thật ra
nó tác động tới chúng ta bất kể tuổi tác và bất kể là chúng ta kết
giao với ai. Không ai cảm thấy vui vẻ khi bị chê trách hay bị hiểu lầm;
bất cứ ai trong chúng ta đều muốn những người
khác nghĩ tốt về mình. Mặc dầu biết rằng không nên chú ý tới khi có
người diễu cợt hay chỉ trích chúng ta, chúng ta vẫn cảm thấy lo lắng về
những điều mà người kia có thể
đã nói về mình. Ðể ngầm tự bảo vệ,
chúng ta tham gia vào những hoạt động của tập
thể những người cùng trang lứa để tạo
mối dây thân hữu và tránh được sự đối
chọi của số đông.
[*] Áp lực trang lứa
có nghĩa là đông đảo người cùng
độ tuổi với chúng ta đều làm một
điều gì đó và họ yêu cầu chúng ta
làm giống như họ thì chúng ta bị áp lực phải nghe theo để tránh tình
trạng bị cô lập hay bị xem là lập dị hay bị số đông chống đối, ghét bỏ.
Ðó là ý nghĩa của từ ‘áp lực trang lứa’ được dùng ở đây.
Cốt lõi vấn
đề là lòng tự tin của chúng ta. Khi
chúng ta dựa vào lời khen của người khác để
cảm thấy an ổn thì tình trạng tâm lý của chúng ta cứ phải dao
động theo những điều gì mà người ta
khen hay chê. Chúng ta trở nên rất dễ bị tổn thương và rất dễ bị tác
động vì chúng ta không biết rõ chúng
ta nương tựa vào cái gì, tin vào cái gì và có biết rõ
đi nữa thì chúng ta cũng không có
đủ tự tin và dám bộc bạch trước mặt
mọi người.
Chúng ta cần phải suy nghĩ sâu
sắc một sự thật là người ta khen chúng ta tốt thì lời khen ngợi
đó thật ra không làm cho chúng ta tốt,
người ta chê chúng ta xấu thì lời chê bai đó
thật ra cũng chẳng làm cho chúng ta xấu. Khen ngợi và chê bai chỉ
là những ảnh tượng và những tư ý của người khác; chúng không thuộc về
chúng ta. Chúng ta cần phải tự xem xét thái
độ và hành vi mà chúng ta đã
thể hiện để có được một cái nhìn chân
thực về cá nhân của mình. Bằng cách đó chúng
ta có thể tự thẩm định những ưu thế và những nhược
điểm của bản thân.
Nếu một người nào
đó chỉ chính xác được những chỗ yếu kém và
sai lầm của chúng ta thì cũng chẳng có gì phải căng
thẳng. Chuyện đó không khác gì chuyện người ta nói rằng: "Có cái
mũi nằm giữa khuôn mặt của bạn." Thật ra cái mũi
đã nằm đó
tự thuở nào rồi, ai cũng thấy. Cố gắng giấu
đi những sai lầm của mình là
điều sai lầm và vô ích. Khi người nào
đó nói ra sự thật mà ai cũng thấy, thế
mà chúng ta cảm thấy bị xúc phạm thì chúng ta quả thật là vô lý. Việc
đơn giản là thú nhận rằng chúng ta
phạm sai lầm và thành thật xin lỗi, thế thôi.
Ngược lại nếu một người nào
đó diễu cợt rằng có một cái lỗ tai lừa mọc trên
đầu thì chúng ta cũng không nên cảm
thấy là bị xúc phạm vì rõ ràng rằng người đó
phạm sai lầm. Tương tự như vậy, nếu chúng ta bị chỉ trích về một chuyện mà
chúng ta thật sự không có làm hoặc là ai đó
thổi phồng điều sai trái mà chúng ta thật sự có làm ở mức
độ nhỏ hơn thì cũng không cần gì phải
tức giận. Ðiều mà người ấy nói là không đúng,
thế thôi.
Tất cả chúng ta
đều có những phẩm tính tốt đẹp, và
điều quan trọng là hãy phát huy nó.
Tuy nhiên, ngạo mạn về những tài năng và
những thành tựu của chúng ta là phi lý, vì những tài năng
và những thành tựu đó có được là
do lòng tốt của nhiều người. Nếu không ai dạy bảo cũng không ai giúp
đỡ thì chúng ta
đã không thành công như thế. Khi mà
chúng ta có khả năng thừa nhận những sai lầm
của mình mà không bực phiền thì chúng ta cũng có khả năng
tiếp nhận lời khen ngợi mà không kiêu ngạo. Ðức Phật
đã dạy:
Như tảng đá kiên cố,
Không gió nào lay động;
Cũng vậy, giữa khen chê,
Người trí không lay động. (kinh Pháp Cú, câu 81)
Dù cho bị người chê trách hay
được người khen ngợi nếu giữ được sự quân bình
tâm lý thì chúng ta đều có thể đánh giá và
học hỏi từ những điều mà người ta khen
chê. Và nhờ đó chúng ta có được một hình
ảnh thực sự và rõ ràng hơn về bản thân của chúng ta. Ðược như vậy thì
chúng ta sẽ vững vàng hơn trong việc đối phó
với những áp lực trang lứa vô bổ. Một yếu tố khác nữa giúp cho chúng ta thêm
tự tin là chúng ta nhạy bén về những giá trị
đạo đức. Khi nhạy bén về mặt đạo đức thì chúng ta không bị mù mờ và
nhận ra được những tình huống có chứa
mầm mống sa đọa. Và như vậy chúng ta
sẽ không là nạn nhân của những áp lực nguy hại của người khác dù họ là số
đông. Nếu chúng ta suy nghĩ sâu xa về những
điểm ưu thắng và những điểm bại hoại
của một hành động nào
đó thì chúng ta sẽ rạch ròi trong
những quyết định để bảo vệ những giá trị đạo
đức của chúng ta. Ngay cả khi người ta chỉ trích hay bêu riếu chúng
ta vì chúng ta không tham gia vào những hoạt
động không lành mạnh của họ thì trạng thái tâm lý của chúng ta vẫn
vững vàng vì chúng ta biết rằng điều mà
chúng ta đang làm là
đúng đắn. Ðể có
được một sức tự tin vững chắc và có
chiều sâu về những giá trị đạo đức thì
chúng ta phải suy tư và quán xét rất nhiều.
Giãi bày những giận hờn
Ðôi khi chúng ta cần phải giãi
bày những giận hờn đối với bạn bè. Làm
sao chúng ta có thể làm được việc này
một cách tốt đẹp mà không làm nặng nề
bạn bè với những khó khăn, bực dọc và
những cảm giác có hại cho chúng ta. Ðôi khi chúng ta cần phải "Tuôn hết
ra," và một người bạn tốt sẽ là người biết lắng nghe với một tấm lòng
rộng mở và thương yêu.
Trình bày những nỗi khó khăn
của chúng ta cho những người thân yêu nghe thì tốt. Nhưng chẳng tốt
chút nào nếu chúng ta tống một mớ bòng bong những cảm xúc của chúng ta lên
tấm lòng của bạn khiến cho bạn hoang mang và rối mù. Chúng ta cũng chẳng
nên kể lể những khổ sở của chúng ta cho bạn bè chỉ
để họ thông cảm và
đồng ý với chúng ta rằng ai đó đã bất
nhẫn và tệ bạc đối với chúng ta. Làm
như vậy chỉ khiến cho sự tự thương cảm của chúng ta thêm trầm trọng và vấn
đề vẫn còn y nguyên!
Bước
đầu là thừa nhận và chấp nhận rằng
chúng ta có nỗi khổ, có cảm giác buồn khổ hay bị mất
định hướng; bước thứ hai là giải tỏa
chúng. Một trong những phương sách là tìm đến
bạn bè tâm sự để được những lời khuyên
chân thật và có tính cách xây dựng. Chúng ta sẽ
đón nhận những lời bình luận của bạn
bè ngay cả khi bạn bè nói với chúng ta rằng chúng ta
đã phạm sai lầm và chính chúng ta là
người gây nên nỗi khổ đó. Bạn bè giúp
chúng ta bằng cách nói cho chúng ta biết mỗi khi chúng ta thổi phồng câu
chuyện, thổi phồng một chi tiết nào đó, hay
mỗi khi chúng ta cố chấp. Người bạn chân thật sẽ không nói rằng chúng ta
đúng đắn khi sự thật là chúng ta đã
sai lầm và qua đó sẽ giúp chúng ta trong việc
xác định đâu là vấn đề và giải
quyết chúng.
Biết
được giá trị của việc kết giao bằng hữu tốt,
chúng ta sẽ chọn lựa những người bạn có ảnh hưởng tốt đối với chúng ta.
Hơn nữa, chúng ta cũng phải cố gắng làm giảm tối
đa những điều sai quấy của chúng ta và
rèn luyện để thăng tiến những phẩm chất tốt
đẹp để chính chúng ta có thể trở thành người bạn tốt
đối với người khác.
III. ÐỒNG
NGHIỆP VÀ KHÁCH HÀNG
^
Hợp tác trong công việc và hóa
giải những bất đồng
Trong thời gian hạ thủ công phu
với những thiền khóa dũng mãnh nhiệt tâm tinh cần, chúng ta có thể từng
bước tu tập để tiến tới Phật quả, làm
lợi lạc cho vạn loại hàm linh. Nhưng trong cuộc sống bình nhật, chúng ta
cũng phải thực tế đời thường đồng thời làm
phát triển lòng từ bi đối với những người
chung quanh, nhất là đối với những
người làm việc chung với chúng ta. Sống một
đời sống đạo đức, ghi nhận sâu sắc những cố
gắng của họ và hóa giải những bất đồng
là những phương châm có hiệu quả.
Sống một
đời sống đạo đức
Ðời sống
đạo đức là cơ sở dựa trên
đó người ta mới có thể sống chung hòa
bình với nhau và xây dựng được sự nghiệp vững
bền. Người đáng được người khác tin cậy trong công việc làm
ăn thì sẽ
đạt được sự tin tưởng của chủ nhân, sự kính trọng của đồng nghiệp, sự yêu
mến của khách hàng và sự nghiệp của người ấy còn càng lúc càng phát triển.
Nếu chúng ta lấy giá phải chăng, phục vụ tốt
và thành thật với khách hàng thì không những khách hàng sẽ tiếp tục
làm ăn với chúng ta và còn dẫn thêm
mối lại cho chúng ta.
Ngược lại, nếu không quan tâm
đến vấn đề đạo đức và lo làm bất cứ
điều gì
để thỏa mãn mục đích vị kỷ là
kiếm thật nhiều tiền thì chúng ta tự chiêu cảm lấy sự xung
đột và công việc làm
ăn lâu dài bị tổn hại. Trong những năm
gần đây một số nhân vật khét tiếng trong thương trường và chính
trường đã phải
đứng trước vành móng ngựa và bị quần
chúng khinh bỉ. Tính tham tiền và háo danh đã
đưa họ đến tình trạng bị xã hội khinh
ghét, phỉ nhổ và cuối cùng phải tiêu tan sự nghiệp.
Ai cũng ngần ngại và không muốn
làm ăn với người vô đạo đức. Nếu chúng ta nói
dối và gian lận với chủ nhân, với đồng
nghiệp và khách hàng thì tất cả những người ấy sẽ không tin tưởng
và không còn muốn hợp tác với chúng ta nữa. Mặc dầu nhất thời thì chúng ta
có thể thu được nhiều lợi thế và tiền
bạc bằng những phương cách vị kỷ, độc ác
trong việc làm ăn nhưng về lâu về dài
chúng ta sẽ đi đến tình trạng tồi tệ
là: Ban ngày thì công việc làm ăn không còn
suôn sẻ, đêm về thì chúng ta nằm ngủ
với một lương tâm u ám chập chờn. Từ bỏ 10 hành vi tai hại thì ngăn
ngừa được những hậu quả trên.
Cảm nhận sâu sắc những cố gắng
của mọi người
Giúp
đỡ đồng nghiệp và
đánh giá tốt những công việc mà họ
đã làm
được tức là làm cho đồng nghiệp có
hạnh phúc và xây dựng được một tinh
thần đồng cam cộng khổ. Khi người ta thấy rằng những nỗ lực của họ được
ghi nhận thì họ sẽ sốt sắng và nỗ lực hơn nữa. Khi người ta có
điều kiện để biểu đạt ý tưởng riêng
thì họ cảm thấy gắn bó chặt chẽ hơn và lòng trung thành trở nên càng bền
bỉ hơn nữa.
Chúng ta khen ngợi người khác
không phải chỉ vì gia tăng sản lượng! Sự
không thành thật ngay cả trong việc khen ngợi không bao lâu sẽ bị
phát hiện và các mối quan hệ trong công việc sẽ bị suy giảm. Tôn trọng và
cảm nhận tốt về người khác - kể cả những người "cấp dưới" chúng ta về chức
vụ, về bằng cấp... - là chìa khóa để chúng ta
làm phát triển lòng từ bi. Vì vậy chúng ta phải nhớ rằng một người
chủ nhân không thể thành công nếu không có những nhân sự mẫn cán có tinh
thần trách nhiệm; một công ty không thể nào hoạt
động nếu không có nhân viên. Như vậy,
sự thành công có được không phải do bản thân
chúng ta mà là do những sốt sắng và nỗ lực của nhiều người khác.
Những viên chức và công nhân
cũng cần phải thấy được những nỗ lực của
người làm chủ. Phàn nàn và chỉ trích thì thật là chuyện dễ làm; khó
làm hơn là chuyện thừa nhận rằng người kia đã
cố gắng tối đa và nhớ là người
đó là một người bất toàn. Công nhân
nên có thái độ xây dựng khi phản ánh lên
cấp trên những quy chế bất công của công ty
đồng thời công nhân nên nhớ rằng đàm
tiếu sau lưng hay dấy khởi lên một tình trạng bất hòa chỉ làm những vấn
đề thêm phức tạp và rối khổ hơn cho
tất cả mọi người.
Hóa giải những bất
đồng
Chừng nào chúng ta còn sống
trong đời thì chúng ta còn những vấn
đề cần đối mặt và còn những bất
đồng thậm chí những xung đột với người khác
cần phải giải tỏa. Những chuyện đó thách thức năng lực sáng tạo của chúng
ta trong việc trao đổi các ý tưởng khác nhau để có thể giải quyết chúng.
Chúng ta phải làm như thế nào đây?
Trước hết, Ðức Phật khuyên:
Chớ xét lỗi mà người
Ðã phạm hay không phạm
Hãy nhìn điều mà ta
Nên làm hay không làm. (kinh Pháp Cú, câu 50)
Trong việc xây dựng mối quan hệ
tốt với người khác thì cần lưu ý rằng tự bản thân chúng ta có ý thức và có
trách nhiệm về những hành động và thái
độ của chính bản thân thì có hiệu quả
tốt đẹp hơn là mệnh lệnh cho người
khác phải làm như thế này hay như thế kia. Trong thực tế, vô số những vấn
đề rắc rối nảy sinh do chúng ta cứ lo chỉ
trích và đàm tiếu về những sai
quấy của người khác mà không lo xem lại những
điều tự thân chúng ta đã làm. Chỉ bày những lỗi lầm sai quấy của
người khác là chuyện dễ làm và ai cũng ưa làm; còn những lỗi lầm sai quấy
của bản thân thì không ai thích để mắt tới
huống chi là chỉ bày.
Thái
độ đó làm sao có thể mang lại kết quả
mà chúng ta mong muốn. Những khuyết điểm hay
sai lầm của người khác thì chúng ta có thể nhận ra nhưng lại không
có thể sửa chữa được. Ngay cả những sai lầm
của bản thân, chúng ta còn không có khả năng
sửa chữa nếu chúng ta mù tịt về chúng. Ðối với thái
độ và hành
động của người khác chúng ta có thể có tác
động nhất định nhưng không thể nào trực tiếp chế ngự
được chúng vì cá nhân của một con
người mới chính là kẻ chế ngự hành động, lời
nói và suy nghĩ của người đó. Như vậy,
đòi hỏi người khác phải thay đổi là
chuyện phi thực tế. Trong bất cứ một mối quan hệ nào, chúng ta chỉ có thể
bạo quyền đối với chính hành vi của
mình mà thôi; thật ra, việc thực hiện bạo quyền
đối với hành vi của chính mình cũng
không phải là chuyện dễ dàng gì!
Khi những bất
đồng xuất hiện trong sở làm, bước thứ
nhất mà chúng ta có thể làm là tìm hiểu xem trong cái nhìn của người kia
thì sự bất đồng đó nó xảy ra như thế nào.
Việc làm này giúp cho chúng ta hiểu được quan
điểm và cảm tưởng của anh ta hay chị ta và nhờ
đó chúng ta dễ có trạng thái cảm thông chớ
không phải là tức giận. Việc làm này có khi lại giúp chúng ta khám
phá ra rằng vô ý hay cố ý chúng ta đã
làm một điều gì
đó khiến cho người kia cảm thấy bị quấy rầy.
Trường hợp này chúng ta có thể xin lỗi.
Có những người không chịu xin
lỗi vì sợ mất mặt. Nhưng nếu không chịu xin lỗi thì họ chỉ làm tăng
lên sự căng thẳng và những cảm
nghĩ tệ hại mà thôi. Trong thực tế những người nói
được lời xin lỗi là những người có
đảm lực. Không phải vì yếu thế mà xin
lỗi, thật ra nói được lời xin lỗi chính là
vì người đó có đủ sức mạnh của lòng tự
tin và đủ lòng thành tín
để chấp nhận và sửa chữa sai lầm. Chỉ
có những kẻ hèn nhát mới phải giấu giếm lỗi lầm của mình và khăng
khăng không chịu thừa nhận chúng.
Nếu sau khi tìm hiểu, chúng ta
cảm giác rằng chúng ta không có làm điều gì
lầm lỗi thì chúng ta có thể nói trực tiếp với người kia
để giải quyết vấn đề hiểu lầm và bất
mãn. Ðiều này cần phải được làm với
một tâm trạng trầm tĩnh không mảy may bực tức. Trước khi làm chúng ta phải
tự làm mát dịu tâm tư bằng cách áp dụng lời dạy của Ðức Phật về phương
pháp chế ngự tâm sân hận.
Sau
đó chúng ta có thể giãi bày vấn
đề khổ tâm của chúng ta với bạn đồng nghiệp mà
không đổ lỗi hay trách mắng bạn; đổ lỗi hay
trách mắng chỉ làm tình hình tệ hại hơn và
đẩy người kia về hướng đối nghịch phải chống
trả lại. Tốt hơn chúng ta có thể nói rằng: "Khi bạn làm việc
đó thì tôi cảm thấy bực tức vì..."
rồi giải thích tại sao lại cảm thấy bực tức. Bằng cách này chúng ta lấy
lại thế chủ động đối với những cảm giác bực
tức của chúng ta thay vì xem chúng là do lỗi của
đồng nghiệp. Chúng ta giải thích cho đồng
nghiệp của chúng ta biết những hành
động đó của đồng nghiệp đã làm cho chúng ta có cảm giác tổn thương
như thế nào và tại sao chúng ta lại có cảm giác như vậy. Chúng ta có thể
nói thêm rằng: "Tôi cảm thấy rất buồn vì sự tổn thương như vậy, bạn hãy
vui lòng giải thích lý do tại sao mà bạn đã
làm điều đó để cho tôi có thể hiểu được."
Làm như vậy chúng ta
đã tạo cho người kia một
điều kiện để giãi bày quan
điểm. Khi mà người kia "phản hồi" thì
chúng ta phải cố gắng lắng nghe và hiểu được
những gì bạn nói, đừng tìm cách
chen vào. Ðôi khi điều này
đòi hỏi chúng ta một sự kiên nhẫn rất
lớn, vì chúng ta rất muốn chen vào chỗ thuận tiện nhất giữa câu chuyện mà
bạn đang nói để giải thích tại sao sai lầm
của bạn là sai lầm trầm trọng. Hãy kiên nhẫn, cuối cùng thì lắng
nghe với một tấm lòng rộng mở sẽ khiến cho cuộc
đối thoại diễn tiến tốt đẹp.
Trong những trường hợp xung
đột đối chọi, tốt nhất là chúng ta
nghĩ rằng chúng ta và người kia là cùng một phía với nhau, cùng phải
đối phó với vấn đề phải đối chọi với nhau.
Ðừng xem ta và người kia là hai phe
đang chiến đấu với nhau để xem ai thắng ai bại. Chúng ta có thể xem vấn đề
đối chọi là một vấn đề chung cần có sự
hợp tác để giải quyết. Nhờ vậy chúng ta sẽ hợp sức với nhau để tìm
ra một giải pháp có lợi cho cả hai bên.
Ðôi khi chúng ta cảm thấy ganh
tỵ với đồng nghiệp, cảm xúc khó chịu này
có thể được giải quyết bằng cách nhìn
sự thành công của đồng nghiệp từ một chiều
hướng khác. Nếu họ có những phẩm chất, tài năng
hay thời cơ mà chúng ta không có, chúng ta nên vui mừng
đối với sự thành công của họ. Chúng ta
không phải là những người duy nhất tìm kiếm hạnh phúc, những người
đồng nghiệp cũng vậy. Ngoài ra chúng
ta thường nói rằng: "Chẳng phải là tuyệt vời sao, nếu mọi người
đều hạnh phúc!" Bây giờ là lúc
chúng ta phải làm cái cảm giác của chúng ta nhất quán với những lời chúng
ta đã nói. Ðồng nghiệp của chúng ta
đã thành công, như thế thì chúng ta
không cần phải làm gì nữa để họ được hạnh
phúc. Suy nghĩ như vậy chính là nguyên nhân
để vui mừng chớ không phải để khổ sở vì
ganh tỵ. Bằng cách vui mừng đối với sự thành
tựu của người khác cả hai bên đều hạnh phúc!
Tạo nên mối quan hệ có tính
chất xây dựng đối với những người đồng nghiệp
là thực hành Chánh pháp. Ðiều này thử thách chúng ta trong việc
thực hiện việc Chánh pháp hóa tâm hồn: Chánh pháp không chỉ là một mớ hiểu
biết suông mà là một bộ phận trong tính cách của chúng ta. Ðiều này không
những làm cho chúng ta tiến bộ mà còn giúp cho những mối quan hệ mà chúng
ta hiện có trở nên hòa hợp và thân thiện hơn.
IV. CUỘC SỐNG VỢ CHỒNG
^
Giúp nhau phát triển
Tất cả những
điều đã
được nói ở chương trước về việc chọn bạn và cách thức cư xử với bạn
cũng là cách thức mà bạn trai và bạn gái, chồng và vợ
đối xử với nhau trong chương này. Tình
bạn và những cái cùng lo cùng hưởng chung là những yếu tố chủ yếu
để xây dựng nền tảng vững chắc cho mối quan
hệ nam nữ. Thay vì tạo ra một mối quan hệ dựa trên nhục dục hay vật
chất thì vợ chồng có thể tạo ra một mối quan hệ lâu bền và chín chắn hơn.
Ðó là mối quan hệ bạn bè cật ruột, tin tưởng, khích lệ và kiên nhẫn
đối với nhau.
Cần nói thêm rằng không phải
tất cả mọi người đều muốn lập gia đình.
Ðây là một chọn lựa của từng cá nhân tùy theo cá tính và những yếu tố
khác. Nếu một vài người nào đó muốn sống độc
thân thì sống độc thân có thể là
cách tốt nhất để cho người đó được hạnh phúc
và làm được nhiều việc nhất.
Ðời sống hôn nhân không phải dành cho tất cả mọi người.
Phim ảnh và âm nhạc hiện
đại đem đến cho chúng ta những kiểu mẫu lý
tưởng của những mối quan hệ giữa nam và nữ. Nếu xem
đó là chuẩn mực thì
đúng là rắc rối vì chúng ta sẽ tìm
kiếm con người hoàn hảo như được diễn xuất. Lòng
chấp thủ đã khiến cho chúng ta phóng
chiếu những phẩm tính tốt đẹp vào một
người nào đó hoặc đánh giá quá cao những phẩm
tính mà người đó đang có để rồi chúng
ta bị cuốn theo những tình cảm phấn khích và lãng mạn.
Cuối cùng thì sự thật cũng
được phơi bày, hình ảnh mà chúng ta
xây dựng sụp đổ. Ðiều này xảy ra không
phải vì chúng ta hay người kia có làm điều gì
sai lầm mà chỉ vì chúng ta đã xây
những ảo vọng và đã không bao giờ nghĩ
về người kia theo đúng bản chất của họ. Hoặc
là chúng ta đã mơ mộng về một
mối quan hệ hoàn hảo trong đó không hề có
những bất đồng hay mâu thuẫn. Những ảo vọng sai lầm như vậy dễ đưa chúng
ta đến chỗ bị thất vọng về đối tượng của mình mà thôi.
Tốt hơn hết là nên ý thức rằng
người kia có cả những phẩm tính tốt đẹp lẫn
những khuyết điểm và hiểu rằng mối quan hệ mà chúng ta xây dựng sẽ
có những thăng trầm của nó. Có khi hai người
vô cùng khắng khít nhưng cũng lúc có
độ khắng khít giảm dần. Như thế là thuận theo tự nhiên và chúng ta
nên xem đó là quy luật của cuộc sống.
Không người nào có thể làm thỏa
mãn mọi yêu cầu của chúng ta một cách hoàn hảo. Tại sao vậy? Vì người nào
cũng có những giới hạn riêng của người đó; vả
lại, tâm ý của chúng ta cũng luôn luôn thay đổi, rồi những điều mà
chúng ta đòi hỏi nơi người kia cũng
thay đổi theo.
Cũng vậy, không có một người
nào có thể giải quyết tất cả những vấn đề và
những bất an của chúng ta. Chỉ có tự thân chúng ta mới có thể giải quyết
những vấn đề trong cuộc sống bằng cách tu tập
những pháp môn đối trọng thích đáng để tự giải phóng chúng ta khỏi sự sân
hận và tham ái, hẹp lượng và ganh tỵ, tự ty và ngã mạn. Hiểu
được điều này, chúng ta sẽ rèn lòng
kiên nhẫn, tâm tương kính và tấm lòng bao dung,
để có thể làm cho mối quan hệ tiếp tục
phát triển một cách tốt đẹp.
Khi hai người bắt
đầu làm vợ chồng với ý
định là thỏa mãn những ham muốn của
bản thân mình thì mỗi người sẽ xem những ý muốn và những yêu cầu của mình
là quan trọng hơn những ý muốn và những yêu cầu của người kia. Ðó là mở
màn cho một bi kịch, nguyên nhân của tất cả những cuộc cãi vã. Thái
độ ích kỷ này tất nhiên là sẽ
đưa đến tình trạng bế tắc. Mỗi người
đều không chịu tự mình dẹp bỏ những
ham muốn của bản thân. Công việc cần làm lúc này là chế ngự thái
độ tự cưng quý bản thân của mình chớ
không phải là đòi hỏi, bắt buộc người
ấy phải làm như thế này hay thế kia theo ý mình.
Ðời sống vợ chồng là một
điều kiện tốt để thực tập cách biết quý trọng
người kia hơn là chìu chuộng bản thân. Mối quan hệ vợ chồng sẽ trở
nên vững vàng và bền bỉ nếu cả hai người đều
nghĩ rằng mục đích của việc sống chung là
để giúp đỡ nhau và giúp
đỡ những người khác. Nếu một người cảm thấy
phiền não vì một tâm thái nhiễu loạn thì người kia nên an ủi và
khuyến khích người bạn đời của mình
hãy nhìn lại việc đó theo một quan điểm khác.
Nếu hai người đều có thói quen yên lặng tĩnh tọa nhưng sau
đó một người bị phân tán và có nguy cơ
buông bỏ việc tĩnh tọa thì người kia nên nhẹ nhàng khích lệ người này hãy
cố gắng tập trung trở lại để phát triển tâm
linh. Việc ủng hộ và khích lệ nhau sẽ làm cho tình nghĩa vợ chồng
càng ngày càng gắn bó và bền vững hơn.
Kính trọng lẫn nhau là mấu chốt
của đời sống hôn nhân. Sự kính trọng này
phải được biểu lộ qua cách nói chuyện và
cách xử sự mà hai vợ chồng dành cho nhau. Cách nói thiếu chân thực hay có
tính trách mắng không bao giờ mang lại sự hòa thuận cho hai vợ chồng, nói
gì đến việc hành
động thô bạo đối với nhau. Nếu chúng ta cảm
thấy bực bội và đổ trút sự bực bội đó
lên những người thân thì chúng ta đã
làm cho những người thân phải khốn khổ. Ðối với những vấn
đề cần xử sự tế nhị mà lại xử sự thô
bạo hay có thái độ biếm nhẻ, hạ cấp thì
chính chúng ta đã phá hoại hạnh phúc
của gia đình mình.
Nếu chúng ta muốn thể hiện sự
tôn trọng đối với bản thân mình và
đối với người bạn đời của mình thì
trước khi nói một lời nào, một chuyện gì, chúng ta hãy
đắn đo suy nghĩ đến tác dụng của lời nói đó,
của chuyện đó, đối với người bạn đời của mình. Chúng ta cũng biểu
lộ sự tôn trọng của chúng ta qua việc ý tứ
đối với tài sản chung của hai người và cả tài sản riêng của cá nhân
từng người. Nếu người bạn đời của chúng ta có
những thú vui riêng và những việc sinh hoạt riêng mà chúng ta không
tham dự vào, chúng ta cũng đừng nên
phiền lòng. Hãy biết nhận thức rằng người vợ hay người chồng không phải là
một loại của cải hay chỉ là vật sở hữu của chúng ta. Người ấy là một sinh
thể có tánh linh, người ấy muốn tiến bộ về mọi phương diện.
Việc tôn trọng gia quyến của
người bạn đời cũng rất quan trọng. Dầu cho
chúng ta có ưa thích bà con của người bạn
đời hay không, chúng ta cũng phải ăn nói và
xử sự tử tế với những người ấy. Ðiều này không có nghĩa là chúng ta
để họ điều khiển cuộc đời của chúng ta. Họ có
những quan điểm và khuynh hướng khác với chúng ta. Chúng ta vẫn
lắng tai nghe lời khuyên của những người đó và
cám ơn họ đã khuyên bảo nhưng có làm
theo hay không là chuyện khác. Cộc cằn với những người bên vợ hay bên
chồng sẽ làm cho vợ chồng không hòa thuận, trái lại tôn trọng và xem họ là
những người có tánh linh thì rất tốt cho cuộc sống vợ chồng. Khi thấy vợ
hay chồng của chúng ta thương yêu cha mẹ, anh em ruột bên ấy mà chúng ta
tỏ ra ganh tức thì chúng ta chỉ làm cho không khí trong gia
đình căng
thẳng. Tốt hơn, chúng ta nên tôn trọng việc họ thương yêu săn
sóc cho nhau.
Tin yêu lẫn nhau là
điều rất là quan trọng, hai vợ chồng
đều phải góp phần xây dựng sự tin yêu
lẫn nhau qua thái độ quan tâm và có
trách nhiệm trong việc xây dựng hạnh phúc gia
đình. Trong một xã hội mà vai trò của người nam và người nữ
đã có nhiều biến chuyển, hiện nay mỗi
cặp vợ chồng cần phải phân chia bổn phận trong gia
đình một cách
đồng đều, làm cho mỗi người
đều có thể vui vẻ chấp nhận. Mỗi người hoàn
thành tốt phần trách nhiệm của mình và như vậy sẽ làm gia tăng
sự tin yêu lẫn nhau.
Niềm tin yêu còn
được xây dựng qua việc luôn luôn thành
thật với người bạn đời. Muốn thành
thật thì chúng ta nên tránh làm những việc gì mà sau
đó chúng ta phải nói dối để che giấu. Nếu
chúng ta phạm sai lầm thì cứ can đảm
thẳng thắn xin lỗi. Ngược lại nếu người bạn đời xin lỗi thì chúng
ta nên tha thứ và cố gắng đừng để vướng lại
một cảm giác tổn thương nào hay một ý muốn trả
đũa nào cả.
Thêm một cách
để duy trì và cũng cố lòng tin yêu là
trung thành và tiết hạnh. Nếu chúng ta không cảm thấy thỏa mãn và muốn có
thêm một bạn tình khác, chúng ta nên xem xét lại nguồn gốc của việc này.
Phải chăng có điều gì bất ổn trong mối
quan hệ vợ chồng và chúng ta cần phải thảo luận với người bạn
đời để giải tỏa? Hay chỉ vì những cảm
giác thô thiển, cảm giác nhàm chán, hay chúng ta vọng tưởng quá
độ? Trong trường hợp này, chúng ta có
thể tự nhắc nhở mình rằng đối với tình
trạng này nếu chúng ta hành động nông nổi thì
chúng ta chỉ tạo ra không khí u ám và đau khổ
cho chính chúng ta, cho người bạn đời của chúng ta, cho con cái chúng ta và
cho cả người thứ ba kia nữa. Ðiều quan trọng mà chúng ta phải nhớ là hành
động nông nổi của chúng ta sẽ ảnh hưởng tệ
hại như thế nào đối với những người
khác. Hãy quan tâm đến trạng thái an
vui trong tâm hồn của những người thân và xem nhẹ
đi những tập khí trái khoáy của bản thân,
chúng ta sẽ không có những quan hệ bất chính ngoài hôn nhân.
