Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật giáo & Xã Hội


...... ... .

 

 

 

HẠNH PHÚC CHÂN THƯỜNG

THE ART OF HAPPINESS

 

Đức Đạt Lai Lạt Ma

Bác Sĩ  Howard C. Cutler 

Nguyên Dực chuyển ngữ

 ---o0o---

PHẦN 3. CHUYỂN HÓA ĐAU THƯƠNG 

Chương 8

 

ĐỐI DIỆN VỚI KHỔ NÃO

Lúc đức Phật còn tại thế, có một người đàn bà tên là Kisagotami đã vô cùng đau khổ khi đứa con trai duy nhất của bà tử nạn. Bà chạy hết người này đến người kia với hy vọng tìm ra thuốc cải tử hoàn sinh cho đứa con. Bà nghe người ta nói đức Phật có thứ thuốc đó. Kisagotami tìm đến, đảnh lễ đức Phật rồi nói :

"Ngài có biết thuốc gì để cứu sống con tôi ?"

"Ta có thể chế được thuốc ấy." Đức Phật trả lời: "Nhưng ta cần một ít hương liệu"

Người đàn bà như thoát nạn vội hỏi: "Ngài cần những gì ? "

"Bà hãy kiếm cho ta một ít hột mù tạc."

Người đàn bà cam đoan sẽ kiếm ra và vội vã chạy đi. Nhưng đức Phật nói thêm :

"Hột mù tạc mà ta muốn phải được lấy từ một gia đình chưa hề có con cái, vợ chồng, cha mẹ, hay người giúp việc bị chết."

Người đàn bà chấp nhận yêu sách đó và bắt đầu đi từ nhà này sang nhà khác để kiếm hột mù tạc.  Nhà nào cũng sẵn lòng cho Kisagotami một ít hột mù tạc, nhưng khi hỏi thăm thì bà ta không tìm ra một gia đình nào không có người chết: không cha mẹ thì vợ chồng, không con cái thì người giúp việc.

Trực ngộ được rằng không phải chỉ có mình bị khổ não, người đàn bà buông xác con và quay lại tìm đức Phật. Bậc Đại Giác vỗ về: "Bà tưởng chỉ một mình bà mất con? Luật sinh tử nói rằng không có gì trường cửu trên thế gian này cả."

Cuộc tìm kiếm của Kisagotami đã khiến bà hiểu rằng không một ai trên cõi đời này tránh được khổ đau và mất mát. Khổ nạn ấy không phải của riêng bà. Hiểu được điều đó, không phải người ta sẽ không khổ đau khi bị mất mát nhưng nỗi đau khổ sẽ giảm thiểu rất nhiều khi chúng ta chấp nhận sự thật buồn bã đó của cuộc đời. 

Mặc dù đau đớn và khổ não là một hiện tượng có tính cách toàn cầu của loài người, con người vẫn không muốn chấp nhận chúng. Nhân loại đã tìm ra không biết cơ man nào là những phương pháp để tránh đau đớn và khổ não. Có khi người ta dùng những hình thức ngoại vi như hóa chất chẳng hạn để xoa dịu hoặc ngăn chận những cảm giác này. Chúng ta cũng có những khả năng nội tại, những phòng thủ tâm lý để chống lại đau khổ. Tình trạng ngất xỉu cũng được coi là một  cách thức chống lại đau đớn của thể xác. Trong một số trường hợp, những năng lực nội tại này khá sơ đẳng như khi người ta cứ nhất định không nhìn nhận sự hiện diện của một khó khăn nào đó, hoặc biết rằng mình đang gặp phải một vấn nạn nhưng lại tìm cách tránh né, không nghĩ tới nó bằng cách buông thả vào những thú vui thế tục. Cũng có khi người ta dùng phương pháp phóng chiếu: không chấp nhận sự khổ não đó là của mình và tìm cách đổ lỗi cho người khác. Thông thường nhất là đổ cho xếp lúc nào cũng tìm cách hành tội mình, tại bà vợ/ông chồng lúc nào cũng chèn ép mình ...

Người ta chỉ có thể tạm thời tránh né khổ đau. Nhưng giống như một căn bịnh không được chữa trị (hoặc chữa trị không đúng cách: triệu chứng bên ngoài có thể thuyên giảm nhưng gốc rễ bên trong vẫn còn nguyên) nó càng ngày càng nặng hơn. Các dược chất có thể giúp chúng ta làm dịu cơn đau hoặc rượu có thể giúp chúng ta quên đi niềm khổ não, nhưng nếu sử dụng lâu dài, sự tàn phá của chúng đối với cơ thể vật lý cũng như cuộc sống xã hội của chúng ta còn nguy hại gấp bội so với những đau đớn và khổ não mà chúng ta phải chịu đựng lúc ban đầu. Các phương thức phòng thủ tâm lý nội tại của chúng ta như từ chối chấp nhận sự thật, đè nén cảm giác ...  cũng  giúp  chúng ta chịu  đựng một  thời  gian, nhưng chúng không thể  làm  cho  các  đau đớn  và khổ nạn biến mất.

Bố của Randall qua đời vì bịnh ung thư đã được hơn một năm nay. Randall rất gần gũi với bố và mọi người đã hoàn toàn khâm phục khi thấy Randall kềm chế cảm xúc của mình trước cái chết của người cha. "Dĩ nhiên là tôi buồn khổ. " Randall giải thích bằng một giọng khắc kỷ: "Tôi thương nhớ bố lắm nhưng còn nhiều chuyện phải làm. Tôi không thể ngồi ì ra đó để khóc lóc, tôi phải thu xếp đám tang, dàn xếp sự sản cho mẹ.... Cuộc đời vẫn phải tiếp tục.... Không sao đâu, tôi khoẻ mà !" Tuy nhiên, không bao lâu sau ngày giỗ đầu của bố, Randalll bắt đầu bị chứng trầm cảm khá nghiêm trọng. Anh ta đến phòng mạch của tôi và giải thích: "Không thể hiểu được do đâu mà tôi lại bị chứng bịnh này. Hiện giờ mọi chuyện có vẻ suông sẻ. Tôi không nghĩ cái chết của cha tôi là nguyên nhân của căn bịnh. Cha tôi mất hơn một năm rồi và tôi đã quen với cuộc sống mồ côi."

Chỉ xem qua một ít triệu chứng, tôi đã tìm thấy nguyên nhân của chứng bịnh: Mặc dù kềm chế được cảm xúc, tỏ được cho người ngoài thấy rằng mình vững chãi, Randall chưa bao giờ thực sự đối diện với nỗi buồn khổ sâu đậm của mình do sự ra đi của bố. Nỗi khổ đau thật ra cứ âm thầm lớn mạnh và cuối cùng đã tạo ra chứng trầm cảm nghiêm trọng mà anh ta phải hứng chịu. Trong trường hợp của Randall, vì nguyên nhân của căn bịnh khá rõ ràng nên chúng ta có thể chú mục vào đấy để điều trị, thành thử anh ta mau chóng phục hồi. Trong nhiều trường hợp khác, từ vô thức, người bệnh đã nhất định không chịu đối diện với vấn đề, và căn nguyên của bịnh trạng đã hằn sâu vào cá tính của bịnh nhân  khiến cho việc chữa trị vô cùng khó khăn. Ai trong chúng ta cũng đã có dịp biết một người bạn, người quen, người thân nào đó đã tránh né vấn đề, tìm cách đổ lỗi cho người khác trong khi thật sự chính họ là người có lỗi. Đây dĩ nhiên không phải là phương pháp hữu hiệu để giải quyết những vấn nạn của đời sống và loại người thường tìm cách tránh né những vấn nạn này cũng không tìm thấy hạnh phúc trong cuộc đời.

Đức Đạt Lai Lạt Ma đã phân tích rất tỉ mỉ sự khổ đau của kiếp người. Quan điểm của Ngài cho rằng người ta có thể giảm bớt khổ đau bằng cách chấp nhận khổ đau là một phần tự nhiên của đời sống và bằng cách can đảm trực diện với chúng: "Trong cuộc sống thường nhật, chúng ta không thể tránh khỏi các khó khăn. Những khó khăn lớn lao nhất lại là những cái mà không ai tránh né được như già yếu, bệnh tật và tử vong. Tìm cách lẫn tránh chúng, không nghĩ đến chúng có thể giúp chúng ta thoát nạn trong chốc lát, nhưng tôi cho rằng có một phương pháp hữu hiệu hơn: Bạn sẽ ở một vị trí thuận lợi hơn, hiểu thấu bản chất thực sự các khó khăn của đời sống hơn nếu bạn nhìn thẳng vào chúng. Trong một cuộc chiến đấu, nếu không hiểu rõ bản chất và khả năng của kẻ địch, chúng ta sẽ hoàn toàn bị động và nỗi khiếp sợ sẽ làm tê liệt chúng ta. Trái lại, nếu biết khả năng kẻ địch đến đâu, vũ khí nào được chúng sử dụng ... thì chúng ta sẽ dễ dàng chuẩn bị cho mình. Cũng thế, bạn sẽ đối phó dễ dàng hơn với những khó khăn trong đời bằng cách nhìn thẳng vào chúng thay vì lẫn tránh chúng.

Phương pháp giải quyết vấn đề này rõ ràng là hợp tình hợp lý, nhưng vì muốn đức Đạt Lai Lạt Ma giải đáp tường tận hơn nên tôi hỏi: "Vâng, nhưng nếu chúng ta trực diện với vấn nạn rồi không tìm được giải pháp nào thì làm sao ?"

"Tôi vẫn cho rằng tốt hơn nên trực diện với chúng" Đức Đạt Lai Lạt Ma đáp lời tôi với một tâm trạng hăng hái: "Giả dụ như anh cho rằng những chuyện như tuổi già, nỗi chết là những chuyện tiêu cực, không ai muốn nói đến nên chúng ta tìm cách quên chúng đi. Nhưng quên chúng thì chúng vẫn đến kia mà ? Và nếu cứ tìm cách lẫn tránh, không chuẩn bị trước, khi chúng đến, anh sẽ bị chấn động, bị sốc. Tuy nhiên, nếu đã dành thì giờ suy nghĩ về những khổ nạn này, tâm trí chúng ta sẽ ở trong một trạng thái vững chãi hơn rất nhiều khi những chuyện này xảy đến vì anh đã chuẩn bị, đã làm quen, đã chấp nhận chúng.

"Do vậy mà tôi cho rằng chuẩn bị tinh thần, làm quen với những khổ nạn mà mình có thể gặp là điều hữu ích. Sử dụng phương pháp loại suy, nghiền ngẫm các khổ nạn cũng giống như thực tập các hoạt động quân sự. Một người chưa bao giờ nghe đến chiến tranh, súng nổ, bom rơi ... nếu phải giáp mặt với chiến trường, chắc họ sẽ chết ngất vì sợ hãi. Nhưng nếu được luyện tập thường xuyên, tâm trí chúng ta sẽ quen với những âm thanh của bom đạn và nếu phải đối mặt với chiến trường, chúng ta sẽ ít bị hãi hùng hơn." 

Tôi ngắt lời đức Đạt Lai Lạt Ma: "Đồng ý rằng làm quen với khổ nạn sẽ giảm thiểu nỗi sợ hãi và lo lắng của chúng ta, nhưng tôi nghĩ rằng có những trường hợp tấn thối lưỡng nan mà chúng ta không cách nào tránh khỏi. Trong những tình huống như vậy, làm sao để người ta bớt lo âu ?"

Đức Đạt Lai Lạt Ma hỏi: "Thí dụ như tình huống nào ?"

Tôi cân nhắc một chút rồi đáp: "Lấy trường hợp một người đàn bà đang có thai chẳng hạn. Kết quả các cuộc thử nghiệm cho thấy đứa bé bị khuyết tật khá nặng về tâm thần hoặc thể chất. Do vậy người đàn bà rất sợ hãi và không biết làm sao. Giả dụ như muốn tránh cho đứa bé phải sống một cuộc đời đày đọa, người đàn bà có thể chọn giải pháp phá thai. Nhưng làm như vậy, bà ta sẽ phải chịu đựng một sự đau khổ và mất mát lớn lao, đồng thời phải mang mặc cảm phạm tội. Hoặc người đàn bà phó mặc cho định mệnh an bài và sẽ cưu mang đứa bé nghĩa là phải gánh chịu một cuộc sống khổ não cho cả mẹ lẫn con."

