Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật giáo & Xã Hội


......... .

 

 

 

Nấc Thang Cuộc Đời
Giữa Mê & Ngộ (1)

Nguyên tác: Đại Sư Tinh Vân
Việt dịch: Thích Nữ Huệ Phúc
Nhà Xuất Bản Văn Hóa Phật Quang 2005

---o0o---

 

 

 

 

LỜI GIỚI THIỆU ^

 Nấc thang cuộc đời là một tác phẩm của hòa thượng tinh Vân. Ngài là một bậc danh tăng của thế kỷ 20. Ngài đã thành tựu nhiều việc lớn lao và đã giáo hóa được nhiều người thuộc các tầng lớp xã hội trải qua nhiều thế hệ.

Những kinh nghiệm quý báu của ngài trên bước đường truyền bá chánh pháp được đúc kết và ghi lại trong tác phẩm "Nấc Thang Cuộc Đời". Thật là hân hạnh cho Tăng Ni, Phật tử Việt Nam được tiếp nhận suối nguồn pháp lạc của Hòa Thượng qua tác phẩm dịch thuật của cô Huệ Phúc.

Cô Huệ Phúc hội đủ phước duyên, được Hòa thượng Tinh Vân giúp đỡ du học tại Học viện Phật Quang Sơn Đài Loan. Và dưới sự dìu dắt của Hòa thượng, cô đã phát nguyện dịch tác phẩm này để truyền bá tinh ba của Phật giáo trong thời hiện đại, góp phần xây dựng Phật giáo Việt Nam và phật giáo thế giới ngày càng vững mạnh và làm lợi ích cho nhiều người.

Chúng tôi giới thiệu tác phẩm "Nấc Thang Cuộc Đời"và mong rằng Tăng Ni, Phật tử hữu duyên sẽ có được những bài học bổ ích cho việc tu học khi đọc tác phẩm này.

"Mùa phật Thành Đạo, Phật lịch 2548 - 2005 
Hòa Thượng THÍCH TRÍ QUẢNG
Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự trung ương
Kiêm Trưởng ban Hoằng pháp Trung ương
Giáo hội Phật giáo Việt Nam

 

 

Lược truyện Đại sư Tinh Vân^

Master. HSING YUN

 

Đại sư Tinh Vân sanh năm1927, người tỉnh Giang Đô, huyện Giang Tô.12 tuổi xuất gia với Đại sư Chí Khai tại Nam Kinh, chùa Thê Hà; thuộc dòng Lâm Tếtruyền thừa đời thứ 48. Đã từng tham học nghiên cứu Phật pháp tại các tòng lâm Thiền tịnh luật học viện: Kim Sơn, Tiêu Sơn, Thê Hà.Sau đó đã từng nhậm chức: hiệu trưởng trường Quốc Dân Bạch Tháp,chủ biên tập <nguyệt san Nộ Thọ>,Trụ trì chùa Hoa Tạng ở Nam Kinh.

1949 đến Đài Loan, chủ biên tạp chí <Nhân Sanh>, nguyệt san <Phật giáo ngày nay>, tuần báo<Giác Thế>.

1964 tại Nghi Lan, chùa Lôi Âm, thành lập hội niệm Phật, hội thanh niên, hội thiếu niên nhi đồng, xây đắp nền móng đoàn hoằng pháp cho mai sau.

1967 xây dựng <Phật Quang Sơn>, lấy <Phật giáo nhân gian> làm tông phong phát triển Phật giáo trên toàn thế giới. Cật lực phát động sự nghiệp hoằng dương chánh pháp theo bốn tông chỉ: Lấy văn hoá hoằng dương chánh pháp, lấy giáo dục đào tạo nhân tài; lấy từ thiện phúc lợi xã hội; Lấy thiện tịnh hợp tu tịnh hoá nhân tâm>. Trước sau trên toàn thế giới năm châu đã xây dựng được hơn 100 phân viện đạo tràng trên toàn thế giới, trong số đó có những đạo tràng quy mô uy nghiêm, danh tiếng như: Tây Lai tự (Mỹ), Nam Thiên tự {Úùc},Nam Hoa{Châu Phi} v.v…Đồng thời đã sáng lập được 9 viện triển lãm mỹ thuật; 26 thư viện, 12 nhà sách và xuất bản; bệnh viện lưu động,16 cơ sở Phật giáo tòng lâm học viện từ các cấp sơ, trung cao cho đến đại học đào tạo nhân tài. Ngoài ra, với tâm nguyện cống hiến phúc lợi xã hội giáo dục đã xây dựng các trường <Phổ Môn Trung Học>, trường <Đại học Phật Quang, <Nam Hoa Quản lý học viện>, cho đến trường <Đại học Tây Lai> ở Mỹ.

Các tác phẩm trước tác:Truyện Phật <Thích Ca Mâu Ni>, <Tinh Vân Thiền ngữ>, <Tinh vân bách ngữ>, Tinh Vân Đại Sư diễn giảng tập>, <Phật giáo tùng thư>V.V…

1985 thực hiện chế độ Phật Quang Sơn “Truyền thừa mạng mạch”, Đại sư thối vị “Tông trưởng “. Từ đó trở đi không ngừng vân du trên khắp năm châu bốn bể hoằng pháp lợi sanh.

1999 sáng lập<Quốc tế Phật Quang Hội thế giới>, và được vinh dự đề cử làm Tổng Hội trưởng. Từ đó đến nay đã thành lập 173 quốc gia hiệp hội trên khắp ngũ đại châu, và đã được xem là tập đoàn nam nữ phật tử người Trung Quốc có tầm cỡ quốc tế, thực tiễn xúc tiến lý tưởng: “Phật Quang phổ chiếu tam thiên giới, Pháp thủy trường lưu ngũ đại châu.”

 Đối với sự nghiệp phát triển Phật giáo về chế độ hóa, hiện đại hóa, nhân gian hóa, quốc tế hóa có thể nói ngài đã thành tựu rất nhiều kỳ công vĩ đại.

 

 

Lời ngõ của dịch giả^

Trong cuộc sống thời đại văn minh khoa học đa năng phát triển cao tốc, khiến cho đời sống vật chất con người có phần thăng tiến tốt đẹp, nhưng bên cạnh đó, thế giới muôn ngàn lạc thú danh lợi ấy không những khiến cho cuộc sống con người càng thêm tất bật theo cấp độ phát triển của thời đại, đồng thời không ngừng cám dỗ con người mạo hiểm truy tìm cái dục lạc thèm muốn. Do đó chúng ta nếu không cẩn thận, tỉnh giác sẽ bị nó làm hoa mắt, dẫn đến ý loạn tâm mê mà sa hầm cạm bẫy.

Cái gọi là giữa <mê và ngộ>, nó vốn hiện hữu ngay trong mọi sinh hoạt của mỗi con người trong từng sát na thời khắc. Trong cùng một sự kiện có lúc người trong cuộc thì mê, mà người ngoài cuộc lại phân minh thông suốt. Vì vậy, trong cuộc sống nhân gian hỗ tương đối đãi, những lời sách giáo của các bậc thánh hiền là tiếng chuông cảnh tỉnh khi chúng ta bị vô minh bao trùm, mờ mịt lầm lũi đi trong đường đọa lạc; là ngọn đuốc thiêng soi sáng cho chúng ta những khi tắt lửa tối đèn. Từ những lời sách giáo súc tích đó sẽ tăng lực cho mình trong sự quyết trạch giữa< lấy và bỏ>. Đồng thời những lời sách giáo súc tích đó còn là công án cho chúng ta trầm tư thể hội về những kinh nghiệm quý giá trong cuộc sống nội lực và ngoại duyên trần cảnh. Thật ra thì giữa mê và ngộ, thiên đường hạnh phúc hay địa ngục khổ đau đều chỉ nằm trong khoảng cách giữa một niệm khởi sanh diệt. Một khi ý thức khởi sanh một niệm mê mờ thì cảnh giới qua cái nhìn theo niệm đó mà hình thành cảnh giới sống gió thảm mưa sầu; còn khi tâm thức khởi sanh một niệm sống thức tỉnh giác ngộ thì tầm nhìn cảnh giới, qủa là nhật nguyệt treo cao không, không những có năng lực rạng soi vàn muôn vật, mà còn là năng lượng sưởi ấm cuộc sống đại địa. Do vậy, khế kinh có lời dạy rằng:” Phiền não tức bồ đề”, vàtrong Đàn kinh Lục tổ Huệ Năng hằng khuyến giáo chúng đệ tử: “Tự tánh mê, Phật là chúng sanh.

Tự tánh ngộ,chúng sanh là phật.

Tự tánh bình đẳng, chúng sanh là Phật,

Tự tánh tà ác, Phật là chúng sanh“

Điều khuyến giáo đó cho chúng ta thấy rõ giữa mê và ngộ của nấc thang cuộc đời chỉ nằm trong khoảng cách giữa một niệm khởi sanh diệt mà thôi!

<Giữa mê và ngộ> là bộ sách nhiều tập do ngài Tinh Vân đại sư viết ra từ chính sự thể chứng nội tâm. Thâu qua sự biểu đạt văn tự súc tích, trong sáng, bình dị đã mở ra cho người đọc con đường ứng thế vô úy, thắp lên cho người đọc ngọn hải đăng soi chiếu thấu triệt mọi chướng ngại vật cũng như tất cả những tình huống tốt xấu của đại dương cuộc sống, để từ đó người đọc có thể tự mình an định tâm trí nhận định và quyết trạch phương hướng mình tiến thối thích nghi, đem lại cuộc sống an bình lợi lạc viên dung thật tại. Đây là bộ sách được các nhà trí thức trên thế giới đánh giá là bộ sách <Học làm người> rất có giá trị để chúng ta tỉnh tư hoặc thiền tu thường nhật và đã được các nhà trí thức phiên dịch quốc tế dịch ra các văn ngữ như Anh ngữ, Đức ngữ, Pháp ngữ, Nhật ngữ, Hàn ngữ, Tây ban nha ngữ v.v…

