Có và Không
Thích Như Điển
Phật
lịch 2544 - 2000
Trung Tâm Văn Hóa Xã Hội Phật Giáo Việt Nam
tại
Cộng Hòa Liên Bang Đức Xuất Bản
---o0o---
Chương V
Có và Không theo tinh thần của Trung Quán
Luận
Hôm nay quý độc giả cùng tôi đi
vào một chương rất là khó. Có thể nói rằng khó nhất trong cuộc đời; khó
nhất trong triết lý và cũng khó nhất trong Phật Giáo nữa. Tôi sẽ cố gắng
dịch lại một cách nghiêm mật 446 câu kệ về Trung Luận của Ngài Long Thọ và
có thể cuối mỗi quyển sẽ giải thích một số ý niệm căn bản để người đọc
hiểu thêm được một chút về triết lý nầy.
Kính nguyện các bậc Tổ Sư từ bi
gia hộ và chứng minh cho con để con có đủ sáng suốt làm công việc khó làm
nầy. Chắc chắn rằng sẽ có nhiều chỗ sai ý của chư vị Tổ Sư, vì trí óc nông
cạn của con.
446 câu kệ nầy chia ra làm 4
quyển và gồm có 27 phẩm. Quyển một có 6 phẩm. Quyển 2 có 8 phẩm. Quyển 3
có 7 phẩm và quyển 4 có 6 phẩm. Luận nầy do Ngài Long Thọ Bồ Tát viết
thành; đến đời Diêu Tần bên Trung Quốc, Ngài Tam Tạng pháp sư Cưu Ma La
Thập đã dịch từ Phạn văn ra Hán văn và từ đó đến nay hơn 1.500 năm ở Việt
Nam đã có nhiều nhà dịch giải và bình chú sang Việt ngữ. Mới đây năm 1994
tại Hoa Kỳ, Thượng Tọa Thích Viên Lý cũng đã cho dịch bản nầy từ Hán văn
sang Việt văn có bình chú. Ý nghĩa khá rõ ràng và có phụ bản Phạn văn gồm
có phẩm Quán Nhân Duyên thứ nhất và phẩm Quán Niết Bàn thứ 25 với sự chú
giải của pháp sư Nguyệt Xứng (Àcàrya Candrakìrti)
Trung Luận
quyển thứ nhất
Phẩm một :
Quán Nhân Duyên
Chẳng sanh cũng chẳng mất; chẳng
thường cũng chẳng đoạn
Chẳng một cũng chẳng khác; chẳng
đến cũng chẳng đi
Hay nói là nhân duyên; hay trừ
các hí luận
Con nay đầu lễ Phật; các thuyết
là đệ nhất
Các pháp không tự sanh; lại
chẳng từ cái khác
Không cùng không không nhơn; như
vậy biết không sanh
Nếu các pháp tự tánh; không ở
nơi trong duyên
Nên không là tự tánh; tánh khác
cũng lại không
Nhơn duyên thứ đệ duyên; duyên
duyên tăng thượng duyên
Bốn duyên sanh các pháp; không
có duyên thứ năm
Quả là từ duyên sanh; cũng từ
không mà sanh
Nên duyên là quả vậy; cũng duyên
mà không quả
Nhơn là pháp sanh quả; pháp ấy
gọi là duyên
Nếu mà quả chưa sanh; chẳng gì
gọi không duyên
Quả có trước trong duyên; có
không đều không thể
Trước không là duyên gì; trước
có chẳng dùng duyên
Nếu quả từ không sanh; lại từ
không không sanh
Lại chẳng có không sanh; làm gì
có gọi duyên
Nếu quả lại sanh sau; tức không
hợp có diệt
Pháp mất làm sao duyên; nên
không thứ đệ duyên
Như chư Phật đã nói; chơn thật
vi diệu pháp
Với nầy pháp không duyên; làm
sao có duyên duyên
Các pháp không tự tánh; lại
không có tướng có
Gọi có là như vậy; đây là việc
không thật
Tóm tắt trong nhơn duyên; tìm
quả không có được
Nếu nhơn duyên không có; từ đâu
mà duyên sanh
Nếu mà duyên không quả; vậy
duyên từ không sanh
Nên quả làm sao có; trong không
duyên mà sanh
Nếu quả từ duyên sanh; vậy duyên
không tự tánh
Từ không tự tánh sanh; sao được
từ duyên sanh
Quả không từ duyên sanh; chẳng
từ không duyên sanh
Vậy quả không có vậy; duyên
không duyên đều không.
Đây là về pháp quán nhân duyên.
Nội dung của phẩm nầy nói tất cả đều do nhân duyên sanh và tất cả đều do
nhân duyên mà hợp. Hợp rồi tan, tan rồi hợp; nên ta gọi là nhân hay quả;
nhưng trên thực tế ý nghĩa của 4 câu đầu cũng như 4 câu cuối của phẩm nầy
rất rõ ràng.
"Chẳng sanh cũng chẳng diệt; chẳng thường
cũng chẳng đoạn
Chẳng một cũng chẳng khác: chẳng đến cũng
chẳng đi"
Pháp vốn không sanh và không
diệt. Nhân duyên cũng như thế. Nhơn duyên không có hình tướng, nên không
bền chắc mà cũng không có nghĩa là mất hẳn đi. Trong duyên không chỉ có
một mà cũng chẳng phải tồn tại trong hai hữu thể cùng một lúc. Cho nên
nhân duyên không đến mà cũng chẳng đi. Đây là lối lập luận của Trung Quán
- không khẳng định mà cũng không phủ định. Vì trong khi cái nầy có thì cái
kia cũng có, cái nầy không thì cái kia cũng không. Cái nầy tồn tại thì cái
kia lại thay đổi và cái nầy thay đổi thì cái kia không tồn tại nữa.
Bốn câu cuối cùng của phẩm Nhân
Duyên viết:
"Quả chẳng từ duyên sanh; chẳng từ không
duyên sanh
Vậy quả không có vậy; duyên không duyên
đều không".
Như vậy kết quả của một sự việc không phải từ nhân
duyên mà sanh ra, cũng chẳng phải từ không có nhân duyên mà sanh. Do vậy
cho nên cái quả đó không có vậy. Từ đó có thể đi đến kết luận rằng có nhân
duyên hoặc không phải nhân duyên, tất cả đều không vậy.
