Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam
TP Hồ Chí Minh
Khóa III (1993-1997)
Nhân sinh quan Phật giáo
(Luận văn tốt nghiệp)
---o0o---
GSHD: TT
Thích Trí Quảng
Ni sinh:
Thích nữ Như Ngọc
---o0o---
Phần III:
ỨNG DỤNG SỰ TU TẬP NGŨ UẨN TRONG ÐỜI SỐNG HIỆN TẠI
Văn minh, văn hóa càng phát triển bao nhiêu thì
công việc tổ chức thế giới của con người càng đa diện và phức tạp bấy
nhiêu. Cứ nhìn những thanh niên nam nữ ngày nay, chúng ta đủ thấy môt
thực trạng vô cùng lo ngại. Hơn nữa họ lại không ý thức được tình trạng
của mình; Họ lao mình tới những văn minh, văn hóa ngoại lai trong một
cơn sốt. Họ đang bệnh hoạn, hoặc suy thoái tinh thần, đang lâm vào cơn
hiểm nghèo, chìm sâu vào khủng hoảng.
Khi phân
tích con người thành ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức - nói theo từ
hiện đại là thân thể, tình cảm, tư tưởng, tánh tình, tri thức - trí huệ
đạo Phật cho chúng ta thấy cả năm thứ này đều chi phối con người từ khi
mới sanh đến khi chết. Và đường hướng giáo dục toàn diện của đạo Phật
là phát triển đồng đều, thăng bằng cả thân và tâm. Nói cách khác, Ðức
Phật không tách rời thân thể khỏi tâm trí con người.
Sau khi đã
quán sát ngũ uẩn để biết rõ về con người và thế giới, chúng ta sẽ từng
bước ứng dụng sự tu tập ngũ uẩn nhằm đạt lợi ích thiết thực qua một vài
phạm trù sau:
1-Y học:
Cơ thể con
người chẳng khác nào một bộ máy hoạt động không ngừng. Dù khoa học và y
học có tiến bộ đến đâu chăng nữa, con người như một bộ máy vẫn bị luật
vô thường chi phối. Tuy nhiên, nếu biết cách điều chỉnh thân tâm qua
kinh nghiệm và những pháp vệ sinh, con người có thể kéo dài đời sống,
tránh được tình trạng suy yếu, bệnh tật, xây dựng một nếp sống lành
mạnh, tinh khiết.
Người Tây
Phương có câu: ‘Một tinh thần minh mẫn ở trong một thân thể khỏe mạnh’.
Thân thể khỏe mạnh có thể ví như ngôi nhà vững chắc hay con thuyền ra
khơi thực hiện một chuyến du hành bình an với máy móc và thiết bị an
toàn.
Thân con
người thuộc sắc uẩn, do tứ đại hiệp thành nên phải dùng tứ đại bổ sung,
như cơm, thuốc .. Người xưa thường nói: ‘Con người ta ăn để mà sống’.
Về vấn đề điều hòa thân tâm để tu học, Ðức Phật luôn dạy người xuất gia
là phải ‘Thiểu dục tri túc’.
‘ Vua Di
Lan Ðà hỏi Ngài Na Tiên kỳ kheo:
-
Sa môn có tự yêu thân mình không? Ðáp: - Không.
-
Nếu chẳng tự yêu thân sao còn ở nhà mặc ấm, ăn thức ăn ngon và tự
muốn bảo vệ nó?
Na
Tiên hỏi gặn lại:
-
Nhà vua đã từng vào chiến trận chứ? Ðáp : Có.
-
Khi vào trận có bị thương chưa? – Có, vì bị dao đâm và tên nó
chọt.
-
Rồi Ngài làm sao? - Tôi lấy thuốc băng bó.
-
Vì yêu vết thương mà băng bó hay sao? - Không phải, chỉ vì muốn
nó mau lành.
Ngài Na
Tiên nói:’ Các sa môn cũng thế, chẳng vì yêu thân, nên không ăn sang,
mặc đẹp, chỉ dùng để chi độ cho thân thể đặng có sức khỏe phụng hành đạo
pháp của Ðức Phật mà thôi.’
