HẠNH PHÚC CHÂN THƯỜNG
THE ART OF HAPPINESS
Đức Đạt Lai
Lạt Ma
Bác Sĩ
Howard C. Cutler
Nguyên Dực chuyển
ngữ
---o0o---
PHẦN 2. NHIỆT TÌNH
VÀ TỪ TÂM CỦA NHÂN LOẠI
Chương 5
MỘT KHUÔN
MẪU MỚI CỦA TÌNH CẢM RIÊNG TƯ
CÔ ĐƠN VÀ KẾT NỐI
Tôi bước vào phòng khách riêng của đức Đạt Lai Lạt Ma
trong khách sạn và Ngài ra hiệu mời tôi ngồi. Khi trà được rót ra, đức
Đạt Lai Lạt Ma bỏ dép ra và ngồi thoải mái trong chiếc ghế bành quá khổ.
"Sao?" Ngài hỏi tôi bằng một giọng không kiểu cách
với ngụ ý rằng Ngài đang sẵn sàng về bất cứ chuyện gì. Đức Đạt Lai Lạt
Ma cười nhưng yên lặng và chờ đợi.
Trước đó, khi ngồi trong phòng khánh tiết của khách
sạn chờ đến giờ đàm thoại, tôi lơ đãng cầm tờ báo địa phương đã được lật
ở mục tin riêng (personnals). Tôi lướt mắt qua những quảng cáo dày đặc
từ trang này sang trang khác của những người tìm bạn bốn phương đang tha
thiết muốn được làm quen với một người nào đó. Tôi ngồi xuống trước mặt
đức Đạt Lai Lạt Ma mà tâm trí vẫn còn nghĩ đến những quảng cáo cá nhân
này. Bỗng nhiên tôi quyết định dẹp qua một bên những câu hỏi mà tôi đã
sửa soạn sẵn và hỏi :
"Có bao giờ Ngài cảm thấy cô đơn?"
"Không". Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời một cách đơn giản
và tôi thì hết sức ngỡ ngàng. Tôi cứ tưởng là Ngài sẽ trả lời tôi một
cách dài dòng như: "Dĩ nhiên.... Bất cứ ai vào một lúc nào đó trong đời
cũng cảm thấy cô độc....".Và rồi tôi sẽ hỏi rằng Ngài đã ứng phó thế nào
với nỗi cô đơn. Tôi không bao giờ nghĩ rằng mình sẽ đối diện với một
người chưa từng cảm thấy cô độc.
"Không?" Tôi hỏi lại đầy ngờ vực.
"Không".
"Ngài định nói về chuyện gì vậy?".
Đức Đạt Lai Lạt Ma nghĩ ngợi một lúc rồi nói: "Có một
điều là tôi thường nhìn mọi người từ một quan điểm tích cực - tôi cố tìm
các phương diện tích cực của họ. Thái độ này có thể tạo nên một cảm
tưởng thân thuộc, một mối dây liên kết. Và cũng có thể do ở tôi. Tôi
không lo ngại rằng người ta sẽ bớt trọng nể hay cho tôi là kỳ cục nếu
tôi hành xử theo một cách thế nào đó. Vì không lo ngại như vậy nên thái
độ của tôi có vẻ cởi mở và đó là lý do chính".
Tôi cảm thấy hơi khó hiểu về thái độ này nên hỏi
lại: "Nhưng xin Ngài cho biết làm thế nào để người ta có được cảm giác
thoải mái đối với người khác và không sợ bị phán xét, chỉ trích? Có
những phương thức đặc biệt nào để một người bình thường có thể phát
triển thái độ này?"
"Niềm tin căn bản của tôi là trước hết, anh phải nhận
thức được giá trị của lòng từ ái". Đức Đạt Lai Lạt Ma đáp với giọng điệu
đầy vẻ thuyết phục. "Đó là điểm mấu chốt. Khi anh đã chấp nhận sự kiện
rằng từ ái không phải là trẻ thơ hay cảm tính, khi anh đã nhận thức được
rằng từ ái là một cái gì quý giá vô biên thì anh sẽ bị quyến rũ và muốn
vun bồi nó. "Khi lòng từ ái trở nên năng động vì được vun bồi và khuyến
khích trong tâm thức, thái độ của chúng ta đối với tha nhân sẽ đổi khác.
Đến với tha nhân bằng từ tâm, chúng ta sẽ có tâm trạng cởi mở thay vì lo
ngại và điều đó tạo ra một không khí thân mật, bằng hữu. Với thái độ
này, chúng ta có thể tạo ra một mối liên hệ mà trong đó, chính chúng ta
đã làm cho đối tượng có được cảm giác ưu ái, tin tưởng. Ngay cả trong
trường hợp đối tượng không đáp ứng một cách thích đáng, chúng ta cũng đã
đến với họ bằng tấm lòng rộng mở, và đây là điều kiện cần phải có để tạo
ra một cuộc đối thoại có ý nghĩa. Không có từ tâm, chúng ta sẽ có thái
độ khép kín, lãnh đạm và ngay cả với bạn thân, chúng ta cũng không có
được cảm giác thoải mái.
"Theo tôi nhận xét thì trong đa số trường hợp, người
ta chờ đợi tha nhân tỏ thái độ tích cực trước chứ không tự mình khởi
xướng thái độ này. Như vậy không đúng vì nó đưa đến tình trạng cô lập
đối với người khác và vì mình đã tạo ra những ngăn cách, cản trở. Cho
nên để giải tỏa cảm giác cô lập và đơn lẻ, phương cách hay nhất là hãy
đến với tha nhân bằng từ tâm của mình".
Sự ngạc nhiên của tôi khi nghe đức Đạt Lai Lạt Ma nói
rằng Ngài chưa từng cảm thấy cô độc là do ở sự lan tràn khắp nơi của cảm
giác cô đơn trong xã hội chúng ta. Căn bệnh này không phát sinh do ấn
tượng cô độc của chính tôi và cũng không phải lý do nghề nghiệp. Trong
vòng hai mươi năm qua, các tâm lý gia đã điều nghiên bệnh cô đơn bằng
những phương pháp khoa học với rất nhiều những cuộc nghiên cứu và thăm
dò. Những kết quả đã khiến người ta kinh ngạc: Tất cả mọi người đều cảm
thấy cô độc một lúc nào đó trong cuộc đời. Trong một cuộc thăm dò được
tổ chức rộng rãi trên toàn thể nước Mỹ, người ta ghi nhận rằng cứ 4
người thì có 1 bị cảm giác cô đơn ghê gớm trong vòng hai tuần trước cuộc
thăm dò. Tuy chúng ta thường cho rằng cảm giác cô độc kinh niên đã có
những tác hại đặc biệt đối với những người lớn tuổi sống cô đơn trong
các nhà dưỡng lão hay các chung cư, các cuộc sưu tầm cho thấy giới trẻ
và trung niên cũng bị ảnh hưởng không kém.
Do tình trạng quá phổ cập của bịnh cô đơn, người ta
bắt đầu đi tìm nguyên nhân của căn bịnh. Các nhà nghiên cứu nhận thấy
rằng những người cô độc thường không chịu thố lộ tâm tình, không thích
truyền đạt với người khác, không chịu lắng nghe, không hiểu được các dấu
hiệu thông thường lúc nói chuyện (như lúc nào nên gật đầu, lúc nào nên
yên lặng...) và người ta đề nghị các bệnh nhân nên đi học cách cải thiện
những kỹ năng này. Chiến lược của đức Đạt Lai Lạt Ma đã bỏ qua những
kỹ năng xã hội, những ứng xử ngoại vi mà đi thẳng vào trọng tâm: Chứng
nghiệm giá trị của từ tâm rồi vun bồi nó.
Mặc dù
có cảm giác nghi ngờ ban đầu, tôi dần dà tin tưởng rằng đức Đạt Lai Lạt
Ma chưa từng có cảm giác cô độc sau khi nghe Ngài nói chuyện. Sự tin
tưởng của tôi có bằng chứng hẳn hòi - không biết bao nhiêu lần tôi đã
nhìn thấy cách tiếp xúc với người lạ của đức Đạt Lai Lạt Ma và tôi biết
một cách chắc chắn rằng thái độ tích cực ấy không phải là một cá tính
thân thiện tự nhiên. Thật ra Ngài đã suy ngẫm kỹ càng về sự quan trọng
của lòng từ ái, đã dày công bồi dưỡng mối từ tâm để làm giàu thêm các
kinh nghiệm sống và khiến người khác đặt trọn niềm tin vào Ngài. Đây là
một phương pháp mà bất cứ ai bị cô đơn đều có thể ứng dụng được.
LỆ THUỘC
VÀO NGƯỜI KHÁC VÀ TỰ LỰC
"Tất cả mọi chúng sinh đều có chủng tử của sự toàn
thiện. Tuy nhiên để chủng tử này được phát khởi trong tâm và trí của mỗi
cá nhân, chúng ta cần đến từ tâm".
Đó là những lời mở đầu của buổi nói chuyện trước một
đám đông yên lặng gồm 1500 người kể cả một số sinh viên Phật giáo. Hôm
đó đức Đạt Lai Lạt Ma nói về ý niệm phước điền.
Theo quan điểm Phật giáo, phước là những ấn chứng
tích cực của tâm thức, do kết quả của việc hành thiện. Đức Đạt Lai Lạt
Ma giải thích rằng phước điền hay ruộng phước là nơi chúng ta tích lũy
công đức, và theo tín lý nhà Phật, đây là nơi quyết định cảnh giới mà
chúng ta sẽ tái sinh. Ngài nói rằng giáo lý nhà Phật đề cập đến hai loại
phước điền: Một của chư Phật và một của chúng sinh. Cách thứ nhất để
được phước là giữ vững tín tâm và phụng thờ chư Phật tức là các bậc Giác
Ngộ. Cách thứ hai là phát triển lòng yêu thương, rộng lượng, tha thứ,
cũng như tránh các hành vi tiêu cực như Sát (giết hại), Đạo (trộm cắp),
Vọng (dối trá)... Cách thứ nhì này đòi hỏi chúng ta phải liên hệ với tha
nhân thay vì với chư Phật, và trên căn bản này, đức Đạt Lai Lạt Ma nói
rằng tha nhân có thể giúp chúng ta rất nhiều trong việc tạo phước.
Khi nói rằng tha nhân là phước điền của chúng ta, đức
Đạt Lai Lạt Ma có vẻ đã tạo được những ấn tượng đậm nét đối với thính
giả. Những luận cứ rõ ràng cộng với giọng điệu đầy vẻ thuyết phục đã gây
ra một tác động mạnh mẽ tại buổi nói chuyện chiều hôm đó. Khi nhìn quanh
phòng, tôi thấy đa số thính giả đã không giữ được vẻ yên tĩnh thường có.
Riêng tôi thì không bị mê hoặc lắm vì trong một buổi đàm đạo với đức Đạt
Lai Lạt Ma trước đó, tôi đã ý thức được tầm quan trọng của từ tâm. Tôi
vẫn còn bị ảnh hưởng bởi những năm dài suy luận theo tinh thần duy lý
cũng như những điều kiện khoa học cứ bảo tôi rằng những biện giải về
thương yêu, từ ái chỉ toàn là cảm tính.
Tai nghe đức Đạt Lai Lạt Ma nói chuyện mà trí óc tôi
thì phiêu diêu lãng đãng. Tôi lặng lẽ nhìn quanh phòng để tìm xem có ai
quen, những nhân vật nổi tiếng. Tôi hơi buồn ngủ vì đã ăn trưa khá đầy
bụng trước khi buổi nói chuyện bắt đầu. Nửa ngủ nửa thức, tôi nghe đức
Đạt Lai Lạt Ma nói:
"....hôm đó tôi nói về những điều kiện cần thiết để
có được một cuộc sống vui vẻ thoải mái. Các điều kiện như là sức khỏe
tốt, bạn hiền, vật chất đầy đủ... Nếu tìm hiểu một cách cặn kẽ, chúng ta
sẽ thấy rằng tất cả các điều kiện này đều tùy thuộc vào người khác. Muốn
cho sức khỏe được bảo trọng, chúng ta phải nhờ đến thuốc men do người
khác chế tạo ra, các dịch vụ y tế do người khác cung cấp. Tất cả các
điều kiện vật chất cũng vậy, chúng đều có liên quan đến người khác một
cách trực tiếp hay gián tiếp. Không nói thì ai cũng biết rằng khi đề cập
đến bạn hữu, bạn đường hay bạn tình, tức là chúng ta đã nói đến một cá
thể khác, một chúng sinh hữu tình khác.
