Có và Không
Thích Như Điển
Phật
lịch 2544 - 2000
Trung Tâm Văn Hóa Xã Hội Phật Giáo Việt Nam
tại
Cộng Hòa Liên Bang Đức Xuất Bản
---o0o---
Chương VII
Thay lời kết
Hôm nay là ngày 20 tháng 7 năm 2000 nhằm
ngày 19 tháng 6 năm Canh Thìn, tôi viết lời kết nầy trong khi bên ngoài
bầu trời rất trong và đẹp, không như những ngày tháng trước, nhất là khi
bắt đầu viết cuốn sách nầy vào lúc 7 giờ 30 sáng ngày 7 tháng 6 năm 2000.
Kể từ hôm đó đến nay hơn 43 ngày rồi; nhưng dường như trời chẳng nắng được
một ngày nào trọn vẹn cả.
Hôm nay cũng đúng 7 giờ 30 phút,
tôi đã dùng trà xong và bắt đầu viết như thường lệ; nhưng ngày hôm nay có
3 sự kiện đáng ghi nhớ.
Sự kiện thứ nhất là ngày 20
tháng 7. Ngày nầy vào 46 năm về trước; nghĩa là ngày 20 tháng 7 năm 1954
nước Việt Nam chúng ta đã bị chia đôi tại sông Bến Hải bởi Hiệp Định
Genève. Từ vĩ tuyến 17 trở về Bắc thuộc chế độ Cộng Sản và từ vĩ tuyến 17
trở vào Nam thuộc chế độ dân chủ Cộng Hòa. Nước Việt Nam đến ngày 30 tháng
4 năm 1975 là nối kết lại hai miền và đến năm 1976 Việt Nam chính thức đã
thống nhất và sống dưới chế độ Cộng Sản cho đến hôm nay. Trên thế giới
nầy hiện có gần 200 quốc gia lớn nhỏ. Đa phần theo chế độ dân chủ, lấy
luật pháp để cai dân trị nước, có lẽ cũng hơn 100 nước. Có những nước
không qua chế độ quân chủ mà từ thời lập quốc đến nay chỉ có một nền dân
chủ. Đó là Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Suốt 200 năm lập quốc cho đến ngày nay
chưa có một vị nào làm vua cả, mà chỉ toàn là Tổng Thống.
Trong gần 100 nước còn lại đó
một số lớn theo quân chủ lập hiến. Nghĩa là có Vua Chúa hay Nữ Hoàng đứng
đầu; nhưng chỉ có tính cách tượng trưng; còn Thủ Tướng và Quốc Hội mới có
quyền biểu quyết mọi đạo luật. Trong nầy có các nước ở Âu Châu như Anh, Na
Uy, Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch, Hòa Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Ở Á
Châu có các nước như Nhật Bản, Thái Lan, Bhutan, v.v...
Những nước còn lại nằm trong
Liên Hiệp Pháp hoặc Liên Hiệp Anh như Úc, Canada v.v... Tuy nhiên những
nước nầy vẫn có chủ quyền của họ. Một số nước còn lại ở Phi Châu thì có
Tộc Trưởng hay sống với một đời sống hoang dã, chưa thành hình định chế
nào. Ngày nay trên thế giới chỉ còn có 4 hay 5 nước theo chủ nghĩa Cộng
Sản mà thôi. Đó là Trung Hoa, Việt Nam, Bắc Hàn và Cuba. Tuy nhiên các chế
độ xã hội chủ nghĩa nầy cũng đã thay đổi đường lối để tự tồn và hướng theo
chủ nghĩa tư bản. Đó là chưa kể những nước lớn như Nga, Ba Lan, Tiệp Khắc,
Đông Đức v.v... đã hoàn toàn chuyển theo tư bản chủ nghĩa sau khi đã chung
sống với xã hội chủ nghĩa 70 năm mà không có tiến bộ gì. Chỉ 10 năm, sau
khi thay đổi chủ nghĩa thì các nước nầy đã trăm hoa đưa nở.
