Những gì là của
ta và những gì thuộc về ta?
Thích Như Điển
---o0o---
Sống trên đời
nầy, ai sinh ra rồi cũng phải có bổn phận, trách nhiệm và quyền lợi đối
với chính bản thân mình và đối với cộng đồng xã hội và từ đó luật pháp
được đặt ra để bảo vệ cho những quyền lợi và trách nhiệm đó. Nếu người nào
vi phạm, tức có luật pháp là cán cân dùng để giải quyết mọi việc trong
cuộc đời. Đó là đứng về phương diện tương đối của thế gian; nhưng điều nầy
vẫn còn nhiều kẻ hở.
Riêng phương diện xuất thế gian và
cái nhìn của đạo Phật bằng quan điểm: Tứ đại giai không thì giải thích
những hiện tượng có và không, còn và mất, được và thua, khen và chê, đúng
và sai như thế nào đây?
Từ “tứ đại giai không”
có nghĩa là: bốn chất lớn đều không. Bốn chất lớn ấy là gì? Đó là đất,
nước, gió, lữa. Đất từ đâu mà có? Ai sinh ra đất? Rồi đất ấy sẽ đi về đâu?
- Cho đến bây giờ thật ra chưa có ai trả lời được câu hỏi nầy cả. Ta chỉ
biết khi ta sinh ra thì quả đất nầy đã có rồi. Mặt trời, mặt trăng và sao
mai kia cũng thế. Vậy hỏi làm chi những chuyện xa xôi ấy? Nhưng chính vì
không hỏi nên mới sinh ra một sự chấp trước rất dễ dàng, nhất là khi mình
tự cho rằng điều ấy đúng với mình.
Ta thấy từ đất đã mọc lên cây cỏ.
Từ đất đã chứa cho ta không biết bao nhiêu là của quý như: vàng, bạc, kim
cương, dầu lữa, quặng mỏ, thiết chì v.v... Từ lòng đất cũng là nơi cư trú
của mọi loài côn tùng từ những loài sanh ra bằng trứng, những loài sanh ra
bằng thai, những loài hóa sanh và những loài sanh ra chỗ ẩm thấp. Hoa nở
thật đẹp cũng nhờ phân bón tốt. Khi hoa tàn rồi lại gởi xác mình vào lòng
đất. Con người cũng thế, khi sinh ra cha mẹ mình cũng đặt mình lên mặt đất
sau khi mở mắt chào đời. Rồi càng ngày càng lớn khôn, những bước chân đi
đầu tiên của ta đã chập chững trên mặt đất rồi té xuống đất. Để rồi khi
lớn lên, biết bao nhiêu sự thử tháchcam go trong cuộc sống, đã làm cho ta
vấp ngã và té xuống đất. Rồi cũng từ đất ta chống tay đứng dậy, để lăm xả
vào đời, chiến đấu với không biết bao nhiêu là sự cám dỗ đổi thay. Rồi một
ngày nào đó ta phải buông xuôi hai tay vể nơi chín suối. Ấy cũng là lúc
tấm thân nầy đem gởi xác ra ngoài đồng không mông quạnh. Làm phân bón cho
cỏ cây, rồi cỏ cây cũng từ đó đâm chồi, nẩy lộc, sinh hoa, kết trái.
Còn nước thì sao? Nước từ đâu đến?
Nước đi về đâu? - Ở đây chẳng ai có thẩm quyền để trả lời rằng: mây có
trước hay nước có trước, cái nào tạo ta cái nào. Khi khai thiên lập địa
thì nước từ đâu mà có?, v.v.. và v.v.. sao mà rắc rối thế? Mỗi lần ta uống
nước, đâu có bao giờ ta phải bận tâm đến việc ấy đâu. Miễn là có tiền tài
đi mua nước về mà uống chứ! Đó là cách lập luận nhị nguyên của mọi người.
Vì cái nầy có cho nên cái kia có. Cái nầy sinh ra cái kia. Nếu cái nầy
không có thì cái kia không có. Nhưng câu trả lời như thế nó vẫn chưa giải
quyết được vấn đề. Bình thường khi uống nước ta đâu có bao giờ để ý; nhưng
rủi một hôm nào đó đi khám Bác Sĩ và Bác Sĩ bảo rằng: Ông Bà mỗi ngày phải
uống cho đủ hai lít đó. Lúc ấy mới đo lường, cân tính. Cố nhồi nhét cho đủ
số lượng vào cơ thể của mình. Lúc ấy mình mới thấy nước cũng cần thiết đấy
chứ!