Ta xem đoạn đầu của Trung Luận
nầy cũng đã khó hiểu rồi. Tuy nhiên nếu hiểu được thuyết trung đạo của Đạo
Phật thì ta chấp nhận về thuyết nhân duyên nầy một cách dễ dàng. Thật sự
ra, muốn hiểu được thuyết nầy phải vượt lên trên có và không và không chấp
vào có cũng như không thì mới hiểu được thuyết trung đạo của Đạo Phật. Đạo
Phật là đạo như thật; nên phải hiểu tướng như thật của các pháp, thì mới
hiểu được Đạo Phật vậy.
Phẩm thứ hai
:
Quán về đến
và đi
Lìa đến không có đến; chưa đến cũng không
đến
Bỏ rời đến chưa đến; lúc đến lại không đến
Nơi động tức có đến; trong nầy có lúc đến
Chẳng phải đến cùng đi; như vậy lúc đến
đến
Vì sao tại lúc đến; cũng đang có pháp đến
Nếu lìa pháp để đến; lúc đến chẳng phải
được
Nếu nói đến lúc đến; là người tức có lỗi
Lìa đến lúc có đến; đến thời riêng chỉ đến
Nếu lúc đến có đến; tức có hai loại đến
Có nghĩa là lúc đến; hai nghĩa đến lúc đến
Nếu cả hai cùng đến; tức có hai cùng đến
Nên lìa nơi người đến; pháp đến cũng chẳng
được
Nếu người lìa nơi đến; pháp đến cũng chẳng
được
Lại không có pháp đến; làm sao có người
đến
Người đến tức chẳng đến; kẻ không đến
chẳng đến
Lìa đến kẻ chẳng đến; không có người thứ
ba
Nếu nói người đến đến; vì sao có nghĩa nầy
Nếu lìa được pháp đến; kẻ đến cũng chẳng
được
Nếu kẻ đến có đến; tức có hai loại đến
Một là đến kẻ đến; hai là đến pháp đến
Nếu là đến kẻ đến; tức người có lỗi lầm
Lìa đến có kẻ đến; nói đến kẻ có đến
Bỏ đến trong không phát; chưa đến trong
không đến
Lúc đến trong không đến; nơi nào đang có
phát
Chưa sanh lúc không đến; cũng không có bỏ
đến
Là hai nên có sanh; chưa đến sao có sanh
Không đến không chưa đến; đều là lúc không
đến
Tất cả không có sanh; vì sao lại phân biệt
Kẻ đến tức không ở; kẻ không đến chẳng ở
Lìa đến kẻ chẳng đến; sao có ở thứ ba
Kẻ đến nếu đang ở; vì sao có nghĩa nầy
Nếu đang lìa sự đến; kẻ đến lại chẳng được
Đến chưa đến không ở; lúc đi cũng không ở
Chỉ có làm phép dừng; đều cùng là nghĩa
đến
Pháp đến tức người đến; việc nầy tức không
vậy
Pháp đến khác người đến; việc nầy cũng
không vậy
Nếu nghĩa là pháp đến; tức làm người sẽ
đến
Người tạo và nghiệp tạo; đây là việc làm
một
Nếu nghĩa là pháp đến; có khác với người
đến
Lìa kẻ đến có đến; lìa đến có kẻ đến
Kẻ đến đến là hai; nếu một khác pháp thành
Hai cửa cũng chẳng thành; vì sao đang có
thành
Nhơn đến biết người đến; không thế dùng
điều đến
Trước không có pháp không; lại không đến
kẻ đến
Nhơn đến biết người đến; không thể dùng
đến khác
Là một đến trong kẻ; không được hai lần
đến
Quyết định có người đến; không thể dùng ba
đến
Không quyết định kẻ đến; lại chẳng dùng
đến ba
Pháp đến định không định; kẻ đến không
dùng ba
Đây là kẻ đến đến; nơi đến cũng đều không.
Đến đây là hết phẩm
thứ hai nói về việc đến đi của tự tánh, chúng ta đã bắt đầu thấy có những
điều khó hiểu cho việc đến và đi, còn và mất của các pháp. Do vậy phải
đứng trên lập trường của sự có và không mới có thể hiểu được Trung Luận
nầy của Ngài Long Thọ vậy.
Đến và đi là thời gian; nhưng
Ngài Nagarjunar cũng đã cho chúng ta thấy trong phẩm thứ hai nầy rằng ngay
cả việc đến đi của thời gian cũng không nốt. Vì nếu còn chấp có thời gian
đến, thời gian đi thì có nghĩa là chấp vào sự hiện hữu của thời gian và
của con người, mà thời gian cũng như con người không nhất định, không
thường hằng, luôn luôn thay đổi, luôn luôn biến thể ở nhiều dạng khác
nhau. Do vậy dưới cái nhìn của Trung Quán, ngay cả thời gian cũng chỉ là
một sự giả hợp mà thôi.
Chúng sanh vì lăn lộn trong sáu
đường sanh tử, trí huệ không phát triển mà vô minh và ái dục lại nhiều. Do
đó sự chấp có, chấp không, chấp thường, chấp đoạn thường hay xảy ra trong
mọi khía cạnh của cuộc sống. Do vậy chúng ta phải khéo cảnh tỉnh chính
mình để sự nhận thức chín chắn hơn.
Phẩm thứ ba
:
Quán lục
tình
Mắt tai và mũi lưỡi; thân ý là sáu tình
Mắt nầy cùng sáu tình; hành sắc cùng sáu
trần
Riêng mắt tức không thể; tự thấy thân hình
nầy
Nếu không thể tự thấy; vì sao thấy có vật
Như lửa tức không thể; thành ra phép mắt
thấy
Chưa đến chưa phải lúc; bỏ hết cả việc nầy
Thấy nếu chưa phải thấy; tức không phải là
thấy
Mà gọi thấy hay thấy; là việc tức không
thể
Thấy không thể có thấy; không thấy cũng
chẳng thấy
Nếu bỏ lối thấy nầy; tức người phá thấy
vậy
Lìa thấy chẳng lìa thấy; người thấy cũng
chẳng có
Nên không có kẻ thấy; sao sự thấy có thể
Thấy và thấy không thể; biết đây cả bốn
không
Do bốn thủ làm duyên; nên gọi là thấy vậy
Tai mũi lưỡi thân ý; nghe và kẻ lắng nghe
Phải hiểu biết nghĩa nầy; cũng giống như
thuyết trên.