Đức Đạt Lai Lạt Ma nghe tôi nói một cách chăm chú và đáp lại bằng một âm điệu bâng khuâng: "Dù giải quyết theo quan điểm Tây phương hay dựa trên giáo lý nhà Phật, người ta đều gặp rất nhiều khó khăn đối với những hoàn cảnh khó xử như vậy. Trong thí dụ mà anh vừa đưa ra về một bào thai khuyết tật, trong đường dài, không ai dám nói chắc rằng đâu là sai và đâu là đúng. Dù bị khuyết tật, đứa bé có thể là một điều tốt cho người mẹ, cho gia đình và cho chính bản thân nó nữa (nghịch duyên). Nhưng cũng có thể nó là một gánh nặng mà một số người không cưu mang nổi về dài về lâu, cho nên phá thai trong trường hợp này chưa hẳn là điều xấu. Nhưng ai có quyền phán xét ? Rất khó nói. Theo quan điểm nhà Phật, những trường hợp này nhiều khi cũng vượt khỏi phạm vi hành xử của chúng ta". Đức Đạt Lai Lạt Ma ngừng một lúc rồi nói tiếp: "Có điều là niềm tin và quá trình lớn khôn của người ta đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành quyết định ..."

Chúng tôi ngồi lặng yên. Sau cùng, đức Đạt Lai Lạt Ma lắc đầu rồi nói tiếp: "Khi suy ngẫm về những khổ nạn mà con người phải gánh chịu, chúng ta có thể sửa soạn tâm tư để đón nhận chúng ở một mức độ nào đó; tuy nhiên đừng quên rằng sự sửa soạn trước như vậy không làm cho khổ nạn vơi bớt đi. Sự sửa soạn tinh thần chỉ giúp chúng ta bớt sợ hãi, yên tâm hơn để đón nhận chúng. Trở lại thí dụ về đứa bé khuyết tật, cho dù có sửa soạn bao nhiêu đi nữa, chúng ta cũng phải chấp nhận một giải pháp nào đó cho vấn đề, và bất cứ giải pháp nào cũng khó khăn cả."

Có một âm hưởng buồn thảm trong giọng nói của đức Đạt Lai Lạt Ma tuy không phải là vô vọng. Ngài ngừng nói, nhìn đăm chiêu qua khung cửa. Một phút sau, Ngài tiếp: "Khổ não là một-phần-không-thể-tránh-được của cuộc đời mặc dù khuynh hướng tự nhiên của chúng ta là không thích chúng. Nhưng nói một cách tổng quát, tôi cho rằng con người không phổ quát hóa sự khổ đau trong cuộc sống của chúng ta ...". Tự nhiên đức Đạt Lai Lạt Ma bật cười và nói đùa: "Anh thấy không, khi kỷ niệm ngày chúng ta chào đời, ai cũng nói 'Chúc mừng sinh nhật' trong khi thật ra, đó là ngày của những khổ đau bắt đầu. Nhưng có ai nói chia buồn với chúng ta đâu ?

"Khi chấp nhận khổ não là một phần của cuộc  sống, chúng ta có thể bắt đầu bằng sự khảo sát những nguyên nhân đưa đến tình trạng không hài lòng, không hạnh phúc. Thông thường thì người ta cảm thấy vui vẻ nếu chúng ta hay người thân của mình được tán dương, nổi tiếng, gặp hên... và ngược lại, chúng ta cảm thấy buồn rầu nếu không nhận được những điều tốt đẹp đó. Chúng ta cũng không vui khi đối thủ của mình gặp may như vậy. Tuy nhiên, nhìn vào cuộc sống thường ngày, anh sẽ thấy có vô số những dữ kiện đưa chúng ta đến tình trạng không hài lòng, bực bội, đau khổ ... trong khi những nguyên nhân đưa đến sự vui vẻ, hạnh phúc lại tương đối hiếm hoi. Đây cũng là một đặc điểm khác của đời sống mà chúng ta phải chấp nhận dù thích hay không. Và vì đây là những thực thể của cuộc đời, chúng ta phải thay đổi thái độ của mình đối với khổ đau. Thái độ của chúng ta đối với khổ nạn ảnh hưởng sâu đậm đến phương thức ứng xử của người ta khi những khổ nạn này xuất hiện. Thái độ thông thường của chúng ta là không có thiện cảm và khoan nhượng đối với khổ não. Tuy nhiên, nếu chúng ta có thể chuyển hóa thái độ của mình, chấp nhận một quan điểm với nhiều khoan nhượng hơn, may ra, chúng ta sẽ dễ dàng hơn trong việc chấp nhận những cảm giác bất toại nguyện, bất như ý, bất hạnh của cuộc đời.

"Riêng cá nhân tôi, phương cách hữu hiệu nhất để chấp nhận khổ đau là nhìn rõ và hiểu thấu bản chất của ý niệm LUÂN HỒI[1], do vô minh sai sử ... Khi gặp khó khăn hay đau đớn thể xác, người ta thường có ý nghĩ rằng 'Ôi đau đớn quá, khổ não quá' . Đó là một cảm giác chối bỏ, cảm giác cho rằng lẽ ra ta không phải chịu đựng như vậy. Nhưng nếu cùng lúc đó, nếu nhìn vấn đề từ một góc độ khác để nhận thức rằng những khó khăn, đau đớn đó là tự nhiên, là không tránh được thì cảm giác chối bỏ sẽ giảm đi: Bạn không cảm thấy mình bị đày đọa, không phải là tội nhân nữa. Khi đã hiểu và chấp nhận sự thật này, khổ não đối với người ta chỉ là một cái gì tự nhiên, thông thường. Do vậy, khi nói về những đày ải  mà người dân Tây Tạng đang  phải  gánh  chịu, một  mặt, người ta có thể bị chìm ngập, thúc thủ mà nghĩ rằng 'Làm sao lại có thể như vậy được ?' Nhưng mặt khác, người ta có thể cho rằng người dân Tây Tạng đang ở giữa biển trầm luân (đang trả quả) như hành tinh này đang chơi vơi trong dãy thiên hà vậy.

"Vậy thì cách nhìn đời của chúng ta đóng một vai trò quan trọng trong việc chấp nhận khổ não. Nếu cho rằng khổ đau là tiêu cực, là thất bại, phải tránh xa bằng mọi giá thì khi phải đối diện với khổ đau, chúng ta sẽ bị rối loạn, không chấp nhận và có cảm giác chìm đắm, thúc thủ. Ngược lại, nếu chấp nhận khổ đau là một phần tự nhiên của đời sống, chúng ta sẽ dễ dàng chấp nhận những nghịch lý của cuộc đời. Không chịu khoan nhượng với khổ đau, cuộc sống của chúng ta sẽ vô cùng khốn khó, sẽ như đêm dài vô tận, không bao giờ chấm dứt."

Tôi nói: " Nghe Ngài trình bày về khía cạnh khổ đau, không toại ý của kiếp người, tôi có cảm tưởng đây là một cái nhìn yếm thế, khá nản lòng."

Đức Đạt Lai Lạt Ma nhanh nhẩu khai thông vấn đề: "Khi đề cập đến tính chất bất như ý trong cuộc sinh tồn, chúng ta nên hiểu rằng vấn đề này được nhắc đến khắp nơi trong giáo lý nhà Phật, cho nên phải được hiểu một cách đúng đắn theo bối cảnh Phật giáo. Nếu khổ não không được thông hiểu bằng nhân sinh quan nhà Phật, tôi nghĩ rằng người ta sẽ hiểu lầm và đưa đến ý niệm cho rằng đây là những ý tưởng bi quan, tiêu cực. Do đó, người ta phải hiểu rõ lập trường của Phật giáo về toàn bộ ý niệm khổ đau. Chúng ta sẽ dễ dàng tìm thấy trong những lần thuyết giảng trước công chúng, đầu tiên, Đức Phật đã dạy về Tứ Diệu Đế, và trong bốn sự thật căn để này, khổ đế được đề cập trước nhất: Sự hiện hữu của con người, tự bản chất, là khổ đau.

Điều cần ghi nhớ là sự quán sát khổ đau rất quan trọng vì con người có thể tránh được đau khổ, chúng ta có thể có một sự chọn lựa khác. Bằng cách khai trừ những nguyên nhân của khổ não, chúng ta có thể đạt được tình trạng giải thoát, một tình trạng sinh tồn trong đó không có khổ đau. Theo tư tưởng Phật giáo, những nguyên nhân của khổ đau là Vô Minh, Tham Dục và Thù Hận. Đó là ba thứ độc dược của tâm thức. Trong Phật giáo, những danh từ này có một ý nghĩa đặc biệt sâu rộng hơn. Như khi nói vô minh, người ta không chỉ đơn thuần đề cập đến sự ngu dốt, không thông hiểu trong đời sống thường nhật mà còn ngụ ý về nhận thức sai lầm căn bản về bản chất của NGÃ (ta) và PHÁP (vạn hữu). Hoặc khi thấu hiểu bản chất chân thật của sự vật, khai trừ những nguyên nhân đưa đến khổ đau như tham dục và hận thù, tâm ta có thể đạt đến tình trạng thanh tịnh nghĩa là không còn khổ não. Cũng theo quan điểm nhà Phật, suy ngẫm đến cuộc sống bị khổ đau chi phối từng ngày sẽ thúc đẩy người tìm cách trừ khử các nguyên nhân gây ra đau khổ. Vì nếu không có hy vọng, không có khả năng tránh được khổ đau thì những suy ngẫm về đau khổ chỉ là những ý tưởng bệnh hoạn, tiêu cực và hoàn toàn vô ích."

Nghe đức Đạt Lai Lạt Ma giảng giải, tôi bắt đầu nhận ra rằng sự suy ngẫm về  'bản chất khổ đau' có thể giữ một vai trò quan hệ trong việc chấp nhận những buồn khổ không thể tránh được của cuộc sống. Hơn thế, nó có thể trở thành một phương thức hữu hiệu để đặt lại những vấn nạn của cuộc đời vào một vị trí thích hợp hơn. Tôi cũng nhận ra rằng khổ đau cần phải được nhận thức trong một bối cảnh rộng lớn hơn, rằng nó là một phần của hành trang tinh thần, đặc biệt là trong phạm trù Phật giáo, trong đó nói rằng con người có thể tránh được khổ não nếu thanh lọc được tâm. Nhưng thay vì suy nghĩ về những vấn đề triết học lớn lao, tôi lại thích tìm hiểu xem đức Đạt Lai Lạt Ma đã ứng xử thế nào đối với những khổ đau ở tầm mức cá nhân của Ngài như khi mất người thân chẳng hạn.

Khi viếng thăm đức Đạt Lai Lạt Ma lần đầu tiên ở Dharamsala cách đây nhiều năm về trước, tôi có dịp làm quen với Lobsang Samden, người anh của Ngài. Tôi rất thích ông ta và cách đây ít năm, tôi đã rất xúc động khi nghe tin ông ấy qua đời. Biết rằng ông ta và đức Đạt Lai Lạt Ma rất thân thiết với nhau, tôi nói :

"Tôi đoán rằng cái chết của ông Lobsang đã ảnh hưởng đến Ngài rất mãnh liệt ..."

"Vâng, quả có vậy"

"Không hiểu Ngài đã xử trí ra sao trong trường hợp ấy?"

"Dĩ nhiên là tôi rất buồn khi nghe tin anh ấy mất" đức Đạt Lai Lạt Ma nói như thì thầm.

"Và Ngài đã ứng phó với cảm giác buồn rầu như thế nào? Ý tôi muốn nói là có cái  gì giúp Ngài vượt qua nỗi xúc động ấy?".

Đức Đạt Lai Lạt Ma đáp với giọng đăm chiêu: "Tôi không biết. Cảm giác buồn rầu bủa giăng lấy tôi trong vài tuần rồi dần dà bớt đi, nhưng tôi có cảm tưởng hối hận ..."

"Hối hận ?"

"Vâng, tôi ở xa lúc anh ấy mất. Nếu không phải đi xa, may ra tôi có thể làm một vài chuyện gì đó để giúp anh ấy. Do vậy mà tôi cảm thấy hối tiếc." 

Suốt cả đời quán chiếu về những khổ-đau-không-thể-tránh-được của nhân loại có thể đã giúp đức Đạt Lai Lạt Ma rất nhiều trong việc chấp nhận nỗi đau khi mất người thân nhưng không làm cho Ngài trở thành một người lạnh lùng, vô cảm xúc. Điệu buồn trong giọng nói của đức Đạt Lai Lạt Ma cho thấy Ngài vẫn là một con người chan chứa tình cảm. Nhưng đồng thời, vẻ bộc trực và phong thái chân thành của Ngài cho thấy Ngài đã hoàn toàn vượt lên trên tình trạng than thân trách phận hoặc bi phẩn ai oán. Cái phong thái đã tạo ra một ấn tượng không thể nhầm lẫn được là Ngài đã sẵn sàng chấp nhận những mất mát đó.