"Do đó, quý vị có thể thấy rằng tất cả những điều
kiện này nối kết một cách vô cùng mật thiết với những người khác. Tha
nhân không thể thiếu được trong cuộc sống của chúng ta cho nên trong mối
quan hệ với tha nhân có thể có những khó khăn, tranh cãi..., chúng ta
cũng nên giữ một thái độ thân thiện, nồng ấm, để từ đó có thể tạo dựng
được một cuộc sống hạnh phúc trong khi vẫn liên hệ đến người khác".
Nghe đức Đạt Lai Lạt Ma nói như vậy, tôi cảm thấy
không mấy đồng ý. Dù vẫn thường đánh giá cao mối liên hệ với gia đình và
bằng hữu, tôi cho rằng cá nhân tôi là một người tự lập và tự lực. Tôi
vẫn tự hào như vậy, và trong thâm tâm, tôi cho những kẻ hay nhờ cậy
người khác là yếu đuối.
Ngay buổi chiều hôm đó, trong lúc tiếp tục nghe đức
Đạt Lai Lạt Ma nói chuyện, một điều khác thường đã xảy ra cho tôi. Vì
không thích thú lắm với quan niệm lệ thuộc vào tha nhân, nên trí óc tôi
lại bắt đầu phiêu du vô định và tay tôi mân mê một sợi chỉ ở tay áo một
cách vô thức. Khi đức Đạt Lai Lạt Ma nói về mối tương quan của tha nhân
với các điều kiện vật chất trong cuộc sống của chúng ta, tôi bỗng liên
tưởng đến những người đã tham dự vào việc làm ra cái áo tôi đang mặc.
Tôi nghĩ đến những người ở nông trại trồng bông vải, rồi đến những người
bán máy cày để làm đất. Từ chiếc máy cày, tôi nghĩ đến hàng ngàn người
liên hệ đến việc tạo ra chiếc máy cày, đến những công nhân ở các hầm mỏ,
những họa viên vẽ kiểu chiếc máy cày. Rồi thì những người biến chế bông
vải, những thợ dệt, thợ nhuộm, thợ may ... Cả đến những tài xế xe tải
chở áo giao cho các tiệm quần áo và những người bán hàng đã bán chiếc áo
cho tôi. Tôi bỗng nhiên nhận thức được rằng hầu như tất cả mọi phương
diện trong đời sống của tôi đều có bàn tay của tha nhân góp sức vào.
Niềm tự hào và tính tự lập của tôi hóa ra chỉ là một ảo giác, một hoang
tưởng. Từ nhận thức này, tôi chứng ngộ một cách sâu xa mối liên hệ hỗ
tương, sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các sinh vật. Tâm tư tôi như chùng
lại. Tôi hiểu được một cái gì đó mà tôi chưa bao giờ biết đến. Tôi cảm
thấy thổn thức trong lòng.
TÌNH CẢM
RIÊNG TƯ
Sự cần
thiết của tha nhân đối với chúng ta là một nghịch lý. Trong lúc nền văn
hóa của chúng ta tôn vinh tính tự lập thì con người vẫn khao khát những
tình cảm thầm kín cũng như mối liên hệ với những người thân yêu. Chúng
ta tập trung tất cả ý lực để tìm cho được một người nào đó hầu chấm dứt
nỗi cô đơn trong khi vẫn giữ chặt cái ảo giác rằng chúng ta tự lập.
Thường thì chúng ta không dễ gì đặt tất cả tin tưởng vào một người trong
khi đức Đạt Lai Lạt Ma lại khuyến cáo là hãy tin tưởng càng nhiều càng
tốt nếu không nói là tin cậy tất cả mọi người.
Tôi hỏi đức Đạt Lai Lạt Ma vào một buổi chiều, tại
phòng khách riêng của Ngài trong khách sạn: "Trong buổi nói chuyện ngày
hôm qua, Ngài có đề cập đến tầm quan trọng của tha nhân, coi tha nhân là
phước điền của mọi người. Nhưng khi khảo sát mối liên hệ với tha nhân,
người ta thấy có rất nhiều hình thức khác nhau..."
"Đúng vậy". Đức Đạt Lai Lạt Ma gật đầu.
"Thí dụ ở Tây phương, người ta thường đánh giá cao
mối liên hệ có tính cách riêng tư giữa hai người - tức là một ai đó mà
mình có thể bộc bạch những cảm tưởng sâu kín nhất, có thể chia xẻ với họ
nỗi lo sợ trong lòng... Người ta cho rằng nếu không có được mối liên hệ
đó thì chúng ta đã sống không trọn vẹn. Thật ra, môn tâm lý trị liệu của
Tây phương thường khuyến cáo người ta nên tìm cách phát triển mối liên
hệ riêng tư này".
Đức Đạt Lai Lạt Ma tán đồng: "Đúng, tôi cũng nghĩ là
loại tình cảm riêng tư như vậy có thể được xem là tích cực. Nếu một
người nào đó bị tước đoạt mất mối liên hệ này, họ sẽ có vấn đề...."
Tôi nói tiếp: "Tôi không biết rằng.... khi lớn lên ở
Tây Tạng, Ngài không những được coi như một ông vua mà còn được tôn vinh
như một vị thần, cho nên tôi nghĩ rằng mọi người đều kính nể Ngài, hoặc
hơn nữa, sợ hãi khúm núm khi đứng trước mặt Ngài. Điều đó có tạo ra một
khoảng cách tâm lý giữa Ngài và mọi người? một cảm giác cô lập? Lại nữa,
xa nhà từ khi còn nhỏ, được giáo dục để trở thành một tu sĩ suốt đời độc
thân.... Tất cả những chuyện đó có làm cho Ngài cảm thấy xa cách với mọi
người? Có bao giờ Ngài cảm thấy thiếu vắng những tâm tình thầm kín với
một người nào đó, người phối ngẫu chẳng hạn?"
Không do dự, đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời :
"Không, tôi không bao giờ cảm thấy thiếu thốn tình
cảm riêng tư. Dù thân phụ tôi qua đời đã lâu nhưng tôi rất gần gũi với
mẹ, thầy, đạo sư cũng như những người khác. Với họ, tôi có thể chia xẻ
những cảm tình thầm kín, những nỗi lo sợ, những mối quan tâm. Khi còn ở
Tây Tạng, dĩ nhiên là tôi phải tham dự những lễ, hội của chính phủ;
nhưng vào những lúc rảnh rỗi, tôi cũng thường loanh quanh ở nhà bếp để
chuyện trò, đùa giỡn với ban trai soạn. Những lúc như vậy tôi rất thoải
mái, và không có cảm tưởng xa cách hay nghi thức. Cho nên dù ở Tây Tạng
hay sau khi trở thành người tỵ nạn, tôi không có cảm giác thiếu người để
chia xẻ tình cảm. Có thể một phần do bản tính của tôi vì tôi rất dễ hòa
đồng với người khác. Tôi rất dở trong việc giữ bí mật".
Đức Đạt Lai Lạt Ma cười và tiếp tục câu chuyện :
"Dĩ nhiên là cũng có những chuyện không hay xảy ra vì
nhiều khi tôi không giữ kín được những bàn thảo bí mật trong nội các lưu
vong. Nhưng trên bình diện cá nhân thì chia xẻ và cởi mở là những yếu tố
rất hữu dụng. Cũng do bản tính này mà tôi kết bạn rất dễ, không phải chỉ
để làm quen và chào hỏi qua loa mà ngay cả chia xẻ những vấn đề quan hệ
hoặc những đau khổ trong lòng. Khi có được tin vui cũng vậy, tôi mau mắn
cho mọi người biết, và tôi có cảm tưởng thân mật, liên hệ mật thiết với
bạn bè. Dĩ nhiên tôi biết rằng sở dĩ tôi dễ dàng thiết lập mối quan hệ
với người khác vì họ thường rất vui mừng được chia xẻ buồn vui với tôi,
với 'đức Đạt Lai Lạt Ma' ". Ngài lại cười và châm biếm tước hiệu của
Ngài: "Tuy nhiên, tôi thích chia xẻ với người khác. Trong quá khứ, khi
không hài lòng với chính sách của chính phủ Tây Tạng hay bị ám ảnh bởi
mối đe dọa xâm lăng của Trung Quốc, tôi quay về phòng riêng và tâm sự
với người dọn phòng. Trên một quan điểm nào đó, điều này có vẻ lố bịch
và dại dột khi một vị Lạt Ma, thủ lãnh của chính phủ Tây Tạng đang gặp
những khó khăn quốc nội và quốc ngoại lại đi thố lộ với người quét dọn
nhà cửa". Đức Đạt Lai Lạt Ma lại cười: "Nhưng cá nhân tôi lại thấy hữu
dụng vì khi người này bày tỏ quan điểm thì chúng tôi đã cùng nhau đối
phó với vấn đề".
NỚI RỘNG
Ý NGHĨA CỦA TÌNH CẢM RIÊNG TƯ
Hầu như tất cả các nhà nghiên cứu về mối liên hệ giữa
người với người đều đồng ý rằng tình cảm riêng tư là trọng tâm của cuộc
sống. Nhà phân tích tâm lý nổi tiếng người Anh là John Bowlby đã viết
như sau: "Cuộc đời mỗi người quay quanh những liên hệ thầm kín với người
khác. Cũng từ những quan hệ này, người ta tìm được động lực để vui hưởng
đời sống, và qua những đóng góp của mình, người ta làm cho người khác có
sức mạnh để vui hưởng cuộc đời. Đây cũng là điểm gặp gỡ của khoa học
hiện đại và túi khôn muôn đời".
Rõ ràng là quan hệ riêng tư làm người ta khỏe mạnh
hơn về thể lực lẫn tâm lý. Các nhà nghiên cứu y học nhận thấy rằng những
người có bạn thân để thố lộ, chia xẻ tâm tình là những người chống chỏi
được những thử thách về sức khỏe như chấn thương tim mạch, giải phẫu. Họ
cũng ít bị những bịnh như ung thư và bệnh về hệ thống hô hấp. Một cuộc
nghiên cứu với hơn 1,000 bệnh nhân tim mạch tại trung tâm y khoa thuộc
đại học Duke cho thấy rằng những người không có vợ/chồng hay bạn thân có
mức tử vong 3 lần cao hơn những người khác trong vòng 5 năm kể từ khi
mắc bịnh. Một cuộc nghiên cứu khác ở Alameda County thuộc California với
nhiều ngàn dân cư trong suốt chín năm liền cũng cho thấy những người có
quan hệ riêng tư với người khác có tử xuất thấp hơn cũng như ít bị bịnh
ung thư hơn. Trường y khoa thuộc đại học Nebraska đã theo dõi các bệnh
nhân cao niên cũng thấy rằng những người có quan hệ riêng tư thường có
hệ thống kháng bệnh mạnh hơn và mức Cholesterol trong máu thấp hơn.
Trong những năm gần đây, ít nhất đã có 6 cuộc nghiên cứu sâu rộng được
điều hành bởi nhiều nhà sưu tầm khác nhau để tìm hiểu mối tương quan
giữa quan hệ riêng tư và sức khỏe. Sau khi phỏng vấn nhiều ngàn người,
các nhà nghiên cứu có vẻ đã đồng ý rằng tình cảm riêng tư làm tăng cường
sức khỏe.
Người ta cho rằng tình cảm riêng tư cũng quan trọng
như giữ gìn những cảm xúc tốt đẹp. Nhà phân tích tâm lý kiêm triết gia
Erich Fromm cho rằng nỗi lo âu căn để nhất của con người là bị tách rời
khỏi tha nhân. Ông ta tin rằng kinh nghiệm về sự chia cách lúc thiếu
thời đã là nguyên nhân của cảm giác lo sợ trong cuộc sống. John Bowlby
cũng đồng ý như vậy khi đưa ra những bằng chứng để hỗ trợ cho ý tưởng
nói rằng bị tách rời khỏi người bảo hộ -thường là mẹ hoặc cha- trong năm
đầu tiên đã tạo ra cảm giác sợ hãi và buồn khổ một cách rất rõ rệt cho
những đứa bé. Ông cho rằng sự cách ly hoặc mất người thân là căn nguyên
của cảm giác lo âu, buồn bã và phiền muộn của con người.
Biết rằng tình cảm riêng tư rất quan trọng, nhưng làm
sao để chúng ta tạo được loại tình cảm này trong cuộc sống? Theo quan
điểm của đức Đạt Lai Lạt Ma đã được đề cập ở trên thì chúng ta có thể
học hỏi được bằng cách hiểu rõ thế nào là tình cảm riêng tư; đồng thời
tìm kiếm một định nghĩa, một khuôn mẫu khả thi cho thứ tình cảm này
trong cuộc sống. Nhưng nếu muốn tìm một câu trả lời có tính cách khoa
học thì lại rất khó vì tuy các nghiên cứu gia đều đồng ý về địa vị quan
trọng của tình cảm riêng tư, nhưng người ta lại hoàn toàn bất đồng quan
điểm với nhau về những định nghĩa rất đa dạng của tình cảm này. Desmond
Morris là một tác giả đã có những ý kiến rất đặc thù và rõ rệt, ông nhìn
tình cảm riêng tư dưới quan điểm bản năng động vật của một nhà động vật
học.