Lục tình cũng còn gọi là lục
căn; tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Đây là chỗ nương tựa của sáu
trần để biết đối tượng của mắt, tai, v.v... là gì; nhưng tự con mắt không
thể thấy được, mà mắt phải cần nhiều nhân duyên hòa hợp lại; nếu không có
thể là kẻ mù, kẻ loạn sắc v.v... cũng có mắt nhưng không thể thấy được. Sở
dĩ có sự thấy, vì những căn nầy nương tựa vào nhau, chứ chúng không thành
tựu một cách độc lập được. Do vậy lục tình cũng là điều không thật. Tất cả
nên quán sát như vậy.
Phẩm thứ tư
:
Quán Ngũ Ấm
Nếu lìa nhơn có sắc; sắc cũng chẳng có
được
Nếu đang xa rời sắc; nhân sắc cũng không
được
Xa sắc chính có sắc; sắc nầy không có nhơn
Không nhơn mà có pháp; là việc không thể
được
Nếu lìa sắc có nhơn; tức là không nhơn quả
Nếu nói không quả nhơn; tức không có nơi
chốn
Nếu mà có hình tướng; tức chẳng dùng sắc
nhơn
Nếu không có tướng người; chẳng nên dùng
sắc nhơn
Không nhơn mà có sắc; việc ấy rốt không
vậy
Cho nên có người trí; không nên phân biệt
sắc
Nếu quả mà giống nhơn; việc nầy cũng chẳng
phải
Nếu quả chẳng giống nhơn; việc nầy cũng
không phải
Thọ ấm và tưởng ấm; hành ấm và tưởng ấm
Ngoài ra tất cả pháp; đều cũng giống sắc
ấm
Nếu người có bị hỏi; lìa không mà muốn đáp
Đáp nầy không đúng vậy; tất cả đều bị
nghi
Nếu có người hỏi khó; lìa không nói việc
qua
Đều không thành hỏi khó; tất cả đều bị
nghi.
Phẩm thứ tư nầy nói về Ngũ Ấm
cũng còn gọi là Ngũ Uẩn, tức gồm: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nghĩa là
hình tướng, sự cảm nhận, tư tưởng, hành động và ý thức. Năm điều nầy cũng
không thật có. Vì tất cả đều bị sự chấp trước của tâm thức mà chúng hiện
hữu; nếu không có sự chấp trước, tức nhiên chúng sẽ xa lìa và tất cả những
sự có bên trên của năm ấm nầy cũng chỉ là một sự giả danh mà thôi. Người
học Trung Quán luận phải nên quán sát như thế.
Phẩm thứ năm
:
Lục Chủng
(Sáu loại)
Lúc tướng không chưa có; tức không pháp hư
không
Nếu hư không có trước; tức tướng có tướng
không
Pháp của tướng không là; tất cả nơi không
có
Nơi vô tướng pháp ấy; tướng mà thật không
tướng
Có tướng trong không tướng; tướng nầy
không chỗ trụ
Lìa tướng có tướng không; ngoài nơi cũng
chẳng trụ
Tướng pháp không có vậy; cả tướng pháp
cũng không
Do tướng pháp không có; nên tướng pháp lại
không
Cho nên nay không tướng; lại không có cả
tướng
Lìa tướng có tướng lìa; lại cũng chẳng có
vật
Nếu nói không sự có; vì sao lại có không
Có không cũng là không; biết có không ta
người
Vì vậy biết hư không; không có cũng chẳng
không
Không tướng không cả tướng; ngoài năm
giống hư không
Trí cạn thấy các pháp; nếu có không không
tướng
Tức là không thấy được; mắt thấy pháp an
ổn.
Đây gọi là Lục Chủng, tức sáu
loại, mà ta đang đối diện hằng ngày. Đó là: thủy, địa, hỏa, phong, không
và thức. Ở đây chỉ nói về hư không để đại biểu cho 5 loại khác. Theo nội
dung bản văn trên cho ta thấy rằng hư không cũng chẳng có mà cũng chẳng
không. Nếu nói có thì vô lý. Vì hư không luôn luôn biến đổi, không thường
còn. Nếu nói không cũng không đúng. Vì lẽ hư không vẫn hiện hữu. Nếu nhìn
từ thuyết Trung Luận của Ngài Long Thọ thì phải quan sát rằng: hư không
chẳng thật, chẳng phải hư, chẳng phải có, chẳng phải không; chẳng phải còn
và chẳng phải mất vậy. Có, không, còn, mất, đến, đi v.v... chỉ do tâm niệm
của con người phân biệt mà thành thôi.
Phẩm thứ sáu
:
Quán về kẻ
nhiễm ô
Nếu lìa được pháp nhiễm; trước từ chính kẻ
nhìn
Nguyên nhơn là nhiễm dục; nên sanh ra pháp
nhiễm
Nếu không có người nhiễm; làm sao có thể
nhiễm
Nếu có hoặc không nhiễm; kẻ nhiễm cũng như
vậy
Kẻ nhiễm và pháp nhiễm; đều là không phải
vậy
Cả kẻ nhiễm pháp nhiễm; tức không có tướng
chờ
Kẻ nhiễm pháp nhiễm một; hợp lại thành một
pháp
Kẻ nhiễm khác pháp nhiễm; pháp khác làm
sao hợp
Nếu có kẻ hợp một; lìa xa rồi có hợp
Nếu khác có hợp lại; xa rời cũng hợp lại
Nếu khác mà có hợp; kẻ nhiễm ô làm việc
Là hai tướng khác nhau; sau nầy nói tướng
chung
Nếu nhiễm và kẻ nhiễm; đều trở thành tướng
khác
Tất bị thành tướng khác; sao gọi là hợp
được
Tướng khác không thể thành; cho nên gọi
muốn hợp
Tướng hợp cũng chẳng thành; nên lại nói
tướng khác
Khi tướng khác không có; tướng hợp cũng
không có
Nơi ở trong tướng khác; mà muốn nói tướng
hợp
Như thế kẻ nhiễm nhiễm; không hợp chẳng
hợp thành
Các pháp đều như thế; không hợp cũng chẳng
thành.
Phẩm thứ sáu nầy nói về sự nhiễm
ô. Nghĩa là tâm và pháp là những nguyên nhân và đối tượng để bị nhiễm ô.
Vì lẽ nếu tâm không nhiễm thì pháp sẽ không có lý do để tồn tại. Rốt cuộc
rồi người bị nhiễm và pháp bị nhiễm cũng đều không thật. Vì chúng không có
đối tượng; chẳng qua là sự chấp trước vào hình tướng mà thôi.
