Phật Giáo Với Con Người
Thích Như Điển
---o0o---
CHƯƠNG HAI. (2a)
Tinh thần Phật Giáo
đối với các dân tộc Á Châu và Âu Mỹ
Phật
Giáo khởi
nguyên từ
Ấn
Độ,
một
trong những
nước
lớn
tại
Á Châu và hầu
hết
các tôn giáo lớn
đều
bắt
nguồn
từ
Á Châu như Ấn
Độ
Giáo tại
Ấn
Độ,
Khổng
Giáo và Lão Giáo
ở Trung Hoa, Hồi
Giáo ở
Persien, Thiên Chúa Giáo
ở
Do Thái v.v... Có lẽ
vì Á Châu có một
nền
văn hóa lâu
đời nên các tôn giáo lớn
được
phát sinh từ
đây.
Ngược lại
Âu Châu, Mỹ
Châu và Úc Châu là những
châu lục
mới
được
phát triển
không quá 3.000 năm;
nên ít có những bậc
giáo chủ
như Đức
Thích Ca, Khổng
Tử,
Lão Tử,
Mohamed và Jesus v.v... Nhưng
Âu và Mỹ Châu thì có những
triết
gia lớn
như
Montesquieu, Décartes, Socrate, Schopenhauer, Hermanhess, Nietzsche v.v...
Có lẽ Á Châu là chiếc
võng của
tinh thần,
Âu Châu là nơi phát triển
chiều
sâu và Mỹ
cũng
như Úc Châu
là những nơi
sàng lọc, triển
khai để
các tôn giáo nầy
mãi mãi đi
vào chiều sâu của
lịch
sử
nhân loại.
Theo sự
phát triển
của
nhân loại,
Phi Châu là một
lục
địa
có trước;
nhưng cho đến
ngày nay Phi
Châu vẫn còn là một
châu lục
có nhiều
khổ
đau chồng
chất,
đất
đai kém màu
mỡ và văn
minh tại châu lục
nầy
vẫn
là văn minh
của thời
sơ khai. Có
một vài nước
ở
Bắc
hoặc
Nam Phi có nền
văn minh
không kém gì Âu Mỹ mấy;
nhưng ở
Trung Phi đa
phần còn giữ
lại nền
văn hóa cổ
truyền
tự
ngàn xưa. Có
lẽ vì lý do khí hậu
cũng
như địa
lý mà các nhà hiền
triết
cũng
như các bậc
giáo chủ
ít thấy
xuất
hiện
tại
đây
chăng?
Ấn
Độ
ngày nay gần
một
tỉ
dân nhưng chỉ
còn 3 triệu
tín đồ
Phật
Giáo. Có nhiều
người
đặt
câu hỏi
rằng:
"Tại
sao Ấn
Độ
là một
nước
phát sinh ra Phật
Giáo, mà Đạo
Phật
ngày nay không phát triển
được?".
Câu hỏi
nầy
tuy đơn giản;
nhưng phải
đi sâu vào
chiều dài lịch
sử
của
dân tộc
nầy,
mới
có thể
trả
lời
câu hỏi
ấy
một
cách tường
tận
được.
Nếu
ta ví Phật
Giáo là một
cây cổ
thụ,
có gốc
tại
Á Châu và cành lá, hoa quả
mọc
ra ở
các châu lục
khác thì chúng ta sẽ
thỏa
mãn ngay câu hỏi
trên. Gốc
cây bao giờ
cũng
phát triển
trước,
sau đó
phải dùng nhựa
sống
để
nuôi thân thể
và hoa lá của
mình; nhưng
không có nghĩa là gốc
cây đã
chết. Tuy gốc
cây có sần
sùi đó,
tuy gốc cây có vẻ
già cỗi
đấy;
nhưng nếu
không có gốc
cây nầy
thì các cành lá
ở
các nơi khác
làm sao tồn tại
và phát triển
được.
Khi người
Phật
Tử
hiểu
được
điều
nầy
tức
hiểu
thuyết
nhân duyên của
nhà Phật.
Đâu
có cái gì vĩnh viễn
tồn
tại
trong cuộc
đời
nầy
đâu.
Nên phải chấp
nhận
định
luật
vô thường
là thế.