Trong cuốn Intimate Behaviour, tác giả Morris đã định
nghĩa tình cảm riêng tư như sau: "Riêng tư có nghĩa là gần gũi. Tôi cho
rằng hành động riêng tư xảy ra khi hai cá nhân đụng chạm thể xác". Sau
khi định nghĩa tình cảm riêng tư thuần túy là các đụng chạm có tính cách
vật lý như vậy, ông ta đề cập đến vô số phương pháp tiếp cận giữa người
với người: từ một cái vỗ vai đơn giản đến những ôm ấp trong hoạt động
tình dục. Đụng chạm là phương tiện để chúng ta truyền đạt sự an ủi đồng
thời nhận sự an ủi từ người khác như ôm vai hay cầm tay. Ngay cả việc
sơn móng tay của qúy bà, theo Morris, cũng là một hình thức đụng chạm
vật lý. Ông còn đề cập đến những va chạm vật lý của chúng ta đối với các
vật vô tri quanh mình: cầm thuốc lá, đeo nữ trang, nằm giường nước....
cũng là những dạng thức thay thế, những phó sản của tình cảm riêng tư.
Những nhà nghiên cứu khác không đưa ra những định
nghĩa chắc chắn về tình cảm riêng tư, nhưng đồng ý với nhau rằng riêng
tư không chỉ đơn thuần là đụng chạm. Trong tiếng La tinh, riêng tư có
nguồn gốc từ chữ Intima có nghĩa là bên trong, sâu kín và thường có một
phạm trù rộng lớn hơn. Bác sĩ Dan Mc Adam, tác giả một số sách nói về
tình cảm riêng tư, cho rằng "ước muốn tình cảm riêng tư là ước muốn được
chia xẻ với người khác về những cảm nghĩ thầm kín của mình".
Nhưng những định nghĩa của riêng tư chưa ngừng ở đây.
Đối nghịch với quan điểm của Desmond Morris là nhóm tâm lý gia chuyên
nghiệp gồm hai cha con Malone (Thomas Patrick và Patrick Thomas). Hai
người này cùng viết cuốn The Art of Intimacy, trong đó họ định nghĩa
tình cảm riêng tư là "kinh nghiệm của sự kết nối". Quan điểm của họ về
tình cảm riêng tư dựa trên sự khảo sát rất kỹ lưỡng về sự nối kết giữa
chúng ta và người khác. Tuy nhiên, ý tưởng của họ đã không bị giới hạn
trong phạm vi liên hệ giữa người với người mà đề cập đến cả mối liên hệ
của chúng ta đối với cây cối, trăng sao, và ngay cả không gian xa xôi vô
tận.
Ý niệm về một dạng thức lý tưởng của riêng tư cũng
thay đổi tùy theo hoàn cảnh địa dư và lịch sử. Quan niệm lãng mạn về
'một nhân vật lý tưởng', người mà chúng ta say mê, mong ước có được mối
liên hệ riêng tư là sản phẩm của thời đại và nền văn hóa của chúng ta.
Nhưng kiểu mẫu này không được chấp nhận trong tất cả các nền văn hóa.
Thí dụ như người Nhật dựa vào tình bạn để xây dựng tình cảm riêng tư
trong khi người Mỹ hướng nhiều đến mối liên hệ tình cảm với bạn gái/bạn
trai hay người phối ngẫu. Dựa vào yếu tố này, vài nhà nghiên cứu cho
rằng người Á châu ít chú trọng đến tình cảm cá nhân -như đam mê chẳng
hạn- mà quan tâm nhiều đến những ràng buộc, những ước lệ của xã hội.
Người ta nhận thấy rằng những ràng buộc, ước lệ này ít khi làm người ta
"vỡ mộng", một nguyên nhân thường khiến các mối liên hệ tình cảm bị đổ
vỡ.
Ngoài sự khác biệt giữa các nền văn hóa, ý niệm về
riêng tư cũng thay đổi lớn lao theo thời gian. Lúc nước Mỹ còn là một
thuộc địa, mức độ gần gũi và kín đáo của con người quan trọng hơn bây
giờ nhiều, vì ngày nay, các thành viên trong gia đình và cả người lạ nữa
(khách, bạn...) cũng có thể dùng chung những tiện nghi trong nhà như
phòng tắm, phòng ăn và ngay cả phòng ngủ. Cách nói chuyện giữa vợ chồng
cũng trở nên dễ dãi, ít nghi thức hơn, chẳng khác gì mấy ông hàng xóm
nói chuyện với nhau. Chỉ mới trong thế kỷ này, tình yêu và hôn nhân mới
bị lãng mạn hóa cao độ và người ta đòi hỏi người phối ngẫu phải ngay
thật về các chuyện riêng tư.
Các ý niệm về riêng tư và thầm kín cũng thay đổi theo
thời gian. Vào thế kỷ 16 tại Đức quốc chẳng hạn, tân lang và tân giai
nhân phải hợp cẩn trên chiếc giường được mang đến bởi những chứng nhân
của buổi tiệc cưới. Cách thức diễn đạt cảm xúc cũng thay đổi. Vào thời
Trung cổ, bày tỏ cao độ những cảm xúc vui thích, thịnh nộ, sợ hãi,
thương hại, và ngay cả sự thích thú trong việc hành hạ hay xử tử kẻ
thù.... là một điều bình thường. Cười rộn ràng, khóc mùi mẫn, giận dữ
hung bạo trước trước mặt đám đông được chấp nhận nhiều hơn so với xã hội
ngày nay. Nhưng khi những cảm xúc đó được bày tỏ một cách thoải mái và
tự nhiên trước công chúng, thì người ta không còn gì là riêng tư và thầm
kín nữa.
Rõ ràng là những ý niệm về riêng tư cũng không có
tính cách toàn cầu, nó thay đổi theo thời gian và bị ảnh hưởng bởi các
điều kiện văn hóa, kinh tế, xã hội. Cho nên chúng ta rất dễ bị bối rối
trước vô số các định nghĩa khác nhau về ý niệm riêng tư. Vậy thì tình
cảm riêng tư là gì? Theo tất cả những điều vừa được trình bày ở trên
thì: Riêng tư là một tình cảm có vô số chiều kích và người ta có thể cảm
nhận nó bằng vô số hình thái khác nhau. Nhận thức được như vậy, chúng ta
có một cơ hội to lớn: Ngay trong giây phút này, chúng ta đã có vô số
mạch nguồn của riêng tư - Tình cảm riêng tư ở khắp mọi nơi.
Ngày nay, cảm giác thiếu thốn một cái gì đó trong
cuộc đời thường làm chúng ta ngột ngạt, khó chịu và nếu sự thiếu thốn đó
là tình cảm riêng tư thì con người rất khốn khổ. Điều này ai cũng từng
trải qua một giai đoạn nào đó trong đời khi thiếu vắng những liên hệ
tình cảm hay khi sự đam mê suy khuyết dần trong những liên hệ này. Trong
nền văn hóa của chúng ta, người ta cũng thường nghĩ rằng tình cảm thầm
kín nhất chỉ được bộc lộ ra trong quan hệ yêu đương, rằng CHÀNG hay NÀNG
là người đặc biệt nhất trong thiên hạ. Điều này đóng khung quan điểm của
chúng ta, khép kín lối vào những hình thái khác của riêng tư, cho nên
khi CHÀNG hay NÀNG không còn nữa thì chúng ta đau khổ vô cùng vì chúng
ta chẳng còn gì cả.
Nhưng thật ra, chúng ta có khả năng tránh được tình
trạng này. Chỉ cần có can đảm để bành trướng quan niệm của chúng ta về
riêng tư, chấp nhận những hình thái khác của riêng tư trong đời sống
hàng ngày. Nới rộng định nghĩa của riêng tư, chúng ta sẽ mở ngõ tâm hồn
để đón nhận những phương thức mới khác không kém thú vị trong cách thế
liên hệ với tha nhân. Điều này khiến chúng ta nhớ lại cuộc bàn luận giữa
đức Đạt Lai Lạt Ma và tôi về sự cô đơn, cuộc bàn luận đã bất ngờ diễn ra
khi tôi đọc thấy hàng ngàn mục quảng cáo tìm bạn trên một tờ báo địa
phương.
Tôi suy nghĩ khá nhiều về những mục quảng cáo này:
Trong lúc tác giả của các mục tìm bạn này nặn óc để tìm cho ra những
hình dung từ thích hợp để mong chấm dứt nỗi cô đơn của mình, thì biết
bao nhiêu bạn bè, thân thuộc, gia đình đang vây quanh họ, nghĩa là họ đã
có sẵn biết bao mối liên hệ có thể dễ dàng biến thành những tình cảm
riêng tư? Nhiều lắm, tôi nghĩ vậy.
Nếu đời sống là một cuộc săn đuổi hạnh phúc và tình
cảm riêng tư là một yếu tố quan trọng của cuộc sống hạnh phúc, thì rõ
ràng là rất thuận lý nếu chúng ta chấp nhận quan điểm cho rằng tình cảm
riêng tư bao gồm nhiều cách thế liên hệ với tha nhân, chứ không chỉ là
quan hệ yêu đương. Và chấp nhận càng nhiều cách thế khác nhau của tình
cảm riêng tư càng tốt cho chúng ta. Khuôn mẫu của đức Đạt Lai Lạt Ma về
tình cảm riêng tư đặt cơ sở trên sự cởi mở của chúng ta đối với tha
nhân, gia đình, bằng hữu và ngay cả người lạ. Đây là một khuôn mẫu chân
chính, sâu sắc của tình cảm riêng tư dựa trên lòng nhân đạo của con
người.
Chương 6
ĐÀO SÂU MỐI
LIÊN HỆ VỚI THA NHÂN
Một buổi chiều, sau buổi nói chuyện trước công chúng
của đức Đạt Lai Lạt Ma, tôi đến phòng khách riêng của Ngài trong khách
sạn. Tôi đến sớm mấy phút. Một người tùy tùng ra dấu bảo tôi rằng đức
Đạt Lai Lạt Ma đang bận khách và Ngài sẽ trễ vài phút. Tôi trở ra ngoài,
ngồi ở vị trí mà tôi thường ngồi và đọc lại những ghi chú mà tôi sẽ dùng
vào buổi nói chuyện sắp tới, đồng thời tránh ánh mắt dò xét của nhân
viên an ninh, rất giống với ánh mắt của những người bán hàng trông chừng
mấy cậu học sinh trung học lượn lờ quanh các tạp chí. Chỉ mấy phút sau
cửa mở và một cặp tuổi trung niên, ăn mặc chững chạc bước ra. Trông họ
có vẻ quen và tôi nhớ rằng tôi đã được giới thiệu với họ trong một dịp
nào đó vài ngày trước. Người ta cho tôi biết rằng người vợ được thừa
hưởng một gia tài đồ sộ và người chồng cũng rất giàu có - ông ta là một
vị chưởng lý có quyền thế ở Manhattan. Mặc dù chỉ trao đổi với nhau vài
câu ngắn trong dịp giới thiệu, tôi hơi ngỡ ngàng vì cả hai đều có vẻ vô
cùng cao ngạo.
Khi họ rời khỏi phòng khách riêng của đức Đạt Lai Lạt
Ma, tôi chợt nhận ra một sự thay đổi không thể ngờ nổi trên khuôn mặt
hai người. Nét cao ngạo và tự mãn đã hoàn toàn biến mất, thay vào đó là
hai khuôn mặt đầy vẻ dịu dàng và xúc động - trông họ như hai đứa trẻ với
ngấn lệ đọng trên khóe mắt. Mặc dù tác động của đức Đạt Lai Lạt Ma với
người đối thoại thường không quá lớn lao, tôi nhận thấy mọi người đều có
một sự thay đổi cảm xúc nào đó sau khi nói chuyện với Ngài. Tôi rất ngạc
nhiên về khả năng kết hợp để tạo nên một sự trao đổi cảm xúc rất sâu sắc
và đầy ý nghĩa với người đối thoại của đức Đạt Lai Lạt Ma, bất luận
người ấy thuộc thành phần nào trong xã hội.