Như tiếng vỗ của một bàn tay thì
không thể tạo nên âm thanh được. Cũng như thế đó, kẻ nhiễm ô và việc nhiễm
ô cũng vậy. Nếu tâm bất động trước các pháp, thì các pháp không có lý do
để tồn tại. Sở dĩ có hợp lại và có tan đi, vì do tâm phân biệt chấp trước
mà thành. Trên thực tế thì sự phân biệt chấp trước nầy không thật.
Tất cả các pháp đều như vậy. Không tập hợp lại,
cũng chẳng thành tựu. Sở dĩ có việc nầy vì do tâm nhiễm ô chấp trước của
chúng ta mà có vậy.
TRUNG LUẬN
Quyển thứ hai
Phẩm thứ 7 :
Quán sát ba
tướng
(sanh, trụ,
diệt)
Nếu sanh là có thật; tức hợp với 3 tướng
Nếu sanh là không có; lấy gì mà có tướng
Ba tướng nếu hợp ly; không thể có tướng
thật
Tại sao gọi một chỗ; một lúc có ba tướng
Nếu chưa sanh còn mất; đổi có có làm tướng
Điều ấy là vô cùng; vô tức không có vậy
Sanh sanh là được sanh; sanh vì bị sanh
bởi
Sanh bởi là nơi sanh; hết sanh lại sanh ra
Nếu mà điều sanh ra; hay sanh việc sanh
bởi
Sanh ra từ chỗ sanh; sao lại sanh chỗ sanh
Nếu chưa là sanh bởi; hay sanh ra chỗ sanh
Sanh bởi từ bị sanh; sao lại sanh ra sanh
Nếu lúc sanh ra sanh; hay sanh ra bởi sanh
Sự sanh thường chưa có; làm sao sanh bởi
sanh
Như đèn tự nó sáng; lại làm cho người sáng
Pháp sanh cũng như vậy; tự sanh và bị sanh
Trong đèn tự không tối; chỗ ở cũng không
tối
Phá tối lại chiếu sáng; không tối tức
không sáng
Vì sao lúc sanh sáng; mà hay phá bóng đêm
Lúc đèn nầy mới sanh; không thể cùng bóng
tối
Đèn nếu chưa đốt sáng; mà hay trừ bóng tối
Đèn ở tại phòng nầy; tức bị tất cả tối
Nếu đèn tự nó sáng; lại cũng giúp sáng kia
Tối cũng hay tự tối; lại hay tối kẻ khác
Sanh nầy nếu chưa sanh; vì sao hay tự sanh
Nếu sanh đã tự sanh; sanh rồi sanh chi nữa
Sanh không sanh đã sanh; cũng không chưa
sanh ra
Lúc sanh hoặc chẳng sanh; đến đi trong đối
đáp
Nếu chưa sanh thì sanh; việc nầy không thể
được
Vì do duyên hợp lại; lúc ấy được sanh ra
Nếu pháp do duyên sanh; tức là tánh tịch
diệt
Do vậy lúc sanh ra; cả hai đều vắng lặng
Nếu có pháp chưa sanh; nói rằng có kẻ sanh
Pháp nầy trước có rồi; vì sao lại sanh nữa
Nếu nói sanh lúc sanh; vậy là có thể sanh
Sao được gọi có sanh; vì sanh nghĩa là
sanh
Nếu không phải có sanh; sanh sanh tức vô
cùng
Lìa sanh sanh lại có; pháp đều do tự sanh
Có pháp không được sanh; không cũng chẳng
được sanh
Có không lại chẳng sanh; nghĩa nầy trước
đã nói
Lúc các pháp diệt đi; lúc ấy lại chẳng
sanh
Nếu pháp cũng chẳng diệt; cuối rồi cũng
thành không.
Không trụ pháp bất trụ; trụ pháp chẳng
không trụ
Lúc ở lại chẳng ở; không sanh sao gọi ở
Nếu các pháp lúc diệt; có nghĩa không ở
lại
Nếu pháp không diệt đi; cuối rồi cũng
không có
Do vậy tất cả pháp; đều bị tướng già chết
Cuối không thấy có pháp; lìa già chết có ở
Ở chẳng phải tự ở; lại chẳng khác tướng ở
Như sanh không tự sanh; lại cũng chẳng
khác sanh
Pháp đã diệt không diệt; chưa diệt lại
cũng không
Lúc diệt lại chẳng diệt; không sanh làm
sao diệt
Nếu pháp có tướng trụ; tức là không có
diệt
Nếu pháp không tướng trụ; lại cũng không
có diệt
Pháp tức là như vậy; không phải nên lúc
diệt
Pháp nghĩa là khác lúc; không phải khác
lúc diệt
Như tất cả các pháp; tướng sanh không có
được
Vì tướng không sanh vậy; tức cũng không
tướng diệt
Nếu pháp là có người; tức là không có diệt
Không hợp với một pháp; đó có tướng không
tướng
Nếu pháp là không người; tức là không có
diệt
Ví như có hai đầu; không thể đoạn đi được
Pháp không tự nó diệt; tướng khác cũng như
vậy
Nếu tự tướng không sanh; tướng khác cũng
chẳng sanh
Sanh, ở, mất chẳng thành; nên không có có
vậy
Pháp hữu vi không có; làm sao có vô vi
Như huyễn lại như mộng; như thành Càn Thát
Bà
Nên nói sanh, ở, mất; các tướng đều như
vậy.
Phẩm thứ bảy nầy nói rõ về ba
tướng của sự sanh ra, tồn tại ở đời và mất đi. Như chúng ta đều biết các
pháp hữu vi đều không thật, cho nên pháp vô vi cũng không có. Các pháp nếu
nói có sanh, có trụ lại ở đời, có mất đi, chẳng qua chỉ là tướng giả mà
thôi. Thật tướng của nó là không thật. Do vì con người không có trí tuệ
nên mãi bị ba tướng nầy chi phối. Nếu ta luôn quán sát ba tướng nầy theo
thuyết Trung Luận của Ngài Long Thọ thì ba tướng nầy không có nơi nương
tựa ở tâm thức của mọi người.
