Năm
Phương Cách Để Đối Trị Sân Hận
Ni
Sư Ayya Khema
Diệu Liên – LTLinh dịch
---o0o---
Bất cứ ai đã kinh nghiệm trạng thái
sân hận đều biết chúng khó chịu thế nào. May mắn thay, Đức Phật đã dành
cho chúng ta những lời hướng dẫn rõ ràng về cách buông bỏ sân, cách sống
sao để tránh sân hận, và Đức Phật đã truyền đạt lời dạy của mình bằng
những câu chuyện để giúp chúng ta ghi nhớ những lời giáo huấn ấy.
Tất cả chúng ta đều biết tâm sân hận khó chịu thế nào, nhưng chúng ta lại
thấy khó buông bỏ chúng, do đó lời dạy thực tiễn của Đức Phật thật rất hữu
ích. Bài thuyết giảng đầu tiên, ngắn gọn về đề tài nầy được gọi là: “Năm
Phương Cách Để Đối Trị Sân Hận”, và nó được nói như sau:
Có Năm Phương Cách Để Đối Trị
Sân Hận.
Chúng giúp xóa bỏ mọi dấu vết của sân hận. Đó là gì? Nếu sân dấy khởi,
đây là điều cần làm: Hãy vun trồng tâm từ, vun trồng tâm bi, vun trồng tâm
xả.
Nhưng làm sao chúng ta có thể vun trồng những tình cảm này ngay ở giây
phút ta đang cảm thấy sân hận? Nói cho cùng, từ, bi và xả là ba trong bốn
tình cảm cao thượng nhất. Tình cảm thứ tư, hoan hỷ, không được nhắc đến ở
đây có lẻ là vì hoan hỷ với người ta vừa cảm thấy sân hận là điều đòi hỏi
quá sức, nhưng nếu chúng ta không thể thực hiện bất cứ một trong ba điều
kể trên, thì còn có một cách thứ tư, đó là:
Đừng chú ý, đừng quan tâm đến người đó.
Nếu chúng ta nhận thức và chấp nhận rằng trong một số trường hợp, chúng ta
không thể kiểm soát tình cảm của mình, không thể chế ngự sân hận, rằng
chúng ta chỉ tự hại mình, thì chúng ta có thể ít nhất cố gắng không trụ
tâm nơi đó. Chúng ta có thể tránh xa người đó hoặc làm gì khác cho đến
khi cơn sân hận đã giảm xuống chút ít hay hoàn cảnh đã thay đổi đủ cho
chúng ta có thể thực hành tâm từ bi trở lại.
Vào một dịp khác Đức Phật đã cho một thí dụ như sau: “Chúng ta nhìn thấy
một người bạn ở bên đường, nhưng chúng ta không tiến bước về phía đó, bắt
tay, thăm hỏi bạn; thay vào đó, chúng ta hành động như thể ta không nhìn
thấy anh ta”. Chúng ta ở phía bên nây đường vì chúng ta biết rằng gặp mặt
người ấy chỉ khiến ta tức giận.
Phương cách thứ năm đặc biệt quan trọng:
Nếu sân hận dấy khởi, ta cần nhắc nhở tâm về điều luật mình làm chủ
hành động của mình, đó là: “Người hành động là chủ của hành động mình,
người đó phải thừa hưởng hậu quả hành động mình, người ấy sẽ sinh ra từ
các hành động của mình, người ấy bị trói buộc vào chúng, nương tựa vào
chúng, và bất cứ điều phải, điều trái nào người ấy đã làm, sẽ là điều
người ấy phải nhận lãnh”.
Làm chủ hành động của mình có nghĩa là làm chủ nghiệp của mình. Cách nhìn
về nghiệp như thế -như là một sở hữu- rất thông thường, nhưng nó có thể
cho ta một cái nhìn rất mực hữu ích. Nếu chúng ta giận dữ với ai vì họ đã
làm điều bất thiện, chúng ta cần phải tự nhủ rằng tất cả mọi người đều
lãnh nhận kết quả của sự chủ tâm của mình. Luật nhân quả áp dụng cho tất
cả mọi thứ trong vũ trụ cũng như cho mỗi cá nhân. Những hành động có chủ
tâm sẽ mang đến hậu quả mà ta không thể nào tránh né. Tuy nhiên hai người
cùng thực hiện một hành động giống nhau có thể nhận lãnh những hậu quả
khác nhau.