 Sau khi tốt nghiệp chương trình Đại học Phật học, khóa3 tại học viện Vạn Hạnh thành phố Hồ Chí Minh, với tâm nguyện tầm học nghiên cứu sâu về <Đại thừa Phật giáo qua hán tạng, nguyện mong được học hỏi công hạnh đào sâu mạch giếng nước trong bổ mát để giúp ích cho chính bản thân mình và người của chư Phật bồ tát,Tổ đức thánh hiền. Hậu học con đã có thắng duyên được Giáo Hội Phật giáo Việt Nam hỗ trợ sang du học tại Đài Loan Học Viện Phật Quang Sơn. Sáu năm nơi đất khách quê người, bánh xe thời gian cứ quay cuồng theo tốc độ sanh diệt của muôn pháp, mỗi giây phút trôi qua là một biến hoại không ngừng, phải không ngừng đối mặt với biết bao khổ nạn thách thức giữa cuộc sống sinh hoạt bất đồng ngôn ngữ, dị biệt văn hóa tập quán, thi cử bề bộn, luận văn, luận án thúc bách….nói chung là đã đa duyên hội ngộ trong kiếp nhân sinh này, dù rằng bản thân đang sống trong cảnh giới thiền viện, nhưng làm sao tránh khỏi những phút giây khách trần xôn xao xáo trộn, thất điên bát đảo. Có những lúc tôi bị ngã quỵ dường như không đủ sức lực để đứng vững tiếp tục hoàn thành sứ mạng như đã cùng thầy tổ hứa nguyện. Một ngày nọ thấy tôi thần sắc bơ phờ, khổ não, một người bạn đồng tu đã đem tặng tôi quyển <Giữa mê và ngộ> và nói :‘’Hãy đọc đi nhé, quyển sách này sẽ giúp em tìm ra được điều mà em đang cần ”. Tôi không tin tưởng lắm, nhưng vì tôn trọng tấm lòng tốt của vị học trưởng ấy, nên tôi nỗ lực đọc. Qủa thật, sau khi đọc Giữa<mê và ngộ> qua những đoản văn” Aùnh trăng khải thị, Nấc thang cuộc đời, Đương nhiên thôi….” Tôi như người vừa thoát ra khỏi cơn mê sốt, người nhẹ hẳn đi, tâm trí tỉnh táo, tĩnh lặng phản tỉnh nhìn ra được nguyên nhân của cái thất điên bát đảo của chính mình mà quay đầu chuyển thân tức liền lên đến bờ. Cuộc sống giá trị đáng quý của đời người chính là đây. Từ đó, lòng tôi luôn luôn mong muốn đem những điều bổ ích thiết thực mà tôi đã thọ dụng được từ bộ bộ sách quý <giữa mê và ngộ> này để chia sẻ niềm vui, và truyền đạt những cái “bảo” ấy đến cùng tất cả đồng bào Việt Nam thân thương đang sống trên khắp mọi miền đất nước, vì <Giữa mê và ngộ> là những bài viết chính từ sự thể chứng nội tâm trên những bước hành trình “bi trí hạnh nguyện” tu học và hoằng pháp độ sanh”Phật quang phổ chiêáu tam thiên giới, Pháp thủy trường lưu ngũ đại châu” của Đại sư Tinh Vân(Master:Hsinh Yun) mà bản thân tôi được phước báo ngày ngày tiếp cận thấy nghe đã tạo nên lực từ trường thu hút, rung cảm, cổ vũ tôi phát huy tiềm năng, thành tựu ước nguyện; tôi đã mạnh dạn gạt bỏ đi cái mặc cảm <bất tài vô năng> và dõng mãnh phát nguyện dịch bộ sách <Giữa mêvà ngộ> này với tựa đề “Nấc thang cuộc đời” từ Trung văn ra Việt văn với niềm tin yêu và hy vọng được cùng tất cả bạn đọc rộng kết thiện duyên pháp lữ, cùng nhau nối tiếp các bậc thầy tổ, các bậc thiện hữu tri thức thắp sáng lên ngọn đuốc chánh pháp soi sáng cho chính mình và soi sáng cho người trên mọi nẽo đường đời ở từng mỗi nấc thang, hiệp lực đồng tâm xây dựng cho đời cuộc sống ấm no tươi đẹp trong hiện tại và tương lai, ngõ hầu báo đáp tứ trọng thâm ân.

 Đây là tập sách dịch đầu tay nên văn cú, nghĩa lý có phần yếu kém, lỗi lầm, hoặc không được trôi chảy trong sáng lắm, hậu học con thành tâm đê đầu kính xin chư Tôn thạc đức và tất cả bạn đọc thiện hữu tri thức xa gần từ bi chỉ giáo. Những ý kiến chỉ giáo đó chính là nguồn cổ vũ động viên quý giá cho con được tiếp tục phát huy năng lực trong công tác phiên dịch những tập văn chánh pháp kế tiếp đóng góp vào sự nghiệp phụng sự đạo pháp và dân tộc. Hậu học con chân thành cảm tạ Giáo Hội Phật giáo Việt Nam và Học Viện Phật Quang Sơn đã dưỡng dục con giới thân huệ mạng, soi đường dẫn bước cho con trên đường tu học và phụng sự. Đặc biệt xin dâng lời cảm tạ chân thành đến Hòa Thượng trưởng Ban hoằng pháp thượng Thích Trí hạ Quảng và giáo sư Vũ Hoành, vị giáo sư Tiến sĩ trường Đại học Hà Nội đã không ngại tuổi già sức yếu, phật sự đa đoan đã nhiệt tâm tận tình giúp con nhuận bút và viết bài tựa. Đồng thời cũng xin chân thành cảm tạ các cơ quan chính quyền nhà nước Viết Nam và tất cả thiện hữu tri thức xa gần đã nhiệt tình tạo điều kiện thuận lợi cho hậu học con được xuất ngoại du học và hỗ trợ cho tập sách này được phép xuất bản lưu hành.

 

Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát

 Môn sanh: Huệ Phúc

 

 

Nấc Thang Cuộc Đời^

人生的階梯

 

- Trong xã hội hiện nay, y học phát đạt, sinh hoạt vật chất thăng cao. Trong một quốc gia tiên tiến, người dân tuổi thọ bình quân sống đến khoảng 80 tuổi. Nếu đem cuộc đời 80 tuổi ấy so dụ như một tầng lầu cao 80 tầng cấp thang, thì con người từ khi cất lên tiếng khóc chào đời, tức một tuổi bắt đầu. Thế rồi mỗi năm, mỗi năm thêm một tuổi, một tuổi. Đời người cứ thế từng bước, từng bước đi lên cho đến tận đích. Trong bước đi từng bước, từng bước  của đời người, bằng cách nào mới có thể lên đến được tầng cao nhất thứ 80? Tức đạt đến đỉnh cao của tuổi thọ, đỉnh cao của cuộc đời.

- Câu chuyện thần thoại kể rằng: Xưa có hai anh em nhà nọ xuất ngoại leo núi. Sau khi xuống núi trở về ngôi nhà 80 tầng lầu, họ định dùng thang máy để lên lầu, không may thang máy bị trục trặc không thể kéo lên được. Hai anh em cảm thấy không có vấn đề gì trở ngại, khi phải chuyển sang cách từng bước, từng bước leo lên từng nấc thang; bởi vì lúc thường nhật họ đã từng kiên chí luyện tập leo núi, khiến cho họ có được sức lực dẻo dai. Nhờ vậy, mặc dầu phải leo đến nấc thang cao nhất của tòa đại lầu rất vất vả, nhưng họ vẫn duy trì được tinh thần phấn khởi, cố gắng hướng từng bước leo lên.

- Khi họ đã hướng lên đến nấc thang của tầng lầu thứ 20, họ không những không cảm thấy mệt nhọc, mà còn tự giác rằng, mình phải leo cho thật nhanh, và thật vững chắc, không sợ bất cứ một nấc thang nao. Thế là họ hăng hái đặt bước hướng lên. Đến khi leo lên đến tầng lầu thứ 40, bỗng nhiên họ cảm thấy thân thể xuất hiện trạng thái mệt mỏi. Họ cảm thấy cái vali hành lý của họ càng lúc càng trở nên nặng nề vô cùng. Thế là hai anh em thương lượng, quyết định đem hành lý để lại nơi tầng lầu thứ 40, đợi khi có thang máy sẽ trở lại lấy.

- Bằng tín tâm và dũng khí, họ tiếp tục hướng lên leo cho đến tầng lầu thứ 60. Lúc này họ cảm thấy sức lực đã suy yếu hẳn đi. Khí đã suy, lực đã mòn, dường như không còn đủ sức lực để tiếp tục leo lên đến tầng lầu thứ 80. Nhưng trong khoảng khắc suy nghĩ: mình đã lên được đến tầng lầu thứ 60 rồi; cự ly chỉ còn 20 nấc thang, còn có gì không thể vượt khó? Thế là họ không quản ngại muôn vàn khó khăn, mệt nhọc trong khí lực suy yếu của tầng tuổi 60; cho dù phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt với chân mỏi gối chùn. Cuối cùng họ đã lên được đến đích thang của tầng lầu thứ 80. Toại nguyện chí hướng, họ nở nụ cười sung sướng. Nhưng khi người anh định mở cửa bước vào nhà, đột nhiên la lớn: “Chết rồi! Chìa khóa mở cửa để trong vali hành lý, chưa đem lên được.” Người em nghe thấy như vậy, tâm hồn tràn ngập nỗi thất vọng, thân thể rã rời như bong bóng xì hơi, đầu óc mênh mang mờ mịt.

- Câu chuyện trên chỉ cho chúng ta rõ rằng: Sinh mạng của con người, trong 80 tuế nguyệt của đời người, tầng tuổi thứ 20 là lứa tuổi thanh xuân cường tráng, tràn đầy sức sống hạnh phúc, tươi vui, tuyệt đẹp vô cùng. Đến tầng tuổi 40, vì sinh kế gia đình, con cái..., hai vai gánh vác những trách nhiệm nặng nề như gánh một vali hành lý nặng. Ở thời tuổi ấy, có người đem gánh vali hàng lý nặng đó đặt để nơi tầng tuổi 40, rồi tiếp tục nỗ lực leo lên cho đến nấc thang của tầng lầu 60. Vào tuổi 60 của đời người, đã cảm nhận rõ mình thế lực không còn dẻo dai để tiếp tục gánh vác trọng trách, nhưng vẫn không ngừng nỗ lực bước trọn lên đến chung đích; cho dù chỉ là đem theo cái thân thể yếu mòn để tiếp tục bước lên những nấc thang còn lại của cuộc đời. Và khi đã đặt chân đến nấc thang của tầng tuổi 80, ngoái đầu nhìn lại quá trình mình đã vượt qua, một chùm chìa khóa để lại dưới tầng lầu thứ 40, tức sự nghiệp gánh vác trọng trách mình đã không còn đủ sức lực và dũng khí để bước trở xuống lấy nó mở cửa vào nhà hạnh phúc.

- Bạn đọc thông minh thân mến, bạn cũng có một cuộc đời của 80 tầng cấp lầu, bạn đã có quy hoạch cho mình nên làm những gì chưa??

 

Lấy XẢ Làm ĐƯỢC^

以捨為得

 

 "Xả.được", "được, xả", lấy buông xả làm thu hoạch, đó là mối quan hệ thực tiễn nhân duyên qủa báo. Nếu chúng ta không hiểu rõ về hệ thống sinh hoạt triết học đó thì không dễ gì hiểu được diệu dụng của việc làm "lấy buông xả làm thu hoạch".

Trên mảnh đất ruộng, nếu không gieo trồng hạt lúa giống, làm sao có được sự thu hoạch? Đối với bạn bè thân thích, nếu bạn không cùng họ quan hệ qua lại giao cảm; bình thường không lấy lễ vật tặng biếu nhau tỏ lòng tình thân giao kết, thì làm sao thu hoạch được nhân duyên vật nghĩa hồi tặng hỗ tương?

Buông xả, xem ra dường như là bỏ ra cho người khác; nhưng trên thực tế là thu về cho mình đó thôi. Tặng người một lời nói tốt đẹp,thiện cảm, tức thời sẽ thu nhận được người hồi tặng mình lời tán dương tràn đầy thiện cảm tốt đẹp. Tặng người một nụ cười, mình sẽ nhận được ánh mắt reo vui hồi đáp! Mối quan hệ "xả" "được", tương đồng với mối quan hệ giữa "nhân" "qủa"Đó là hai mối quan hệ hỗ tương mật thiết đồng đẳng trong đời sống triết học.