Lòng tin yêu cũng phải
được bồi đắp qua việc điều tiết tài
chánh của gia đình. Mỗi cặp vợ chồng
nên bàn thảo và quyết định phương cách xử lý
tiền bạc. Bất cứ điều gì đã
được hai vợ chồng thỏa thuận thì chúng
ta phải sắp xếp để tuân theo sự thỏa thuận
đó. Phung phí tiền bạc của gia đình cho những vui thú cá nhân hay
cờ bạc, hoặc là tiêu xài nhiều hơn khả năng tài
chánh của gia đình
đều làm tổn thương lòng tin yêu
đối với nhau và tạo nên tình trạng
khốn khổ về tài chánh. Vì vậy người khôn ngoan có trí sẽ tham khảo ý kiến
của người bạn đời trước khi quyết định một
chi tiêu lớn và nếu người bạn đời nhất
thời chưa chịu quyết định thì bạn hãy chờ
đợi. Nếu chúng ta thật lòng yêu thương
và tôn trọng người bạn đời của chúng ta thì
chúng ta sẽ không lấy việc tiêu tiền để biểu
thị rằng quyền của ta lớn hơn quyền của người bạn đời; và chúng ta
cũng không tiêu tiền để thỏa mãn sự
ham thích vị kỷ của chúng ta.
Chúng ta có lập gia
đình hay không là quyền của chúng ta.
Theo Phật giáo, việc lập gia đình
không phải là một việc thiêng liêng, một bổn phận cần phải thực hiện. Việc
có con hay không có con của hai vợ chồng cũng vậy, trong Phật giáo không
hề có sự bắt buộc nào cả. Một cặp vợ chồng có thể muốn có nhiều thì giờ
hơn để thực tập giáo pháp hoặc để tham gia vào
các chương trình xã hội thì hai vợ chồng có thể thỏa thuận với nhau là
không có con. Những cặp vợ chồng khác lại thấy rằng việc có con trong một
mái ấm gia đình là rất quan trọng. Có
con hay không có con, có bao nhiêu người con, tất cả việc ấy là quyền cá
nhân của từng người.
Khi cả cha lẫn mẹ
đều có một quan điểm chung về phương thức
nuôi dạy con cái thì những đứa con sẽ
không bị mù mờ về những gì được phép làm
và những gì không được phép làm. Trẻ
con rất cần được cha mẹ hướng dẫn một cách
nhất quán. Trẻ con cảm thấy rất là lù mù rối óc nếu hành
động của người cha hay người mẹ lúc thì
thế này lúc thì thế khác. Trẻ con sẽ không biết nghe theo ai nếu cha dạy
một đàng mẹ dạy một nẻo; cha thì làm
thế này mẹ lại làm thế kia. Làm như thế sẽ dẫn
đến việc gây gổ giữa hai vợ chồng. Vợ chồng
thường xuyên thảo luận và nói chuyện với nhau một cách thân thiện
sẽ có tác dụng phòng ngừa và giải tỏa những khó khăn
trên.
Cũng có thể là vợ chồng
đã cố gắng giải tỏa sự xung
đột trong một thời gian nhưng họ không thành
công và cảm thấy việc sống với nhau thật là khó khăn.
Việc hôn nhân đối với Phật giáo là việc của thế tục, và vì vậy việc
ly thân hay ly dị cũng là việc thế tục. Phật giáo không hề có một giáo
điều nào ngăn
cấm việc kết hôn hay ly hôn. Và nếu vợ hay chồng sau khi ly hôn
muốn tái giá thì đó cũng là quyền chọn
lựa của riêng họ.
Tuy vậy, Phật giáo khuyến khích
người ta hợp tác và hòa hợp với nhau, Phật giáo cũng khuyến khích nhẫn nại
và bao dung đối với những bất đồng và
những hành động gây đau khổ. Những người đã
lập gia đình thì nên cố gắng tối
đa để có thể ý thức và ý tứ
đối với những cảm xúc vui buồn của người bạn
đời của mình. Chạy từ người này đến
người khác, từ tình cảnh này đến tình
cảnh khác để tìm kiếm hạnh phúc là một
hành động vô ích, hành
động đó chỉ có thể tạo thêm sự khao
khát không thể thỏa mãn mà thôi. Vì vậy mà vợ chồng hãy ra sức hóa giải
những khó khăn trong đời sống hôn nhân, đặc
biệt vì lòng thương tưởng những đứa
con.
Ðức Ðạt-lai Lạt-ma
đã có lời khuyên về vấn
đề này trong tác phẩm Lòng Từ, Sự
Sáng Suốt và Trí Tuệ như sau:
Nếu
đã có gia
đình mà chỉ nghĩ
đến tình cảm và niềm vui thú riêng
của bản thân mình thì không đủ. Bạn còn
có một nhiệm vụ thiêng liêng là nghĩ đến
những đứa con. Nếu bạn ly dị thì con của bạn bắt
đầu phải đau khổ, đó không phải là
một nỗi đau khổ nhất thời phút chốc mà
là một nỗi đau khổ cho đến hết đời này.
Người con lấy mẫu cuộc đời này từ
cha mẹ. Nếu cha mẹ thường xuyên tranh chấp với nhau và cuối cùng là ly
dị thì tôi nghĩ rằng một cách vô thức, trong tận cùng sâu thẳm, tâm hồn
của người con bị ảnh hưởng tồi tệ và mang những vết hằn
đen tối. Quả là thảm kịch của cuộc
đời. Vì vậy mà tôi có lời khuyên:
muốn có một hôn nhân đích thực thì
nên từ từ, trải qua từng giai đoạn trước
hôn nhân một cách thận trọng và chỉ lấy nhau khi
đã đạt
được một sự hiểu biết thích đáng đối với nhau, khi đó thì bạn sẽ
có một cuộc sống hôn nhân hạnh phúc. Hạnh phúc trong gia
đình sẽ dẫn
đến hạnh phúc trên thế giới.
Nếu người ta tiến tới hôn nhân
với một thái độ thiết thực, chân thành,
khiêm tốn, nhẫn nại, tôn trọng và thật lòng săn
sóc cho người kia thì cả hai người càng ngày càng hiểu biết hơn và
càng tiến triển hơn. Ðể đạt được những phẩm
chất này, chúng ta cần phải quay lại quán sát những hành
động của chúng ta, cải thiện những cảm nghĩ và
những việc làm có hại và tu tập những phẩm chất cao thượng và thánh thiện.
V. TÌNH ÁI
^
Sáng suốt
để có hạnh phúc
Cốt lõi của những lời Ðức Phật
dạy có thể được diễn giải như sau: "Hãy
giúp ích cho tha nhân. Nếu bạn không có khả năng
giúp ích cho người khác thì ít nhất là bạn không làm gì gây tổn hại
cho người khác." Những hành động tổn
hại không những gây bất ổn cho sự khang lạc của người khác mà còn
tạo nên những tập khí xấu xa khiến cho chúng ta phải chịu những
điều bất hạnh trong tương lai. Những hành
động lợi ích sẽ làm cho tha nhân có
nhiều hạnh phúc hơn đồng thời giúp cho chúng
ta có nhiều an lạc hơn trong tương lai.
Trước khi chúng ta tìm hiểu
quan điểm của Phật giáo đối với vấn đề đạo
đức trong tình yêu, chúng ta cần tìm hiểu một số nguyên lý cốt lõi
của tư tưởng nhà Phật. Những nguyên lý cốt lõi này gồm: nguyên lý vận hành
của nhân quả và những yếu tố xấu do những trạng thái tâm lý nhiễu loạn như
tham đắm mang lại. Chúng ta sẽ nói kỹ hơn về
hai nguyên lý này trong những chương sau. Ở
đây chúng ta chỉ lược ghi lời dạy về những hành
vi tình ái không sáng suốt được chép lại
trong tác phẩm Con Ðường Tiệm Chứng của tổ sư Tzong Khapa.
Với tư tưởng Phật giáo làm nền
tảng, chúng ta có thể chiêm nghiệm vấn đề đạo
đức trong tình yêu. Khi Ðức Phật nói về những hành
động tình ái không sáng suốt thì
điểm chính yếu mà Ðức Phật khuyên là
không nên ngoại tình. Ngoại tình tức là trường hợp một người
đã thiết lập quan hệ tình ái chính
thức với người này nhưng lại thực hiện hành vi tình ái với người khác; hay
trường hợp một người còn độc thân nhưng lại
thực hiện hành vi tình ái với người
đang có quan hệ tình ái chính thức khác.
Ðây là hành
động có hại vì nó quấy nhiễu
đời sống của nhiều người: chúng ta, người có
hành vi tình ái với chúng ta, người có hôn nhân chính thức, những
đứa con và những người có liên quan
khác trong gia đình. Họ sẽ có những
cảm giác bị tổn thương, ghen tị, mất lòng tin và gặp những vấn
đề khó khăn khác trong cuộc sống. Ngoại tình
có thể khiến cho người ta nói dối, nói tránh né, nói thô bạo và có thể
đưa đến việc giết người.
Mặc dầu
đông đảo chúng ta sống trong thời đại tự do yêu
đương và có
đủ lý lẽ để trình bày nhiều tư tưởng
tốt đẹp về tự do tình ái nhưng có lẽ
là chúng ta nên sáng suốt nhìn lại vấn đề này,
một vấn đề đã
được con người trau chuốt và trang trí
bằng rất nhiều mỹ từ. Tự trong thâm tâm chúng ta thật sự cảm giác như thế
nào khi người bạn đời của chúng ta đang có
mối quan hệ với người khác? Thật sự chúng ta có cảm thấy tội lỗi hay không
khi chúng ta không trung thành với người bạn
đời của chúng ta?
Rõ ràng là ngoại tình có ảnh
hưởng xấu trong đời này và cũng rõ
ràng là ngoại tình sẽ có ảnh hưởng xấu đến
đời sống trong tương lai. Do làm một hành
động tổn hại, chúng ta tạo nên một
nghiệp xấu và tái sinh vào cảnh giới bất hạnh trong tương lai. Chúng ta sẽ
có quan hệ với những người không trung thành và bản thân chúng ta sẽ có
khuynh hướng tiếp tục ngoại tình trong kiếp sau. Hơn nữa, cảnh giới mà
chúng ta tái sinh sẽ u ám và không có hạnh phúc.
Vậy thì chúng ta hãy hình dung
ra hậu quả của việc này qua những điều đang
xảy đến với chúng ta và những người khác vì những gì mà chúng ta
nhận được trong hiện tại chính là kết
quả của những hành động mà chúng ta
đã làm trong quá khứ. Cụ thể là thành
hôn với một người luôn có những mối quan hệ tình ái lăng
nhăng. Cuộc sống vợ chồng vì vậy mà không hòa thuận nên thường
xuyên sống trong bất an và ghen tức. Ngay cả trong trường hợp ly hôn và
lập gia đình trở lại thì người bạn
đời kế tiếp cũng không phải là người
trung thành và luôn gian dối. Dù cho thành hôn với ai, người ấy cũng không
có được niềm tin và sự chân thành.
Theo giáo lý nghiệp quả, chúng
ta có thể nói rằng người này đang phải đền
trả nghiệp ngoại tình mà người ấy đã
làm trong kiếp trước. Nếu người này không tạo nghiệp xấu trong quá khứ thì
tất nhiên không phải lãnh quả xấu. Trong trường hợp
đã phạm tội ngoại tình từ
đời trước nhưng đã tẩy sạch những dấu
ấn của nghiệp quấy thì quả xấu làm sao trổ ra
được như vậy. Hiểu được điều này khiến cho chúng ta quan tâm nhiều
hơn tới sự vận hành của nhân quả đồng thời
giúp cho chúng ta quyết định trong việc lựa chọn hành
động theo ý muốn. Vì chúng ta không
muốn thọ lãnh những hậu quả bất hạnh nên chúng ta sẽ hết sức tránh làm
nghiệp quấy mới và tẩy trừ những nghiệp quấy mà chúng ta
đã lỡ tạo nên rồi.
Khá thú vị là Ðức Phật không
chỉ dạy gì về chế độ đa thê hay
đa phu cả. Dường như điều quấy ác chủ yếu
trong tình ái là khi chúng ta đi quá
phạm vi những quan hệ mà chúng ta đã
công khai tuyên bố với xã hội.
Trong nội dung giảng giải về
những hành vi tình ái không sáng suốt thì ngoài
điều cốt yếu mà người ta phải tránh né
là ngoại tình, còn có những lời giảng giải phụ trợ về vấn
đề sinh hoạt tình ái trong thời gian
không thích hợp, với người phối ngẫu không thích hợp, bằng cách thức không
thích hợp và tại nơi chốn không thích hợp.
Thời gian không thích hợp, thí
dụ như lúc người nữ đang hành kinh.
Một người phụ nữ không bị xem là "nhơ uế" khi hành kinh, và cũng không bị
cấm cản khi thực hành các hoạt động tôn giáo
trong thời gian này. Tôi tin rằng lời khuyên nên tránh sinh hoạt
tình ái trong thời gian này chỉ vì người nữ không cảm thấy thoải mái mà
thôi.
Cũng vậy, trong thời gian người
nữ có mang thì sinh hoạt tình ái có thể làm cho
đứa bé trong thai bào có cảm giác khó
chịu. Linh thức của một sinh linh nào đó nhập
vào bào thai cũng có những cảm nhận của một cơ thể sống nên cảm
thấy khó chịu khi bị sức đè ép và
những chuyển động do sinh hoạt tình ái
tạo nên.
Một thời gian không thích hợp
khác là trường hợp người bạn đời phát nguyện
tu tập Bát quan trai giới thanh tịnh trong một ngày. Một trong
những giới cần phải được giữ gìn là
tránh sinh hoạt tình ái trong 24 giờ. Nếu một trong hai người
đã lãnh thọ giới pháp này mà vi phạm
giới phạm hạnh trong ngày hôm đó là
một việc làm không sáng suốt.
Cũng có lời khuyên là không nên
sinh hoạt tình ái ban ngày. Mặc dầu tôi không biết rõ lý do tại sao mà có
lời khuyên như vậy nhưng có giả thuyết cho rằng ngày xưa ở xứ Ấn Ðộ có
nhiều người trong gia đình chung sống
trong cùng một gian nhà. Nếu hai người sinh hoạt tình ái ban ngày nhỡ có
ai bất ngờ đi vào thì thật là bỡ ngỡ.
Chúng ta cũng có thể giải thích thêm vì thời giờ ban ngày là thời giờ dành
cho công ăn việc làm.
Không nên sinh hoạt tình ái
liên tiếp nhiều lần vì làm như vậy chỉ khiến cho tâm ái dục phát triển quá
độ mà thôi. Chúng ta có thể chiêm
nghiệm: "Nếu tham ái là một trong những nguyên nhân chính khiến cho
chúng ta ở mãi trong vòng sinh tử - sanh lên rồi chết xuống, chết xuống
rồi sinh lên, luôn luôn phải đối mặt với
những vấn đề lặp đi lặp lại, phải giải quyết mãi trong khoảng thời
gian bắt đầu từ cái sanh và tạm kết là
cái chết trong mỗi kiếp sống - thì thấy rằng
đạo Phật dĩ nhiên là khuyên chúng ta tránh việc tham ái quá
độ đồng thời còn khuyên chúng ta xa
lánh tham ái nói chung."
Nói
đúng ra, đạo Phật dạy chúng ta không nên
buông lung trong tham muốn để cứ phải sinh tử
luân hồi. Các vị Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni
đều phát nguyện sống phạm hạnh với quyết tâm giải thoát khỏi vòng
sinh tử. Những vị này tìm cách đoạn trừ tâm
tham muốn không phải chỉ qua việc giữ giới mà còn qua việc thực tập
thiền định chơn chính để làm giảm bớt
và chuyển hóa nguồn năng lực của tham muốn.
Nhờ vậy mà những vị ấy có thể nhanh chóng
đạt được những chứng đắc tâm linh.
Tuy nhiên, không phải mọi người
đều toàn tâm toàn lực tu tập theo
đạo Phật như vậy. Chúng ta tu tập tùy
theo năng lực mà chúng ta có
được. Trong trường hợp của cư sĩ thì
lời khuyên trên có nghĩa là nên cố gắng giảm thiểu những ham muốn quá
độ.
Ðừng nên tự lừa dối bằng cách
nghĩ rằng mình đang tu tập Mật Tông cấp rất
cao [*] trong khi sự thật là đang sinh
hoạt tình dục bình thường. Hãy một mực tôn trọng giá trị của
đại giới giữ gìn phạm hạnh. Tự vấn bản
thân: "Ta có thể là một Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni không?" thì có thể
khám phá ra mức độ ham muốn tình dục
của mình còn nhiều ít như thế nào.
[*] Mặc dầu ở một trình
độ rất cao của Pháp tu Mật Tông thì
một cư sĩ Bồ Tát còn ở gia đình có
thể có những hành động tương tự như sinh
hoạt tình dục nhưng sự thật là khác xa với sinh hoạt tình dục
thông thường. Những vị cư sĩ Bồ Tát này đã
được vị đạo sư tâm linh truyền cho mật pháp
nhằm sử dụng nguồn năng lượng tình dục trong lúc thiền
định để khai thông dạng tâm thức tinh tế
hầu chứng đạt được tính không của nội hữu.
Một trường hợp sinh hoạt tình
ái phi thời nữa là khi người bạn tình đang
bệnh vì sẽ làm cho căn bệnh lan rộng
hay trở nên nặng hơn, đặc biệt là
những bệnh truyền nhiễm qua đường tình
dục. Cốt lõi ở lời dạy của Ðức Phật là
đừng làm tổn hại người khác và hết sức làm lợi lạc cho tha nhân.
Vì vậy chúng ta không nên sinh hoạt tình dục nếu chúng ta nghi ngờ rằng
bản thân mình có bệnh đặc biệt là
những bệnh có thể lây lan cho người khác qua
đường tình dục.
Tương tự như vậy,
để tự trân trọng bản thân, chúng ta cũng
không nên sinh hoạt tình dục với người mà chúng ta nghi ngờ hay
biết rõ là có bệnh và có thể truyền nhiễm sang bản thân chúng ta. Ðiều
quan trọng là giữ gìn thân thể của chúng ta mạnh khỏe ngõ hầu tu tập theo
những lời Phật dạy và làm lợi lạc cho mọi người.
Những người chúng ta không nên
có quan hệ tình dục là người có quan hệ gia tộc gần, trẻ em, thú vật,
người đang giữ giới phạm hạnh, và
người không đồng ý sinh hoạt tình dục.
Loạn luân là một tội lớn vì nó có thể tạo nên những
đột biến về di truyền, đồng thời có thể sinh
ra thế hệ con cái bệnh hoạn. Hơn nữa, loạn luân sẽ tạo nên những
rối loạn về mặt tình cảm trong tâm thức của cả dòng họ. Hiếp dâm hay quấy
rối tình dục trẻ em sẽ gây nên những thương tổn tâm lý và tình cảm cho
người bị hại.
Ðức Phật không nói
điều gì liên quan
đến việc sinh hoạt tình dục trước hôn
nhân. Chúng ta có thể suy luận rằng nếu cả hai người trong cuộc
đều đến tuổi trưởng thành và
đồng ý việc đó với đầy đủ ý thức thì
họ đủ tư cách để quyết định và chịu
trách nhiệm về hành động của bản thân miễn là
họ đừng làm hại
đến người khác. Tuy nhiên nếu một
trong hai người trong cuộc là vị thành niên và
đang được sự bảo bọc của cha mẹ và
việc quan hệ tình dục sẽ làm cho cha mẹ và gia
đình của
đứa trẻ đó tức giận thì người có hiểu biết sẽ không quan hệ tình
dục trong trường hợp này vì nghĩ đến sự an
lạc của mọi người.
Trong hàng ngũ Phật giáo có
nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề đồng tính
luyến ái. Nói chung Phật giáo rất bao dung và rộng lượng
đối với tất cả mọi người. Dù một người
bị bệnh đồng tính luyến ái thì người
ấy cũng không bị phê phán hay phân biệt đối
xử.
Tốt nhất là tránh việc thủ dâm.
Mặc dầu Phật giáo khuyên không nên thủ dâm nhưng Phật giáo cũng không làm
cho người ta cảm thấy tội lỗi khi có làm điều
ấy. Ðối với con em trẻ tuổi đang độ
cường tráng về mặt thể xác thì chúng ta cần phải suy nghĩ cho chín
chắn và tìm cách giảng giải cho con em biết phương cách
để làm chủ
được nguồn năng lượng này. Làm cho
chúng cảm thấy xấu hổ, tội lỗi với ý nghĩ cho rằng bản thân có những ham
muốn mạnh mẽ về mặt thể xác thì không có lợi lạc gì cho chúng cả.
Quan trọng là xã hội cần quan
tâm đến những người bị bệnh AIDS và
những chứng bệnh cùng loại. Chối bỏ những người này có nghĩa là
đánh mất tính nhân ái của loài người.
Lãng quên họ có nghĩa là lãng quên tránh nhiệm
đối với sự khang lạc của tha nhân. Hơn nữa,
chúng ta nên khuyến khích việc phổ biến những thông tin
đúng đắn về bệnh AIDS và cách thức sử
dụng những biện pháp phòng ngừa cho mọi người.
Kế hoạch hóa gia
đình
Vợ chồng có thể quyết
định sử dụng các phương pháp ngừa thai thích
hợp cho mình? Phật giáo không chống lại việc này. Tuy nhiên, khi
đã cấn thai thì tâm thức của một sinh
linh đã nhập vào bào thai. Như thế,
tốt hơn là hãy sử dụng những phương pháp ngừa thai trước chớ
đừng sinh hoạt tình dục rồi mới uống
thuốc trục thai hay nhờ đến y học để nạo phá
thai.
Việc thụ tinh nhân tạo bằng
tinh trùng của người chồng hay của một người khuyết danh nào
đó dường như không gây nên những hậu
quả tai hại cho bản thân hay cho người khác. Dĩ nhiên, những người có liên
can trong việc này phải đồng ý và hoàn
toàn tự nguyện để tránh phát sinh rắc rối về
sau.
Quan
điểm của Phật giáo đối với vấn đề đạo đức tình
dục và hành vi tình dục dựa trên nguyên lý không làm hại người khác và
cố gắng tối đa để làm lợi lạc cho
người khác. Phật giáo cũng quan tâm cân nhắc tác dụng của quy luật
nhân quả đối với việc nhiều đời nhiều kiếp
chúng sinh sinh tử luân hồi. Ðức Phật không hề phán quyết
độc đoán về những giá định đạo đức.
Ðức Phật chỉ trình bày và giảng dạy về vấn đề
này với mục đích giúp chúng ta tạo ra
được những yếu tố đưa đến hạnh phúc và tránh
được những yếu tố đưa đến đau khổ. Mỗi người
có trách nhiệm về việc cố gắng để có hiểu biết tốt nhất về những lời dạy này
và hành động theo sự hiểu biết của bản thân mình.
Khi dạy bảo con em của chúng ta
về mặt tình dục thì tốt nhất là giải thích cho chúng hiểu
được tại sao mà có những lời dạy hay
lời khuyên như vậy. Những người trẻ tuổi thường có những ý niệm lệch lạc,
méo mó về tình ái nếu việc giáo dục về giới tính chỉ là một danh sách chi
tiết về "những điều không nên làm"
mà thôi.
Cha mẹ và những nhà giáo dục
cần phải giúp con em hiểu biết để chấp nhận
những thôi thúc nhục cảm của cơ thể và những mộng tưởng yêu
đương của tâm lý, mà không làm cho
chúng cảm thấy xấu hổ, tội lỗi về những thèm muốn và những mộng tưởng
đó. Ðồng thời, chúng ta cần phải có
cách nói mang tính chất xây dựng để chỉ con
em biết được cách thức xử lý đối với những ham muốn thuộc thể xác hay tinh
thần. Ðây là vấn đề mà chúng ta
cần phải ưu tư nhiều.
VI. VỊ ÐẠO SƯ TÂM LINH
^
Thiết thực trong mối quan hệ
với vị đạo sư tâm linh
Một số người băn
khoăn vì không biết có cần thiết phải có một vị
đạo sư tâm linh hay không? Chúng ta có thể tự
học đạo được hay không? Ðể học được
những kỹ năng như đọc sách, nghề mộc, giải phẫu hay ngay cả lái một chiếc
xe chúng ta cần phải có người dạy. Tự học là một việc khó khăn
đôi khi rất nguy hiểm. Thử hình dung ra cảnh chúng ta cố gắng tự
học lái một chiếc máy bay! Rõ ràng là có nhiều hiểm họa không lường
được. Ðể học những nghề nghiệp thông
thường chúng ta còn phải có thầy dạy đàng
hoàng mới nên thì chắc chắn rằng để học đạo
chúng ta phải cần sự hướng dẫn của những bậc đạo sư có phẩm hạnh. Chúng ta
không thể xem nhẹ và bất cẩn trong những vấn
đề tâm linh, những vấn đề cao sâu có ảnh
hưởng lâu dài trong đời này và
trong những đời sau.
Một vị
đạo sư đang sống có thể làm
được những điều mà một quyển sách
không thể làm như trả lời câu hỏi của chúng ta; nêu gương tinh tấn trong
việc hành trì theo giáo pháp bằng chính đời
sống cụ thể hằng ngày; khích lệ và tạo hưng phấn cho chúng ta trên
con đường đạo; và
điều chỉnh những lệch lạc trong hành
vi và trong quan niệm của chúng ta. Sách vở có thể làm phong phú thêm và
mở rộng ra những điều gì mà chúng ta
đã học từ nơi vị
đạo sư nhưng những mối quan hệ tâm linh giữa
chúng ta với những bậc hiền trí trên con
đường đạo thì sách vở không thể thay
thế được.
Trong tiếng Sanskrit, danh từ
để chỉ cho vị thầy, vị đạo sư hay y chỉ sư về
phương diện tâm linh là "guru". Chữ này nghĩa là một người
có chiều sâu, có những phẩm tính tốt đẹp.
Trong tiếng Tây Tạng có chữ "lama" chỉ cho một thắng giả hay
một người mà không ai có thể vượt qua.
Không có một cuộc thi mà người
nào thi đậu thì trở thành
đạo sư. Thật ra, khi một người hay một số
người nhờ một vị thầy nào đó dạy bảo và
hướng dẫn thì vị thầy đó trở thành vị
guru của những người cầu học. Người ta thường gọi vị
đó là thầy vì vị
đó có ít hay nhiều học trò. Tuy nhiên,
vị đó có trở thành thầy của bạn hay
không thì tùy vào ý muốn của bạn. Tương tự như vậy, có một người nào
đó không ai biết là thầy hay
đạo sư nhưng nếu bạn chọn vị đó là
thầy thì vị đó trở thành vị
đạo sư tâm linh của bạn.
Khi chúng ta mới tìm hiểu Phật
giáo, có lẽ chúng ta không có một vị đạo sư
tâm linh riêng biệt nào. Như vậy là tốt. Chúng ta có thể học hỏi từ
những vị đạo sư khác nhau và theo
đó mà thực hành. Những người thích
theo Phật giáo một cách tổng quát thì có lẽ không cần phải chọn lựa một vị
đạo sư. Tuy nhiên sau một thời gian
tinh cần tu tập thì người ta sẽ cảm thấy cần xây dựng nên mối quan hệ thầy
trò với một vị đạo sư tâm linh. Nhờ vậy,
người ta có thể nhận được những lời dạy bảo tâm huyết hơn.
Chọn lựa
đạo sư
Vì vị
đạo sư mà chúng ta chọn sẽ có tác
động đối với chúng ta nên
điều quan trọng là chúng ta hãy lựa
chọn một cách chín chắn. Chúng ta không nên có mối quan hệ quá thân thiết
ngay với thầy. Trước hết, chúng ta quan sát những phẩm chất tốt và những
yếu kém của một vị thầy nào đó để xem bản
thân của chúng ta có tương tự như vậy hay không và xem chúng ta có
thể tạo nên mối quan hệ thân thiết cật ruột với vị
đó hay không. Hãy xem xét chín chắn
trước khi chấp nhận người nào làm vị thầy tâm linh của chúng ta.
Ngày nay có tình trạng nhiều vị
xưng là đạo sư quá, mỗi vị đều có thể dạy lý
thuyết này hay lý thuyết khác và đều
có bề ngoài phô diễn tốt với mục đích
được nhiều người theo. Nhưng nếu chúng ta là những người thành tâm
cầu đạo, chúng ta sẽ cảm thấy không có lý thú
gì trong sự phô diễn mang tính hình thức ấy. Ðiều mà chúng ta tìm
cầu là thực chất chớ không phải phô diễn.
Có thể chúng ta phải tốn thời
gian trong việc tìm kiếm và xác định vị đạo
sư của mình. Khởi sự, chúng ta có thể tham gia những buổi thuyết
giảng và học hỏi nơi những vị giảng sư nhưng khoan xem vị nào là
đạo sư tâm linh của mình. Việc này
giúp cho chúng ta có thể xem xét những phẩm chất của những vị ấy và cũng
xem xét khả năng của chúng ta trong việc
thiết lập mối quan hệ. Chúng ta không nên vội vàng trong việc quyết
định nhận một vị thầy. Nhà hiền trí vĩ
đại người Ấn Ðộ Atisha
đã xem xét và cân nhắc suốt 12 năm
trước khi nhận vị đạo sư nổi tiếng Serlingpa là thầy.
Không có lợi thế gì khi chúng
ta chọn một vị đạo sư tâm linh chỉ vì
vị này có nhiều chức tước, ngồi trên những ghế cao, mặc những bộ y trang
trọng và đội những cái mũ uy nghiêm
gây ấn tượng, vì những thứ đó đều có thể mua
được. Chúng ta không nên dựa vào những hình thức bên ngoài mà nên
tìm kiếm những phẩm tính tốt đẹp. Chúng ta
cũng không nên chọn một người nào đó làm
thầy, chỉ vì người ấy đã là thầy của
bạn chúng ta. Chúng ta phải tự mình chọn lấy, dựa theo những phẩm chất và
những tiếp xúc trực tiếp của chúng ta.
Trong Ðại Thừa Lăng-già
kinh, ngài Di lặc đã phác thảo ra 10
phẩm tính của một vị đạo sư tâm linh tuyệt
vời. Ðó là:
1. Có
đạo hạnh thanh khiết. Vị đạo sư là
gương sáng để chúng ta nương theo tu tập. Vì
chúng ta cần phải chuyển hóa những hành vi, lời nói và tâm ý sai quấy nên
chúng ta phải khôn ngoan chọn vị thầy nào đã
có tự thân chuyển hóa rồi. Vị thầy này sẽ dạy cho chúng ta cách
để cải thiện bản thân và sẽ làm gương
tốt cho chúng ta theo.
2. Có kinh nghiệm trong việc
thiền định.
3. Có hiểu biết thâm sâu về
giáo nghĩa liên quan đến trí tuệ. Ba phẩm
chất đầu tiên này cho thấy rằng đây là
một vị đã khéo tu tập Ba Pháp Môn Tăng
Thượng dẫn đến giải thoát - giới, định và trí tuệ.
4. Có kiến thức uyên bác và
nhiều kinh nghiệm tu tập hơn chúng ta.
5. Có lòng nhiệt tâm bền bỉ
trong việc dạy bảo và hướng dẫn đệ tử. Nếu
chúng ta chọn một vị thầy không ưa việc dạy bảo hay lười nhác trong việc
hướng dẫn thì chúng ta sẽ không học
được bao nhiêu.
6. Là vị
đạo sư đầy đủ tư cách có kiến thức uyên
thâm về Thánh điển và chỉ dạy chúng ta
những điều phù hợp với nội dung tư
tưởng trong Thánh điển. Những vị nào
tự sáng tác ra giáo nghĩa riêng, đi lệch hay
đi quá xa những lời Phật dạy thì không thể nào chỉ cho chúng ta con
đường để chứng ngộ được.
7. Có nền tảng tư tưởng chín
chắn hay có thiền chứng về tánh không.
8. Có kỹ năng
diễn đạt giáo pháp một cách rõ ràng và dễ hiểu.
9. Có
động cơ là lòng từ ái và lòng bi mẫn
vô lượng. Ðây là điểm vô cùng quan
trọng. Chúng ta không thể đặt niềm tin vào
một người lấy việc dạy đạo để được kính trọng
và lợi dưỡng. Thật là nguy hiểm khi chúng ta bị người như vậy làm
cho lầm đường lạc lối; chúng ta sẽ hoang phí
thời gian và rất dễ bị vương vào những hoạt
động không trong sáng. Vì vậy, thật là
quan trọng trong việc chọn người thầy có chí nguyện chân thật và thanh
tịnh, một người thầy muốn làm lợi ích cho học trò và dẫn dắt học trò trên
con đường giải thoát giác ngộ.