Ngày hôm đó, buổi đàm luận của chúng tôi kéo dài đến chiều tối.  Những vệt nắng vàng xuyên qua khung cửa chắn, bò vào căn phòng đang chìm dần vào bóng tối. Một bầu không khí u sầu bao phủ căn phòng và tôi hiểu rằng giờ nói chuyện đã hết tuy tôi vẫn muốn hỏi thêm đức Đạt Lai Lạt Ma về những chi tiết như Ngài có cách nào giúp người ta chống chọi với nỗi khổ đau khi có người thân qua đời, chứ không chỉ đơn giản coi đó là một khổ đau không tránh được. Tôi định hỏi thêm nhưng đức Đạt Lai Lạt Ma như bị phân tâm và tôi thấy ánh mắt của Ngài có vẻ mệt mỏi. Cùng lúc đó, người thư ký của Ngài bước vào phòng, nhìn tôi như báo cho biết rằng buổi đàm luận đã kết thúc. Đức Đạt Lai Lạt Ma nói với giọng phân trần: "Có lẽ chúng ta nên chấm dứt ở đây, tôi cảm thấy hơi mệt ..."

Ngày hôm sau, trước khi tôi có dịp trở lại đề tài này trong phần đàm thoại, một thính giả đã nêu lên thắc mắc này trong phần nói chuyện trước công chúng của đức Đạt Lai Lạt Ma:

"Ngài có đề nghị gì để giúp người ta đối phó lại những mất mát to lớn trong đời như khi mất con chẳng hạn ?"

Bằng giọng điệu đầy từ ái, đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời: "Điều này tùy thuộc phần nào vào niềm tin của đương sự. Nếu người ta có niềm tin vào sự tái sinh thì một cách nào đó, nỗi đau buồn sẽ bớt gay gắt. Người ta sẽ được an ủi đôi chút khi tin rằng con mình rồi đây sẽ được tái sinh. Đối với những người không tin tưởng vào ý niệm tái sinh, cũng có vài cách đơn giản để giúp đỡ họ. Trước hết, họ có thể suy nghĩ rằng nếu mình đau khổ quá đáng tức là cứ để cho nỗi đau khổ bao trùm lấy mình ngày này qua ngày khác, chẳng những họ sẽ bị suy sụp về tinh thần lẫn thể xác mà cũng chẳng có ích lợi gì đối với người quá cố. Hãy lấy thí dụ về cá nhân tôi. Tôi mất vị thầy đáng kính ngưỡng nhất, tôi mất mẹ và mất thêm một người anh nữa. Khi họ qua đời dĩ nhiên là tôi vô cùng khốn khổ. Nhưng rồi tôi liên tục suy tưởng rằng dù tôi có đau khổ bao nhiêu cũng không ích lợi gì và nếu tôi thật lòng thương yêu họ, tốt hơn là tôi nên thực hiện những ước mong của họ khi còn sống - và tôi đã thực hiện điều đó với tất cả sức mình. Khi những người thân yêu nhất của mình quá vãng, tôi nghĩ phương thức tốt đẹp nhất để nghĩ đến họ là giúp họ hoàn tất những ước vọng lúc sinh tiền.

"Thoạt tiên thì đau khổ và lo lắng là những cảm xúc rất tự nhiên khi xảy ra mất mát. Nhưng nếu cứ để mình bị chìm ngập vì những cảm xúc này mà không tìm cách kiểm soát chúng thì người ta có thể bị tình trạng chỉ còn quan tâm đến mình, chỉ nghĩ đến mình. Trong hoàn cảnh này, người ta có cảm giác rằng chỉ có mình bị đày đọa, khổ ải; và đây là bước đầu của chứng trầm cảm. Nhưng trên thực tế thì hầu như bất cứ ai cũng đều trải qua kinh nghiệm này. Thành ra, khi bị choáng ngợp vì khổ đau, chúng ta nên nhớ rằng người khác cũng bị khổ đau như thế và lắm khi còn tệ hại hơn mình nhiều. Hiểu được như vậy, người ta sẽ không còn cảm giác đơn chiếc, một mình một thân trên đường đời mờ mịt. Và từ đó, chúng ta được an ủi phần nào."

Mặc dù đau đớn và khổ não không chừa một ai trên thế gian này, tôi nhận thấy rằng ở phương Đông, người ta chấp nhận và khoan nhượng chúng dễ dàng hơn. Một phần có thể là do niềm tin của họ nhưng cũng có lẽ là khổ đau dễ nhận diện ở những quốc gia nghèo khó - như Ấn Độ chẳng hạn - hơn là các nước phát triển. Đói khát, lầm than, bịnh tật và cả tử vong nữa là những chuyện thông thường tại các xứ chậm tiến. Khi con người trở nên già yếu và bệnh hoạn, họ không bị gạt ra ngoài lề xã hội, không bị gởi đến nhà dưỡng lão, mà vẫn sống chung với cộng đồng, được bảo bọc bởi gia đình. Cho nên người ta chứng kiến mỗi ngày tất cả những hình thái của khổ đau, và vì vậy, họ dễ chấp nhận chúng, xem chúng là một phần tự nhiên của cuộc đời.

Các quốc gia Tây phương có khả năng giới hạn khá nhiều những đau khổ do đời sống cơ cực gây ra nhưng đồng thời lại mất đi cái khả năng chống chọi với những thứ khổ não khác. Những cuộc thăm dò của các nhà khoa học xã hội cho thấy đa số quần chúng ở các quốc gia tiền tiến Phương Tây cho rằng thế giới này  là một cõi khá xinh đẹp để sinh sống, rằng cuộc đời tốt đẹp vừa phải và rằng họ là những người tốt, đáng được thụ hưởng những sự tốt lành của cuộc đời. Quan niệm này giúp người ta sống vui vẻ và khỏe mạnh hơn nhưng đồng thời cũng khiến người ta khó chấp nhận khổ đau, hoạn nạn hơn. Cũng trong chiều hướng này, một tai ương nhỏ cũng có thể gây ra những tác động tinh thần to lớn, có thể làm cho người ta mất hẳn niềm tin rằng thế giới này là một cõi xinh tươi, ân phước. Kết quả là sự đau khổ trở nên nặng nề hơn, cô đọng hơn.

Không có gì phải nghi ngờ rằng do sự phát triển của kỹ thuật, một cách tổng quát, sự thoải mái về đời sống vật chất được cải thiện rất nhiều tại các xã hội Tây phương. Cũng từ đó, nhận thức của con người đã thay đổi, rằng khổ đau đã vơi bớt đi nhiều, và người ta không còn xem khổ não là một bản chất căn để của kiếp nhân sinh. Ngược lại, người ta coi nó là một cái gì bất thường, một cái gì sai quấy khá trầm trọng. Trong vài phạm vi, đó là dấu tích của sự thất baị, một sự vi phạm vào quyền được sống hạnh phúc của con người.

Cách thế suy nghĩ này chứa đựng những  nguy kịch tiềm ẩn. Nếu cho rằng khổ não là một cái gì không tự nhiên mà đúng ra, chúng ta không phải chịu đựng thì rồi ra, người ta sẽ tìm cách đổ tội cho kẻ khác khi phải đối diện với khổ đau. Nếu tôi không được hạnh phúc thì chắc chắn tôi phải là nạn nhân của một ai đó hay một cái gì đó, và quan niệm này khá phổ cập ở Tây phương. Nguyên nhân gây ra thiệt hại thường là chính phủ, hệ thống giáo dục, cha mẹ bạo hành, gia đình không hòa thuận, người phối ngẫu và ngay cả bạn thân. Cũng có khi người ta quy lỗi về phía trong tức là chính mình: Tôi không hoàn toàn bình thường, tôi là nạn nhân của bệnh tật, tôi bị di truyền ... Nếu cứ nhìn vấn đề từ vị thế của một nạn nhân và đổ lỗi cho một nguyên nhân nào đó thì nỗi thống khổ của chúng ta sẽ kéo dài vô tận, và lúc nào chúng ta cũng sống trong bực tức, khó chịu và oán trách.

Dĩ nhiên, mọi người đều mơ ước cái mục tiêu tối hậu là làm sao để thoát khỏi khổ đau, và đó là hệ luận tất yếu khi chúng ta mong được hạnh phúc. Cũng từ đó, thật là một điều hợp lý nếu người ta làm đủ mọi cách để tìm cho ra những nguyên nhân khiến cho chúng ta bị đau khổ, cũng như áp dụng tất cả những phương thức giúp chúng ta bớt đau đớn, làm khuây khỏa bớt những nỗi thương tổn từ mọi cấp độ: Toàn cầu, xã hội, gia đình và cuối cùng là bản thân. Nhưng đừng bao giờ quên rằng nếu không chịu chấp nhận khổ não là một tình trạng tự nhiên của cuộc sống, nếu cứ sợ hãi, tránh né và chối bỏ chúng thì không bao giờ người ta có thể loại trừ được cái gốc rễ của khổ đau để bắt đầu một cuộc sống hạnh phúc.

 

Chương 9

 

TỰ TẠO KHỔ NÃO

Khi đến phòng mạch của tôi lần đầu tiên, một người đàn ông trạc độ trung tuần, dáng dấp quý phái trong bộ âu phục Armani màu đen đắt tiền nhưng không phô trương, ngồi vào chiếc ghế với một phong thái từ tốn tuy hơi e dè và bắt đầu cho tôi biết lý do tại sao ông ta đến thăm tôi. Người đàn ông nói hơi nhỏ nhưng giọng điệu lại rất vững vàng cẩn trọng và ông ta trình bày khá đầy đủ những điều tôi cần biết: Tuổi tác, quá khứ, tình trạng gia cảnh, những khó khăn ...

"Đồ thứ đàn bà khốn nạn !" Bỗng nhiên ông ta la lên với một giọng giận dữ: "Vợ tôi đó, tôi đã ly dị bả. Bả đã dối gạt tôi để tư tình với người khác mặc dù tôi đã cung phụng cho bả không thiếu một thứ gì. Đồ cái thứ phóng đãng ... đồ dâm phụ ..." Giọng nói người đàn ông càng to hơn, giận dữ hơn và cay độc hơn trong suốt hai mươi phút nhằm kết tội người vợ đã ly hôn của ông ta. Nhận thấy người đàn ông không kềm chế nỗi cảm xúc của mình và với đà nay, ông ta có thể nói hằng giờ mà không mệt. Vả lại, thời gian ấn định cho một lần xem bịnh đã gần hết nên tôi nhắc khéo: "Đa số chúng ta đều rất khó khăn khi phải điều chỉnh cuộc sống sau khi ly dị và tôi nghĩ rằng trong lần tới, chúng ta sẽ có nhiều thì giờ hơn để nói về chuyện này ..." 

Tôi hỏi thêm: "À này, thế ông ly dị được bao lâu rồi ?"

"Tháng năm vừa rồi là tròn 17 năm."

Trong chương Tám, chúng ta đã đề cập đến sự quan trọng của việc chấp nhận khổ đau là một phần tự nhiên của cuộc sinh tồn. Thường thì khổ não là chuyện không tránh được trong cuộc sống nhưng nhiều lúc, chính chúng ta tạo ra khổ não cho mình. Chúng ta cũng biết là nếu không chấp nhận khổ đau là chuyện tự nhiên của cuộc sống thì hậu quả là ta sẽ có cảm tưởng mình là nạn nhân suốt đời của kẻ khác và đó là nguyên nhân gây ra những cảnh đời nghiệt ngã. Nhưng chính chúng ta cũng vô tình làm cho khổ nạn của mình thêm bi đát. Chúng ta thường kéo dài những sầu muộn, giữ cho chúng sống hùng sống mạnh trong tâm trí chúng ta bằng cách tưởng nghĩ tới chúng mỗi ngày. Chúng ta cũng lập đi lập lại những mong ước mà chúng ta tưởng nếu có xảy ra thì hoàn cảnh đã đổi khác, đã khá hơn - Nhưng những điều này thật ra không có - Tưởng nghĩ đến những khổ nạn đã qua làm cho đời sống nhiều thêm chất bi thảm, làm gia tăng sự thương hại của người chung quanh và chính chúng ta thì cứ kéo dài một cuộc sống không hạnh phúc.