Người có năng lực thực hiện buông xả, nhất định nội tâm của người đóvốn đã có tài sản giàu có cao quý. Nếu như nội tâm của người đó không hàm chứa lòng biết ơn, và nhân cách kết duyên làm sao người đó dám buông xả cho người khác; và làm sao có thể khiến cho người đó có được vốn thu nhận? Nội tâm có tràn đầy hoan hỷ thì mới có thể đem niềm hoan hỷ hiến tặng cho người. Nội tâm có ẩn chứa vô hạn từ bi, thì mới có thể đem tâm từ bi làm bóng cây che mát cho người. Tự mình trong túi có tiền mới dám đem tiền ra bố thí cho người khác. Tự mình có đạo tâm mới có thể đem đạo để dẫn dắt người cùng đi trên đường quang minh.lợi lạc. Nếu trong tâm chúng ta chỉ có tham sân si, thì đương nhiên khi cho người khác cũng sẽ là tham sân si. Thế nên, chúng ta khuyên người không nên đem phiền não, sầu muộn truyền nhiễm cho người khác; bởi vì buông xả cái gì, tức thời sẽ thu được cái đó. Đó là quy luật tất nhiên.

 Nhân gian Trung Quốc có câu chuyện kể rằng: Có một gia đình nọ, người cha vui thích làm việc thiện bố thí, thường hay đem vật bố thí cho người khác. Thật lạ thay! Càng làm việc bố thí, gia sản của ông ta càng giàu có sung túc. Song thật đáng tiếc, con của ông ta tánh tình tham lam, keo kiệt, bủn xỉn. Sau khi người cha qua đời, người con ấy lên kế vị nắm quyền quản lý tài sản; lập trăm phương ngàn kế đục khoét tài sản của người khác. Cuối cùng, thiên tai nhân họa đến, gia đình người con đó không những không có được một chút may mắn nào mà ngay cả một vật nhỏ cũng không còn. Qua câu chuyện này cho chúng ta thấy rõ tánh cách, phẩm chất của hai con người: một cho ra và một gom vào; kết qủa giá trị của sự được mất, thành hoại sai biệt như thế nào là do chính mình tự tạo tác, mà tự thọ nhận. Thế nên "lấy buông xả làm thu hoạch"là việc chúng ta cần nên tin tưởng và thực hành là vậy.

 "Buông xả"trong Phật giáo có nghĩa là bố thí! Bố thí giống như gieo giống Ni câu đà thọ(Ni câu đà thọ tiếng Pali dịch là Nigrodha, tên gọi theo khoa học là Ficus indica. Đây là giống cây có xuất xứ từ Aán Độ. Giống cây này to lớn, tàng rộng, nhiều cành; bôùn mùa đều sản sanh hoa qủa){tham khảo Phật Quang Đại tự điển, quyển thứ 2, trang 1885}.Vì vậy trong Phật giáo thường lấy loại giống cây này để dụ cho sự thu hoạchhưng thạnh; Trồng một, thu hoạch mười; trồng mười thu hoạch một trăm, kết qủa có thể là hàng ngàn hàng vạn. Vì vậy trong đời sống nhân gian mong muốn trường thọ, vinh hoa phú qúy, quyến thuộc hài hòa, danh dự cao sang, thông minh tài trí; trước nên tự hỏi mình: Thời tiết xuân có gieo hạt giống tốt? Bằng không thời tiết thu làm sao có sự thu hoạch tốt đẹp; làm sao có được công thành danh toại!

 "Buông xả" cần nên lấy từ bi và trí tuệ làm năng lượng để đúc kết nên thiện pháp lợi ích hiến tặng cho người.Trong kinh "Tứ Thập Nhị Chương" đức Phật dạy rằng "Ngửa mặt lên trời phun nước miếng, thì nước miếng không đụng đến trời mà sẽ bay ngược lại làm dơ thân mình; ngược gió quét bụi, bụi không những không đến bờ đất kia, mà ngược lại làm dơ thân mình."Thí xả là đem lễ vật biếu tặng người. Nếu chúng ta đem lễ vật biếu tặng cho người không thích đáng, khiến đối phương không dám tiếp nhận, thì vật kia sẽ tự mình thu hồi lại. Từ đó mà suy việc mà mình không muốn, vật mà mình không ưa thích thì chớ đem biếu tặng cho người.

Ngày tiết đông, mọi người đều yêu thích mặt trời, bởi vì mặt trời đem nắng ấm sưởi khắp thế gian. Chúng ta yêu thích cây đại thọ, bởi vì cây đại thọ cho chúng ta bóng mát. Cha mẹ thương yêu con ái, là vì con cái cho mình sự hiếu dưỡng. Chúng ta yêu mến bạn bè, vì bạn bè đem lại cho chúng ta sự hỗ tương giúp đỡ. Nếu mặt trời, đại thọ, con cái, bạn bè…không đem lại sự lợi ích cho mình, thử hỏi làm sao chúng ta yêu thích họ?

Nếu ái tình là mối dây trói buột, thì hãy buông xả ái tình, rất tự nhiên thân tâm sẽ tự tại. Nếu ngã mạn là phiền não chướng ngại đạo nghiệp, thì chúng ta không quản ngại buông xả nó, phải chăng chúng ta đã nhận được sự mát mẻ thanh thản? Nếu vọng tưởng là hư vọng, chúng ta buông xả vọng tưởng, thì chẳng phải là chúng ta đã tự thu được cuộc sống chân thực rồi sao? Nếu sự quái ngại làthống khổ, bạn xả bỏ nó đi, chẳng phải là bạn đã thu được khinh an rồi sao? Do vậy chúng ta có năng lực thực hiện buông xả bao nhiêu, tất nhiên sẽ thành tựu kết qủa thu được bấy nhiêu. Đó là đạo lý tất yếu.

Khi đi đường, nếu không buông bước đi phía sau, thì vô phương đặt được bước đi phía trước. Khi viết văn, không xả bỏ đi những câu văn rườm rà, dài dòng, thì cũng vô pháp đúc kết ra được những đoạn văn tinh giản, súc tích. Cây cối hoa cỏ trong sân đình, những cành khô lá úa, nếu không cắt tỉa đi, thì cây cỏ kia làm sao có không gian đâm chồi nảy nụ. Kiến trúc đô thị nếu không buông bỏ đi những kiến trúc thô thiển trái qui định thì không thể nào kiến thiết ra được hình thể một đô thị hiện đại, trật tự, ngăn nắp, mỹ quan.

Hàng tăng lữ, với danh nghĩa xuất gia, nếu không cắt ái buông xả người thân thích, làm sao xuất gia học đạo, làm sao có thể tự tại vân du bốn biển hoằng pháp lợi sanh? Các bậc cổ thánh tiên hiền "trước ưu tư với nỗi ưu tư cuả thiên hạ, sau an vui với niềm an vui của thiên hạ"; Nếu không thể xả mình vì người, thử hỏi làm sao có thể lưu danh sử thiên cổû.

Chư Phật "việc khó làm, làm được; việc khó nhẫn, nhẫn được"là vì ngài hiểu được tầm giá trị của sự buông xả mà đúc kết nên sức mạnh vô úy thí, "cắt thịt mình mớm cho chim ưng, xả thân mình cứu cọp đói "thành tựu Phật đạo. Ngài Tuyết sơn Đồng Tử, chỉ do một câu kệ: "Chư hành vô thường, thị sanh diệt pháp,sanh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc"mà dám bỏ thân vì đạo, và cuối cùng ông đã đạt được như nguyện đắùc thánh qủa đạo.

Chúng ta nếu không buông xả đi những thói hư tật xấu, thì đời sống làm sao có thể tiến bộ, cho dù có tiềm năng tốt cũng vô phương sanh trưởng. Học phật chính là học tập "xả mê nhập ngộ, xả tiểu hoạch đại, xả vọng quy chơn, xả hư hành thật."Thế nên lời mà bậc cổ đức tuyên huấn:” phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật” là vậy; phóng hạ, nghĩa là buông xả, không buông xả, làm sao thành phật được?

 Tóm lại, "lấy xả làm được"diệu dụng vô cùng; chúng ta cần nên học tập tánh cách buông xả. Tiền tài vật chất, tri thức, kỹ năng, chúng ta biết buông xả đem hiến tặng cho người làm lợi ích thì cái giá trị tài sản đó mới thật sự là kết qủa thu được của chính mình vững chắc. Cũng vậy, khi chúng ta biết buông xả tất cả những phiền não vô minh bi thương, vọng tưởng v.v…thì rất tự nhiên sẽ đạt được cuộc sống mới với cảnh giới trong sáng, tươi mát, hạnh phúc, tràn đầy niềm tin yêu hy vọng,

 

Nhận Biết Chính Mình^

認識自己

 

 Thông thường chúng ta có hai con mắt, có thể nhìn thế gian, nhìn vạn vật, nhìn người khác chính xác, rõ ràng. Nhưng lại không nhìn được chính mình.

 Nói rõ hơn, con người có tầm thức phân biệt, có thể nhận thức người khác, nhận thức sự vật, nhận thức thế giới, nhưng không nhận thức được chính mình. Lại nữa, con người chúng ta có thể nhìn thấy được lỗi lầm sai trái của người khác rất rõ ràng, nhạy bén, nhưng lại không nhìn thấy được khuyết điểm của chính mình. Nhìn thấy được sự tham muốn của người khác mà không nhìn thấy được các tập khí, các tiểu khí của chính mình. Nhìn thấy được tà kiến của người khác, nhưng không thấy được cái ngu si của chính mình.

 Chúng ta có thể nhận thức được sự hoạt động của thế giới; có thể nhận thức được lịch sử, nhận thức được xã hội, nhận thức được thân thích bằng hữu, nhưng rồi cũng không thể nhận thức được chính xác chính mình.

 Làm người nếu chúng ta biết tự mình soi gương quán sát. Trong gương có thể nhìn thấy được mắt, tai, mũi, lưỡi, ngũ quan của chính mình, Nhìn thấy tường tận đường nét xinh đẹp hay diện mạo xấu xí của thân mình, nhưng nào có thể soi thấy được nội tâm của chính mình. Nếu có được mặt gương tinh vi mà có thể soi chiếu thấy được nội tâm của chính mình, thì tâm tham, sân, si, tật đố, tình sầu oán khúc v.v... kia chắc haún sẽ rùng rợn khó coi đến cực đieåm!

 Người, có người hiền lành, từ bi; có người hung ác nham hieåm. Người, có người luôn luôn sống với tâm bao dung, hỷ xả; nhưng lại có người luôn sống với tâm tham thủ, ích kỷ chỉ biết đòi hỏi được người khác bao dung, cung phụng. Bạn đã tự nhận ra bạn thuộc loại người nào chăng? Người, có người biết vì người quên mình, nhưng cũng có người chỉ biết tổn người, lợi mình. Bạn có thể tự xét ra được mình là thuộc chủng người nào chăng?