TẠO LẬP
SỰ CẢM THÔNG
Trong thời gian đức Đạt Lai Lạt Ma lưu ngụ tại
Arizona, chúng tôi đã có dịp đề cập đến đề tài nhiệt tình và từ tâm của
nhân loại, nhưng mãi cho đến mấy tháng sau tại nhà riêng của Ngài tại
Dharamsala, tôi mới có cơ hội khám phá một cách chi tiết về phương cách
liên hệ với tha nhân của Ngài. Vào thời điểm này, tôi đã rất nóng lòng
muốn tìm xem những nguyên tắc căn bản nào được đức Đạt Lai Lạt Ma sử
dụng khi giao kết với tha nhân - những nguyên tắc có thể ứng dụng để cải
thiện mối giao hảo với người lạ, gia đình, bạn bè, người thân.... Tôi
hỏi một cách nôn nóng :
"Nói về mối tương quan giữa người và người, xin Ngài
cho biết những phương thức hay kỹ thuật nào hữu hiệu nhất để tạo một mối
liên hệ có ý nghĩa, đồng thời giảm thiểu những bất đồng với tha nhân?".
Đức Đạt Lai Lạt Ma nhìn tôi với ánh mắt soi mói. Tuy
không phải là ánh mắt thiếu thân thiện nhưng Ngài làm tôi có cảm tưởng
như tôi vừa hỏi Ngài phải đưa cho tôi cái công thức hóa học chính xác
của bụi đất trên mặt trăng
. Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời sau một lúc yên lặng: "Đối xử với người
khác là một vấn đề rất phức tạp. Không có cách nào đưa ra một công thức
có thể giải quyết tất cả mọi vấn đề. Cũng giống như nấu ăn vậy. Có nhiều
lớp lang khác nhau khi anh muốn nấu một món ăn đặc biệt. Có thể anh phải
luộc rau cải trước, sau đó đem chiên rồi trộn chung với nhau, sau nữa
là thêm gia vị. Và kết quả là anh có được một món ăn thật ngon miệng.
Cũng thế, chúng ta cần rất nhiều dữ kiện để có thể đối xử một cách khôn
khéo với tha nhân, chứ không thể nói 'Đây là phương pháp tốt nhất', 'Đây
là kỹ thuật tuyệt hảo' ".
Tôi không hài lòng lắm với lối trả lời này, tôi nghĩ
là đức Đạt Lai Lạt Ma lảng tránh vấn đề vì tôi cho rằng Ngài phải có một
giải đáp rõ rệt hơn. Vì vậy tôi hỏi dồn: "Nếu không có một giải pháp đơn
thuần để cải thiện mối tương giao thì ít nhất, cũng xin Ngài cho biết
những chỉ dẫn tổng quát có thể ứng dụng được".
Đức Đạt Lai Lạt Ma suy nghĩ một lúc rồi nói: "Trước
đây, chúng ta có bàn luận về vai trò quan trọng của từ tâm khi đến với
tha nhân. Chúng ta có thể dễ dàng bảo người khác phải yêu thương hơn,
tha thiết hơn. Nhưng như vậy chưa đủ, vì một lời giải thích đơn giản ít
khi mang lại kết quả. Muốn cho người ta nhiều từ tâm, nhiều nhiệt tình
hơn khi giao tiếp với người khác, thì phải làm sao cho họ thấy được lợi
ích thiết thực của những tình cảm này, chẳng hạn như cảm giác hân hoan
của một người khi nhận được sự ưu ái từ kẻ khác.
"Bây giờ chúng ta hãy nói đến những phương thức khác
nhau để nới rộng mối từ tâm. Cảm thông là một yếu tố quan hệ. Đó là khả
năng thông hiểu được nỗi khổ đau của người khác. Trong Phật giáo, đồng
cảm là phương thức hữu hiệu để tăng trưởng từ tâm, bằng cách đặt mình
vào hoàn cảnh bi thảm của chúng sinh. Một con trừu sắp bị làm thịt chẳng
hạn, và ta hãy tưởng tượng nỗi kinh hoàng mà nó đang trải qua, đang chịu
đựng...". Đức Đạt Lai Lạt Ma ngừng lại một lúc, tay vô tình lần chuỗi
hạt. Ngài nói tiếp: "Có thể khá tế nhị khi đề cập phương thức này với
những người lạnh lùng và thờ ơ - cũng giống như đòi hỏi người đồ tể đặt
mình vào trường hợp con cừu sắp bị họ làm thịt hay bắt những người quen
với thú vui câu cá, săn bắn đặt họ vào địa vị những con thú bị họ giết
hại một cách dửng dưng, vô tâm".
Tôi nói: "Nếu như vậy, không dễ gì đòi hỏi người thợ
săn đặt mình vào địa vị con mồi của họ nhưng chúng ta có thể đánh thức
lòng từ ái của họ bằng cách nói họ đặt mình vào địa vị con chó cùng đi
săn với họ bị sập bẫy và đang quằn quại vì đau đớn".
Đức Đạt Lai Lạt Ma đồng ý: "Đúng, rất đúng. Tôi nghĩ
rằng chúng ta nên sửa đổi phương thức cho phù hợp với hoàn cảnh cá biệt.
Có thể nhiều người không có mối đồng cảm với súc vật, nhưng lại nhạy bén
với gia đình, bằng hữu. Trong trường hợp này, nên nghĩ đến nỗi khổ đau
mà những người thân của mình đang chịu đựng, rồi xem mình sẽ cư xử ra
sao nếu mình ở trong trường hợp ấy. Đó là cách thức làm tăng trưởng từ
tâm bằng đồng cảm. Ngoài ra, đồng cảm còn giúp chúng ta rất nhiều trong
cuộc sống hàng ngày khi phải liên hệ với tha nhân. Khi ai đó cư xử với
mình không được đẹp lắm, hãy cố gắng đặt mình vào địa vị của họ trong
hoàn cảnh đó và xem mình sẽ xử sự như thế nào. Gặp những người không có
kinh nghiệm tương đồng hay có một lối sống khác biệt, chúng ta cũng có
thể sử dụng đồng cảm. Bằng một ít tưởng tượng, chúng ta có thể từ bỏ cảm
quan và nhận thức của mình để nhìn cuộc đời bằng quan điểm của họ. Làm
được như vậy, chúng ta sẽ dễ cảm thông, dễ chấp nhận những quan điểm
khác biệt, và đây là điều kiện giúp giảm thiểu các mâu thuẫn, bất đồng".
Buổi nói chuyện hôm đó chấm dứt sớm vì đức Đạt Lai
Lạt Ma quá bận rộn và tôi thường được Ngài tiếp vào cuối ngày. Bên ngoài
mặt trời sắp lặn. Ánh tà dương làm cho màu vàng nhạt của căn phòng trở
nên rực rỡ và hình ảnh đức Đạt Lai Lạt Ma như sáng ngời trong chiếc
tràng màu đỏ thẫm. Một người phục vụ im lặng bước vào phòng, ra dấu cho
tôi biết là buổi đàm luận đã kết thúc. Tôi cố vớt vát: "Tôi biết rằng đã
hết giờ, Nhưng Ngài có điều gì nói thêm về những phương thức mà Ngài
thường sử dụng để tạo mối đồng cảm với tha nhân?". Nhớ lại những điều đã
được đề cập trong lần nói chuyện trước công chúng ở Arizona mấy tháng
trước, đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời với một giọng giản dị :
"Bao giờ cũng vậy, tôi luôn luôn đến với tha nhân
bằng những điều căn bản và thông thường nhất. Tất cả chúng ta đều có
được một xác thân vật lý, một tâm thức, một cảm xúc giống nhau. Tất cả
chúng ta đều được sanh ra như nhau và đều phải chết. Tất cả chúng ta đều
mong được hạnh phúc và không muốn khổ đau. Nhìn người khác từ quan điểm
này (thay vì những khác biệt phụ thuộc như tôi là người Tây Tạng, hoặc
sự khác biệt về màu da, tín ngưỡng, văn hóa ....) tôi có cảm giác rằng
tôi đang đối diện với một con người giống y như tôi. Từ đó, tôi cảm thấy
dễ dàng hơn rất nhiều trong việc trao đổi và truyền đạt với kẻ khác".
Đức Đạt Lai Lạt Ma đứng dậy, mỉm cười bắt tay tôi và chấm dứt một ngày
dài làm việc.
Sáng hôm sau, chúng tôi tiếp tục cuộc thảo luận tại
nhà riêng của đức Đạt Lai Lạt Ma, tôi nói: "Tại Arizona, chúng ta đã nói
nhiều về tầm quan trọng của từ tâm trong mối tương giao của con người.
và ngày hôm qua chúng ta bàn luận về vai trò của đồng cảm. Ngoài những
điều đã đề cập, Ngài có thêm những cách thức hay kỹ năng nào giúp người
ta giao tiếp hữu hiệu hơn với tha nhân?".
Đức Đạt Lai Lạt Ma đáp: "Như tôi đã nói ngày hôm qua,
không có cách nào để giải quyết mọi vấn đề bằng một hay hai công thức
đơn giản. Tuy nhiên cũng có những yếu tố khác có thể phụ giúp vào việc
đối xử với tha nhân một cách khôn khéo. Trước hết là phải hiểu rõ và tôn
trọng bối cảnh riêng của người mà mình đang giao tiếp. Thứ đến, cởi mở
và thành tâm cũng là những điều rất hữu dụng trong việc liên hệ với tha
nhân".
Tôi chờ đợi nhưng đức Đạt Lai Lạt Ma không nói gì
thêm. Cuối cùng, tôi hỏi: "Ngài có thể đề nghị vài cách thức để con
người có thể cải thiện mối tương với người khác?". Đức Đạt Lai Lạt Ma
ngẫm nghĩ một lúc rồi mỉm cười: "Không". Tôi có cảm tưởng rằng những lời
khuyên bảo của Ngài có vẻ đơn giản và tầm thường nhưng hình như Ngài
không còn ý kiến gì khác nên chúng tôi quay sang những chủ đề mới.
Tối hôm ấy tôi được mời dùng cơm tại nhà một người
bạn Tây Tạng ở Dharamsala và buổi tối hôm đó thật là vui vẻ, sống động.
Thức ăn gồm nhiều món rất xuất sắc và bắt đầu bằng Mo Mos, một
loại thịt hầm rất ngon. Càng lúc, người ta chuyện trò càng hứng thú và
sôi động. Mọi người kể cho nhau nghe về những kinh nghiệm đáng xấu hổ
khi say rượu. Tất cả thực khách đều tham gia kể cả một cặp rất nổi tiếng
từ Đức quốc. Người vợ là một kiến trúc sư và chồng là một văn sĩ đã viết
khoảng một tá tác phẩm. Vì thích đọc sách nên tôi tìm cách gợi chuyện
với người chồng văn sĩ này. Tôi hỏi về viết sách và ông ta trả lời nhát
gừng, chiếu lệ với một thái độ thiếu tế nhị và khá xa cách. Nghĩ rằng
ông ta không thân thiện, kiêu kỳ nên tôi đâm ra không mấy có cảm tình.
Tự nhủ rằng mình đã tỏ ra thân mật trước mà ông ta không muốn hòa đồng
nên tôi quay sang tán gẫu với những thực khách khác.
Ngày hôm sau, tôi gặp một người bạn tại một hàng quán
trong làng và trong lúc uống trà, tôi kể lại buổi ăn tối hôm trước: "Tôi
cảm thấy thích thú với tất cả mọi người ngoại trừ Rolf, tay văn sĩ đó.
Anh ta có vẻ phách lối và không thân thiện tí nào". Người bạn trả lời:
"Tôi quen anh ấy khá lâu rồi. Tôi biết rằng ảnh không mấy tế nhị, nhưng
có lẽ tại tánh ảnh dễ mắc cở và rụt rè lúc mới quen. Nhưng thật ra, nếu
là bạn thân, anh sẽ thấy rằng ảnh là một người đáng khâm phục". Tôi
không tin tưởng mấy nhưng vẫn lắng nghe người bạn nói tiếp: ".... mặc dù
là một tác giả nổi tiếng, anh ấy đã trải qua một quãng đời rất khó khăn.
Gia đình anh ta trong thế chiến thứ II đã bị điêu đứng vì đảng Quốc Xã
Đức. Rolf có hai đứa con mà anh ta rất thương yêu, cả hai đều bị một
chứng bịnh về di truyền rất hiếm có và trở thành khuyết tật về thể xác
lẫn tinh thần. Nhưng thay vì sống một cuộc đời cay đắng trong đọa đày,
anh ta lại tự phấn đấu bằng cách vươn ra để giúp đỡ người khác. Ảnh làm
công tác thiện nguyện trong nhiều năm liền để giúp đỡ những nạn nhân tật
nguyền. Nếu anh biết rõ, ảnh là một nhân vật khá đặc biệt".