10. Có tính kiên nhẫn và sẵn
lòng chỉ dẫn cho những người cần cầu học đạo
dù họ thuộc bất cứ trình độ nào.
Vì chưa phải là người hoàn hảo và còn những tâm thái nhiễu loạn như tham
chấp và sân giận nên chúng ta vẫn còn phạm phải sai lầm. Chúng ta cần
những vị thầy không bao giờ có ý từ bỏ học trò, những vị
đạo sư có tính nhẫn nại và khoan dung
cho học trò. Hơn thế nữa, chúng ta cần những vị
đạo sư không thối chí khi học trò
không hiểu được điều thầy muốn dạy.
Không dễ dàng gì có thể tìm
được những vị thầy có tất cả những đức tính
trên. Trong trường hợp này thì những
đức tính quan trọng nhất mà người thầy cần nên có là:
1. Có nhiều phẩm tính tốt
đẹp hơn là khuyết
điểm.
2. Xem trọng việc tu tập
đạo hạnh để đạt được hạnh phúc trong tương
lai hơn là thụ hưởng những cuộc vui trong hiện tại.
3. Có tấm lòng quan tâm
đến người khác hơn là bản thân của
mình.
Lý thú là chúng ta không phải
tìm một người thầy có thiên nhãn thông. Tại sao vậy? Tại vì có một số
người có thiên nhãn thông nhưng lại không hiểu biết về con
đường đạo đưa đến giải thoát giác ngộ. Những
người này có thiên nhãn thông vì quả phước từ
đời trước, chớ không phải do họ tu tập, và
vì vậy có thể họ sẽ không sử dụng thiên nhãn thông với mục
đích là xả thân làm lợi lạc cho tha
nhân. Vì vậy, khi tìm kiếm vị thầy để chỉ dẫn
cho chúng ta trên con đường giải thoát
giác ngộ, chúng ta nên chọn người có những phẩm tính mà ngài
Maitreya đề cập ở trên.
Ðể biết
được những phẩm chất tốt đẹp của thầy, chúng
ta cần xem xét hành xử của thầy, nhận thức về Phật pháp của thầy và
cách thầy chỉ dạy học trò. Không phải là sáng suốt khi hỏi một vị thầy dạy
giáo lý: "Thầy đã chứng ngộ chưa?"
Vì ngay cả khi đã chứng ngộ thầy cũng
sẽ không cho chúng ta biết. Ðức Phật cấm đệ
tử tuyên bố cho công chúng biết những gì mà mình
đã chứng ngộ
được. Ðức Phật muốn
đệ tử của Ngài khiêm tốn và chân
thành. Người phàm tục ngược lại muốn phô trương những thành tích của bản
thân. Con người tâm linh không nên giống như vậy: mục
đích của con người tâm linh là chế ngự
tự ngã chớ không phải là khuếch đại nó.
Khi
đã quyết
định chọn một người nào là thầy rồi thì chúng ta có thể trực tiếp
hỏi vị ấy có tiếp nhận chúng ta làm học trò không. Tuy nhiên, cũng không
nhất thiết phải như vậy; một số đạo sư có
nhiều học trò đến nỗi không còn
điều kiện để tiếp kiến riêng. Trong
trường hợp này chúng ta có thể tự khẳng quyết, phát thệ nguyện tôn vị ấy
làm thầy rồi tìm cách nghe theo và hành trì theo những lời vị ấy thuyết
giảng, dạy bảo. Như thế vị ấy đã trở
thành thầy của chúng ta. Trong trường hợp khác nếu chúng ta lãnh thọ lễ
quy y, truyền giới từ vị nào thì vị ấy đương
nhiên là thầy của chúng ta.
Chúng ta có thể có rất nhiều
thầy, nhưng chỉ có một vị là đạo sư tâm linh
quan trọng nhất. Ðó chính là vị mà chúng ta kính tin nhất và có thể
giãi bày tất cả những gút mắc nghiêm trọng trong tâm hồn. Ðó chính là bổn
sư của chúng ta. Bổn sư có thể là vị đầu tiên
khai tâm cho chúng ta trên con đường đạo, đã
đưa chúng ta vào con
đường thăng tiến tâm linh. Bổn sư cũng có khi
là vị mà chúng ta cảm thấy thân thiết nhất.
Nghe theo lời dạy của thầy
nhưng không mù quáng
Sau khi chọn
được thầy rồi chúng ta nên tận tâm
nghe theo những lời thuyết giảng của vị thầy
đó về Chánh pháp để tu tiến trên con
đường đạo.
Một số người rất là hời hợt,
chóng vánh trong mối quan hệ với thầy, hôm nay là thầy này, ngày mai không
còn là thầy; hôm nay là thầy, ngày mai đã
chạy sang thầy khác cho đến khi họ tìm
được một vị thầy nói những lời vừa ý họ,
những lời mà con người phàm phu của họ muốn nghe. Những người học
trò như thế thì chẳng tiến bộ được bao nhiêu
cả vì họ thiếu lòng tôn trọng và tâm chí thành.
Chúng ta nên quan tâm
đến những nhu cầu trong đời sống của thầy để
phục vụ và cung cấp cho thầy. Khi chúng ta nhận ra tấm lòng của
thầy trong việc định hướng cho tâm thức chúng
ta trên con đường đi đến hạnh phúc thì
chúng ta sẽ cảm thấy sung sướng khi được giúp
thầy. Vì thầy của chúng ta hành đạo để
đem lại lợi lạc cho mọi người và để
hoằng dương Phật pháp nên những đóng
góp của chúng ta cho thầy sẽ rất là hữu ích.
Thật ra, sự cúng dường thù
thắng nhất của chúng ta cho thầy là công phu tu tập theo Chánh pháp. Nếu
chúng ta có tài của và vật chất, năng lực và
thời gian thì chúng ta cũng có thể cúng dường. Tuy nhiên chúng ta không
nên xao lãng việc tu tập vì việc tu tập mới chính là mối quan tâm hàng
đầu của vị thầy tâm linh đúng nghĩa. Khi
chúng ta nghe theo những lời thầy dạy và gìn giữ những giới
điều mà chúng ta
đã thọ lãnh thì
đó chính là
điều mà thầy của chúng ta cảm thấy
hạnh phúc nhất so với tất cả những thứ khác.
Trong trường hợp chúng ta nhận
thấy thầy có những biểu hiện sai lầm rồi chúng ta trở nên giận dữ và chỉ
trích gay gắt; làm như vậy không có ích lợi gì cả. Chúng ta thường chỉ
trích một hành động nào của người khác
vì chúng ta đã gán cho hành
động đó một động cơ xấu mà nếu chúng
ta là người làm hành động đó thì chúng
ta sẽ làm với động cơ xấu như vậy. Tuy nhiên,
động cơ của thầy có thể khác tuy là
hành động tương tự. Thầy có thể làm
hành động đó với những lý do hoàn toàn
khác với những gì mà chúng ta đã giả
định ra. Cũng có thể thầy làm hành
động đó để cho chúng ta thấy rõ nếu
chúng ta làm hành động đó thì người
khác sẽ thấy con người của chúng ta ra sao.
Tìm thấy những lỗi quấy của
từng người hay của mọi người là một việc dễ làm nhưng
điều ấy chẳng có lợi lạc gì cho chúng
ta cả; nên xác định rằng chúng ta là
những người chơn tu đang nỗ lực tu dưỡng tánh
khoan dung và tâm từ ái. Nếu chúng ta chỉ trích gay gắt và từ bỏ
thầy thì có nghĩa là chúng ta đã khóa
chặt cánh cửa tâm thức, không thể tiếp nhận những lợi lạc từ những phẩm
tính tốt đẹp của thầy. Ðây quả là một
thiệt thòi lớn cho chúng ta.
Tuy nhiên, nếu thầy có những
hành vi dường như là đi ngược lại lời dạy của
Ðức Phật thì chúng ta có thể cầu thỉnh thầy giải thích cho những
hành vi đó. Hoặc chúng ta cũng có thể giữ một
khoảng cách và không xem những hành vi
đó là gương tốt để noi theo.
Chúng ta xây dựng nên mối quan
hệ với thầy ngõ hầu thăng tiến trí tuệ và
trách nhiệm tự thân. Không phải là sáng suốt khi nghe theo lời thầy một
cách mù quáng chỉ vì "người đó là
thầy của tôi vì vậy tất cả những gì người đó
dạy là đều đúng cả". Nếu
thầy yêu cầu chúng ta làm một điều gì
mà chúng ta không thể làm được hay điều đó
chúng ta cảm thấy là không đúng thì
nên lễ phép thưa thật với thầy rằng chúng ta không thể làm
điều đó.
Làm người thành thật
Thầy của chúng ta cũng là người
đồng hành tốt nhất của chúng ta trên
cuộc đời và chúng ta nên nói thật và
học đạo chăm chỉ nơi thầy. Một số đệ tử có
hai mặt: trước mặt thầy thì tu tập thật tốt, nhưng những lúc khác
thì họ tán gẫu, cáu kỉnh và hành xử tệ lậu với người khác. Như vậy thì
chẳng lợi lạc gì cả.
Chúng ta cũng không nên muốn
được thầy ưu ái bằng những lời nói ngọt ngào
nhưng không thành thật. Vị thầy tâm linh muốn cho mọi người
đều được hoan hỷ, và vì vậy nếu chúng
ta lấn át hay cư xử tệ bạc với người khác thì chúng ta
đã làm ngược lại những lời thầy dạy.
Nếu chúng ta xem trọng thầy của mình và khinh thị những người khác có
nghĩa là chúng ta đã không hiểu chân
nghĩa của đạo Pháp. Ðể
đạt được ý nguyện thăng tiến trên con
đường đạo chúng ta phải hành xử với
thầy và với mọi người với tâm thành kính.
Bây giờ chúng ta hãy chiêm
nghiệm sâu xa về ý nghĩa của tâm thành kính. Một số người nhầm lẫn giữa
tâm thành kính với tâm trạng sợ sệt, vì vậy mà khi ở gần thầy họ cảm thấy
vô cùng xấu hổ và e sợ rằng thầy sẽ biết và sẽ thấy họ làm
điều không đúng. Không cần phải có tâm trạng
như vậy. Ðó chính là biểu hiện của tâm trạng quá cưng yêu ‘cái ta’
sợ rằng người khác sẽ thấy ta kém khuyết và ngu ngơ.
Mặt khác, chúng ta không nên
đối xử với thầy như những người đồng hành
tình cờ nào đó trên
đường đời. Phải có một mức độ quân bình.
Dù ở bên cạnh thầy hay khi sống xa thầy chúng ta nên cố gắng có chí hướng
và có hành động tốt. Ðồng thời chúng
ta cũng không nên ngần ngại trình bày những
điểm sai lầm và yếu kém của chúng ta với thầy. Chúng ta hãy thành
thật với thầy và xin thầy ban cho những lời khuyên ngõ hầu hoàn thiện bản
thân.
Thương mến không phải là chấp
thủ đối với thầy
Một số người lẫn lộn giữa tâm
thương kính thầy và tâm chấp thủ đối với
thầy. Việc lầm lẫn này có khi gây nên tâm trạng vô cùng
đau khổ và thất vọng. Cụ thể là nếu
thầy không quan tâm chúng ta như điều mà
chúng ta mong muốn thì chúng ta sẽ cảm thấy mình bị bỏ rơi. Tâm chấp thủ
đối với thầy sẽ khiến cho chúng ta tìm
sự an ổn bằng cách dựa vào tình cảm của thầy, dựa vào những lời khen và
mối quan tâm mà thầy dành cho chúng ta. Nhưng nếu chúng ta nhận chân
được giá trị đích thực của người thầy thì
chúng ta sẽ rất trọng ân thầy.
Tâm chấp thủ có tính chất vị
ngã, còn lòng thương kính thầy lại có tính chất khát ngưỡng tâm linh chân
thành. Dĩ nhiên là chúng ta nhớ mong thầy khi phải xa thầy trong một thời
gian dài nhưng chúng ta có thể tự vấn lòng mình: chúng ta nhớ thầy là
chúng ta muốn có được những lời giáo huấn và
chỉ dẫn về Chánh pháp hay chúng ta nhớ thầy chỉ
đơn thuần vì sự quan tâm thương mến
của thầy.
Mục
đích của việc tìm cầu một vị thầy
không phải là để làm thỏa mãn tự ngã
của chúng ta mà là để diệt trừ vô minh và
vị kỷ qua việc tu tập theo Chánh pháp. Khi thầy chỉ ra
được những lỗi lầm mà chúng ta
đã mắc phải thì chúng ta nên vui mừng.
Bởi vì có quan tâm đến chúng ta đúng mức thầy
mới có thể làm được như vậy. Thầy đã
tin rằng chúng ta sẽ đón nhận lời khuyên
bảo chớ không cảm thấy bị xúc phạm. Lần nọ, tôi thấy một vị thầy rầy học
trò ngay trong một hội chúng đông đảo. Tôi
nghĩ rằng: "Chắc là quan hệ thầy trò rất là thân thiết và người
thầy muốn rằng học trò của mình đoạn trừ kiêu
khí tự ngã nên đã không ngại trong
việc chỉ trích học trò giữa chốn đông người."
Quả thật sau đó tôi khám phá ra rằng người
học trò ấy thật sự là một hành giả chân chính.
Theo dòng thời gian mối quan hệ
giữa chúng ta và thầy sẽ dần dần phát triển tốt
đẹp. Mối quan hệ này có thể trở nên
rất là quý báu vì thầy cho ta những lời dạy bảo và chỉ dẫn chân tình
đầy từ bi và trí tuệ. Nhờ
đó chúng ta sẽ thăng hoa được những phẩm tính
tốt đẹp và có thể tẩy sạch những cấu uế của bản thân. Mối thân tình
giữa chúng ta với vị đạo sư tâm linh, tức là
vị thầy thật sự quan tâm đến phước lạc và
thăng tiến tâm linh của chúng ta khác xa với
những mối quan hệ giữa chúng ta với mọi người. Thầy của chúng ta sẽ tiếp
tục giúp đỡ chúng ta, dù chúng ta có thăng
trầm vinh nhục gì gì đi nữa.
Ðiều này không có ý cho phép chúng ta hành
động cẩu thả bất kể hậu quả. Ðiều muốn nói ở
đây là chúng ta không cần phải có tâm
trạng lo âu rằng thầy sẽ cắt đứt mối quan hệ
với chúng ta nếu chúng ta phạm phải những sai lầm. Vị thầy tâm linh thật
sự sẽ có tánh khoan dung và lòng từ ái và vì vậy chúng ta có thể
tin tưởng hoàn toàn.
Khi chúng ta càng hiểu biết sâu
xa về con đường đưa đến giác ngộ thì
mối quan hệ thầy trò cũng càng thâm trọng vì tâm hồn của chúng ta
đã có nhiều
điểm tương đồng với tâm hồn của thầy. Ý chí tìm
cầu giải thoát của chúng ta càng trở nên khẳng quyết và tâm xả thân bố thí
cũng trở nên dũng mãnh hơn thì chúng ta cảm thấy càng gần gũi với thầy vì
cả hai cùng chí hướng, cùng mục đích. Hơn
nữa, chúng ta tu luyện được trí tuệ về không tánh thì chúng ta
đoạn trừ được cảm giác cách biệt ta người nói
chung; cảm giác cách biệt ta người có ra là do chúng ta mê lầm về
tính hữu thể của hiện tồn. Khi chúng ta đạt
được đạo quả giác ngộ thì sự chứng đạt
của chúng ta không khác với sự chứng đạt của thầy.
Phần Hai
CÁI NHÌN BAO QUÁT THẾ GIAN VÀ NẾP SỐNG THEO CHÁNH PHÁP
Chúng ta có thể băn
khoăn: "Ta đến trần gian này như thế nào? Tại sao ta lại sinh ra
đời? Ta là ai và tại sao có một số
việc chỉ xảy đến cho ta mà không xảy
đến cho những người khác? Tâm thức của chúng
ta tác động đến những cảm nhận của chúng ta như thế nào?"
Ðể tìm ra lời giải
đáp, chúng ta hãy phóng tầm nhận thức
ra khỏi kiếp sống này để có cái nhìn
tổng thể rồi tìm ra giải pháp cho những điều
bất như ý của chúng ta trong cách quan sát toàn cục và bao biện
hơn. Là con người chúng ta có những năng lực
tiềm ẩn nào? Ai có thể hướng dẫn chúng ta trong việc hiện thực hóa
những năng lực tiềm ẩn đó và chúng ta
phải đi theo hướng nào? Khi nhận thức
của chúng ta càng được mở rộng và càng
có chiều sâu thì năng lực để làm cho
đời sống của chúng ta có ý nghĩa càng
trở nên mạnh mẽ. Năng lực này lại
được tăng cường nhờ vào việc tu tập từ
bi và trí tuệ.
VII. TÂM Ý LÀ
KẺ TẠO TÁC RA CẢM NHẬN CỦA CHÚNG TA
^
Cái ý phát khởi trước rồi mới có hành
động,
Cái ý dẫn dắt mọi hành động; chính ý
tưởng làm phát sinh hành động.
Nếu ai đó nói ra hay hành động với ý
tưởng sa đoạ,
thì khổ não sẽ đi theo người đó như
bánh xe lăn theo con bò kéo xe.
Cái ý phát khởi trước rồi mới có hành động,
Cái ý dẫn dắt mọi hành động, chính ý
tưởng làm phát sinh hành động.
Nếu ai đó nói ra hay hành động với ý
tưởng thanh thoát,
thì hạnh phúc chắc chắn sẽ đi theo
người đó như bóng không rời hình.
(kinh Pháp Cú, câu 1 và 2)
Theo
đạo Phật thì cái ý của chúng ta là kẻ
tạo tác cũng là nguồn cội làm phát sinh ra những niềm vui và nỗi buồn của
chúng ta. Ðiều này có ý nghĩa rất thâm sâu: Vì chính mỗi người chúng ta
điều khiển cái ý hướng riêng của bản
thân mình cho nên chung cuộc chúng ta phải chịu tránh nhiệm
đối với những vui buồn do cái ý của chúng ta
đem lại. Không có cơ sở nào để đổ lỗi
cho người khác về những khốn khổ mà chúng ta gặp phải khi chính ý
lực hay ý hướng của chúng ta là nguồn gốc của những khốn khổ
đó. Tương tự như vậy muốn có được hạnh phúc,
chúng ta không cần phải cầu vái, phỉnh nịnh một ai ở bên ngoài cả
mà chúng ta phải tạo nên nguồn cội của hạnh phúc bên trong bản thân mình
bằng cách phát huy những ý tưởng lành mạnh.
Chữ "ý" trong
đạo Phật bao hàm nhiều lãnh vực hoạt
động tâm lý khác nhau gồm ý tưởng và
cảm nhận, nhận thức và cả tình cảm của chúng ta nữa. Như vậy cái ý bao hàm
không phải chỉ là cái suy nghĩ, chí hướng hay chỉ thuộc chức năng
của não bộ như người ta vẫn thường nghĩ. Cái ý không hình không
dạng và không phải do vật chất tạo thành nên người ta không thể
đo đếm được nó.
Cái ý là cái cảm nhận hạnh phúc
và đau khổ; cái suy nghĩ, cái thấy, cái nghe,
ngửi, nếm và xúc chạm. Cái ý cũng là cái trong sáng và tỉnh thức vì
nó phản ánh những đối tượng của nhận thức
đồng thời lại vướng mắc với những đối tượng đó. Mặc dù chúng ta có
thể nói "cái ý của chúng ta" nhưng nó không có nghĩa là một cái ý
tổng thể chung nhất mà chỉ có nghĩa là cái ý cá nhân của mỗi một người
trong chúng ta. "Dòng ý thức" là từ ngữ dùng
để chỉ cho sự có mặt liên tục của ý
thức từ phút giây này sang phút giây kế tiếp.
Cái ý tạo tác ra những vui buồn
của chúng ta theo hai nguyên lý: (1) Cái ý làm
động cơ cho hành
động hay còn gọi là nghiệp. Những hành
động mà chúng ta thực hiện sẽ tạo ra
dấu ấn trong dòng tâm thức của chúng ta. Khi những dấu ấn nghiệp thức này
chín muồi thì chúng sẽ tác động lên
những hoàn cảnh mà chúng ta gặp phải. (2) Cái ý của chúng ta sẽ lý giải và
phân tích mọi sự, mọi chuyện mà chúng ta đối
diện và như vậy cái ý điều tiết nhận
thức của chúng ta. Qua cơ chế đó, cái ý của chúng ta là kẻ quyết
định ta sẽ tiếp nhận những sự kiện của cuộc
đời ta theo cách như thế nào. Ở đây
chúng ta sẽ xem xét sâu xa hơn hai nguyên lý này.
Cái ý là kẻ tạo tác ra nghiệp
Trong bài kinh Gieo Mạ, Ðức
Phật cho chúng ta biết làm thế nào mà cuộc sống lại là kết quả của những
hành động mà chúng ta thực hiện, và
làm thế nào mà những hành động này lại
có gốc gác từ cái ý của chúng ta. Vô minh chính là nguồn gốc. Vô minh tạo
ra những trạng thái nhiễu loạn khác như sân hận và chấp thủ. Bị thúc
đẩy bởi những trạng thái nhiễu loạn nên
chúng ta hành động. Những hành
động có ý thức hay còn gọi là nghiệp
đã để lại
dấu ấn trong dòng chảy tâm ý của chúng ta. Những dấu ấn nghiệp thức
giống như là một lực lượng tồn đọng (trong
tâm ý) khi chúng ta hoàn thành xong một hành
động. Một cách âm thầm, lực lượng này
đã chảy theo dòng chảy tâm thức của
chúng ta. Khi thời cơ chín muồi thì những lực lượng nghiệp thức tiềm ẩn
này trỗi dậy tạo nên những vui buồn của chúng ta.
Tiến trình này rất phức tạp và
thường phải mất nhiều thời gian quán chiếu, chiêm nghiệm chúng ta mới có
thể hiểu thấu đáo. Dưới đây chỉ là một
cách diễn đạt ngắn gọn với những khái niệm
tổng quát mà thôi.
Theo cái nhìn của Phật giáo,
tâm ý hiện tại của chúng ta đang bị vô minh
che mờ: Chúng ta không biết được chúng ta là ai theo ý nghĩa thâm
sâu nhất; chúng ta cũng không biết con người và vạn vật
đang tồn tại như thế nào. Không ý thức
được bản chất tối hậu ra sao nên chúng
ta cứ tưởng rằng chúng ta là vững mạnh, có thực chất và có thể nắm bắt. Ảo
tưởng về cái ngã càng trở nên rõ ràng khi chúng ta ở trong một trạng thái
khích động. Thí dụ, khi chúng ta tức giận thì
chúng ta có cảm giác rằng có một cái tôi mà cái tôi này
đang bực dọc một cách chính đáng. Nhưng nếu
chúng ta tự hỏi mình: "Ai đang giận
dữ đó?" Thì lập tức chúng ta khó có thể chỉ ra một cách chính
xác một cái "tôi" dường như là độc lập đó.
Thật ra cái tự ngã hay cái "tôi" là có chớ không phải không nhưng
nó tồn tại không giống như cách mà chúng ta nghĩ
đâu.
Chúng ta tìm cách
để bảo vệ và làm thỏa mãn cái ngã
độc lập này; những ý niệm sai lầm
đã khiến cho chúng ta làm như vậy. Thế
nên chúng ta bị vướng mắc vào sự vật làm cho chúng ta vui thích, ngược lại
chúng ta bực tức những sự vật hay người nào can thiệp vào hạnh phúc của
chúng ta. Từ quan điểm vô minh này
phát sinh ra tánh ganh tỵ, lòng kiêu ngạo, tâm hẹp hòi, cố chấp, lười trễ
và hàng loạt những tính xấu khác của con người. Những trạng thái nhiễu
loạn này cản trở những phẩm tính tốt đẹp của
chúng ta và làm cho chúng ta không thể trở nên mẫu người như chúng
ta muốn.
Bị thúc bách bởi những trạng
thái nhiễu loạn này nên chúng ta tạo nghiệp. Nghiệp có nghĩa là những hành
động có ý đồ được thực hiện qua thân, khẩu và
ý; tức là những điều mà chúng ta nghĩ,
nói và làm. Ba loại hành động này phát
sinh từ cái ý của chúng ta. Trước tiên một
động lực phát khởi trong tâm ý rồi chúng ta mới thể hiện động lực đó ra thành
hành động bên ngoài. Có những khi
chúng ta không ý thức được những động lực nằm
bên trong nên chúng ta cảm thấy ngạc nhiên với những hành
động mà chúng ta làm hay những lời mà
chúng ta nói. Nhưng nếu chúng ta có tỉnh giác thì chúng ta sẽ thấy
được rằng tất cả những hành
động của chúng ta đều được khởi phát bởi
những động lực nằm sẵn trong tâm ý rồi.
Thí dụ trước khi chúng ta chỉ
trích một người nào đó thì ý tưởng này
khởi lên, "Người này đang làm cho
ta không vui. Ta phải ngăn chặn người này
lại." Rồi chúng ta to tiếng với người ấy, kể lể cho người khác thấy
những khuyết điểm của người đó. Ðức
Phật dạy rằng hành động như vậy sẽ tạo nên
những dấu ấn nghiệp trong dòng tâm thức của chúng ta; về sau, khi chúng ta
gặp những hoàn cảnh bên ngoài đồng tình
thuận hạp thì dấu ấn nghiệp thức sẽ có điều
kiện để trở nên chín muồi và quyết
định trạng thái vui buồn của chúng ta.
Cũng như một hạt giống nhỏ bé
có thể phát triển để trở thành một cây
to có nhiều trái, một hành động duy nhất có
thể tạo ra nhiều kết quả khác nhau: những người khác sẽ chỉ trích chúng
ta, những người xung quanh không thân thiện với chúng ta, chúng ta sẽ có
thói quen chỉ trích người khác và khi mệnh chung chúng ta sẽ sinh
vào cảnh giới kém may mắn.
Cũng vậy, khi chúng ta có những
động cơ tốt, không có tính chất vị kỷ đồng
thời quan tâm tới sự lợi lạc của người khác thì chúng ta sẽ thể
hiện ra bằng những hành động lợi lạc.
Ðiều này tạo nên những dấu ấn tốt trong tâm thức của chúng ta; những dấu
ấn tốt này sẽ tạo nên nhiều kết quả: những người khác sẽ mến chúng ta, nơi
chúng ta cư trú rất đáng ưa thích, chúng ta
sẽ có những phẩm tính tốt đẹp và khi mệnh chung chúng ta sẽ sinh
vào những cảnh giới may mắn.
Như thế, trong những thời gian
khác nhau, chúng ta có những trạng thái và tình cảm nhiễu loạn khác nhau
như tức giận, cố chấp và hẹp lượng, đồng thời
chúng ta cũng có trạng thái và tình cảm tốt
đẹp khác nhau như thương yêu, tự
trọng, trí tuệ và quan tâm tới người khác. Ðạo Phật là một con
đường tẩy trừ trạng thái nhiễu loạn và
phát triển trạng thái tốt đẹp với mục đích
mang lại hạnh phúc cho bản thân chúng ta và cho những người xung
quanh.
Nhận lấy tái sinh
Nhờ vào quán trí thâm sâu về
cách thức mà các pháp hiển hiện, Ðức Phật biết
được rằng những trạng thái nhiễu loạn và
nghiệp lực khiến cho chúng sinh phải bị tái sinh. Trong giây phút sắp từ
bỏ thân này những người phàm phu chúng ta theo bản năng
cảm thấy thèm khát, níu giữ xác thân. Rồi người phàm phu gần như
hoảng loạn khi từ bỏ xác thân và vĩnh biệt mọi sự vật thân thuộc quanh họ.
Cũng giống như khi người chết thấy rõ ràng rằng mình
đang từ từ rời bỏ thân xác này và
đang kết thúc sinh mạng thì người chết
bèn lập tức nắm chắc một thân thể khác.
Hai lực lượng - thèm khát và
níu giữ - hoạt động như những nhân tố tiền đề
hỗn hợp để làm cho những dấu ấn nghiệp thức
được chín muồi trong giây phút mệnh chung.
Khi mà những dấu ấn nghiệp thức này bắt
đầu chín muồi thì cái ý của người
đang chết lập tức bị lôi cuốn vào một
xác thân khác và kiếm cách tái sinh vào xác thân
đó. Trong trường hợp của loài người
thì sau khi trải qua giai đoạn trung ấm giữa
mạng sống này và mạng sống kế tiếp, tâm thức của chúng ta
đi vào một cái trứng
đã thụ tinh. Thế là theo ngày tháng
chúng ta phát triển các uẩn của một con người gồm thân thể và ý thức.
Trong
đời sống mới này, chúng ta nhận thức
những người và những sự vật nhờ vào các giác quan mới. Khi cảm nhận
được những niềm vui và nỗi buồn, chúng
ta lại phát sinh chấp thủ, sân hận hay bình thản. Những
động lực này thúc
đẩy chúng ta hành
động. Những hành
động của chúng ta lại tạo nên nhiều
dấu ấn mới nữa trong dòng chảy của tâm thức và
đến khi chúng ta phải vĩnh viễn từ bỏ xác
thân thì chúng ta lại một lần nữa bị thôi thúc tìm tái sinh trong
một thân xác khác.
Vòng tròn tái sinh như vậy
được gọi là luân hồi (samsara).
Luân hồi không phải là một cảnh giới: nó không phải là thế giới của chúng
ta. Ðúng hơn luân hồi, còn gọi là vòng tròn hiện hữu, tức là tình trạng mà
chúng ta nhận lấy hết cuộc sinh tồn này đến
cuộc sinh tồn khác dưới sự điều khiển của những lực lượng nhiễu loạn và
những hành động tạo nghiệp.
Như vậy những lực lượng của
chính chúng ta đã khiến cho chúng ta
sinh ra và trưởng thành như chúng ta đang
hiện diện ở đây. Tuy nhiên nghiệp không phải là một "khối
đông cứng," cũng không mang tính chất cố định
của định mệnh nên số phận của chúng ta không phải
đã được
sắp đặt trước đâu vào đó rồi. Tất cả
đều tùy thuộc vào hoàn cảnh mà chúng ta
đang sống và trạng thái tâm ý của
chúng ta. Chính hoàn cảnh sống và ý hướng hay ý chí của chúng ta sẽ quyết
định dấu ấn nghiệp lực nào chín muồi
và những dấu ấn nghiệp nào không chín muồi
được. Hơn nữa, chúng ta có khả năng kiểm soát được hành
động của mình và qua
đó định dạng cho tương lai.
Ðây là quy luật của nghiệp, là
sự vận hành của nguyên nhân và hậu quả trong dòng chảy tâm ý của chúng ta.
Chúng ta cảm nhận niềm vui hay nỗi buồn là do những hành
động có tác ý mà chúng ta
đã làm trong quá khứ. Tâm ý của chúng
ta trước đây đã tạo tác ra những hành
động hay là những hạnh nghiệp. Như vậy
thì tâm ý của chúng ta là kẻ tạo tác chủ chốt
đã tạo ra những cảm nhận vui buồn mà chúng ta
đang nhận lãnh.
Phải chăng
có một khởi thủy?
Một số người tự hỏi: "Tiến
trình này bắt đầu như thế nào? Phải chăng
có một điểm khởi đầu cho cái vũ trụ này và vạn loại sinh linh trong
đó?"
Quá trình tiến hóa về phương
diện vật lý của vũ trụ này là một đối tượng
nghiên cứu của khoa học. Khoa học đã
xem xét tính chất liên tục về phương diện vật chất của vũ trụ này. Khoa
học đã nghiên cứu xem làm thế nào mà
nhân và quả vận hành để tạo ra vô vàn
những sự vật muôn màu muôn vẻ trong vũ trụ của chúng ta.
Phải chăng
vật chất trong vũ trụ có một nguyên nhân tức là một thời
điểm khi đó chưa có một dạng vật chất nào
cả, chưa có một dạng năng lượng nào
cả? Khó mà chứng minh được rằng có một thời
gian lúc đó vật chất chưa có, và năng
lượng cũng chưa có. Giả sử có một thời gian như vậy thì vật chất từ
đâu phát sinh? Không có gì làm nguyên
nhân thì làm sao tạo tác ra sự vật được?
Người ta có thể khẳng định rằng vũ trụ hiện nay mà chúng ta thấy là
dạng biến hóa của một năng lượng vật chất đã
có sẵn từ trước.