 Làm người cần phải có lễ nghĩa, có tàm quí, có tín nghĩa hòa bình, có trung hiếu, nhân ái, có từ bi hỷ xả. Bạn đã kiểm tra qua chính mình? Bạn kiểm điểm chính mình xem có được những điều kiện làm người đó chưa?

 Làm người chúng ta cần phải biết tự bồi dưỡng năng lực đảm đang gánh vác trách nhiệm. Đầu tiên, cần phải tự nhận thức được chính mình, nhất là không sợ đối diện với những lời “trung ngôn nghịch nhĩ”, hoặc lẫn trốn khuyết điểm xấu dở của chính mình, thì mới có thể tiến bộ nhanh, và mới có thể tự mình trưởng thành.

 Trong Phật môn thường nhắc nhở chúng ta câu: “Nhận thức bản lai diện mục của chính mình.” Chúng ta đã nhận thức được bản lai diện mục của chính mình?

 Trong cuộc sống nhân gian, biết bao người ngày ngày chỉ có bận rộn với những tính toán so đo về sự được mất, sự hơn thua của người khác, rồi chỉ biết chê trách người khác là vô yù thöùc, vô giaùo duïc mà quên mất quan tâm về sự khởi tâm động niệm của chính mình. Con người chuùng ta đối với lý tưởng, trách nhiệm xứ mạng của chính mình là luôn luôn trái ngược với sự thật, trái ngược với tương lai. Do nhân đó mà làm chướng ngại pháp thân huệ mạng của chính mình. Chúng ta học Phật chính là để khai phát chơn tâm của chính mình. Và lột bỏ đi cái mặt nạ của chính mình, thành khaån phân giải chính mình, nhận thức được chính mình.

 Nhận biết được chính mình, chính là một đề tài lớn của xứ mạng, đâu thể xem thường, hoặc buông lung tùy tiện!

 

 

Ánh Trăng Khải Thị^

月亮啟示

 

 Có một tên trộm định đột nhập vào một nhà giàu lấy trộm đồ. Anh ta dắt theo đứa con trai nhỏ cho nó kiến tập. Tên trộm bảo đứa con:

 Con đứng ngoài cửa giúp ba canh chừng, nếu nhìn thấy có người về đến thì ra hiếu cho ba biết. Nói xong, anh ta liền tung thân nhảy vào nhà. Vừa lúc anh ta chuẩn bị hạ thủ nghề trộm; bỗng nhiên ngoài cửa đứa con la lên:

 - Ba ba! Có người nhìn thấy mình rồi!

 Tên trộm nghe báo hiếu, vội vàng nhảy ra khỏi cửa, kéo thằng bé nấp vào đám lâu sậy chạy trốn.Chạy được một đoạn khá dài, dừng lại nghỉ mệt, anh ta liền hỏi đứa con: Vừa rồi ai nhìn thấy mình? Đứa bé đáp:

 - Thưa ba, ánh trăng đang nhìn thấy mình hành động!

 Đoạn truyện cười trên đã chæ roõ cho chuùng ta thaáy rằng “khi mình làm một việc gì xấu ác, bất thiện”; cho dù không ai biết, nhưng làm sao dấu được trời đất, Chư Phật, Bồ Tát, Thánh Hiền, vaø nhaát laø laø sao daáu ñöôïc löông taâm cuûa chính mình.

 Điều mà bậc quân tử nói: “Thập mục sở chi, thập thủ sở chi” nghĩa là khi chúng ta làm bất cứ một việc gì, tốt xấu, sáng tối như thế nào chung quanh chúng ta đều có những đôi mắt vô hình nhìn thấy, biết rất rõ ràng. Sự thành tín là như vậy.

 Trăng sáng từ xưa đế nay chính là người bạn taâm ñaéc của tình nhân; là tác phẩm cao quý yêu thích của thi nhân. Một vầng trăng treo giữa trời cao đêm tịch, thu hút biết bao văn nhân nho nhã đối trăng ngâm vịnh. Sách có câu: “Trăng sáng, sao thưa, đời người mấy thuở”. Trong sự cảm thán, khổ đoạn của đời người, dường như cũng đang ẩn tàng nỗi sầu đau bi thương chưa thực hiện được chí lớn. Ngoái đầu nhìn lại, từ xưa đến nay đã có biết bao chúng dân lòng tràn oan khuất, không biết tỏ cùng ai, chỉ biết ngẩng đầu hỏi trăng, thổ lộ, không hề dấu diếm bất cứ điều tối sáng nào!!!

 Kỳ thật, trăng sáng là tượng trưng cho sự quang minh, viên mãn. Trong bầu nhiệt luyến của tình bạn, hai người tâm đầu ý hợp đối trăng tuyên thề: Mong rằng, dưới trăng ông trời chứng dám cho họ mối chung tình. Thế nhưng, thế sự vô thường. Dưới trăng ông trời làm sao có thể làm chủ được?

 Ngạn ngữ có câu: “Con trăng cong cong chiếu cửu châu, thử hỏi bao nhà vui, bao nhà sầu?” Ánh trăng có khi mờ, khi tỏ; lại có lúc tròn, lúc khuyết. Đời người tất nhiên cũng phải có lúc vui, lúc buồn, lúc tan, lúc hợp. Từ hình tượng trăng tròn, trăng khuyết đã nói lên tận cùng ý nghĩa thế sự bể dâu biến đổi, đời người vô pháp ngăn chặn.

 Có câu thơ rằng: “Cố nhân bất kiến kim thời nguyệt, kim nguyệt tằng kinh chiếu cố nhân” nghĩa là bậc cố nhân tuy không còn nhìn thấy bóng trăng nay; nhưng trăng nay vẫn mãi mãi hằng chiếu sáng bậc cố nhân. Trăng sáng vĩnh hằng từ cổ chí kim là như vậy, không một chút riêng tư phân biệt người ở quá khứ hay người trong hiện tại. Chỗ sai khác chỉ là trăng xưa còn đó mà người nay đã xa lìa. Ánh trăng mà chúng ta đang nhìn thấy đó, nhẫn đến vị lai vẫn sẽ tiếp tục huy hoàng chiếu sáng. Nhưng ánh trăng của vị lai như thế nào chiếu sáng chúng ta trước sự biến đổi trình tự thời gian; nhân sự vô thường? Thảo nào bậc thi nhân phải ký gởi cùng trăng niềm hoài cảm!!!

 Hoặc gọi: “Nguyệt đáo trung thu phân ngoại minh, nhân sanh năng độ cơ chung thủy”. Trăng khuyết rồi trăng lại tròn, trăng mờ rồi trăng lại tỏ. Thế nhưng đời người chúng ta tueá nguyệt qua đi làm sao trở lại được?

 Cổ đức nói: “Trăng tròn, trăng khuyết vẫn là trăng, vốn không chỗ tối, thử hỏi nơi nào sáng?” Xem ra vầng trăng sáng kia, tuy có tròn, có khuyết, có mờ, có tỏ; thật ra đó chỉ là sự vận chuyển của tinh cầu, cho đến hiện tượng vầng trăng bị mây che khuất đi, cũng vẫn là như vậy.

 Đối với bản thể của trăng mà nói, thì trăng vốn không có tròn khuyết; tối, sáng; mờ tỏ. Bản chất của trăng từ thủy tới chung vĩnh hằng vẫn là trăng sáng.

 Do vậy, nếu chúng ta hằng giữ được tâm sáng trong như nhật nguyệt, thì bất kể trăng tròn, trăng khuyết, trăng mờ hay trăng tỏ, vẫn bảo tồn được đức tính thường tại. Điều đó là sự thật, không cần phải nghi ngờ; chỉ cần trong tâm chúng ta có trăng sáng, tất sẽ roõ nghĩa: “Thái dương treo cao không, minh nguyệt chiếu tâm linh; tâm ta có nhật nguyệt, sợ gì không trăng sáng?”Và thiết thực hơn nữa, chúng ta cùng nhau phát huy vầng trăng sáng đó thành hiện hữu cao thượng:

Xin nguyện làm vầng trăng sáng

Cao treo giữa đêm không

Soi sáng khắp nhân gian

 Xin nguyện làm vừng đông thái

Sưởi ấm khắp đại địa

 Trưởng dưỡng vàn muôn vật.

 

Con Đường Xử Thế^

應世之道

Câu chuyện cười: “Mèo bắt chuột” kể rằng: Có một chuù mèo đi rình bắt chuột, chuột con biết được, nhanh nhẹn trốn vào động kín. Chuù mèo đến nơi liền giả giọng chó sủa. Chuột con nghe thấy tiếng chó sủa, quyết đoán: Chú mèo kia chắc chắn là đã bị bác chó dọa nạt chạy mất dạng rồi. Thế là chuột con ung dung bò ra khỏi hang. Không bỏ qua cơ hội, mèo ta lập tức túm ngay chuột con. Chuột con không chịu thua liền hỏi: “rõ ràng là tôi vừa nghe thấy tiếng chó sủa gầm vang, thế tại sao bác còn đứng ở đây?” Gã mèo đắc ý đáp: “năm nay thèm muốn ăn hỗn món ăn, vì thế nếu không tìm cách học ngôn ngữ thứ hai, làm sao tiến hành được!” – Con người muốn sanh tồn, tất nhiên cần phải dự bị cho mình một số điều kiện sanh tồn. Đó chính là phương án ứng xử thế

Liên quan đến “phương án ứng xử thế” có 4 điểm sau để chúng ta cùng thảo luận.

1. Nhẫn nại: Lực lượng nồng cốt để thành tựu nghệ thuật ứng thế.

- Trong cuộc sống nhân gian, nhẫn nại là sức mạnh tuyệt vời nhất. Nhẫn nại không phải là thua thiệt, cũng chẳng phải là không có năng lực ứng đối; ngược lại, khi đối diện với những sự kiện bị hủy báng, người có tính nhẫn nại liền biết vận dụng tâm chất trực để lý giải vấn đề sao cho xứng tình hợp lý. Và trong thế giới tâm, đức nhẫn nại hoàn toàn không tiềm ẩn một chút hận thù, tật đố nào, mà chỉ có hòa bình và bao dung. Nhẫn nại là pháp ứng đối xử thế cao thượng. Đại địa do sức nhẫn chịu sự giẫm đạp của tất cả mọi loài mà huân đúc nên sức mạnh nhẫn nhục cao thượng vô hình. Chúng ta làm người cần nên học tập đức nhẫn của đại địa, mới có thể thành tựu được đức hạnh nhẫn nại, và mới chân thực có đủ sức mạnh ứng xöû thế.