Đức Phật đã giải thích sự việc nầy
bằng một thí dụ: “Nếu bạn bỏ một thìa muối vào một ly nước, nước đó sẽ
không còn uống được. Tuy nhiên nếu bạn vải muỗng muối đó xuống sông Hằng,
thì nước sông nầy không thay đổi chút nào”. Ly nước đem so sánh với sông
-tượng trưng cho sự tích luỹ ít ỏi của các việc thiện: nếu chúng ta tạo
thêm một bất thiện nào trên chỉ một ly đầy các việc thiện, chúng ta có thể
biết là hậu quả sẽ nghiêm trọng thế nào. Tuy nhiên, nếu chúng ta có cả một
con sông đầy các thiện nghiệp ở phía sau, thì chỉ một hành động bất thiện
có thể không gây thiệt hại gì. Vì chúng ta không biết người khác đã làm
gì, nghĩ gì trong quá khứ, dầu trong kiếp này hay trong các kiếp quá khứ,
không có cách gì ta có thể đoán biết được nghiệp quả của người khác. Tuy
nhiên, ta biết qua những gì ta có thể nhìn thấy nơi chính bản thân, là tất
cả mọi người đều hái quả của các hành động của họ.
Nếu ai đã hành động không khéo léo,
và chúng ta do đó bị thiệt hại, hay tổn thương, chúng ta có thể dễ dàng
trở nên sân hận. Điều quan trọng là ở ngay giây phút đó, ta có thể nhớ
rằng tất cả mọi người có cách sống riêng ở đời, tạo nên những tập quán
nhân quả của riêng họ. Chúng ta như thế nào trong hiện tại hầu hết là do
kết quả của các hành động có chủ tâm của ta. Nếu không chú tâm tìm hiểu
giáo pháp của Đức Phật -nhiều người không có hứng thú gì trong việc nầy-
thì sẽ không có ai đọc quyển sách nầy. Vì thế có đủ lòng ưa thích để đọc,
để lắng nghe Pháp là một cách để tạo nghiệp lành- nếu với chủ tâm tốt, vì
ta cũng có thể tạo ra nghiệp xấu khi làm việc gì đó bên ngoài có vẻ là
thiện. Vấn đề này khá phức tạp, tuy nhiên, nếu ta có thể tự nhắc nhở mình
về luật nhân quả, có thể sẽ giúp ta dễ buông bỏ sân hận hơn. Đó là năm
phương cách để diệt bỏ các sân hận mà ta được biết đến.
Trong một số trường hợp Đức Phật
khuyên ta nên xa lánh những hoàn cảnh có thể gây khó chịu cho ta. Chúng ta
nên tránh những sự gặp gỡ khiến ta nổi sân, nhất là khi tình cảm ta không
được quân bình và dễ kích động -cũng như ta nên bảo vệ mình khỏi người
xấu, lũ voi hoang dại, rừng rậm và những thứ nguy hiểm khác. Dầu ta không
nên chạy trốn những hoàn cảnh khó xử, việc thú nhận rằng ta không thể đối
mặt với mọi hoàn cảnh, là điều hoàn toàn có thể chấp nhận được. Chúng ta
cần phải cố gắng hết sức mình để hành xử trong mọi hoàn cảnh với tâm từ
bi, nhưng cũng phải chấp nhận rằng đôi khi ta phải bó tay, không thể thích
ứng với mọi hoàn cảnh.
Xả được coi là tình cảm cao thượng
nhất, và không nên nhầm lẫn nó với thái độ dửng dưng. Xả không chỉ hàm
chứa lòng từ bi -điều mà dửng dưng không có- mà nó còn phát khởi từ tri
kiến về vô thường, về thực chất là mọi chuyện của ngày hôm nay sẽ khác đi
ở ngày mai. Bên trong ta hay bên ngoài, tất cả mọi thứ đều luôn thay đổi;
ngay chính niềm tin và quan điểm của ta hôm nay cũng sẽ hơi khác đi ngày
mai, và bất cứ cố gắng nào để ngăn cản quá trình này cũng đưa đến khổ đau.
Xả có nghĩa là chấp nhận mọi thứ như chúng là, như thế đối với người
nguyện tiến bước trên con đường tâm linh, điều ấy có nghĩa là không tạo ra
xung đột bằng cách xen vào việc của người.