Tâm ý của chúng ta không phải
được làm bằng vật chất và do vậy
nguyên nhân của nó cũng không phải là vật chất. Tương tự như vấn
đề khởi nguyên của vật chất, tâm ý của
chúng ta phát sinh từ một tâm ý có trước trong dòng chảy của tâm ý. Chúng
ta có thể tìm lại tâm ý của chúng ta lui lại từng bước một trở về trước
cho đến hồi chúng ta còn thơ ấu. Tâm ý
của chúng ta đã thay
đổi từ hồi đó, và tâm ý hiện nay của
chúng ta được tạo tác bởi và có liên
quan với tâm ý trước đây của chúng ta.
Như vậy chúng ta có thể
đi ngược dòng thời gian tìm lại lúc
dòng tâm ý của chúng ta xuất hiện, đó là
lúc thọ thai. Cái tâm thức đi vào một
cái trứng đã thụ tinh trong tử cung
cũng phải từ một nhân trước đó. Theo Phật
giáo thì phải có một tâm ý trước đó,
tức là tâm ý của một đời sống trong
kiếp trước. Cứ như vậy mà truy ngược về quá khứ vô cùng tận. Không
có một điểm đầu tiên. Một dãy số
đại số cũng không có số nào có thể gọi
là số đứng đầu, vì người ta có thể
thêm vào một con số nữa. Cũng vậy dòng chảy của tâm ý của chúng ta không
có điểm khởi đầu.
Những trạng thái nhiễu loạn của
chúng ta, trong đó có vô minh, cũng phát sinh
từ những nguyên nhân tức là những trạng thái nhiễu loạn có trước.
Dòng chảy của những trạng thái nhiễu loạn này có mặt từ vô cùng vô tận về
quá khứ. Nếu có một cái mốc thời gian đầu tiên
của những trạng thái nhiễu loạn thì chúng ta lại phải nêu ra cái gì là
nguyên nhân của trạng thái nhiễu loạn đầu tiên
đó. Nếu thoạt kỳ thủy chúng ta thanh tịnh và
sau đó chúng ta trở nên vô minh thì vô
minh từ đâu mà phát sinh? Không thể có
những chúng sinh thanh tịnh nhận thức được
thực tại là gì rồi lại trở nên vô minh. Nếu một người trong hiện
tại đang trở nên vô minh thì chắc chắn
trước đó trong quá khứ người ấy đã
không phải là hoàn toàn thanh tịnh.
Không có ai làm chúng ta vô
minh. Không ai có thể đổ những gáo nước đen
vô minh vào trong dòng chảy của tâm thức chúng ta.
Theo quan
điểm của Phật giáo thì chẳng có ích
lợi gì trong việc tìm kiếm khởi thủy của đời
sống và điểm bắt đầu của những trạng
thái nhiễu loạn của chúng ta. Ðức Phật rất là thực tế, luôn nhấn
mạnh việc xử lý tình trạng trước mắt và cố gắng cứu vãn nó. Bị lạc hướng
vào trong những ức đoán phiếm luận vô bổ
khiến cho chúng ta không tận tâm lo cho những việc hiện tại hầu cải thiện
chúng.
Thí dụ một người bị xe tải tông
đổ máu nằm giữa đường. Ông ta cứ nằng nặc đòi
biết ai là người lái chiếc xe tải đó, hãng
nào đã sản xuất ra chiếc xe "chết
tiệt" như vậy, xe đó đời nào, rồi mới
chịu băng bó và chữa trị. Trong khi
bận rộn và mất thời giờ trong quá trình tìm hiểu về chiếc xe tải
đã gây tai nạn cho mình thì người ấy
chết. Chúng ta cho rằng người ấy là một kẻ ngu. Biết
được nguồn gốc của chiếc xe tải thì
vết thương trên người không bớt đi chút nào,
máu cũng không ngưng chảy chút nào, vi trùng cũng không ngừng xâm nhập cơ
thể qua vết thương. Biết được ai là
người tài xế đã lái chiếc xe tải gây
tai nạn thì cũng không thay đổi được gì
trong việc người ấy phải đối diện với tử
thần. Người khôn ngoan hơn sẽ xử lý tình huống trước mắt, tìm cách
cứu cấp để vượt qua cơn hiểm nghèo.
Cũng vậy, thay vì mất thời giờ
vô ích trong việc bàn luận, đoán già
đoán non về một khởi điểm không hề có, tốt
hơn hết chúng ta nên xem xét những cái khó khổ trong hiện tại, tìm
ra nguyên nhân của chúng - những trạng thái nhiễu loạn - và khắc phục
chúng. Ðức Phật không bàn về nguyên nhân của vũ trụ, vì bàn về việc
đó không giúp cho chúng ta giải quyết được
những vấn đề mà chúng ta đang gặp phải
và làm cho cuộc sống tốt hơn. Thay vào việc
đó Ðức Phật
đã tìm cách giải thích cách thức mà
tâm ý của chúng ta tạo nên những cảm nhận vui buồn thông qua việc thúc
đẩy chúng ta hành
động tạo nghiệp. Hiểu biết được việc này
giúp cho chúng ta có thể chế ngự và làm cho thanh tịnh quá trình này.
Ý là kẻ lý giải về hoàn cảnh
của chúng ta
Phương cách thứ hai tâm ý tạo
nên những cảm nhận vui buồn của chúng ta là nó lý giải những sự kiện mà
chúng ta gặp phải. Chính cách lý giải của chúng ta về một sự kiện nào
đó sẽ quyết định chúng ta sẽ tiếp nhận sự
kiện đó như thế nào. Mặc dù thường thường chúng ta
đều cho rằng chúng ta đã thấy rõ ràng
chính xác là như vậy nhưng những cảm nhận của chúng ta thực sự
đã bị lược qua màn lý giải của tâm ý
và đã bị nhuốm màu theo cách phóng ảnh
của tâm ý chúng ta.
Thí dụ khi hai người gặp ông
Trần, một người thích ông và người kia thì không thích. Người này nhận xét
ông Trần là có ý tứ, thông minh và có óc hài hước. Người kia thì cho rằng
ông Trần là một người hay cợt nhả người khác, có
đầu óc cạnh tranh và không màng
đến cảm xúc của người khác. Cả hai đều nghĩ
rằng họ đã thấy đúng về ông Trần là
như vậy. Nếu thấy đúng, thì cả hai
phải thấy ông Trần như nhau. Rõ ràng là họ nghĩ về ông Trần với những quan
điểm khác nhau.
Cả hai người
đều nghe những lời của ông Trần nói nhưng mỗi
người lại lý giải nội dung lời nói một cách khác đi. Tâm ý của mỗi người
phóng nhanh qua một quá trình từ nhận thức (âm thanh hay biểu hiện
mà mỗi người nhận được qua các giác quan) đến
kết luận (ý nghĩa của những dữ liệu đã
được xử lý).
Như vậy, một người cảm nhận
rằng những cách đùa của ông Trần là
hóm hỉnh và có ý tốt nên nghĩ: "Ông Trần là một người tốt. Tôi thích
thân cận với ông ta". Về sau lúc nào anh này cũng xem ông Trần là bạn
và tin rằng sẽ vui vẻ với nhau. Chị kia thì lý giải cách khác cho rằng lời
nói đùa của ông Trần là biếm nhẻ nên
nghĩ: "Ông Trần là kẻ tự thị, tôi không thích ông ta." Về sau lúc
nào chị kia cũng xem ông Trần là kẻ không
đáng ưa và có tâm trạng khinh ghét.
Cả hai
đều tưởng rằng điều họ nghĩ về ông Trần là
đúng. Nhưng thật ra nhận thức của hai người
về về ông ấy đều đã được tiến hành
thông qua bức màn của tâm ý hay của những quan niệm có trước. Những phẩm
chất tốt hay xấu, đáng mến hay đáng ghét của
ông Trần đều được tạo nên bởi những phóng ảnh của ông Trần hiện ra
trong tâm ý của người gặp ông. Tự thân ông Trần không có và không thuộc về
những phẩm tính đó.
Cách mà chúng ta lý giải về một
tình cảnh sẽ quyết định cảm nhận của chúng ta
về tình cảnh đó. Chúng ta có thể nhìn
người mẹ của chúng ta và nghĩ rằng: "Mẹ lúc nào cũng bảo chúng ta việc
này việc kia. Mẹ có nhiều yêu cầu quá." Sau
đó, mỗi lần gặp bà chúng ta không cảm
thấy thoải mái.
Ngược lại, chúng ta có thể suy
nghĩ: "Mẹ đã sanh thân chúng ta ra.
Mẹ đã săn
sóc cho chúng ta suốt thời còn trong nôi, lúc mà chúng ta hoàn toàn
không có thể tự mình làm được gì cả
ngay cả việc ăn uống của bản thân. Mẹ đã
dạy cho chúng ta những điều hay lẽ phải."
Như vậy người mẹ là hiện thân của một trái tim thương yêu. Mỗi lần gặp là
mẹ luôn tỏa rạng tình thương và chúng ta cảm thấy thương mẹ.
Vì chúng ta lý giải một số hành
vi của những người khác là tổn hại nên chúng ta dán nhãn "kẻ
đối nghịch" cho họ. Từ đó về sau trong đôi
mắt của chúng ta họ là những kẻ đối
nghịch. Cũng vậy, vì chúng ta dán nhãn "tử tế" cho một số hành vi
của người khác và xem họ là những người bạn nên từ
đó về sau trong đôi mắt của chúng ta những
người đó là bằng hữu. Bằng hữu hay kẻ
đối nghịch thật sự phát xuất từ tâm ý của chúng ta. Chính chúng ta tạo ra.
Sau khi tạo ra bằng hữu và kẻ đối
nghịch bằng sức mạnh của tâm ý, chúng ta luyến ái bạn và cố gắng
làm hại kẻ đối nghịch. Thật ra chúng ta đã
luyến ái và thù ghét những cái mà chính tâm ý chúng ta
đã tạo ra.
Chúng ta lý giải về hoàn cảnh
và những con người liên quan đến chúng ta như
thế nào là tùy vào mức độ thanh tịnh
của tâm ý chúng ta. Giống như một sự vật phản chiếu trên một tấm
gương dơ bẩn thì bức ảnh đó u ám và
không khả ái, cũng như vậy khi bị phóng ảnh qua một tâm ý ô nhiễm với
những trạng thái nhiễu loạn và những dấu ấn nghiệp lực
đen tối thì hình ảnh của một sự vật
cũng u ám và không khả ái. Nhưng nếu như sự vật
đó được phản chiếu qua một tấm gương không tì
vết thì hình ảnh thu nhận sẽ trong sạch và xinh
đẹp. Giống như vậy, qua cảm nhận của một tâm
ý thanh tịnh thì bất cứ sự vật gì cũng dễ thương cả.
Một số người mắc bệnh tâm lý
nên cứ ngỡ rằng những người xung quanh đang
rắp tâm hại họ. Bị khủng hoảng vì sợ hãi, họ còn thấy có những hình
ma bóng quế mà thật ra không có gì cả. Mặc dầu họ cứ tin tưởng rằng những
gì họ thấy là đúng nhưng chúng ta không thấy
như vậy. Do những hành động khác nhau
trong quá khứ và chức năng hoạt động
của trạng thái tâm lý nhiễu loạn hiện tại mà có sự khác nhau như
thế.
Ðối với một người
đã tiến xa trên con
đường giác ngộ thì thế gian này là
thanh tịnh. Ðối với một người mà tâm hồn chứa
đầy sự sân hận thì thế gian tồi tệ này là cảnh
địa ngục. Thế gian này tự nó không
phải là đầy niềm vui hay đầy nỗi khổ và
cảm nhận của chúng ta về nó tùy thuộc vào hành vi mà chúng ta
đã làm trong quá khứ và tùy thuộc vào
cách mà chúng ta cảm nhận nó trong hiện tại. Cảnh
địa ngục và cảnh thanh tịnh là do tâm
thức của chúng ta tạo tác. Tâm thức của chúng ta là
đầu nguồn, là kẻ tạo dựng ra những cảm
nhận của chúng ta.
Biết như vậy chúng ta luôn nhận
thức rằng phương pháp duy nhất để đạt được
một trạng thái hạnh phúc hoàn hảo và lâu bền là làm cho tâm ý của
chúng ta thanh tịnh, tức là không còn những trạng thái tâm lý nhiễu loạn,
những dấu ấn và những nhơ uế do nghiệp cũ của chúng ta
để lại. Chúng ta phải có trách nhiệm thực
hiện việc này và chúng ta có thể thực hiện
được. Một đoạn thi ca Phật giáo hiện đại dựa
trên kinh Pháp Cú đã viết như
sau:
Do chúng ta làm nên điều quấy,
Do chúng ta làm nên nỗi đau.
Do chúng ta dừng tay tội lỗi
Do chúng ta thanh tịnh nhiệm mầu
Không người nào cứu rỗi được ta
Không ai có thể, không ai đâu.
Ðức Phật chỉ chỉ đường dẫn lối
Còn chúng ta phải bước chân mau.
Chư Phật chỉ cho chúng ta con
đường cần phải đi. Chư Phật biết con đường vì
chính các ngài đã
đi qua con đường đó. Những vị hiện giờ là
chư Phật trước kia cũng đã từng bị rối
ren mù mờ và khó khăn như chúng ta. Tuy nhiên,
nhờ đi theo con đường này mà chư vị
đã làm thanh tịnh
được tâm ý và phát triển
đến chỗ viên mãn những phẩm chất cao
thượng nhất của con người và trở thành những vị Chánh Ðẳng Giác. Chúng ta
cũng có thể làm y như vậy.
Chư Phật hướng dẫn chúng ta,
chúng ta phải làm theo sự hướng dẫn đó. Thầy
giáo có thể dạy chúng ta nhưng thầy giáo không thể học dùm cho
chúng ta; cũng vậy, chư Phật có thể hướng dẫn chúng ta phương cách thực
hành nhưng chính chúng ta phải là người thực hành. Một bài kinh nói rằng:
Ðể rửa trôi đi những nặng nề ác trược
Chư Phật đâu thể "sái tịnh" bằng giọt nước;
Ðể tẩy trừ niềm đau và nỗi khổ
Chư Phật đâu thể dùng bàn tay ấn quyết;
Chư Phật cũng đâu thể nào "chuyển khoản"
Sự giác ngộ sang "tài khoản" của chúng sinh.
Ðể độ thoát vạn loại hàm linh.
Chư Phật chỉ truyền dạy con đường như thật.
Trong khi
đạo Phật nhấn mạnh trách nhiệm mà mỗi
cá nhân phải tự làm, điều đó không có nghĩa là
chúng ta đơn thân độc hành trên con
đường đạo. Chúng ta có thể nương tựa vào
sự hướng dẫn và phấn khởi với Ngôi Tam Bảo: chư Phật, Giáo Pháp và Tăng-già.
Chư Phật là những vị
đã thanh lọc hoàn toàn tất cả sân hận,
tham nhiễm, u mê và vị kỷ ra khỏi tâm thức; đã
phát triển viên mãn tất cả những phẩm tính tốt
đẹp như tâm từ bình
đẳng, lòng bi thương xót và trí tuệ
soi sáng.
Giáo pháp hay giáo lý là những
miêu tả về thực tại như thật cùng với những trạng thái và trường hợp chấm
dứt tình trạng rối khổ do vô minh gây nên. Theo nghĩa phổ thông thì giáo
pháp là những lời dạy của Ðức Phật dẫn dắt chúng ta nhận chân ra thực tại
như thật.
Tăng-già
là nói đến những vị đã nhận ra
được thực tại vô ngã, cái thực tại mà
trong đó không có một cái ngã tự nó
tồn tại một cách độc lập. Những vị đã
tiến xa trên con đường giải thoát và
giác ngộ này có thể là tăng ni mà cũng
có thể là cư sĩ tại gia. Nhưng theo nghĩa phổ thông thì tăng-già
là đoàn thể của các vị tăng
ni, những người đã dành hết cuộc đời
của mình cho việc tu tập bản thân và làm lợi lạc cho người khác.
Trong những chương kế tiếp,
chúng ta sẽ học hỏi sâu xa hơn về vấn đề làm
thế nào mà tâm ý tạo tác nên những cảm nhận của chúng ta. Chúng ta cũng sẽ
biết được cách để điều phục tâm viên ý
mã rất khó điều phục của mình
để có thể tạo được nền tảng của hạnh phúc, làm
cho cuộc sống thêm ý nghĩa và có được những
mối liên hệ hòa hợp tốt đẹp với tha
nhân.
VIII. BỐN SỰ THẬT
CAO THƯỢNG
^
Ðối mặt với những tình cảnh khó
khăn một cách sáng tạo
Bốn sự thật cao thượng là hình
thức nhờ đó mà cốt lõi của giáo pháp
được miêu tả. Hai sự thật
đầu miêu tả chính xác tình cảnh hiện
tại của chúng ta; hai sự thật sau đó trình
bày một phương cách thực tiễn để cải thiện tình
cảnh đó. Ðối với bốn sự thật cao
thượng, không nhất thiết là chúng ta phải có một niềm tin mang tính chất
huyền bí để có thể chấp nhận chúng, mà
qua kinh nghiệm của tự thân mỗi người, chúng ta cũng có thể phán
định và nhận chân
được giá trị thật sự của những sự thật đó.
Bốn sự thật có ý nghĩa cao
thượng bởi vì đây là những sự
thật mà những vị cao khiết và thượng trí dựa vào thực chứng
của bản thân về thực tại trình bày ra. Ðồng thời, nhờ vào trí hiểu biết
bốn sự thật, chúng ta sẽ trở nên cao khiết và thượng trí.
Chúng là những sự thật vì chúng là những điều
có thật và chính xác là như vậy. Những thực tế này không hề lừa dối
chúng ta hay đưa chúng ta rời xa hạnh phúc.
Bốn sự thật cao thượng là:
1. Nỗi khổ đang có mặt.
2. Nỗi khổ có những nguyên nhân.
3. Nỗi khổ có thể được loại trừ.
4. Có con đường chơn chánh đưa đến sự chấm dứt những nỗi khổ.
Những việc chúng ta cần phải
thực hiện là:
1. Chúng ta cần phải nhận diện đau khổ đang có mặt;
2. Chúng ta cần phải tìm ra nguyên nhân của chúng;
3. Chúng ta cần phải loại trừ đau khổ;
4. Chúng ta cần phải nương tựa vào con đường chơn chánh để chấm dứt đau
khổ.
Sự thật thứ nhất: Nỗi khổ
đang có mặt
Tiếng Pali hay Sanskrit "dukkha"
thường được người ta dịch là khổ
đau. Tuy nhiên, chữ "khổ
đau" gây ra hiểu lầm vì nó chỉ cho sự
khốn khổ và đau đớn. Do hiểu lầm, có người sẽ
nói rằng: "Cuộc sống của tôi bình thường, tôi không có chuyện gì
khốn khổ và đau đớn cả. Tại sao Phật giáo cứ
nằng nặc bảo rằng cuộc sống là khốn khổ và
đau đớn, trong thực tế thì tôi có
nhiều hạnh phúc? Phật giáo dường như là bi quan quá
đỗi!"
Cần nên hiểu rằng khi
đức Phật bảo cuộc sống của chúng ta là
dukkha, thì ý Ngài muốn nói đến mọi
trạng thái không thỏa mãn của chúng ta với một phạm vi rất rộng: từ
những bực dọc nho nhỏ đến những vấn đề khó
khăn trong đời sống; từ những nỗi đau khổ nát lòng chí
đến những tang thương của kiếp sống con
người. Do vậy xuyên suốt quyển sách này tất cả những từ ngữ nằm
trong phạm vi nêu trên đều được dùng
để chỉ cho dukkha với ý nghĩa:
những sự việc xảy ra trong đời sống của chúng
ta không bao giờ hoàn hảo và chúng ta có thể cải hóa chúng
được.
Có lẽ chúng ta không thích suy
nghĩ về những điều buồn phiền trong đời sống
nhưng thật ra chúng ta cần phải suy nghĩ về chúng để tìm phương trị
liệu. Thí dụ có một phụ nữ bị bệnh nhưng lại chối bỏ không chịu thừa nhận
bệnh tật của mình; hệ quả là cô ta sẽ không tìm kiếm phương thuốc trị bệnh
và tất nhiên sẽ không bao giờ khỏi bệnh. Tương tự như vậy nếu chúng ta cố
tình nghĩ rằng mọi việc trong đời sống của
chúng ta đều tốt đẹp cả thì chúng ta sẽ không có cái nhìn sâu thẳm
để tìm ra
được những bất an của cuộc sống và nỗi sợ hãi trong bản thân của
chúng ta. Hệ quả là chúng ta sẽ không thể nào
đoạn trừ được chúng và đạt được một
trạng thái hạnh phúc lâu bền.
Nếu xem xét kỹ lưỡng tình trạng
của chúng ta và nhìn nhận đúng sự thật thì
chúng ta có thể biến cải nó. Hơn nữa, thành thật với chính mình khiến cho
ta cảm thấy nhẹ nhỏm và có hy vọng vì chúng ta biết rằng những chuyện khó
khổ của chúng ta không phải là không vượt qua
được.
Ðức Phật miêu tả 3 dạng khó
chịu hay khổ sở mà chúng ta phải bị là:
1. Ðau đớn mà khổ.
2. Biến chuyển mà khổ.
3. Trùng trùng duyên hợp mà khổ.
Ðau
đớn mà khổ có nghĩa là khi chúng ta bị
cảm giác đau đớn thể xác hay khổ sở về tinh
thần. Ðau đớn thể xác bao gồm nhức
đầu, đau lưng, đau thắt tim hay nhức nhối do ung thư... Khổ sở tinh thần là
khi không đạt được điều mà chúng ta
muốn, khi mất sự vật mà chúng ta ưa thích hoặc khi chúng ta gặp những bất
hạnh trên đường đời. Chúng ta buồn khi sự
nghiệp không thành đạt; chúng ta suy
sụp tinh thần khi phải từ biệt hay vĩnh biệt những người thân yêu;
chúng ta cảm thấy lo âu khi tài sản hay sự nghiệp của chúng ta
đang trên
đà tuột dốc.
Con người sống trên
đời này
đều có những nỗi khổ về thể xác và tinh thần. Khoa học kỹ thuật
phát triển có thể giải quyết nhiều nỗi khổ về mặt thể xác nhưng
đồng thời cũng đã tạo ra những nỗi khổ
mới như nạn ô nhiễm môi trường và nguy cơ dẫn
đến những cuộc chiến tranh nguyên tử. Chúng ta có thể có một
đời sống vật chất với tiêu chuẩn hiện
đại hơn bao giờ hết đồng thời chúng ta cũng
phải đối mặt với những tệ nạn, tội ác, ma túy, tự tử và Tỷ lệ ly dị
càng ngày càng gia tăng với mức độ cao không
kém. Chỉ có khoa học kỹ thuật mà thôi thì không giải quyết hết
những vấn đề của chúng ta.
Biến chuyển mà khổ có nghĩa là
những sự việc mà chúng ta thường xem là hạnh phúc không bao giờ giữ y
nguyên trạng như thế mãi, chắc chắn chúng phải biến chuyển theo cách này
hay cách khác và trở thành nỗi khổ. Lấy chuyện
ăn uống làm thí dụ. Chúng ta cứ nghĩ
là ăn thức ăn ngon tức là nguồn sung
sướng. Nếu điều này là
đúng thì càng
ăn càng có sung sướng. Rõ ràng là
không phải như vậy. Lúc mới bắt đầu ăn uống
thì chúng ta thỏa mãn được sự đói khát
và có sung sướng nhưng ăn thêm,
ăn thêm nữa thì chúng ta bị chứng nặng
bụng. Như vậy việc ăn uống lúc nãy là
sung sướng nhưng bây giờ đã là khó
chịu bởi nặng bụng và chứng khó tiêu hoá.
Tương tự, chúng ta xem bạn bè
là nguồn vui. Tuy nhiên, nếu tự bản chất việc bạn bè
đến với ta là niềm vui thì càng có mặt
với bạn bè, ta càng hạnh phúc. Rất tiếc đó
không phải là bản chất cố định, nguyên
trạng và luôn luôn như vậy. Lúc mới đón tiếp
bạn bè chúng ta cảm thấy vui vẻ và nỗi cô
đơn tan biến. Nhưng nếu bạn cứ ở chơi với ta
quá lâu thì chúng ta cảm thấy mỏi mệt và muốn họ ra về.
Mặc dầu những con người và sự
vật ở chung quanh làm cho ta có hạnh phúc nhưng nếu quá nhiều người bao
vây thì ta lại cảm thấy không thoải mái. Hạnh phúc mà chúng ta có
được từ họ biến thành nỗi bất hạnh.
Những điều nêu ra ở trên giúp chúng ta
nhận ra rằng hạnh phúc không phải là bản chất sẵn có trong những con người
hay sự vật mà hạnh phúc chỉ là kết quả của sự tương tác có tính giai
đoạn trong mối quan hệ giữa ta với chúng.
Trùng trùng duyên hợp mà khổ có
nghĩa là thân và tâm của chúng ta đang có vô
số những mối liên hệ mật thiết với vô số những yếu tố khác nên
chúng ta cứ phải khổ. Chúng ta có cảm giác tồi tệ ngay khi môi trường xung
quanh thay đổi. Chỉ cần thời tiết thay đổi thì
thân thể chúng ta cảm thấy ê ẩm hay cảm lạnh; bạn bè thay
đổi cách xử sự làm cho chúng ta cảm
thấy bị hụt hẫng...
Nỗi khổ trên
đây được gọi là khổ trùng trùng vì
thân thể và tâm thức của chúng ta bị nỗi khổ mênh mông chờ chực. Chúng ta
không có một bí quyết nào để thoát khỏi hết.
Ðược gọi là khổ trùng trùng là vì những nỗi khổ áp bức tất cả những
ai không nhận thức được thực trạng của con
người và các sự vật đang tồn tại như
thế nào. Ngay cả những người dường như có
được tất cả những hạnh phúc mà cuộc
sống trần gian có thể mang lại cũng phải già nua và tử vong.
Thân thể và tâm thức hiện tại
của chúng ta cấu kết duyên hợp với khổ trong ý nghĩa: chúng làm cơ sở cho
những nỗi khổ mà chúng ta đang có. Thân thể mà
chúng ta đang có là cơ sở
để cho chúng ta có những cảm nhận tồi tệ về
sức khỏe. Nếu chúng ta không có một thân thể để nhận biết đau đớn và
nhức nhối thì chúng ta sẽ không bao giờ biết bệnh tật là gì dù có bao
nhiêu vi trùng và vi khuẩn trên trần gian này
đi nữa. Tương tự như thế, tâm thức mà chúng ta
đang có chính là cơ sở
để chúng ta cảm nhận những cảm giác đau buồn
và khổ não. Ngược lại, nếu chúng ta có một tâm thức mà sân hận
không nhiễm vào được thì chúng ta sẽ
không bao giờ phải chịu cảm giác tức giận khi
đối nghịch và xúc chạm với tha nhân.
Vì gắn liền với thân thể và tâm
thức nên chúng ta hành động theo chiều hướng
tạo nên nhiều đau khổ hơn và
đưa đến nhiều mê muội hơn trong tương
lai. Thí dụ, để cưng dưỡng thân thể này
có thể chúng ta đã lường gạt lấy của
người khác. Việc này không chỉ làm tổn hại người kia mà còn
để lại tỳ vết xấu xa trong tâm thức, khiến
cho chính chúng ta bị tước đoạt của cải trong tương lai.
Có nhiều người cảm thấy mất
tinh thần khi suy nghĩ về 3 loại khổ trên đây
vì dường như con người đang ở trong
một tình trạng tồi tệ quá đỗi. Có thể
họ nghĩ rằng Phật giáo bi quan quá mức vì
đề cập nhiều về đau khổ. Nhưng nếu chúng ta
hiểu được mục đích của Ðức Phật khi bàn về khổ thì chúng ta không
còn quan niệm sai lầm như trên mà lại có cảm giác hưng phấn.
Bàn luận về tình trạng
đau khổ mà chúng ta
đang có là
để tạo cơ sở cho chúng ta có ý chí cương
quyết giải thoát khỏi nó và đạt được
an vui lâu bền. Với chủ tâm cải tiến cuộc sống, chúng ta sẽ tìm
hiểu nguyên nhân của những nỗi khổ đau đồng
thời chọn lựa và áp dụng những phương pháp
để loại trừ chúng. Ðược như vậy thì
đời sống của chúng ta có ý nghĩa sâu xa và
có định hướng rõ ràng.
Sự thật thứ hai: Nỗi khổ có
những nguyên do
Như
đã được
giải thích trong chương trước tâm thức của chúng ta là cơ sở
để cảm nhận hạnh phúc và
đau khổ. Khi chúng ta có trí tuệ và từ
bi thì chúng ta có hạnh phúc; khi những nhiễu loạn tâm lý tạo nên vô minh
và khi chúng ta vô minh thì những nỗi khổ sẽ bao vây chúng ta. Như vậy
điều quan trọng là phân biệt tường tận
hai dạng tâm lý: dạng tâm lý xây dựng của trí tuệ và dạng tâm lý phá hoại
của vô minh để chúng ta có thể làm cho
phát triển dạng tâm lý xây dựng và chế tài dạng tâm lý phá hoại.
Nguyên nhân chính
đưa đến nỗi khổ của chúng ta là vô
minh. Vô minh là một yếu tố của tâm thức, một trạng thái làm u ám trí năng.
Nó làm cho chúng ta không biết thật sự chúng ta là gì và các sự vật
quanh chúng ta tồn tại theo cơ chế như thế nào. Vô minh không những che án
không cho chúng ta biết được sự vật tồn tại
theo cách nào mà nó còn vẽ vời khiến cho chúng ta chỉ thấy
được bộ diện bên ngoài giả dối của sự
vật mà thực chất là không phải như vậy.
Thí dụ những sự vật có tính vận
động như bút máy, bút bi hay thân thể của
chúng ta thì liên tục biến đổi từng
giờ, từng phút. Tuy nhiên dưới sự che án của vô minh chúng ta xem
chúng là không biến đổi và cố
định. Trường hợp khác, khi chúng ta gặp lại
một người bạn đã lâu không thấy nhau chúng ta liền giật mình ngạc
nhiên khi thấy rằng cô ta già đi thấy rõ.
Tương tự như thế chúng ta có cảm giác bất ngờ khi
đồ đạc bị hư bể. Vì sao? Vì trong tâm
thức, chúng ta vẫn đinh ninh rằng chúng bất
biến mặc dầu về phương diện tri thức chúng ta có thể hiểu rằng chúng luôn
biến đổi. Mặc dầu các nhà khoa học bảo rằng những hạt nguyên tử cấu
thành cái bàn thì di chuyển liên tục nhưng khi ngắm nghía cái bàn bóng
láng vừa ý, chúng ta cứ thấy nó là bất động và
chẳng có gì là biến chuyển cả. Vô minh đã
làm cho nhận thức của chúng ta không tương thích
được với thực tướng.
Một cấp
độ cao hơn của vô minh được Phật giáo định
danh là quan niệm sai lầm về sự tự hiện hữu. Sách vở
đã bàn luận nhiều về
đề tài này nhưng cần phải có thời gian
chúng ta mới đạt được một hiểu biết đúng đắn
về nó. Quan niệm sai lầm về sự tự hiện hữu chính là ngọn nguồn của
mọi thái độ nhiễu loạn và khổ não.
Liệu pháp để chữa trị quan niệm sai lầm này
là trí tuệ nhận biết được tánh không hay thực
tướng và vì vậy tánh không hay thực tướng
được xem là cốt lõi của giáo lý nhà
Phật.
Tự nó có sự hiện hữu có nghĩa
là con người hay sơn hà đại địa tự bản thân là
có mặt, có thuộc tính là sự hiện hữu; nói cách khác, nó có một thể tính
thiết yếu làm cho nó có mặt như vậy. Thí dụ, một cành hoa thì gồm có nhiều
phần như cuống hoa, cánh hoa, nhị hoa và lá noãn. Tuy nhiên
đối với chúng ta cành hoa là một vật
đơn nhất với một cái gì
đó làm cho tự nó là một cành hoa
đang hiện hữu.
Tương tự như vậy mỗi người gồm
có một thân thể và một tâm thức; dựa vào đó
đặt một tên gọi. Tuy nhiên, khi nhìn một người thì chúng ta thấy
người ấy là một người "thực", một người đơn
nhất tồn tại, không can gì đến thân
thể và tâm thức, hay tên gọi của người
đó. Dưới nhãn quan lệch lạc như thế các sự vật có dáng vẻ như tự nó
hiện hữu; và với vô minh che án, chúng ta mặc nhiên "thị thực" dáng vẻ
đó rồi định hình hay quan niệm rằng tự
nó tồn tại như vậy.