2. Bao dung: Pháp tu dưỡng hạnh làm người cao cả.

- Hư không do có đức bao dung vạn hữu, mà trở thành cao rộng vô tận. Chúng ta trong cuộc sống giao tiếp, cần nên học tập và tu dưỡng đức bao dung rộng lượng như hư không, thì mới được người khác tôn kính và tin yêu. Hạnh bao dung là một trong những pháp tu dưỡng thiết yếu hoàn thiện nhân cách làm người. Làm người nếu đối với sự lợi lạc của người khác mà chỉ có từng phần cân ly so đo tính toán, hoặc giả, người khác có một điểm nhỏ sai trái không những không thể bỏ qua mà còn khuyếch đại (tầm thường biến thành trọng đại). Hoặc ngược lại, đòi hỏi người khác phải bao dung mình, phải đối đãi mình rộng lượng. Không cần thuyết minh, chúng ta đều biết người đó đã tự hiện lộ ra tâm tánh nhỏ nhen, ích kỷ. - Một tách trà có thể dung nạp 500cc nước; một căn phòng với diện tích 100m2 dung chứa được 300 người; căn phòng với diện tích 500m2 tất nhiên sẽ dung chứa được 1000 người. Thế nên tâm người có lượng khoan dung bao nhiêu, tức đã thành tựu đức bao dung quảng đại bấy nhiêu.

3. Nhu hòa: Pháp đối đãi cư xử thành công trong nghệ thuật ứng thế.

- Trong pháp ứng xử, tính nhu hòa mềm dẻo sẽ khắc phục được tính thô cứng. Nước do có bản chất nhu nhuyến mà thành tựu được năng lực xuyên thủng suốt tảng đá to cứng. Thế nên, trong cuộc sống, nếu chúng ta biết ứng dụng tính nhu hòa, an nhẫn để đối đãi thì tất cả mọi khó khăn trở ngại đều có thể hóa giải dễ dàng. Hiện nay lưu hành quản lý học, pháp quản lý tuyệt vời vẫn là trực diện quản lý bản chất tâm của chính mình. Bản chất tâm của chính mình nếu quản lý được trọn vẹn chu đáo từ hạnh đức từ bi, nhu hòa, nhẫn nại, cho đến thành tựu quản lý “nhân ngã nhất như” mình và người là một, thì đó chính là pháp quản lý cao đỉnh nhất.

4. Nhớ ơn và báo ơn: Tích lũy tư lương phước điền.

- Người có đức hạnh nhớ ơn và báo ơn, người đó sẽ trân quý tất cả sự vốn có của chính mình, và không ngừng nỗ lực đem tài năng phụng hiến đền đáp người khác đã hy sinh biết bao sự nghiệp xương máu, tâm trí để đem lại cho mình cuộc sống ấm no hạnh phúc; sao cho xứng đáng với lời cổ nhân truyền dạy “uống nước nhớ nguồn, báo đáp thâm ân”. Vì vậy nhớ ơn và báo ơn chính là cuộc sống phú quý nhất.

- Người biết quản lý lấy ba nghiệp thân, khẩu, ý của chính mình sẽ không bị phiền não quấy nhiễu, và không có sự tranh chấp, chiến tranh trong bất luận hoàn cảnh nào, trụ xứ nào.

Cuộc sống “Thường, lạc” an trú trong “từ, bi, hỷ, xả” chính là diệu pháp ứng xöû thế theo bốn điểm như trên.

 

Lẽ Đương Nhiên^

(當然而)

 

 -Nhöõng söï phaûi traùi toát xaáu trong ñôøi, có cái là đương nhiên nhưng có cái không phải đương nhiên; Điều đương nhiên thì không cần đem ra bàn luận. Bằng ngược lại, nếu không phải là điều đương nhiên, sẽ bị bẻ gãy, hoặc oán trách, hờn giận, khiến cho tâm trí không được an nhiên, tự tại. Thuận cảnh, đương nhiên là tốt đẹp; nhưng nếu là nghịch cảnh, thì đương nhiên là không dễ dàng như ý muốn. Thế nhưng, nếu chúng ta thấu hiểu được điều mà gọi là “nghịch đến, thuận nhận”. Đem điều không đương nhiên đó, xem nó như là đương nhiên, thì mọi sự đều trở thành xuôi buồm thuận gió, vui tươi, hạnh phúc vô hạn.

 - Trong thế giới tự nhiên, mưa thuận, gió hòa, làm cho vạn vật sanh trưởng; sương tuyết làm cho vạn vật tươi nhuận. Trong quá trình cuộc sống của đời người, cha mẹ quản giáo con cái vạn nghiêm là điều đương nhiên thôi, bởi vì cha mẹ muốn con cái mình trở nên người tốt lành, có tương lai tươi sáng. Thầy cô giáo huấn, nghiêm khắc ép buộc học sinh dụng công học tập là điều đương nhiên, bởi vì thầy cô giáo mong muốn giúp học sinh có được thành tích tốt. Giữa các bạn đồng học có sự cạnh tranh cũng là điều đương nhiên thôi, bởi vì có cạnh tranh mới có sự tiến bộ. Cuộc đời thế thái nhân tình cũng là đương nhiên thôi, bởi vì thế nhân mong muốn bạn phát huy cuộc sống đủ tình trọn nghĩa. Quân đội đòi hỏi người quân nhân phải nghiêm minh tuân thủ kỷ luật, luyện tập muôn phần nghiêm khắc dụng công là đương nhiên, bởi vì trên chiến trường không thể có một phân hào sai xuất. Ông chủ yêu cầu bạn làm thêm công việc, đó cũng là điều đương nhiên, bởi vì có tăng năng suất, mới có được thu hoạch lợi ích lớn.

 - Con cái đòi hỏi cha mẹ sự giáo dưỡng, học hành, thì cũng là điều đương nhiên, bởi vì giáo dưỡng là trách nhiệm của cha mẹ. Người bạn nghèo thường đến vay mượn, cần cầu sự giúp đỡ của bạn thì cũng là điều đương nhiên thôi, bởi vì anh ta nghèo khó mới mong cầu bạn hợp lực giúp đỡ phần khốn khó đè nặng trên vai.

 - Vì vậy, trong cuộc sống, nếu chúng ta biết khéo chuyển hóa cái nhìn tầm thường nông cạn, thành cái nhìn quảng đại; nghĩa là đem những điều không đương nhiên, hoán chuyển nhìn thành điều đương nhiên, thì rất tự nhiên, bạn sẽ cảm nhận được tâm bình, khí hòa, không hề có sự oán trách, giận hờn. Từ đó mới rõ tiết xuân ấm áp, khiến cây lá đâm chồi nảy nụ khai hoa. Tiết hạ nóng nực; tiết thu mát mẻ; tiết đông tuyết rơi lạnh lẽo, cô tịch... tất cả đều là lẽ đương nhiên.

 - Người bạn kia giàu có bởi vì họ biết cần cù, kiệm ước cho nên họ giàu có là đương nhiên. Người bạn nọ phát đạt nhanh chóng, đó là nhân duyên phước đức của anh ta. Hơn nữa, trong cuộc sống anh ta biết quảng kết thiện duyên, đương nhiên anh ta sẽ thành tựu được vinh quang hiển đạt. Người nhà hàng xóm lân cận an lạc, hòa thuận, đó cũng là điều đương nhiên, bởi họ có sự giáo dục, tu dưỡng tốt. Người bạn nọ được thăng quan tiến chức, nhận lãnh bỗng lộc, thì đó cũng là điều đương nhiên, bởi vì họ có đủ điều kiện tốt, kết hợp cùng thời vận.

 - Trong cuộc sống thọ nhận sự khổ khó thì cũng là điều đương nhiên, bởi vì cuộc sống nếu không trải qua sự ngaäm đắng nuốt cay, nằm gai nếm mật, thì làm sao thành bậc thượng nhân? Gặp phải khó khăn thì cũng là điều đương nhiên thôi, bởi vì cuộc đời nếu không từng đi qua đoạn đường giá rét buốt xương, thì làm sao có được ngày hoa mai nở rộ, tỏ ngát hương thơm? Thọ nhận sự đổi trắng thay đen, hoặc bị người khinh khi, chán ghét... thì cũng là điều đương nhiên thôi. Suy cho cùng, nghĩ cho tận thì trong sự “đương nhiên” ấy. Có biết bao là hương vị kỳ mỹ, thành tựu công đức. Trong “Phật Quang bổ thần ngôn” có câu: “Trong biển người chìm nổi, thọ khổ, thọ nạn là điều đương nhiên, chỉ cần tùy hỉ, tùy duyên là có thể tìm ra được thông lộ. Trên cuộc sống thế gian, cho người sự an vui là điều cần đương nhiên; chỉ cần thấu rõ việc cần làm, và nên làm tất sẽ thành tựu được khả năng cống hiến.

 - Cuộc sống ở đời, chỉ cần bạn hiểu được mình và người, đem những điều không đương nhiên bieán thành điều đương nhiên, thì có vấn đề gì là không thể giải quyết?

 

Tâm hồn trẻ thơ^

赤子之心

 

Tâm hồn trẻ thơ là gì nhỉ? Bạn có tâm hồn trẻ thơ không?

Thưa các bạn, ---Tâm hồn trẻ thơ còn được gọi là anh nhi hạnh; đó chính là Phật tâm, là tâm hồn trắng ngây thơ chơn thuần đáng yêu đáng quý. Anh nhi hạnh đó chính là tấm lòng bao la của mẹ, là tấm lòng cao cả của cha; là tấm lòng cao thượng quảng đại của các bậc thánh hiền. Hoặc có thể nói, tâm từ bi, lòng thành thật, tánh thiên chơn, hạnh ý thiện mỹ….đều là bản năng tự nhiên, là thực chất của anh nhi hạnh.

Khi bạn nhìn thấy chúng sanh thọ khổ, tâm bạn khởi động lòng thương, không kham nhẫn nhìn chúng sanh thọ khổ. Hoặc nhìn thấy người khác gặp phảiï tai ương ách nạn, bạn sanh lòng trắc ẩn thương xót và tìm cách giúp đơ.õ Cho đến chủ động thâu nạp các em bé không gia đình, sống lang thang nơi gầm cầu, góc chợ…thành lập nhà tình thương cô nhi nuôi dưỡng, bảo bọc, dạy dỗ cho các em nên người. Quan tâm chăm sóc người già lão, neo đơn, quả phụ; Chân tình tận tâm cứu tế các nhà thưong binh liệt sĩ..Tất cả những việc làm đó chính là tấm lòng son sắc xuất phát từ bản năng của tâm hồn thuần khiết.

 Tâm hạnh”Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh” của các bậc đại bồ tát là tâmthuần khiết; bởi vì”bitríhạnhnguyện” của các ngài đều từ chơn tâm phát khởi và hiện hành. Do vậy, Đức Bồ tát Đại Trí Văn Thù được gọi là "Văn Thù đồng tử, "; Ngài Thiện Tài Đồng Tử với thiên chơn đi tham học 53 địa điểm với 53 vị thầy để tầm cầu chơn lý, cho nên cũng lấy “Đồng tử“ để gọi tên. Còn các vị mà được thế gian tôn xưng với tên gọi thiện mỹ cung kính là bậc“Thiên nhân chi đạo sư “ như Lão Tử, Khổng Tử, Trang Tử, Lộ Tử, Chu Tử …là vì các vị này trọn một đời sống với tâm hồn thuần chơn cao thượng quảng đại tất cả vì sự nghiệp đạo đức trăm năm trồng người của đàn hậu học.