Xả hàm chứa một sự chấp nhận và bằng lòng êm ái. Như thế ta có thể làm gì
với sự phiền não nầy? Điều cần lưu ý trước tiên là phải chắc chắn rằng ta
không làm điều gì để tạo thêm khổ đau, rồi thì xem xét mỗi hoàn cảnh với
sự cảm thông, và sửa đổi những gì có thể. Nếu chúng ta có thể sửa đổi
những điều kiện bên ngoài mà không đánh mất sự bình an nội tâm, thì càng
tốt, nhưng nói chung, chúng ta chỉ có thể có những sửa đổi sâu xa nơi bản
thân, và điều đó cũng đủ khó rồi.
Đoạn kế tiếp trong kinh là những lời
giảng giải dài hơn về cùng một chủ đề của Ngài Xá Lợi Phất, “người là cánh
tay mặt” của Đức Phật. Ngài Xá Lợi Phất nổi tiếng thông thái, trí tuệ và
thường diễn giải các bài kinh của Đức Phật. Khi Đức Phật được hỏi rằng
những lời dạy của ngài Xá Lợi Phất có đúng không, Đức Phật luôn đáp đúng.
Ngài Xá Lợi Phất dạy rằng: “Có năm
cách để đối trị sân hận, qua những phương cách này ta sẽ có thể đối trị
được sân hận. Năm cách đó là gì? Nếu một người không trong sạch trong hành
động, nhưng lời nói trong sạch, thì sân hận đối với người đó cần được chế
ngự. Nếu một người có lời tà ngữ, nhưng trong sạch trong hành động, thì
sân hận đối với người đó cần được chế ngự. Thêm nữa, nếu có người hành
động lẫn lời nói đều không trong sạch nhưng đôi khi họ cũng có lòng tin,
thì sân hận đối với người đó cần được chế ngự. Lại nữa, nếu có người hành
động lẫn lời nói đều không trong sạch, mà lúc nầy lúc khác cũng không có
lòng tin, thì sân hận đối với người đó cũng cần được chế ngự. Lại nữa, nếu
có người lời nói lẫn hành động đều trong sạch, và lại lúc nầy hay lúc khác
mở lòng đón nhận niềm tin, thì sân hận đối với người đó cần được chế ngự”.
Như vậy ngài Xá Lợi Phất đã kể ra năm loại người khác nhau – và tiếp tục
trình bày, bằng những ẩn dụ ngắn, cách làm sao để đối phó với từng người,
kiềm chế được sân hận đối với họ. Lời nói của chúng ta có thể tốt lành
nhưng ta lại hành động xấu xa, hay những lời chúng ta nói có thể không
được khéo léo nhưng ta có hành động thiện. Giả thuyết thứ ba là cả hành
động và lời nói có thể đáng trách, nhưng tâm cởi mở. Trường hợp thứ tư, kể
cả tâm cũng đóng chặt, cứng nhắc. Cuối cùng là, lời nói và hành động đều
đáng biểu dương, cùng với một trái tim cởi mở.
Chúng ta làm thế nào để chế ngự
sân hận đối với loại người thứ nhất? Giống như một vị sa môn mặc y phấn
tảo, gặp giẻ rách nằm trên đường, vị ấy với chân trái giữ tấm vải, chân
mặt kéo thẳng ra, rồi xé lấy phần vải còn nguyên vẹn, để mang theo, cũng
thế với người có hành động không trong sạch, nhưng lời nói trong sạch, tâm
ta lúc ấy nên nghĩ tới lời nói thanh cao hơn là việc làm uế nhiễm của
người ấy. Bằng cách đó lòng sân hận đối với người ấy sẽ được chế ngự.