Vô minh, không hiểu biết về bản
chất tối hậu, cho rằng mọi vật đều độc lập và
tự nó hiện hữu, là nguồn gốc của những tâm thái nhiễu loạn. Ðiều này tác
động xấu đến đời sống bình nhật của
chúng ta khiến cho chúng ta thường xuyên khởi tâm luyến ái
đối với những gì có vẻ là hạnh phúc và
tức giận đối với những gì không làm
cho chúng ta vui vẻ. Dưới áp lực của luyến ái và tức giận, tâm thái hằng
ngày của chúng ta cứ trồi sụt lên xuống theo những lượn sóng vui buồn của
cuộc thế.
Tâm ái luyến khiến cho chúng ta
đánh giá quá cao những phẩm chất tốt đẹp của
người nào hay vật nào đó rồi đeo đuổi
theo nó. Tâm sân hận lại làm lộ rõ và làm nặng nề ti tiện thêm
những tính chất xấu xa của người nào hay vật nào
đó rồi sinh tâm muốn làm hại nó. Bị
nhiễu loạn bởi luyến ái và sân hận, hầu như người nào kể cả loài vật trong
suốt cuộc sống ở trần gian đều ra tay cứu
giúp bạn bè, thân thuộc, đoàn
thể mà mình có duyên gắn bó và tìm cách làm hại hay triệt hạ kẻ
đối nghịch. Ngoài ba
độc tố chính - vô minh, tham ái và sân
hận - còn có những độc tố khác tác động đến
cuộc sống của chúng ta như ganh tỵ, kiêu mạn, cộc cằn...
Trong cuộc sống bình nhật,
những tâm thái nhiễu loạn này tác động đến hành
vi của chúng ta. Thí dụ, tâm luyến ái đối với
những thành công mà cá nhân chúng ta đã
đạt được khiến cho chúng ta ganh đua nhiều
hơn là hợp lực với đồng nghiệp trong
công việc. Sân giận làm cho chúng ta nổi nóng và mắng nhiếc người
khác. Chỉ cần phản tỉnh tự tri đối với hành
động của bản thân thì chúng ta thấy
tâm luyến ái và sân hận đã khiến cho
chúng ta hành động ra sao; chỉ cần đọc nhật
báo hay xem truyền hình thì cũng đủ
thấy tâm luyến ái và sân hận đã
khiến cho người ta hành động như thế nào.
Những hành
động hay là nghiệp
đã để lại
những dấu ấn trong dòng chảy tâm thức của chúng ta. Như
đã giảng giải trước
đây, những dấu ấn đen thẩm này thôi
thúc chúng ta đi tái sinh và lại phải
chịu những đau khổ dù chúng ta tái
sinh ở đâu. Ngược lại, những hành
động trong sáng như thương mến, giúp đỡ cho
người khác sẽ mang lại hạnh phúc cho chúng ta trong tương lai nhưng nếu
chúng ta vẫn còn bị vô minh che án thì hạnh phúc ấy rất là giới
hạn, tức là chúng ta có được hạnh phúc trong
một thời gian nhất định nào đó rồi
thôi. Chúng ta chỉ hưởng được hạnh phúc lâu dài khi chúng ta
đã tẩy sạch tất cả vô minh. Tóm lại,
hai yếu tố: tâm thái nhiễu loạn và nghiệp là nguyên nhân tạo ra những rối
khổ triền miên trong suốt dòng sinh tử của chúng ta.
Sự thật thứ ba: Nỗi khổ có thể
được diệt trừ
Chúng ta có thể diệt trừ nghiệp
và những tâm thái nhiễu loạn. Bởi vì chúng không phải là bản chất cố hữu
của tâm thức chúng ta. Những quan niệm mê muội làm phát sinh ra những tâm
thái nhiễu loạn; một khi chúng ta chứng ngộ
được không tánh hay pháp tánh như thật thì những quan niệm mê muội
hay vô minh không còn che án chúng ta nữa. Cũng giống như trường hợp bật
đèn trong một phòng tối thì bóng tối
lập tức tan biến.
Nhờ vào trí tuệ chúng ta có thể
tẩy sạch vĩnh viễn vô minh và những tâm thái nhiễu loạn trong dòng chảy
tâm thức của chúng ta. Chúng ta sẽ không làm những việc khiến cho chúng ta
phải tái sinh. Hơn nữa, trí tuệ sẽ tẩy sạch mọi dấu vết nghiệp lực
đã và
đang hiện hữu trong dòng tâm thức của chúng ta khiến cho sức mạnh
của những dấu vết này không còn có thể phát huy tác dụng, tạo quả báo nữa.
Tịnh chỉ (thuộc Diệt
đế) có nghĩa là những tâm thái nhiễu
loạn đã bị tiêu diệt, không còn tồn
tại nữa. Khi chúng ta tu tập theo Chánh pháp và dần dần loại trừ những tâm
thái nhiễu loạn thì những sân hận thô, những sân hận vi tế cùng với tham
ái và vô minh sẽ lần lượt tịnh chỉ. Khi chúng ta
đoạn trừ tận gốc rễ tất cả những tâm thái
nhiễu loạn thì chúng ta sẽ đạt đến một
trạng thái thảnh thơi giải thoát và thanh lương mà thuật ngữ gọi là
Niết bàn. Khi đó đau khổ và nguyên
nhân của đau khổ đều không còn. Trong
kinh Pháp Cú Ðức Phật nói:
Tỷ-kheo tát thuyền này
Thuyền không nhẹ đi mau
Trừ tham diệt sân hận
Tất chứng đạt Niết bàn. (kinh Pháp Cú, câu 369)
Niết bàn là một trạng thái phúc
lạc. Ở trạng thái đó chúng ta không còn
phải tái sinh do tác động của nghiệp và
những tâm thái nhiễu loạn nữa. Sau khi mệnh chung những người
đã đạt
được giải thoát thanh lương sẽ nhất tâm thiền quán về tánh không của các
pháp và an trú trong bình an và hạnh phúc vĩnh hằng.
Người tìm cầu giải thoát khỏi
vòng sinh tử luân hồi được gọi là
Thanh Văn hay Ðộc Giác. Gọi là Thanh Văn
vì những người đó nghe học và
giảng dạy giáo pháp của Phật; gọi là Ðộc Giác vì trong thời không có Phật
tại thế những người đó chứng đạt được Niết bàn
đơn độc trong kiếp chót của mình.
Những vị Thanh Văn và những vị Ðộc
Giác đã chứng
đạt Niết bàn thì gọi là bậc A-la-hán
hay Sát Tặc vì họ đã tiêu diệt hết
giặc lòng, mà giặc lòng chính là những tâm thái nhiễu loạn.
Có người thích
đi theo con đường của Bồ Tát, hướng đến quả
vị của chư Phật nhằm đem lại lợi lạc cho tất cả chúng sinh. Ngay cả sau
khi đã làm tịnh chỉ tất cả nghiệp và tâm thái nhiễu loạn của bản
thân thì những vị hành theo hạnh Bồ Tát chủ
động ở lại trong vòng sinh tử để giúp
đỡ và giáo hóa chúng sinh. Vị Bồ Tát tái sinh là vì lòng bi mẫn chớ
không phải vì vô minh. Những vị hành theo hạnh Bồ Tát tiếp tục lưu trú lâu
dài trong cõi đời này
để phụng sự cho tha nhân.
Khi làm những việc lợi lạc cho
chúng sinh thì những vị hành theo hạnh Bồ Tát cũng
đang tẩy trừ những phiền não vi tế
trong dòng chảy của tâm thức để chứng được
quả vị giác ngộ hoàn toàn như chư Phật. Mặc dầu những vị ấy có lòng
đại từ bi đối với tha nhân mạnh mẽ đến đổi
thệ nguyện không thành chánh giác cho
đến chừng nào tất cả chúng sinh đã
thành chánh giác nhưng thật ra họ cũng không lãng quên việc giác ngộ của
chính bản thân mình. Ý nghĩa cao cả và đích
thực của lời thệ nguyện đó là nếu việc làm ấy
đem lại lợi lạc cho chúng sinh thì họ
cũng vui lòng hy sinh sự giải thoát của bản thân. Tuy nhiên, các vị hành
theo hạnh Bồ Tát nhận thức rằng nếu là một vị Phật thì có thể giúp chúng
sinh có hiệu quả hơn một phàm phu nên các vị hành theo hạnh Bồ Tát cũng
tinh tấn tu hành để đạt được Phật quả. Dù
đã thành Phật, các vị
đó vẫn hiện thân vào cõi Ta bà
để hóa độ chúng sinh.
Phật quả hay Chánh Ðẳng Chánh
Giác là một quả chứng cao hơn A-la-hán. Một cách phân biệt hai dạng quả
chứng này là dựa vào mức độ loại trừ tam
chướng khỏi tâm thức.
Có hai mức
độ chướng ngại: (1) phiền não chướng
gồm những tâm thái nhiễu loạn và nghiệp, (2) sở tri chướng tức là thấy các
pháp là hiển nhiên có thật và không thể trực tiếp, tức thời nhận chân
được tất cả các pháp. Hai mức độ chướng ngại
này giống như người ta để những củ hành
trong một cái hũ. Tuy người ta đã lấy
củ hành ra rồi nhưng trong hũ vẫn còn mùi hôi. Khi phiền não chướng
đã bị loại trừ thì người tu
đạt được cảnh giới giải thoát hay quả vị
A-la-hán (nhưng dư vị của nó vẫn còn
đọng lại); nếu người ấy tiếp tục thanh lọc tâm hồn loại trừ tri chướng thì
người ấy sẽ đạt đến sự giải thoát hoàn
toàn của một vị Chánh Ðẳng Giác (hoàn toàn thanh tịnh).
Vì vị hành theo hạnh Bồ Tát có
nguyện vọng cứu giúp mọi người một cách hiệu quả và rộng khắp nên vị ấy
thiền định để thanh lọc cả hai loại chướng
ngại. Trong khi những vị hành theo hạnh Bồ Tát cấp thấp vẫn còn
phiền não chướng thì những vị hành theo hạnh Bồ Tát cao hơn
đã diệt hết phiền não chướng và
đang đi trên con
đường diệt trừ sở tri chướng. Khi một vị hành
theo hạnh Bồ Tát đã chứng
được quả vị Chánh Ðẳng Giác thì vị ấy
có thể thị hiện vào cõi đời này trong
mọi hình thức cần thiết để giúp đỡ những
người khác đạt được sự giác ngộ như mình.
Có một số người chứng
được quả vị A-la-hán trước khi thành
tựu quả vị Chánh Ðẳng Giác trong khi đó một
số người khác lại trực tiếp đi vào con
đường của Bồ Tát để thành Phật. Những người chứng quả A-la-hán
quyết tâm thoát khỏi vòng sanh tử vì vậy mà
đi theo con đường của Thanh Văn hay Ðộc Giác. Sau khi
đạt được Niết bàn những vị này an trú
trong cảnh giới phúc lạc; kế tiếp, tu tập tâm xả thân bố thí, rồi
đạt đến chánh giác để làm lợi lạc cho
tha nhân. Thế là những vị này đi theo con
đường của Bồ Tát và cuối cùng chứng
đắc quả vị Vô Thượng Giác.
Những vị khác thì ngay từ
đầu đã nuôi dưỡng quyết tâm
đạt được sự giải thoát song song với việc
thực hành hạnh xả thân bố thí vì vậy những vị ấy trực tiếp
đi vào con
đường Bồ Tát mà không
đi ngang qua quả vị A-la-hán. Khi đi đến cuối
con đường thì những vị ấy cũng thành tựu quả vị Vô Thượng của một
vị Phật.
Sự thật thứ tư: Con
đường chơn chánh dẫn đến khổ diệt
Khổ diệt có nghĩa là không còn
khổ và nguyên nhân của khổ nữa. Ðể đạt được
trạng thái giải thoát này, chúng ta phải
đi theo con đường của Chánh pháp.
|
Bốn Sự Thật Cao Thượng và
Bát Thánh Đạo
1. Sự thật về khổ hay sự
thật về những cảm giác không vừa ý
2. Sự thật về nguyên nhân
của những cảm giác đó
- Những tâm thái nhiễu loạn
- Những hành vi tạo nghiệp
3. Sự thật về sự chấm dứt
những cảm giác đau khổ và sự
đoạn trừ nguyên nhân của những cảm
giác đó
4. Sự thật về con
đường đưa đến sự an tịnh
- Pháp tu học cao thượng về đạo đức: 1)
Chánh nghiệp; 2) Chánh ngữ; 3) Chánh mạng
- Pháp tu học cao thượng về thiền định:
1) Chánh tinh tấn; 2) Chánh niệm; 3) Chánh định
- Pháp tu học cao thượng về trí tuệ: 1)
Chánh kiến; 2) Chánh tư duy
|
Trong kinh Ðại Bát Niết bàn và
nhiều nơi khác Ðức Phật đã miêu tả con
đường đưa đến trạng thái Niết bàn là
ba pháp tu học cao thượng: đạo đức, thiền
định và trí tuệ. Ðức Phật cũng nêu lên rằng Bát thánh
đạo có thể gom kết lại thành ba pháp
tu học cao thượng.
Pháp tu học cao thượng về
đạo đức
Pháp tu học cao thượng về
đạo đức, gọi tắt là Giới học, là nền
tảng của sự nghiệp tu học. Nhờ vào nền tảng này mà chúng ta không còn làm
những việc đen tối, quấy ác mà hậu quả
cuối cùng là đau khổ.
Ðạo
đức thì rất là thiết thực vì
đạo đức nâng cao chất lượng hay phẩm chất cho
đời sống hằng ngày của chúng ta. Khi mà chúng ta không còn làm tổn
hại những người khác thì tâm trạng hối hận và mặc cảm tội lỗi sẽ lắng dịu
xuống. Hơn nữa, người khác sẽ tin tưởng và
đến với chúng ta. Khi mệnh chung, chúng ta sẽ chết một cách thanh thản,
không sợ phải tái sinh vào những nơi thấp kém. Tất cả những phước
đức mà chúng ta
đã tạo
được qua việc từ bỏ những hành động
phá hoại và thực hiện những hành động
trong sáng sẽ là nền tảng vững chắc để
cho chúng ta giác ngộ được Chánh đạo trong tương lai.
Trong Bát thánh
đạo có ba chi phần nằm trong pháp tu học cao
thượng về đạo đức. Mặc dầu ba chi phần này chỉ
được giải thích tóm lược dưới đây. Nhưng ý
nghĩa của từng chi phần sẽ trở nên rõ ràng hơn khi chúng ta quán
chiếu về chúng dựa vào những thực nghiệm trong
đời sống cụ thể của chúng ta.
1. Chánh nghiệp.
Hành
động chơn chánh khiến chúng ta có thể tránh
được 3 việc làm tổn hại của thân là: sát sinh, trộm cắp
và tà hạnh.
Sát sinh là cố ý giết hại
mạng sống của sinh loại kể cả thú vật. Lời răn
cấm sát sinh đòi hỏi chúng ta phải sáng tạo ra những phương án thay
thế cho bạo lực trong việc giải quyết các cuộc xung
đột lớn nhỏ trong cuộc sống.
Trộm cắp có nghĩa là thâu
đoạt những gì mà người ta không cho,
kể cả việc không đóng thuế hay không trả tiền
phí tổn mà đáng lẽ chúng ta phải trả.
Chuyện hay xảy ra là mượn rồi không trả và lấy vật dụng của chung
để dùng cho cá nhân.
Tà hạnh trong tình ái chủ
yếu là nói về việc ngoại tình nhưng cũng có những dạng khác. Vấn
đề này sẽ
được bàn kỹ ở chương sau.
Chánh nghiệp dạy cho chúng ta ý
thức được những tai hại mà chúng ta
gây ra cho người khác. Thay gì làm những điều
mà trước mắt chúng ta cảm thấy ưa thích thì chúng ta lại quan tâm
đến tha nhân. Tự động các mối quan hệ của
chúng ta với mọi người sẽ được tốt đẹp hơn và mọi người sẽ cảm thấy
hạnh phúc hơn khi cùng sống với chúng ta.
Chánh nghiệp cũng bao hàm việc
ra tay giúp đỡ người khác như lau quét nhà
dùm người già cả, neo đơn; cứu trợ thiên
tai, bão lụt; cứu giúp người đang lâm nạn...
2. Chánh ngữ.
Chánh ngữ bắt
đầu với việc tránh 4 loại lời nói gây tổn
hại: nói dối, nói lời ly gián, nói lời thô ác và
nói lời phù phiếm.
Nói dối là nói thành lời cụ
thể hay nói bằng biểu hiệu như gật đầu hay
nhún vai để diễn đạt một điều gì mà chúng ta biết là không
đúng sự thật. Tuy nhiên khi nói thật
thì cũng phải nói thật một cách sáng suốt kết hợp với tâm từ ái. Thật là
thiếu lòng từ và u mê khi thật thà nói cho kẻ sát nhân biết về chỗ ở của
người mà hắn muốn tìm; nói thật như thế có thể làm cho án mạng xảy ra.
Nói lời ly gián
để làm cho người ta gây gổ
đối đầu với nhau hay để cho những người đã
bị chia lìa không thể hòa hợp thân hữu trở lại.
Nói lời thô ác làm tổn
thương người khác như nhục mạ, mắng chưởi, nhạo báng và biếm nhẻ. Ðôi khi
chúng ta nói những lời đó với nụ cười trên
môi mà chúng ta lại giả vờ ngây ngô cho rằng những lời mà chúng ta
đang thốt ra đâu có gì mà người nghe
phải đau khổ.
Nói lời phù phiếm về những
chuyện không đâu ra đâu chỉ để giải khuây hay
chỉ là để cho có nói cái gì
đó thì khiến cho chúng ta và những
người phải nghe đều bị mất thời giờ.
Qua việc tu dưỡng Chánh ngữ
chúng ta sẽ dùng lời nói như thế nào để cho
người khác được vui vẻ. Mối quan hệ giữa chúng ta với mọi người như bát
nước đầy nếu chúng ta biết cẩn trọng đối với lời nói và cách nói.
Thay vì tìm gặp một người nào đó làm
nơi để trút đi nỗi bực phiền, thất vọng thì
chúng ta lại lựa chọn cách thức hiệu quả hơn
để đạt được mục đích truyền đạt những yêu cầu và những cảm xúc của
chúng ta. Hơn nữa, chúng ta cũng nên cố gắng ghi nhận và khen ngợi những
thành tựu và những phẩm chất tốt đẹp của
người khác. Chúng ta sẽ hỗ trợ về mặt tinh thần và
đạo đức cho người khác, an ủi những người
đang buồn khổ, diễn bày giáo pháp cho người có cơ duyên tìm hiểu.
Lời nói là một công cụ có công năng mạnh mẽ
trong việc tác động người khác và nếu chúng ta sử dụng lời nói một
cách sáng suốt thì lợi ích cho cuộc đời biết
bao.
Ðức Phật khuyên chúng ta tránh
10 điều tổn hại: 3 điều thuộc về thân thể, 4
điều thuộc về lời nói và 3 điều thuộc
về ý tưởng. Ba điều thuộc về thân đã
được trình bày trong phần Chánh nghiệp và 4
điều về lời nói đã
được trình bày trong phần Chánh ngữ.
Chúng ta không giảng giải riêng về 3 điều tổn
hại thuộc về tâm ý - tham lam,
độc ác và tà kiến - trong
Pháp tu học cao thượng về đạo đức nhưng chúng
ta lại giảng giải ở đây vì tránh được
3 điều tổn hại thuộc về tâm ý này sẽ giúp cho chúng ta sống một
đời sống có đạo đức.
Tham lam
đối với tài sản của người khác có
nghĩa là tìm cách để chiếm đoạt vật không
phải của mình. Khi tham lam nằm trong tâm ý của chúng ta thì không
người nào khác thấy được vì nó vô hình
tướng. Nhưng tâm tham lam này lại có thể khiến cho chúng ta làm những việc
xu nịnh, đút lót, lừa đảo hay trộm cắp để đạt
được điều mà chúng ta mong muốn.
Ðộc ác là tìm cách
để làm hại người khác, bao gồm việc
rắp tâm trả đũa người đã làm
điều sai trái đối với chúng ta, tìm
cách làm cho người khác bị dày vò trong đau
khổ hay làm cho người khác bị rơi vào tình cảnh khó khăn,
rối khổ và bế tắc.
Tà kiến theo
đạo Phật là khư khư bảo thủ, kiên trì
giữ lấy quan điểm của mình, không chấp
nhận rằng có những kiếp sống trong quá khứ và những kiếp sống kế tiếp
trong tương lai, không chấp nhận rằng người ta có thể
đạt đến trạng thái Niết bàn, không
chấp nhận có Ðức Phật, Giáo pháp và Tăng-già.
Hồ nghi rằng không có những điều trên
thì chưa phải là tà kiến. Tuy nhiên nếu chúng ta bỏ lơ, không chịu tham
vấn, không chịu tự tìm học về những vấn đề này
để giải quyết mối hồ nghi thì tà kiến
sẽ phát sinh, chúng ta sẽ tin tưởng và đi
theo những giáo lý sai lầm.
Quyết
định tránh khỏi 10 hành
động tổn hại này cũng có nghĩa là dấn
thân làm 10 điều lợi lạc trong sáng. Thí dụ,
quyết định không nói dối thủ trưởng về khoảng thời gian cần có để thực
hiện xong một dự án nào đó chính là
một hành động có tính chất tích cực và
lợi lạc. Làm được việc như vậy thì có
nhiều lợi ích: Trong tương lai thủ trưởng sẽ tin vào những lời mà chúng ta
nói; chúng ta sẽ sống với những nguyên tắc
đạo đức mà chúng ta đặt định ra cho mình;
đồng thời tạo được nhân lành
để có hạnh phúc trong hiện tại và
những chứng đạt tâm linh mai sau.
3. Chánh mạng.
Cần phải có của cải vật chất
để duy trì mạng sống nhưng
điều quan trọng ở đây là phải tạo ra
của cải tài sản bằng những phương cách thích
đáng. Tai hại là nhúng tay hay tham gia vào loại hành
động tổn hại, nói loại lời nói tổn hại để tạo
ra cuộc sống. Mặc khác, chúng ta cũng không nên xúi giục khiến cho
người khác làm và nói như vậy. Ðức Phật khuyên dạy rằng phải tránh làm
những nghề nghiệp độc ác như đồ tể, săn bắn
hay đánh thuê. Chúng ta cũng nên tránh những nghề nghiệp liên can
mật thiết với tội ác như bán rượu, chứa cờ bạc, bán cá thịt, bán da thú,
bán thuốc diệt côn trùng; sản xuất và buôn bán vũ khí; cho vay nặng lãi
hay lừa đảo.
Một số người có thể thắc mắc
như sau: Làm sao người ta có thịt cá để ăn
nếu không có người đồ tể, làm sao người ta có lúa gạo
để sống nếu không có thuốc diệt sâu rầy cho mùa
màng? Câu hỏi như thế đã
đi lệch khỏi phương hướng của chúng ta.
Ðiều trọng tâm mà chúng ta đặt ra cho
mình là không nên làm những gì thuộc về Tà mạng. Có nhiều việc nằm
ngoài khả năng can thiệp hay giải quyết của
chúng ta; hầu như không ai có khả năng đơn phương quyết định sách lược cho
một đất nước hay cho trần gian này cả. Giả thiết rằng khi ở trong
hoàn cảnh mà không có bất kỳ một chọn lựa nào khác thì chúng ta phải cố
gắng đến mức cao nhất mà chúng ta có
thể cố gắng được. Yếu tố quan trọng nhất mà
chúng ta cần nhấn mạnh ở đây là từ bỏ
được ý muốn làm hại người khác.
Ðối với những người xuất gia
Chánh nghiệp có nghĩa là gìn giữ những giới
điều, nhờ có Chánh nghiệp mà xứng đáng
được cúng dường. Nếu một người đã xuất gia mà lừa dối hay lường gạt
người khác, đoán vận mệnh hay làm phù
phép để kiếm tiền thì
đó là Tà nghiệp. Mọi người - dù xuất
gia hay tại gia - đều nên có vai trò
hữu ích cho xã hội và không làm hại người khác
để kiếm sống.
Những cơ cấu giới luật mà Ðức
Phật đã
đặt định đều được diễn tả trong Pháp tu học cao thượng về đạo đức sẽ được
diễn giải trong chương "Giới Luật".
Pháp tu học cao thượng về thiền
định
Thiền
định là cốt lõi của con
đường đạo vì nếu không có thiền
định thì tâm thức của chúng ta không
có khả năng bám chặt vào những
đối tượng thánh thiện và hướng thượng.
Thí dụ, khi chúng ta thiền định về lòng
thương thì trước hết chúng ta phải tạo ra tâm từ bi và duy trì trạng thái
đó. Nhờ vậy mà tâm từ bi thấm
đẫm trong tâm thức của chúng ta. Khi chúng ta
thiền định về tánh không trước hết chúng ta phải quán sát để nhận thức sâu
xa ý nghĩa của nó rồi nuôi dưỡng nhận thức đó. Việc chuyển hóa tâm thức
chỉ có thể thực hiện được khi nào chúng ta có thể làm cho những tư
tưởng vô kỷ cương, những tư tưởng tán loạn phải dừng lại.
Pháp tu học cao thượng về thiền
định, gọi tắt là Ðịnh học,
đưa đến tâm an trú, tức là khả năng
giữ được sự tập trung tâm thức vào đối
tượng thiền định bao lâu tùy theo ý muốn của chúng ta. Trong quá
trình làm cho tâm an trú được vững chải và
phát triển, hành giả phải chọn một đối tượng
thiền định cụ thể nào đó, thí dụ như
hơi thở hay hình tượng của một vị Phật. Khi chúng ta
đạt được tâm an trú rồi thì chúng ta
có thể hướng tâm đã an trú
đó đến bất cứ một đối tượng nào khác
như tánh không hay tâm từ bi. Với trạng thái an trú như vậy thì thân và
tâm của chúng ta cực kỳ nhu nhuyến; chúng ta có thể vào trong trạng thái
định một cách dễ dàng và rất an lạc.
Ba chi phần sau đây của Bát thánh đạo thuộc
Pháp tu học cao thượng về thiền định:
1. Chánh tinh tấn
Ðể tiến bộ trên con
đường đạo, chúng ta cần phải nỗ lực trong
việc tu tập theo Chánh pháp. Nhờ vào sự nhiệt tâm tinh cần mà chúng
ta có thể làm cho những hành động quấy ác uế
nhiễm mình đã làm trở nên thanh
tịnh đồng thời ngăn ngừa những hành
động như vậy phát sinh trong tương lai. Chúng
ta cũng cần có tinh tấn để có thể gìn giữ những
đức hạnh mà chúng ta
đã tu dưỡng
được đồng thời hướng đến việc xây dựng những
đức hạnh mới trong tương lai. Làm được
như vậy chắc chắn sẽ cải thiện và nâng cao chất lượng hay phẩm chất
cho đời sống của chúng ta.
2. Chánh niệm
Chánh niệm là một thành tố của
dòng chảy tâm thức có chức năng ghi nhớ, chức
năng chú ý và hướng tới những gì có lợi lạc. Thí dụ, trong buổi
sáng khi chúng ta thức dậy chúng ta có thể hạ quyết tâm: "Ngày hôm nay
ta sẽ cố gắng không làm hại mà sẽ làm lợi lạc cho người khác càng nhiều
càng tốt." Chánh niệm khiến cho chúng ta có thể duy trì ý niệm này
trong dòng chảy tâm thức của chúng ta suốt ngày hôm
đó. Chính Chánh niệm giúp cho chúng ta nhận
ra được những hành động hàng
ngày của chúng ta có tương ứng với quyết tâm này hay không. Chánh niệm về
10 hành động lợi lạc có thể làm cho
chúng ta luôn được nhắc nhở và
đủ bản lĩnh không nói dối, trộm cắp... trong
những giây phút chúng ta bị lôi kéo vào những việc như vậy.
Chánh niệm cũng có vai trò quan
trọng trong công phu thiền định. Thiền định
có nghĩa là làm cho chúng ta hoà nhập và hợp nhất với những tâm
thái hay những đối tượng lợi lạc. Thí dụ,
Chánh niệm làm cho chúng ta có thể tập trung sức chú ý vào hơi thở
khi chúng ta thở vào và thở ra. Chánh niệm như vậy có tác dụng làm cho tan
đi những tư tưởng rộn rịp xôn xao trong tâm
thức, giúp cho chúng ta có đủ năng lực để đạt được sự nhất tâm trên
hơi thở. Có nhiều đối tượng thiền định khác
nhau: trong một số pháp thiền định dạy cách tập trung tâm ý vào hơi
thở; một số pháp thiền định khác yêu
cầu tập trung tâm ý vào việc hình dung ra linh ảnh của một Ðức Phật hay
vào lòng từ ái đối với tất cả chúng sinh.
Ðể có thể phát triển tâm tịnh
chỉ hay nhất tâm chúng ta phải loại trừ tất cả những trạng thái
đối nghịch lại trạng thái nhất tâm như trạng
thái xao lãng hay buông thả và lăng
xăng.
Trạng thái xao lãng hay buông
thả ngăn cản không cho chúng ta duy trì
đối tượng thiền định: hơi thở, hình
tượng của Phật, lòng thương đối với tất cả
sinh linh... Chúng ta quên mất đối
tượng thiền định và tâm thức luôn bị các tư tưởng xôn xao làm cho
phân tán không còn tập trung.
Trạng thái xao lãng xuất hiện
khi tâm thức bị mê mờ, độ trong sáng và
độ tinh tế bị giảm sút. Nếu chúng ta không
chống lại sự xao lãng thô sơ thì chúng ta sẽ ngủ gục ngay trên bồ-đoàn
(gối dùng để ngồi thiền). Nếu chúng ta bỏ lơ
không chịu chú tâm chữa trị trạng thái buông thả tinh tế, chúng ta có thể
tin tưởng một cách sai lầm rằng chúng ta đã
đạt đến một trạng thái thiền định cao siêu
nhưng thật sự thì không phải vậy.
Trạng thái lăng
xăng có tính chất phá hoại khiến cho sự tập trung của tâm không còn
vững chãi. Nó làm cho tâm thức chúng ta bị rời khỏi
đối tượng thiền định và chạy theo
những gì chúng ta hằng tơ tưởng, mộng mơ và ưa thích nhất. Thí dụ, ta
đang ngồi và cố gắng tọa thiền trong
một khoá tu, bỗng dưng không thể tập trung
được, thì ra tâm thức ta đang vơ vẩn,
thẩn thơ về hương thơm, vị ngon, màu sắc, nguyên vật liệu và cách
chế biến các món ăn. Bất thần chuông reo kết
thúc giờ thiền và ta nhận ra rằng ta
đã ngồi hết giờ nhưng mà không
thiền chút nào!
Chánh niệm
đối phó với những chướng ngại đó. Chánh niệm
là một thành tố của tâm thức có chức năng
làm cho sự tập trung của chúng ta liên tục quay trở về những
đối tượng quen thuộc, trong trường hợp này
là đối tượng thiền định. Quan trọng là
biết cách thiền định, mà biết thiền
định thì Chánh niệm sẽ trở nên mạnh mẽ
và chúng ta sẽ khó mà bị xao lãng với đối
tượng thiền định. Nếu có được như vậy thì sự cảnh giác và năng
lực nội chiếu nhạy bén sẽ nhanh chóng cảnh báo cho chúng ta mỗi khi tâm
thức của chúng ta bị xao lãng. Phục hồi lại Chánh niệm thì chúng ta
sẽ đưa sự chú ý trở lại đối tượng thiền định.
Chánh niệm làm cho sự tập trung
của chúng ta trở nên vững chãi; như vậy nó chống lại trạng thái lăng
xăng của tâm thức. Chánh niệm cũng làm cho tâm thức của chúng ta có
đủ độ trong sáng và
độ tập trung; như vậy nó diệt trừ trạng thái
xao lãng của tâm thức. Thông qua quá trình thực nghiệm tất nhiên
chúng ta sẽ tìm thấy được sự cân
bằng thích hợp trong việc làm cho tâm thức
được tập trung: không quá căng
thẳng mà cũng không quá lỏng lẽo. Căng
thẳng quá sẽ tạo nên trạng thái lăng
xăng, quấy nhiễu độ vững chãi của trạng thái tập trung. Lơ là quá
sẽ tạo nên trạng thái xao lãng, quấy nhiễu độ
trong sáng và độ tinh tế của tâm thức.
Việc cân bằng này giống như việc lên giây một cây
đàn vĩ cầm. Thiền sư Ấn Ðộ
Chandragomin nói:
"Nếu chúng ta không cố gắng
xây dựng sức chú tâm mạnh mẽ thì tâm thức sẽ chìm xuống và không bao giờ
chúng ta có thể đạt được độ trong sáng cần
thiết. Ngược lại, nếu chúng ta quá nặng về việc duy trì sự chú tâm
thì tâm thức của chúng ta bị xao động, rời
khỏi đối tượng và tâm chúng ta không bao giờ có thể
đạt được trạng thái vững chãi. Vì vậy
không phải dễ dàng giữ được mực độ cân bằng
khi tu tập trạng thái nhất tâm."