Tâm hồn của những người con trọn lòng hiếu nghĩa vì đạo, vì nước như người con gái mang tên Hoa Mộc Lan vượt phận nhi nữ, thay cha tòng quân nhập ngũ; Thế Dung dõng mãnh đến tận cửa quan đánh trống kêu oan cứu cha; Đồng nữ Diệu Huệ hồn nhiên giảng kinh hoằng pháp; Đồng nữ Từ Hạnh tận tuỵ cứu giúp người già yếu…là những tâm hồn anh nhi chơn thiện mỹ lưu danh sử sách.

Trong thời Trung Quốc đế vương, Đường Thái Tông là người được thiên hạ tôn nghi là bậc có tấùm lòng son sắc bậc nhất. Có một lần nọ, Thái Tông ở trong cung đang vui đùa với chú chim nhỏ, bỗng nghe báo tin Quỳ Trưng đến; Thái Tông cấp tốc đem chú chim nhỏ dấu vào trong tay áo rộng; sau đó tỏ ra rất tự nhiên cùng Quỳ Trưng đàm đạo. Nhưng thật ra, trong lòng vô cùng ái ngại lo lắng cho chú chim nhỏ bị chết ngộp trong tay áo. Ông lo đến nỗi khuôn mặt toát đẫm mồ hôi. Qủa đúng tấm lòng từ bi son sắc của ông hiển lộ khiến người dân không ai không cảm mộ.

Đời nhà Thanh, Càn Long hoàng đế cũng được coi là vị vua có bẩm chất thuần chơn anh nhi. Một ngày nọ, người quần thần tên Kỷ Hiểu Lan đứng phía sau lưng nhà vua, và gọi nhà vua bằng tên gọi”Lão đầu tử.” Không khéo bị vua Càn Long nghe được. NhàVua cố ý lấy cơ hội này để làm khó Kỷ Hiểu Lan, bắt ông phải giải thích ý nghĩa của lời gọi đó là ý gì? Bằng không giải thích được sẽ bị xử phạt chém đầu. Kỷ Hiểu Lan vốn là người rất vui tính, độ lượng, lại thông minh tài trí. Thế nên khi nghe vua hỏi, liền khiêm hỷ đáp: "Hoàng đế là bậc được chúng dân xưng hô”vạn tuế”,mà Vạn tuế có nghĩa là”già”, còn hoàng đế chính là bậc đàn đầu của vạn dân, cho nên gọi là “đầu”; lại nũa, Hoàng đế là bậc Thiên tử, nên gọi tắt là”tử”.--- Vua Càn Long và vị quan Kỷ Hiểu Lan, là người không những tài trí căn cơ tương giao, tương ngộ mà còn là người cùng có bẩm chất anh nhi hạnh đáng yêu đáng quý.

Trong truyện Nhị Thập Tứ Hiếu của Trung Quốc, Lão Lai Tử, tuy tuổi đã ngoài 60; nhưng đối trước cha mẹ già80, ông vẫn tỏ ra mình là người con nhỏ bé, tận lòng cơm dâng, nước rót, đông ấp lạnh, hạ quạt nồng và thường hay làm những trò hề để làm vui cho cha me. Lại nữa, Thuý Kiều bán mình chuộc cha, cứu gia đình ra khỏi đột biến tai ương khiến cho Kiều phải 15 năm sống lưu lạc, trôi nổi trong thân phận làm gái lầu xanh. Song Kiều vẫn không một lời oán than, mà lòng nàng luôn luôn vọng tưởng nhớ thương cha mẹ. Đem về nghe tiếng chim ríu rít trong tổ ấm, Kiều chạnh lòng thương sót cha mẹ ma øthốt lời than rằng:

“Chiều chiều ra đứng cửa sau,

Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều”…..

”Xót người tựa cửa hôm mai,

Quạt nồng ấm lạnh những ai đó giờ.”….

 Những tấm gương hiếu nghĩa đó, từ cổ chí kim; từ đông sang tây không hiếm. Ngoài “Nhị thập tứ hiếu có thầy Mẫn Tử, thầy Tử Lộ… mà thế hệ chúng ta được học từ tiểu học, còn một số gương sáng ngời có thể ít người biết đến, như trong truyện Kiều có hai câu thơ thuyết minh:

Dâng thơ đã hẹn nàng Oanh

Lại thua ả Lý bán mình hay sao?

 Đời Hán có nàng Đề Oanh là con gái Thuần Vu Ý làm quan phạm tội cung hình. Nàng dâng thư lên vua Hán Văn Đế xin chuộc tội cho cha. Vua cảm lòng hiếu của nàng mà tha tội cho cha.

Trong thiền môn, với tâm chơn thuần trong sáng, qua nhân cách đối đãi giữa tình thầy trò, vị trưởng lão đại lao cho vị trụ trì đi châm nước pha trà, dọn trái cây đãi khách. Đệ tử dụng công tu học với chí nguyện tục diệm truyền đăng báo đáp thâm ân.

Anh nhi hạnh, là danh từ nói nôm na để diễn tả về những lời nói, những hành vi cử chỉ của trẻ con; còn người lớn mà vẫn bảo trì được tâm hồn sống vô tư hồn nhiên của trẻ con, tức biểu hiện người đó hằng sống với tâm hồn trong sáng chơn thuần. Sống với tâm hồn trong sáng thuần chân như vậy, nếu là vị quan trưởng sẽ tận tuỵ làm tốt vai trò, chức năng của vị quan trưởng; nếu là vị gia trưởng sẽ dốc lòng vì gia đình, vì sự nghiệp hiện tại và tương lai của con em mà không ngừng trau dồi nhân cách và cống hiến. Từ những sự kiện hiện thực thuyết minh trên để đưa ra kết luận, thì “Anh nhi hạnh, tức tâm hồn trẻ con ” đó chính là “ bồ đề tâm” vốn có cần được phát huy ở mỗi chúng ta!

 

Ý NGHĨA QUÁN TỰ TẠI^

觀自在的意義 

 

  Người người đều có “ đức Quán tự tại”, cần gì phải nhọc công viễn cầu tha phương ? Đức quán tự tại đó là ai?

  「Quán tự tại」là một trong những danh hiệu của đức Quán Thế Âm bồ tát. Danh hiệu đó mang ý nghĩa rằng : chỉ cần bạn biết quán chiếu chính mình, nhận ra được chính mình rõ ràng , thì ngay giờ phút đó chính bạn đã thành tựu được tự tại rồi.

   Điển dụ như trong mối quan hệ tương giao, nếu bạn đủ năng lực quán chiếu đến trình độ giữa mình và người 「nhân ngã không hai」 thì có điều gì là không tự tại? Rồi khi quán chiếu cảnh giới mà tâm bạn không những không bị ngoại cảnh lôi cuốn chỉ đạo, mà còn khéo biết làm chủ tâm mình, khiến chuyển hóa được cảnh giới trở nên tốt đẹp hơn, thì thử hỏi có cảnh nào là cảnh khiến cho bạn không tự tại? Đối diện bất luận sự việc nào, cho du ølà sự tình phức tạp rối rắm đến đâu, nhưng nếu bạn biết nhìn nó với cái nhìn thư thái đơn giản thì có việc gì là việc khiến cho bạn không tự tại? Chúng ta quán chiếu tư duy và vận hành được đạo lý’’Bình thường tâm thị đạo” trên bất luận tình huống đối đãi, thì đạo lý huyền diệu thậm thâm kia sẽ mở rộng cửa đưa chúng ta vào thế giới nội tâm huyền diệu. Và rất tự nhiên chúng ta sẽ hiểu rõ rằng : 

  Tự tại, tự tại! Tự tại nơi nơi cầu; Chỉ cần tâm mình tự tại thì tất cả mọi cảnh tình, mọi sự lý tự nhiên sẽ trở thành tự tại thôi

  Cuộc sống ở đời, nếu có tiền của mà đời sống không được tự tại thì cuộc sống đó có gì đáng an vui ! Thế nhưng, cuộc sống con người trên thế gian, 「 cái có kia」thông thường chỉ là「cái có chướng ngại」,「có buồn phiền.」Do vậy, có rất nhiều người tiền của có đến vàng kho bạc bể, giàu có đến nỗi thân tâm bất tự tại, luôn sống trong sự phập phồng lo sợ; cho đến có gia đình, có ái tình, có danh vị chức tước, nhưng cuộc sống của những cái có đó vẫn luôn luôn là cuộc sống nô lệ, không tự tại. Bởi vì con người đó chỉ biết tầm cầu, chạy đuổi nắm bắt lấy cái「cóù của dục vọng , của vọng tưởng điên đảo.

  Những nhân vật có quyền lợi chính trị, khi đối đầu với những vấn đề gay cấn, thường chỉ biết bứt đầu gãi tai, biểu hiện dáng vẻ bất an , thống khổ. Người có cơ sở công ty đồ sộ, nhưng khi tiền tài lưu chuyển không linh hoạt  thì tâm trí xáo động đến ăn không ngon , ngủ không yên, thần sắc bơ phờ, cho đến đứng ngồicùng không một dáng an nhiên tự tại.

  Trong cuộc sống thế gian, nếu Chúng ta vừa có được tài phú danh vị, lại vừa có được cuộc sống tự tại thì đương nhiên đó là cuộc sống lý tưởng tuyệt vời! Bằng ngược lại, nếu chỉ thành đạt được cái danh lợi vật chất thế gian , mà tâm hồn không một phân tự tại, thì thử hỏi cuộc sống ấy có vững bền? Có an lạc hạnh phúc?  Và đời người ấy có ý nghĩa gì chăng?

 Chúng ta hồi đầu nhìn lại xem, khi còn ở độ tuổi ấu thơ, thường là có cha mẹ quản giáo, chúng cho rằng không được tự tại. Đến lúc thành niên lập gia đình, thọ nhận sự đòi hỏi của đôi bên nội ngoại, liền cảm thấy như bị trăm ngàn sợi dây vô hình gò bó, trói buột, không tự tại. Rồi khi trưởng thành, phục vụ xã hội với các loại hình chức nghiệp lại cảm thấy biết bao điều phức tạp phiền toái, không xứng ý hợp tình, khiến thân tâm tràn đầy nỗi bức xúc, không phút giây thanh thản.

Từ đó mà suy, thành tựu cuộc sống ý nghĩa không ngoài bình nhâït sinh hoạt biết nắm bắt kỹ năng hỷ xả, buông xả, tôi luyện mình phong thái thân tâm tự tại.

 Đứng trước nhân ngã, thị phi, bạn giữ đượcthân tâm tự tại? Đứng trước danh lợi phú quý chúng ta vẫn bảo trì được tâm an tĩnh, tự tại? Hoặc đứng trước sanh lão bệnh tử liệu chúng ta có đủ sức giữ vững tâm thái an nhiên tự tại?

Trong cuộc sống, nếu tâm trí chúng ta không thường tồn an tĩnh tự tại, thì cho dù sự nghiệp có nhiều, tiền muôn của núi đi nữa, cũng chỉ la øgia tăng thêm sự trói buột mà thôi! Lại nữa, nếu đứng trước tám ngọn gió : tán dương ca tụng, hiềm khích, huỷ báng , danh dự, lợi dưỡng , suy tàn khổ đau và khoái lạc kia quyến rũ, thổi lốc độc hại mà tâm chúng ta vẫn không bị lay động thì rất tự nhiên mà nói, chúng ta đã thành tựu được đức hạnh tự tại giải thoát rồi. Và ngay lúc đó chẳng phải chính mình là đức 『Quán tự tại』đó sao!