Phẩm thứ 8 :
Quán tác và
tác giả
(Tác có nghĩa là nghiệp được tạo và tác
giả là kẻ tạo ra nghiệp)
Chắc chắn có người tạo; không tạo quyết
định nghiệp
Quyết định không người làm; không làm
không định nghiệp
Quyết định nghiệp không làm; là nghiệp
không kẻ tạo
Kẻ tạo nghiệp không tạo; kẻ tạo cũng không
nghiệp
Nếu chắc có kẻ làm; lại cũng có nghiệp tạo
Người tạo và nghiệp tạo; tức theo đó không
nhơn
Nếu theo đó không nhơn; tức không nhơn
không quả
Không tạo không người tạo; nên không có
pháp làm
Nếu không tạo ra pháp; tức không có tội
phước
Tội phước lại không có; quả báo tội phước
không
Nếu không tội phước báo; lại cũng không
Niết Bàn
Tất cả có thể làm; đều không không có quả
Kẻ tạo định hoặc không; không thể làm hai
nghiệp
Có không tướng khác nhau; một chỗ không có
hai
Có không thể tạo không; không không thể
tạo có
Nếu có tạo người tạo; cũng giống như trước
nói
Kẻ tạo không làm nghiệp; lại không làm
định nghiệp
Và định không định nghiệp; cũng giống như
đã nói
Nghiệp nhơn có kẻ làm; kẻ làm nguyên có
tội
Thành nghiệp nghĩa là vậy; ngoài ra không
có gì
Như phá nghiệp người tạo; người thọ cũng
như vậy
Và tất cả các pháp; cũng nên phá như vậy.
Nghiệp tiếng Sanscrit
gọi là Karma, Trung Hoa dịch là nghiệp; tiếng Việt dịch thành những hành
vi đã làm. Nghiệp có nghĩa là tất cả những gì liên quan đến quá khứ, hiện
tại và vị lai. Từ tư tưởng đến hành động; nếu có móng tâm tạo nên tội lỗi,
tức hành nghiệp nầy sẽ dẫn dắt chúng ta vào sanh tử luân hồi. Nếu từ tư
tưởng cũng như hành động, chúng ta không khởi lên một niệm tạo tác, thì
chắc chắn rằng không có những nghiệp được tạo ra. Vì vậy trong đoạn trên
có hai câu đáng lưu tâm là "Có không thể tạo không, không không thể tạo
có" là vậy. Tất cả đều có nguyên nhân và tất cả đều có kết quả. Nếu nhân
không gây thì quả sẽ không có. Cũng như thế ấy, ái dục không tạo, thì
nghiệp ái không sanh; nghiệp ái không sanh thì không còn tiếp theo những
vòng luân hồi liên tục nữa. Còn lại chỉ mình ta và chính cái ta nầy đi vào
sự tu học, giải thoát thì cái tạo nên nghiệp cũng không còn nữa. Từ đó kẻ
tạo ra nghiệp và nghiệp dĩ của mỗi cá nhân sẽ không còn tồn tại nữa. Đây
là một phẩm quan trọng trong các phẩm khác của tác phẩm Trung Luận nầy.
Trung luận
quyển thứ chín
Quán về Bổn
Trụ
(Bản Trụ hay Bổn Trụ có nghĩa là cái Ngã)
Nhãn nhĩ và các căn; khổ vui và các pháp
Ai có việc như vậy; đó gọi tên bổn trụ
Nếu không có bản ngã; ai có mắt và pháp
Vì vậy nên phải biết; trước bỏ cái bản ngã
Nếu lìa mắt các căn; và khổ vui các pháp
Trước kẻ có bản ngã; vì thế nên phải biết
Nếu lìa mắt tai thảy; mà kẻ có bản ngã
Lại muốn lìa bản ngã; mà có mắt tai vậy
Pháp nầy biết có người; vì người biết có
pháp
Lìa pháp mà có người; lìa người mà có pháp
Tất cả mắt và căn; thật không có bản ngã
Nhãn nhĩ và các căn; tướng khác nên phân
biệt
Nếu nhãn và các căn; kẻ không có bản ngã
Nhãn và tất cả căn; sao có thể biết trần
Kẻ thấy tức kẻ nghe; kẻ nghe tức kẻ thọ
Như vậy cùng các căn; nên chi có bản ngã
Nếu thấy nghe đều khác; kẻ thọ lại khác
tên
Lúc thấy lại nên nghe; như vậy tức nhiều
thần
Mắt tai và các căn; khổ vui và các pháp
Nên đây sanh các đại, bị đại cũng không
thần
Nếu mắt tai và căn, khổ vui cùng các pháp
Không có một bản ngã; mắt cũng không có
vậy
Mắt không có bản ngã; sau nầy cũng lại
không
Vì ba đời không vậy; không có không phân
biệt.
Đại ý phẩm thứ chín
nầy nói về Thần Ngã hay Bản Ngã. Khi con người chấp vào mắt, tai, mũi,
lưỡi và thân. Mắt có cái thấy, tai có cái nghe, mũi có cái ngửi v.v... tất
cả đều lấy chủ tể là cái ta để xem những đối tượng ấy; nhưng trên thực tế
thì những cái nầy không có cái nào là chủ cả. Vì mắt không phải là mắt;
mũi không phải là mũi; nghe không phải là nghe v.v... như vậy cứ mỗi một
căn của con người như thế sinh ra một đối tượng, mà đối tượng đó thật ra
chỉ là giả danh thôi chứ không phải thực tướng. Vì giả danh nên chúng
không có thật. Không có thật cho nên tất cả những mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, ý v.v... đều không có gì cả; không những không có trong đời nầy mà
tất cả chư Phật ba đời trong quá khứ, hiện tại cũng như vị lai cũng không
có chấp vào thần ngã ấy.
Vì người mù thấy
khác, người loạn sắc thấy khác, người có mắt bình thường thấy khác v.v...