Rồi tôi có dịp gặp lại vợ chồng Rolf vào cuối tuần
tại giải đất trống dài và hẹp dùng làm phi trường địa phương. Chuyến bay
mà chúng tôi dự định đi Delhi bị hủy bỏ và phải chờ mấy ngày sau mới có
chuyến kế tiếp. Chúng tôi quyết định thuê xe để đi chung một khoảng
đường khá mệt nhọc kéo dài gần 10 tiếng đồng hồ. Những chi tiết do người
bạn thố lộ về Rolf đã thay đổi thành kiến của tôi đối với anh ta, và do
đó, tôi đã đối xử một cách cởi mở hơn với Rolf trong chuyến đi này. Tôi
bắt đầu gợi chuyện và Rolf vẫn có vẻ rụt rè, e ngại. Tôi vẫn tiếp tục
gợi chuyện bằng một thái độ thân thiện và chẳng bao lâu tôi nhận ra
rằng, đúng như người bạn đã nói, thái độ xa cách của Rolf là do bản tính
rụt rè chứ không phải kiêu kỳ của anh ta. Càng đi sâu vào miền bắc nóng
bức và bụi bặm của Ấn Độ, chúng tôi càng trở nên tương đắc hơn khi Rolf
tỏ ra là một con người nhiệt tình, chân thật, đồng thời là một người bạn
đồng hành đáng tin cậy.
Mấy ngày sau, tôi vẫn còn lưu lại Delhi để chờ máy
bay về Mỹ. Tôi cảm thấy bực bội vì khung cảnh êm đềm của Dharamsala bị
thay thế bởi cái nóng oi bức cộng với sự náo nhiệt và ô nhiễm của Delhi.
Tôi có cảm tưởng người ta nhìn mình như là một thằng khùng, một người
ngoại, một mục tiêu trấn lột. Đấy là chưa kể đến hàng tá gái điếm lúc
nào cũng có mặt để lôi kéo. Tôi cảm thấy rất nản chí.
Một buổi sáng, tôi trở thành nạn nhân của một hành
động bất lương của hai đứa bé. Trong lúc tôi không để ý, một đứa đổ sơn
lên giày tôi và cách đó không xa, một đứa khác có nét mặt thật ngây thơ
với đồ nghề đánh giày chờ sẵn. Đứa bé xin đánh giày cho tôi với một giá
phải chăng. Chỉ mấy phút sau là đôi giày của tôi trở nên bóng láng và
thằng bé nhẹ nhàng đòi một số tiền khổng lồ: tương đương với hai tháng
tiền lương trung bình. Tôi phản đối thì đứa bé nói đó là giá tiền mà tôi
đã đồng ý trước. Tôi vẫn không chịu thì đứa bé bắt đầu la lớn lên rằng
tôi cố tình không trả tiền công cho nó trước một đám đông hiếu kỳ vây
quanh. Tối hôm ấy tôi mới biết ra đó là cách làm tiền du khách ngoại
quốc của những đứa trẻ bất lương vì thường thì ai cũng muốn tránh khỏi
bị đám đông xa lạ nhìn xoi mói càng sớm càng tốt.
Tôi ăn trưa với một chị bạn tại khách sạn. Tôi quên
bẵng chuyện xảy ra ban sáng khi người bạn hỏi tôi về cuộc gặp gỡ với đức
Đạt Lai Lạt Ma. Chúng tôi mải mê bàn luận những ý tưởng của Ngài về sự
cảm thông với tha nhân, chấp nhận quan điểm của người khác.... Sau khi
ăn trưa, chúng tôi gọi taxi đi thăm vài người quen. Khi chiếc taxi bắt
đầu chạy, bỗng nhiên tôi nhớ đến hai đứa bé đánh giày ban sáng và tôi
liếc mắt nhìn đồng hồ ghi giá tiền.
"Ngừng lại !". Tôi la lớn làm chị bạn giật nảy mình.
Tay tài xế nhìn tôi trong kiến chiếu hậu nhưng vẫn tiếp tục chạy.
"Ngừng xe lại!". Tôi ra lệnh, giọng run lên vì giận
dữ. Chiếc taxi ngừng lại trong khi chị bạn tôi hoàn toàn sững sốt. Tôi
chỉ vào đồng hồ ghi tiền và la lên: "Anh không vặn lại đồng hồ tính
tiền, còn hơn 20 rupee (đơn vị tiền tệ Ấn Độ) khi tụi tôi lên xe".
"Xin lỗi ông, tôi quên không điều chỉnh kim đồng hồ.
Tôi sẽ bắt đầu lại". Tay tài xế trả lời tôi với một giọng lạnh nhạt, ù
lì làm tôi càng thêm cáu tiết: "Tôi không cần anh vặn lại đồng hồ. Tôi
chán mấy anh lắm rồi, lúc nào cũng tìm cách tính thêm tiền, chạy lòng
vòng, làm đủ cách để moi tiền người ta. Tôi .... tôi chán lắắắm rồi".
Thái độ trừng phạt người tài xế một cách quá đáng của
tôi làm chị bạn có vẻ ngượng ngập và xấu hổ. Tay tài xế nhìn tôi với vẻ
mặt thách thức mà người ta thường thấy ở những chú bò thiêng thường ra
đứng giữa đường phố đông nghẹt của Ấn Độ để chận xe cộ lưu thông. Hắn
nhìn sự bực tức của tôi với một vẻ chán nản, nhạt nhẽo. Tôi thảy mấy
rupee lên ghế trước, không nói gì thêm, mở cửa xe cho chị bạn, rồi ra
khỏi xe. Sau đó, chúng tôi chận một chiếc taxi khác và tiếp tục cuộc
viếng thăm nhưng tôi không hết bực bội. Trong khi chiếc taxi chạy từ
đường này sang đường khác, tôi vẫn cằn nhằn về thói lường gạt du khách
của 'mọi người' ở Delhi. Chị bạn yên lặng nghe tôi kể tội và trách cứ.
Sau cùng, chị nói :
"20 rupee chỉ bằng 25 xu, có đáng gì mà ngậu xị lên
thế?". Tôi nổi khùng vì cho rằng những giá trị đạo đức đã bị xúc phạm.
"Nhưng đây là vấn đề nguyên tắc. Tôi không hiểu làm sao mà chị lại có vẻ
thản nhiên đối với những chuyện như vậy. Nó xảy ra hàng ngày, bộ chúng
không làm chị khó chịu sao?".
Chị bạn thong thả trả lời: "Có chứ. Nó có làm tôi khó
chịu một lúc, nhưng tôi nghĩ tới những điều chúng ta bàn luận vào buổi
trưa, những điều mà đức Đạt Lai Lạt Ma nói về tầm quan trọng của việc
nhìn đời bằng cảm quan của người khác. Trong khi anh vẫn sừng sộ về tay
tài xế thì tôi cố nghĩ đến những điểm tương đồng giữa tay tài xế và
chúng ta - ai cũng muốn ăn ngon, mặc đẹp, sung sướng... Tôi tưởng tượng
mình là người tài xế. Ngồi trong chiếc taxi nóng bức, oi ả ngày này qua
ngày khác, có thể tôi cũng sẽ ganh tỵ với những du khách ngoại quốc giàu
có, và có thể tôi cho rằng moi tiền của họ là chuyện không có gì quá
đáng. Nhưng điều đáng buồn là dù moi thêm được ít rupee từ những du
khách nhẹ dạ, tôi vẫn không thấy cuộc sống thoải mái hơn, hạnh phúc hơn.
Càng nghĩ về cuộc sống của người tài xế, tôi càng cảm thông với cuộc
sống buồn tẻ của anh ta hơn. Mặc dù tôi không đồng ý với hành động lường
gạt của người tài xế, và việc chúng ta ra khỏi taxi là đúng nhưng quả
thật, không đáng giận anh ta....".
Tôi cứng họng và ngạc nhiên khi thấy mình không thấm
nhuần bao nhiêu những điều mà đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói. Tôi nhận ra
được giá trị thực tế của những lời khuyên của Ngài về "thông cảm hoàn
cảnh người khác", và tôi cũng hiểu tại sao người ta đã kính ngưỡng cung
cách xử thế của Ngài. Hồi tưởng lại những buổi đàm luận của chúng tôi ở
Arizona và bây giờ ở Ấn Độ, tôi nhận ra rằng ngay từ lúc đầu, những cuộc
thảo luận này đã xoay quanh cấu trúc con người, thì bây giờ tôi hiểu ra,
đó là cấu trúc về TÂM và THỨC của chúng ta. Cho đến bây giờ tôi mới nhận
ra rằng, tuy nói chuyện với đức Đạt Lai Lạt Ma rất nhiều, tôi chưa thực
sự áp dụng những chỉ dẫn của Ngài vào cuộc sống của chính tôi. Tôi vẫn
chưa đủ quyết tâm để sống đúng theo những ý tưởng của Ngài - có lẽ vào
một thời điểm nào đó trong tương lai khi tôi có nhiều thời giờ hơn !
KHẢO SÁT
NỀN TẢNG CỦA MỐI LIÊN HỆ?
Những cuộc thảo luận giữa tôi và đức Đạt Lai Lạt Ma ở
Arizona bắt đầu với đề tài tìm kiếm nguồn gốc của hạnh phúc và những
cuộc nghiên cứu cho thấy hôn nhân là một điều kiện quan trọng của hạnh
phúc: Hôn nhân tạo ra tình cảm riêng tư và những yếu tố khác khiến cho
sức khỏe gia tăng cũng như cảm giác thỏa mãn một cách tổng quát đối với
cuộc sống. Hàng ngàn cuộc khảo sát ở Mỹ quốc cũng như Âu châu đều chứng
tỏ rằng, một cách thông thường, những người có gia đình cảm thấy hạnh
phúc hơn, thỏa mãn hơn với cuộc sống so với những người độc thân hay góa
bụa; càng đặc biệt hơn nữa, so với những người đã ly dị hay ly thân.
Trong một cuộc nghiên cứu, cứ 6 trong 10 người Mỹ có gia đình cho rằng
cuộc sống vợ chồng cũng như cuộc đời nói chung của họ "rất hạnh phúc".
Khi thảo luận về mối tương quan giữa người và người, tôi nghĩ là tôi sẽ
đề cập với đức Đạt Lai Lạt Ma về vai trò quan trọng của hôn nhân đối với
hạnh phúc mặc dù Ngài đã chọn cuộc đời độc thân của một tu sĩ Phật
giáo.
Trước một buổi thảo luận với đức Đạt Lai Lạt Ma, tôi
ngồi giải khát với một người bạn tại khoảng sân lộ thiên của khách sạn
vùng Tucson. Đề cập đến hôn nhân và tình cảm mà tôi dự định sẽ thảo luận
với Ngài, tôi và người bạn cảm thấy tội nghiệp cho những người độc thân.
Đang lúc chúng tôi nói chuyện, một cặp còn trẻ trông rất tráng kiện -có
lẽ là dân chơi golf đi nghỉ mát vào dịp nghỉ hè- đến ngồi vào bàn bên
cạnh. Họ có vẻ đã qua thời kỳ trăng mật nhưng trông vẫn còn nồng nàn và
trẻ trung. Tôi nghĩ: Thật đẹp đôi. Ngồi chưa nóng chỗ, chúng tôi đã nghe
họ càu nhàu :
"Tôi đã nói với anh rằng mình sẽ trễ..." Người đàn bà
bắt đầu đổ lỗi cho ông chồng một cách gay gắt với giọng nói khàn khàn,
có lẽ do thuốc lá và rượu đã lâu năm. "Bây giờ không còn đủ thì giờ để
ăn nữa, nuốt hết nổi !"
"Nếu cô sửa soạn nhanh hơn một chút..." Người đàn ông
trả đũa ngay tức thì, giọng nói tuy dịu hơn nhưng người ta có thể nhận
thấy vẻ hằn học và bực tức trong từng lời nói.
"Tôi xong cả nửa tiếng đồng hồ rồi, Anh cứ ham đọc
báo ..."
Cứ thế mà hai vợ chồng cằn nhằn nhau. Như Euripides,
một kịch tác gia Hy Lạp đã nói: "Hôn nhân có thể tốt đấy, nhưng khi cơm
không lành, canh không ngọt nữa thì gia đình sẽ trở thành địa ngục".
Cuộc khẩu chiến giữa cặp vợ chồng trẻ làm chúng tôi ngưng ngay cảm giác
tội nghiệp đối với những người độc thân. Bạn tôi trợn mắt, nhái lại một
câu nói trong hài kịch Seinfeld trên truyền hình: "Đúng vậy, tôi sẽ lập
gia đình rất sớm".