 

12 câu hỏi về cuộc đời^

人生12問

 

Làm người, chúng ta cần phải thời khắc tự mình phản tỉnh lấy chính mình, mới có đủ năng lực tu bồi đức hạnh, tiến tu đạo nghiệp. Dưới đây là 12 vấn đề mà chúng ta cần nên tư duy phản tỉnh tự hỏi lấy chính mình.

1-Mình sanh ra trên thế gian này, mình đã từng thành tựu được những gì có lợi ích cho nhân thế?

2-Đối với ân đức của các bậc thầy tổ, cha mẹ; mình đã tận tâm, tận lực báo đáp?

3-Mình đã thọ nhận của thế gian biết bao nhiêu là thiện duyên hỗ tương dưỡng dục; mình đã hồi đáp được bao nhiêu?

4-Đối với các bậc thầy tổ, quyến thuộc bạn bè, xã hộiv.v… mình có thiếu nợ họ chăng?

5-Thế gian cung cấp cho mình vật thực, quần áo, nhà ở, dụng cụ, thuốc thang, học hành….mình cần nên có bổn phận đền đáp như thế nào?

6-Tự mình có thấu suốt được nguồn gốc nhân duyên bản lai diện mục của chính mình, khi sanh ra ta từ đâu đến, và khi hết duyên ở thế, từ giã cõi đời ta sẽ đi về đâu? và ta ra đi với thú hướng, sự nghiệp như thế nào?

7-Mình có từng lắng tâm quán sát thế giới nội tâm của chính mình và đếm chính xác mỗi ngày bao nhiêu lần mình trôi lăn, lặn hụp, bay nhảy trong trong các cảnh giới tam đồ, lục đạo của thiên đường, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh?

8-Mình có thể kiểm soát rõ về chính mình trong sinh hoạt mỗi ngày đối mặt với các bệnh dịch độc nhiễm tham sân, si, mạn, nghi, ác kiến…mình làm thế nào để hóa giải trị liệu?

9-Mình ngày ngày có hằng sống với thức tâm tỉnh cảnh giác ba nghiêp của chính mình? Mỗi lần cảnh tỉnh điều gì?

10- Vận chuyển giũa dòng sống thế nhân, chúng ta cần nên làm những gì để có được cuộc sống vui tươi tự tại?

11- Mình cần phải ứng phó thế nào để tiêu trừ phiền não, phá tan vô minh, tìm về chân tâm bản tánh?

12- Mình cần phải có chương trình kiến tạo tư lương và sắp đặt như thế nào cho cuộc sống của chính mình trong hiện tại và trong mai hậu?

Trên là 12 vấn đề về cuộc sống con người, bao gồm các vấn đề giữa mình và người, giữa mình và xã hội, giữa mình và quốc gia.

Thông thường chúng ta mỗi ngày chỉ suy nghĩ đến lợi ích cho riêng mình, rất ít quan tâm đến phúc lợi của người khác. Do bởi chúng ta thường đem cái tự ngã kiến lập trên quốc gia xã hội mà tạo nên nhiều tệ hại, rồi khi gặp điểm khó khăn, trắc trở, trước không chịu kiểm điểm lấy chính mình, mà lại oán trời trách đất và đổ lỗi cho người; thậm chí là oán trách vận mệnh đen tối đưa đẩy, chứ không biết những trắc trở kia là do chính tư tưởng hành vi bất chánh đang cư trú trong nội tâm của chính mình tạo nên, do vậy phải lặn hụp trong cuộc sống phiền não, lo âu, buồn khổ.

Lục tổ Huệ Năng thường khuyến cáo các môn đồ: ”Vận tốt, tâm tốt sớm phát đạt vinh hoa. Tâm tốt, vận không tốt, đời sớng vẫn ấm no hạnh phúc. Vận tốt, tâm không tốt, e rằng không thể đảm bảo được tiền trình cuộc sống. Tâm, vận đều không tốt thì cả một đời nhận chịu sự khổ cực, nghèo cùng “. Châu Lợi Bàøn Đà Già sanh tánh ngu muội. Do biết thành tâm khẩn cầu sám hối nhũng chướng nghiệp tội trong qúa khứ; đồng thời nỗ lực hành trì lời Phật giáo huấn mà cuối cùng ông đã thành tựu được đạo qủa. Còn Đề Bà Đạt Đa vốn được sanh ra trong dòng quý tộc vương tử, nhưng do tâm nổi tham dục lợi dưỡng, phá tăng hại Phật mà cuối cùng phải nhận lấy ác qủa đọa vô gián địa ngục.

Do vậy, bậc thánh nhân nó rằng, quán nhìn việc xưa mà đoán biết được việc hiện tại; bất luận là khoa học kỹ thuật tiến bộ đến đâu, chúng ta vẫn cần phải tự mình đặt yêu cầu cho chính mình, kiện toàn cho chính mình mới bảo đẳm được sự sanh tồn. Lại nữa “Phản quan tự kỷ”û, hằng sống với thức tâm tỉnh giác, chăm bón thiện duyên, làviệc không thể thiếu để cất bước hướng vào cảnh giới an lạc giải thoát!

 

Tầm quan trọng của sự hít thở^

(呼吸的重要)

 

Trong kinh "Tứ Thập Nhị Chương"đức Phật hỏi đệ tử “sanh mạng con người sống trong bao lâu? ---Có vị Tỳø kheo đáp: "Sanh mạng con người sống trong vài năm".Tiếp đó có vị đáp: "Trong một ngày". Cũng có vị trả lời: "Trong một bữa ăn."Cuối cùng đức Phật đưa ra đúc kết: "sanh mạng của con người nằm trong hơi thở".

 Sanh mạng con người rất là quý giá. Sự quý giá đó được kiến lập trong hơi thở ngắn ngủi, tạm thời. Điều đó đã chứng minh được tầm quan trọng của hơi thở là như thế nào!

 Khi có ánh sáng mặt trời chiếu soi, chúng ta thường không chú trọng đến tầm quan trọng của mặt trời. Khi có dòng nước chảy, chúng ta cũng không biết được một giọt nước có giá trị quý báu như thế nào? Cũng vậy, khi chúng ta còn có thể hít vào thở ra, thường không ai biết nghĩ đến sự hít thở có tầm quan trọng quý giá như thế nào! Con người chúng ta một khi không thể hít vào thở ra được nũa, thì tất cả mọi tiền tài của báu, danh lợi, địa vị, cho đến thân bằng quyến thuộc đối với chúng ta có gì là quan trọng, có gì quý giá?

Khi hơi thở còn hoạt động, thì các cảm quan của chúng tanhư mắt có thể nhìn; tai có thể nghe, tay chân có thể cử động làm việc; miệng lưỡi có thể nói chuyện, ăn uống v.v… Nhưng một khi hơi thở không còn tồn tại nữa, thì tất cả tai, mắt, mũi, lưỡi, thân thể…sẽ không còn công dụng gì nữa! Thế nên sanh mạng con người tồn tại khi hơi thở còn khả năng hoạt động!

Trên cơ thể chúng ta, các bộ phận cảm quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân đều có công năng hoạt động riêng của chúng, nhưng hơi thở có thể thay thế các cảm quan triệu tập tất cả công dụng.

Sự hít thở có công năng rất rông lớn và rất linh hoạt. Đôi mắt chỉ dùng để nhìn ngắm mà thôi, nhưng sự hít thở có thể cảm nhận được thật sâu sắc trước những hoàn cảnh khác nhau. Lỗ tai là chỉ dùng để nghe, còn sự hít thở có thể cảm thính được sự khác lạ của nhân tình âm thanh lạnh nhạt hay nồng nhiệt ấm áp. Ngoài ra sự hít thở có thểù thể nghiệm được sự biến hoá của ngoại cảnh, cũng có thể cảm nhận được những nội quán tâm địa. Sự hít thở giúp chúng ta cảm nhận được chính mình đang sống với tâm hồn tự tại, thanh thản, sảng khoái cho nên hơi thở thênh thênh nhẹ nhẹ; Và sự hít thở cũng có lúc cảm nhận được chính mình bị đả kích bởi sức ép vô hạn, cho nên hơi thở hổn hển, ngắn gấp.

Sự hít thở biểu thị cho sanh mạng của chính mình là một cơ cấu hoạt động tứ thông bát đạt. Đồng thời thông qua sự hít thở sâu chậm, ngắn dài mà chúng ta có thể cảm nhận được sự trường đoản của sanh mạng. Ngoài ra, sự hít thở còn có năng lực cảm sát được bầu không khí trong sạch hay ô nhiễm. Do vậy bảo hộ môi trường hô hấp chính là bảo hộ sanh mạng của chính mình.

Hít thở là một trong những pháp môn tu tập thiền định, điều chỉnh sanh mạng, tịnh hoá thân tâm. Từ hơi thở vào, thở ra chúng ta có thể biết được trang thái hoạt động tâm thức của chính mình. Khí tthở thô nặng, thì nhất định là tâm mình không được an tĩnh; Nếu khí thở thông nhuận, thì chắc chắn là tâm mình đang trong trạng thái hài hòa, mềm diệu. Vì vậy trong các thiền viện, không ngừng vận dụng pháp môn quán sổ tức để hướng dẫn các hành giả tu tập.

Chúng ta sanh tồn trên thế gian, trân quý sanh mạng cần phải trân quý hơi thở. Khi hơi thở còn tồn tại, chúng ta cần phải tận tâm tận lực làm tròn trách nhiệm, làm tròn tâm nguyện của mình đối với nhân gian. Nhũng điều gì cần nên phụng hiến cho quốc gia xã hội; phụng hiến cho cha mẹ, vợ con, thân bằng quyến thuộc thì ngay khi hơi thở còn hoạt động, chúng ta hãy mau chóng xử lý cho thỏa đáng. Và khi hơi thở còn khoẻ mạnh, chúng ta không quên mau chóng rộng kết thiện duyên, bởi lẽ thế gian vô thường, tấn tốc không hẹn cùng người.

 

Tương lai so với quá khứ tốt đẹp hơn^

未來比過去美好

    

Phàm làm người, chúng ta thường có tập tánh hoài nhớ chuyện ký ức quá khứ , liệt ví như người cung nữ mặc dù hiện đang sống trong độ tuổi xế chiều, nhưng lòng luôn hoài nhớ chuyện quá khứ khi mình được đức quân vương tuyển chọn vào cung. Điều đó biểu thị quá khứ tốt đẹp hơn hiện tại;thế nhưng tuế nguyệt không bao giờ dừng lại đợi người. Chuyện quá khứ chung cuộc đã trở thành là chuyện đã qua, cảnh đã biến chuyển. Aùnh tịch dương cho dù vô hạn rực rỡ, nhưng không thể vượt vòng quy luật chu kỳ thời gian, cho nên theo sự vận chuyển, ánh thái dương rực rỡ kia sẽ tiếp cận với hoàng hôn. Vì vậy, chúng ta không nên để cuộc sống cứ mãi trầm nịch trong hồi ức qúa khứ, mà chúng ta cần nên để tầm mắt hướng nhìn về tương lai, thì mới có thể nhìn được cao, nhìn được xa. Bởi vì có vọng hướng nhìn ra được tương lai thì cuộc sống mới có niềm tin yêu hy vọng.