Thật sự ra trong cuộc đời nầy
chẳng có cái gì là chắc thật cả. Chủ nghĩa nào mà không hợp lòng dân rồi
cũng phải đổi thay. Tất cả chỉ có tính cách giai đoạn, mà lịch sử thì luôn
luôn sang trang chứ không đứng yên một chỗ. Chỉ có chân lý trí tuệ, từ bi,
giải thoát và giác ngộ thì muôn đời cũng chỉ vậy thôi, không có gì để thay
đổi và cũng chẳng có ai vào đó để chiếm giữ ngôi vị độc tôn cả.
Riêng ngày hôm nay là ngày Vía
của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Mỗi năm Phật Giáo Trung Hoa và Việt Nam làm lễ
kỷ niệm Ngài 3 lần. Đó là ngày 19 tháng 2; 19 tháng 6 và 19 tháng 9, tính
theo âm lịch.
Ngày 19 tháng 2 gọi là ngày Đản
Sanh của Ngài
Ngày 19 tháng 6 gọi là ngày
Thành Đạo
Ngày 19 tháng 9 gọi là ngày Nhập
Niết Bàn.
Thật sự ra thì Đức Quan Thế Âm
Bồ Tát không có lịch sử rõ ràng như Đức Phật Thích Ca. Vì Ngài không hiện
hữu nơi cõi Ta Bà nầy mà Ngài là một trong 2 vị đệ tử đang hầu cận cho Đức
Phật A Di Đà ở thế giới Tây Phương Cực Lạc. Tuy nhiên người Trung Hoa đã
mang tinh thần Đại Thừa giáo ấy vào quần chúng Phật Tử; nên đã lấy sự thị
hiện của một số vị Bồ Tát mà tạo ra tứ đại danh sơn ở Trung Quốc, cũng như
các ngày lễ vía để kỷ niệm. Tất cả những ngày lễ nầy chỉ là tính cách
tượng trưng mà thôi. Tuy nhiên Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là hiện thân của từ
bi; nên kỷ niệm những ngày lễ vía của Ngài cũng nhằm nhắc nhở cho chúng ta
nên thực hiện hạnh nguyện nầy như Ngài vậy.
Sau khi đảnh lễ danh hiệu các vị
Phật, các vị Bồ Tát xong thì tất cả Tăng chúng tại chùa đã đảnh lễ về 12
lời nguyện của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Ngài có 32 hóa thân, do vậy mà thân
nào cũng là thân của Đại Sĩ cả. Chúng ta nhớ ơn Ngài phải cố gắng thực
hiện theo hạnh nguyện của Ngài.
Sự kiện thứ 3 cũng xảy ra vào
ngày 20 tháng 7 năm 2000 nầy là chính ngày hôm nay sẽ làm lễ tuần thất thứ
3 cho Thầy Thiện Thông và sau đó cốt của Thầy ấy sẽ được gởi máy bay về
Việt Nam để nhập tháp tại chùa Phước Quang thuộc Bà Rịa - Vũng Tàu.
Trong phần tiến Giác Linh của
Thầy hôm ấy, tôi đã đọc phần cung thỉnh theo văn bạch bằng tiếng Việt
trong quyển "Pháp Sự Khoa Nghi 2" của Hòa Thượng Thích Giải Hòa, tức Hòa
Thượng Thích Huyền Quang, như sau:
Nhớ Giác Linh xưa
:
Dòng họ thế gia,
Môn phong Nho giáo
Tuổi thơ nhập đạo,
Chí lớn xuất trần
Thế rồi người :
Theo Thầy học đạo chuyên cần,
Và, tùng chúng tu thân tinh tấn.
Người,
Vuông tròn bổn phận:
Phục dịch chúng ta;
Đầy đủ khả năng:
Dắt dìu Phật Tử.
Vì vậy người được:
Thầy Tổ phân đăng bổ xứ
Phước Quang trác tích trụ trì
Từ đó,
Người sống cuộc đời:
Một bát ba y,
Xuân thu du hóa.