Do đó, tuy
dùng tứ đại bổ sung cho tứ đại, người xuất gia khi thọ thực vẫn thường
quán tưởng, xem thức ăn như những món thuốc hay để trừ bịnh đói, nhằm trừ
tâm đắm trước.
Theo đà phát
triển của khoa học hiện nay, ngành Tây y đã chế ra nhiều loại thuốc kháng
sinh, vitamin để trị liệu cho cơ thể con người. Tuy nhiên thuốc hay, đồ
bổ cũng là con dao hai lưỡi, khéo xử dụng thì nó là bạn, còn dùng một cách
tham lam tùy tiện thì con người sẽ là nạn nhân của thuốc do chính mình xử
dụng. Thời hiện đại, con người mắc nhiều chứng bịnh ngặt nghèo kỳ lạ, nên
việc hiểu biết những kiến thức y học cơ bản nhằm phát hiện được bệnh qua
một số dấu vết để chữa kịp thời là điều cần thiết cho mọi người.
Như chúng ta
đã biết ngũ uẩn cấu tạo nên cơ thể con người, chúng không thể tách rời mà
luôn tác động hỗ tương cho nhau. Nhưng có thể nói trong hai phần Sắc và
Tâm thì Tâm đóng vai trò chủ động tác động lên thân. Cổ Ðức nói: ‘Hữu
tâm thì vô tướng, tướng tự tâm sanh, hữu tướng vô tâm, tướng tùng tâm diệt’.
Khi tâm hồn phấn khởi thì mọi vật đều nhuốm màu hồng, thấy đời có vẻ dễ
chịu, không hoài nghi, thắc mắc. Nhưng khi cơn buồn sầu đến thì con người
cảm thấy cô đơn, cảm thấy bị tách rời khỏi vũ trụ,cô lập khỏi xã hội.
‘Bởi vì
mắt ngắm trời xanh
Cho nên mắt cũng long lanh màu trời.
Bởi vì
mắt ngắm biển khơi
Cho nên mắt cũng xa vời đại dương’
(Phạm Thiên Thư)
Ngành Ðông y
ngoài việc bổ các loại thuốc cây cỏ lấy từ thiên nhiên cũng rất chú trọng
đến phần tâm thần của con người. Theo Ðông y từ thất tình, lục dục, (hỉ,
nộ, ái, ố..) tâm bịnh đã dẫn đến thân bịnh tác động vào lục phủ ngũ tạng
như sau:
‘Ưu tư
quá độ thương TỲ,
Buồn rầu
thương PHẾ’, giận thì hại GAN.
Kinh sợ
làm THÂN nguy nan
Vui mừng
TÂM tổn nên an định thần.
(Lương Y
An Triệu)
(thương
: làm tổn thương)
Nếu hiểu thêm
về pháp Ngũ hành, có thể dùng phương pháp ngôn trị (dùng lời nói)
để làm giảm những nội kết đem lại thăng bằng cho thân tâm con người.
Ðó là những
diễn biến tâm lý của thọ, tưởng, hành, thức mà chúng ta cần dùng trí quán
để nhận ra nó và không bị nó cuốn trôi hay khiến mình thành nô lệ khổ
đau. Bàn về pháp dưỡng sinh, Tổ Ðông Y Việt Nam là Thiền sư Tuệ Tĩnh dạy
phải ‘Thanh tâm quả dục’ (giữ tâm trong sạch, ít ham muốn).
Ðạo Phật luôn
chủ trương hóa giải tận gốc thân bệnh cũng như tâm bệnh của con người.
Ðối với Ðạo Phật, hạnh phúc thật sự là sự an lạc nội tâm. Hiện nay pháp
Thiền của Phật giáo được rất nhiều người trên thế giới hâm mộ và thực
hành. Họ không chỉ xem đây là phương pháp dưỡng sinh phòng chống bệnh tật
mà còn tìm đến Thiền như một con đường quay về sự thăng bằng của nội tâm,
giải tỏa stress, những trạng thái căng thẳng thần kinh, sự bất ổn về mặt
tâm lý trong cuộc sống hiện tại.