tất cả cái thấy không khác; nhưng vì con người chấp chặt vào sự thấy của
mỗi người cho nên mới sinh ra cái thấy nầy hay cái thấy kia; nhưng trên
thực tế thì không có mắt để thấy và không có cái thấy nào cả. Vì cái thấy
tự nó không có chủ thể của nó. Chỉ vì chấp có thần ngã nên mới như vậy
Phẩm thứ
mười:
Quán về lửa
và nhiên liệu
Nếu lửa thật là lửa; nghiệp, tạo nghiệp là
một
Nếu lửa khác chất lửa; lìa chất lửa có lửa
Như vậy thường có lửa; không nhơn lửa
chẳng sanh
Tức không có lửa cháy; lại không tên tạo
lửa
Lửa không đợi mới cháy; tức không do duyên
sanh
Lửa nếu hay tự cháy; công người cũng thành
không
Nếu lửa lúc cháy đi; có tên là lửa cháy
Lúc bấy giờ có củi; vật nào cháy lại cháy
Nếu khác tức không đến; không đến tức
không cháy
Không cháy tức không tiêu; không mất tức
thường trụ
Cháy và có khác nhau; có thể đến chỗ cháy
Như vầy đến người khác; người khác đến
người nầy
Nếu cháy nghĩa có thể; cả hai đều khác
nhau
Như vậy cháy nghĩa là; cuối cùng cũng bị
cháy
Nếu nhơn có thể cháy; nhơn cháy có thể
cháy
Có định trước pháp nầy; nên sự cháy có thể
Nếu nhơn có thể cháy; nên cháy trở thành
cháy
Nên trong khi cháy ấy; tức là không có
cháy
Nếu nhơn pháp chờ thành; tức pháp mất chờ
thành
Ngay đây không chờ nhơn; cho nên không
pháp thành
Nếu pháp có chờ thành; chưa thành làm sao
chờ
Nếu thành đã có chờ; sự thành chờ làm gì
Nhơn có lửa không lửa; không nhơn lại
không lửa
Nhơn lửa lại không lửa; không nhơn không
có lửa
Lửa không từ đâu đến; lửa không chỗ không
lửa
Cháy được là như vậy; như trên đã nói vậy
Có lửa tức không lửa; lìa lửa chẳng có lửa
Lửa không có tự tánh; trong lửa không có
lửa
Cả lửa cũng không lửa; (bản Hán văn thiếu
5 chữ)
Cả lửa pháp có lửa; nói thọ kẻ thọ pháp
Và nói pháp y chú; tất cả các pháp ấy
Nếu người nói có ta; các pháp đều tướng
pháp
Hãy biết người như thế; không được vị Phật
Pháp.
Người mà không hiểu
như trên, quả thật không hưởng được hương vị của Phật Pháp vậy. Có nghĩa
là có lửa cũng như không lửa và lìa lửa chẳng có lửa là vậy. Lửa do nhân
duyên phát sanh, rồi lửa do nhân duyên tự diệt. Không phải vì có củi mà có
lửa, cũng chẳng phải vì có lửa nên mới có củi. Lửa và củi tuy có đó; nhưng
trên thật tướng là không. Vì lẽ tất cả đều là giả danh và tất cả chỉ là do
sự biến hiện của tâm thức mà thành vậy.
Phẩm thứ
mười một :
Quán sát về
bổn tế
(Bổn tế hay bản tế có nghĩa là biên tế)
Đức Phật đã nói rằng; bản tế không thể
được
Sanh tử không có đầu; lại cũng không có
cuối
Nếu không có đầu cuối; ở giữa làm sao có
Nếu giữa là như vậy; trước sau cũng hoàn
không
Nếu mà trước có sanh; sau có già và chết
Không già chết có sanh; không sanh có già
chết
Nếu trước có già chết; thì sau phải có
sanh
Đều là không có nhơn; không sanh có già
chết
Sanh ra và già chết; không phải cùng một
lúc
Có sanh tức có chết; cả hai không có nhơn
Nếu mà đầu và sau; cũng đều không như vậy
Vì sao lại không thật; vì chưa sanh già
chết
Các việc có nhân quả; có tướng tức có pháp
Nhận và kẻ thọ nhận; do có tất cả pháp
Không có cả sanh tử; bổn tế không thể được
Tất cả pháp như vậy; bổn tế cũng đều
không.
Sanh không từ đâu
đến, chết không từ đâu đi. Đó là bản tế. Phải quán sát như vậy. Cho nên ở
khoảng giữa không có gì để nói. Nếu sanh không có thì già cũng không có mà
chết cũng lại không. Tất cả các pháp đều như vậy cả. Hành giả thực hành
Trung Luận, nên luôn luôn phải suy nghĩ và thực hành về điều nầy. Tất cả
các pháp đều do nhân duyên sanh và các pháp đều do nhân duyên diệt. Có thì
có vậy; nhưng không vẫn hoàn không. Không vẫn là không vậy; nhưng sẽ biến
thành có. Do vậy nên gọi là biên tế. Vì đây là những nhận biết có tính
cách tạm thời, chứ không phải là chơn lý chơn thật của Phật Giáo. Vì Đức
Phật vẫn thường hay nói: Các hành nghiệp đều bị vô thường chi phối và các
pháp đều không có cái ta. Dầu cho pháp đó là của thế gian hay xuất thế
gian đi nữa. Tất cả đều là như vậy. Ngay cả việc sanh và việc tử là những
việc trọng đại của con người; nhưng trên thực tế, dưới cái nhìn của Trung
Quán, nó chỉ là những cái gì tương đối có tính cách đối đãi của thế gian
mà thôi. Trước và sau đều không có. Vì tâm chúng ta không khởi lên niệm
chấp có ban đầu hay chấp có sau cùng hay ngay cả khoảng giữa cũng vậy.
Không có cái gì gọi là bắt đầu cả, nên cũng không có cái gì gọi là chấm
dứt. Sở dĩ có bắt đầu có chấm dứt là do tâm niệm của con người chấp chặt
vào đối tượng mà thôi. Đã là người hiểu biết giáo lý nhà Phật, chúng ta
không khó khăn mấy, khi học cũng như thực tập về biên tế nầy.
Phẩm thứ
mười hai:
Quán sát về
sự khổ đau
Tự làm và người làm; cả hai không nhơn làm
Cho nên nói các khổ; do vậy quả không thật
Khổ khổ người tự làm; tức không từ duyên
sanh
Có nhơn có thân nầy; như có từ ấm sanh
Nếu là ngũ ấm nầy; khác với ngũ ấm vậy
Như vậy tức đúng lời; theo đó mà tạo khổ
Nếu người tự làm khổ; lìa khổ sao có người
Nghĩa là bởi người khác; chính mình tự làm
khổ
Khổ khổ người khác làm; mà làm người nầy
vậy
Nếu muốn lìa khổ não; sao có người nầy thọ
Khổ khổ bị người làm; giữ lại kẻ làm nầy
Lìa khổ sao có người; cho nên giữ việc nầy
Nếu làm mà không thành; làm sao lại bị khổ
Nếu bị người làm khổ; tức lại gọi tự làm
Khổ không tên tự làm; pháp không tự pháp
làm
Bị có không chi phối; sao có bị làm khổ
Nếu việc nầy thành khổ; cùng với khổ làm
nên
Cái nầy không tạo nên; hà huống không nhơn
làm
Không cần nói đến khổ; bốn loại nghĩa
không thành
Tất cả ngoài vạn vật; bốn nghĩa cũng không
thành.
