Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam
TP Hồ Chí Minh
Khóa III (1993-1997)
Nhân sinh quan Phật giáo
(Luận văn tốt nghiệp)
---o0o---
GSHD: TT
Thích Trí Quảng
Ni sinh:
Thích nữ Như Ngọc
---o0o---
Phần II: tu tập về ngũ
uẩn - quán phá ngũ uẩn
Các triết gia phương
Tây thường hay bí lối sau khi thuyết minh được hiện tượng giới, vì bản
thân họ sau khi trực nhận khổ đau đang xảy ra trước mắt hoặc thầm kín
trong tâm hồn, liền tuyên thuyết lên một sự thật cuộc đời thế thôi. Họ
luôn tìm sâu trong lý luận, ngôn thuyết chứ không có phương thức nào để
thấy được bộ mặt thật đằng sau hiện tượng giới. Héraclite, triết gia nổi
tiếng của Hy Lạp cũng dừng lại ở phạm trù triết lý khi tuyên bố cảm nhận
về vô thường bằng câu :’A man can not step twice in the same river’
(Không ai có thể bước hai lần trong một giòng sông).
Ðạo Phật chủ trương
sau khi dùng ý niệm chân xác để chấn chỉnh những tư duy sai lạc ban đầu,
hành giả phải đi vào thực tập thiền quán để tạo sự định tâm. Từ chỗ định
tâm ấy, hành giả nhìn rõ vạn pháp và những chấp thủ sai lầm sẽ vỡ tan.
Ðến đây hành giả dấn thân vào đời đem an lạc hạnh phúc cho nhiều người.
Chúng sẽ tuần tự đi từ những ý niệm chân xác trong phần tu tập quán phá
ngũ uẩn trên cơ sở vô thường, vô ngã của Kinh tạng Nikãya và A hàm tức là
nghĩa KHÔNG về mặt hiện tượng giới, đi vào cái KHÔNG bản thể, vượt khỏi
ngôn từ lý luận, thuộc Kinh tạng Ðại thừa. Qua đó, nêu bật ý nghĩa
Phật giáo Ðại Thừa và Phật giáo Nguyên Thủy là một thể thống nhất, và Phật
giáo Ðại thừa là sự phát triển tư tưởng Phật giáo đến mức hoàn thiện trên
nền tảng Phật giáo Nguyên Thủy đã đem đến cho đời những bông hoa tròn đầy
hương sắc.
Ngũ Uẩn và Vô Ngã:
Vạn vật xoay vần
theo năm tháng, con người sanh ra với hai bàn tay trắng, đến khi nhắm mắt
lìa đời đi cũng chỉ trắng tay. Suy rộng ra, vạn vật có sanh rồi diệt
biến hoại theo thời gian, thoạt có, thoạt không, không vật nào tồn tại lâu
dài, không có một cái ngã nào chắc thật.
‘Thảo nào khi mới
chôn nhau
Ðã mang tiếng khóc
ban đầu mà ra
Khóc vì nỗi thiết
tha sự thế
Ai bày trò bãi bể
nương dâu
Trắng răng đến bạc
mái đầu
Tử sinh khinh cụ làm
nao mấy lần.’
(Cung Oán Ngâm Khúc - Ôn Như Hầu)
Sự thật là thế.
Nhưng con người đau khổ vẫn hoàn khổ đau. Vì có mấy ai nhận ra chân
tướng của cuộc đời? Ðức Phật dạy:
‘Ví như này các Tỳ
kheo, sông Hằng này vẫn chảy mang theo một đống bọt nước lớn. Có người có
mắt nhìn đống bọt nước ấy, chuyên chú, như lý quán sát. Do nhìn chuyên chú
như lý quan sát nó, đống bọt ấy hiện ra rõ ràng là trống không, không có
lõi cứng. Làm sao, này các Tỳ kheo lại có lõi cứng trong đống bọt nước ấy
được?