Còn gió thì sao? Ai mang gió đến
vậy? Gió từ đâu đến? Và gió đi về đâu? - Không biết rằng ông thần gió có
khả năng trả lời hết tất cả những câu hỏi nầy hay không, chứ con người
bình thường như chúng ta phải chịu thua. Nhưng chúng ta phải công nhận một
điều là không có gió thì chúng ta cũng khó sống lắm đấy. Đặt biệt là hơi
thở. Đâu có khi nào ta quan tâm đến nó. Từ khi sanh ra cho đến lúc trưởng
thành rồi già, bịnh chết. Có ai đó siêng năng ngồi đếm thử ta đã thở được
bao nhiêu lần rồi chăng? Nhưng khi bệnh ta thấy nhiều người khó thở là
chiến đấu với tử thần trong từng gang tấc. Lúc ấy người bệnh kia và ngay
cả chính mình cũng cảm thấy rằng gió hay hơi thở quả là cần thiết nhỉ?
Phải làm gì để ta bảo vệ cho gió và khi ta mời gọi gió có ở lại ta chăng?
Lửa! Lửa là gì nhỉ? Tại sao có lửa?
Lửa tử đâu sinh ra? Và ai sinh ra lửa? Có phải là trong cây có lửa hay lửa
đốt thân cây? Thật là rắc rối. Không biết bao nhiêu là câu hỏi; nhưng làm
sao trả lời cho hết đây. Thời buổi nầy cái gì cũng hiện đại hóa, không cần
đi đâu xa, ở trong nhà chỉ cần bật gas lên là có lửa; nhưng người xưa để
có lửa đâu phải đơn giản như vậy. Họ phải mang hai cục đá cọ xát vào nhau,
hoặc giả lấy cây gổ nhọn, xoay vào thân cây gổ khác thì lửa mới sinh ra và
từ đó họ mới có lửa để nấu ăn hoặc đốt rừng v.v... nhưng lửa ấy sẽ đi về
đâu? Toàn là những câu hỏi gì mà khó trả lời vậy.
Có lẽ vì khó như vậy đức Phật chẳng
muốn giải thích làm gì cho rắt rối thêm nữa. Mà nếu có giải thích đi chăng
nữa loài có chịu hiểu cho chăng? Hay lại cứ thắc mắc hoài. Do vậy mà Phật
đã nói rằng: Tứ đại giai không là đúng nhất. Nghĩa là không từ đâu đến và
chẳng đi về đâu. Nghĩa là ở đâu đó khi cần là nó xuất hiện. Vì trong cái
nầy nó có cái kia, trong cái kia nó có cái nọ. Cái mà ta đang mang trên
người đây nó chỉ là một sự vai mượn mà thôi. Nếu một trong bốn chất ấy
không còn đứng vững nữa thì thân cát bụi nầy sẽ trả về cho cát bụi. Vậy
thì cái gì là của ta đâu? Cái đầu nầy là của ta? Cái tay? Cái chân? Cái
hàm răng? Cái sự suy nghĩ? Thật ra chẳng có cái nào là chủ tể cả. Tất cả
chỉ là những sự vai mượn mà thôi. Chỉ là vai mượn; nhưng lâu nay mình nghĩ
là của chính mình. Do vậy mình muốn tất cả điều phải thuộc về mình. Ví dụ
như tiền ấy phải là của mình. Người đẹp ấy phải là của mình, hột xoàn ấy
là của mình. Đây là cái xe, cái tủ lạnh v.v... tất cả là của mình và thuộc
về mình. Nếu nó không thuộc về mình thì mình phải cố gắng tranh đấu làm
sao cho nó thuộc về mình bằng bất cứ giá nào. Miễn sao ta phải làm chủ cho
được nó mới thôi. Nhưng khi làm chủ được nó rồi thì sao? Vàng kia vẫn là
vàng, ngọc kia vẫn là ngọc, chứ ngọc đâu phải là mình, mình đâu phải là
ngọc, vậy thì mình là ai đây mình là cái gì? Mình là ông Kỷ Sư, bà Bác Sĩ,
ông Tổng Thống hay Bà Hoàng Hậu. Sau khi chết rồi thì sao nữa v.v... thật
là những câu hỏi quá rắc rối. Nhưng trong cuộc sống bình thường mấy ai tự
đặt ra. Vì còn mạnh khỏe là còn lao đầu vào những danh, lợi, tiền, tình ấy
để chiến đấu cho đã. Thế mà lúc cận tử nghiệp léo đến thì mới sực nhớ ra
rằng: Aha! Có một lúc nào đó bên tai thoang thoảng có nghe rằng cuộc đời
nầy là vô thường thế gian nầy là giả hợp... Bây giờ đã thấm rồi đó, đã rõ
lắm rồi nhưng làm sao ngượng ngồi dậy được đây để chiêm nghiệm về sự vô
thường đó. Ta muốn làm một cái gì đó cho thật ý nghĩa như lạy Phật một
lạy, làm một chút phước để cứu người nghèo chẳng hạn; nhưng ôi thôi đã quá
trễ rồi.
