Kính Tặng
Mẹ Tôi: LEA FAGES
(Martine Batchelor)
Lời
Tri Ân
Tôi xin chân
thành cảm ơn tất cả các nữ tu và cư sĩ Phật giáo góp mặt trong quyển
sách nầy về sự hỗ trợ, trí tuệ cũng như lòng ưu ái của họ. Tôi mang ơn
sâu xa đối với tất cả quý tăng ni và giới cư sĩ đã tử tế giúp đỡ tôi
trong các chuyến đi thu thập các tài liệu, thông dịch, và tìm chổ trọ.
Đặc biệt tôi muốn nhắc đến gia đình Koo, ông và Bà Dodds, Paul và Suil
Jaffe, Chatsumarn Kabilsingh và Sheryl Keller. Xin cảm ơn Suan Blake vì
sự nhiệt tình biên tập của bà trong những gia đoạn khởi đầu, cảm ơn cô
Gill Farrer-Halls về tài năng của cô, niềm vui đã được cùng cô làm việc,
cũng như Liz Puttick ở nhà xuất bản Harper Collins về sự nhiệt tình hỗ
trợ của cô. Cuối cùng tôi cũng xin cảm ơn chồng tôi, Stephen, vì đã
thương yêu, giúp đỡ, ủng hộ tôi trong suốt quá trình thực hiện quyển
sách nầy.
Quyển sách
nầy cũng sẽ không được thành hình nếu không có sự tài trợ rộng rãi của
Korea Foundation (Quỹ Hỗ Trợ Đại Hàn), Spalding Trust (Quỹ Spalding) và
Hội Sinh Thái & Văn Hóa Quốc Tế (International Society for Ecology &
Culture).
Lời
Giới Thiệu
Làm sao tôi
có thể hành thiền khi quá bận rộn với công việc và gia đình? Làm sao tôi
có thể phối hợp hoạt động với ngồi yên một chỗ? Có các nữ tu sĩ không?
Có thể tìm được các nữ đạo sư trong Phật giáo truyền thống không?
Là người dạy
thiền, và cũng từng là nữ tu sĩ, tôi đã thường được nghe những câu hỏi
như thế không biết bao nhiêu lần. Vì thế tôi quyết định soạn một quyển
sách dựa trên những kinh nghiệm sống của các phụ nữ đương thời, đễ bạn
đọc thấy rằng hành thiền có thể ảnh hưởng đến nhiều cách sống, nhiều
hoạt động của chúng ta như thế nào. Thật vậy, tôi đã khám phá được nhiều
vị ni, nhiều nữ cư sĩ đức độ trong thời hiện đại.
Từ lúc khởi
ý đến khi hoàn thành quyển sách là một cuộc hành trình dài dẵng. Tôi
phải tự nhủ rằng mình có thể làm được điều đó và có thể tìm được nguồn
tài trợ để điều đó có thể thành hiện thực. Tôi đã viết thư đến hai tổ
chức tài trợ lớn, nhưng không có kết quả gì, tôi đành bỏ cuộc. Rồi bỗng
nhiên, sau một thời gian dài, cả hai tổ chức đều chấp nhận hỗ trợ, cộng
thêm sự hỗ trợ của một tổ chức khác nữa. Tôi thật bàng hoàng; vậy là tôi
phải thực hiện thôi!
Những chuyến
đi từ ngay nơi gần gũi, nơi tôi đã phỏng vấn các phụ nữ Tây phương, cho
đến tận những nơi gốc rễ của Phật giáo như ở Đại Hàn, Nhật, Đài Loan và
Thái Lan. Tôi vừa ngạc nhiên, vừa phấn chấn với những gì thâu thập được
từ bao cảnh đời. Một số phụ nữ tôi đã được biết, và đã liên lạc trước
đó, nhưng tôi cũng được gặp thêm rất nhiều người đến nỗi tôi không biết
phải chọn lựa ai vào quyển sách nầy. Tôi đã có 40 cuộc phỏng vấn, với
tất cả những người phụ nữ thật đặc biệt, nhưng vì giới hạn của quyển
sách, tôi chỉ có thể chọn 18 người dựa vào sự quyết định của các cuộc
phỏng vấn. Tuy nhiên, ở một mức độ nào đó, họ là tiếng nói chung cho tất
cả.