Vào thời Đức Phật còn tại thế, tất cả vải vóc đều dệt bằng tay, rất đắc
tiền, nên chư tăng ni thường mặc những y bằng vải chấp vá. Nếu họ tìm thấy
những mảnh vải trên đường hay giữa các đống rác, họ có thể nhặt về để may
lại với nhau. Trong câu chuyện thí dụ nầy, một vi sa môn tìm thấy mảnh vải
rách, ông xé lấy phần còn xử dụng được, và bỏ lại các phần khác. Đó là
cách ta nên ứng dụng khi nghĩ đến người có hành động bất thiện, nhưng lời
nói thiện: chúng ta nên bỏ qua những hành động xấu mà chỉ nghĩ đến lời nói
của họ. Nói vậy không có nghĩa là ta sẽ ngó lơ những hành động bất thiện
họ đã làm; ta vẫn nhìn ra nhưng không phán xét họ, vì kết
án hay buộc tội đều dẫn đến sân hận. Rất ít có gì hoàn hảo trên thế
gian, nên trên lý thuyết ta có thể bực bội từ sáng đến tối. Nhưng nếu ta
chỉ chủ tâm đến những tánh tốt của người mà ta thấy giận ghét (không phải
là không có lý do), thì ta có thể chế ngự cơn giận của mình. Có thể họ có
rất nhiều điều xấu, mà chỉ có ti li điều tốt, nhưng ta vẫn nên hướng chủ
tâm đến điều tốt của họ.
Làm vậy, chính chúng ta mới là người
được nhiều lợi ích hơn cả, vì có thể người kia không hề biết đến sự bất
mãn của ta. Ngay nếu như chúng ta có nói điều đó ra, họ khó có thể chấp
nhận ý kiến của ta. Có lẻ tốt nhất là nhắc nhở rằng họ đã làm điều gì đó
không tốt, nhưng sẽ hoàn toàn không ích lợi gì nếu ta giận dữ nói cho họ
biết là ta cảm thấy oán trách họ. Phương cách để chế ngự sân hận, và trở
về với nội tâm tĩnh lặng của mình, là hãy nghĩ đến những điều tốt của
người. Những xáo trộn nội tâm chỉ làm cho cuộc đời thêm khó sống.
Ngài Xá Lợi Phất sau đó lại cho một thí dụ khác:
Giả dụ như có một mặt hồ bị bao phủ bởi những rong rêu, một người đang
nóng bức, chảy mồ hôi, mệt nhoài, khát nước, nghĩa là đang chịu khổ, tiến
gần đến hồ, leo xuống hồ, gạt bỏ lớp rong rêu ở nhiều chỗ với cả hai tay,
vốc nước lên tay uống, rồi tiếp tục cuộc hành trình. Cũng bằng cách đó đối
với người có lời nói không trong sạch, nhưng hành động tốt, ta phải chú
tâm không phải vào lời nói ô uế mà vào hành động thanh cao của người ấy.
Do đó ta có thể chế ngự sân hận đối với người đó.
Vậy là ta thấy một người đang đi trong cái
nắng cao độ, mệt lả, khát nước. Vì rong rêu bao phủ mặt nước, anh ta không
thể giải cơn khát của mình ngay lập tức. Nhưng anh ta đã biết nghĩ để đẩy
lớp rong rêu qua một bên, uống nước và được hồi sức. Tương tự, chúng ta có
thể để qua một bên những lời nói không tốt đẹp của một người mà chỉ nghĩ
đến những hành động trong sạch, tốt đẹp của họ. Hãy nhớ đến, thí dụ như,
những trường hợp khi họ đã giúp đở người khác, hay nghĩ đến những đặc tính
của họ, và để qua một bên những điều họ khiến ta bực bội trong giai đoạn
nầy.
Những thí dụ như thế tạo thành những
phương tiện hỗ trợ mạnh mẽ, dễ nhớ cho việc thực hành nầy. Chúng ta chỉ
cần tưởng tượng ra những mảnh giẻ rách nằm đó, sờn rách, nhưng có thể tái
xử dụng được. Hay hình ảnh những rong rêu được gạt sang một
bên để phơi bày nguồn nước sạch trong,
tươi mát. Sau đây là câu chuyện ví dụ thứ ba:
Giả dụ trong lỗ chân trâu có một ít nước, và có một người đang bị sức
nóng chế ngự, sướt mồ hôi, mệt nhoài, khát, do đó đang rất khốn khổ, đi
ngang qua và nhìn thấy nước.