Đức Đạt Lai Lạt Ma đã giải thích về chuyện chính chúng ta làm tăng thêm những khổ đau trong đời sống: "Con người có nhiều cách để gia tăng cường độ khổ đau cũng như những bất ổn tinh thần mà mình đang gánh chịu. Thông thường thì những khổ đau vật chất lẫn tinh thần có thể xuất hiện một cách tự nhiên, nhưng chính cách ứng xử của người ta làm cho chúng thêm bi thảm. Giả dụ như khi mình giận ghét một ai đó, cảm giác này sẽ chẳng ăn nhằm gì nếu ta không để ý đến chúng. Nhưng nếu cứ suy nghĩ, cứ vẽ vời về những bất công mà mình đang chịu, những bất xứng mà người ta đang áp đặt cho mình (do mình phóng chiếu, tưởng tượng ra chứ thực sự chưa chắc đã có) thì mối căm hận và thù ghét sẽ đậm đặc hơn nhiều. Cùng một cách thế như vậy, khi ai đó 'hớp hồn' mình, chúng ta cứ liên tục nghĩ đến những điều như làm sao mà chàng/nàng lại xinh đẹp đến vậy, làm sao lại có người tốt đến thế ... Cứ vậy mà chúng ta bị hớp hồn nhiều hơn, mê  đắm nhiều hơn. Vậy thì  rõ ràng  là  chính chúng ta làm  cho tình  thế  trở nên khó khăn hơn, nặng nề hơn bằng cách liên tục tưởng nghĩ đến chúng.

"Chúng ta cũng thường gia tăng cường độ của đau đớn và khổ não bằng thái độ quá nhạy cảm, phản ứng quá đáng với một chuyện không quan trọng và đôi khi, cứ tưởng mọi chuyện đều nhắm vào mình. Chúng ta có khuynh hướng làm cho sự việc trở nên quá quan trọng, thổi phồng sự thật, trong khi chúng ta lại thờ ơ, hờ hững với những chuyện quan yếu của cuộc đời, những chuyện có ảnh hưởng sâu đậm đến cuộc sống của mình do những hệ quả lâu dài của chúng. 

"Nói rộng ra, tôi cho rằng tùy vào thái độ của mình đối với hoàn cảnh mà chúng ta có bị đau khổ hay không. Lấy thí dụ như anh biết ai đó nói xấu sau lưng mình. Nếu chúng ta phản ứng lại bằng cảm giác bị thương tổn hay giận dữ thì chính chúng ta đã phá hủy sự bình yên trong tâm hồn và tự mình chuốc vào thân cảm giác khổ đau. Cũng một hoàn cảnh như vậy, nếu chúng ta tự chế được, coi sự vu khống đó chỉ như cơn gió thoảng ngoài tai thì chúng ta sẽ không bị cảm giác thương tổn, đau đớn. Vậy thì, tuy con người có khả năng tránh được hoàn cảnh khó khăn, nhưng tùy vào cách thế ứng đối với hoàn cảnh đó, chúng ta có thể làm tăng hoặc giảm mức độ đau đớn và khổ não của mình."

Chúng ta cũng thường làm gia tăng cường độ của đớn đau và khổ não bằng thái độ quá nhạy cảm, phản ứng quá đáng với một chuyện không quan trọng và đôi khi, cứ tưởng mọi chuyện đều nhắm vào mình. Đó là những lời mà đức Đạt Lai Lạt Ma đã dùng để diễn tả các nguyên nhân làm tăng thêm chất bi đát của khổ nạn trong đời sống. Giới chuyên môn gọi đây là hiện tượng cá nhân hóa khổ đau, một khuynh hướng thu hẹp tầm nhìn về phương diện tâm lý bằng cách nghĩ (một cách sai lạc) rằng mọi chuyện xảy ra đều nhắm vào riêng mình, chỉ để làm khổ mình.

Một tối nọ, tôi dùng cơm với một đồng nghiệp tại một nhà hàng. Công tác phục vụ thực khách hôm đó có vẻ chậm chạp. Anh bạn tôi bắt đầu cằn nhằn: "Nhìn kìa, gã bồi bàn chậm không chịu được. Tôi có cảm tưởng như hắn cố tình làm lơ chúng ta". Mặc dù cả hai chúng tôi không làm gì về chuyện này, người bạn đồng nghiệp vẫn tiếp tục than phiền về công tác phục vụ của nhà hàng, rồi anh kéo qua thức ăn, chén bát và gần như mọi thứ khác của nhà hàng mà anh không thích. Sau buổi ăn, người bồi bàn đem đến hai phần tráng miệng miễn phí và giải thích với giọng thành thật: "Tôi xin lỗi về sự chậm chạp trong công tác phục vụ bữa nay vì chúng tôi không có đủ nhân viên. Một người làm bếp nghỉ việc tối nay vì trong gia đình có người quá vãng, rồi thì một người bồi bàn bị bịnh bất ngờ vào phút chót. Xin quý khách vui lòng tha lỗi...". Khi người bồi bàn đã quay đi, anh bạn đồng nghiệp làu bàu với vẻ bực bội: "Tôi vẫn không nghĩ là tôi sẽ trở lại đây nữa". 

Đây chỉ là một thí dụ nhỏ cho thấy chúng ta đã 'đóng góp' như thế nào vào sự khổ đau bằng cách tưởng mọi sự đều nhắm vào mình. Trong buổi tối tôi vừa nói, kết quả của thái độ kể trên chỉ làm buổi ăn mất vui. Nhưng nếu chúng ta cứ cư xử với mọi người, mọi chuyện trong cuộc sống thường ngày bằng thái độ này, nó sẽ là đầu mối gây tạo một cuộc sống vô cùng khốn khó cho chúng ta. Trên một bình diện rộng lớn hơn, Jacques Lusseyran là một trường hợp rất đáng để ý về chứng thu hẹp tầm nhìn trong phạm vi tâm lý. Lusseyran, bị mù từ năm lên 8, là sáng lập viên của một nhóm chống đối trong trận đại chiến thứ II . Anh ta bị quân Đức bắt và bị giam giữ tại trại tập trung Buchewald. Sau này, khi hồi tưởng lại những kinh nghiệm đau thương trong trại, anh nói : "Lúc đó, chúng tôi cho rằng nỗi bất hạnh đến với từng người trong chúng tôi vì nghĩ rằng chúng tôi là trung tâm  của vũ  trụ, vì chỉ riêng chúng tôi bị nhận lãnh sự đầy ải tàn nhẫn đến mức không chịu nổi. Niềm thống khổ như nằm sâu trong da thịt, trong óc não của từng người."[2]

NHƯNG VẬY LÀ BẤT CÔNG

Trong đời sống thường nhật, những khó khăn cứ đều đặn xuất hiện. Nhưng những khó khăn này không tự động gây ra khổ não. Nếu chúng ta xử lý chúng một cách trực diện, chú tâm vào việc tìm kiếm một giải pháp cho vấn đề, những khó khăn này đôi khi trở thành những thử thách thú vị. Ngược lại, nếu nhìn vấn đề với cảm giác trời hành, thọ nạn thì chúng ta đã thêm dầu vào lửa, làm tinh thần chúng ta thêm bất an và làm gia tăng sự khổ não. Vậy là thay vì chỉ có một, chúng ta có đến hai khó khăn. Chẳng những thế, cảm giác trên còn làm chúng ta tiêu hao ý lực, phân tán sự chú ý của mình trong việc tìm kiếm một giải đáp cho khó khăn nguyên thủy. Nêu lên những ý nghĩ này với đức Đạt Lai Lạt Ma vào một buổi sáng, tôi hỏi: "Làm sao để chúng ta đối phó với ý tưởng 'bất công' thường hành hạ mình mỗi khi có những vấn nạn xuất hiện trong đời ?"

Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời: "Người ta có nhiều cách thế để ứng đối với cảm giác rằng khổ nạn mà mình đang gánh chịu là bất công. Chúng ta đã thảo luận về tầm quan trọng của việc chấp nhận khổ não như là một phần tự nhiên của đời sống. Trong một cách thế nào đó, người dân Tây Tạng đang ở trong một vị thế rất thích hợp để chấp nhận tính thực tế của hoàn cảnh khó khăn hiện tại, vì họ sẽ cho rằng: "Đây là nghiệp quả mà tôi đã gây ra trong quá khứ". Khi cho rằng vì mình đã gây ra chướng nghiệp trong hiện đời hay tiền kiếp,  người dân Tây Tạng sẽ dễ dàng chấp nhận khổ nạn hơn. Trong quá trình định cư đầy khó khăn tại Ấn Độ, chúng tôi cũng gặp những chuyện tương tự: Điều kiện sống vốn nghèo nàn lại thêm con cái bị mù lòa, khuyết tật ... Thế mà rồi ra, những người đàn bà đáng thương này cũng xoay sở được, chỉ đơn giản cho rằng: "Đây là nghiệp chướng của chúng, tại số phần của chúng ..."

Đề cập đến NGHIỆP, có lẽ chúng ta nên nói rõ để tránh những ngộ nhận mà người ta thường gặp phải khi khảo sát lý thuyết của nghiệp. Người ta thường có khuynh hướng đổ mọi chuyện cho nghiệp để chạy tội cho mình, tránh phải giải quyết vấn đề, phủi tay đối với trách nhiệm. Chúng ta thường nghe: "Đây là nghiệp chướng của tôi nên không làm gì được. Đành chịu vậy thôi". Đây là một ý niệm hoàn toàn sai lầm về nghiệp vì dẫu rằng hiện tại là quả của duyên quá khứ, người ta vẫn có thể chuyển đổi được tình thế hoặc giúp cho hoàn cảnh bớt đen tối, và nguyên tắc này áp dụng cho tất cả mọi phương diện của đời sống. Người ta không nên phủi tay, lẫn trốn trách nhiệm bằng cách đổ mọi chuyện cho nghiệp. Theo nguyên nghĩa, Karma trong tiếng Phạn là 'hành động', 'tạo tác'. Đã là hành động, tạo tác tức là đã có ý niệm năng động (chứ không phải thụ động, chịu đựng). Hơn nữa, hành động và tạo tác cần phải có một chủ thể. Trong trường hợp này chính là chúng ta (trong quá khứ). Vậy thì cái gì sẽ quyết định tương lai của mình nếu không phải là chính chúng ta bây giờ? Như vậy, quả vị lai mà chúng ta sẽ  nhận lãnh hoàn toàn do duyên hiện tại quyết định vậy".

"Do đó, không nên nhìn nghiệp bằng quan điểm thụ động, một thứ tĩnh lực mà ngược lại, nghiệp là một quá trình chủ động - Và chính chúng ta (chứ không phải một cái gì hay một ai khác) đã đóng vai trò quyết định trong tiến trình tạo nghiệp. Hãy nói đến một chuyện nhỏ nhặt như ăn uống chẳng hạn. Chúng ta cũng phải tìm thực phẩm, nấu nướng, dọn bàn rồi mới ăn nghĩa là cả một chuỗi hành động, tạo tác nối tiếp nhau để thực hiện một mục tiêu rất tầm thường."

Nghe đến đây, tôi ngắt lời: "Tôi đồng ý rằng với niềm tin vào nghiệp duyên, người Phật tử có thể giảm thiểu cảm giác bị đối xử bất công. Nhưng còn những người không tin vào thuyết nghiệp báo thì sao. Đa số người Tây phương chẳng hạn ..."

Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời: "Đối với những người tin vào quan niệm cho rằng có Thượng đế, một Tạo Vật Chủ cũng dễ dàng hơn trong việc chấp nhận những trái ngang của cuộc đời vì cho rằng đó là ý muốn của Thượng đế. Trong những trường hợp tệ hại nhất, họ vẫn tin tưởng rằng Thượng đế lúc nào cũng toàn năng, đầy khoan dung và vì vậy, không ai biết được những ý muốn của Ngài phía sau những cảnh đoạn trường đày ải này cả.  Theo tôi, niềm tin này cũng giúp người ta rất nhiều trong lúc phải trải qua những giai đoạn khó khăn trong đời".

Tôi hỏi tiếp: "Thế còn những người không tin vào thuyết nghiệp báo lại cũng không tin vào ý niệm Thượng đế sáng tạo thì sao?" Đức Đạt Lai Lạt Ma suy nghĩ một lúc rồi đáp: "Đối với những người hoàn toàn không có niềm tin... thì có lẽ một giải đáp có tính cách khoa học và thực tiễn có thể có ích. Các khoa học gia vẫn bảo rằng nhìn sự vật một cách khách quan là điều rất quan trọng, nghiên cứu sự việc mà không bị ảnh hưởng bởi cảm xúc ... Với dự kiến như vậy, hãy nhìn vấn đề với thái độ 'Nếu có cách nào để tranh đấu thì hãy tranh đấu để giải quyết vấn đề dù bạn có phải vác chiếu ra tòa' và 'Còn nếu không có cách nào để chiến thắng thì hãy quên nó đi'. 