Vậy thì cái gì sẽ còn lại sau khi
những thứ kia biến mất đi hoặc thay hình đổi dạng? Còn chứ! Đó là những
việc làm, những hành vi tạo tác thiện hay ác, lành hay dữ ở đời nầy hay
đời trước, tuy mình không thấy nhưng những gì mình đã vai, bây giờ phải
trả đấy. Thế là thần thức chơi vơi nơi cõi không người. Biết nương tựa vào
ai đây? Bình thường vốn ta chẳng quan tâm đến điều ấy và ta nghĩ rằng
nghiệp đấy là của ai kia chứ, đâu phải là của ta.
Vậy thì bây giờ phải làm sao đây? Phật ở đâu? Bồ Tát ở đâu? Lúc ấy mà còn
nhớ được Phật và Bồ Tát hẳn là điều quý lắm. Chỉ có sợ đầu trâu mặt ngựa
đến trước mặt liền để dẫn đi vào cõi Địa Ngục và đâu còn có cái Tâm sáng
suốt bình thường để nghĩ tới Phật được?
Thế là tội nhơn phải ngụp lặn nơi chốn nại là, làm sao có
thể khỏi khổ được? Chỉ có thân nhân nơi cõi thế mời Thầy đến nhà để cúng
siêu độ, hoặc gia đình bố thí làm phước hoạ may người chết chỉ hưởng một
phần bảy mà thôi. Còn những phần còn lại phải tiếp tục trả cho xong trong
nhiều kiếp luân hồi nữa.
Bình thường ai khuyên ta niệm Phật, ta bảo còn sớm lắm. Để
tôi lo cho gia đình, con cái, cháu chắt xong sẽ niệm chứ đâu có vội gì!
Nhưng nếu bình thường không niệm Phật để trở thành thói quen thì khi tử
thần đến gọi chỉ nhớ đến tiền của, con cháu chắt, chứ làm sao nhớ đến câu
Phật hiệu được. Hãy nên tạo một thói quen để gieo vào tâm thức. Đó là câu
niệm Phật.
Phật dạy trong kinh Kim Cang rằng: “Nhứt thiết Pháp giai
thị Phật Pháp“, nghĩa là tất cả Pháp đều là Phật Pháp. Không cứ là pháp
nầy hay pháp kia. Pháp nọ hay hơn pháp ấy nhưng lỡ pháp nầy không hợp với
ta thì sao? Do vậy, mà hãy chấp nhận pháp nào mà mình cảm thấy thích hợp
để theo là quý rồi. Theo như thế để huân tập chủng tử lành và nếu có lâm
chung cũng có nơi chốn mà hướng về. Nếu không, tâm thần chỉ lơ lửng giữa
khoảng u u minh minh ấy thì không biết là phải nương tựa vào chốn nào.
Phật dạy tiếp trong kinh Kim Cang rằng: “Những lời
ta dạy cũng giống như chiếc bè. Pháp đúng còn phải bỏ huống chi là pháp
sai“ Thế nào là chiếc bè? Chiếc bè có nhiệm vụ đưa người qua sông
hay nói xa hơn là giáo pháp ấy có nhiệm vụ đưa người qua khỏi cảnh khổ tử
sinh. Khi qua sông rồi, thì nên quên chiếc bè ấy đi, đừng nhớ đến nó làm
gì. Vì nó chỉ là phương tiện chuyên chở mà thôi.
Thế nào là chánh pháp còn phải bỏ, huống chi phi pháp?
Chánh Pháp là những gì không thuộc về lời nói và sự đối đãi. Còn phi pháp
là những gì mà mình nói là của ta và những gì thuộc về ta đó. Tất cả phải
bỏ hết thì mới qua thuyền được chứ không sẽ chìm đấy.