Có một con chó nhỏ, cả ngày truy đuổi tầm bắt lấy cái đuôi be bé xinh xinh của chính mình, nó cứ chạy xoay vòng với cái đuôi của nó. Con chó lớn nhìn thấy vậy, không ngăn được hiếu kỳ, liền hỏi nguyên nhân. Chú chó nhỏ đáp:「Ồ! Chẳng lẽ bác không nghe nói đến nguồn hạnh phúc của con chó nhỏ chúng mình là ở trên cái đuôisao! Em chạy vòng vòng đuổi theo cái đuôi là để truy tầm hạnh phúc, lẽ nào bác không mong cầu hạnh phúc?」

Bác chó già đáp: 「Tôi chỉ biết và chỉ cần nỗ lực hường về phía trước mà tiến bước, hạnh phúc chắc chắn sẽ ở ngay sau bước chân tôi.」

Cũng vậy, chúng ta cần nên sống với niềm tin yêu hy vọng ở ngay trong đời sống hiện tại và tương lai, không nên cứ mãi trầm đắm trong cái hồi ức của thời quá khứ; bởi vì cuộc sống tương lai so với cuộc sống quá khứ sẽ tốt đẹp, trong sáng hơn. Vả lại, có tương lai mới có nguồn hy vọng vô biên.

Chúng ta sống trên cõi đời này, khó mà tránh được mọi thuận cảnh, nghịch cảnh. Lúc thuận cảnh nên thanh đạm vững bước hướng tiến; khi nghịch cảnh cần nên nhẫn, chỉ cần nhẫn được qua, thì tất cả mọi tình huống không thuận lợi sẽ tự nhiên theo cùng thời gian trôi đi. Lại nữa, sự việc thất bại ở hiện tại, chính là lực lượng kinh nghiệm tô bồi cho sự nghiệp tương lai trên mọi mặt được thành công, trong sáng tốt đẹp hơn, như các bậc cổ đức thường nói:” Thất bại là mẹ thành công “ Do vậy, chúng ta chỉ cần khắc cốt ghi tâm, nhớ lấy những điều giáo huấn của các bậc hiền đức của quá khứ để cải tiến cuộc sống hiện tại. Chỉ cần chúng ta chịu cùng người rộng kết thiện duyên thì sẽ có đời sống tương lai tươi sáng vô hạn.

Căn cứ trên giáo lý Phật giáo về nhân qủa ba đời mà nhìn, thì sanh mạng này không phải chỉ có một đời. Do có quá khứ, mới có hiện tại; Do có hiện tại mới có vị lai. Do có vị lai mới có ba đời, và do có ba đời mới có hy vọng. Chúng ta sanh tồn trên thế gian, chỉ cần sống với niềm tin yêu hy vọng thì cuộc sống của ngày mai sẽ càng tươi sáng hơn, như Tổ tiên ta thường nói:” Sau cơn mưa trời lại sáng”.

Cuộc sống thành bại, khó mà định luận được. Nhưng mà, Chúng ta trên công việc làm có thể thất bại, nhưng không thể làm người thất bại; Quá khứ có thể thất bại, song không thể thất bại trong tương lai; cho đến sự thành tựu trong quá khứ bất kể là huy hoàng đến đâu, cũng không thể luận định vinh quang của quá khứ, là thành tựu vĩnh cữu. Sự thành tựu cuộc sống hiện tại mới là quan trọng ; bởi vì một sát na qua đi, hiện tại đã nhanh chóng trở thành quá khứ, và tiếp đó lại có một hiện tại mới khác. Do vậy, cuộc sống của đời người, chúng ta không nên dừng lại trong sự tự mãn ở bất cứ một góc sắc nào, mà nên y trên nguyên tắc của thiện mỹ không ngừng cải tiến, không ngừng thông biến thì tương lai so với quá khứ tất nhiên bội phần trong sáng tốt đẹp.

Nguyên nhân của người không tiến bộ được là ở điểm, người đó luôn luôn tự mình cô lập mình trong cái nhìn hạn hẹp; không dám tự mình đột phá những gút mắc trói buột, hoặc những bế tắc của quá khứ, lại tự mình không chịu tự mình cầu tiến, mà chỉ mải mê lịm đắm trong những sự kiện của hồi ức quá khứ nung đốt; người khác tận lòng cứu giúp cũng vô phương. Do vậy, trên cuộc sống nhân thế, cho dù có rất nhiều thành tựu; những thành tựu đó có phong quang lẫm liệt đến đâu cũng sẽ không ngừng cùng thời gian vần vũ trôi vào quá khứ. Như vậy, thử hỏi, nếu chỉ dừng lại nơi cái hồi ức quá khứ đó, cuộc sống có được giá trị? Nếu chúng ta biết quán chiếu chăm sóc thân tâm mình sống đúng, sống hợp với cuộc sống hiện tại,  chính là đãõ chăm bón tư lương cho sự nghiệp tương lai sáng lạng hơn qúa khứ. Điều đó là pháp lý chân thật tự nhiên, không một tơ kẽ hoài nghi. 

 

Nghèo cùng và giàu có ^

 (貧窮與富有)

 

Nghèo cùng và giàu có là hai danh từ nói về hai thân phận đối đãi. Phần lớn trong nhận thức của con người đều cho rằng: người nghèo cùng thì không có cái giàu có hiện hữu, và ngược lại, giàu có thì không có cái nghèo cùng hiện hữu. Kỳ thật không phải như vậy. Trên thế gian, sự ngèo giàu thật khó phân định. Người giàu vẫn có chỗ nghèo thiếu, và người nghèo khó vẫn có cái phú quý ẩn tàng.

 Nhan Hồi ở nơi đường cùng góc hẻm, nhà nát vách thưa, cơm ngày một chén chan với nước trong, nhưng trong lòng sung mãn an lạc. Như vậy ai dám kết luận ông ta là người nghèo cùng? Ngài Đại Ca Diếp tôn giả ở chốn đồi trọc suối cạn, ngoại trừ ba y, bình bát, cơm ngày một bữa ra, một vật lớn nhỏ nào cũng không có. Thế nhưng, ngài vẫn sống một đời sống tự tại giải thoát. Chúng ta ai dám cho rằng tôn giả là người nghèo cùng? Phản quan mà nhìn, ngày nay người ở nhà cao tầng, có kẻ hầu người hạ, cơm dâng nước rót đến tận miệng. Muốn đi đâu cũng có người đưa kẻ đón, nhưng ngày ngày bị đồng tiền chế ngự tất bật, không một phút giây thanh thản. Hạng người đó đáng gọi là người giàu có chăng? Người đó mặc dù nguồn vốn vật chất, họ luôn luôn có đến bạc kho vàng núi; nhà cửa ruộng vườn bạt ngàn đến cò bay mỏi cánh, nhưng tâm lượng nhỏ nhoi, keo kiệt; một đồng xu nhỏ cũng không dám buông xả. Lòng tham không đáy, khiến cho tâm ý con người đó thời thời khắc khắc chỉ biết nghĩ đến thâu góp, mà thâu góp bao nhiêu cũng vẫn cảm thấy không đủ. Bạn có cho rằng hạng người này là giàu có chăng? Giữa hai hạng người trên, ai là người chân thật giàu có, và ai là người chân thật nghèo cùng? Từ đó mà suy cho cùng thì sự giàu nghèo không thể lấy kim tiền vật chất để đo lường.

Trên thế gian có hạng người mặc dù cuộc sống chật vật, nhưng luôn luôn lấy việc công ích làm vui, lòng họ luôn luôn rộng mở vui vẻ giúp đỡ, bố thí cho người khác. Hạng người này trên mặt sống tinh thần, so cho cùng chẳng phải là hạng “đại phú ông” sao? Ngược lại, hạng người trọn ngày đêm chỉ biết tham đồ lợi ích của người khác. Với lòng tham không đáy, không những không ngừng cầu mong tài vật có thêm nhiều. Phàm có chỗ được nào thì luôn luôn muốn chiếm làm của riêng mình, hạng người như vậy tâm linh nghèo cùng bút mực nào tả xiết?

Kỳ thật, dựa trên quan điểm Phật giáo mà nhìn thì, trên thế gian vốn không có người nào là tột cùng nghèo khó. Nếu chúng ta sống với tâm hồn vô tư, biết vận dụng thời gian và không gian đi làm việc nhân nghĩa, giúp ích người khác, quảng kết thiện duyên; tất nhiên thời gian đó là thời gian hữu ích phú quý. Hoặc bạn biết khéo sử dụng ngôn từ chân thậït thiện mỹ tán thán chỗ tốt của người, cổ vũ khích lệ người làm việc tốt; tất nhiên bạn sẽ là người giàu có ngôn ngữ, phong phú âm thanh. Hoặc bạn biết lấy nụ cười chân thiện khiêm cung hoan hỷ đối đãi tha nhân, thì nội tâm bạn vốn đã sanh trưởng của báu vô giá. Hoặc giả bạn biết vận dụng sức lực mình đi giúp đỡ người, phục vụ chúng dân. Đó chẳng phải là bạn đã có nguồn khí lực sung túc chân thật sao? Thế nên luận về sự giàu nghèo thì, tâm tham không biết đủ, vĩnh viễn là người nghèo cùng. Vui làm việc thiện nghĩa không một tơ hào so đo tính toán thiệt hơn, vĩnh viễn là người giàu có.

Khi nói đến tài phú, không thể chỉ nhìn cái tài phú trong nhất thời, mà phải nhìn cho ra cái tài phú trong suốt cả cuộc sống thực hữu. Cũng không nên chỉ nhìn cái tài phú của một người, mà phải nhìn cái tài phú từ sự cộng hữu. Và nhất là không nên nhìn cái tài phú do sự vơ vét của người khác, mà cần phải nhìn xác thật sự hoạt dụng tài phú đó. Đồng thời cũng không nên nhìn cái tài phú trên hình tướng, mà cần phải nhìn cái tài phú vô tướng của nội tâm.

Người chân thật có trí tuệ, có từ bi tâm, có chánh tín, có tâm hoan hỷ, biết sống thiểu dục tri túc với tâm tàm quý…Những đức tánh ấy, chính là nguồn tài phú vô giá của mỗi chúng ta. Kinh Kim Cang đức Phật dạy rằng: “Nếu chúng ta biết lấy bốn câu kệ :

“Chư hành vô thường

Chư pháp vô ngã

Sanh diệt diệc dĩ

Tịch diệt vi lạc “.

Tinh cần tư duy quán chiếu và thực dụng vào đời sống thường nhật, đồng thời đem bốn lời kệ ấy cùng người rộng kết duyên pháp, giảng giải, hướng dẫn người cùng tu tập chánh pháp, thành tựu giác ngộ, giải thoát thì công đức pháp thí đó rộng lớn muôn vàn so với công đức bố thí tài vật mà thế gian cho là qúy giá như vàng bạc, ngọc ngà, châu báu. Vì vậy, giàu có và nghèo cùng chúng ta nên như vậy mà quán sát!