"Lý giải một vấn đề hay một hoàn cảnh khó khăn một cách khách quan là điều quan trọng vì người ta thường tìm ra những nguyên do khác ẩn náu phía sau hậu trường. Giả như bạn có cảm tưởng bị đối xử bất công tại sở làm, có nhiều lý do mà bạn không ngờ tới đã khiến xếp bạn hành xử như vậy: Bực bội vì một người nào đó, cãi nhau với vợ sáng nay ... nghĩa là những chuyện thật ra chẳng ăn nhằm gì đến cá nhân bạn cả, vì vô tình nên bạn phải "lãnh đủ" mà thôi. Dĩ nhiên là bạn vẫn phải đối phó với hoàn cảnh xảy ra lúc đó nhưng ít nhất, với quan niệm như vậy, bạn không bị cảm giác băn khoăn làm cho mình thêm bối rối".

Tôi hỏi: "Phương pháp khoa học này ngoài việc giúp người ta lý giải vấn đề một cách khách quan, liệu có thể giúp người ta khám phá ra họ đã "đóng góp" như thế nào vào vấn đề? Và có giúp họ giảm bớt cảm giác "bất công" thường đi kèm theo những trường hợp nan giải.

Đức Đạt Lai Lạt Ma đáp một cách rất nhiệt tình: "Có, chắc chắn là nó giúp ích rất nhiều. Tổng quát mà nói, nếu lý giải những hoàn cảnh khó khăn một cách vô tư và chân thật, chúng ta sẽ thấy rằng có thể mình cũng đã dự phần bằng một cách nào đó. Trong cuộc chiến vùng Vịnh, rất nhiều người đã qui trách cho Saddam Hussein. Sau này, trong nhiều cơ hội, tôi đã cho thái độ đó là bất công và cảm thấy tội nghiệp cho ông ta. Dĩ nhiên Hussein là một nhà độc tài, đã làm nhiều việc sai khuấy; nên nếu chỉ nhìn câu chuyện một cách qua loa, ai cũng cho rằng ông ta có tội: độc tài, chuyên chế và ngay cả đôi mắt ông ta trông cũng có vẻ khiếp đảm. Nhưng nếu không có quân đội, Hussein sẽ chẳng hăm dọa được ai, và nếu không có vũ khí tối tân, quân đội của Hussein cũng chẳng làm ai lo ngại. Và tất cả những vũ khí hiện đại này không phải từ trên trời rớt xuống. Cho nên nếu nhìn kỹ vấn đề, khá nhiều quốc gia trên thế giới liên hệ đến cuộc chiến này."

Đức Đạt Lai Lạt Ma tiếp: "Vì thế, con người thường có khuynh hướng đổ tội cho người khác, những nguyên nhân ngoại vi, về những vấn nạn của chúng ta. Hơn thế,  người ta còn tìm cách đổ vấy cho một nguyên nhân duy nhất và sau đó tìm cách phủi tay, không nhận trách nhiệm. Cho nên hễ ở đâu có tình cảm can dự vào thì ở đó có sự khác biệt giữa sự thật xảy ra và sự thật mà người ta trình bày trước công chúng. Trở lại cuộc chiến vùng Vịnh, dĩ nhiên Saddam  Hussein là một nguyên nhân, nhưng chúng ta còn có nhiều nguyên nhân khác nữa cũng không kém phần quan trọng. Hiểu được nguồn cơn rành mạch như vậy thì người ta sẽ không còn đổ lỗi cho một mình Hussein nữa và sự thật về cuộc chiến sẽ hiển bày.

"Phương pháp xử lý này khiến người ta nhìn sự vật một cách tổng thể, nhận thức rằng có nhiều biến cố cùng nhau tạo nên một thực trạng. Thí dụ như trong vấn đề giữa chúng tôi và Trung quốc, cũng có những nguyên nhân do chúng tôi gây ra. Theo tôi thì thế hệ hiện tại cũng có dự phần nhưng chắc chắn là sự quan tâm không đúng mức của vài ba thế hệ trước đã gây ra tình trạng hiện nay. Nói cách khác, người Tây Tạng cũng có trách nhiệm phần nào trong cuộc chiến oan khốc này, và nếu chỉ đổ lỗi hoàn toàn cho Trung quốc thì cũng khá bất công. Nhưng chúng ta lại phải nói đến những mức độ khác nhau. Mặc dù chúng tôi cũng là một nguyên nhân gây nên cuộc chiến, nhưng lỗi không hoàn toàn do ở chúng tôi. Lấy thí dụ về việc người Tây Tạng chưa bao giờ cúi đầu khuất phục trước áp bức của Trung quốc - họ luôn luôn chống đối. Do chính sách mới của Trung quốc nhằm đưa một số lượng lớn lao người Hoa sang lập nghiệp ở Tây Tạng với mục đích biến người Tây Tạng thành thiểu số, nên người Tây Tạng bị chiếm chỗ, và phong trào tranh đấu cho tự do không còn hoạt động hữu hiệu nữa. Trong trường hợp này, chúng ta không thể nói rằng sự chống đối của người Tây Tạng là nguyên nhân gây ra tranh chấp".

Tôi lại hỏi tiếp: "Xét đến sự góp phần của mình vào một hoàn cảnh nào đó, xin Ngài cho biết trong trường hợp rõ rệt không phải lỗi của mình, hoặc mình chẳng dính dự gì cả dù một chút nhỏ xíu đi nữa như khi có người nào đó dối gạt mình chẳng hạn ... thì chúng ta phải làm sao?"

"Trong trường hợp này thì đầu tiên, dĩ nhiên là tôi có cảm giác thất vọng. Nhưng ngay cả trong hoàn cảnh như vậy, nếu xem xét cho kỹ, có thể tôi sẽ hiểu được rằng động lực thúc đẩy sự che đậy thật ra không hoàn toàn xấu. Có thể ai đó không hoàn toàn tin tưởng nơi tôi. Thành ra khi cảm thấy thất vọng vì một vấn đề gì đó, tôi cố nhìn sự việc từ một góc cạnh khác: Người ta dấu tôi vì sợ tôi không giữ kín được câu chuyện. Tánh tôi khá bộc trực và vì thế không thích hợp để người ta nói cho tôi nghe về một chuyện gì đó. Người ta sợ tôi sẽ đem kể cho người khác nghe và cuối cùng thì câu chuyện cần phải giữ kín không còn kín nữa. Và nếu quả đúng như vậy thì chính tôi cũng có dự phần trong sự dấu diếm đó".

Mặc dù những lời này do chính đức Đạt Lai Lạt Ma thốt ra, tôi cũng có cảm tưởng rằng vấn đề hơi đi quá xa: Người ta không thành thật với mình và mình lại cố tìm xem mình có dự phần trong chuyện đó hay không. Tuy vậy, giọng nói của Ngài lại rất thành thật làm tôi có cảm tưởng rằng đức Đạt Lai Lạt Ma đã áp dụng cách xử lý này trong đời sống của Ngài để giải quyết những nghịch lý của cuộc đời. Đối với bản thân chúng ta, sử dụng phương thức này trong cuộc sống không chắc lúc nào cũng thành công. Nhưng theo tôi thì dù thành công hay không, sự thành thật của chúng ta trong hoàn cảnh này cũng làm thay đổi lối suy nghĩ chật hẹp theo thói thường, mà trong đó, cảm giác bị đối xử bất công thường là nguyên nhân của những bất mãn lớn lao trong mọi người chúng ta và cả toàn thể nhân loại.

MẶC CẢM PHẠM TỘI

Vì là sản phẩm của một thế giới bất toàn nên tất cả chúng ta đều bất toàn. Mọi người trong đời đều đã có dịp làm một cái gì sai quấy. Có nhiều chuyện làm chúng ta hối hận: Hối hận về những chuyện đã làm, hối hận về những chuyện đáng ra phải làm. Thật tâm hối cãi về những sai quấy đã qua trong đời có thể giúp chúng ta đi đúng đường, khuyến khích chúng ta sửa sai những lầm lẫn và cố gắng làm đúng trong tương lai. Tuy nhiên, không nên để cho cảm giác hối hận làm mình bị thoái hóa, dẫn đến mặc cảm tội lỗi quá độ khiến tâm trí lúc nào cũng bị ám ảnh bởi cảm tưởng phạm tội, ghét bỏ chính mình. Chuyện này không có ích lợi gì cả vì chỉ làm chúng ta thường xuyên tự hành hạ, tự đày ải mình. 

Trong một buổi nói chuyện trước đây, tôi có đề cập vắn tắt đến cái chết của người anh ruột của đức Đạt Lai Lạt Ma. Tôi nhớ lại rằng Ngài đã đề cập đến cái chết này với một vài tiếc nuối. Tôi tò mò muốn biết đức Đạt Lai Lạt Ma đã ứng phó ra sao với cảm giác hối hận, có thể là mặc cảm phạm tội nữa. Vì thế, tôi tìm cách trở lại vấn đề này trong một buổi đàm luận khác và hỏi: "Khi đề cập đến cái chết của Lobsang, Ngài có nói  đến hối hận. Vậy Ngài có bao  giờ  hối  hận về một hoàn cảnh nào đó trong đời không?"

"Có chứ, thí dụ như tôi có biết một tu sĩ lớn tuổi ẩn cư. Ông ta thường đến nghe tôi nói pháp. Tôi nghĩ rằng ông ta hiểu đạo còn nhiều hơn tôi nữa, ông ta đến theo nghi thức mà thôi. Một ngày nọ, ông ta đến và yêu cầu tôi thực hành một phép bí truyền cao cấp. Tôi nhẹ nhàng nói cho ông ta biết bí phép này rất khó thực hành và thường thì những người trẻ tuổi dễ tiếp nhận hơn. Theo truyền thống, người ta bắt đầu thực tập lúc còn ở tuổi vị thành niên. Một thời gian sau, tôi được biết vị tu sĩ này đã tự sát để tái sinh làm một người trẻ tuổi hầu có thể thực tập bí phép này ..."

Khá sửng sốt vì chi tiết của câu chuyện, tôi nói: "Trời đất ơi ! Thật khủng khiếp. Tôi đoán là Ngài đã rất khổ tâm khi nghe ..."

Đức Đạt Lai Lạt Ma buồn bã gật đầu. Tôi nói tiếp: "Rồi Ngài đối phó thế nào với cảm giác hối hận đó? Ngài làm sao để nguôi ngoai ?"

Đức Đạt Lai Lạt Ma ngồi trầm tư yên lặng một lúc lâu trước khi trả lời tôi :

"Tôi không quên được. Nỗi hối tiếc vẫn còn nguyên!" Ngài

lại ngồi lặng yên trước khi tiếp tục: "Tuy rằng cảm giác hối hận vẫn còn trong tôi nhưng nó không làm tôi cảm thấy nặng nề hay trì trệ. Tôi không bị chúng tràn ngập, vây bủa. Tôi không để chúng cản trở những hoạt động trong đời sống của mình ".

Nghe vậy, một lần nữa tôi lại ngạc nhiên đến sững người trước sự kiện một con người trong lúc tình cảm đang bị chi phối sâu đậm bởi thảm cảnh đang xảy ra lại có thể giữ cho mình không bị chìm đắm bởi nỗi niềm tiếc hận hay hổ thẹn với chính mình. Sự kiện một con người có thể chấp nhận hoàn toàn những giới hạn của mình, những nhược điểm cũng như những nhầm lẫn trong các quyết định của mình, buồn khổ nhưng không bi lụy vì thảm cảnh. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã thực lòng hối tiếc về chuyện xảy ra nhưng đồng thời vẫn giữ được phong cách bình tĩnh và trang trọng. Mang bên lòng nỗi nhớ tiếc khôn nguôi nhưng vẫn không bị chao đảo, tâm trí vẫn dõng mãnh để gánh vác việc đời.