Ngoài những
phương pháp tọa thiền, an tịnh tâm với các đề mục quán chiếu, pháp Thiền
quán được các vị Thiền sư hướng dẫn áp dụng trong mọi lúc con người hoạt
động, gọi là ‘Chánh niệm’. Cần giữ chánh niệm trong mọi lúc, tức
luôn dùng trí quán sát con người và thế giới chung quanh có cùng mối tương
quan, tất cả như là huyễn, hòa hợp theo duyên. Nhận diện từng thọ, tưởng
với trí quán liên tục sẽ tạo nên những hạt giống tốt huân tập vào tiềm
thức (tâm thức). Cứ như vậy con người sẽ thấy một cuộc sống mới mở ra
trước mắt. Nhờ đó, con người cảm thấy tự tin hơn và có thể phát triển khả
năng sáng tạo, điều chỉnh, hoàn thành nhân cách; Cao hơn nữa là thể nhập
được nội tâm, tự tại, an vui, làm tất cả nhưng không vương mắc vào bất cứ
việc gì.
Vua Kosala
một hôm bạch Phật rằng: ‘Khác với đồ đệ các tôn giáo khác thường hốc hác,
xanh xao, ít ưa nhìn... , đồ đệ của Ngài luôn vui vẻ, thanh thoát, hồn
nhiên, thư thái.. ‘ Vua tin rằng : tính chất lành mạnh đó là do: ‘Những vị
Thượng tọa này chắc chắn đã nhận chân toàn vẹn ý nghĩa giáo lý của Ðức Thế
Tôn’
Chúng ta ngày
nay tuy không được như những bậc Thánh xưa, nhưng vì chúng ta là đệ tử của
Phật, hiểu lời Phật dạy, lúc nào chúng ta tỉnh giác, lúc đó chúng ta có an
lạc.
2-Môi trường sống:
Hyppocrate,
ông tổ nền Tây y, cho rằng môi trường thiên nhiên chung quanh luôn tác
động đến con người; Vì thế người thầy thuốc phải quan tâm đến cách sinh
sống, ăn uống, tuổi tác, hoàn cảnh, đất đai, nguồn nước, khí hậu, thời
tiết chung quanh bệnh nhân. Nhưng gần đây, sự lo sợ một cuộc chiền tranh
nguyên tử tiêu diệt nhân loại sau chiến tranh thế giới lần II lại được
cộng thêm với một nỗi lo sợ mới là tai họa hủy diệt môi sinh, tai họa đưa
con người vào cảnh diệt vong còn mau hơn tai họa chiến tranh.
Vấn đề bảo vệ
sinh thái môi trường được đề ra tạo nên một phong trào lớn để con người nỗ
lực đấu tranh cứu vãn sự sống của con người trên toàn thế giới trước thực
trạng ô nhiễm, suy thoái. Sự ô nhiễm, suy thoái này đã làm kiệt quệ dần
dần môi trường sống của con người và hàng trăm triệu loài động vật trên
hành tinh này.
‘Phật giáo
không chủ trương tách rời tâm khỏi vật, con người khỏi môi trường; Môi
trường hay thế giới với con người ngũ uẩn là một. Thế mà, hành tinh của
chúng ta đang bị ô nhiễm từ lòng đất, nước biển, sông, hồ, rừng cây, làng
mạc, đô thị và cả bầu khí quyển đang bị tam độc tham, sân, si thúc đẩy.
Vì lạc thú, vì lợi lộc, vì hận thù, con người bằng vô số hình thức đang
hủy hoại môi sinh, tức đang hủy hoại mình và vô số chúng sanh khác’.
Con
người ngày nay chỉ biết có xã hội loài người, nhất là đối với con người
sống nơi thành thị, hầu như lúc nào cũng nhìn thấy không gì hơn là những
sự vật do con người tạo ra từ sự phát triển của xã hội. Họ đã quên hẳn
thế giới thiên nhiên và hủy hoại thiên nhiên để chạy theo nhu cầu văn minh
vật chất.
Quay
về vũ trụ và thọ hưởng nó, không phải là độc quyền của những thi sĩ và
nghệ sĩ. Vũ trụ sẽ tiết lộ cho bất cứ ai muốn thấy nó. Những kẻ chìm
đắm, sa đọa phải ngước mắt nhìn vũ trụ và thấy chính mình là một phần của
vũ trụ.