Cũng
vậy, này các Tỳ kheo, phàm có sắc gì .. thọ gì... tưởng gì ... hành gì ..
thức gì, Tỳ kheo nhìn chuyên chú, như lý quan sát, thức ấy hiện ra trống
không. . Thấy vậy, này Tỳ kheo, vị đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với
sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Do nhàm chán vị âý ly tham. Do ly tham vị ấy
giải thoát’
Chỉ cần nhìn kỹ
nhiều lần từng uẩn, ta sẽ thấy nó do vạn duyên kết hợp. Thí như ngôi
nhà do cát, đá, ciment, nhân công .. hợp thành. Gạch ngói đó lại do công
thợ, đá, đất, núi non .. tao ra,suy mãi ta sẽ thấy nó là trùng trùng
duyên khởi. Con ngưòi cũng thế:
‘Từ vô
thỉ đến nay, kẻ nam người nữ thương yêu nhau, đầu tiên là do hình sắc dung
mạo. Ðối với các hình sắc đó mà phát sanh ái lạc.. mong cầu được lạc thọ
sắc đó. Tho ấy do ý tưởng điên đảo mà sanh ra. Ý tưởng điên đảo lại sanh
từ nghiệp phiền não (Hành uẩn) và nghiệp phiền não ấy lấy thức làm chỗ
nương dựa. Do đó có thứ lớp từ sắc, thọ, tưởng, hành, thức.’
Cái gọi là tự ngã
của sắc, thọ, tưởng, hành, thức hay cái ‘Ta’ thực sự là mộng mị, trống
rỗng. Nếu có sự cảm nhận hạnh phúc của con người chỉ là cảm thọ thuộc thọ
uẩn, mà con người lầm tưởng là mục tiêu lý tưởng cho các ngành xã hội,
giáo dục đã làm chết đuối con người trên đường tìm hạnh phúc cho mình:
‘Trẻ tạo hóa đành
hanh quá ngán
Chết đuối người trên
cạn mà chơi
Lò cừ nung nấu sự đời
Bức tranh vân cẩu vẽ
người tang thương’
(Cung oán ngâm khúc - Ôn Như Hầu)
Chính tư duy hữu
ngã của con người đã làm sanh khởi bao dục vọng, tham lam, ích kỷ, sân
hận.. đã tạo ra nền văn hóa, văn minh nhân loại hiện nay với các khủng
hoảng môi sinh, đạo đức xã hội và chiến tranh triền miên. Ðạo Phật không
giải phóng con người ra khỏi vỏ bọc vật chất đang hiện hữu, chỉ muốn giải
phóng chúng sinh ra khỏi các tư duy hữu ngã đang trói buộc chúng sanh mà
thôi.
Thế giới hữu tình
cũng như vô tình là sự chuyển dịch theo quy luật nhất định. Cho nên,
các pháp phải vô thường, vô ngã. Tư duy hữu ngã bắt nguồn từ vô
minh, tham ái choàng phủ lên sự vật kéo nó về làm ngã và ngã sở của chính
mình. Khi ấy con người tưởng mình là chủ nhân của thế giới, nhưng
thật ra đã là nô lệ ngay từ giây phút ban sơ của tư duy hữu ngã. Bi kịch
cuộc đời phát sanh từ đây. Cái gì phát sanh từ hữu ngã thì luôn có
giới hạn. Do bản chất năm uẩn là vô ngã nên chúng ta có thể tự cải
tạo bản thân, nhưng phải hiểu rõ và quyết tâm thoát ly chúng. Cần
luôn duy trì ý niệm năm uẩn là duyên sanh, không thật có, xa lìa những
duyên tạo ra chúng thì chúng sẽ tự tiêu. Ðức Phật dạy:
‘Nếu một
người không nhìn sắc, thọ, tưởng, hành, thức là tự ngã thì khi năm uẩn