Bốn chủng loại đó là:
tự tác, tha tác, cộng tác và vô nhân tác. Tự tác có nghĩa là tự mình tạo
ra sự khổ đau. Tha tác là người khác tạo ra sự khổ đau. Cộng tác có nghĩa
là cả hai đều tạo ra và cuối cùng là không ai tạo ra cả. Không có nguyên
nhân và cũng chẳng có kết quả của sự khổ đau.
Sự đau khổ của con người thì
không có giới hạn. Vì con người đã bị có và không chi phối; nhưng đứng
trên lập trường của Trung Quán thì không có người làm nên, không có người
nhận lấy cũng như không có cả hai nguyên nhân trên; nên cũng gọi là không
ai gây ra cả. Vì vậy khi thực hành pháp quán nầy phải dựa theo tinh thần
của Trung Quán mới thành tựu được pháp quán.
Những cái khổ về sanh, về già,
về bệnh, về chết, về ái biệt ly, cầu bất đắc, oán tắn hội và ngũ ấm xí
thạnh khổ v.v... chỉ là những cái khổ căn bản của con người khi có hình
hài, tức phải có sự hủy hoại. Học Trung Quán chúng ta phải biết quán rằng:
sanh không từ đâu tới; chết không từ đâu đi. Do vậy sự khổ cũng chỉ như
vậy thôi. Sanh, già, bệnh, chết, khổ, vui v.v... cũng chỉ là những giả
danh trong cuộc đời chứ không phải là những thật tướng vậy. Nếu quán sát
như vậy thì 4 chủng loại bên trên không có cơ sở để thành tựu đối với hành
giả thực hành Trung Quán vậy.
Phẩm thứ
mười ba:
Quan sát về
các hành
Như kinh Phật đã nói; chấp tướng hư cuồng
vọng
Các hành đều không thật; cho nên gọi hư
cuồng
Kẻ nhận hư cuồng vọng; trong ấy chấp chỗ
nào
Phật nói những việc nầy; tất cả đều vô
nghĩa
Các pháp đều sai biệt; biết rằng không có
tánh
Pháp cũng lại không tánh; tất cả pháp như
vậy
Nếu các pháp không tánh; tại sao gọi trẻ
con
Cho đến tuổi già nua; có điều gì khác nhau
Nếu các pháp có tánh; vì sao mà được khác
Nếu các pháp không tánh; vì sao mà có khác
Các pháp tức không khác; pháp khác cũng
không khác
Như mạnh không thể già; già cũng không làm
trẻ
Nếu pháp là sai khác; sữa tức cũng giống
lạc
Lìa sữa có pháp nào; có thể tạo nên lạc
Nếu có pháp không không; tức hợp pháp có
không
Thật không pháp bất không; sao được pháp
có không
Đức Phật dạy không pháp; vì lìa các chấp
vậy
Nếu lại thấy có không; các Phật không đổi
thay.
Các hành đều vô thường; nghĩa là
các pháp của thế gian và xuất thế gian đều biến đổi. Vì lẽ các hành đều
không thật; nhưng chúng ta chấp vào sự tồn tại và hiện hữu của các pháp
nên gọi là cuồng vọng. Đức Phật thấy rõ được điều đó nên nói rằng tất cả
đều vô nghĩa. Vì các pháp luôn luôn sai biệt và các pháp không có tự tánh
của nó. Khi các pháp luôn sai biệt, thì đâu có gì gọi là chủ tể. Đã không
có chủ tể thì làm gì có kẻ làm và người bị làm hay kẻ được làm.
Sự biến đổi từ trẻ con đến tráng
niên hay già nua v.v... chỉ là sự hóa hiện, cũng như sữa không tự biến
thành lạc và lạc cũng chẳng biến thành sữa. Sở dĩ gọi là sữa hay lạc, vì
do nhân duyên tác động mà thành vậy. Mà những nhân duyên ấy vì chúng ta
chấp trước mà có; nên chúng đều vô thường là vậy. Nếu chúng ta lìa xa các
pháp có không còn mất, sự hiện hữu, sự băng hoại v.v... thì chúng ta sẽ
hiểu được Trung Luận của Ngài Long Thọ.
Đức Phật thường dạy cho chúng ta
các pháp đều không; có nghĩa là Ngài dạy cho chúng ta đừng rơi vào chỗ
chấp tướng, chấp ngã. Nếu còn chấp tức còn bị dính chặt vào sự đối đãi; mà
còn đối đãi tức còn nằm trong vòng tương đối của thế gian, khó vào trong
nhận thức của xuất thế gian được.
Phẩm thứ mười bốn :
Quán về sự hòa hợp
Thấy và thấy kẻ thấy; đấy ba loại khác nhau
Như vậy ba pháp khác; cuối không có hòa hợp
Nhiễm và có thể nhiễm; kẻ nhiễm cũng lại
thế
Thêm vào các phiền não; tất cả đều như vậy
Pháp khác đương hòa hợp; thấy rằng không có
khác
Tướng khác không thành vậy; thấy vậy hợp
chỗ nào
Không vậy thấy các pháp; tướng khác không
thể được
Cho nên tất cả pháp; đều lại không tướng
khác
Khác nhơn cũng khác khác; khác lìa khác
không khác
Nếu pháp từ nhơn sanh; pháp nầy không khác
nhơn
Nếu lìa nơi khác khác; hay trừ khác có khác
Lìa nơi khác không khác; nên gọi không có
khác
Trong khác không khác tướng; không khác
trong cũng không
Không có khác tướng nầy; nên không bị sai
khác
Các pháp không hòa hợp; pháp khác cũng
không hợp
Kẻ hợp và hòa hợp; pháp hợp cũng đều không.
Thấy, được thấy và bị thấy là ba
yếu tố khác nhau; chúng không phải là một. Do vậy nên không hòa hợp nhau.
Vì các pháp có khác nhau về nhơn duyên để sanh khởi; nên cuối cùng cũng
khác nhau về kết quả khi đã đến. Mà tất cả các pháp đều không có tướng;
nên lìa tướng cũng không có pháp mà lìa pháp cũng không có tướng được. Các
pháp thế gian cũng như các pháp xuất thế gian trên căn bản không có pháp
nào giống nhau; nên gọi là không hòa hợp. Căn bản là như vậy cho nên khi
nói hợp hay hòa hợp chỉ là cách mượn cớ chứ thật ra hợp hay không hòa hợp
cũng đều không tất cả.