Ðể bổ sung cho việc dùng Chánh
niệm làm sức mạnh tâm lý nòng cốt nhằm hỗ trợ cho việc tu tập thiền
định, Ðức Phật nói về việc tu tập
Chánh niệm trên 4 đối tượng: thân thể, cảm
giác, tâm thái và các pháp. Nhờ vào việc tu tập này mà chúng ta có
thể nhận thức được 3 đặc tính: (1) tất cả mọi
sự vật đều biến chuyển liên tục; (2) tất cả sự vật nào bị tâm thái
nhiễu loạn và nghiệp chi phối thì đều là
bất xứng ý; và (3) tất cả các pháp đều là
vô ngã.
3. Chánh
định
Nhờ Chánh tinh tấn và Chánh
niệm nên sự tịnh chỉ hay là sự nhất tâm dần dần chuyển biến tốt hơn cho
đến khi nào chúng ta
đạt được trạng thái tâm an trú. Chúng ta cũng
có thể tiến bộ hơn nữa để đạt được những tầng bậc nhất tâm cao hơn, tức là
những tầng thiền chứng thuộc sắc giới và vô sắc giới.
Có những người không phải là
Phật tử cũng tu tập những tầng thiền chứng này. Tuy nhiên, một Phật tử tu
tập thì tâm thức được nuôi dưỡng bởi tâm quy
kính Ba Ngôi Báu (Ðức Phật, Giáo Pháp và Tăng-già),
và bởi tâm quyết định thoát khỏi nạn khổ
trong vòng sinh tử luân hồi. Trong khi những người không phải là
Phật tử có khuynh hướng tìm sự thỏa mãn với những phước lạc có trong những
tầng bậc thiền định thì những người
Phật tử sử dụng các tầng bậc thiền định để
chứng được không tánh, rồi nhờ đó đạt được sự giải thoát.
Ðức Phật
đã triển khai rộng về Chánh niệm và
tịnh chỉ. Nếu bạn cảm thấy thích tìm hiểu thêm thì bạn nên tham vấn một vị
đạo sư để được hướng dẫn hay bạn tìm
đọc những sách vở có liên quan
đến đề tài này.
Pháp tu học cao thượng về trí
tuệ
Nhờ vào một cuộc sống
đạo đức, tức là Giới học, chúng ta sẽ
loại trừ được những thân nghiệp và
khẩu nghiệp uế nhiễm. Nhờ vào việc tu tập thiền
định mà những tâm thái nhiễu loạn tạm
thời lắng dịu xuống. Tuy nhiên, nếu không có trí tuệ thì không có cách nào
để chúng ta có thể phá hủy hoàn toàn
những tâm thái nhiễu loạn, giải thoát khỏi vòng sinh tử và
đạt được hạnh phúc lâu dài. Ðể nhổ bỏ
gốc rễ của mọi khổ nạn, mọi u mê ám chướng khỏi dòng chảy tâm thức của
chúng ta thì việc thiết yếu là phải có loại trí tuệ nhận chân
được không tính (thông thường không tính được
xem là đồng nghĩa với vô ngã,
nói cách khác là không có một cái ngã bản nhiên).
Ðể
đạt đến loại trí tuệ này, nhận chân
được nguyên nhân sâu xa nào đã
khiến cho con người và các pháp hiện hữu trên cuộc
đời này. Chúng ta phải tu tập một loại
tuệ quán đặc biệt, đó là Minh sát tuệ
(vipassana). Minh sát tuệ là loại trí tuệ
được dẫn dắt bởi năng lực phân tích sắc bén
kết hợp với tính chất nhu nhuyến của trạng thái tâm an trú.
Lúc chưa
đạt được tuệ minh sát thì mỗi khi
chúng ta vận dụng năng lực phân tích trong
thiền định thì trạng thái nhất tâm bị khuấy
động; mỗi khi chúng ta tập trung tâm để quay
trở lại trạng thái nhất tâm thì lúc đó
chúng ta lại mất đi năng lực phân tích. Nhưng khi chúng ta chứng đạt được
Minh sát tuệ thì trạng thái nhất tâm và năng
lực phân tích không còn quấy nhiễu nhau nữa và vì vậy mà tâm thức
trở nên rất hùng mạnh. Khi Minh sát tuệ hướng
đến vô ngã tính thời nó sẽ tẩy sạch yếu tố u mê ám chướng trong
dòng chảy của tâm thức chúng ta, tẩy sạch những tâm thái nhiễu loạn,
nghiệp và những dấu tích của nghiệp. Do vậy, những yếu tố u mê ám chướng
đó không bao giờ có thể xuất hiện trở lại
được.
Ðể tu tập trạng thái tâm an trú
và Minh sát tuệ, chúng ta phải rèn luyện trong một thời gian dài. Giống
như việc học cách đọc chữ, việc tu tập trạng
thái nhất tâm và trí tuệ đòi
hỏi thời gian và công phu rèn luyện liên tục. Trong thời hiện
đại quá, chúng ta cũng quá quen thuộc với
những dụng cụ nhấn nút là xong, quá quen thuộc với những loại thức
ăn nhanh gọn trong hộp nên một cách tự
phát, tâm thức của chúng ta nhiễm nặng khuynh hướng thiếu kiên nhẫn và
muốn thành tựu tức thì những chứng đạt cao siêu
mà không cần phải cố gắng nhiều. Rất tiếc là không thể
được. Rất tiếc là không có một nút bấm
nào để có được trạng thái nhất tâm và
trí tuệ cả. Tuy nhiên, có trường hợp một vài người nào
đó do vì
đã từng có nhiều nỗ lực tu tập theo con
đường đạo trong quá khứ nên hiện tại
có thể đã
đạt được những tiến bộ rất nhanh trong kiếp này. Còn lại là
đông đảo những người không thuộc về "diện" này,
đông đảo những người bình thường như
chúng ta. Do vậy, thật là hữu ích nếu chúng ta
đặt ra một mục tiêu dài hạn, kiên
nhẫn, nhiệt thành và có một tâm thức thích thú, mẫn cảm
đối với những điều tốt đẹp và thánh
thiện.
Hai chi phần còn lại của Bát
thánh đạo thuộc về Pháp tu học cao thượng về
trí tuệ, gọi tắt là Tuệ học.
1. Chánh kiến hay Chánh
trí.
Tức là sự hiểu biết về Tứ thánh
đế: Thánh đế về khổ và Thánh
đế về nguyên nhân khiến cho dòng lưu
chuyển sinh tử kéo dài; Thánh đế về sự diệt
khổ và Thánh đế về con đường đưa đến
trạng thái giải thoát hoàn toàn. Trong ý nghĩa
đặc biệt Chánh kiến chỉ cho một loại trí tuệ
có công năng phá tan những quan điểm sai lầm như quan điểm cho rằng có một
cái ngã bản nhiên hằng hữu. Nếu như chúng ta chấp thủ như vậy thì
quan điểm này sẽ trói buộc chúng ta
trong vòng sinh tử. Vấn đề này sẽ
được trình bày kỹ hơn trong
đoạn nói về "Những Tâm Thái Viễn Hành."
2. Chánh tư duy.
Không cố chấp, từ ái và bất hại
là những đặc điểm của Chánh tư duy. Ở một cấp
độ cao hơn, Chánh tư duy chỉ cho loại tâm thức có công năng phân tích
không tính một cách sắc bén và tinh tế, khiến cho chúng ta trực
nhận được không tính.
Mặc dầu
đạo đức, thiền định và trí tuệ, tức là
ba Pháp tu học cao thượng Giới - Ðịnh - Tuệ, thường
được miêu tả là một con
đường với 3 tiến độ khác nhau nhưng chúng ta
có thể tu tập đồng bộ cùng một lúc cả ba. Ðạo
đức và thiền
định là nền tảng
để trí tuệ thăng hoa. Trí tuệ và thiền
định giúp cho đạo đức có được độ vững chắc và
có được phương hướng mục tiêu tốt. Ðạo
đức làm cho tâm thức có thêm sức mạnh
để tu tập thiền định; và trí tuệ sẽ
làm yếu đi tâm cố chấp, nhờ vậy giảm thiểu
trạng thái xung động và phân tán. Trong khi chúng ta có thể dồn hết
năng lực vào một pháp tu trong một
thời gian cụ thể nào đó nhưng bình
thường chúng ta không nên lơ là bất cứ một pháp nào trong ba Pháp tu học
cao thượng trên đây.
IX. TỪ U MÊ ĐẾN GIÁC NGỘ
^
Từng bước chuyển hóa tâm thức
Giảng giải về Tứ thánh
đế và Bát thánh
đạo là phương pháp truyền thống
để diễn đạt giáo pháp nhưng ở đây chúng ta
lại diễn đạt giáo pháp bằng phương pháp mới hơn; đó là trình bày
hành trình từng bước tiến đến giác ngộ. Hai
phương thức này hỗ tương với nhau. Rất là hữu ích nếu chúng ta biết
được cả hai phương thức vì khi chúng
ta quan sát một điều gì dưới hai góc
độ khác nhau thì nhận thức của chúng
ta sẽ sâu sắc và phong phú hơn.
Có duyên nghe học giáo pháp là
những người với nhiều hạng căn cơ khác nhau.
Những người sơ cơ lúc nào cũng đông và
thường khi mù mờ và hoang mang, không biết bắt
đầu việc học giáo pháp từ điểm nào và
phải tu tập ra làm sao. Vì vậy, vào đầu thế
kỷ thứ 11 nhà hiền trí Ấn Ðộ Atisha đã
viết tác phẩm Ánh Sáng Pháp Ðăng,
trong đó ông tóm lược những điểm tinh yếu
trong Thánh điển rồi sắp xếp lại cho có hệ thống để phác họa ra một hành
trình tu tiến dần dần theo thứ lớp. Sau đó nhà
hiền trí Tây Tạng Tzong Khapa (1357 - 1419) đã
phát triển thêm những điểm tinh yếu cô đọng
trong tác phẩm của Atisha và viết thành quyển Giảng Giải Tiến
Trình Từng Bước Ðến Giác Ngộ.
Hành trình tu tiến từng bước
này giúp cho chúng ta có thể nhìn quán xuyến toàn bộ tiến trình của tâm
thức, từ trạng thái u mê đến trạng thái giác
ngộ. Tiến trình này bắt đầu với những
thứ lớp được trình bày rất rõ ràng để
từng bước nhận thức giáo pháp. Nếu chúng ta thuộc nằm lòng mỗi bước
đi này thì mỗi khi nghe thuyết giảng
giáo pháp chúng ta sẽ nhận biết được giáo
pháp đó thuộc về cấp độ nào của tiến trình và nên áp dụng như thế
nào. Nhờ hiểu biết các pháp tu trong từng cấp
độ khác nhau của tiến trình từ mê đến
giác chúng ta sẽ nhận thức được rằng không hề có mâu thuẫn trong giáo pháp
của Ðức Phật. Tất cả giáo pháp chúng ta
đều có thể tu tập để đạt được trạng thái giác
ngộ. Nhận thức được như vậy chúng ta sẽ tránh được một tội lỗi lớn là
phê phán, chỉ trích một truyền thống hay một pháp môn tu tập nào
đó. Sau đây chúng ta sẽ tóm tắt hành
trình từng bước đến giác ngộ.
Ðời của một người là quý báu
Bước
đầu tiên của tiến trình là hiểu
được rằng hiện tại chúng ta đang có điều kiện
và cơ hội để tu tập theo giáo pháp và
thăng hoa bản thân của chúng ta. Nếu một
người ăn xin không biết rằng mình có một viên ngọc quý trong túi
thì người ăn xin ấy bỏ phí viên ngọc
và tiếp tục làm kẻ nghèo hèn. Tương tự như vậy, nếu chúng ta không hiểu
rằng chúng ta đang có cơ hội lớn thì
chúng ta sẽ không sử dụng quỹ thời gian của chúng ta một cách sáng suốt
(và là hiện thân của một kẻ nghèo hèn theo một ý nghĩa nào
đó).
Hiện tại chúng ta
đang có kiếp sống của một con người với nhiều
phẩm chất cao đẹp, khó có trong đời. Vì vậy chúng ta phải làm cho
kiếp sống này trở nên có ý nghĩa hơn. Thường thường chúng ta cứ nghĩ rằng
ta có kiếp người này là chuyện đương nhiên
đồng thời chúng ta cứ vương vấn, níu kéo
những cái mà chúng ta ưa thích. Chúng vận hành và chuyển biến theo
quy luật riêng của chúng thế mà chúng ta cứ mãi lo sắp xếp và mong rằng
chúng sẽ vận hành và chuyển biến theo ý riêng của chúng ta. Như vậy là
không thực tế và khiến cho chúng ta phải phiền muộn. Ngược lại, nếu chúng
ta ý thức rằng chúng ta đang có tự do và
đang có những phẩm chất cao quý, ý thức rằng
mọi việc trong cuộc sống của chúng ta nói chung đang diễn ra một cách tốt
đẹp thì chúng ta sẽ có một cách nhìn tích cực hơn và một cuộc sống
an vui hơn.
Một trong những phẩm chất phú
bẩm cao quý nhất mà chúng ta đang có là
trí thông minh của con người. Phẩm chất quý báu này giúp cho chúng ta có
thể hiểu được ý nghĩa đích thực của cuộc sống
và cho phép chúng ta tu tập theo giáo pháp của bậc giác ngộ. Nếu
tất cả các quan năng của chúng ta như mắt,
tai... và ý thức còn nguyên vẹn thì chúng ta có thể nghe Chánh
pháp, đọc sách về Chánh pháp và suy tư
theo Chánh pháp. Chúng ta đã
được sinh ra và sống trong chu kỳ lịch
sử của Hiền kiếp có Phật và Chánh pháp. Chánh pháp còn thuần khiết này
đã được
truyền thừa từ thầy sang trò liên tục qua nhiều thế hệ mà khởi
điểm đầu tiên là từ bản thân Ðức Phật.
Chúng ta lại có được cơ hội tham kiến những
vị đạo sư tâm linh có phẩm hạnh để nghe được những lời khuyên bảo
quý giá. Và, vẫn còn đó những giáo đoàn
xuất gia và những tập thể pháp lữ đồng tu có
cùng ý hướng giống nhau, có thể khích lệ nhau trên con
đường tu tập.
Chúng ta may mắn sống trong
đất nước mà tự do tôn giáo
được tôn trọng nên việc tu học và thực
hành Chánh pháp không bị trở ngại. Hơn nữa, hầu hết chúng ta
đều có cuộc sống không quá nghèo khổ,
thức ăn đồ mặc đầy đủ, chỗ ở yên ổn.
Ðó là cơ sở để chúng ta có thể dấn thân vào
việc rèn luyện tâm linh mà không phải quá bận tâm tới việc cơm áo gạo
tiền; quá tổn hao tinh lực trong cuộc vật lộn
để mưu sinh. Tâm thức của chúng ta cũng không bị các tà kiến hay
định kiến che án quá nặng nề. Ưu điểm quan
trọng là chúng ta lại ưa thích việc tu tập
để chuyển hóa bản thân và thăng
tiến trên con đường tìm cầu
chân lý tối thượng.
Cùng với những
điều kiện và những cơ duyên thù thắng
mà chúng ta hiện giờ đang có thì trong
bản thân mỗi người trong chúng ta lại đều có
khả năng tiềm ẩn để có thể thành tựu
được những việc có ý nghĩa to lớn dựa trên những
điều kiện và cơ duyên
đó. Nhưng để hưởng được những giá trị to lớn,
chúng ta phải có một dự kiến đầy đủ, bền bỉ và thực hiện lâu dài.
Kiếp sống hiện tại của chúng ta thật là ngắn ngủi. Dòng chảy tâm thức của
chúng ta không dừng lại ngay cả khi sắc thân của chúng ta
đã rã rời và trả về cho cát bụi. Tâm
thức của chúng ta không có hình dáng hay màu sắc. Chúng ta có thể tạm hiểu
rằng lúc chúng ta mệnh chung thì tâm thức của chúng ta rời bỏ thân thể này
rồi đi vào một thân thể khác. Kiếp
sống kế tiếp của chúng ta như thế nào là tùy vào những hành
động và những thói quen mà chúng ta
hình thành trong hiện tại. Vì vậy mà một trong những mục
đích của kiếp mà chúng ta
đang sống là chuẩn bị cho cái chết
cũng tức là làm cho kiếp sống kế tiếp ở tương lai an vui và giải thoát
hơn. Nhờ đó mà chúng ta có hướng sống
tốt đẹp trong hiện tại, để khi mệnh chung
được chết một cách thanh thản với ý thức biết rằng ta sẽ tái sinh vào
cảnh giới tốt đẹp.
Một mục
đích khác mà chúng ta có thể hướng tới
trong việc sử dụng kiếp sống này là đạt đến
sự giải thoát hay giác ngộ. Chúng ta có thể chứng quả vị A-la-hán, giải
thoát khỏi vòng sinh tử; hoặc chúng ta có thể tiếp tục tu tập
để trở thành vị Chánh Ðẳng Giác, có
khả năng làm lợi lạc cho mọi người một
cách hiệu quả nhất.
Ðạt
đến sự giải thoát, dòng chảy tâm thức
của chúng ta sẽ được thanh tịnh và
trong sạch hoàn toàn, không còn những tâm thái nhiễu loạn. Như vậy chúng
ta sẽ không bao giờ sân hận, ganh tỵ hay tự cao nữa; chúng ta sẽ không còn
cảm thấy tội lỗi, lo âu hay thất vọng nữa. Tất cả những tập quán xấu của
chúng ta tan biến hết. Hơn thế nữa, nếu có chí nguyện
đạt đến sự giác ngộ vì lợi ích cho tha
nhân thì lúc đó chúng ta sẽ phát khởi lòng
từ ái đối với tất cả sinh linh và biết
làm những việc cụ thể để giúp đỡ cho mọi
người một cách thích hợp nhất.
Cách thứ ba
để sử dụng những ưu thế của kiếp sống quý báu
là sống một đời sống viên mãn
nhất trong từng giây, từng phút. Có nhiều phương pháp khác nhau
để làm như vậy. Một là sống với Chánh
niệm trong từng phút giây, tức là hiện hữu trọn vẹn ở tại
đây và ngay bây giờ trong từng hành
động. Khi chúng ta ăn chúng ta đặt tâm ý
trong việc ăn, cảm nhận được mùi vị và
độ nhu nhuyến của thức ăn; khi bước đi chúng ta đặt tâm ý trong những cử
động liên can đến việc di chuyển,
không để cho tâm thức của chúng ta lông bông với một ngàn lẻ một
chuyện khác nhau, một ngàn lẻ một ý tưởng khác nhau.
Một cách khác nữa
để sống từng giây, từng phút một cách viên
mãn và tích cực là tu tập chuyển hóa tâm thức. Thí dụ, khi
đi lên lầu, chúng ta có thể tâm niệm:
"Ta nguyện giúp cho mọi người được sinh vào
cảnh giới tốt đẹp, được thăng hoa, được giải
thoát và giác ngộ." Khi rửa chén bát hay giặt
đồ, chúng ta có thể tâm niệm: "Ta
nguyện giúp cho mọi người có được tâm thức
thanh tịnh, không còn những tâm thái nhiễu loạn và u mê." Khi
trao một vật gì cho ai, chúng ta có thể tâm niệm: "Nguyện rằng ta có
khả năng đáp ứng mọi nhu cầu của chúng sinh."
Một cách sinh động, chúng ta có thể chuyển
hóa từng hành động của chúng ta bằng
cách siêng năng sáng tác ra những câu
tâm niệm tương tự tương ứng với từng trường hợp với tấm lòng từ ái
muốn mang lại hạnh phúc cho người khác. Những phương cách khác
để làm cho cuộc sống hằng ngày của
chúng ta đầy ý nghĩa sẽ được diễn giải trong
Chương X, "Kim chỉ nam cho đời sống."
Ba chí nguyện khác nhau
Khi
đã quyết tâm sống một cuộc sống có ý
nghĩa chúng ta phải tiến từng bước trên hành trình gồm có ba giai
đoạn tu tập từ thấp đến cao tương ứng với 3
chí nguyện khác nhau của một hành giả. Trong tác phẩm Ánh Sáng
Pháp Ðăng, Atisha nói:
Những người hăng
hái tu tập các pháp môn chỉ với mục đích đạt được hạnh phúc trong kiếp
sống giữa hai đầu sinh tử này được xem
là người có sự thôi thúc tâm linh căn
bản. Những người sau khi quay lưng lại với những vui thú của trần gian
sinh tử, từ bỏ những hành vi thấp kém;
đồng thời hăng hái tu tập để được giải thoát sinh tử hay trạng thái thanh
thoát thì được xem là những
người có sự thôi thúc tâm linh ở cấp trung gian. Những người thực sự mong
muốn đoạn trừ tất cả những khó khăn, khổ sở
của tha nhân cũng như những khó khăn, khổ sở trong dòng tâm thức
của chính mình thì được xem là những
người có sự thôi thúc tâm linh cấp cao nhất.
Ba hạng bậc chí nguyện và những
pháp tu tập tương ứng chính là hình dạng của con
đường đạo với ba giai đoạn từ thấp đến cao.
Giai đoạn căn bản là nền tảng cho giai
đoạn thứ hai trung gian; giai đoạn thứ hai là nền tảng cho giai
đoạn thứ ba cao nhất. Ðể tiến bước
theo con đường đạo có ba giai đoạn, chúng ta
phải tu tập tuần tự từ thấp đến cao và tu tập liên tục mặc dù chúng
ta có thể có chí nguyện duy nhất và cao nhất
đi nữa. Sau đây chúng ta trình bày ngắn gọn 3 hạng bậc chí nguyện
và những pháp môn tương ứng như sau:
1. Chí nguyện căn
bản hay sơ khởi. Trong giai đoạn này
chúng ta muốn có sự chuẩn bị cho cái chết để
chúng ta có thể chết một cách thanh thản và
được tái sinh vào cảnh giới tốt
đẹp. Ðể
đạt được mục đích, chúng ta quán chiếu về tính chất vô thường, về cái chết
cũng như về những tù túng và những khổ nạn khi phải tái sinh vào
những nơi thấp kém. Ở giai đoạn này có
hai pháp môn tu tập chủ yếu là quy y Ba Ngôi Báu và quán chiếu nguyên lý
nhân quả (nghiệp). Quy y Ba Ngôi Báu có nghĩa là tâm linh chúng ta nương
tựa và tín phục theo chư Phật, Giáo Pháp và Tăng-già.
Quán chiếu nguyên lý nhân quả có tác dụng thúc
đẩy chúng ta cố gắng tránh xa 10 loại hành
động quấy ác và thực hành 10 loại hành
động trong sáng. Cần lưu ý là tuy có
nhiều pháp môn tu tập thuộc giai đoạn cao hơn
nhưng mọi pháp tu tập chân chính đều có điểm xuất phát căn bản ngay trong
giai đoạn sơ khởi đầu tiên này.
2. Chí nguyện trung gian.
Giai đoạn trung gian tức là giai
đoạn mà chúng ta mong muốn
đạt được sự giải thoát hoàn toàn khỏi
vòng sinh tử. Ðể đạt được mục đích, chúng ta
quán chiếu những nỗi khổ đau sinh tử một cách tổng quát rồi quán chiếu
những khổ đau của từng dạng tái sinh cụ thể. Chúng ta cũng quán chiếu chức
năng của nghiệp và tác động của những
tâm thái nhiễu loạn, để dần dần nhận ra được chúng đã trói buộc
chúng ta vào vòng sinh tử như thế nào. Sức mạnh của công phu quán chiếu
như vậy sẽ thôi thúc chúng ta hạ quyết tâm vượt qua khỏi tất cả những khổ
nạn sinh tử và đạt được trạng thái giải thoát
thanh lương. Pháp môn tu tập chủ yếu của giai đoạn này là Ba pháp
tu học cao thượng, trong đó đặc biệt là
Ðịnh và Tuệ. Song song chúng ta kết hợp tu tập tất cả mọi chi phần của Bát
thánh đạo.
3. Chí nguyện cao nhất. Ở
đây chúng ta sẽ tìm cầu sự giải thoát
không phải chỉ cho bản thân của chúng ta mà cho cả chúng sinh muôn loại.
Ðể đạt được mục đích cao nhất này,
chúng ta phải phát tâm xả thân bố thí nhằm mục
đích đạt được giác ngộ để làm lợi lạc
cho tất cả chúng sinh (Bồ đề tâm). Pháp môn
đặc trưng cho giai đoạn này là thiền
định về tâm đại từ, tâm đại bi và tâm
đại thí xả. Do nhận thức được rằng chứng được quả vị Chánh Ðẳng
Giác chính là cách tốt nhất để giúp ích cho
mọi người nên chúng ta dấn thân, cần khổ, thực hành Bồ Tát hạnh, tu
tập 6 pháp ba-la-mật (rộng lượng, đạo đức, kiên
nhẫn, vui vẻ siêng năng, kiên cố thiền
định và trí tuệ). Kim Cang Thừa có mục
đích là chuyển hóa thân và tâm phàm
phu trở thành thân và tâm của một vị Phật.
Giờ
đây chúng ta sẽ bước vào giai
đoạn căn bản sơ khởi, học hỏi cách chuyển hóa
dần dần tâm thức của chúng ta.
a. Bước thứ nhất - Có tầm nhìn
vượt lên trên hạnh phúc trong hiện tại
Niệm tưởng
đến cái chết
Duyên may mà chúng ta có
được trong đời sống quý báu của kiếp người
không lâu bền. Cái chết sẽ đến với tất cả mọi người. Hầu hết người ta cảm
thấy lo sợ khi suy tư về cái chết; người ta e ngại rằng nói đến Tử thần thì
Tử thần đến đứng kế bên. Tuy vậy chính
bản chất thật sự của kiếp sống là vô thường; và, cái chết không miễn trừ
một ai cả. Theo quy luật tự nhiên, chết là một sự việc phải xảy
đến và không thể tránh khỏi thì tốt
nhất là chúng ta không nên giả lảng tránh né, mà hãy chiêm nghiệm về nó.
Làm như vậy sẽ khiến cho đời sống của chúng
ta có ý nghĩa tốt hơn.
Nhận
định về cái chết với một cách nhìn
đúng đắn có thể giúp cho chúng ta định hướng
cho cuộc sống và khai thông nguồn năng
lực tiềm ẩn khiến cho chúng ta sống một cách trọn vẹn hơn. Nhận định về
cái chết là một công cụ mạnh mẽ dùng
để chế ngự những tâm thái nhiễu loạn của chúng ta đồng thời làm cho
tâm thức chúng ta an tĩnh. Khi chúng ta hoàn toàn thừa nhận rằng chúng ta
sẽ không thể nào thoát khỏi cái chết thì tất cả những cái nhỏ nhặt trong
cuộc sống (có thể đang làm lao tâm bận
trí chúng ta) bỗng trở nên vô nghĩa so với
đoạn đường còn lại của kiếp sống mà chúng ta
đang đi; cuối đoạn đường còn lại này
là cái chết. Ðức Phật đã dạy rằng:
Không có ý thức nào cao hơn
việc ý thức được tính cách vô thường của kiếp
sống. Dấu chân của con voi thì to nhất so với dấu chân của muôn
thú, cũng vậy thiền định về tính cách vô
thường thì có sức mạnh to lớn nhất so với tất cả các pháp thiền
định.
Lúc mệnh chung, dòng tâm thức
và những dấu ấn nghiệp lực mà chúng ta đã
tạo sẽ đưa chúng ta đi đến một kiếp sống mới.
Nếu trong kiếp sống này chúng ta có những hành
động gây tổn hại cho mọi người với động cơ
xấu thì những dấu ấn đen tối của những
hành động đó sẽ đeo bám theo dòng
chảy tâm thức của chúng ta. Chính những vết
đen trong tâm thức này khiến cho tâm sân hận và lòng ganh tỵ của
chúng ta được tăng trưởng trong kiếp sống
hiện tại và tiếp tục tăng trưởng mạnh
hơn trong kiếp sống tương lai.
Ngược lại, nếu chúng ta sử dụng
thời gian mà chúng ta có trong kiếp sống này một cách sáng suốt, tức là,
chúng ta dùng thời gian để tu tập và
làm phát triển những trạng thái tươi sáng của tâm thức như bố thí, kiên
nhẫn, lòng thương, tâm từ ái, tâm bi mẫn, tâm
định tĩnh và trí tuệ. Kết quả sẽ như thế nào? - Những dấu vết xán
lạn của những hành động đó (những hành
động do những trạng thái tươi sáng của tâm
thức thúc đẩy chúng ta làm) cũng đeo
bám theo dòng chảy tâm thức của chúng ta trong hiện tại. Và, những
tâm thái lợi lạc do đó cũng trở nên
mạnh mẽ hơn; trong kiếp sống tương lai chúng sẽ phát khởi dễ dàng hơn. Vì
vậy mà điều quan trọng là chúng ta hãy
quan tâm đến những điều chúng ta suy nghĩ,
những lời chúng ta nói và những việc chúng ta làm ngay từ bây giờ.
Cái chết chắc chắn là càng lúc
càng đến gần với tất cả mọi người dù
là giàu hay nghèo, danh giá hay hèn hạ... Chúng ta sẽ chết. Không một ai
trong chúng ta có thể sống mãi vì xác thân xương thịt theo
định luật tự nhiên là phải hư hoại và
không còn chút sinh lực nào cả gọi là tử thi. Chúng ta không thể trốn ở
một nơi nào đó để thoát khỏi cái chết. Kiếp
sống của chúng ta không thể kéo dài và mỗi một giây phút trôi qua
là mạng sống của chúng ta bị ngắn lại một chút. Cái chết
đang đi đến bất kể chúng ta có dùng
thời gian để tu tập theo con đường đạo hay
không. Khi quỹ thời gian của chúng ta sắp cạn kiệt chúng ta không thể kỳ kèo
xin thêm để có đủ thời gian chuyển hóa và
thăng tiến tâm thức. Nhận chân được đặc tính
chắc chắn của cái chết, chúng ta sẽ giữ vững quyết tâm tu tập Chánh pháp.
Cái chết không hẹn ngày giờ;
không ai xác định được mạng sống của mình
sẽ là bao nhiêu năm. Mặc dầu người ta đã
làm thống kê để biết được tuổi thọ trung bình
của con người một cách chung chung cho một cộng
đồng nào
đó nhưng điều ấy không thể bảo đảm gì cả
đối với tuổi thọ riêng của mỗi cá nhân
chúng ta. Sẽ là sai lầm khi nghĩ rằng sau khi hoàn thành xong xuôi mọi
chuyện theo kế hoạch mà ta đã vạch ra
rồi ta mới chết. Hầu hết ai cũng chết trong tình cảnh
đang làm dở dang một việc gì
đó. Cụ thể như một số người đi nghỉ hè
rồi không bao giờ trở về nữa, một số người
đang sắp sửa ăn một bữa cơm và đã
không bao giờ ăn xong bữa cơm đó nữa.
Ðể duy trì mạng sống chúng ta
phải cố gắng rất nhiều. Chỉ cần chúng ta không làm
được gì hết tức là chết. Ðể sống còn
chúng ta phải sắm sửa lương thực, nhà cửa, quần áo, thuốc men và những nhu
yếu khác. Ngay cả một số sự vật dùng để bảo
tồn mạng sống nhiều khi quay trở lại giết hại mạng sống. Thí dụ, một ngôi
nhà sập và giết chết người ở trong đó
khi động đất; thực phẩm nhiễm độc đã giết không ít người tiêu thụ.
Thân thể con người vô cùng mềm yếu. Lớp da của con người rất nhạy cảm và
dễ dàng bị tổn thương, xương của con người rất dễ bể gãy. Ngay cả những
con sinh vật tí ti như con vi trùng hay nhỏ hơn nữa là con vi-rút (kính
hiển vi thường không thấy nỗi) mà cũng có thể giết vô số sinh mạng con
người. Hiểu biết sâu xa về tính chất bất chợt và không bao giờ hứa hẹn của
cái chết, chúng ta sẽ quyết tâm tu tập Chánh pháp ngay bây giờ. Không muốn
chần chừ chút nào.
Khi mệnh chung chúng ta bỏ lại
sau lưng tất cả những gì chúng ta đang có.
Mặc dầu chúng ta đã lao tâm, lao lực, cực nhọc cả kiếp sống
để gom góp những thứ đó lại rồi đem cất giấu,
vun bồi, rồi bảo quản... nhưng chúng ta không thể mang theo bất cứ vật gì.
Mặc dầu chúng ta có hết lòng săn sóc, nâng
niu cách mấy, khi chết chúng ta cũng phải từ bỏ chúng mà thôi. Ngay
cả cái thân thể mà chúng ta có từ thuở nằm trong bụng mẹ, thế mà chúng ta
cũng phải bỏ nó lại để ra đi. Chỉ có những
dấu vết nghiệp lực đậm nét trong dòng tâm thức của chúng ta sẽ theo
chúng ta đi vào trong kiếp sống mới.