Nhiều lúc tôi có cảm tưởng rằng cái năng lực giúp cho đức Đạt Lai Lạt Ma không bị đắm chìm trong những mặc cảm tội lỗi một phần do ở phong hóa của người Tây Tạng. Trong một lần nói chuyện với đức Đạt Lai Lạt Ma về một người bạn học giả của Ngài, tôi nhớ Ngài đã cho tôi biết rằng trong ngôn ngữ Tây Tạng, không có từ nào tương đương với chữ 'phạm tội' trong Anh ngữ.  Mặc dù có những tiếng có nghĩa như ăn năn, hối tiếc nhưng đều hàm chứa ý tưởng cải thiện tình thế trong tương lai. Không hiểu yếu tố phong hóa quan trọng đến thế nào trong lề lối suy nghĩ của đức Đạt Lai Lạt Ma, tôi vẫn cho rằng cách thế suy nghĩ của chúng ta nếu được bổ sung bằng quan điểm của đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ khiến cho mọi người tránh được những sầu khổ vô ích gây ra bởi hậu quả của những mặc cảm lầm lỗi.

CHỐNG ĐỐI ĐỔI THAY

Chúng ta có cảm giác phạm tội khi nghĩ rằng mình đã làm một lỗi lầm không sửa chữa được. Cảm giác này trở nên nung nấu hơn nếu ta nghĩ rằng những lầm lỗi đó sẽ bất diệt. Nhưng thực tế cho thấy không có gì là bất biến nên nỗi đau đớn cũng suy khuyết theo thời gian và vấn nạn rồi cũng sẽ biến mất. Đây là khía cạnh tích cực của sự đổi thay. Mặt tiêu cực của vấn đề là con người chống đối lại sự thay đổi trong hầu hết mọi phương diện của đời sống. Muốn thoát ly khỏi cảnh khổ, trước hết, người ta phải tìm hiểu cái nguyên nhân tiên khởi: Tại sao chúng ta không chịu đổi thay?

Nói về bản chất luôn-luôn-thay-đổi của đời sống, đức Đạt Lai Lạt Ma giải thích: "Điều tối quan trọng là chúng ta phải tìm hiểu những nguyên nhân, những cội nguồn của đau khổ, xem chúng xuất hiện ra sao. Để bắt đầu, chúng ta phải hiểu được tính VÔ THƯỜNG, bản chất ngắn ngủi, phù du của cuộc sinh tồn. Tất cả mọi thứ, mọi biến cố, mọi hiện tượng đều "động", biến đổi trong từng giây phút - không một cái gì "tĩnh". Suy nghiệm về sự tuần hoàn của máu huyết trong thân thể sẽ giúp chúng ta chứng nghiệm điều này: Máu luôn luôn chảy, luôn luôn di động nghĩa là không bao giờ đứng yên. Cái bản chất thay đổi, ngắn ngủi của mọi hiện tượng là một cấu trúc gắn liền với cuộc sống. Và khi hiểu được bản chất thay đổi không ngừng này, chúng ta sẽ hiểu rằng mọi sự không có khả năng trường tồn, không có khả năng giữ nguyên hiện trạng. Do vậy, tất cả mọi sự đều bị ảnh hưởng bởi những yếu tố khác nghĩa là bất cứ một giai đoạn nào đó trong đời dù vui vẻ sung sướng đến đâu cũng sẽ qua đi. Trong nhà Phật, sự đau khổ do đổi thay gây ra được gọi là Hoại Khổ.

Ý niệm Vô thường giữ một địa vị cốt lõi trong tư tưởng Phật giáo và quan niệm về vô thường cũng là điểm then chốt trong cuộc hành trì Phật đạo vì hai mục tiêu. Về phương diện quy ước tức là theo nghĩa thông thường trong cuộc sống hàng ngày, hành giả quán tưởng về tính vô thường trong cuộc sống của chính mình: thực tại mong manh của cuộc đời và chúng ta không bao giờ biết được khi nào mình sẽ chết. Khi sự quán tưởng này đi chung với niềm tin rằng được mang thân người là một cơ hội hiếm hoi trong cuộc trầm luân vô lượng kiếp, và chỉ khi mang thân người, chúng ta mới có điều kiện tu chứng hầu ra khỏi khổ đau và sinh tử thì sự phối hợp này sẽ giúp hành giả tăng trưởng quyết tâm trong việc tu học, sử dụng thời giờ của cuộc sống một cách hữu hiệu nhất. Ở một mức độ thâm diệu hơn, khi quán tưởng về những khía cạnh vi tế của vô thường, bản chất phù du của mọi hiện tượng, hành giả sẽ từ từ khám phá ra chân tính của sự thật. Từ hiểu biết này, chúng ta sẽ xua đuổi và dẹp tan được vô minh tức là nguồn gốc uyên nguyên của mọi khổ não.

Như vậy, trong khi quán tưởng về vô thường có một ý nghĩa vô cùng trọng yếu đối với Phật tử thì câu hỏi được đặt ra ở đây là: Thế thì sự quán tưởng này có ứng dụng thực tiễn nào trong cuộc sống thường nhật đối với những người không phải là Phật tử ? Nếu chúng ta nhìn ý niệm vô thường từ quan điểm "động" như vừa đề cập ở trên thì câu trả lời chắc chắn là có. Vì rằng dù chúng ta nhìn bằng cảm quan Phật giáo hay bằng quan niệm Tây phương thì thực chất cuộc sống vẫn như nhau: Luôn luôn thay đổi. Và nếu chúng ta không chịu chấp nhận sự thật này hoặc tìm cách chống lại tính đổi thay của cuộc sống thì chính mình đã tự lấp vùi mình trong vòng khổ não.

Chấp nhận đổi thay cũng là một yếu tố quan trọng giúp chúng ta tránh được rất nhiều những khổ não tự tạo. Một thí dụ rất phổ cập trong đời sống là chúng ta không chịu buông bỏ quá khứ. Nếu cứ bám víu vào một sắc diện, một vóc dáng của một thời nào đó đã qua trong đời hay cứ tưởng nghĩ về những điều mình đã làm được mà bây giờ không còn sức làm nổi nữa thì đó là một cái đai khá vững chắc giữ cho mình không được hạnh phúc khi lớn tuổi. Đôi khi, càng bám víu vào quá khứ, cuộc sống của chúng ta càng trở nên méo mó, kỳ quặc.

Ngược lại, chấp nhận những đổi thay không tránh được của cuộc đời, như là một nguyên tắc tổng quát, có thể giúp chúng ta đối phó thích nghi với rất nhiều vấn nạn của cuộc sống. Chúng ta sẽ giữ một vai trò chủ động hơn trong cuộc sống của chính mình, tránh được những lo lắng, những bất ổn vốn là đầu mối của rất nhiều phiền phức. Thí dụ sau đây cho chúng ta thấy tầm quan trọng của sự nhận thức về những đổi thay của cuộc sống: một bà mẹ mang đứa con mới sinh vào phòng cấp cứu vào khoảng 2 giờ sáng.

"Cháu bị làm sao vậy ?" Ông Bác sĩ chuyên về bịnh trẻ con hỏi.

"Con tôi ! Cháu bị nghẹt thở hay sao ấy" Bà mẹ rên rỉ trong nỗi lo sợ khiếp đảm: "Lưỡi cháu cứ thè ra ngoài. Làm như cháu muốn ói ra, nhưng không có gì trong miệng cả"

Sau vài câu hỏi và khám sơ qua, vị Bác sĩ trấn an bà mẹ: "Không có gì đâu, cháu bé ngày một lớn thêm và cháu bắt đầu nhận biết những bộ phận trong cơ thể của mình. Cháu đang khám phá ra cái lưỡi của nó."

Margaret, một phóng viên 31 tuổi là dẫn chứng về tầm quan trọng của việc hiểu biết và chấp nhận những đổi thay về phương diện liên hệ cá nhân. Cô ta đến phòng mạch và than phiền về cảm giác băn khoăn mà cô nghĩ là do việc đổi thay cách sống sau khi ly dị.

"Tôi nghĩ rằng nếu nói được với một người nào đó sẽ giúp tôi bớt lo lắng. Tôi muốn quên đi chuyện đã qua và trở lại cuộc sống độc thân. Thật tình mà nói, tôi hơi bị kích động ..."

Tôi hỏi cô ta rằng vụ ly dị đã xảy ra trong hoàn cảnh nào.

Margaret đáp:

"Theo tôi thì vụ ly dị đã xảy ra khá thân thiện, không có tranh chấp. Tôi và ông ấy đều có việc làm khá tốt nên không có vấn đề gì trong việc phân chia tài sản. Chúng tôi có một cháu trai nhưng cháu chấp nhận chuyện chúng tôi ly dị một cách khá hiểu biết. Chúng tôi chia nhau việc chăm sóc cháu và cũng không có gì trở ngại cả."

"Tôi muốn biết chuyện gì đã khiến hai ông bà ly dị?"

"À... Tôi cho rằng chúng tôi không còn yêu nhau nữa. Tình cảm giữa chúng tôi dần dà phai nhạt và tôi không còn thích gần gũi nhau như hồi mới cưới. Cả hai chúng tôi đều bận rộn vì công việc và có vẻ như chúng tôi ngày càng rời xa nhau. Chúng tôi cũng đã thử vài buổi về cố vấn hôn nhân nhưng không có kết quả. Chúng tôi ở với nhau mà như là anh em chứ không phải vợ chồng. Sau cùng thì chúng tôi đồng ý chia tay là giải pháp tốt đẹp nhất. Một cái gì đó đã không còn nữa ..."

Sau hai buổi nói chuyện để tìm hiểu về trường hợp của Margaret, chúng tôi đồng ý để cô ấy tham dự một khóa trị liệu ngắn hạn nhằm giảm bớt cảm giác băn khoăn và giúp cô ấy chấp nhận những đổi thay vừa xảy ra trong cuộc sống. Nói chung, Margaret là một người đàn bà thông minh và dễ điều chỉnh về phương diện tâm lý. Khóa trị liệu tỏ ra hữu ích và Margaret đã chấp nhận trở lại với cuộc sống độc thân.

Mặc dù vẫn chăm sóc lẫn nhau, Margaret và người chồng rõ ràng đã nhìn sự đổi thay về mức độ say đắm như là một dấu hiệu khiến cho cuộc sống vợ chồng nên chấm dứt. Mọi người thường cho rằng khi đam mê đã bớt vẻ nồng nàn thì chúng ta đã có vấn đề trong tương quan chồng vợ và hơn nữa, khi một vài thay đổi nho nhỏ xảy ra, người ta thường tỏ vẻ hoảng sợ, nghĩ rằng đang có vấn đề trầm trọng. Người ta cho rằng mình đã lấy không đúng người, rằng người bạn đời của chúng ta thật ra không phải là người trong mộng. Thế là những bất đồng hiện ra: Mình muốn được âu yếm thì anh ấy tỏ ra mệt mỏi. Mình muốn đi xem một cuốn phim đặc biệt nào đó thì cô ấy lại ra vẻ thờ ơ hay bận rộn. Chúng ta nhận ra những dị biệt mà trước đây chẳng bao giờ để ý đến ...  Rồi thì chúng ta đi đến kết luận là tình yêu đã chết, rằng chúng ta không còn nhìn chung về một hướng, không còn như xưa nữa, và có lẽ xa nhau là tốt nhất.

Rồi chúng ta phải làm gì? Các chuyên gia đã viết hàng tá sách vở để khuyên chúng ta phải hành xử ra sao khi ngọn lửa đam mê và tình cảm lãng mạn đã xuống cấp. Họ đưa ra hằng hà sa số đề nghị nhằm thắp sáng lại ngọn lửa yêu đương: Sắp xếp lại thời khóa biểu hàng ngày để dành ưu tiên cho tình yêu, dự tính những buổi ăn tối thật trữ tình hay những cuối tuần đi chơi xa, ca tụng và tán dương người bạn tình, học cách nói chuyện cho thật nhiều ý nghĩa, vân vân và vân vân. Đôi khi, những khuyến cáo này tỏ ra hữu hiệu nhưng lắm khi, chúng chẳng ăn nhằm gì. Nhưng trước khi tuyên bố chấm dứt mọi liên hệ, một trong những điều vô cùng hữu ích là khi có thay đổi xảy ra, chúng ta hãy lùi lại một chút để lượng định tình thế và hãy trang bị cho mình càng nhiều càng tốt những hiểu biết về những dạng thức thông dụng của đổi thay trong mối liên hệ.