biến đổi, ưu não không khởi lên nơi vị ấy và vị ấy không chấp thủ hay ưu
não về bất cứ điều gì. Này các Tỳ kheo, sắc là vô ngã nên sắc dẫn đến khổ
não và không thể mong rằng: sắc của tôi là như thế này; sắc của tôi không
như thế này. Tương tự như vậy với thọ, tưởng, hành, thức’
Về quán sâu và vô
ngã, bài kinh số 9 của Kinh Tăng Nhất A Hàm có kể về chuyện Tôn giả
Bà-kỳ-xá trên đường vào thành khất thực cùng Tôn giả A Nan, trông thấy có
một cô gái đẹp, tâm liền rối loạn, mất bình tĩnh. Tôn giả liền thưa
Tôn giả A Nan và được Tôn giả A-Nan hướng dẫn cách đối trị. Trên đường về,
thấy cô gái kia nhìn mình mỉm cười. Tôn giả Bà-kỳ-xá liền sanh tưởng niệm:
‘Nay hình thể của người là xương đựng da bọc như cái bình vỡ bên trong
chứa đồ nhơ nhớp, mê hoặc, khiến người đời cuồng loạn .. 36 vật (tóc,
lông, máu, mủ..) thảy đều nhơ nhớp, cái vật này từ đâu sanh?’ Rồi Tôn giả
lại quán tự thân :’Dục này từ đâu sanh? Từ địa.. thủy.. hỏa.. phong chủng
sanh chăng?. Ðịa chủng cứng rắn không thể phá hoại.. Thủy chủng mềm yếu
không thể giữ gìn.. Hỏa chủng không thể giữ được.. Phong chủng vô hình
cũng không thể giữ’. Tôn giả bèn nghĩ dục chỉ từ tư tưởng sanh liền
nói kệ:
‘Dục ta biết
gốc ngươi
Chỉ do tư tưởng
sanh
Ta không tư
tưởng ngươi
Thì ngươi không
hề có’
Nói kệ
xong Tôn giả lại suy xét về bất tịnh, nhờ đó tâm hữu lậu được giải thoát.
Sau khi nghe Tôn giả trình bày về chỗ tự giác của mình. Ðức Phật đã khen
ngợi Tôn giả rằng: ‘Lành thay Bà-kỳ-xá! Khéo thay quán sát gốc ngũ ấm này.
Ông nên biết, phận người tu hành phải quán sát gốc ngũ ấm này đều không
bền chắc.. Vì khi Ta quán ngũ ấm dưới cội cây bồ đề thành Vô Thượng Chánh
đẳng giác cũng như ông quán ngày nay vậy.’
‘Một vài người xem ngã có nghĩa là cái gì thường
được gọi là TÂM hay THỨC nhưng Ðức Phật dạy rằng chẳng thà người ta nên
xem thân xác vật lý của mình như là NGÃ còn hơn. Vì tâm, ý hay thức thì
biến đổi không ngừng, ngày cũng như đêm, còn mau chóng hơn cả thể xác.’
Sự phủ nhận của Ðức
Phật về cái ngã, linh hồn núp sau sự tập hợp của các uẩn không làm cho đời
người Phật tử phiền muộn. Trái lại, một Phật tử chân chánh luôn hạnh phúc,
an lạc và không hề lo lắng, sợ hãi, đảo điên.. vì đã biết mọi vật đúng như
thật.
Thế Tôn dạy năm uẩn
là vô ngã nhằm giúp chúng sanh nhổ ngay mũi tên độc chấp ngã và ngã sở,
đoạn tận tham ái. Chính do nguyên nhân này, Ðức Phật không trả
lời về những câu hỏi siêu hình như ‘Như Lai có hay không tồn tại sau khi
chết..’ Vì chúng là sản phẩm của tư duy nhị nguyên đầy ngã tính. Ðức
Phật dạy:
‘Người
ngu có thể tìm kiếm cái ngã bằng cách nhấc các uẩn lên, nhưng họ không thể
tìm thấy nó. Trong khi người trí nhìn thấy nó và nhờ đó mà được giải
thoát.’