Chỉ có công phu tu tập Chánh pháp là kẻ sẽ trợ giúp khi tử thần
đến để lấy mạng chúng ta. Nhận chân được sự
thật này chính là động cơ để chúng ta
quyết tâm tu tập theo Chánh pháp, chớ không phải tu tập là vì danh
lợi hay thế quyền.
Nói như vậy phải chăng
có nghĩa là người tu Phật không thể có
điều gì vui tươi và luôn luôn phải sống khắc khổ? Không, nghĩ như
vậy là không đúng, không có nghĩa như vậy
đâu. Ðiều muốn nói ở đây là
chúng ta phải tự hỏi: "Cái gì thật sự là lợi lạc cho kiếp sống?"
Chúng ta phải xem xét những động cơ nằm phía
sau những hành động của chúng ta và
kết quả mà chúng ta sẽ mang lại cho kiếp sống hiện tại và kiếp sống kế
tiếp. Làm như vậy chúng ta có thể quyết định
cái gì là lợi lạc và chỉ làm những
điều lợi lạc mà thôi.
Thí dụ chúng ta gian dối trong
kinh doanh với mục đích là có thêm lợi
nhuận để gia đình chúng ta sống trong
giàu sang nhung lụa thì động cơ của chúng ta
là một động cơ vị kỷ. Chúng ta muốn
gia đình chúng ta có hạnh phúc và chúng ta
đã vì hạnh phúc của gia
đình mình mà tước
đoạt hạnh phúc của những người đang bị chúng
ta gian dối. Nói cách khác, chúng ta làm gia tăng
hạnh phúc của mình bằng cách giảm thiểu hạnh phúc của người. Sự
thật ai cũng biết là cả hai bên đều muốn hạnh
phúc và cả hai bên đều xứng đáng có
một đời sống tốt đẹp như nhau. Nếu chúng ta hành
động mờ ám vì
động cơ vị kỷ cá nhân hay vị kỷ gia đình
hay vị kỷ đoàn thể nhóm khối của mình
thì chúng ta đang làm tổn hại người
khác. Mặc dầu gia đình của chúng ta có
thể có thêm một vài món tài sản nào đó, chúng
ta nên tự nhắc rằng những món tài sản như vậy chúng ta cũng không
mang theo bên mình được khi chúng ta mệnh
chung ở kiếp sống này và tái sinh sang kiếp sống kế; nhưng những
dấu vết nghiệp lực vị kỷ và quấy ác mà chúng ta
đã tạo ra khi gian dối sẽ
đi theo chúng ta để báo oán.
Hiểu
được điều này, chúng ta sẽ thấy việc
gian dối người khác là lợi bất cập hại. Chúng ta sẽ xa lánh, không còn
muốn làm những điều gian dối. Gia đình
của chúng ta có thể hơi ít của cải một chút nhưng chúng ta có thể sống
thanh thản với một lương tâm nhẹ nhàng và trong sáng. Những hành vi tươi
sáng (nhờ quyết tâm tránh né những điều gian
dối) sẽ mang lại những lợi lạc trong tương lai.
Chúng ta xem một thí dụ khác:
Nói chuyện phù phiếm, lông bông thường được
xem là một việc tổn hại vì nó hoang phí thời gian. Nếu một người
bạn của chúng ta đang bị chán chường và
không thể nghe được những lời khuyên
sáng suốt, chúng ta có thể nói đùa, kể
những câu chuyện tếu, đi vào những vấn
đề vụn vặt để tạo cảm hứng cho bạn. Vì
động cơ của chúng ta là tốt nên những
câu chuyện chọc cười hay tán gẫu của chúng ta có tính tích cực.
Nụ cười, niềm vui và những phút
giây sảng khoái lành mạnh không hề đối nghịch
lại với Chánh pháp. Càng vứt bỏ lại sau lưng chấp thủ và tức giận,
ganh tỵ và cao ngạo thì chúng ta càng có nhiều nụ cười và niềm vui
đối với những việc chúng ta đã làm và
đang làm. Tấm lòng của chúng ta sẽ
rộng mở đối với tất cả mọi người và
chúng ta có thể mỉm cười dễ dàng và thoải mái. Những bậc hiền trí thánh
thiện mà tôi có duyên may được gặp đều có óc
khôi hài hóm hỉnh, u mặc thâm thuý và thân thiện vô cùng.
Trong những nhóm Phật tử
điều quan trọng là những dịp gặp gỡ
nhau với tinh thần thân hữu. Chúng ta có thể chia sẻ kinh nghiệm với những
người bạn cùng tu theo Chánh pháp và khích lệ nhau trên con
đường tu học. Ðạo Phật không phải là
một con đường độc hành dành cho từng
người một mà là một con đường rộng rãi
cho nhiều người cùng đi vì vậy người
Phật tử nên tổ chức những nhóm trợ tu và xây dựng tình pháp lữ vững bền.
Ðừng nghĩ rằng chỉ cần quay trở
vào cuộc sống nội tâm là đủ lợi lạc.
Ðừng nghĩ rằng: "Vì có mưu cầu hay có chấp trước nên ta mới
đi nói chuyện với người khác". Và
cũng đừng nghĩ rằng: "Ta cứ lo tập
trung vào việc tụng kinh, niệm Phật hay thiền
định và không giao tiếp với ai cả." Một trong những nguyên lý căn
bản của Phật giáo là quan tâm và trải lòng từ ái
đến với những người khác. Mặc dầu có thể có
những lúc chúng ta cần phải sống cách ly khỏi những người khác để ổn định
lại tâm thức trong trường hợp tâm thức của ta quá dao động, rối loạn và
mất tự chủ nhưng bất cứ khi nào có thể được
thì chúng ta nên tích cực làm các công việc
để tăng trưởng lòng từ ái
đối với tha nhân. Ðể làm
được việc này chúng ta phải ý thức
được chuyện gì
đã xảy ra trong cuộc sống của người
khác, quan tâm đến những người khác như quan
tâm đến bản thân và xin được giúp đỡ
người khác bất cứ khi nào có thể được.
Năng lực làm việc với tâm từ ái của chúng ta sẽ theo thời gian mà
tiến triển nhờ vào việc tu tập của chúng ta. Tuy nhiên, nhu cầu làm lợi
cho người khác nên cân bằng với nhu cầu tu tập nội tâm cho bản thân.
Phật giáo không
đối nghịch với việc có của cải vật chất;
không đối nghịch với việc giữ gìn thân thể chúng ta khỏe mạnh;
không đối nghịch với việc rèn luyện
sức cảm hóa hay sức thuyết phục người khác; càng không
đối nghịch với việc quan tâm, săn sóc bạn bè
và thân quyến. Tài sản của chúng ta, thân thể hay thân quyến của chúng ta
không bắt chúng ta làm nô lệ. Nô lệ hay không nô lệ ở
đây là tâm tham chấp, tâm sân hận và
những tâm thái nhiễu loạn khác phát sinh đối
với tài sản, thân thể hay thân quyến. Nếu chúng ta tham chấp
đối với của cải vật chất thì chúng ta
có khuynh hướng nói dối, lừa gạt hay trộm cắp
để có được chúng. Nếu chúng ta có tâm tham chấp như vậy thì chúng
ta sẽ keo kiết giữ lấy tiền của; hoặc là chúng ta sử dụng tiền của một
cách vị kỷ cốt để có danh vị; hoặc là
chúng ta sẽ dùng tiền của để tạo nên
quyền lực khống chế người khác. Tâm tham chấp như vậy che mờ trí óc của
chúng ta, không những tác động xấu đến mối
quan hệ giữa chúng ta với người khác trong hiện tại mà còn ảnh
hưởng đến cảnh giới mà chúng ta tái
sinh vào trong tương lai.
Ngược lại chúng ta có thể nghĩ:
"Ta cần một số tiền bạc và của cải để duy
trì mạng sống của bản thân và gia đình;
ta sẽ làm ăn lương thiện để tạo ra tiền bạc và
của cải; ta sẽ san sẻ tiền bạc và của cải với người khác,
đồng thời dùng tiền bạc và của cải
để hộ trì và xiển dương Chánh pháp."
Với một động cơ như vậy chúng ta sẽ có một
đời sống đạo đức, sẽ tạo được thiện nghiệp tức là tạo
được những dấu ấn nghiệp lực tươi sáng trong
dòng chảy tâm thức bằng tâm hồn rộng rãi bao dung. Hơn nữa, chúng
ta sẽ cảm thấy nhẹ nhàng trong lòng vì chúng ta sẽ không còn xan tham và
keo kiết nữa.
Nguy cơ tái sanh vào cõi ác
Sau khi chết chúng ta sẽ tái
sinh về đâu? Theo quan điểm của Phật giáo thì
điều này tùy thuộc vào hành
động của chúng ta khi chúng ta còn
đang sống và tùy thuộc vào những
nghiệp đã chín muồi vào lúc chúng ta
mệnh chung. Nếu chúng ta sân hận trong lúc từ trần hoặc chúng ta quá tham
tiếc của cải và quyến luyến người thân thì nghiệp lực u mê sẽ tăng
trưởng và chín muồi rồi lôi kéo chúng ta tái sinh vào những cảnh
giới có nhiều khổ não. Nếu khi chết mà chúng ta nhớ
đến Tam Bảo hay thí xả mạng sống của chúng ta
vì lợi lạc cho tha nhân thì những nghiệp lực tươi sáng sẽ
đưa chúng ta tái sinh vào những cảnh
giới tốt đẹp.
Có 6 cảnh giới của sinh linh
trong vòng luân chuyển sinh tử chia làm hai loại chính: (1) Những người có
phúc lạc là chư thiên, chư thần và loài người; (2) những kẻ vô phúc bạc
phần là thú vật, quỷ đói và những
người phải nhận những khổ đau cùng
cực. Có vẻ như là kỳ quặc khi nghĩ rằng chúng ta có thể tái sanh vào trong
những cảnh giới với thân thể như vậy nhưng nếu xem xét lại tâm thức của
mình thì chúng ta sẽ thấy rằng chuyện đó có
thể xảy ra.
Thí dụ,
đôi khi loài người chúng ta hành
động và suy nghĩ tương tự như loài thú
và nhiều khi còn tệ hơn nữa. Chúng ta có thể tham lam và cướp
đoạt, hung bạo và mê muội giống như
một số loài cầm thú. Trong khi cầm thú chỉ giết hại nhau
để có miếng ăn hay để tự vệ thì nhiều
khi con người lại giết hại mạng người vì một cơn giận dữ, vì thù hằn hay
vì tham muốn. Nếu con người nào hành động như
vậy thì lẽ tự nhiên là lúc chết tâm thức của người ấy sẽ bị lôi
cuốn và nhập thai vào những dạng thân thể phù hợp tương thích với tâm thái
đó.
Những cảnh giới bất hạnh như
địa ngục hay những thân thể thấp kém như cầm
thú không phải được tạo dựng lên để
trừng phạt những người đã và đang làm
những việc độc ác. Ðức Phật với lòng
từ bi vô lượng không tạo ra những cảnh giới
đó, Ngài cũng không phán xét và kết tội chúng ta vì những hành
động ác quấy mà chúng ta
đã làm. Những cảnh giới
đó chính là do tâm thức của chúng ta
tạo dựng ra rồi nghiệp lực của chúng ta đưa
chúng đến sống trong đó mà thôi. Nhà hiền trí Ấn Ðộ, Shantideva
nói:
Lửa, lửa mênh mông
Cả mặt đất biến thành mặt thép nung cháy bỏng
Ðâu có một ai xây đắp tạo ra
Chỉ có tư tưởng tổn hại trong tâm thức chúng ta
Ðã tạo dựng và xây lên như thế
Tất cả những kinh hoàng
Ðang diễn ra trên thế gian
Chỉ vì tâm niệm tà ác gian tham mà có
Nếu chế ngự được rồi những điên loạn đó
Trong tâm thức phàm phu mê đắm
Thì vòng sinh tử tử sinh khổ não đâu còn.
Trong kiếp sống này và những
kiếp sống trước chúng ta đã làm nhiều
điều có tốt có xấu và những dấu vết
nghiệp lực vẫn còn hằn sâu trong dòng tâm thức của chúng ta. Nghĩ nhớ
đến chúng mà phát sợ nếu phải tái sinh
vào những cảnh giới bất hạnh do những hành
động quấy ác đã làm. Chúng ta tìm cầu sự cứu giúp
để thoát khỏi viễn cảnh rối loạn khổ đau như
vậy. Nhận thức rằng Ba Ngôi Báu có thể dẫn đường cho chúng ta đi đến chỗ
an vui, chúng ta tìm về quy ngưỡng.
Quy y Tam Bảo
Quy y có nghĩa là nương tựa và
tuân phục theo sự hướng dẫn tâm linh của chư Phật, Giáo Pháp và Tăng-già.
Nhận thức được rằng Ba Ngôi Báu với những
phẩm tính cao thượng thù thắng có thể dẫn dắt chúng ta thoát khỏi
hiểm họa tái sinh vào cõi đọa đày, chỉ
cho chúng ta con đường đưa đến hạnh phúc cho
hiện tại và tương lai, chúng ta quay về nương tựa và tuân phục theo
sự hướng dẫn của Ngôi Tam Bảo.
Chư Phật là những vị
đã hoàn toàn
đoạn trừ những tâm thái nhiễu loạn; đã
đoạn trừ tất cả sức mạnh của nghiệp lực và
những u mê trong dòng chảy của tâm thức. Chư Phật cũng
đã phát triển toàn vẹn những phẩm tính
tốt đẹp thù thắng. Chư Phật có tâm từ
ái, bao dung, có trí tuệ rộng lớn và những pháp môn phương tiện
để chỉ bày cho chúng ta con
đường hạnh phúc mà chính bản thân chư
Phật đã theo con
đường đó mà
đến được mục đích an vui.
Những vị Phật mà chúng ta biết
được đã từng có thời gian là những
người chưa giác ngộ như chúng ta ngày nay. Những vị ấy cũng
đã từng bị trói buộc trong mạng lưới
sinh tử tử sinh như chúng ta; đã từng
bị khổ não vì tham muốn, sân hận và si mê y hệt như chúng ta. Tuy nhiên do
nhờ tu tập theo con đường đạo chư Phật đã
thanh lọc được tâm thức, đã phát triển
những phẩm tính thù thắng tốt đẹp, đạt đến
chỗ giác ngộ viên mãn tối thắng. Chúng ta hoàn toàn có thể
đạt được những điều tối thắng như vậy nếu
chúng ta thực hành theo những lời giáo huấn của Ðức Phật Bổn Sư
Thích-ca. Qua những lời giáo huấn đó,
Ðức Phật đã truyền
đạt lại kinh nghiệm mà chính bản thân
Ngài đã trải qua cho thế hệ của chúng
ta.
Ðức Phật Thích-ca Mâu-ni
đã sống cách
đây 2.500 năm là vị Phật giáo hóa
trong Hiền kiếp mà chúng ta đang sống. Tuy
nhiên, còn có nhiều vị Phật khác mà chúng ta có thể quy y theo. Ðó
là những vị Phật sống trong những thế giới thanh tịnh tức là những cảnh
giới do chư Phật dùng công đức của thiện
nghiệp để kiến tạo ra. Chư Phật cũng có thể hiện thân vào thế giới
này dưới nhiều hình thức khác nhau để tiện
việc hóa độ vạn loại sinh linh. Các Ngài không biểu lộ ra là Phật
mà chỉ xuất hiện như người bình thường. "Những người bình thường" ấy dùng
những công hạnh và những lời giáo huấn phù hợp
để dẫn dắt chúng ta tiến lên trên con
đường đạo.
Chư Phật là những vị
đạo sư đầy đủ tư cách nhất vì các Ngài
đã tự mình hoàn toàn vượt qua khỏi
vòng sinh tử mê muội khổ đau. Vì vậy
mà trí tuệ, từ bi và các pháp môn phương tiện mà chư Phật dùng
để giáo hóa chúng sinh đã
được chính những thành tựu mà Ðức Phật
đạt được làm bảo chứng. Những pháp môn
phương tiện đó nhiều vô lượng, vô số, không
có giới hạn. Vì nghiệp lực và các tâm thái nhiễu loạn nên những
"thần thánh thế gian" không có thể bảo chứng cho những lời mà họ biện
thuyết; những "thần thánh thế gian" chưa thoát khỏi vòng sinh tử khổ
đau và cũng không
đủ năng lực để có thể dẫn dắt chúng ta đi đến
chỗ giải thoát sinh tử khổ đau một cách viên mãn tối thắng
được.
Hơn nữa, chư Phật lại có vô số
phương tiện thiện xảo để giáo hóa chúng ta
một cách hiệu quả. Trong Thánh điển Phật giáo có ghi lại nhiều mẩu chuyện
kể về những người cực kỳ ngu mê, sân giận hay tham lam
đã được
Ðức Phật giáo hóa. Những người đó vẫn
đạt được giải thoát viên mãn cao nhất.
Chư Phật có lòng
đại từ, đại bi, chắc chắn là chư Phật
sẽ cứu độ chúng ta. Chư Phật lại có tâm bình
đẳng nên các Ngài giáo hóa chúng ta mà
không hề bận tâm tới việc chúng ta thuộc phe nào và
đã đối xử
với các Ngài như thế nào. Chư Phật không hề có tâm phân biệt
để "bên trọng bên khinh" như hàng phàm
phu chúng ta. Chư Phật cũng không cảm thấy bị xúc phạm vì bị người ta chỉ
trích hay cảm thấy hãnh diện vì được người ta
tán dương ca ngợi.
Sự cứu
độ của chư Phật trải đều đến cho tất cả chúng
ta một cách bình đẳng giống như ánh
sáng mặt trời chiếu soi mọi phương hướng. Tuy nhiên, ánh sáng mặt
trời không thể nào chiếu soi vào cái bình đậy
nắp, hay cái bình lật úp miệng xuống
đất. Cũng vậy, hào quang giác ngộ của chư Phật không thể nào soi
sáng được những chúng sinh có quá nhiều pháp
chướng ngại và quá ít nghiệp tốt. Nếu sau
đó cái bình
được mở nắp ra hay được lật trở lên
thì ánh sáng mặt trời sẽ rọi vào dễ dàng. Như vậy,
điều quan trọng đối với chúng ta là
đoạn trừ những pháp chướng ngại trong tâm và
làm cho tâm thức của chúng ta có khả năng
tiếp nhận trí tuệ của chư Phật một cách tốt đẹp nhất.
Quy y Pháp là hướng về 2 thánh
đế sau của Tứ thánh đế, tức là Diệt
thánh đế và Ðạo thánh
đế (nói dễ hiểu hơn là trạng thái giải
thoát và con đường đưa đến trạng thái giải
thoát đó). Nói cách khác, Chánh pháp là nội dung của những chứng
ngộ, của con đường dẫn đến sự diệt khổ và
diệt hết những nhân tố ngọn nguồn tạo ra khổ nằm trong dòng tâm thức của
những người đã trực tiếp giác ngộ
được tánh không. Theo nghĩa tổng quát hơn,
Chánh pháp chỉ cho những lời Phật dạy.
Có thể nói rằng Chánh pháp mới
là chỗ quy y thật sự. Ðiều này có nghĩa là những chứng ngộ (tức là: hiểu
biết như thật) và những đoạn diệt (tức là:
không còn khổ và không còn nhân tố sinh ra khổ) mà chúng ta chứng
đạt được chính là nơi nương tựa thật
sự cho chúng ta. Chư Phật chỉ trình bày cho chúng ta biết con
đường đạo; Tăng-già cung cấp cho chúng
ta những khuôn mẫu sống động và chỉ
dẫn cho chúng ta tu tập đúng Chánh pháp.
Nhưng chính sự chứng ngộ thật sự của chúng ta (chỗ quy y thật sự) mới trực
tiếp diệt trừ những nỗi đau khổ và sự u mê của chúng ta.
Tăng-già
chỉ cho những người - xuất gia hay tại gia -
đã trực tiếp chứng ngộ về tánh không bao gồm những vị A-la-hán,
Thanh Văn, Duyên Giác và những vị Bồ
Tát. Vì những vị này đã nhận thức
được thực tại như thật nên có thể giúp
cho chúng ta nhận thức được thực tại như thật
đó.
Theo nghĩa kinh
điển hơn thì Tăng-già
chỉ cho những cộng đồng các vị Tỷ-kheo và
Tỷ-kheo-ni, những người đã dành hết
cuộc đời cho việc tu tập và thực hành
thánh đạo, mặc dù từng cá nhân thì có
vị đã chứng
đạt, có vị vẫn chưa chứng đạt. Mỗi cá nhân vị
tăng hay vị ni là những hành giả đang
đi trên con đường đạo. Do vậy, chúng
ta không nên đinh ninh cho rằng đó là
những vị đã hoàn hảo.
Những vị thánh Phật giáo như Bồ
Tát Quán Âm, Bồ Tát Văn Thù có thể xem
là những vị Phật hay là những vị Bồ Tát Tăng-già.
Chúng ta có thể bày tỏ lòng kính ngưỡng và thờ phụng những vị này theo
nhiều cách.
Cách thứ nhất là xem hai vị Bồ
Tát trên là những người có thật trong lịch sử và chúng ta có thể tìm thấy
tiểu sử sống động trong kinh điển. Kính
ngưỡng và thờ phụng theo cách này giúp cho chúng ta cảm thấy phấn
chấn vì hình dung ra được những mẫu mực mà
hai vị Bồ Tát đã thể hiện trong
đời sống cụ thể. Ðiều này khích lệ
chúng ta nương theo đó mà hành trì và
tu tập.
Có một cách khác
để kính ngưỡng và phụng thờ là xem
những vị thánh này biểu trưng cho những phẩm tính cao thượng thù thắng.
Theo cách này chúng ta có thể hiểu rằng Bồ Tát Quán Âm biểu trưng cho tâm
từ bi và Bồ Tát Văn Thù biểu trưng cho
trí tuệ của tất cả chư Phật. Bồ Tát Quán Âm và Bồ Tát Văn
Thù đều có chung những chứng ngộ như
nhau vì tâm thể viên thông vô ngại của chư Phật có cùng những phẩm
tính và nhận thức như nhau. Tuy nhiên, ở đây
mỗi vị có thể được xem là biểu trưng cho mỗi phẩm tính riêng biệt
cụ thể.
Ðôi khi, qua ngôn ngữ và khái
niệm, chúng ta cảm thấy khó lòng hiểu được
thế nào là đại từ bi và tâm
thức đại từ bi đó có tính cách bình
đẳng, bao hàm tất cả chúng sinh như
thế nào. Nhưng khi phẩm tính đại từ bi này
được trình bày bằng hình tượng biểu
trưng và có nghệ thuật thì chúng ta có thể hiểu nhanh chóng và có ấn tượng
sâu sắc trong tâm thức. Hình tượng sắc thân cụ thể của Bồ Tát Quán Âm với
nhiều cánh tay dang rộng để giúp đỡ mọi người
và với nhiều con mắt bao dung từ ái để
thấy được mọi niềm đau của chúng sinh. Chiêm ngưỡng hình tượng Bồ
Tát nhắc nhở chúng ta về tâm đại từ đại bi.
Chúng ta tọa thiền quán chiếu về Bồ Tát Quán Âm là
để phát triển tất cả những chứng ngộ nhưng
đặc biệt là phát triển tấm lòng từ ái bao la mà Bồ Tát Quán Âm là
một biểu thị sống động.
Khi một người nào
đó thành Phật thì người
đó có thể thị hiện trong hình thức của
bất cứ một vị thánh nào. Như vậy, tâm thức viên thông của một vị Phật có
thể đồng thời xuất hiện trong hình
dạng Bồ Tát Quán Âm để làm lợi lạc cho
một số người hữu duyên, trong hình dạng của Bồ Tát Văn
Thù để làm lợi lạc cho một số
người khác, hoặc là trong hình dạng của người thầy
đang dạy chúng ta, của một con vật hay ngay
cả trong hình dạng của một số vật vô tri như cây cầu, chóp núi,
dòng sông. Một khi mà dòng tâm thức của chúng ta
được tịnh hóa và
được tu tập đầy đủ thì chúng ta có khả
năng hóa hiện ra dưới nhiều hình dạng
khác nhau để làm lợi lạc cho tha nhân
và đưa họ đi đến chỗ giác ngộ.
Cách thứ ba
để chiêm bái và phụng thờ những vị
Thánh là xem những vị đó chính là hạt
giống Phật của chính chúng ta. Chúng ta cần phát triển những hạt giống
đó một cách viên mãn trong tương lai.
Khi chúng ta quay về Ðức Phật để được giáo
hóa thì chúng ta tự nhắc nhở rằng vị Phật mà sau này chúng ta sẽ
trở thành chính là vị Phật sẽ gia hộ cho chúng ta thoát khỏi khổ ách. Ðiều
này thôi thúc chúng ta niệm tưởng và tu tập những hạt giống Phật
đang hiện hữu trong bản thân chúng ta ngay
bây giờ.
Có một hình ảnh tương
đồng được dùng
để minh họa mối liên hệ giữa Ba Ngôi
Báu: Chúng ta giống như một người bệnh đang
bị đau đớn và những nhân tố của đau
đớn hành hạ. Ðức Phật là một người thầy thuốc chẩn
đoán và kê toa cho chúng ta. Giáo pháp
là thuốc. Và, Tăng-già là những y tá
giúp cho chúng ta dùng thuốc để cho chúng ta
lành bệnh, được an vui và hạnh
phúc.
Nghiệp: Nguyên tắc nhân quả
Vị thuốc
đầu tiên mà Ðức Phật chỉ
định cho chúng ta là quán sát nghiệp
lực và thực hiện quá trình chuyển hóa nghiệp lực, tức là chúng ta phải từ
bỏ những hành động tổn hại và thực
hiện những hành động lợi lạc. Ðức Phật
đã dạy về 10 nghiệp tổn hại mà chúng
ta đã diễn giải trong chương trước
đây. Nghiệp lực cũng được trình bày
trong chương "Tâm Thức Là Kẻ Tạo Tác Ra Những Cảm Thọ Của Chúng Ta." Có 4
đặc điểm chính của nghiệp:
1. Nghiệp
được định nghĩa. Khi chúng ta gieo những hạt
của quả táo thì cây táo mọc lên chớ không phải cây cam. Tương tự
như vậy, khi chúng ta hành động trong sáng thì
hạnh phúc phát sinh chớ không bao giờ là đau
khổ.
2. Nghiệp có thể mở rộng. Một
cái hạt mầm nhỏ có thể phát triển thành một cây to có nhiều quả, cũng y
như vậy những hành động nhỏ có thể gây ra
những kết quả to lớn. Vì vậy, chúng ta nên cố gắng tránh những hành
động đen tối nhỏ và cố gắng làm những
hành động trong sáng nhỏ.
3. Nếu không tạo nhân thì không
bao giờ có quả. Nếu không gieo hạt thì không có cây. Một người
đã không có gây tạo nhân
để có quả là bị giết thì người ấy sẽ
không chết ngay cả khi người ấy bị tai nạn.
Giống như vậy, nếu chúng ta
không tạo ra những nhân tố để có thể chứng
ngộ được con đường đạo thì chúng ta sẽ không thể nào chứng
đạo được. Nếu chúng ta không làm gì cả
để tạo ra những nhân tố chủ yếu và
những nhân tố trợ duyên mà chỉ đơn thuần cầu
xin Ðức Phật thì chúng ta sẽ không đạt
được kết quả mong muốn. Những người cầu xin cho có được tiền của nhưng rốt
cuộc vẫn nghèo xơ xác; những người ấy giống như một thí sinh cầu
cho thi đậu mà không chịu học bài.
Chúng ta phải tạo ra những nhân tố thích hợp tương ứng thì mới có kết quả
tương ứng như ý. Cần nhận thức rằng cầu nguyện chỉ có công năng
định hướng và công năng thúc giục
những nhân tố mau trổ quả mà thôi.
4. Nghiệp dù thiện, dù ác
đều không bị mất: Nếu chúng ta hành
động trong sáng, tích cực thì kết quả
hạnh phúc sớm muộn gì cũng phải xuất hiện. Khi chúng ta hành
động đen tối, những dấu ấn xấu không bao giờ
mất đi mặc dù chúng không đưa đến kết
quả ngay tức thì.
Qua việc học hỏi và chiêm
nghiệm, chúng ta có thể đạt được một nhận
thức rõ ràng về chức năng của nghiệp
lực. Mặc dầu chúng ta không thể vượt thoát khỏi vòng nhân quả trong
sự vận hành của nghiệp lực nhưng cơ cấu nghiệp lực không phải là những quy
luật mang tính chất cố định, bất di bất dịch.
Nghiệp lực có tính chất lưu thông và linh
động. Bản chất của nghiệp không phải là
một cái khuôn cứng ngắc nên chúng ta có thể thay
đổi nghiệp lực. Thí dụ, đối với những nghiệp
tốt mà ta đã tạo nên rồi, nhưng
sau đó nếu chúng ta nổi giận hay đang chấp
thủ một tà kiến thì những nghiệp nhân tốt
đẹp bị cản trở, không phát triển và
trổ quả được. Ðối với những nghiệp xấu
mà ta đã lỡ tạo nên, nhưng sau
đó, nếu chúng ta biết thanh lọc những dấu ấn
đen tối của chúng trong tâm thức thì chúng ta có thể ngăn
cản hay khống chế hoàn toàn không cho những nghiệp xấu ác
đó trổ ra quả đau khổ.
Người sáng suốt là người biết
tu tập 4 năng lực đối nghịch để thanh lọc
những nghiệp u ám, quấy ác:
1. Hối lỗi
đối với những hành
động gây tổn hại mà chúng ta
đã làm rồi. Với trí tuệ, chúng ta có ý
thức và thừa nhận những sai lầm của chúng ta. Hối lỗi khác với mặc cảm.
Mặc cảm phát sinh từ quan niệm sai lầm và có tác dụng làm trì trệ tâm hồn
của chúng ta. Ngược lại, hối lỗi phát sinh khi ta công tâm
đánh giá những hành
động mà chúng ta
đã làm. Tác dụng của hối lỗi là giúp
cho chúng ta rút được bài học kinh
nghiệm từ những sai lầm mà chúng ta đã
phạm phải.
2. Quy y và khởi tâm xả thân bố
thí. Khi chúng ta đã lỡ có hành
động gây tổn hại cho những vị hiền thánh hay
người nào rồi thì nhờ vào việc quy y Ba Ngôi Báu mà chúng ta có thể
khôi phục mối quan hệ với những vị hiền thánh; và nhờ vào việc tu tập lòng
thương, tâm từ bi và hạnh xả thân bố thí mà chúng ta có thể khôi phục mối
quan hệ với người ấy.
3. Hạ quyết tâm không làm những
hành động tiêu cực,
đen tối trong tương lai. Quyết tâm càng
mạnh mẽ thì chúng ta càng dễ dàng tránh được
thói quen làm những việc tổn hại.
4. Tham gia vào công việc chữa
trị những quấy ác đã lỡ làm, tức là
làm bất cứ việc tốt nào như giúp người đang
cần giúp; làm các việc công quả cho hội chúng; nghe pháp, quán
chiếu hay thiền định về Chánh pháp; lễ bái
hay cúng dường Ba Ngôi Báu; ấn tống kinh sách v.v...
Tất cả những
điều đã trình bày ở trên là bước thứ
nhất dành cho những người nguyện có một đời
sống tương lai tốt đẹp. Có thể tóm tắt những điều trên như sau: quy
y Tam Bảo và quán sát nguyên lý nhân quả, tránh những hành
động tổn hại và thực hiện những hành
động tích cực lợi lạc.
b. Bước thứ hai - Ước mong
được giải thoát
Trong bước
đầu, nội dung tu tập chủ yếu của một hành
giả là chuẩn bị bản thân để có thể chết một
cách thanh thản và tái sinh về cảnh giới an lạc. Mặc dầu
điều này dường như có tính chất hướng
vọng tương lai và lãng quên hạnh phúc hiện tại nhưng sự thật thì ngược
lại. Do việc lưu tâm đến kiếp sống tương lai,
chúng ta có ý thức hơn về những việc xảy ra trong hiện tại vì những
gì chúng ta làm trong hiện tại sẽ tạo ra những kết quả mà chúng ta sẽ có
được trong tương lai.
Cũng vậy,
để tránh những hành
động tổn hại, chúng ta sẽ hăng hái chế ngự
tâm chấp thủ, sân hận, nhỏ mọn, cục bộ... Chúng là
động cơ đưa đến những hành
động tổn hại. Nếu chúng ta làm
được như vậy thì
đời sống trong hiện tại của chúng ta không còn
nặng gánh lo âu, nhiệt não và tán loạn do những tâm thái nhiễu loạn tạo
nên nữa. Ðiều có vẻ nghịch lý là chúng ta càng quan tâm
đến kiếp sống tương lai thì chúng ta
càng sống một cách có ý nghĩa hơn trong hiện tại.