Mặc dù dự định sẽ hỏi ý kiến đức Đạt Lai Lạt Ma về
những điều tốt đẹp do yêu đương và hôn nhân tạo nên, khi bước vào phòng
khách riêng của Ngài và chưa kịp ngồi xuống, tôi lại hỏi: "Vì sao mà
Ngài cho rằng những xung đột lại thường xảy ra trong cuộc sống hôn
nhân?". Đức Đạt Lai Lạt Ma giải thích: "Dĩ nhiên, xung đột là một vấn đề
rất phức tạp vì bị ảnh hưởng bởi nhiều dữ kiện. Vì thế, khi muốn tìm
hiểu những rắc rối trong các mối tương quan, bước đầu tiên là phải soi
rọi kỹ lưỡng những căn bản của các mối tương quan này."
"Vì vậy, trước tiên người ta nên biết rằng có nhiều
loại liên hệ và cần hiểu rõ sự khác nhau của chúng. Hãy để riêng vấn đề
hôn nhân sang một bên, chỉ riêng tình bạn thôi cũng có nhiều loại khác
nhau. Tình bạn có khi dựa trên điều kiện sức khỏe, quyền hạn, chức
vị.... Loại tình bạn này chỉ tồn tại khi anh còn mạnh khỏe, còn địa vị
và quyền lực. Khi những yếu tố này mất đi thì những "người bạn" cũng dần
dần xa lánh anh. Mặc khác, có những tình bạn không dựa trên các yếu tố
sức khỏe, chức vụ, quyền lực; mà xây dựng trên tình cảm chân thật của
con người, thứ tình cảm gần gũi, chia xẻ, kết nối ... Đấy là loại tình
bạn chân thật, vì nó không bị ảnh hưởng bởi các ràng buộc vật chất bên
ngoài không kể các ràng buộc này tăng thêm hay giảm bớt. Loại tình bạn
này sống nhờ cảm giác yêu thương, cho nên nếu anh không yêu thương, loại
tình bạn này sẽ không tồn tại được. Trước đây, chúng ta cũng đã có dịp
đề cập đến chuyện này rồi, nhưng nên nhớ là khi mối liên hệ có những rạn
nứt, chúng ta hãy lùi lại một chút, và tìm hiểu cái căn bản mà trên đó,
mối liên hệ đã được xây dựng.
"Trở lại chuyện hôn nhân khi có những xáo trộn, hiểu
được do đâu mà hai người lấy nhau là điều rất hữu ích... Anh có thể dễ
dàng nhận thấy là trong rất nhiều trường hợp, người ta lấy nhau vì những
quyến rũ thể chất. Hai cô cậu mới quen nhau, có dịp gặp nhau vài lần,
yêu nhau đắm đuối và cảm thấy vô vàn hạnh phúc. Nhưng quyết định lấy
nhau trong trường hợp này thường không vững bền. Người ta thường có
những hành động điên rồ khi tức giận hay thù hận quá đáng và người ta
cũng điên rồ không kém đối với sức mạnh của đam mê, khát vọng... Nhiều
khi, anh nghe một người nào đó thố lộ: "Ồ, bạn gái/ bạn trai của tôi
không hẳn là một người tốt nhưng tôi vẫn mê cô ấy/anh ấy lắm". Mối liên
hệ dựa trên sự quyến rũ thể xác thường ít vững bền, không xác tín vì yếu
tố quyến rũ chỉ có tính cách tạm thời. Không bao lâu, cảm tình này sẽ
phai nhạt. Cho nên người ta không lấy làm lạ khi thấy loại liên hệ này
thường đưa tới rối rắm, và hôn nhân dựa trên loại cảm xúc này cũng không
đi đến đâu... Anh thấy thế nào?"
Tôi đáp: "Vâng, tôi phải đồng ý với Ngài về
chuyện này.
Hình như trong tất cả các mối liên hệ, kể cả những
liên hệ sôi nổi nhất, cảm giác đam mê ban đầu sẽ dần dần lắng xuống.
Những cuộc khảo sát cho thấy những người đặt đam mê và lãng mạn lên hàng
đầu thường kết thúc bằng tan vỡ ảo mộng, và rồi ly hôn. Ellen Berscheid
là một tâm lý gia xã hội tại đại học Minnesota thì phải, đã nghiên cứu
về vấn đề này và kết luận rằng, nếu không nhận thức được đam mê chỉ là
một phần của tình yêu thì người ta có thể làm cho tình yêu bị hủy diệt.
Bà và các cộng sự viên đã cho rằng sự gia tăng các vụ ly dị trong vòng
vài chục năm qua một phần vì người ta ngày càng coi trọng vai trò của
cảm xúc - cảm xúc về sự lãng mạn trong tình yêu chẳng hạn. Và cái khó
cho chúng ta là không duy trì nổi các cảm xúc này theo với thời gian".
Đức Đạt Lai Lạt Ma nói: "Đúng như vậy. Cho nên khi
đối diện với những rắc rối của các mối tương quan, điều quan hệ cơ bản
là phải tìm hiểu cái căn nguyên của các mối tương quan này.
"Bên cạnh loại liên hệ dựa trên sự quyến rũ thể chất,
chúng ta còn có một loại liên hệ dựa trên các yếu tố khác. Anh cũng có
thể nghe một người nào đó thố lộ rằng bạn trai/bạn gái của họ không đẹp
lắm, nhưng lại là một người rất tốt, rất khả ái.... Mối quan hệ dựa trên
loại tình cảm này thường bền chặt và lâu dài hơn vì sự trao đổi rất chân
thật, đầy nhân tính giữa hai cá nhân với nhau.
Đức Đạt Lai Lạt Ma ngừng lại một lúc như để suy
nghiệm rồi nói tiếp:
"Tôi muốn nói thêm cho rõ là dĩ nhiên, người ta có
thể có một mối liên hệ tốt đẹp trong đó bao gồm cả yếu tố quyến rũ của
thể xác. Như vậy có hai loại liên hệ cùng dựa trên yếu tố quyến rũ: Loại
thứ nhất thuần túy dựa trên các ham muốn tình dục và trong trường hợp
này, sự kết nối giữa hai người chỉ là để thỏa mãn những đòi hỏi thể xác.
Người ta đối xử với nhau như là những đối tác chứ không có sự tương kính
giữa người với người. Tệ hơn nữa, mối tương quan chỉ là phương tiện trao
đổi. Giống như căn nhà làm trên băng tuyết, khi băng tan thì căn nhà sẽ
sụp đổ.
"Loại thứ hai cũng có yếu tố quyến rũ, nhưng yếu tố
này không giữ vai trò áp đảo. Trong loại liên hệ này, người này coi
trọng phẩm cách của người kia. Những phẩm cách làm người ta kính mến và
trọng nể lẫn nhau như sự tử tế, thân thiện, hòa nhã. Mối liên hệ thiết
lập trên các yếu tố này thường rất vững bền và xác tín. Để thiết lập một
mối liên hệ như vậy, điều kiện căn bản là phải có nhiều thời gian để tìm
hiểu lẫn nhau, biết rõ những cá tính của nhau. Cho nên khi người ta hỏi
ý kiến tôi về việc cưới hỏi, tôi thường hỏi lại là họ đã quen nhau bao
lâu rồi. Nếu mới quen nhau năm bảy tháng, tôi thường bảo là 'ít quá,
chưa đủ'. Nếu họ nói đã quen nhau vài ba năm thì khá hơn nhiều vì đến
bây giờ, họ không chỉ biết nhau ở ngoại hình mà đã hiểu nhau khá sâu đậm
về bản chất bên trong của nhau. Đó cũng là lý do mà Mark Twain đã nhận
định rằng 'Không ai có thể nói đã hiểu thế nào là tình yêu tuyệt vời nếu
họ chưa cưới nhau qua 1/4 thế kỷ'.
Đức Đạt Lai Lạt Ma gật đầu nói tiếp: "Vì thế, tôi cho
rằng đa số những rối rắm xảy ra trong hôn nhân là vì người ta không đủ
thời gian tìm hiểu nhau, và rằng nếu muốn tạo dựng một mối liên hệ
thật thỏa đáng, cách tốt nhất là tìm hiểu những đặc tính riêng của đối
tượng, rồi quan hệ với họ dựa trên những đặc tính này, thay vì chỉ nhìn
qua những tình cảm giả tạo. Loại liên hệ này cần đến lòng từ ái mới
tồn tại được.
"Tôi cũng nghe nhiều người nói rằng hôn nhân của họ
có nhiều ý nghĩa sâu xa hơn chứ không chỉ là những liên hệ vật chất.
Rằng hôn nhân là để hai người cùng chung sống với nhau, chia xẻ những
thăng trầm cùng những riêng tư thầm kín. Nếu đây là những ý tưởng chân
tình thì quả thật họ đã có được một nền tảng thích đáng để tạo dựng một
mối liên hệ tốt đẹp. Một mối liên hệ được kể là tốt đẹp nếu hai nhân
vật cùng chia xẻ với nhau và cam kết cho nhau. Thông thường thì quan hệ
thể xác giữa vợ chồng tạo ra sự thỏa mãn về thể chất, cũng như giúp trí
óc đỡ căng thẳng; nhưng đừng quên rằng theo quan điểm sinh học, truyền
giống là mục đích chính của quan hệ thể xác. Và để đạt được yêu cầu đó,
người ta cần phải quan tâm đến con cháu: Nuôi chúng khôn lớn, giúp chúng
phát triển. Do vậy, chia xẻ và cam kết là những nhân tố quan trọng của
tương quan tình cảm, vì không có chúng, mối liên hệ chỉ cung ứng những
thỏa mãn tạm bợ, chỉ để mua vui".
Đức Đạt Lai Lạt Ma cười, như cười cho thế sự sao mà
quá nhiêu khê, rối rắm.
LIÊN HỆ
DỰA TRÊN TÌNH CẢM LÃNG MẠN
Kể ra thì cũng khá kỳ cục khi bàn chuyện tình dục và
hôn nhân với một nhân vật đã trên 60 tuổi và suốt đời độc thân. Tuy đức
Đạt Lai Lạt Ma không có vẻ phản đối khi phải thảo luận về những đề tài
này, nhưng quan điểm của Ngài có vẻ độc lập và riêng biệt. Tối hôm ấy,
khi nhớ lại buổi đàm thoại, tôi nhận ra một số chi tiết quan trọng trong
liên hệ tình cảm mà chúng tôi chưa đề cập đến, và tôi đã hỏi đức Đạt Lai
Lạt Ma trong buổi gặp mặt ngày hôm sau:
"Hôm qua, chúng ta đã bàn luận về những nền tảng cần
thiết của liên hệ tình cảm và hôn nhân. Nhưng theo nếp sống Tây phương
thì không chỉ có liên hệ thể xác mà là toàn thể cái ý niệm lãng mạn -
phải lòng một người nào đó, say đắm trong trường tình... - tức là những
ý niệm rất được hâm mộ. Trong điện ảnh, văn chương và ngay trong quảng
đại quần chúng, tình cảm lãng mạn lúc nào cũng được tán tụng, đề cao.
Xin Ngài cho biết ý kiến."
Đức Đạt Lai Lạt Ma đáp không một chút do dự: "Hãy
khoan nói đến kỳ vọng vô cùng của tình cảm lãng mạn có thể ảnh hưởng đến
sự trưởng thành của đời sống tâm linh, chỉ riêng trong cuộc sống thông
tục, ý niệm về tình cảm lãng mạn cũng đã có vẻ thái quá. Nó không giống
với những liên hệ dựa trên lòng yêu thương và quan tâm chân thực cho nên
không thể coi là tích cực. Ngược lại, tình cảm này có tính cách hoang
tưởng, không thể đạt được, và do vậy, nó là nguồn gốc của thất vọng,
không thỏa mãn."
Giọng nói của đức Đạt Lai Lạt Ma có vẻ muốn chấm dứt
câu chuyện tuy tôi có cảm giác rằng Ngài đã không đánh giá đúng đắn sự
quan hệ của ý niệm lãng mạn trong nếp sống Tây phương. Và nếu cố tình
đòi hỏi Ngài phải nói thêm về chuyện này cũng chẳng khác gì nhờ Ngài coi
dùm hộp số xe bị trục trặc (nghĩa là chẳng đi đến đâu!). Hơi thất vọng,
tôi nhìn vào sổ tay một lúc rồi chuyển hướng câu chuyện về những chủ đề
khác.