Ở đây người hòa hợp hay pháp hòa
hợp chỉ là sự đối đãi để mà thành; chứ trên thực tế thì pháp cũng không
hòa hợp mà người cũng không hòa hợp. Vì căn bản vốn là không. Tất cả chỉ
là thay đổi hình tướng và vị trí mà gọi là hợp cũng như không hợp mà thôi.
Nhiễm ô pháp thế gian cũng như có
thể nhiễm và kẻ bị nhiễm cũng thế. Đây gọi là pháp hòa hợp của ba loại
nhiễm; nhưng trên thực tế ba loại nầy không thực tướng; chúng chỉ là giả
danh để gọi những việc nhiễm ô của cuộc đời. Chúng giống như âm thanh,
điện chớp, sóng gợn, gió thổi v.v... tuy có tác động vào hình tướng bị
động và bị phân biệt; nhưng đó chỉ là những biến đổi của tâm thức, chứ
không phải là thực tướng của các pháp. Thực tướng của các pháp có nghĩa là
không bị luật vô thường và khổ, không chi phối. Ở đây vẫn bị chi phối; nên
Phật nói không hòa hợp là vậy.
Trung quán luận
Quyển thứ ba
Phẩm thứ
mười lăm :
Quán sát về
hữu vô
(Có và
Không)
Trong các duyên có tánh; việc ấy tức không
phải
Tánh từ các duyên sanh; có tên tạo các pháp
Tánh nếu là kẻ làm; vì sao có nghĩa nầy
Tánh tên là không làm; không đợi pháp khác
thành
Pháp nếu không tự tánh; vì sao có tánh khác
Tự tánh và tha tánh; lại tên là tánh khác
Lìa tự tánh tha tánh; làm sao có được pháp
Nếu có tự tha tánh; các pháp tức có thành
Có nếu không thành được; không sao gọi có
thành
Nhơn vì có các pháp; có khi hoại thành
không
Nếu người thấy có không; thấy tự tánh tha
tánh
Như vậy là không thấy; Phật Pháp nghĩa chơn
thật
Nếu pháp có tánh thật; ở sau không khác mấy
Tánh nếu có khác tướng; việc ấy cuối không
phải
Phật hay diệt có không; như độ Ca Chiên
Diên
Trong kinh đã có nói; lìa có cả lìa không
Nếu pháp thật có tánh; vì sao mà sai biệt
Nếu pháp không có tánh; vì sao mà sai biệt
Định có tức thường còn; định không tức hay
mất
Vì vậy có kẻ trí; không hợp với có không
Nếu pháp có tánh định; không không cũng là
thường
Trước có bây giờ không; tức là nghĩa mất
còn.
Đây cũng là chương quan trọng của
Trung Quán Luận mà chúng tôi đã lấy làm đề tựa cho quyển sách thứ 29 kỳ
nầy. Năm 2000 cũng là năm đánh dấu nhiều sự kiện quan trọng của cuộc đời,
của thiên niên kỷ thứ 3. Thông thường chúng ta hay dễ dãi với chính mình
và để cho thời gian trôi qua một cách vô ích; ít ai tự hiểu rằng thời gian
rất gấp rút, hãy dùng để gạn lọc tâm thức của mình và rọi soi chính mình
theo tinh thần Trung Quán Luận để hiểu rõ chơn thật nghĩa hơn.
Tánh có nghĩa là cái căn bản của
tinh thần, nó không là vật chất; nhưng tánh tự nó không có; tánh cũng
không phải do các pháp khác tạo thành, mà tánh do từ các nhân duyên khác
hòa hợp và sinh ra; cho nên tánh cũng còn có tên là tạo nên các pháp.
Nếu thực tế có tự tánh và tha
tánh thì các pháp tức có thành tựu; nhưng trên thực tế có cũng không thể
sinh được thì làm sao thành tựu được sự không. Nếu còn thấy có không, còn
thấy tánh đây tánh kia; tức chẳng thấy được tánh gì cả. Vì sao vậy ? Vì
nghĩa của Phật Pháp nằm nơi nghĩa chơn thật, chứ không nằm nơi đối đãi ấy.
Nếu thấy có tánh tức có tướng, có
trước tức có sau, có còn tức có mất, có sanh tức có diệt; nhưng Phật thì
không vậy. Không đối với Ngài cũng không mà có đối với Ngài cũng chẳng có.
Nếu hành giả lìa cả có và không; đó chính là chơn thật nghĩa của Như Lai
vậy.
Đến như định cũng vậy. Nếu nói
có, tức thường còn. Nếu nói không tức hay mất. Do vậy là kẻ trí, tức người
hiểu biết chân lý nầy phải biết rằng có không chỉ là sự đối đãi với nhau,
chứ trí tuệ và định tỉnh thì không phải như vậy.
Nếu pháp trong thế gian và xuất
thế gian có tánh định tỉnh cũng sai nốt. Vì lẽ nếu nói có thì không cũng
thường còn. Cho nên phải có trước có sau, mà pháp thì không như vậy. Không
sanh cũng không diệt, không mất cũng không còn; không đến cũng không đi;
không còn cũng không mất; không được cũng không thua, không có cũng không
không. Đó chính là chơn diệu nghĩa của Có Không vậy.
Phẩm thứ mười sáu :
Quán sát về phược giải
(Trói buộc và giải thoát)
Các hành đến và đi; thường không hợp đến đi
Vô thường hay không hợp; chúng sanh lại
cũng vậy
Nếu có chúng sanh đến; ấm giới và các nhập
Năm loại muốn hết không; ai có đến đi vậy
Nếu từ thân đến thân; đến đi tức không thân
Nếu mà không có thân; tức không có đến đi
Nếu các hành mất đi; việc nầy sau không
phải
Chúng sanh nếu có mất; việc nầy cũng như
vậy
Các hành sinh tướng diệt; không trói lại
chẳng mở
Chúng sanh như trước nói; không trói cũng
chẳng mở
Nếu thân gọi là trói; có thân tức không
trói
Không thân cũng không trói; vì sao mà có
trói
Nếu mà trói có trước; tức có trói và trói
Nhưng trước thật không trói; chỉ có đến đi
vậy
Kẻ trói không giải thoát; chẳng trói cũng
chẳng mở