Dòng đời cứ tiếp diễn. Chúng ta phát triển từ trạng thái sơ sinh đến thời thơ ấu, từ thuở thành niên đến lúc bạc đầu và chúng ta đều chấp nhận những đổi thay này như là một diễn biến tự nhiên trong từng cá nhân. Mối liên hệ của chúng ta cũng là một tổng thể "sống" và "động", nó bao gồm hai cá thể tương tác trong cùng một điều kiện sống. Vì là một tổng thể "sống" nên cũng rất là tự nhiên khi nó phải trải qua những giai đoạn khác nhau. Trong bất cứ mối liên hệ nào cũng có những mức độ gần gũi khác nhau: thể xác, tình cảm và  trí tuệ. Chung đụng thân xác, chia xẻ tình cảm, trao đổi ý tưởng đều là những phương tiện hợp pháp để chúng ta nối kết với những người thân yêu. Và cũng rất bình thường khi những phương tiện này tăng rồi giảm, trồi rồi sụt. Có khi chung đụng thể xác giảm xuống nhưng chúng ta lại gia tăng mức độ chia xẻ tình cảm với nhau. Hoặc có khi không muốn trao đổi bằng lời mà chỉ cầm tay nhau cũng đủ. Nếu nhạy bén với những chuyện này, chúng ta sẽ rất hân hoan mà thụ hưởng tình trạng nở rộ của cảm giác đắm say ban đầu. Hoặc trong trường hợp ngược lại, thay vì lo sợ hay bực tức, chúng ta có thể tự tạo một vài kiểu mẫu nối kết mới, thích hợp hơn, thoải mái hơn để tự do vui hưởng cuộc sống với người bạn đường.

Trong cuốn Intimate Behavior, tác giả Desmond Morris cũng có đề cập đến những thay đổi tự nhiên về nhu cầu gần gũi của con người. Ông ta cho rằng mọi người trong chúng ta đều trải qua ba giai đoạn như sau: "Hãy ôm tôi", "Để tôi xuống" và "Hãy để tôi yên". Chu kỳ này xảy ra từ những năm đầu tiên của cuộc sống: Thuở sơ sinh, lúc nào đứa bé cũng cần được bao bọc, che chở. Đó là giai đoạn "hãy ôm tôi". Đến lúc đứa bé bắt đầu khám phá thế giới chung quanh khi nó tập bò, tập đi và đạt được vài trạng thái độc lập, tự quản tức là giai đoạn "để tôi xuống". Mặc dù đây là sự phát triển thông thường nhưng không phải lúc nào các giai đoạn này cũng đi xuôi về một hướng. Có khi đứa bé cảm thấy lo sợ vì tách rời quá xa với người mẹ, chúng quay lại giai đoạn "hãy ôm tôi" để tìm lại cảm giác vỗ về, an ủi. Khi trưởng thành, đứa bé chật vật trong việc xác định bản ngã của mình và đây là giai đoạn rất quan trọng trong cuộc sống, đó cũng là giai đoạn "để tôi yên". Mặc dù đây là thời gian gây nhiều đau khổ cho các bậc cha mẹ, các chuyên gia nhận định rằng đó là chuyện thông thường và cần thiết để một đứa bé chuyển từ thời trẻ tuổi đến thành nhân. Xa hơn một bước nữa, người ta cho rằng có nhiều tiểu giai đoạn phối hợp với nhau trong giai đoạn này. Những người trẻ thường hay la lớn ở nhà rằng "Hãy để tôi yên" thì ngược lại, đối với bạn bè hay đồng trang lứa, họ có thể lại cần đến cảm giác "hãy ôm tôi".

Đối với các tương quan của người lớn cũng vậy. Mức độ gần gũi có khi được thay thế bằng mức độ xa cách và đây cũng là một chu kỳ rất bình thường trong tiến trình tăng trưởng và phát triển của mối tương quan. Để đạt được đầy đủ tiềm năng của một con người, chúng ta cần phải dung hòa nhu cầu thân cận với người ngoài và nhu cầu phát triển độc lập tính trong nội tâm. Có thế chúng ta mới lớn khôn và phát triển thành một cá thể biệt lập. 

Nếu hiểu được những giai đoạn phát triển như vậy là tự nhiên và thông thường thì chúng ta sẽ không bị sợ hãi, không phản ứng với cảm  giác hốt hoảng khi những dấu hiệu rời xa, cách biệt xuất hiện từ người bạn đường, mà chỉ coi đó như ngọn sóng rút ra để rồi lại ập vào bờ bãi. Dĩ nhiên, cũng có khi tình trạng xa cách là dấu hiệu của những rắc rối nghiêm trọng có thể dẫn đến đổ vỡ, và trong những trường hợp như vậy, trị liệu tâm lý là chuyện cần thiết. Điều cần ghi nhận ở đây là những dấu hiệu xa cách không phải lúc nào cũng tự động mang ý nghĩa tai họa. Đôi khi chúng chỉ thuần túy là một thời khoảng trong chu kỳ tiến hóa để rồi sau thời gian suy thoái, chúng lại làm cho mối liên hệ trở lại nguyên trạng hay có khi trở thành tốt đẹp hơn.

Do vậy, thái độ chấp nhận, thông hiểu những sự thay đổi tự nhiên đóng một vai trò quan trọng trong quan hệ tương tác với tha nhân. Chúng ta có thể khám phá ra nhiều chuyển đổi sâu xa trong lúc tưởng như sắp gặp tai họa và những chuyển đổi này có thể lại là một tụ điểm để cho tình yêu chân chính đơm hoa kết trái. Mối liên hệ có thể không còn thuần túy đam mê, không còn thần tượng hóa, tuyệt đối hóa người yêu nữa mà thay vào đó, chúng ta bắt đầu hiểu rõ đối tượng, nhìn đối tượng như một cá thể biệt lập với những ưu cũng như khuyết điểm không khác gì chính chúng ta. Đây là một giai đoạn không thể thiếu vắng nếu chúng ta muốn thiết lập một cam kết chân thành, một tình yêu chân thật.

Nếu chấp nhận và thông hiểu những đổi thay này, cuộc hôn nhân của Margaret có thể đã cứu vãn được: Mối liên hệ giữa hai người đang dựa trên những yếu tố khác chứ không phải là đam mê, lãng mạn.

May mắn là câu chuyện của Margaret không chấm dứt ở đây. Độ hai năm sau buổi trị liệu cuối cùng, tôi gặp lại cô ấy trong một khu buôn bán (việc gặp lại các thân chủ cũ ở những nơi công cộng như vầy thường làm những chuyên viên trị liệu như chúng tôi cảm thấy không mấy thoải mái). Tôi hỏi:

"Sao? Lúc này cô thế nào?" Margaret vui vẻ đáp:

"Không thể nào tốt đẹp hơn nữa, chúng tôi đã trở lại với nhau vào tháng rồi."

"Thế hả?"

"Vâng, rất tốt đẹp. Vì cùng chăm sóc cháu bé nên chúng tôi vẫn gặp nhau thường. Lúc đầu hơi khó khăn ... Nhưng sau khi ly dị thì những áp lực không còn nữa. Chúng tôi không trông đợi gì đối với nhau và cùng nhận ra rằng chúng tôi vẫn còn yêu nhau. Dĩ nhiên, nhiều chuyện không còn như lúc trước nữa nhưng chúng tôi không coi là quan trọng nên chúng tôi rất vui vẻ với nhau. Thật hoàn toàn!"

 

Chương 10

 

CHUYỂN HƯỚNG VIỄN TƯỢNG

Ngày xưa có một triết gia Hy Lạp đã dạy đệ tử rằng mỗi khi bị người khác xúc phạm thì hãy trả công cho họ và người đệ tử này đã thực hành lời giáo huấn của sư phụ trong suốt ba năm. Sau khi mãn hạn, sư phụ nói với đệ tử rằng: "Bây giờ thì con có thể đi Athens để học khôn". Khi đến Athens, người đệ tử gặp một ông già từng trải đứng ở cổng thành. Ông ta lăng nhục tất cả những ai đi ngang qua cổng. Người đệ tử lúc đi qua cũng không tránh khỏi sự nhục mạ của ông già. Nhớ lại chuyện mình đã làm trong ba năm qua, người đệ tử bỗng mỉm cười. Ông già hỏi: "Sao bị ta lăng nhục mà nhà ngươi lại cười?". Người đệ tử đáp: "Suốt ba năm trời tôi đã phải trả tiền để học chuyện đó và bây giờ lại được ông cho không." Ông già nói: "Vào thành đi, tất cả là của ngươi đó".

Desert Fathers, những nhà tu khổ hạnh ẩn cư Cơ Đốc Giáo vào thế kỷ thứ 4 sau công nguyên, là một giáo đoàn với những đặc tính rất khác thường đã dùng mẫu chuyện trên đây để nói về giá trị của  những khó khăn và khổ ải trong đời sống. Nhưng "Thành phố của sự khôn ngoan" đã mở ngõ cho người đệ tử trong câu chuyện trên không phải chỉ do những khổ cực mà ông ta đã trải qua. Lý do khiến người đệ tử đối phó một cách rất hiệu quả với những hoàn cảnh khó khăn là khả năng chuyển đổi viễn tượng của mình, khả năng khiến ông ta có thể nhìn hoàn cảnh của mình từ một quan điểm khác.

Khả năng chuyển đổi tầm nhìn được coi là một phương tiện vô cùng mạnh mẽ và hữu hiệu để đối phó với những khó khăn của đời sống. Đức Đạt Lai Lạt Ma giải thích như sau:

"Có được khả năng nhìn sự việc từ những viễn tượng khác nhau là một điều rất bổ ích. Với khả năng này, người ta có thể dùng một số kinh nghiệm hoặc bi kịch nào đó để phát huy tính tĩnh lặng của tâm thức. Chúng ta nên nhớ rằng bất cứ một hiện tượng, biến cố nào cũng đều có những khía cạnh khác nhau. Tất cả mọi chuyện đều có tính cách tương đối. Thí dụ như trong hoàn cảnh mất nước của tôi. Dĩ nhiên đó là một thảm nạn khủng khiếp nếu nhìn vào những đổ nát tang thương tại Tây Tạng. Nhưng đồng thời, tôi cũng nhìn vấn đề dưới một góc cạnh khác, và với địa vị một người tỵ nạn, tôi có một viễn tượng khác. Đại loại như tôi không còn cần đến những nghi thức, lễ lạc như xưa nữa. Nếu mọi chuyện vẫn như cũ, vẫn tốt đẹp thì trong rất nhiều cơ hội, người ta chỉ giả vờ, làm cho có lệ. Nhưng khi đã trải qua hoàn cảnh hiểm nghèo thì không ai có thì giờ để ngụy tạo nữa. Nhìn từ góc độ đó, thảm nạn vừa qua cũng khá hữu ích cho tôi. Ngoài ra, tư cách tỵ nạn đã tạo cho tôi vô số cơ hội để gặp gỡ nhiều người. Những người từ các truyền thống tín ngưỡng, các tầng lớp xã hội khác nhau, những người mà nếu tôi vẫn còn trong nước thì có thể không có cơ hội để gặp.

"Thông thường thì khi có những rắc rối xảy ra, tầm nhìn của chúng ta bị thu hẹp lại. Làm như tất cả đều chú mục vào tâm trạng lo lắng đối với vấn đề, làm như chỉ có mình phải chịu đựng khó khăn. Tâm lý này có thể dẫn đến tình trạng chỉ nghĩ đến mình mà hậu quả là vấn đề trở nên phức tạp hơn. Khi tình trạng này xảy ra, tôi nghĩ rằng sự quan sát từ một góc cạnh rộng rãi hơn sẽ rất có ích như hiểu được rằng rất nhiều người khác cũng trải qua những khổ nạn như mình hoặc còn khổ hơn mình nữa. Phương pháp thay đổi cách nhìn này giúp chúng rất nhiều trong những trường hợp bịnh hoạn, đau đớn. Dĩ nhiên là không dễ gì tập trung ý tưởng để thực tập thiền quán khi những đau đớn thể xác dâng lên nhưng nếu thực hành thuần thục sẽ giúp chúng ta so sánh mình với những trường hợp tương tự chung quanh, quan sát nỗi khổ đau của mình từ một góc cạnh khác của đời sống. Và điều này giúp ích chúng ta rất nhiều. Ngược lại, nếu chỉ chú tâm vào chuyện đang xảy ra, chúng sẽ trở nên to lớn hơn, nặng nề hơn hầu như không kiểm soát nổi. Khi mang nỗi khổ của mình ra so sánh với một hoàn cảnh bi đát hơn, hiểm độc hơn, chúng ta sẽ thấy rằng nỗi khổ của mình nhỏ bé hơn, dễ dàng hơn và do đó, dễ chịu đựng hơn. 