Nếu vậy thì cuộc đời nó có cái ý nghĩa gì? Có chứ! Có cái
tương đối của nó trong thế gian nầy, mà chúng ta chỉ là khách trần qua lại
mà thôi. Do vậy, mà ca dao xứ Huế có câu rằng:
“Trăm năm trước thì ta chưa có.
Trăm năm sau có cũng như không
Cuộc đời sắc sắc không không
Trăm năm còn lại tấm lòng từ bi“
Rõ ràng là như vậy. Cuộc đời nầy dài lắm, lâu lắm rồi. Đâu
phải là vì co ta cho nên trời đất mới hiện hữu. Đâu phải vì có ta cho nên
đất, nước, gió, lửa, mới thành hình. Tật ra, ta nầy nó chảng là gì cả.
Không một mảy may gì có ý nghĩa đối với cuộc đời nầy. Trpong vô lượng vô
biên thế giới ấy, ta chưa bằng một hạt bụi mà. Có gì đâu để quan trọng
hoá?
Rồi ta cũng phải ra đi một ngày nào đó thôi. Bởi vì cuộc
đời nầy lúc thế nầy lúc thế nọ, lúc có, lúc không, lúc còn, lúc mất. Nếu
có còn thì chỉ còn tấm lòng từ bi, tấm lòng nhân hậu đối với cuộc đời nầy
mà thôi, Chứ thật ra chẳng còn cái gì cả. Thế mà khi còn sống chúng ta đã
tranh danh đoạt lợi không biết mệt mõi. Chiến đấu để sống còn với hư danh,
hảo tướng ấy. Ai hiểu được điều nầy và ai sẽ là người lên thuyền để qua bờ
giác ngộ trước và từ luân hồi vào Tịnh Độ bao xa vậy? Thật sự ra thì nó
cũng chẳng xa mà cũng chẳng gần. Gần như trong gang tấc mà xa thì thật là
xa. Sự gần gũi ấy nó cũng giống như trái hồng từ lúc mới ra còn xanh, ăn
vào sẽ thẫ chát, nhưng qua ngày tháng, qua sự xúc tác với ánh sáng mặt
trời, hồn kia thay hình đổi dạng, biến thể từ từ. Từ chỗ chát đi đến chín
muồi, ngọt lịm nơi môi. Tịnh độ hay luân hồi cũng chỉ thế thôi. Tịnh Độ có
trong Luân Hồi và từ trong Luân Hồi chuyển sang Tịnh Độ, nhưng khi đã vào
Tịnh Độ rời thì không chuyển lại Luân Hồi nữa. Ví như trái hồng đã ngọt
rồi thì không còn chứa vị chát nơi đó. Còn khi xa thì xa bao nhiêu?
Cũng trong vòng sanh tử tử sanh ấy, chuyển từ loài nầy đến
loài khác, nếu chúng ta có duyên may gặp được Phật Pháp, như trái hồng kia
gặp ánh sáng mặt trời chiếu dọi, thì quả vị thành thục của Tịnh Độ đâu có
xa - ở trước mắt. Còn nếu chẳng may sinh vào chốn tam đồ, nơi không có ánh
sáng chân lý thì trái hồng kia vị chát ấy vẫn chưa biến đổi được, đôi khi
lúc còn non đã phải rời khỏi thân cây mẹ rồi, cứ thế và cứ thế tiếp tục
trong vòng trả vay vay trả ấy.
Như thế thì phải làm gì đây?
Dễ quá mà! phải tu và phải ý niệm được cuộc đời nầy là vô
thường. Vì mình không bỏ nó thì nó cũng sẽ bỏ mình như hơi thở, nước kia,
lửa nọ, đất nầy. Nó thật đơn giản. Điều quan trọng là ta phải ý thức những
gì có hình tướng và ngay cả những gì không có hình tướng trên cuộc đời nầy
thì chúng cũng chỉ là giả danh thôi chứ không phải là thực tướng và thực
tướng ấy phải tìm bên trong chứ không phải bên ngoài và tìm nơi chính ta
chứ không phải là ai xa lạ cả?
Nếu chúng ta tất cả đều hiểu lý duyên sanh về vô thường,
khổ, vô ngã thì làm sao bị đắm nhiễm mãi trong biển trần lao nầy được. Hãy
buông xả từ từ mọi sự đắm nhiễm và hãy xem tất cả chỉ là bọt bèo, giả tạm,
không có gì là chủ tể cả. Vậy tất cả chúng ta hãy mau mau niệm cầu Phật
hiệu Nam mô A Di Đà Phật để thành thục nơi chốn liên đài của cõi vô sanh.
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-11-2005