Khi
Phật còn tại thế, việc bảo vệ môi sinh chưa đặt thành vấn đề, nhưng với
lòng từ bi cứu khổ và trí tuệ sáng suốt, Ðức Phật với vai trò bậc Ðạo sư
đã chủ động tìm cách xây dựng cho mình và hội chúng Tăng già một nếp sống
hài hòa với thiên nhiên, một đạo tràng tu tập hướng tới giác ngộ và Niết
bàn.
Trong nhiều bài thi kệ ngộ đạo, các vị thiền sư luôn thể hiện rõ ý này:
‘Xuân
khứ bách hoa lạc
Xuân đáo
bách hoa khai
Sự trục
nhãn tiền quá
Lão tùng
đầu thượng lai
Mạc vị
xuân tàn hoa lạc tận
Ðình
tiền tạc dạ nhất chi mai’.
(Cáo
tật thị chúng- Mãn Giác thiền sư)
Dịch
nghĩa:
Xuân đi
trăm hoa rụng
Xuân đến
trăm hoa cười
Trước
mắt việc đi mãi
Trên đầu
già đến rồi
Chớ bảo
Xuân tàn hoa rụng hết
Ðêm qua
sân trước một cành mai’
(Bản
dịch của HT Quảng Ðộ)
Cảnh
Xuân đến, Xuân đi, hoa nở, hoa tàn, phải chăng là nhũng bài học sinh động
của thiên nhiên dạy chúng ta về cuộc đời vô thường, các pháp vô ngã... và
trong bức tranh vô thường đó, thiền sư vẫn cảm nhận sự sống là bất diệt.
Như
thế, Ðức Phật đề cao một nếp sống hài hòa với thiên nhiên và hài hòa với
cả con người với tâm vô lượng. Phật tử đến với thiên nhiên như con ong
đến với hoa:
‘Như ong
chỉ lấy nhụy
Không
hại hương sắc hoa
Cũng vậy
vị Sa môn
Ra vào
giữa thôn làng’
(Pháp cú
49)
Thiên nhiên yên tĩnh rất thích hợp với pháp thiền quán của Phật dạy.
Người Phật tử chúng ta phải học theo nếp sống của Bổn sư, sống gần thiên
nhiên, xa chỗ ồn ào, bụi bặm, đưa thiên nhiên đến tận trong nhà mình. Làm
như thế, tức là truyền đạo, hành đạo. Không những xây dựng môi trường tu
học lý tưởng đem đến sự yên tĩnh, sự tiến bộ về trí huệ cho tâm hồn được
giải thoát tự tại còn góp phần bảo vệ được môi sinh cũng là bảo vệ lấy
chính mình.
3- Phát triển tâm linh:
Khi
đã hiểu rõ ngũ uẩn là hiểu rõ chính mình. Từ đó, chúng ta tu tập để đưa
tâm thức lên tầng cao hơn. Ðó là từng bước chuyển ngũ uẩn hữu lậu thành
Ngũ uẩn vô lậu.
Trước
hết, muốn xây dựng một cuộc sống hạnh phúc phải dựa vào pháp và
chính bản thân con người. Trên bình diện xã hội, dựa vào pháp có
nghĩa là căn cứ theo quy luật tự nhiên của xã hội và dựa vào bản thân, là
không nương tựa vào Thượng Ðế hay một quyền năng siêu nhiên nào. Về vấn
đề này, Ðức Phật dạy Ngài A-nan:
‘Làm
thế nào để có thể là hòn đảo hay chỗ trú ẩn của chính mình. Ấy là nhờ sự
đào luyện của ý thức về thân xác, cảm giác, tâm ... (tu tập Tứ niệm xứ)’
Từ
chỗ có cuộc sống nội tại vững chắc, con người có được trí óc bình tĩnh
sáng suốt với cái nhìn toàn diện về mọi sự vật. Trong Kinh Hoa Nghiêm,
tiến trình chuyển ngũ uẩn hữu lậu thành vô lậu rất rõ ràng qua việc trình
bày mười thân Phật.