Chín tuần mười hạ,
Năm tháng tịnh tu.
Và cũng như ai,
Người có nhiều:
Tăng Ni bốn chúng tùng du;
Và Phật Tử mười phương qui ngưỡng.
Người là bậc:
Sơn Môn Hòa Thượng,
Và hàng:
Hải chúng trung tôn.
Rường cột pháp môn,
Nối dòng đạo giáo.
Chơn tâm hạo hao,
Pháp tướng nguy nguy.
... Thiệu phái truyền y
... kế đăng tục diệm.
Phật pháp chu toàn trách nhiệm,
Sư mô đầy đủ oan nghi.
Trau giồi trí tuệ từ bi,
Nuôi dưỡng pháp thân tuệ mạng
Người:
Thờ Thầy kính bạn,
Giữ nước - giúp dân
Trọn đời lạc đạo an bần,
Suốt kiếp nghiêm thân tấn đạo.
Hoằng dương Phật Giáo,
Hàng phục ma quân.
Xử thế đãi nhân,
Tiếp tăng độ chúng.
Tùy duyên ứng cúng,
Thác chất phân thân.
Giới nghi tề chỉnh mọi phần,
Tế hạnh trang nghiêm đủ vẻ.
Lợi danh sạch sẽ,
Thân thế phôi pha.
Ai biết lòng xà,
Nào hay phàm Thánh ...
Thôi thì ba lạy nầy để tiễn Thầy
về Phật cảnh và mong rằng giữa chốn trần ai tục lụy nầy nếu Thầy còn đoái
thương chúng xuất gia đệ tử cũng như người tại gia nghiệp nặng trần ai thì
Thầy hãy về lại Ta Bà nầy mà du hóa, mà độ sanh để thỏa chí người tu như
trong văn cảnh sách Ngài Quy Sơn đã dạy.
"Phù xuất gia giả
Phát túc viễn phương
Tâm hình dị tục
Thiệu long thánh chủng
Chấn nhiếp ma quân
Thượng báo tứ ân
Bạt tế tam hữu
Nhược bất như thử
Tắc loạn Tăng luân ...
Như thế đó, Thầy đã hoàn thành
đại nguyện. Xin cầu chúc cho Thầy cứ thẳng gót về Tây và nhớ thêm lần nữa
là đoái hoài đàn hậu học ở ngưỡng cửa Ta Bà nầy vậy.
Trong phần vào sách tôi có hứa
với quý vị là sẽ tường thuật về kết quả EXPO sau khi viết xong quyển sách
nầy. Do vậy mà tôi xin lượt qua một vài điều. Đúng ra thì quyển sách nầy
hoàn thành quá sớm, lẽ ra viết phải 3 tháng mới xong; nhưng không ngờ chỉ
trong có 43 ngày thì đã hoàn thành, dĩ nhiên phần dịch ra tiếng Đức phải
cần có nhiều tháng như thế nữa; nhưng so với những tác phẩm khác thì quyển
nầy viết hơi nhanh. Có lẽ vì ý đã có sẵn, mà EXPO thì cuối tháng 10 mới
xong. Nên không thể tường thuật hết được.