Anh ta nghĩ, ‘Nếu ta vớt chút nước ít oi đọng lại trong lỗ chân trâu bằng
hai tay hay với một vật chứa nào, ta sẽ khuấy động nước khiến không uống
được nữa. Do đó, tôi thà là phải quỳ xuống giống như con bò trên bốn chân
để hớp được ngụm nước, rồi tiếp tục cuộc hành trình'. Và đó là điều anh
ta đã làm.Cũng thế với những ai có lời nói và hành động không thanh tịnh,
nhưng tâm họ đôi khi cũng mở rộng tiếp nhận niềm tin, thì
ta không nên để tâm đến hành động và lời nói uế nhiễm của họ lúc ấy. Thay
vào đó, ta nên quán chiếu rằng tâm người đó đôi khi cũng rộng mở, cũng có
niềm tin. Do đó ta nên chế
ngự sân hận đối với một người như thế.
Nếu người lữ hành nầy vục tay hay dùng đồ múc vào nước, thì nước sẽ bị vẩn
bùn, không uống được, cũng thế nếu chúng ta chỉ nghĩ đến những điều tồi tệ
nhất của một ai đó, nghĩ đến những lời nói khó nghe của họ và phản ứng:
chúng ta sẽ bị 'khuấy động'. Khi tình cảm khó chịu nầy càng tăng lên,
chúng ta sẽ không còn thấy an nhiên. Điều quan trọng trong câu chuyện thí
dụ là người lữ hành đã quỳ gối xuống để uống nước, vì nói một cách bóng
bẩy, chúng ta cũng phải quỳ gối xuống, và hiểu với tất cả lòng khiêm hạ
rằng chúng ta chỉ có thể tìm được sự bình an ở nội tâm khi chúng ta biết
chấp nhận những hành động, lời nói không thanh tịnh của người.
Ví dụ nầy có lẻ dễ nhớ, vì uống từ nước đọng trong dấu chân trâu không
phải là một điều tốt đẹp để tưởng nghĩ đến. Những nếu chúng ta đang khát
lả -ý chỉ nỗi bất an trong tâm do sân hận mang đến- chúng ta sẽ chấp nhận
uống bất cứ thứ nước nào có thể tìm thấy. Chúng ta chịu đựng những uế
nhiễm của người, chúng ta tránh khuấy động chúng lên, kết quả là ta có thể
giữ được sự bình an trong nội tâm mình. Người lữ hành trong câu chuyện
thí dụ được uống chút gì đó, và chúng ta thì cũng có thể tìm được điều gì
đó để làm dịu bớt căng thẳng trong sự liên hệ giữa ta với người mà hành
động và lời nói quá uế nhiễm. Chúng ta tự nhắc nhở mình rằng họ cũng có
tấm lòng đôi khi cũng rộng mở để đón nhận niềm tin. Hơn thế nữa, kể cả khi
ta nghĩ đến hành động và lời nói của họ, ta cũng có thể nhớ lại rằng một
con người như vậy cũng có điểm tốt nơi họ. Nhìn được họ như thế, chúng ta
có thể có sự chấp nhận và giảm bớt sự nóng nảy, sôi sục trong ta.
Đây là câu chuyện thứ tư:
Hãy tưởng tượng ra một người, bịnh
nặng, đau đớn, đang bước đi trên đường. Anh ta đang ở một nơi cách xa các
làng mạc,không thể tìm được đồ ăn hoặc thuốc men, hay ai đó để trông nom,
chỉ dẫn giùm anh ta. Nhưng rồi cũng có người nhìn thấy anh ta, cảm thấy
thương xót, phát khởi tâm thiện với ý nghĩ, 'Mong rằng người đàn ông đó
tìm được thức ăn, thuốc men thích hợp, một ai đó để chăm sóc cho anh, dẫn
đường cho anh, nếu không anh ta khó thoát chết!' Cũng thế, đối với một
người mà hành động, lời nói đều không trong sạch, và cũng chưa từng mở
lòng đón nhận niềm tin, chúng ta cần phải có lòng từ bi, thương xót, thiện
ý, với tư tưởng, ‘Mong rằng con người cao quý này có thể từ bỏ những tánh
xấu trong ý nghĩ, hành động, lời nói, và mong rằng anh ta có thể thực hành
những ý nghĩ, lời nói, hành động thanh cao; mong anh ta, khi thân đã hoại
sau khi chết, không phải đọa vào thế giới hạ tiện, đi trên con đường đau
khổ'. Bằng cách đó, chúng ta có thể chế ngự được sân hận đối với một
người như thế.