Ðức Phật được tôn
xưng là Ðấng Pháp Vương vì Ngài tự tại đối với tất cả Pháp, Dù ở đâu Ngài
cũng không bị dính mắc vào cảnh trần, không bị lệ thuộc vào năm uẩn.
Là hàng đệ tử Phật, muốn noi gương Ngài chúng ta thường xuyên quán vô ngã.
Có vậy, những phiền não khổ đau sẽ là chất liệu giải thoát cho sự tu tập,
hoặc sẽ được coi là chuyện bình thường không có gì bận tâm. Khi chưa
thuần thục, tâm ta còn nhiều ngã chấp thì dễ đau khổ vì lời nói độc; Khi
hết ngã chấp thì khổ đau không còn, nên Ðức Phật dạy:
‘Như ngọn núi
kiên cố
Không gió nào
lay động
Cũng vậy, giữa
khen chê
Người trí không
giao động’
(Pháp Cú 81)
Con đường chân chánh
đưa đến hạnh phúc vốn ở ngay trong mỗi chúng ta, trong cái nhìn của chúng
ta về sự vật. Ðó chính là chánh kiến nhìn thấy mọi hiện hữu,ngũ uẩn là vô
ngã, đưa con người đến chỗ giải thoát, thanh tịnh, an vui như lời Phật
dạy:
‘Tất cả Pháp
vô ngã
Với tuệ quán
thấy vậy
Ðau khổ được
nhàm chán
Chính con đường
thanh tịnh’
(Pháp Cú 279)
Ngũ uẩn giai không:
Kinh
tạng nguyên thủy đã đưa ra một giá trị chân xác về con người và cuộc đời
nhằm chấp ngã và ngã sở do con người mê muội nhận lầm sanh khổ đau. Ðó là
Vô ngã luận với Niết Bàn là lý tưởng tối cao. Qua thời kỳ Phật Giáo phát
triển, Kinh tạng Ðại Thừa mở đầu bằng Kinh Bát Nhã vẫn chú trọng đến vấn
đề thoát khổ của nhân sanh. Những vấn đề này được tóm lược thành Bát Nhã
Tâm Kinh với phần trọng tâm nằm ở câu đầu: ‘Quán Tự Tại Bồ Tát hành
thâm Bát Nhã BaLa Mật Ða thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất
thiết khổ ách.’ Bát Nhã đã hướng dẫn con người dùng trí huệ quán chiếu
năm uẩn là không. Mặt khác, người tu học theo tinh thần Bát Nhã có thể
trực nhận được chân tâm của mình và tất cả những nỗi thống khổ trong cuộc
đời sẽ được hóa giải nhẹ nhàng.
Trước hết, ngũ uẩn
giai không xét về mặt hiện tượng, cũng chính là ngũ uẩn vô ngã. Ðó
chính là tính nhất quán của Phật giáo nhẳm mục đích ‘Chuyển mê khai ngộ’
cho chúng sanh. Năm uẩn là không là vô ngã và năm uẩn là ‘Duyên sanh
vô tính’ do mối tương quan của các nhân duyên hợp thành, vận hành theo
công thức:
‘Khi
cái này có mặt thì cái kia có mặt’
‘Khi cái
này không có mặt thì cái kia không có mặt’[7]
Có thể nói duyên sanh là mối quan hệ nhân quả bất
khả phân giữa mọi sự vật. Mối quan hệ nhân quả này đã được Bồ tát Long
Thọ dùng để giải thích lý duyên sanh vô tính của ngũ uẩn trong phẩm Phá
Ngũ Uẩn của Trung Luận.
Ngũ uẩn hòa hợp tạo
nên thân người, trên cơ sở đó con người trở lại chấp ngã và ngã sở.
Do đó, cần tu tập ngay nơi thân ngũ uẩn, phát triển trí huệ quán năm uẩn
là không thì sự chấp ngã và ngã sở không còn lý do tồn tại; Khi không còn
nhân tạo nghiệp, thì không còn quả khổ.
