Minh Chi
(Học viện
Phật giáo Việt Nam)
Cư sĩ là ngoại hộ thiện tri thức, cho nên nếu cư sĩ có một
nhận định đúng đắn về vai trò của mình, tu học và sống theo
đúng vai trò đó thì chắc chắn Giáo hội PG sẽ có một bước
tiến bộ vượt bậc.
1. Từ cư sĩ xuất hiện đầu tiên ở kinh nào?
Theo Hòa thượng Thánh Nghiêm, tác giả cuốn Phật giáo
chánh tín thì từ cư sĩ xuất hiện lần đầu tiên trong kinh
Duy Ma Cật. Trong kinh, ngài Duy Ma Cật được gọi bằng
ba danh hiệu: một là Trưởng giả trong phẩm "Phương
tiện", hai là Thượng nhân hay Đại sĩ trong
phẩm "Văn Thù thăm bệnh", ba là Cư sĩ trong phẩm "Bồ
tát".
Theo các ngài Cưu Ma La Thập, Huyền Trang, Trí Khải thì ngài
Duy Ma Cật nguyên là một vị Bổ xứ Bồ tát (vị Bồ tát sắp
chứng quả Phật) trên cõi Phật A Thiềm ở phương Đông. Để hỗ
trợ cho sự nghiệp giáo hóa của Phật Thích Ca ở cõi Ta bà,
ngài Duy Ma đã thị hiện thành một vị tại gia mà trình độ
giác ngộ, giải thoát của ngài khiến cho một vị Bồ tát trí
tuệ hàng đầu như Bồ tát Văn Thù cũng phải kiêng nể. Như vậy
trong kinh Duy Ma, từ cư sĩ đồng nghĩa với từ đại
Bồ tát.
Từ cư sĩ trong các kinh A hàm:
Trong kinh Trường A Hàm có từ cư sĩ báu, chỉ
cho vị quan đại thần trông coi kho vàng bạc của vua Chuyển
luân vương. Rõ ràng từ cư sĩ ở đây chỉ cho nhà quản lý được
vua trọng dụng. Ở Ấn Độ ngày xưa đẳng cấp thứ ba sau hai
đẳng cấp Bà la môn và Sát đế lỵ là đẳng cấp Vệ xá (Vaisyas)
bao gồm các công thương gia, các nhà doanh nghiệp. Từ cư
sĩ báu nói trên chỉ các công thương gia, các nhà doanh
nghiệp thuộc đẳng cấp Vệ xá này.
Vào thời Phật Thích Ca, từ cư sĩ được dùng rộng rãi để chỉ
các gia chủ có thể là Phật tử hay không phải là Phật tử.
Trong kinh Giáo thọ Thi Ca La Việt (Trường A Hàm, từ
Ca La Việt chỉ cho Cư sĩ. Kinh này ở tạng Pali, có tên là
Singalovada, dịch ra chữ Hán là kinh Thiện Sanh).
Như vậy, từ cư sĩ trong kinh Singalovada đồng nghĩa
với từ gia chủ.
Sau này, trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, phạm vi từ cư sĩ
thu hẹp lại để chỉ riêng cho những người Phật tử tu tại gia.
Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam đời Lý - Trần có những ông
vua Phật tử tuy không xuất gia nhưng vẫn là những thiền sư
lỗi lạc, nổi tiếng, những nhà Phật học uyên bác như Lý Thái
Tôn, vua thứ hai đời Lý, đệ tử đắc đạo của Thiền sư Thiền
Lão. Theo Thiền uyển tập anh, ngài được xếp là một vị
Tổ thuộc thế hệ thứ 9 của phái thiền Vô Ngôn Thông. Vua Lý
Thánh Tông, vua thứ 3 đời Lý, được công nhận là Tổ thứ 2 của
phái thiền Thảo Đường (phái thiền thứ 3 của Việt Nam). Vợ
vua là thứ phi Ỷ Lan được nhân dân tôn xưng là Quan Âm nữ
cũng là một cư sĩ xuất sắc, có một bài thơ thiền được lưu
lại trong sách Thiền uyển. Đời Trần, vua Trần Thái
Tông, tác giả cuốn Khóa hư lục và Tuệ Trung Thượng sĩ
đều là những cư sĩ nổi tiếng mà ngay các tu sĩ cũng đều tôn
xưng họ là những bậc thầy trong đạo. Vua Trần Nhân Tông sau
này xuất gia lập ra phái thiền Yên Tử cũng tôn xưng Tuệ
Trung Thượng sĩ là đạo sư của mình.