Làm sao mà tình cảm lãng mạn lại hấp dẫn đến thế? Khi
tìm hiểu vấn đề này, người ta thấy rằng lãng mạn, mê đắm, dục tình đã
hòa lẫn với nhau thành một hợp chất dựa trên bối cảnh văn hóa, sinh học
và tâm lý. Ở Tây phương, chủ nghĩa lãng mạn đã phát triển mạnh mẽ trong
suốt hai trăm năm qua và đã điều hướng sự cảm nhận của con người đối với
thế giới. Sự lớn mạnh của chủ nghĩa lãng mạn thể hiện sự chống đối lại
Thời Đại Khai Sáng,
trong đó, sự suy luận được đề cao. Theo chủ nghĩa này, những ý niệm như
trực giác, cảm xúc, đam mê ... được tôn vinh. Thế giới của cảm tính cũng
như kinh nghiệm chủ quan của từng cá nhân được nhấn mạnh. Người ta như
hướng đến một thế giới hoang tưởng, một cõi không thực với một quá
khứ lý tưởng và một tương lai toàn thiện. Tại Tây phương, không chỉ
trong văn chương nghệ thuật, mà cả chính trị và hầu hết mọi phương diện
của đời sống đều bị ảnh hưởng sâu đậm bởi khuynh hướng này.
Điều thú vị nhất của chủ nghĩa lãng mạn là YÊU ĐƯƠNG.
Yêu đương thúc đẩy chúng ta một cách mãnh liệt trong đời sống chứ không
chỉ là những ý tưởng suông về vẻ huy hoàng của lãng mạn trong đời sống.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng sức mạnh này được lập trình sẵn trong
nhiễm thể của chúng ta từ lúc sơ sinh. Cảm tính về yêu đương cộng với sự
hấp dẫn của tình dục có thể là căn nguyên của hành động kết đôi. Xét
theo quan điểm tiến hóa cấu trúc vật lý của chúng ta trước hết là để
sống còn và tái tạo để trường tồn, do vậy, căn tính về yêu đương thúc
đẩy chúng ta giao phối và sinh sản. Cấu trúc này khi bị kích thích sẽ
khiến não bộ sản xuất một số hóa chất mà khi hòa lẫn với nhau, chúng làm
cho ta cảm thấy hưng phấn, kích thích đến độ mọi chuyện khác chẳng còn
gì là quan trọng.
Trong tình yêu, sức mạnh tâm lý cũng thú vị không kém
gì sức mạnh sinh học (thể chất). Trong Plato's Symposium, Socrates đã đề
cập đến huyền thoại Aristophanes liên quan đến cội nguồn của tình dục.
Theo huyền thoại này, sinh vật đầu tiên trên trái đất có hình tròn với
bốn tay bốn chân. Sinh vật này không có phái tính, có thể tự sinh sản và
luôn luôn chống đối thần linh. Để trừng phạt, thần Zeus dùng sấm sét
đánh sinh vật bể ra làm hai. Từ đấy, sinh vật này gồm hai phần và lúc
nào cũng khao khát được nhập vào với nhau như trước. Eros (Vị thần tình
ái theo truyền thuyết Hy Lạp) có thể được coi là biểu tượng về khát
vọng muốn hội nhập với người mình yêu. Nó có tính cách toàn cầu và vô
thức. Nó phá tan mọi rào cản, mọi biên giới. Các nhà tâm lý gọi đây là
sự sụp đổ của biên cương ích kỷ. Nhiều tác giả cho rằng hiện tượng này
có gốc rễ sâu xa trong vô thức nhằm tái tạo lại kinh nghiệm thời ấu thơ,
lúc đứa bé còn hoàn toàn nằm trong sự bảo bọc của cha mẹ hay người bảo
hộ.
Có những chứng cớ cụ thể về việc một đứa bé sơ sinh
không nhận biết được sự khác biệt giữa cá nhân chúng và thế giới bên
ngoài. Chúng không biết được chúng là một tự thể, hoặc ít nhất, chúng
cho rằng cha mẹ cũng như mọi vật chung quanh là một phần của chính
chúng. Chúng không biết TA chấm dứt ở đâu và NGƯỜI bắt đầu từ chỗ nào,
nghĩa là đứa bé không biết rằng mình hiện hữu riêng biệt. Chúng cho rằng
chúng là một phần trong toàn cảnh mà chúng nhìn thấy: nếu không có ngoại
cảnh này, đứa bé sẽ không hiện hữu. Thí dụ như khi đứa bé cầm cái lục
lạc, nó nghĩ rằng cái lục lạc là một phần của chính nó, và khi cái
lục lạc bị lấy hay dấu đi thì sự hiện hữu của cái lục lạc cũng mất luôn.
Lúc mới sinh ra, bộ óc của chúng ta chưa được hoàn
bị. Bộ óc trở nên hữu hiệu hơn theo với sự khôn lớn của đứa bé. Sự
tương tác của đứa bé với thế giới bên ngoài ngày càng trở nên phức tạp
và đứa bé dần dà ý thức được tự thể của nó: TÔI đối lại với NGƯỜI KHÁC
(ta <--> người). Song song với diễn tiến này, ý thức về sự cô lập cũng
thành hình và đứa bé dần dần hiểu được những giới hạn (thể chất cũng như
tinh thần) của chúng. Tiến trình thành hình của tự thể kéo dài đến tuổi
thành niên khi các thanh thiếu niên đụng chạm rất nhiều với thế giới
chung quanh, và đến lúc trưởng thành, người ta dần dà nhận biết là chúng
ta sẽ trở thành loại người nào đó trong xã hội tùy theo những xu hướng
nội tại của từng người. Công tác này bị ảnh hưởng khá mạnh mẽ bởi mối
tương tác giữa chúng ta và những nhân vật quan hệ thuở thiếu thời. Tự
thể và cấu trúc tâm lý của từng cá nhân cứ thế mà phát triển ngày một
phức tạp hơn.
Nhưng con người cũng có khi muốn trở về với thời thơ
ấu cũ, thuở chưa biết chia xa, cô độc. Nhiều tâm lý gia đương thời cho
rằng cái kinh nghiệm chỉ một lần trong đời này ở mãi với tiềm thức, và
đến khi chúng ta trưởng thành, nó thẩm thấu vào vô thức giống như các ảo
tưởng riêng tư. Họ cho rằng ước muốn được hội nhập với người mình yêu là
âm vang của kinh nghiệm ấu thơ lúc đứa bé còn hòa nhập với người mẹ. Nó
tái tạo cái cảm giác kỳ diệu, cái quyền năng tuyệt đối mà không có gì có
thể thay thế được. Cho nên, chúng ta không lạ gì về năng lực mạnh mẽ của
yêu đương lãng mạn.
Vậy thì tại sao đức Đạt Lai Lạt Ma lại cho rằng yêu
đương lãng mạn là một cảm tính tiêu cực? Tôi cho rằng vấn đề là ở chỗ
người ta đã xây dựng sự liên hệ giữa hai cá nhân trên căn bản yêu đương
lãng mạn, đã coi yêu đương lãng mạn là nguồn gốc của hạnh phúc. Tôi nhớ
lại một thân chủ trước đây. David là một chuyên viên kiến tạo vườn cảnh
34 tuổi được đưa đến phòng mạch của tôi với những triệu chứng rất điển
hình của bịnh trầm cảm.
Anh ta nói với tôi rằng căn bịnh của anh phần nào do
công việc hàng ngày gây ra, nhưng quan trọng hơn cả là hình như nó tự
nhiên đến. Chúng tôi trao đổi ý kiến và tôi đề nghị David nên dùng một
ít thuốc chống suy nhược. David vui vẻ nghe theo và chỉ trong mấy tuần,
thuốc tỏ ra rất công hiệu: David đã có thể trở lại cuộc sống bình
thường. Nhưng khi xem xét quá khứ của bịnh nhân, tôi còn nhận ra rằng
anh ta đã bị một loại suy nhược tinh thần hạng nhẹ trong nhiều năm qua
(dysthymia). Vì vậy, sau khi David khỏi bịnh, chúng tôi bắt đầu tìm tòi
những nguyên do tiềm ẩn đã khiến anh ta bị suy nhược triền miên.
Sau mấy buổi trị liệu, một hôm David bước vào phòng
mạch với một trạng thái hân hoan.
Anh ta nói: "Tôi rất khoan khoái. Đã lâu lắm rồi tôi
không có được cảm giác này ." Khi nghe David la lên như vậy, tôi cho
rằng anh ta đang ở trong tình trạng thay đổi tình cảm bất thường. Nhưng
sự thật không phải vậy.
"Tôi đang yêu" David nói: "Tôi gặp nàng ở một chỗ đấu
giá. Tôi chưa bao giờ gặp ai đẹp hơn nàng .... Chúng tôi hẹn nhau gần
như mỗi đêm. Tôi không biết, nhưng làm như chúng tôi hợp nhau không
tưởng được. Tôi đã không hẹn hò từ hai ba năm qua, tôi tưởng là tôi sẽ
không còn gặp ai nữa thì bỗng nhiên nàng xuất hiện..." Suốt buổi trị
liệu hôm đó, David đã nói tất cả những điều tốt đẹp của cô bạn gái :
"Tôi nghĩ rằng chúng tôi toàn hảo đối với nhau về mọi phương diện. Không
phải chỉ có vấn đề thể xác, chúng tôi có cùng sở thích, cùng cách thế
suy nghĩ. Tôi cũng nghĩ là không ai hoàn toàn, dĩ nhiên.... Như một buổi
tối nọ, tại một câu lạc bộ, tôi hơi mất vui khi thấy cô ấy ra vẻ khiêu
gợi đối với mấy anh chàng khác, nhưng cả hai chúng tôi đều đã uống khá
nhiều và cô ấy chỉ ham vui mà thôi. Chúng tôi đã nói chuyện sau đó và
mọi chuyện đã êm xuôi rồi."
David trở lại phòng mạch tuần sau và cho tôi biết là
anh ta định chấm dứt trị liệu: "Mọi chuyện đều tốt đẹp quá sức, tôi
không biết phải nói gì nữa trong các buổi trị liệu. Chứng trầm cảm đã
hết, tôi ngủ ngon như trẻ nít, làm việc không biết mệt và mối quan hệ
với cô ấy cứ mỗi ngày một tốt đẹp hơn. Tôi biết rằng bác sĩ đã giúp tôi
nhưng hiện thời, tôi thật không còn gì phải lo lắng nữa ".
Tôi nói với David rằng tôi rất mừng cho anh khi thấy
anh khỏi bịnh nhưng cũng nhắc lại vài vấn đề trong gia đình (mà chúng
tôi đã nhận diện) đã đưa đến chứng suy nhược dài hạn của David. Trong
khi nói chuyện với David, những ý tưởng "kháng cự", "tự vệ" cứ lởn vởn
trong trí tôi. Nhưng David không tin như vậy: "Có thể đó chỉ là những
cảm giác về sự cô đơn, về sự vắng mặt của một người nào đó, một người
đặc biệt có thể chia xẻ mọi chuyện với tôi, và bây giờ tôi đã tìm được
nàng rồi" .
David cương quyết chấm dứt công tác trị liệu ngày hôm
đó.
Chúng tôi dàn xếp để bác sĩ gia đình của anh ta có
thể tiếp tục theo dõi tình trạng sức khỏe của David. Tôi tiễn David ra
về và nói rằng cửa phòng mạch lúc nào cũng mở.
Chỉ mấy tháng sau, David trở lại.
"Tôi khổ sở quá sức" David nói với một giọng chán
nản: "Lần cuối gặp bác sĩ, mọi chuyện thật tốt đẹp. Tôi tưởng đã gặp
được người trong mộng. Tôi đã đề cập đến chuyện cưới hỏi. Nhưng làm như
tôi càng tiến tới thì nàng lại thối lui và cuối cùng thì chúng tôi phải
chia tay. Tôi đau khổ hết sức sau chuyện đó. Nhiều lần tôi gọi nàng rồi
gát máy chỉ để nghe được giọng nàng nói hoặc lái xe đến chỗ nàng làm để
chỉ thấy chiếc xe của nàng đậu ở đó. Nhưng sau một tháng thì tôi không
thể tiếp tục được nữa vì kỳ cục quá sức. Cũng may là triệu chứng trầm
cảm không tái phát. Tôi vẫn ăn ngủ điều độ, sinh hoạt bình thường, nhưng
cuộc sống như thiếu vắng một cái gì. Tôi có cảm tưởng như trở lại bình
trạng ban đầu, cảm tưởng của những năm trước ..." Chúng tôi tiếp tục
công tác trị liệu.