Cổ đức dạy:
‘Nếu
không có gió quét mây mù, sao thấy được trời xanh vô tận’
Ðây là chỗ mà Kinh
Lăng Già nói:
‘Khi các
uẩn được phân tích, có cái nhận thức và có cái được nhận thức, do bởi hiểu
khía cạnh này của tương đố tính, cái trí (cái biết) thật sự được sinh ra.’
Pháp Dung thiền sư
nói:
‘Sắc tâm không nuôi dưỡng
Tư không vốn vô niệm
Thọ ngôn do nghiệp sanh
Pháp sanh chưa từng có
Ðâu cần Phật chỉ bày’
Sắc tâm chính là ngũ
uẩn, không thật có. Tư là hành uẩn, không thực thể. Thọ ngôn
là cảm thọ và ngôn ngữ do phân biệt mà sanh. Còn các pháp xưa nay vốn tánh
tịch diệt, dù có Phật ra đời hay không nó vẫn thế. Quán ngũ uẩn trên
cơ sở nhân như thế sẽ thành tựu KHÔNG. Vì ngũ uẩn duyên sanh, thoạt
có, thoạt không, nên cũng gọi là như huyễn.
Do đó cần quan sát:
‘Quán sắc như
hòn bọt
Quán tưởng như
nắng dợn
Quán thọ như
bóng nước
Quán thức như
trò huyễn hóa’[9]
Quán hành như
thân chuối
Ðức Phật dạy các
pháp hữu vi là không thật có, không lâu bền. Ngũ uẩn là pháp hữu vi
nên sanh diệt hằng biến. Chỉ những ai còn trong vòng mê mờ trói buộc
mới cho là thật tướng.
Theo Nam tạng, thấy
rõ ngũ uẩn là vô ngã thì không còn chấp thủ uẩn là mình, của mình hay tự
ngã của mình. Chấp thủ diệt thì ái diệt, khổ diệt. Ðấy là ngõ
vào giải thoát. Tại đây, chúng ta có thể kết luận giáo lý năm uẩn là
giáo lý nền tảng của các bộ phái Phật giáo Bắc tạng cũng như Nam tạng.
Và ý nghĩa ‘Ngũ Uẩn
giai không’ trong Kinh Bát Nhã không dừng lại ở đây. Ðức Phật nói:
‘Ngũ uẩn vô ngã’ nhằm phá trừ kiến chấp hữu ngã trên thân ngũ uẩn, vì chữ
VÔ đây đối với HỮU mà thành lập. Do lẽ đó, trong vô thường tính của
hiện tượng chúng sanh giới, Phật nói Ngũ uẩn vô ngã. Còn ở trong bản
thể không hằng hữu, Phật nói Ngũ uẩn giai không. Ðây là hai mặt của
một vần đề không thể tách rời.
Chữ
KHÔNG theo Ngũ uẩn giai không là chỉ cho pháp duyên sanh không thật thể.
Về mặt tiêu cực, chữ KHÔNG này là phi hữu tính của mọi cá thể, đứg trên
phương diện đối đãi. Về mặt tích cực, nó chỉ cho tình trạng biến dịch,
chỉ cho dòng chuyển hóa liên tục của hiện tượng giới với chuỗi nhơn quả
triền miên. Còn theo ‘Ðệ nhất nghĩa đế’, cái KHÔNG này chỉ cho sự
đồng nhất bất biến của vạn hữu vũ trụ trong bản thể Chơn không gọi là ‘Ðương
thể tức không’.
Cái KHÔNG của Bát
Nhã là bản thể của tất cả các pháp, không thể dùng ngôn từ để suy lường vì
nó vượt ra ngoài cái biết của con người. Nó phá bỏ mọi hình thức cuối
cùng, ngay cả ý thức về giải thoát. Ðó là tính KHÔNG rộng lớn vô
biên trùm cả mười phương pháp giới, không phải là không ngơ.