Khi phỏng
vấn các vị nầy, tôi giống như một người sơ cơ, hỏi những câu hỏi đơn
giản, thực dụng, phổ thông. Có những cuộc phỏng vấn bằng tiếng Anh, dể
thực hiện nhất. Nhưng cũng có nhiều cuộc bằng tiếng Hàn Quốc; hy vọng là
công tác dịch thuật của tôi có thể phác hoạ được con người sau những lời
nói ấy. Những cuộc khác lại được ai đó dịch từ tiếng Nhật, Trung Hoa hay
Thái. Mỗi chương là một câu chuyện, với những lời chỉ dẩn về thiền bằng
những lời nói riêng và những chứng nghiệm của riêng từng vị.
Gặp gỡ các
vị nữ tu và cư sĩ Phật giáo nầy là một quá trình học hỏi mà nó càng phát
triển thêm khi tôi thực hiện các cuộc phỏng vấn, rồi dịch thuật, ghi
chú, đánh máy, và biên tập. Tôi chưa hề cảm thấy mệt mỏi, chán nản vì
các câu chuyện tràn đầy sức sống và trí tuệ; thật là những câu chuyện
tuyệt vời. Tôi vẫn tự nghĩ không biết mình có được sự can đảm và tín tâm
của Sư cô Ani Tenzin Palmo khi phải đối mặt với các cơn bão ở Hy Mã Lập
Sơn, hay có được sự bình tâm chấp nhận của Ni Sư Ayya Khema khi đối đầu
với căn bịnh ung thư.
Tôi vẫn luôn
thán phục Haeju Sunim, người đã nói rằng tất cả chúng ta là Phật, nên
cách sống duy nhất là phải thể hiện lòng từ bi và trí tuệ của một vị
Phật; không cần phải đợi đến lúc khác, ở một khoá chuyên tu khác hay một
kiếp sống khác. Tôi vẫn còn tán dương Sư Bà I Tsao Fashih, người đã cố
gắng thuyết phục tôi cầu nguyện được tái sinh vào cõi Tịnh độ. Bà đã
nhận thấy tôi không sốt sắng, nhưng vẫn vui vẻ, bao dung, ý nhị đến nỗi
khi chia tay bà, tôi có cảm tưởng như chính mình cũng có thể bước trên
những cánh hoa sen, và cuộc đời như thế sẽ tuyệt vời làm sao!
Tôi vẫn còn
thấy buồn cười vì sự bình tâm của Maechee Pathomwan đối với con rắn trên
đùi, so sánh với sự sợ ma của bà. Tôi kinh ngạc về sự tưởng tượng siêu
thực của Yahne Le Toumelin. Tôi cảm động với sự giản đơn của họa sĩ
thiền Okbong Sunim, và lòng từ bi của Jonmok Sunim, một nữ tu làm DJ và
cũng là một cán bộ xã hội.
Một số họ có
những kinh nghiệm giống tôi. Giống như Sư Chân Không, tôi cũng được bảo
hãy cầu nguyện để được tái sinh làm người nam; giống như Sư, tôi coi đó
là lời khuyên vô nghĩa, dầu người khuyên có vì lòng từ hay người đó có
là bậc thánh hay bậc chứng đắc. Nhưng chúng ta đừng quên rằng Đức Phật
thật là cấp tiến khi Ngài bảo rằng mọi người đều bình đẳng trong giác
ngộ. Quyển sách nầy càng chứng minh thêm quan điểm của Đức Phật khi nó
giới thiệu những người phụ nữ đã làm chủ được con đường tâm linh của
mình và khi trình bày ở đây một cách tổng quát về các chứng quả trong
thiền định.