Yêu đương lãng mạn tạo cho người ta nhiều ước vọng
nếu coi nó là cội nguồn của hạnh phúc. Và có lẽ đức Đạt Lai Lạt Ma đã
không quá đáng khi chối bỏ ý tưởng cho rằng lãng mạn là căn bản của liên
hệ tình cảm. Ngài cũng có lý khi diễn tả lãng mạn chỉ là một thứ "ảo
tưởng", "không thể đạt được", một thứ không đáng với cố gắng của chúng
ta. Phân tích kỹ càng hơn, có lẽ đức Đạt Lai Lạt Ma đã cố diễn tả cái
bản chất thực sự của lãng mạn hơn là đề cập đến những giá trị tiêu cực
của loại tình cảm này dưới nhãn quan của một tu sĩ. Ngay cả hàng tá định
nghĩa khách quan của lãng mạn trong các cuốn tự điển khác nhau cũng luôn
luôn đề cập đến những ý tưởng như: tưởng tượng, hư cấu, thêu dệt, tô vẽ,
không thực, tiểu thuyết hóa. Trong diễn trình tiến hóa, nền văn minh
phương Tây có một sự thay đổi - Ý niệm về Eros, biểu tượng của yêu
đương, đã có một sắc thái khác: Phẩm chất nhân tạo với mùi vị của lừa
dối và gạt gẫm, cái phẩm chất mà Oscar Wilde đã diễn tả một cách khá ủ
dột: "Khi yêu nhau, người ta bắt đầu bằng sự lừa dối chính mình rồi từ
đó, lừa dối đối tượng. Đó là cái mà người ta gọi là yêu đương lãng mạn."
Trong các chương trước, chúng ta đã đề cập đến vai
trò của sự gần gũi, riêng tư như là những nhân tố quan trọng của hạnh
phúc. Không có gì đáng nghi ngờ cả. Nhưng muốn tạo lập một mối liên hệ
tình cảm vững bền thì phải có một căn bản vững chắc. Đó chính là lý do
mà đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhấn mạnh đến việc tìm hiểu những nguyên nhân
chính yếu của mối quan hệ khi chúng ta bắt đầu cảm thấy cơm không lành,
canh không ngọt nữa. Sự hấp dẫn thể xác, cảm giác bị tiếng sét ái tình
giáng trúng có thể là điều kiện ban đầu kéo hai người lại với nhau.
Nhưng cũng như những loại keo tốt, các nhân tố đầu tiên ấy cần phải được
hòa hợp với những chất xúc tác khác mới có thể tạo thành một sự nối kết
lâu bền.
Những chất xúc tác này đã được đức Đạt Lai Lạt Ma đề
cập đến khi nói về những điểm cốt lõi phải có để tạo nên một mối quan hệ
mạnh mẽ, vững bền: thương yêu, từ ái, tôn trọng lẫn nhau. Những yếu tố
này không chỉ cần thiết trong tình yêu, mà đối với tình bạn, người quen
biết, ngay cả người lạ ... nghĩa là đối với tất cả tha nhân, cũng quan
trọng không kém.
Chương 7
GIÁ TRỊ VÀ
LỢI ÍCH CỦA TỪ TÂM
ĐỊNH NGHĨA TỪ
TÂM
Theo với những buổi đàm luận, tôi khám phá ra rằng sự
phát triển mối từ tâm đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống của
đức Đạt Lai Lạt Ma chứ không chỉ đơn thuần là những cảm tình như nồng
nhiệt, thương yêu hay cải thiện mối tương quan với người khác. Phát
triển từ tâm rõ ràng là một phần không thể thiếu trong cuộc sống tâm
linh của một hành giả Phật giáo như đức Đạt Lai Lạt Ma. Tôi hỏi: "Theo
nhà Phật, từ tâm đóng một vai trò quan trọng trong công cuộc phát huy
tâm thức, xin Ngài vui lòng định nghĩa rõ rệt thế nào là từ tâm?" Đức
Đạt Lai Lạt Ma trả lời:
"Tâm từ, nói một cách giản dị là tâm thức bất bạo
động, không làm tổn hại, không hung dữ. Tâm từ bắt nguồn bởi ước vọng
không muốn chúng sinh bị khổ ải và nó đi đôi với ý nguyện cam kết, trách
nhiệm và tôn trọng đối với tha nhân.
"Định nghĩa của tâm từ theo ngôn ngữ Tây Tạng (Tse-wa)
còn bao gồm ý niệm muốn cho chính mình thoát khỏi cảnh khổ. Phát triển
tâm từ có thể trước hết là làm sao cho mình thoát khổ rồi từ đó vun bồi,
phát huy, và trải rộng ra cho tất cả chúng sinh.
"Khi nói về từ tâm, tôi cho rằng người ta thường nhầm
lẫn với ý niệm ràng buộc. Cho nên trước hết, chúng ta phải phân biệt rõ
rệt hai ý niệm này. Một dạng của từ tâm có đượm màu ràng buộc: Ý muốn
kiểm soát một ai đó, hoặc thương một ngườì nào đó để họ thương lại mình.
Loại từ tâm hay tình thương khá thông dụng này có tính cách không toàn
vẹn và khá thiên vị. Liên hệ đặt trên căn bản này không được vững bền và
thường kèm theo những ràng buộc tình cảm hay cảm tưởng thân cận. Nhưng
khi có những thay đổi, một sự bất đồng ý kiến hay bị phật lòng vì đối
tượng chẳng hạn, thì bỗng nhiên mọi sự thay đổi và địa vị của đối tượng
cũng thay đổi luôn. Rồi do sự tan biến của những ràng buộc tình cảm này,
chúng ta có thể thù ghét thay vì thương yêu đối tượng. Cho nên tình
thương đặt trên căn bản ràng buộc không cách xa sự thù ghét là mấy.
Loại tình thương thứ hai không bị ảnh hưởng bởi các
ràng buộc tình cảm này, đó là từ tâm thật sự. Loại từ tâm này không tùy
thuộc vào việc một cá nhân nào đó có thân thiết với mình hay không,
nhưng dựa trên căn bản hợp lý rằng tất cả chúng sinh từ bẩm tính đều
muốn được hạnh phúc và khắc phục được khổ não như chính chúng ta vậy. Và
cũng như chính tôi, tất cả mọi người đều có quyền được thỏa mãn cái ước
vọng căn bản đó. Khi xác nhận tính cách bình đẳng và phổ dụng này, chúng
ta sẽ có được cái cảm giác tương đồng và gần gũi với tha nhân. Từ căn
bản đó, tâm từ của chúng ta sẽ trải ra không phân biệt bạn hay thù vì
rằng ai cũng có quyền được hưởng chứ không phải được phóng chiếu từ cảm
quan của riêng anh, và đó là từ tâm chân chính.
"Sau khi đã phân biệt được hai loại từ tâm như trên,
chúng ta cần bồi đắp loại từ tâm chân chính vì nó rất quan trọng đối với
đời sống hàng ngày của chúng ta. Trong hôn nhân chẳng hạn, những ràng
buộc tình cảm rất thông dụng nhưng nếu được hỗ trợ bởi loại từ tâm chân
chính thì cuộc hôn nhân sẽ rất bền vững. Ngược laị, nếu chỉ có những
ràng buộc tình cảm, cuộc hôn nhân sẽ không ổn định và dễ tan rã."
Đòi hỏi con người phải phân biệt hai loại từ tâm rồi
phải vun bồi loại từ tâm không có tính cách phân biệt, tách khỏi tình
cảm cá nhân.... xem ra có vẻ quá tầm đối với mọi người, cho nên tôi hỏi
lại: "Nhưng tình thương hay từ tâm là một cảm tính lệ thuộc vào chủ thể,
cho nên nó vẫn giống nhau dù là có hay không có những ràng buộc tình
cảm. Nghĩa là trong cả hai trường hợp, người ta đều có những xúc động,
những cảm giác giống nhau, vậy thì cần gì phải phân biệt ra như vậy?"
Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời với một giọng điệu quả
quyết: "Trước hết, tôi cho rằng có một sự khác biệt trong cảm tính đối
với hai loại từ tâm này. Cảm giác của chúng ta đối với loại từ tâm chân
chính mạnh mẽ hơn, bao la hơn và có một phẩm chất sâu đậm hơn. Hơn nữa,
loại từ tâm này vững bền và xác tín hơn. Giả thử khi anh thấy con cá mắc
câu đang vùng vẫy trong đau đớn tột độ, anh cũng có cảm giác rằng chính
anh sẽ không chịu đựng nổi sự khốn khổ đó. Cái cảm giác không phát xuất
vì con vật ấy là bạn thân của anh, mà vì sự kiện là con vật ấy cũng có
tri giác, cũng biết đau đớn và cũng có quyền không bị hành hạ như vậy.
Cho nên, từ tâm chân chính bao quát hơn và bền vững hơn trong trường kỳ.
Tôi đi sâu hơn vào chủ đề từ tâm: "Trong thí dụ của
Ngài nói về con cá đang bị đau đớn cao độ vì bị mắc câu, Ngài đã đề cập
đến một điểm hệ trọng, đó là cảm giác không chịu đựng nổi của sự thống
khổ".
Đức Đạt Lai Lạt Ma nói: "Đúng thế, trong một ý nghĩa
nào đó, người ta có thể định nghĩa từ tâm là cảm giác không chịu đựng
nổi khi chứng kiến sự khổ não của người đời, của tất cả chúng sinh. Để
có được cảm giác như vậy, người ta phải thông cảm hoàn toàn tính chất
nghiêm trọng và cường độ của nỗi thống khổ đó. Cho nên, càng thông hiểu
và chứng kiến càng nhiều cảnh ngộ khốn cùng của chúng sinh, từ tâm của
người ta càng phát triển sâu rộng.
Tôi hỏi: "Tôi đồng ý rằng từ tâm của chúng ta càng
tăng trưởng khi chứng kiến càng nhiều nỗi đau thương của nhân thế. Theo
định nghĩa, từ tâm bao hàm sự mở lòng ra, chia xẻ nỗi khổ đau với người
khác. Nhưng có một vấn nạn căn bản là tại sao chúng ta muốn gánh vác nỗi
khổ đau của người khác trong khi đang tìm cách xa lánh các khổ nạn của
chính mình? Ý tôi muốn nói là tất cả chúng ta ai cũng muốn xa lìa khổ
não đến độ phải sử dụng thuốc men hay các phương tiện khác thì tại sao
lại đi cưu mang nỗi thống khổ của tha nhân?"
Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời không một chút do dự: "Có
một sự khác biệt lớn lao giữa nỗi khổ của chính mình và nỗi khổ mà mình
dự tính cưu mang, chia xẻ với người khác do từ tâm - một sự khác biệt về
phẩm cách". Đức Đạt Lai Lạt Ma ngưng lại một lúc như để dò xét cảm tưởng
của tôi, rồi Ngài nói tiếp: "Khi suy nghĩ về các khổ nạn của chính mình,
người ta thường có cảm tưởng bị bủa vây, bị đè nén, cảm tưởng của tình
trạng vô năng. Người ta cùn nhụt, mờ ám như thể các chức năng đều bị tê
liệt.
"Khi khai triển từ tâm, đầu tiên, anh có thể cũng có
cảm giác khổ sở, không chịu đựng nổi ... khi gánh vác khổ nạn của người
khác. Nhưng sự khác biệt ở đây là anh tự nguyện và cố ý chấp nhận cảnh
khổ với một mục đích cao cả hơn. Nó bao gồm những ý tưởng liên đới, cam
kết, vươn ra để giúp đỡ tha nhân - những ý hướng tươi mới, sảng khoái
chứ không phải mờ ám, cùn nhụt. Giống như trường hợp của các vận động
viên điền kinh chịu đựng những nỗi cực khổ lúc luyện tập. Trong những
năm dài rèn luyện đầy gian lao, các vận động viên đã chịu đựng với một
cảm giác vui vẻ, thích thú do quyết tâm dũng mãnh của mình. Cũng người
đó, nếu phải trải qua những gian khổ tương tự mà không phải để huấn
luyện thì có thể họ đã nghĩ 'Ồ, việc gì mà ta phải chịu đựng ghê gớm
như vậy?'. Do vậy, ý chí làm cho tình trạng thay đổi hoàn toàn".
Với một giọng điệu thuyết phục, đức Đạt Lai Lạt Ma đã
đưa tôi từ cảm giác nặng trĩu áp bức của khổ nạn đến ý tưởng rằng chúng
ta có thể có khả năng phân giải và vượt qua các khổ nạn. Tôi hỏi: "Ngài
vừa trình bày rằng để khai triển từ tâm, người ta phải bắt đầu bằng việc
thông hiểu tường tận các khổ nạn. Vậy, theo Phật giáo, còn có cách nào
để phát huy tâm từ?" Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời: "Có, thí dụ như theo
Phật giáo đại thừa, người ta nói đến hai phương pháp thường được sử dụng
để tăng trưởng từ tâm, đó là '