Thí dụ nầy trình bày cho ta thấy những
liên hệ nghiệp quả, người ta sẽ phải đối mặt với hậu quả của các hành động
của mình ra sao, do đó chúng ta có thể phát khởi lòng thương xót cho họ
như thế nào. Nếu nói hay hành động hay có những ý nghĩ bất thiện, chúng ta
thật sự đang bị tham sân hành hạ, như thể đang bị bịnh hành khổ. Chúng ta
nói, họăc hành động do sân hận, hay hành động hoặc lời nói của ta phát
xuất từ lòng tham. Tất cả chúng sanh đều khổ đau như thế do sự độc hại của
vọng tưởng, mà như Đức Phật đã giải thích, là do sự độc hại tiềm ẩn của
tham và sân. Tất cả đều tạo cho ta bất an, và bao điên đảo trên thế giới:
trong gia đình, trong thương trường và giữa các quốc gia.
Nếu tham sân có thể được coi như một dịch
bịnh, thì Đức Phật có thể được xem như một vị đại dược sư, và Pháp, giáo
lý của Ngài, là thuốc chữa. Thuốc chữa bịnh có thể không dễ uống, nhưng
chắc chắn là ta sẽ được chữa lành. Câu chuyện ẩn dụ của người bịnh không
tìm được sự giúp đở, do đó thật đúng và dễ nhớ. Chúng ta đã gặp rất nhiều
người đau khổ vì những hành động bất thiện, những lời nói không thanh
tịnh, và sự thiếu lòng tin của họ, và phản ứng hợp lý duy nhất của ta là
đối xử với họ bằng lòng thương cảm,
với hy vọng rằng họ sẽ chóng khỏi bịnh, tìm được sự bình an nội tâm, do đó
chấm dứt việc phải gặt hái những hậu quả đớn đau của họ. Chúng ta thường
mong mọi người thân được sức khỏe, thì không khó khăn gì để chúc họ một
loại sức khỏe tốt khác: không bị tham sân chế ngự. Cách nhìn sự vật như
thế có thể mang nhiều lợi ích cho sự tu tập của ta.
Thí dụ thứ năm và cũng là cuối cùng tươi
sáng hơn:
Giả dụ có một hồ nước trong, sạch sẻ,
mát mẻ, ở một vị trí rất đẹp, một nơi chốn đặc biệt, dưới bóng những rặng
cây xanh. Và hãy tưởng tượng có người đi ngang qua đấy mệt lữ vì nóng, mồ
hôi tuôn tràn, khát lả, nghĩa là đang rất khốn khổ. Anh ta bước xuống hồ,
tắm mát, uống nước hồ đó. Rồi leo trở ra ngoài, ngồi hay nằm dưới bóng
cây. Cũng thế, với người mà hành động, lời nói thanh tịnh, và lòng luôn
cởi mở, đầy lòng tin, chúng ta lúc đó phải chú tâm, quán chiếu về sự thanh
tịnh trong lời nói và hành động, cũng như tấm lòng cởi mở, có tín tâm của
người ấy. Do đó ta có thể chế ngự sân hận đối với một người như thế.
Người mà hành động, lời nói thanh tịnh và
tâm thường cởi mở được so sánh với một hồ nước tuyệt vời với nước trong
lành, mát mẻ.Ngay nếu như ta có thể bị tổn thương bằng cách nào đó bởi một
người như thế, ta có thể chế ngự bất cứ sự phát khởi nào của sân hận bằng
cách nhận ra rằng họ là nguồn phước báu cho chúng ta và cho bao người
khác, và rằng không có cơ sở nào để ta gán ép tình cảm sân hận đối với họ,
vì cách cư xử của họ trong đời quá đỗi thanh tịnh, đời sống tình cảm của
họ thì tràn đầy tình thương, bi mẫn. Bài kinh kết thúc với câu kinh sau
đây:
Tâm ta có thể tìm được sự bình an ở
người mà trong mọi hoàn cảnh đều phát khởi lòng tin và tín tâm.