Khá nhiều
sách đã được viết về phụ nữ và Phật giáo từ cái nhìn của nữ giới, của
tâm lý xã hội, tôn giáo, văn hoá hay lịch sữ. Tôi muốn trình bày vấn đề
nầy dưới một khía cạnh khác, dưới cái nhìn của các chứng quả trong thiền
định, trong cuộc sống hằng ngày. Một vài phụ nữ trong quyển sách nầy đã
đi tiên phong trên các diễn dàn ở Tây phương, như là Ni Sư Ayya Khema và
bà Christina Feldman. Nhưng tôi muốn hiểu rõ về cách sống thực sự của họ
hơn là những ý tưởng của họ; là những người con Phật, họ đã sống mỗi
ngày như thế nào? Đạt được một tầng chứng nghiệm nào đó, điều đó có
nghĩa gì đối với họ, là những phụ nữ tu theo Phật giáo?
Ở phương
Đông, khi tôi nói về đề tài phụ nữ và Phật giáo hay tăng và ni, các ni
cho rằng họ cảm thấy bình đẳng. Myongson Sunim, thí dụ, nói rằng tăng và
ni là hai cánh của một con chim –chim cần cả hai cánh mới có thể bay
được. Thực vậy, nhìn về các chứng quả của họ, họ đã bình đẳng, đạt được
những gì mà người nam hay các tăng đạt trong cùng một hoàn cảnh hay một
phương pháp tu. Ngay cả trong các điều kiện có vẻ khắc nghiệt đối với
họ, như ở Thái Lan, điều đó cũng không cản trở được Maechee Pathomwang
trở thành một nữ tu sĩ, rồi tu tập thực hành để trở thành một vị thầy
khả kính.
Tôi cần nói
đôi điều về vai trò của ni giới trong Phật giáo. Điều đó thay đổi tuỳ
theo điều kiện xã hội, lịch sữ ở mỗi nước, và khó thể nói hết ở đây. Tôi
xin tóm tắt vài điểm: Ni giới ở Hàn quốc bình đẳng khoảng 90% với tăng,
ở Nhật 60 phần trăm, Đài Loan 85 phần trăm, Thái 15 phần trăm, Tây Tạng
45 phần trăm. Thí dụ, ni giới ở Hàn quốc thọ đại giới với 338 giới luật,
trong khi ở Thái, các ni hầu như không thọ đại giới, với chỉ tám hay
mười giới cấm.
Không ngạc
nhiên gì khi ni giới ở Hàn quốc được ủng hộ hơn, có nhiều cơ hội được
học hành, huấn luyện. Nhưng điều gây ấn tượng và tạo lòng tin trong tôi,
là dầu các điều kiện có khó khăn, tệ hại đến thế nào, các vị nữ tu và cư
sĩ Phật giáo mà tôi đã gặp đều có thể chuyển hoá hoàn cảnh, sống một
cuộc đời tràn đầy ý nghĩa, trở thành các vị thầy bằng chính sức lực của
mình, như Maechee Pathomwan ở Thái Lan hay Pang Kwihi, một tiểu thuyết
gia bị bại liệt ở Hàn quốc.
Tôi đã cố
gắng thu thập nhiều truyền thống Phật giáo để giới thiệu khá nhiều
phương pháp thiền, và tôi đã tìm được khá nhiều phương pháp và tiềm
năng. Con đường Phật giáo nhiều ngã; ai cũng có thể tìm được điều gì đó
cho mình trong Phật giáo. Tuy nhiên, có một mẫu số chung xuyên suốt
quyển sách đó là chánh niệm, là một sự tỉnh thức đầy sáng tạo, mà
nếu biết áp dụng, biết vun trồng sẽ giúp ta nhìn sự việc rõ ràng hơn,
chuyển đổi được con người ta, cách ta sống.