Năm uẩn
và các pháp từ cái KHÔNG này mà có. Bản chất các uẩn đã không tự có, do
duyên hòa hợp nên không cố định. Sắc uẩn không cố định nên Bát Nhã nói ‘
Sắc tức là không’. Khi đủ duyên hợp thành sắc nên nói ‘Không
tức là sắc’. Thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy. Như thế, để
biết ngay nơi tánh của các pháp là không sanh không diệt mà tướng thì giả
tạm sanh diệt. Tánh tướng như sóng và nước, không rời nhau. Biết tướng
pháp như huyễn, tánh không như huyễn thì không chấp chặt chạy theo huyễn
tướng của thân này nữa. Do đó, phá được ngã chấp và pháp chấp, thể nhập
‘Pháp môn bất nhị’ thấy các pháp trong vòng đối đãi đều là huyễn
hóa. Kinh Lăng Nghiêm nói:’ Niết bàn sanh tử đẳng không hoa’.
Trong kinh Pháp Bảo
Ðàn, phẩm Chúc Lụy, ngài Lục Tổ dạy đệ tử rằng:
‘Sau này có người
đến hỏi đạo, phải đáp ngược lại câu hỏi, như hỏi:
- Thế nào là phiền
não? - Ðáp: Mê bồ đề.
Hỏi : Thế nào là mê
bồ đề? - Ðáp: Theo phiền não ... ‘ Như vậy để chúng ta thấy các pháp
không hai, nghĩa là hết phiền não, tức là Bồ đề. Danh từ hình tướng đều
là pháp huyễn’
Qua đó chúng ta thấy
Ðại Thừa chủ trương diệt vọng tưởng bằng cách biết ngũ uẩn đương thể tức
KHÔNG thì phiền não tức bồ đề, sanh tử tức Niết bàn. Lý do không bi quan
của đạo Phật là thấy ngũ uẩn là huyễn hóa để đạt được cái không huyễn hóa,
chính là Pháp thân ngay trong thân huyễn hóa này và chỉ có người đạt đạo
mới thấy được. Như Ngài Vĩnh Gia Huyền Giác trong Chứng Ðạo Ca:
‘Vô minh thật tánh tức Phật tánh
Ảo hóa không thân tức Pháp thân’
Từ chỗ ngộ lý KHÔNG
này Bồ tát vào đời độ sanh với tâm từ bi vô hạn lượng:
‘Bồ tát giống
Thanh Văn, thấy tất cả mọi vật trên cuộc đời đều hoàn không. Nhưng Duy Ma
nhắc Văn Thù thăm bệnh Bồ tát nhân gian nên nói với họ rằng: Tất cả đều
trở về không, thấy pháp giả, không bền chắc nhưng đừng bỏ hạnh Bồ tát, bỏ
chúng sanh’
Cũng thế, ngộ được
lý KHÔNG rồi các vị thiền sư đối cảnh an nhiên tự tại, tùy duyên mà độ
sanh. Sắc không chỉ là lẽ thường của cuộc đời:
‘Thân như tường
bích dĩ đồi thì
Cử thể thông
thông thục bất bi
Nhược đạt tâm
không vô sắc tướng
Sắc không ẩn
hiện nhậm suy di’
Dịch nghĩa:
‘Thân như tường
vách đã lung lay
Ðau đáu người đời
lắm xót thay
Nếu đạt tâm không
không tướng sắc
Sắc không ẩn hiện
mặc vần xoay.’[12]
Vì Kinh Bát Nhã được
xem là mẹ của các kinh điển Ðại Thừa, nên tư tưởng ;’Ngũ uẩn giai không’
cũng bàng bạc trong các kinh thuộc hệ thống Phật giáo Ðại Thừa như Lăng
Nghiêm, Hoa Nghiêm, Duy Ma, Pháp Hoa... Những bộ kinh này với hình thức ‘Chơn
không diệu hữu’ đã hoàn thành tư tưởng hệ Bát Nhã về mọi phương diện,
tạo nên hình thức phong phú của Phật Giáo hòa nhập vào dòng đời trôi chảy
linh động, đem lại an lạc cho bất cứ ai tìm đến để mà thấy.
---> Xem phần tiếp theo