Trước một buổi đàm luận với đức Đạt Lai Lạt Ma, tôi vô tình gặp một người quen vốn là quản lý viên thiết bị tại chỗ làm cũ. Trong thời gian thuê mướn cơ sở của ông ấy, chúng tôi không mấy hòa thuận với nhau vì tôi tin rằng ông ta đã không cung cấp đúng tiêu chuẩn dịch vụ săn sóc bệnh nhân để đổi lấy những lợi lộc tài chính. Tôi không gặp ông ta đã lâu vậy mà cảm giác tức giận đột nhiên dâng lên khi tôi tình cờ giáp mặt ông ấy. Khi vào đến phòng khách riêng của đức Đạt Lai Lạt Ma trong khách sạn, tôi đã dịu xuống rất nhiều nhưng tâm trí vẫn chưa hoàn toàn êm ả. Tôi nói với đức Đạt Lai Lạt Ma khi buổi đàm luận bắt đầu:

"Giả như ai đó làm mình bực tức, phản ứng tự nhiên của chúng ta là cảm giác sân hận nổi lên. Trong đa số trường hợp, cảm giác giận dữ không chỉ dâng lên vào lúc đó mà kéo dài về sau, có khi rất lâu về sau. Và mỗi khi nghĩ đến, cảm giác sân hận vẫn trở lại như lúc câu chuyện xảy ra lần đầu. Xin Ngài cho biết chúng ta  phải đối xử với tâm lý này như thế nào? Đức Đạt Lai Lạt Ma gật đầu và nhìn tôi. Tôi có cảm giác rằng Ngài biết tôi có lý do khi đưa ra câu hỏi này chứ không chỉ thuần túy với mục tiêu thảo luận. Ngài đáp:

"Nếu nhìn vấn đề dưới một góc cạnh khác, chúng ta sẽ thấy rằng người đã gây ra cảm giác bực bội cho mình cũng có những điểm tốt, những mặt tích cực. Lại nữa, ngay chính hành vi làm chúng ta giận dữ cũng có thể đã gây tạo cho chúng ta một vài cơ hội, vài điều mà bình thường chúng ta không làm sao thấy được, ngay cả trong quan điểm của chúng ta. Cho nên chỉ với một ít cố gắng, chúng ta có thể nhìn vấn đề từ nhiều góc cạnh khác nhau. Đó là điều rất hữu ích".

"Nhưng trong trường hợp mặc dù đã cố gắng, chúng ta cũng không tìm ra một điểm tốt đẹp hay một khía cạnh tích cực nào của câu chuyện thì sao ?"

"Trong trường hợp như vậy, chúng ta phải cố gắng hơn. Chúng ta phải cần thì giờ để tìm hiểu vấn đề từ những viễn tượng khác nhau, những viễn tượng trực tiếp, chánh yếu chứ không phải giả tạo, tưởng tượng. Đồng thời, chúng ta phải nhận xét một cách khách quan chứ không để cho tình cảm làm sai lạc sự nhận xét. Thường thì khi thù ghét một người nào, chúng ta cho họ xấu hoàn toàn, 100% tiêu cực - hoặc cùng một cách thế tương tự, khi yêu thương một người nào, chúng ta cho họ hoàn toàn tốt, 100% tích cực.

Nhưng cách nhìn đời như vậy không phù hợp với thực tế, vì trong nhiều trường hợp, một người bạn rất thân thiết mà ta đối xử như bát nước đầy cũng có thể vì một lý do nào đó làm phật lòng mình. Hoặc một kẻ thù của ta nhưng thật lòng hối lỗi, cư xử hết sức tử tế với mình thì không lý gì mình cứ quay lưng với họ. Cho nên không có ai hoàn toàn xấu mà cũng chẳng có ai hoàn toàn tốt. Người thật xấu cũng có điểm tốt và ngườt thật tốt cũng mang trong mình dăm ba khuyết điểm. Bởi vậy, khi cho một người nào đó hoàn toàn xấu hay tốt thì chẳng qua đó là sự phóng chiếu tâm lý của chính chúng ta, nghĩa là ta gán cho họ như vậy chứ không phải là bản chất thật của họ.

"Tìm cái tốt trong những người xấu là điều hữu ích nhưng chưa đủ. Chúng ta cần phải thường xuyên nhắc nhở mình, thường xuyên thực tập phương pháp chuyển đổi tầm nhìn cho đến khi tâm lý của chúng ta quen với cách sinh hoạt mới. Tổng quát mà nói, khi ở trong hoàn cảnh khó khăn, chúng ta không dễ gì thay đổi quan điểm nếu chỉ áp dụng một vài lần các tư tưởng mới. Muốn thay đổi, chúng ta phải kinh qua một thời gian dài học hỏi, luyện tập để làm quen với quan điểm mới hầu có thể đối phó hữu hiệu với hoàn cảnh khó khăn".

Giữ vững lập trường thực dụng của mình, đức Đạt Lai Lạt Ma nói tiếp:

"Tuy thế, nếu đã cố gắng bằng mọi cách mà chúng ta vẫn không tìm thấy một góc cạnh tích cực nào trong hành động của một người nào đó thì có lẽ cách tốt nhất là quên nó đi."

Cảm hứng về những lời thuyết giảng của đức Đạt Lai Lạt Ma, tối hôm đó, tôi cố tìm cho ra vài "góc cạnh tích cực" về viên quản lý nói trên với dữ kiện là ông ta không phải 100% xấu. Không mấy khó khăn, tôi đã nhớ lại rằng ông ấy là một người cha rất thương con, bằng mọi cách muốn cho con nên người. Và tôi cũng nhận ra rằng những lần đụng chạm với ông ta đã dẫn tôi đến một quyết định tốt đẹp hơn: Tìm được một địa điểm thuận lợi hơn nhiều cho công việc. Không phải những khám phá này làm cho tôi trở nên thân thiện với ông ta, nhưng quả thực, chúng làm tôi bớt ác cảm với viên quản lý mà không phải tốn nhiều công sức. Sau này, đức Đạt Lai Lạt Ma còn thuyết giảng về một bài học sâu sắc hơn: Làm sao để chuyển hóa thái độ của chúng ta đối với kẻ thù và làm sao để quan tâm đến họ.

VIỄN TƯỢNG MỚI ĐỐI VỚI KẺ THÙ

Phương pháp đầu tiên để chuyển hóa thái độ của chúng ta đối với kẻ thù, theo đức Đạt Lai Lạt Ma, là sự phân tích có hệ thống và hợp lý những phản ứng theo thói quen của chúng ta đối với những người làm thiệt hại đến mình. Ngài nói:

"Ta hãy bắt đầu bằng cách xét qua thái độ đặc trưng của mình đối với kẻ địch. Thông thường thì không ai trong chúng ta mong cho kẻ thù gặp được những điều tốt đẹp, nhưng nếu họ bị đau khổ do những hành động của ta thì liệu chúng ta có vui sướng gì không trong chuyện đó? Hãy nghĩ cho kỹ về trường hợp này, liệu có gì đáng thương hơn thế? Mang trong lòng cảm giác thù hận và những ước vọng xấu xa. Có thật chúng ta ích kỷ, bất xứng đến như vậy?"

"Nếu áp dụng  phương pháp rửa hận đối với kẻ thù, chúng ta sẽ tạo ra một vòng lẩn quẩn vì khi chúng ta trả đũa, đối phương sẽ không ngồi yên để chấp nhận. Họ sẽ phản ứng mạnh hơn, rồi chúng ta cũng hành động như vậy để đáp lại và câu chuyện cứ thế ngày càng tệ hại. Khi tình trạng này xảy ra ở cấp cộng đồng, những oán thù có thể kéo dài qua nhiều thế hệ và hậu quả là cả hai phía đều bị thương tổn, cuộc sống sẽ mất đi ý nghĩa tươi đẹp. Trong các trại tỵ nạn, các phe nhóm chống đối lẫn nhau kéo theo cả trẻ con và đây là điều rất đáng buồn. Hận thù giống như lưỡi câu của ngư phủ và điều quan trọng là chúng ta phải cố gắng để đừng mắc câu.

"Cũng có khi người ta cho rằng những hận thù cao độ giúp bảo vệ những lợi ích quốc gia, nhưng theo tôi thì đây là những ý kiến tiêu cực và thiển cận. Ngược lại với quan điểm này là tâm lý hiểu biết và bất bạo động". 

Như muốn thử thách thái độ thường có của chúng ta đối với kẻ thù, đức Đạt Lai Lạt Ma đưa ra một đường hướng mới có thể tạo ra những tác động cách mạng trong đời sống con người. Ngài nói: "Trong đạo Phật, thái độ của chúng ta đối với kẻ thù được xem xét khá cẩn trọng với lý do thù hận là rào cản lớn lao nhất trong việc phát triển từ tâm và hạnh phúc. Nếu chúng ta có thể gia tăng lòng kiên nhẫn, tâm khoan nhượng đối với kẻ thù thì mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn rất nhiều: Lòng từ ái đối với tha nhân sẽ tự nhiên phát tiết. Đối với hành giả đang khai triển tâm thức, kẻ địch giữ một địa vị quan trọng. Như chúng ta đã thấy, từ ái là tinh túy của đời sống tâm linh. Muốn thành công trong hạnh từ bi, người ta không thể nào bỏ qua ý niệm khoan nhượng và nhẫn nhục. KHÔNG CÓ DŨNG CẢM NÀO HƠN ĐƯỢC ĐỨC NHẪN NHỤC CŨNG NHƯ KHÔNG PHIỀN NÃO NÀO TỆ HƠN LÒNG SÂN HẬN. Cho nên chúng ta phải nỗ lực tối đa để đừng bị vây bủa bởi cảm giác thù hận đối thủ mà ngược lại, nên coi đây là cơ hội để mình thực hành lòng khoan nhượng, chí nhẫn nhục.

"Thật ra, kẻ thù là điều kiện cần thiết để thực hiện đức nhẫn nhục, vì thiếu kẻ thù, khoan nhượng và kiên nhẫn sẽ không có điều kiện phát triển. Bạn hữu hay tha nhân không cho chúng ta những cơ hội, cũng không thử thách ta. Chỉ có kẻ thù mới giúp chúng ta có cơ hội vun bồi tính nhẫn nhục. Bởi vậy, dưới nhãn quan này, chúng ta sẽ thấy kẻ thù là một vị thầy xuất sắc mà chúng ta phải tôn trọng vì đã giúp chúng ta những cơ hội quý báu để thực hành hạnh nhẫn nhục.

Trên thế gian này có vô số vô lượng nhân sinh nhưng những người mà chúng ta có cơ hội tiếp xúc thì không là mấy. Và trong số ít ỏi này, những người gây phiền lụy cho chúng ta lại càng ít hơn. Vì hiếm hoi như vậy nên chúng ta phải trân quý họ. Cũng như vô tình tìm thấy bảo vật chôn giấu trong nhà, chúng ta nên vui vẻ và cảm kích những cơ hội quý báu mà họ đã tạo nên cho chúng ta. Muốn thành đạt trong công tác hành trì nhẫn nhục và khoan nhượng tức là những điều kiện quan yếu để chống lại cảm xúc tiêu cực, chúng ta phải phối hợp các cố gắng cá nhân và các cơ hội do kẻ thù cống hiến."

"Dĩ nhiên là người ta vẫn có thể nghĩ rằng: 'Ơ hay, tại sao mình phải tôn trọng kẻ thù, mang ơn về những cống hiến của họ vì họ đâu bao giờ có ý định cung cấp những cơ hội quý báu này? Đâu bao giờ có ý định giúp đỡ mình? Chẳng những họ không có ý giúp đỡ mà ngược lại, họ còn chủ tâm ám hại mình nữa. Cho nên, thù ghét họ là điều thích đáng, họ không xứng đáng được mình tôn trọng' . Thật ra chính cái  tâm địa xấu xa, cái chủ ý muốn ám hại mình của kẻ thù đã tạo ra những hành động độc nhất đó. Vì nếu không có chủ tâm thì lắm khi, chúng ta cũng có thể thù ghét mấy ông bác sĩ, coi họ như kẻ thù khi những vị này phải sử dụng những phương pháp trị liệu đau đớn như mổ xẻ chẳng hạn. Nhưng tại sao chúng ta không thù ghét mấy ông bác sĩ đã gây đau đớn cho ta? Phải chăng vì hành động gây đau đớn đó xuất phát từ ý tưởng giúp đỡ thay vì hãm hại? Vậy thì chính cái chủ ý gây đau khổ đã làm cho hành động của kẻ thù trở nên độc nhất vì đã cống hiến cho chúng ta những cơ hội để thực hành đức nhẫn nhục.

Đề nghị