(Anguttara-Nikaya v. 162 – Tăng Nhất A Hàm số 162)
Chúng ta có thể tăng trưởng thêm sự an
bình nội tại gấp bội bằng cách thường xuyên tiếp xúc với người mà ta hoàn
toàn tin tưởng. Đức Phật thường nhấn mạnh với chúng ta điều quan trọng là
phải giữ bạn hiền, tìm kiếm thiện hữu tri thức: những người sống đời thanh
cao, đi theo con đường đạo, và có thể giúp ta làm giống như họ. Một người
như thế sẽ nhìn cuộc đời rất khác với kẻ chỉ thích vật dục, và người ấy có
thể giúp ta làm được như thế. Tuy nhiên, ta cần phải duy trì lòng tin vào
một người bạn như thế. Nếu lòng tin của ta đối với họ bị lung lay, chúng
ta sẽ không tìm được sự bình an cho đến khi ta có thể thiết lập lại được
niềm tin đó. Nếu không, có thể ta cần phải buông bỏ tình bạn đó.
Sân và tâm luyến ái muốn được thương yêu
là hai mặt của một đồng tiền. Trong mỗi hoàn cảnh chúng ta đều có cùng một
trở ngại tiềm ẩn. Nếu có ai đó xúc phạm đến ta, đó có thể là biểu hiện của
việc họ thiếu sót tình thương đối với ta, những cũng có thể là do họ không
được khỏe, hay có thể chỉ là họ không biết phải giao tiếp với người khác
như thế nào. Tuy nhiên, đối với chúng ta, hành vi của họ có thể được coi
là một sự chống đối. Nếu ta muốn được thương yêu, nhưng không được như
thế, ta sẽ cảm thấy buồn, rồi đưa đến sân hận. Tình thương có thể là thuốc
chữa cho tất cả mọi người, giúp cho thân tâm của họ được tốt hơn -nhưng
đây không phải là loại tình yêu đòi hỏi điều kiện, cũng như tùy thuộc vào
ta có thể tìm được người nào đáng yêu không. Nói cho cùng thì chỉ có bậc
Giác ngộ mới hoàn toàn đáng yêu. Ta hướng tâm mình đến tình thương yêu, và
khi tình thương yêu đó đã trở thành một đặc tính của tâm thì sẽ không còn
là vấn đề nếu đối tượng có đáp trả lại tình thương của ta không. Dẫu cho
người kia có thương yêu hay không thể thương yêu, không ảnh hưởng gì đến
ta cả. Ước muốn được yêu thương chỉ là một khía cạnh khác của ngã chấp.
Nếu chúng ta không chắc rằng mình có đáng yêu hay không, và ta chọn để
người khác quyết định điều đó cho ta, chắc là ta sẽ thất vọng, vì tất cả
mọi người thường hay thay đổi ý kiến, cũng như chúng ta.
Trước hết ta phải xác định với chính mình
là chúng ta thực sự đáng yêu, và với ý nghĩ này trong tâm ta nhận thức
rằng mọi người cũng đáng yêu như thế. Dầu ta đều có những lỗi lầm như mọi
người khác, chúng ta vẫn xứng đáng được thương yêu. Như thế ta cũng phải
nhận thức rằng ta không cần phải đi tìm ai đó để yêu thương ta, vì cội
nguồn thực sự của tình thương yêu đã được tìm thấy ở trong tim ta. Do đó
sẽ không cần phải sân hận hay buồn khổ nếu có ai đó không màng đến ta. Vì
họ chưa hoàn toàn có khả năng yêu thương, ta nên thương cảm cho họ.
Do đó khi đoạn diệt sân hận, chúng ta cũng cần buông bỏ việc tìm kiếm tình
thương yêu từ người khác. Như thế là tất cả mọi vấn đề đều được giải
quyết, vì sân hận không thể phát khởi từ trái tim tràn đầy tình thương
yêu. Nhưng tình cảm thì luôn thay đổi, và trái tim mấy ai luôn bền vững,
nên việc chế ngự sự không bền vững nầy là một trong những khía cạnh quan
trọng trên con đường thực hành tâm linh của ta. Nếu chúng ta có thể thành
công, thoát khỏi quyền lực tình cảm của kẻ khác, khỏi những điều kiện bên
ngoài nói chung, bằng cách vun trồng sức mạnh nội lực của tình thương yêu
để nó không còn phải khuất phục trước những quyền lực này, thì chúng ta
mới thực sự thực hành tâm linh. Dầu chúng ta có đến được cuối con đường
thực hành nầy hay không, không phải là vấn đề; chúng ta chỉ cần tiếp tục
đi theo con đường thanh tịnh hoá đó.
Diệu Liên – LTLinh
(Tr ích D ịch t ừ Hãy Đến Để
Chiêm Ngưỡng –Come To See For Yourself)
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-09-2005