Cuộc đời của
những người phụ nữ nầy gửi đến chúng ta một thông điệp rằng hãy tin ở
chính mình, tin ở khả năng của mình, dầu ta là nam hay nữ, vị trí xã hội
cao hay thấp, mạnh khoẻ hay khuyết tật. Thông điệp đó là chúng ta không
thể làm gì hơn là hãy cố hết sức mình. Những phụ nữ nầy đã làm tôi cười,
tôi khóc và nghĩ ngợi; họ khiến tôi hiểu hơn, rộng vòng tay hơn với
những khả năng bất tận mà cuộc đời có thể mang đến trên con đường tâm
linh. Tôi mong rằng họ cũng mang đến cuộc đời của bạn những điều tương
tự.
Lời
Người Dịch
Theo lời
giới thiệu của tác giả, bà Martine Batchelor, quyển Bước Sen (Walking On
Lotus), là những câu chuyện về các nữ tu và cư sĩ Phật giáo. Quyển sách
có 18 chương là 18 câu chuyện của nhiều số phận khác nhau, nhưng có cùng
một mẫu số chung là tất cả đã tìm được hướng đi trong cuộc đời mình, đó
là Phật đạo, là con đường đưa đến giải thoát, giác ngộ. Mặc dầu chúng ta
có thể không tu theo phương pháp của các nữ tu sĩ nầy, hoặc giả chúng ta
có thể không đồng quan niệm với họ về giới luật hay gì đi nữa, chúng ta
cũng sẽ tìm thấy ở đây những tấm gương tu học sáng ngời, đáng để người
đọc noi theo. Trong bản Việt dịch, chúng tôi quyết định không dịch
chương thứ 17, vì đề tài có thể chưa thích hợp với đọc giả Việt Nam,
mong bạn đọc thông cảm.
Đây là quyển
sách dịch chung sức đầu tiên của tôi và người cháu, Diệu Ngộ-Mỹ Thanh.
Diệu Ngộ-Mỹ Thanh và tôi cũng có những duyên nghiệp đặc biệt. Lúc 6, 7
tuổi, cháu đã theo tôi xuống Saigon trọ học. Tôi như người mẹ trẻ của
cháu. Rồi cô cháu xa nhau. Đến khi hội ngộ ở xứ người, thì cháu đã không
nhận ra cô. Không biết bằng cách nào, cháu và cô đều tìm được con đường
đến với Phật pháp, mỗi người theo cách riêng của mình. Chỉ biết là gần
đây lên các website hay đọc các tạp chí Phật giáo, tôi đã ngạc nhiên
thấy tên cháu ở cuối một số bài dịch. Ngạc nhiên vì cứ ngỡ là vốn tiếng
Việt của cháu rất hạn chế, nói chi đến danh từ Phật học. Thật là duyên
lành. Quyển sách dịch nầy thành tựu là kết quả của duyên lành đó. Mong
rằng nó sẽ là hạt giống giúp chúng tôi dù sinh ra ở đâu, cũng luôn được
biết đến Phật pháp. Mong là nó góp được chút sức vào công việc giới
thiệu với bạn đọc, các đạo hữu, những tấm gương tu học sáng ngời.
Dĩ nhiên,
với sự hiểu biết hạn chế về Phật pháp, cũng như một số đề tài chuyên môn
mà một số tác giả đã viết – như chương 11, về hội họa- chúng tôi không
tránh khỏi nhiều sơ sót. Mong nhận được sự chỉ giáo, hướng dẫn của các
bậc tôn sư, thiện hữu tri thức.
Quyển sách
nầy được ấn tống với sự hùn phước của nhiều đạo hữu, bạn bè, thân quyến.
Chúng con kính cẩn kê đầu đảnh lễ tạ ơn chư Phật đã tạo điều kiện, phước
duyên để Phật sự nầy được viên thành.
Diệu
Liên-Lý Thu Linh
4/2005
---o0o---
Mục Lục | Phần 1
| Phần 2 | Phần
3 | Phần 4