Nếu
trở
lại
trong thời
hoàng kim của
Đạo
Phật,
chúng ta phải
ghi ơn các bậc
quân vương của
xứ
Ấn,
trong đó
có A Dục
Đại
Đế,
đã
vì sự phát
triển của
Đạo
Phật
mà ông ta đã
đem giáo lý từ bi lợi
tha nầy
áp dụng
vào trong đời
sống
của
chính mình và nhân dân trăm
họ.. Asoka
Đại
Đế
trị
vì xứ
Ấn
Độ
vào giữa
thế
kỷ
thứ
3 trước
Thiên Chúa giáng sinh, là một
bậc
quân vương rất
nổi
tiếng
tàn bạo;
nhưng sau khi
nghe được giáo pháp của
Đức
Phật,
ông ta đã
quy y và suốt cuộc
đời
còn lại,
ông đã
làm được những
công việc
phi thường
như sau:
"Khi nhà vua còn trị
vì, lúc đi
chiêm bái các thánh tích nơi Đức
Phật
Đản
Sanh, thành
đạo,
nơi nói pháp
lần
đầu
tiên và nơi
Đức Phật
nhập
Niết
Bàn, nhà vua
đã
cho dựng những
cây trụ
đá,
trên đầu trụ
có tạc
hình sư tử
3 đầu.
Đây
là dấu hiệu
của
sức
mạnh
lúc vua trị
vì và ngay cả
ngày nay trên lá cờ
quốc
gia xứ
Ấn
Độ
vẫn
còn biểu
hiệu
nầy
với
bánh xe pháp luân của
Phật
Giáo, mặc
dầu
ngày nay Ấn
Giáo là quốc
giáo của
xứ
nầy.
Có nơi trụ
đá
làm bằng những
loại
đá
rất quý như
ở Ba La Nại;
nhưng cũng
có nơi làm bằng
loại
đá
bình thường như
ở vườn
Lâm Tỳ
Ni hoặc
ở
xứ
Kiều
Tất
La. Trên các cây trụ
đá
ấy nhà vua
đã
cho viết
những chữ
cổ
ngữ
Ấn
Độ
để
đánh
dấu nơi
sanh ra hay nơi thuyết
pháp lần
đầu
tiên của
Đức
Phật.
Thân hình các cây trụ
đá
được
điêu khắc
tròn, cao chừng
10 thước.
Chính nhờ
những
cây trụ
đá
nầy mà ngày nay các nhà
khảo
khổ
học
và địa
chất
học
đã
tìm ra chứng
tích lịch sử
xác thực
của
Đức
Phật.
Cũng
như mới
đây
vào đầu năm
1995, sau khi khám phá một
miếng
đá
nhỏ, nơi
Đức Phật
Đản
Sanh do vua A Dục
cho xây, lúc
ông đi chiêm bái nơi nầy
do hai nhà địa
chất
học
Nhật
Bản
và Népal tìm
được
và đầu
năm 1996 họ
đã
công bố cho thế
giới
biết,
đây
xác thực là miếng
đá
vua A Dục
đã
cho xây, xác nhận nơi
đản sanh của
Đức
Phật.
Vì theo sách sử
kể
lại,
khi nhà vua di thăm
nơi nầy, có cho khắc
vào đá
tại
đó.
Và từ miếng
đá
nầy
đi đến
hồ
nước
thiêng khi mẫu
hậu
Ma Ya sanh Thái
Tử bước
đi đúng
25 bước.
Đá
nầy sau khi giảo
nghiệm
đã
chứng thực
là loại
đá
có từ thời
vua A Dục.
Vì vậy
nhà vua Népal và các vị
Bộ
Trưởng
đã
đến
đây
chiêm bái vào đầu năm
1996 nầy.
Lịch
sử
Đức
Phật
là một
lịch
sử
có thật,
không phải
là chuyện
hoang đường.
Do đó,
để thẩm
định
lại
giá trị
của
nó, người
ta cần
tra cứu
các căn
nguyên của lịch
sử.
Nếu
là thật,
nhân loại
có thể
vững
tin mà đi tiếp
theo con đường
đã
có sẵn.
Đá,
dẫu có rắn
chắc
bao nhiêu đi chăng nữa,
qua thời
gian năm
tháng sẽ mòn
đi; nhưng nhờ
nó mà có thể
chứng
minh cho những
sự
thật
đã
trải qua trong lịch
sử.
Điều
quan trọng
ở
đây
là tinh hoa của giáo lý
ấy
có khế
hợp
với
trình độ
của
chúng sanh không và chúng sanh có thừa
hành để
tiêu hóa giáo lý
ấy
không, mới
là điều
đáng
nói.
Những
sắc
dụ
của
nhà vua công bố,
luôn luôn liên quan
đến
tinh thần
từ
bi và lợi
tha dựa
theo lời
dạy
của
Đức
Phật.
Một
trong những
sắc
dụ
ấy
bây giờ
vẫn
còn tàng trữ
tại
vườn
Lộc
Uyển,
nơi Đức
Phật
thuyết
pháp lần
đầu
tiên. Nội
dung của
sắc
dụ
đại
ý nói rằng:
Bất
kể
là ai, Tăng
cũng như
tục nếu
vi phạn
đến
giáo lý của
Đạo
Phật
sẽ
bị
trừng
trị
một
cách xứng
đáng.
Đây
có lẽ nhà vua muốn
ngăn ngừa
ngoại
đạo
lúc nào cũng
manh tâm hại
Phật.