Ngũ
uẩn là căn bản xuất phát của muôn sự muôn vật. Ðức Phật cũng dùng thân
ngũ uẩn này để làm Phật sự. Chúng ta cũng phải tu tập để không bị ngũ uẩn
chi phối, không làm nô lệ cho nó dù mang thân vật chất kẹt với sắc uẩn,
luôn bị bốn tướng nóng, lạnh, đói, khát ràng buộc. Ðiểm trọng yếu là ở
chỗ đào luyện tâm. Chỉ cần sống với Thức uẩn, dù chưa phải là chơn tâm,
chúng ta cũng không bị bốn tướng này chi phối.
‘Cần
theo dõi và chuyển hóa phiền não trong tâm, không nên đè nén vì càng đè
nén nó càng lớn. Nguyên tắc tương tức bất nhị của sự tu học là:
-
Nhờ những tư tưởng, hành động (hạt giống tốt) để chuyển hóa.
-
Nhận diện chúng, khi chúng xuất hiện trong ý thức
-
Mời nó lên, trực diện với phiền não dưới ánh sáng chánh niệm.
Cứ
mỗi ngày quán chiếu một ít dưới chánh niệm (trí huệ), chúng ta sẽ chuyển
hóa được những niềm đau làm chúng ta sợ.’
Ðau
khổ cũng như mọi hiện hữu khác, là cần thiết cho tuệ giác nếu ta biết quán
chiếu nó, nhìn sâu vào bản chất nó để tìm lối ra. Vì vậy, đau khổ là một
Thánh đế, một sự thật linh thiêng, vì nó giúp ta giác tĩnh đi nhanh ra
khỏi tham ái và chấp thủ để vào các Thánh quả.
Từ
ngũ uẩn làm gốc, theo cái nhìn của Hoa Nghiêm, mọi vật trên cuộc đời từ
dòng suối chảy đến tiếng chim, ngọn lá ... đều tỏa ánh sáng, mọi thứ đều
là pháp thân của Phật. Nó như thế và muôn đời vẫn thế. Ðây là thế giới
Hoa Nghiêm và là nơi kinh Pháp Hoa nói:
‘Chư
Pháp tùng bản lai, Thường tự tịch diệt tướng’
Nhìn
rõ cuộc đời và con người, ta phải tạo dựng một tri thức vững chắc trên
thân bao gồm những đức tính tốt đẹp và một thân thể khỏe mạnh với đủ ba
phước tướng: Tâm hoan hỉ, thân khỏe mạnh, và bạn bè tốt. (TT. Trí
Quảng). Từ đây, ta có thể vào đời làm lợi ích cho nhân sanh theo hạnh
nguyện của Bồ Tát và có thể tu tập đến những bước cao hơn.
‘Khi
đã đầy đủ tâm từ bi, tròn hạnh Bồ tát kết thành Như Lai thân, hành giả
không còn phải dấn thân như Bồ tát, không ẩn cư như Duyên giác, không trao
đổi, sách tấn tu như Thinh văn. Như Lai không từ đâu tới và không đi về
đâu. Chính thân đó tác động qua các loài chúng sanh, giáo hóa mọi người
mà không cẩn cử thân động niệm. Như Lai như như bất động mà hóa độ chúng
sanh bằng trí của Ngài và trí Như Lai chiếu đến đâu thì ở đó là Pháp
thân. Ðó là Như Lai huệ chiếu vào vũ trụ, là trạng thái Chơn như bừng
sáng với trí huệ thấu suốt mọi vật.’
Ðấy
cũng chính là chỗ mà Thiền sư Pháp Thuận đã nói:
‘Vô vi
cư điện các
Xứ xứ
tức đao binh’
Trong
hiện tại chúng ta cần luôn quan sát với trí huệ Bát nhã thấy ngũ uẩn là
trống không, không tự ngã chứng nhập đương thể vô ngã của các Pháp. Ðương
thể ấy vô sanh nên vô đắc. Cho nên thấy có Niết bàn mà không thấy có
người đắc, tự tại không vướng mắc gì. Ðó là Niết bàn ngay trong hiện tại,
như Hòa Thượng Thiền Ấn đã có kệ:
‘Tánh
tịnh tướng, tướng tịnh tánh. Phi trung, phi ngoại liễu đốn siêu.
Tâm sanh
Pháp, Pháp sanh tâm. Bất tức, bất ly, hành thâm tự tại.’
---> Xem phần tiếp theo