2. Người cư sĩ với thân phận tại gia, có thể giác ngộ và
giải thoát được hay không?
Theo tôi, người cư sĩ Phật tử Việt Nam ngày nay một mặt tiếp
tục duy trì thái độ khiêm tốn truyền thống, tôn trọng Tam
bảo, thân cận học hỏi nam nữ tu sĩ như là những bậc thầy tâm
linh trong đạo. Nhưng mặt khác – và đây là điều quan trọng
hơn – không có mặc cảm tự ti, phát tâm dũng mãnh tu học,
mong cầu cũng được giải thoát và giác ngộ như các Tổ cư sĩ
ngày xưa trong lịch sử Phật giáo nước nhà.
Trên bước đường tu học, cư sĩ Việt Nam ngày nay được động
viên bởi lời khuyên của các vị Tổ như Trần Thái Tông:
"Mặc vấn đại ẩn tiển ẩn, bất câu tăng tục, hưu biệt xuất gia
tại gia, nhi chủ yếu biện tâm, bổn vô nam nữ, hà tu trước
tướng" – (Khóa hư lục)
Dịch nghĩa:
"Không phân biệt là sống ở đời hay sống trong rừng, không
phân biệt tại gia hay xuất gia, chỉ cốt yếu là biện tâm, vốn
không nam nữ, sao lại chấp tướng".
Tổ Trần Nhân Tông trong bài phú Cư trần lạc đạo hồi
III lại còn khẳng định hơn nữa:
"Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc
Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thật cả đồ công"
Giải nghĩa:
"Là người tại gia mà tu học thành công được giác ngộ và giải
thoát thì phúc đức ấy thật là đáng quý hết sức, còn tu ở núi
rừng (xuất gia tu ẩn) mà vẫn không giác ngộ (cốc từ nôm
nghĩa là giác) thì thật là uổng công".
Chúng ta thấy rõ qua lời dạy của ngài Trần Thái Tông, người
cư sĩ (tất nhiên người xuất gia cũng thế) phải biết tu
tập tâm. Trần Thái Tông nói biện tâm tức là tìm hiểu tâm
mình, tu tập tâm mình.
Muốn tu tập tâm tất nhiên phải luôn luôn tỉnh giác quan sát
tâm mình; trong tâm mình nảy sinh ra cảm thọ gì, ý nghĩ gì,
quyết định gì chúng ta đều phải biết rõ. Đó là cảm thọ ý
nghĩ quyết định đúng hay sai, tích cực hay tiêu cực, có lợi
hay có hại cho mình hay cho người để kịp thời điều chỉnh uốn
nắn.
Trong kinh Pháp Cú, phẩm "Tâm", Phật dạy nhiều về vấn
đề tu tập tâm mà cư sĩ ngày nay nên luôn luôn suy ngẫm:
Kệ 33:
"Người trí làm tâm thẳng
Như thợ tên làm tên..."
Kệ 35:
"Lành thay, điều phục tâm
Tâm điều an lạc đến..."
Kệ 36:
"Người trí phòng hộ tâm,
Tâm hộ an lạc đến..."
Như chúng ta thấy, Đức Phật khuyên chúng ta luôn luôn tỉnh
giác để uốn nắn tâm như thợ làm tên uốn nắn tên vậy, phòng
hộ tâm, điều phục tâm khi chúng ta gặp phải các nghịch cảnh
có thể làm chúng ta nảy sinh ra phiền não tham, sân, si
v.v... Có thể nói đời sống người tại gia tạo ra cho họ nhiều
cơ hội để hiểu biết tâm mình, rèn luyện tâm mình, bồi dưỡng
những đức tính đáng quý như nhẫn nhục, kiên trì, tinh tấn.