Đó
không nói việc có ý hiềm
khích với
nhau. Vì Ba La Nại
cũng
là thánh địa
của
Ấn
Độ
Giáo, trong khi
đó
người
Ấn
Giáo tin rằng
Đức
Phật
Thích Ca Mâu Ni cũng
là một
trong những
vị
thần
của
họ
mà thôi.
Trong thời
vua A Dục
trị
vì, một
Đại
Hội
kết
tập
kinh điển
lần
thứ
3 đã
được các bậc
thánh Tăng tập
trung lại
để
tuyên dương
giáo pháp của
Đức
Phật
dưới
sự
bảo
hộ
của
nhà vua và triều
đình.
Đức Phật
nhập
diệt
năm 624 trước
Thiên Chúa giáng sinh, cách
đó
100 ngày có kỳ kết
tập
kinh điển
lần
thứ
nhất,
cách 100 năm
sau có kỳ kết
tập
kinh điển
lần
thứ
hai và cách 300 năm
sau có kỳ kết tập
kinh điển
lần
thứ
3. Mỗi
lần
kết
tập
như thế,
các bậc
thánh Tăng đều
tuyên dương
giáo lý của
Đức
Phật
bằng
miệng
qua các bộ
kinh, bộ
luật
và luận
tạng.
Đến
thời
kỳ
nầy
là thời
kỳ
triển
khai của
các hệ
phái khác nhau như:
Đại Thừa
Giáo, Tiểu
Thừa
Giáo và Nguyên Thủy
Phật
Giáo. Có phái chủ
trương sửa
đổi
tinh thần
giới
luật
cho hợp
với
thời
đại,
có phái chủ
trương giữ
nguyên và có
phái chủ trương
phải
đi sâu và đi xa hơn
nữa
để
hòa nhập
vào tối
thượng
thừa.
Chính trong thời
kỳ
nầy
nhà vua đã
cho con trai của mình là
Thái Tử
Mahinda và con gái của
mình là Công Chúa Sanghamitta
đến
đảo
Tích Lan, mang cây Bồ
Đề
và giáo lý của
Đức
Phật
đến
đó
để truyền
thừa.
Ngoài ra vua A Dục
cũng
đã
cho rất nhiều
nhà Sư đi qua
đến Trung
Đông
như Hy Lạp, Alexandria
để
truyền
đạo.
Kết
quả
cây Bồ
Đề
đã
tồn tại
và phát triển
tại
xứ
Tích Lan cho
đến ngày nay.
Theo lịch
sử
truyền
thừa
của
Phật
Giáo Tích Lan thì năm
85 trước Thiên Chúa
giáng sinh, Tam Tạng
Thánh Điển
bằng
tiếng
Pali đã
được khắc
lên mộc
bản và
đây
là ngôn ngữ
đầu
tiên của
Tam Tạng
đã
được thành hình. Như vậy
kể
từ
khi Đức
Phật
nhập
diệt,
cho đến
khi kinh điển
có chữ
viết
là 539 năm,
thời gian nầy
cũng
đã
nói lên được tính chất
đặc
biệt
của
nó. Vì thời
kỳ
chánh pháp giáo lý của
Đức
Phật
có 500 năm.
Trong thời gian nầy,
bất
cứ
ai hễ
nghe đến,
thực
hành giáo lý của
Đức
Phật
thì đều
được
chứng
quả
cả.
Còn những
thời
gian sau nầy
rất
hiếm
người
liễu
ngộ
giáo lý cao siêu
ấy,
cho nên trong kỳ
kết
tập
lần
thứ
3 nầy
chư Tăng một
giáo đoàn và
nhà vua đã
hết sức
hỗ
trợ
cho các đoàn
truyền giáo,
để
cách đó
hơn 150 năm sau kinh điển
đã
có chữ viết,
để
sau nầy
mọi
người
căn cứ
vào đó
mà kết tập
lần
thứ
4, thứ
5 v.v...
Tinh thần
Bắc
Tông hướng
về
phương Bắc,
đại
diện
khuynh hướng
nầy
có Ngài Vô Trước,
Thế
Thân, Long Thọ
và Mã Minh vào
đầu
thế
kỷ
thứ
nhất
và tinh thần
Nam Tông thì
đi về phía Nam
để
tạo
ra hệ
phái Nam Tông rõ rệt
tại
các xứ
Đông
Nam Á Châu sau nầy.
Khi vua A Dục
cho phép Đạo
Phật
phát triển
một
cách mạnh
mẽ
như vậy
chắc
chắn
rằng các vị
Bà La Môn và
Ấn
Độ
Giáo cũng
chẳng
thích thú gì; nhưng
vì sợ uy quyền
của
nhà vua Phật
Tử
nầy
nên họ
đã
chẳng dám hở
môi. Nhữ