Qua một thời gian chân chánh tu
tập, chúng ta có thể nhận thức được rằng: "Ngay
cả khi ta có một kiếp sống nhiều phúc lạc trong tương lai, ta vẫn còn tiếp
tục chịu sự chi phối của luân hồi. Như vậy kiếp sống phúc lạc có hoàn mãn
không?"
Kiếp sống nhiều phúc lạc chỉ là
một phương tiện đối đãi
để ứng phó tạm với những nỗi đau khổ của kiếp
sống con người mà thôi. Trong kiếp sống
đó chúng ta vẫn còn bị ràng buộc với
chuyện sinh tử tử sinh và những chuyện mà không ai ưa thích như bệnh tật,
già nua và tử vong. Chẳng có kiếp sống nào là an toàn lâu bền cả vì mỗi
kiếp sống, ngay cả một kiếp sống đệ nhất
phước báu đi nữa cũng phải có ngày chấm hết. Bị khuynh
đảo và cai quản bởi những tâm thái
nhiễu loạn nên chúng ta thăng trầm lăn lộn
với những rắc rối của kiếp sống con người, rồi mai đây khi bước sang kiếp
sống khác chúng ta tiếp tục thăng trầm lăn lộn với những rắc rối mới phát
sinh.
Biết
được như vậy, chúng ta mới có quyết tâm vượt
thoát khỏi sự ràng buộc của sinh tử, mong muốn bỏ lại sau lưng vòng
luân hồi thăng trầm lên xuống, hướng
tâm đến sự giải thoát, một trạng thái an nhiên
tĩnh lặng thường hằng xây dựng trên nền tảng của trí tuệ. Ðể
đạt đến trạng thái này chúng ta phải
nỗ lực để rèn luyện một dạng trí tuệ
sắc bén đủ sức cắt tận gốc rễ của vô minh.
Thông thường,
đối với những người thuộc căn cơ bậc trung thì
Tứ thánh đế và Bát thánh
đạo là giáo lý thích hợp. Những giáo
lý này đã
được trình bày ở chương trước nên ở
đây chúng ta chỉ tóm lược lại mà thôi. Thật ra, giáo lý Tứ thánh
đế và Bát thánh
đạo không phải nằm trong phạm vi của căn cơ
bậc trung mà thôi vì những giáo lý này còn bao hàm một số yếu tố
của bậc căn bản và cả bậc thượng.
Quán chiếu Tứ thánh
đế khiến cho chúng ta phát khởi quyết tâm
thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi. Ba pháp tu học cao thượng (đã
trình bày ở chương trước) là pháp môn chủ yếu hướng
đến sự giải thoát.
c. Bước thứ ba - Tầm cầu giác
ngộ để lợi lạc quần sinh
Ở cấp
đầu tiên, hành giả tu tập bản thân
chuẩn bị cho lúc mệnh chung và cho những kiếp sống tương lai. Việc này
khiến cho cuộc sống có lý tưởng và có ý nghĩa hơn. Sau một thời gian, khi
nhận thức đã phát triển cao hơn, hành
giả nhận thấy rằng việc tái sinh vào cảnh giới phúc lạc vẫn không có
được hạnh phúc lâu dài. Ðến giai
đoạn này mục tiêu của hành giả
được nâng lên. Hành giả có ý muốn hoàn
toàn thoát khỏi cảnh sinh tử luân hồi. Thế là hành giả bắt
đầu tu tập theo cấp trung gian với mục đích tìm
cầu sự giải thoát.
Kế tiếp, hành giả có thể
đánh giá lại mục tiêu
đang có của mình, và tự hỏi: "Hoàn
mãn chăng khi đã
đạt được sự giải thoát cho bản thân của mình?
Còn những người khác thì sao?" Lúc bấy giờ trong tâm của hành giả khởi
lên ý thức về trách nhiệm phổ quát đối với sự
khang lạc của tất cả chúng sinh. Thế là hành giả phát nguyện tu tập
tâm Bồ đề tức là ý hướng xả thân bố
thí: đạt đến giác ngộ vì lợi lạc quần
sinh.
Ðức Phật dạy hai phương pháp
để tu tập tâm xả thân bố thí. Phương pháp thứ
nhất là 7 pháp nhân quả; bảy pháp này
được Ngài Di lặc và Vô Trước chú trọng. Phương pháp thứ hai là pháp
hoán chuyển tự tha. Phương pháp thứ hai này
được vị đạo sư Ấn Ðộ Shantideva giảng giải. Ðể ngắn gọn, ở
đây chúng ta chỉ bàn
đến 7 pháp nhân quả mà thôi.
Trước khi tu tập 7 pháp nhân
quả hành giả cần phải tu tập tâm xả, tức là tâm bình
đẳng đối với tất cả chúng sinh, tâm này
không còn tính chất tham luyến đối với người
thân yêu, ghét giận đối với người oán
nghịch và bàng quan đối với người xa
lạ. (Người oán nghịch ở đây có nghĩa là người không
đồng thuận với ta hay người làm cho ta
khó chịu.)
Khi nào chúng ta còn có thái
độ phân biệt rõ rệt giữa những người
thân yêu, người oán nghịch và người xa lạ thì chúng ta không thể nào có
được tấm lòng thương yêu chan hòa
đối với mọi người. Vì vậy, tâm xả
không những hóa giải những trạng thái rắc rối
đối với tha nhân mà còn là nền tảng để
rèn luyện lòng thương yêu và tâm từ ái
đúng nghĩa đối với mọi người.
Thái
độ chấp thủ, thù ghét và bàng quan
đối với tha nhân phát triển mỗi khi chúng ta
chỉ nhìn những đặc điểm hời hợt nhất
thời bên ngoài của họ. Thí dụ, hôm nay anh Nguyễn tặng cho chúng ta
một món quà và anh Ngô đàm tiếu về
chúng ta, thế là chúng ta xem anh Nguyễn là người bạn và anh Ngô là kẻ
thù. Ngày mai, anh Ngô tặng cho chúng ta một món quà và anh Nguyễn nói xấu
chúng ta. Thế là cảm xúc của chúng ta bất chợt thay
đổi, xem anh Ngô là người bạn còn anh
Nguyễn là kẻ thù.
Trong thực tế, cả anh Nguyễn và
anh Ngô đều hành
động tương tự như nhau, như vậy thì
làm thế nào chúng ta có thể nói rằng người này
đúng là bạn và người kia
đúng là kẻ thù? Nếu chúng ta có tầm
nhìn vượt qua những hành động mà hai
người thể hiện thì chúng ta sẽ thấy rằng cả hai
đều có những phẩm tính tốt đẹp và cả
hai đều có những nhược điểm. Như vậy, có tâm
thái tham trước đối với một người vì thấy người ấy "tốt" và có tâm
thái oán ghét đối với người kia vì
thấy người kia "xấu" là một cách ứng đối
không phù hợp với thực tế.
Hơn nữa, mối quan hệ giữa ta
với người thân, kẻ thù, và người dưng có tính chất nhất thời. Khi ta mới
được sinh ra, anh Nguyễn và anh Ngô
đều là người dưng và ta dửng dưng
đối với cả hai. Sau đó anh Nguyễn trở thành
người thân kế tiếp trở lại thành kẻ thù, trong khi sự kiện
đối với anh Ngô thì ngược lại. Mối
quan hệ giữa ta với anh Ngô và anh Nguyễn có khuynh hướng tiếp tục biến
chuyển. Có thể anh Nguyễn trở lại làm người thân hay một người xa lạ, và
anh Ngô trở lại làm một kẻ thù hay một người dửng dưng nào
đó.
Trong vòng sanh tử luân hồi,
trải qua vô số tiền kiếp, mỗi người chúng ta
đã từng là một người bạn, một kẻ thù và một người dưng nào
đó trong một thời gian cụ thể. Mối quan hệ
của chúng ta với tha nhân là một dòng biến thiên không ngừng. Vì
vậy, thái độ tham trước, thù ghét hay
dửng dưng đối với tha nhân là không
thích đáng. Ðức Phật dạy:
Ðối với người có thái
độ thù nghịch chúng ta trong hiện tại
thì nên nhớ rằng người ấy đã từng là
người mẹ, người cha, người bạn, người anh và người chị mà chúng ta từng
thương yêu quý mến trong chập chùng kiếp sống xa xưa. Những người
đang làm lợi lạc cho chúng ta hôm nay
nên nhớ họ cũng đã từng là những kẻ
thù oan nghiệt của chúng ta. Vì vậy chúng ta hãy bỏ
đi thái độ tức giận đối với những người làm
hại mình, hãy bỏ đi thái độ tham luyến đối
với những người mà chúng ta yêu thích và hãy mở rộng lòng thương
đối với vạn loại sinh linh một cách bình
đẳng đại đồng.
Nhờ nhận thức
được rằng không có một người nào là
người thân, kẻ thù hay người dưng một cách bẩm sinh và cố
định mãi mãi nên chúng ta thoát khỏi
những trạng thái u mê của tham luyến, của thù ghét và của dửng dưng. Cũng
chính nhận thức ấy giúp cho chúng ta có được
một tấm lòng đôn hậu, bình
đẳng thương yêu, trải rộng
đến tất cả mọi người. Chúng ta sẽ không còn
có cảm giác xa lạ đối với bất cứ người nào
và cũng không còn cảm giác lo âu sợ rằng mọi người sẽ bỏ mặc chúng ta.
Trên nền tảng bình
đẳng này, chúng ta có thể xây dựng ý
hướng xả thân bố thí thông qua 7 pháp nhân quả. Sau
đây là 6 pháp nhân
đầu tiên:
1. Nhận thức rằng tất cả chúng sinh là người mẹ của chúng ta.
2. Ghi nhớ về những điều tốt đẹp mà người mẹ đã dành cho chúng ta.
3. Mong muốn đền đáp lại những điều tốt đẹp mà người mẹ đã làm cho chúng
ta.
4. Tình thương.
5. Lòng từ.
6. Quyết tâm.
Sáu pháp nhân này sẽ kết tụ
thành pháp thứ bảy, tức là tâm xả thân bố thí hay Bồ
đề tâm.
Chấp nhận rằng tất cả sinh linh
từng là mẹ của chúng ta
Bước
đầu tiên là chấp nhận rằng tất cả sinh
linh từng là mẹ của chúng ta. Trong pháp thiền quán này, người mẹ
được chọn lựa để làm
đối tượng tu tập vì nói chung
đó là hình tượng mà người ta cảm thấy
gần gũi nhất. Tuy nhiên, nếu chúng ta không có tình cảm tốt
đẹp với người mẹ, chúng ta ta có thể chọn
người cha, ông bà, hay một người nào thân ái trong thời thơ ấu của
chúng ta.
Chấp nhận rằng tổng số những
chúng sinh vô lượng kia đã từng là mẹ
của mình khiến cho chúng ta phải đối mặt với
việc vượt ra khỏi tầm hạn hẹp của nếp nghĩ hiện tại. Trước hết chúng ta
phải nhận thức rằng có tái sinh, nghĩa là, con người của chúng ta
ngày nay lẩn quẩn trong chuỗi sinh rồi diệt diệt rồi sinh trong vô số hình
hài khác nhau, thân tướng khác nhau kể từ vô thủy.
Nếu khó có thể tưởng tượng ra
rằng (trong chuỗi kiếp sống trên) chúng ta đã
từng không phải là chúng ta trong hiện tại thì tốt hơn là chiêm nghiệm
những đổi thay của chúng ta ngay trong kiếp
sống này. Hãy hình dung lại con người chúng ta ngày nay
đã có những cảm nhận khác như thế nào
so với con người chúng ta thời thơ ấu: thân thể chúng ta dĩ nhiên
đã có nhiều
đổi khác rồi, nhận thức của chúng ta về thế
giới càng có nhiều đổi thay khác biệt
hơn nữa. Hầu như chúng ta có cảm nhận rằng đứa trẻ ngày xưa là ai
khác chớ chẳng phải ta, chẳng can hệ gì với con người của ta, con người
đã trưởng thành và có nhiều năng
lực như ngày nay.
Ngược lại, nếu chúng ta mường
tượng ra về sau chúng ta sẽ là một ông già 90 tuổi thì dường như là cái
ông già quên trước quên sau, dáng lom khom, chậm chạp
đó chẳng có can dự gì với chúng ta
trong hiện tại. Thế mà, đứa trẻ ngày
xưa, chúng ta ngày nay và cái ông già trong tương lai
đó là một dòng chảy liên tục. Chúng ta
là cả ba người đó, nếu không có chuyện gì
bất chợt cắt ngang.
Nếu nhìn trong một trục thời
gian dài hơn, phổ quát hơn, vượt ngoài kiếp sống hiện tại thì diễn tiến
cũng tương tự như vậy. Tâm thức chúng ta đã,
đang và sẽ hiện diện trong nhiều thân
thể khác nhau. Chúng ta đã trải qua
nhiều kiếp sống. Như thế chúng ta từng có nhiều người mẹ mang nặng
đẻ đau và nuôi dưỡng cho chúng ta khôn
lớn trong vô số những kiếp quá khứ. Người mẹ của chúng ta trong kiếp sống
hiện tại không phải kiếp nào cũng là mẹ của chúng ta, vì trong những kiếp
quá khứ chúng ta có thể đã sinh ra ở
một nơi và người mẹ kiếp này sống ở một nơi khác. Như thế, có nhiều người
khác đã từng là mẹ của chúng ta trong
những kiếp xa xưa.
Vì số kiếp sống quá khứ của
chúng ta là không thể tính đếm, không có hạn
lượng, là vô cực, nên tất cả sinh linh trong kiếp này hay kiếp khác
đều là mẹ của chúng ta. Tâm thức của
chúng ta bị vô minh ngăn che nên chúng
ta không thể nhớ những người này đã
từng là mẹ của chúng ta. Giờ đây chúng ta đã
mang một thân thể khác nên không nhận ra được
những người mẹ đó nữa. Quán chiếu như vậy cho đến khi có năng lực thì
trong bất cứ lúc nào và gặp bất cứ người nào chúng ta sẽ lập tức khởi lên
một cảm nhận gần gũi quen thuộc.
Giả dụ hồi còn trẻ, thình lình
chúng ta bị cách ly khỏi người cha và người mẹ mà chúng ta thương yêu kính
mến. Ba mươi năm sau, khi đang tản bộ xuống
phố thì gặp hai người hành khất; thoạt tiên chúng ta không quan tâm
hay tệ hơn là có ý khinh ghét. Bất ngờ chúng ta nhìn lại và nhận ra
đó là cha mẹ của mình, tuy diện mạo
của hai người bây giờ đã khác
đi. Khi đó chúng ta liền quan tâm và
có tấm lòng thương mến đặc biệt đối với hai
người ăn mày này. Chúng ta không còn ngần ngại trong việc giúp
đỡ họ. Diễn tiến trên tương tự như
việc tu tập tâm niệm chấp nhận rằng tất cả sinh linh từng là cha mẹ của
chúng ta trong kiếp quá khứ.
Hồi tưởng lại công ơn của cha
mẹ đối với chúng ta
Bước thứ hai là nhớ lại những
nghĩa cử và những tấm lòng mà những người khác
đã dành cho chúng ta cũng không khác
gì bà mẹ của chúng ta. Ðể thực hiện việc này thoạt
đầu chúng ta lấy mẫu là người mẹ trong
đời này hay bất cứ người nào
đã bảo bọc nuôi dưỡng chúng ta thời
thơ ấu làm đối tượng tu tập. Dù việc
mang thai rất nặng nhọc, không thoải mái nhưng người mẹ của chúng ta
đã trải qua
đều đó trong 9 tháng. Và rồi bà
đã một mình chịu
đựng những cơn đau xé ruột để sinh chúng ta
ra, bảo bọc khi chúng ta còn đỏ hỏn,
bao dung trước những nghịch phá, những cơn giận trẻ con và những
nết xấu của chúng ta. Mặc dầu người mẹ có lẽ không muốn
đánh đòn hay răn
phạt chúng ta nhưng bà phải làm như vậy
để dạy chúng ta những bài học
đạo đức và cách ứng xử, làm cho chúng
ta có thể hòa nhập với xã hội sau này. Bà dạy cho chúng ta những
điều hay lẽ phải và muốn rằng chúng ta
là người được giáo dục đàng hoàng.
Trong tình trạng tài chánh giới hạn cha mẹ cũng
đã mua sắm
đồ chơi và dắt chúng ta
đi chơi nơi này nơi khác.
Một số người không ưng việc hồi
tưởng về ơn cha nghĩa mẹ. Những người này có thể cảm thấy rằng họ
đâu có yêu cầu cha mẹ sinh họ ra
đâu; do lý lẽ đó cha mẹ không có ơn nghĩa gì
với họ cả. Thậm chí một số người còn oán trách cha mẹ vì cha mẹ
đã đánh đòn
nặng tay, không mua sắm cho họ những món mà những
đứa trẻ khác có hay tệ hơn nữa là lạm
dụng họ.
Nếu chúng ta lâm vào tình trạng
này thì chúng ta nên hồi tưởng về những ân nghĩa mà bất cứ người nào
đó đã giúp cho chúng ta thời thơ ấu.
Kế tiếp chúng ta có thể học những lời dạy của Ðức Phật về phương pháp chế
ngự sân hận và phát triển đức tính nhẫn nại,
đồng thời ứng dụng những phương pháp này trong mối liên hệ giữa
chúng ta và cha mẹ. Ðiều quan trọng là chúng ta phải ghi nhớ rằng dù cho
mối quan hệ giữa ta với cha và mẹ có tệ như thế nào
đi nữa thì cha mẹ vẫn là những người
đã cho chúng ta có
được kiếp sống quý giá của ngày hôm
nay. Dù động cơ của cha mẹ là gì
đi nữa thì cha mẹ cũng
đã săn
sóc chúng ta theo điều kiện vật chất và
điều kiện tinh thần mà cha mẹ chúng ta
có được. Nếu chúng ta nhận thức được như vậy
thì chúng ta sẽ tha thứ cho những yếu kém của cha mẹ và tấm lòng
của chúng ta sẽ rộng mở đối với hai vị thân
sinh.
Mục
đích của việc hồi tưởng lại những ân nghĩa
của người mẹ không phải là để chúng ta
khởi tâm luyến ái đối với người mẹ, vì luyến ái là một tâm thái
nhiễu loạn. Mục đích của việc hồi tưởng là
để chúng ta nhận ra được tính chất thiêng
liêng của tình mẫu tử và phụ tử cùng với những ân
đức và
đạo nghĩa thâm trọng trong mối quan hệ này. Kế tiếp chúng ta sẽ mở
rộng tấm lòng xem trọng ân nghĩa đến với tất
cả sinh linh, vì họ đều là
những người mẹ của chúng ta trong quá khứ và
đã từng làm nhiều ân đức cho chúng ta
như người mẹ của chúng ta trong hiện tại. Lòng biết ân này sẽ dẫn
chúng ta bước tiếp bước thứ ba: mong được đáp
đền ân nghĩa.
Mong
được đáp đền ân nghĩa
Một khi chúng ta
đã nhận ra những ân nghĩa mà người
khác đã làm cho chúng ta thì tất nhiên
chúng ta muốn đền đáp. Chúng ta không cảm
thấy đó là một phận sự nặng nề trái lại
đó là một niềm vui và một mối quan tâm
xuất phát tự tấm lòng.
Lòng thương
Từ ý muốn
được đáp đền ân nghĩa, chúng ta sẽ nghĩ tới
một viễn cảnh trong đó tất cả những người có lòng tốt như vậy
đều được hạnh phúc. Ðây chính là lòng
thương hay là ý muốn những người từng thi ân
đều được hạnh phúc, đều có nguồn hạnh phúc. Vì trước
đây chúng ta đã thoát khỏi tâm chấp
thủ đối với bạn bè, lòng sân hận
đối với kẻ thù, và thái
độ lãnh
đạm đối với người xa lạ nên lòng thương của chúng ta giờ
đây không có tính chất thiên lệch và
sẽ trải rộng đến tất cả mọi người một cách bình
đẳng. Với một lòng thương không hề có
một mảy may chấp thủ, chúng ta sẽ thương yêu người khác
đơn giản chỉ vì họ
đang hiện hữu. Vị thánh giả Tây Tạng Lạt-ma
Tzong Khapa nói:
"Theo quan
điểm của tôi thì tất cả mọi người
đều bình
đẳng vì tất cả đã từng là những
người mẹ, những người cha, những người anh chị, những người em trai và em
gái, những bạn bè của chúng ta từ vô lượng kiếp. Theo quan
điểm ấy thì tất cả mọi người cũng
đều nên
được đối xử một cách bình đẳng vì
tất cả mọi người đều muốn hạnh phúc và
tránh xa đau khổ. Vì vậy, chúng ta nên
cố gắng giữ tấm lòng thương yêu tất cả mọi sinh linh một cách bình
đẳng."
Tâm từ ái
Khi chúng ta nghĩ về những rối
khổ, bế tắc và đau đớn mà những người
khác đang gánh chịu thì chúng ta sẽ
phát khởi lòng từ ái: mong muốn những người khác
được thoát khỏi đau khổ, thoát khỏi ngọn
nguồn của đau khổ. Từ ái khác xa với lòng thương hại và những loại
tình cảm có tính chất chiếu cố khác. Lòng từ ái luôn
đi kèm với nhận thức rằng chúng ta và
những người khác là bình đẳng về phương diện
mong cầu hạnh phúc và mong muốn thoát khỏi cảnh khổ. Lòng từ ái
khiến cho chúng ta có thể giúp đỡ cho tha
nhân một cách dễ dàng như giúp đỡ cho
chính mình.
Quyết tâm hay phát
đại nguyện
Khi có một tấm lòng từ ái sâu
sắc thì chúng ta bước tới bước thứ sáu: nhận trách nhiệm
đem lại hạnh phúc cho tha nhân và giải
tỏa những nỗi đau khổ cho mọi người. Trước
đây chúng ta muốn tha nhân được hạnh phúc và thoát khỏi cảnh khổ
thì bây giờ chúng ta hạ quyết tâm hay phát
đại nguyện bắt tay vào việc đó.
Tâm xả thân bố thí hay tâm Bồ
đề
Nhưng làm thế nào chúng ta có
thể đưa người khác đến bến bờ hạnh phúc trong
khi chính bản thân của chúng ta đang u mê rối khổ? Một người
đang chết chìm thì không thể cứu vớt
được người khác; cũng vậy, một người đang lụy
trong vòng sinh tử luân hồi thì không thể nào dạy bảo cho người
khác một cách rành mạch, hữu hiệu và có sức thuyết phục về con
đường thoát ra cảnh hệ lụy được. Ðể
hướng dẫn người khác chúng ta phải biết được
những nghiệp căn, tính khí và điều
người đó hứng khởi. Chúng ta cũng phải biết toàn bộ giáo pháp
để có thể truyền đạt những giáo lý thích hợp
nhất theo từng đối tượng.
Như vậy
để thực hiện mong muốn đưa người khác thoát
khỏi cảnh khổ và đến bến bờ hạnh phúc,
chúng ta cần phải có tâm từ ái viên mãn, trí tuệ và phương tiện
thiện xảo. Vì chỉ có Ðấng Ðại Giác là có đầy
đủ những phẩm tính này nên chúng ta phải
đạt được sự đại giác ngộ để làm lợi
lạc cho tha nhân một cách hữu hiệu nhất.
d. Những tâm thái viễn hành -
Lòng từ năng động
Sau khi phát khởi tâm xả thân
bố thí thì bước kế tiếp là tu tập 6 tâm thái viễn hành
để đưa hành giả
đến quả vị giác ngộ. Sáu tâm thái viễn hành
này đôi khi còn
được gọi là 6 pháp viên mãn hay 6 pháp
hạnh ba-la-mật; đó là bố thí,
đạo hạnh, kiên nhẫn, hỷ tấn,
định tĩnh và trí tuệ.
Tu tập bố thí,
đạo hạnh và kiên nhẫn sẽ trực tiếp
đem lại lợi lạc cho chúng sinh ngay trong
hiện tại. Nhưng mục đích cứu cánh của việc tu tập 6 tâm thái viễn hành
là chứng đạt được trí tuệ trực giác được
không tánh của các pháp. Nhờ trí tuệ trực giác này mà chúng ta sẽ
loại trừ được tất cả những tâm thái nhiễu
loạn, tất cả những cấu uế, những mê ám trong dòng chảy tâm thức và
đạt được quả vị Chánh Ðẳng Giác của
chư Phật. Ðến giai đoạn này thì năng
lực cứu độ của chúng ta đã phát triển
đến chỗ mỹ mãn.
Mặc dầu chúng ta cần phải tu
tập liên tục suốt hành trình dẫn đến giác ngộ
giải thoát nhưng chúng ta gọi 6 pháp môn này là 6 tâm thái viễn
hành vì nhờ chúng mà chúng ta đạt được trí
tuệ toàn hảo và vượt khỏi vòng sanh tử rất xa. Ðiều quan trọng là
chúng ta dùng tâm xả thân bố thí để chuyên
tâm tu tập 6 tâm thái viễn hành, đồng thời
quán chiếu tánh không của các pháp và hồi hướng công
đức do tu tập mà có
đến với tất cả sinh linh.
Bố thí
Tâm thái viễn hành thứ nhất là
bố thí tức là sẵn lòng cho những gì chúng ta
đang có để giúp đỡ người khác. Pháp tu này dùng
để chống lại thói keo kiết và lười
nhác. Keo kiết và lười nhác là hai thói quen xuất hiện khi có người
đến xin chúng ta giúp đỡ. Có 3 loại bố thí:
1. Bố thí tiền của vật chất,
2. Cứu hộ người đang lâm vào cảnh khổ hay cảnh hiểm nguy,
3. Dùng Chánh pháp để khuyên nhủ hay hướng dẫn người khác.
Hầu như tất cả những người phàm
phu ít nhiều đều có tánh keo kiết, chỉ lo bảo
vệ của cải tài vật của mình; còn đối
với việc bố thí để mang lại hạnh phúc cho người khác thì lại lơ là.
Thông thường chúng ta có ý nghĩ cho rằng sau khi cho người khác một cái gì
thì chúng ta phải chịu cảnh mất cái đó. Chúng
ta chỉ cho ra một mức nào đó để không
bị mang tiếng keo kiết, bủn xỉn; chúng ta chỉ bố thí để khỏi mất mặt mà
thôi. Nói chung chúng ta giữ gìn lại cái gì tốt nhất cho bản thân và buông
ra cho người khác phần thừa thải còn lại. Khi cho chúng ta lại kể lể rằng
chúng ta đã phải thế này thế kia khiến
cho người nhận cảm thấy phải hàm ơn và cần phải
đền đáp.
Những hậu ý nhỏ mọn như vậy chỉ
có tác dụng làm cho tâm thức chúng ta nặng nề, không tạo
được những thiện nghiệp thanh thoát và
cản trở những chứng đạt tâm linh. Tánh keo
bẩn là một trạng thái vị kỷ của tâm thức cho rằng hạnh phúc của bản
thân chúng ta quan trọng hơn hạnh phúc của người khác. Khi nào chúng ta có
tính keo bẩn thì khi đó chúng ta khó đạt được
cảm giác đầy đủ dù của cải tài vật của chúng ta có nhiều bao nhiêu
đi nữa.
Khi nào tánh keo bẩn khiến
chúng ta ngần ngừ trong việc bố thí, chúng ta cần phải nhớ rằng tài sản
của chúng ta là vô thường và một ngày nào đó
chúng ta sẽ phải rời bỏ chúng. Khư khư giữ chặt là một
điều vô nghĩa. Chúng ta đem tài sản
của mình để san sẻ với người khác có nghĩa là
chúng ta chống lại tánh keo bẩn; nếu không tánh keo bẩn sẽ khiến chúng ta
phải tái sinh vào kiếp sống đọa đày.
Nếu chúng ta tự rèn luyện niềm vui trong việc bố thí thì tâm rộng rãi của
chúng ta sẽ mang lại hạnh phúc cho người khác và bản thân chúng ta.
Mặc khác, pháp bố thí không
phải là một mặc cảm xấu hổ về tánh keo bẩn rồi tự khuyên lơn bản thân rằng
"nên ban phát ra". Pháp bố thí là để rèn
luyện một tâm hồn thật sự hân hoan khi làm cho người khác hạnh phúc. Tu
tập pháp bố thí không có nghĩa là chúng ta cho tất cả những gì chúng ta
có, để rồi bản thân chúng ta không còn
gì cả và trở thành một gánh nặng cho những người xung quanh chúng ta. Ðúng
nghĩa, pháp bố thí có nghĩa là cho ra tương ứng với
điều kiện của chúng ta. Nhiều ít không phải là
vấn đề, những ý nghĩ và cách cho mới
là quan trọng.
Vấn
đề then chốt là biết cho một cách sáng
suốt. Cho người nghiện một cốc rượu không phải là một việc từ thiện; cung
cấp tiền để mua sắm vũ khí, thuốc độc hay á
phiện thì chẳng mang lại lợi lạc cho ai cả. Chúng ta không nên làm
hại một số người để bố thí cho một số người
khác. Như vậy, giết hại mạng súc vật để cung cấp cho gia quyến chúng ta
một bữa ăn ngon miệng thì không phải là sáng suốt.
Việc làm tốt nhất là giúp
đỡ những người bạc phước vô phần, những người
tuyệt vọng, bệnh hoạn. Cũng vậy, hãy cúng dường cho những hành giả
thật tâm tu hành theo Chánh pháp, cung cấp những nhu cầu cho cuộc sống
hằng ngày để những vị này tiếp tục
việc tu tập. Qua việc cúng dường Tam Bảo chúng ta ủng hộ những Phật sự,
xây dựng các cơ sở tu học, ấn tống kinh sách và hộ niệm trong các cuộc lễ.
Loại bố thí thứ hai là việc bảo
bọc, tức là giúp đỡ những người đang lâm nguy
hay đang gặp cảnh khốn khổ. Pháp tu này bao gồm những việc như cứu
một em bé sắp chết đuối, giúp đỡ người bệnh
hoạn hay người già cả neo đơn không ai
chăm sóc, phòng chống nạn hành hạ súc vật, xây sinh
đường cho người bệnh an dưỡng trong giai đoạn
cuối, lập quỹ chữa trị cho người bệnh AIDS hay ung thư. Khi có động đất, bão
lụt hay những thiên tai khác chúng ta nên cứu giúp hết sức hết lòng.
Hướng dẫn và chỉ dạy cho người
khác là loại bố thí thứ ba, gồm nhiều loại công việc khác nhau: Chúng ta
có thể an ủi những người đang sầu não
than khóc hay đang gặp cảnh khổ tâm bế tắc.
Rất là lợi lạc là việc khích lệ một người
đừng nói dối hay đừng lừa gạt mà hãy
hành động và nói những lời có tính
cách xây dựng. Như vậy, chúng ta chỉ bày cho người
đó phương pháp để có được một tâm hồn thanh
thản và kiến tạo hạnh phúc cho tương lai. Tụng niệm cho người bệnh
hay người sắp mệnh chung được nghe lời kinh
tiếng kệ ngõ hầu chuyển hóa tâm hồn theo hướng hiền thiện cũng là
việc làm rất lợi lạc.
Bố thí thù thắng nhất lại là
Chánh pháp tức là hướng dẫn người khác trên con
đường đưa đến sự giác ngộ. Việc bố thí này
tức là trao cho người ta pháp môn phương tiện
để tự người ấy giải thoát bản thân ra khỏi mọi ràng buộc
đau khổ và
đạt đến bến bờ hạnh phúc lâu dài.
Ðạo hạnh
Tâm thái
đạo hạnh viễn hành tức là việc phòng
hộ thân hạnh, khẩu hạnh và ý hạnh, tránh những việc
đen tối. Ðạo hạnh là yếu tố cực kỳ
quan trọng vì nếu không tu tập đạo hạnh thì
chúng ta không thể đạt được những chứng đắc
cao thượng hơn.
Không hiểu
được điều này nên có một số người cứ
mãi tụng niệm hay thiền định nhưng lại có hành
vi buông lung cẩu thả trong đời sống hàng
ngày. Họ khoác lên người một bộ dạng thần thánh linh thiêng khi ở trên
chánh điện hay đàn tràng, cử hành các
nghi lễ cúng kiến, nhưng khi bước xuống những nơi trang nghiêm
đó thì họ lại uống rượu, tán gẫu và sa
đà vào việc bán buôn lời lỗ. Những ai
mong muốn có một chân ở chốn trần đời và
chân kia muốn bước lên Niết bàn thì không bao giờ tiến bộ trên
đường tu học. Ðạo sư Atisha, một hành
giả vĩ đại của Ấn Ðộ nói:
"Hầu hết chúng ta
đinh ninh rằng tu theo Chánh pháp có nghĩa là
lặp lại một số lời nguyện, quán tưởng một vị thánh nào
đó, hay là tụng
đọc kinh điển. Nhưng Chánh phá