EXPO khai diễn vào ngày 1 tháng
6 và kết thúc vào ngày 31 tháng 10 năm 2000. Cho đến hôm nay là gần 2
tháng; nhưng kết quả thật không như Ban Tổ Chức mong muốn. Có lẽ lỗ ít
nhất là hơn hai tỷ Đức Mã. Đó là về phương diện vật chất. Chưa biết là Ban
Tổ Chức sẽ tính sao. Mặc dầu đã có nhiều cách khác nhau để giảm giá vào
ban ngày và ban đêm; nhưng số người đến không đông như đã dự định. Vì vậy
mọi dịch vụ chỉ có tính cách cầm chừng thôi, chứ không sôi nổi mấy. Ví dụ
như tháng 6, tháng 7 thì lấy tiền bãi đậu xe mỗi ngày 20 Đức Mã, rồi xuống
còn 10 Đức Mã, và cuối tháng 7 trở đi thì không lấy tiền. Nghĩa là người
đem xe vào bãi đậu tự do cả ban đêm lẫn ban ngày; nhưng bãi đậu xe vẫn còn
trống. Người ta chờ đợi nghỉ hè thì dân Đức và Âu Châu đi đông hơn; nhưng
trên thực tế cho đến hôm nay thì đã nghỉ hè độ 10 ngày rồi; nhưng học sinh
vẫn ít thấy, chỉ thấy dân Đức địa phương là đến nhiều. Còn người Âu Châu
cũng ít lai vãng. Chỉ tiếc là những công trình xây dựng trong EXPO rất
đẹp, mà tôi đã có lần xem qua, nhưng ít người đi tham quan quả là rất đáng
tiếc vậy.
Riêng chùa cũng bị ảnh hưởng
lây. Nếu có các tổ chức khác bảo trợ thì không bị chi thâm vào quỹ chùa.
Đằng nầy kết quả các buổi hội thảo thì rất tốt, cũng như những tháng ngày
triển lãm các tranh ảnh khác nhau đã tạo cho người đi xem có một cái nhìn
sâu sắc về Phật Giáo. Các buổi hòa tấu về âm nhạc Phật Giáo cũng đã thành
công. Cứ mỗi tuần như vậy độ trung bình 150 người lai vãng. Một tháng 600
người và suốt 5 tháng ấy độ 3.000 người Đức. Thật ra con số ấy rất khiêm
nhường; nhưng cũng đã nói lên được phần nào về sự quan tâm của người Đức
đối với nền triết học Phật Giáo tại đây.
Lời về mặt tinh thần mà lỗ về
mặt vật chất cũng không sao. Chỉ tiếc một điều là không giống như Ban Tổ
Chức Buddha Dharma Expo đã dự phòng, trong đó có Hạnh Hảo. Điều ấy cũng
giống như một nhà báo Đức đã nhận xét về tổ chức EXPO tại Hannover như
sau:
"EXPO không phải do chính phủ
Đức đứng ra tổ chức; chỉ do những quốc gia và những tổ chức tư nhân độc
lập đứng ra gánh vác, cho nên phần lỗ lã phải chịu về mình. Vả lại thành
phố Hannover không có gì đặc biệt để hấp dẫn du khách; nên số khách đến
tham dự ít là phải. Không lẽ người ta đến EXPO để ăn món ăn Ý hay thưởng
thức Bia của Đức, thì liệu điều ấy đâu có hấp dẫn hết được mọi người,
những điều ấy người ta tìm bên ngoài EXPO cũng có; nhưng dẫu sao đi nữa
nước Đức sau 11 năm thống nhất Đông Tây phải chứng tỏ cho thế giới thấy
rằng: Đây là sức mạnh của nước Đức, thì việc tổ chức EXPO vẫn là điều đáng
ca ngợi vô cùng".
Tôi cũng chấm dứt phần cuối cuốn
sách nầy ở câu kết luận nầy. Dầu dở, dầu hay, dầu tốt., dầu xấu, dầu có,
dầu không, dầu còn, dầu mất, dầu được, dầu thua v.v... nó cũng chứng minh
được một điều là chúng ta đã nỗ lực và đã cố gắng. Chỉ đơn giản thế thôi
và xin cầu chúc cho mọi loài mọi người thâm nhập vào bể tri kiến của Như
Lai.
Viết xong vào
ngày 20 tháng 7 năm 2000
tại thư
phòng chùa Viên Giác
vào một
ngày hạ đẹp trời
Tác giả
THÍCH NHƯ ĐIỂN
---o0o---
Mục Lục |
Chương I
|
Chương II
|
Chương III
Chương
IV
|
Chương V
|
Chương VI
|
Chương VII