XÂY DỰNG
HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH
HT Thích Thắng Hoan
|
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
I. VÀO ĐỀ
II. ĐỊNH NGHĨA
III. TINH THẦN DUYÊN SANH
1.GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH:
a)- Lãnh Vực Gia Tộc:
b)- Lãnh Vực Cộng Đồng Và Xã Hội:
2. GIÁ TRỊ NƯƠNG TỰA:
a)- Giai Đoạn Ấu Thơ:
b)- Giai Đoạn Trưởng Thành:
c)- Giai Đoạn Tuổi Già:
3.GIÁ TRỊ CHỨC NĂNG:
a. Định Nghĩa
b.Ý Niệm
IV.- XÂY DỰNG HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH TRÊN TINH THẦN LỤC HÒA
1.- THÂN HÒA CÙNG CHUNG Ở:
(Thân Hòa Đồng Trụ)
A)- Đối Với Gia Đình:
1)- Thánh Thiện Hóa Giá
Trị Lập Gia Đình:
2)- Tôn Trọng Và Kính Nể
Lẫn Nhau:
3)- Xây Dựng Đức Tin Cho
Nhau:
4)- Quan Tâm Chăm Sóc
Nhau:
5)- Hòa Hợp Trong Việc Xây
Dựng Gia Đình:
B)- Đối Với Con Cái:
1)- Thường Xuyên Phải Cho
Con Bú Sữa Mẹ:
2) -Đừng Hun Hít Âu Yếm Khi
Con Mình Đang Ngủ:
3)- Tạo Tình Cảm Nương Tựa
Giữa Cha Mẹ Và Con Cái:
4)- Hướng Dẫn Con Cái Về
Đạo Đức Và Hiếu Hạnh:
5)- Đừng Chen Lấn Vào Đời
Sống Gia Đình Của Con Cái:
6)- Không Nên Đem Tôn Giáo
Vào Gia Đình:
C)- Đối Với Người Thân:
1)- Phải Tôn Kính Cha Mẹ
Hai Bên:
2)- Thường Xuyên Vấn An
Sức Khỏe Cha Mẹ Hai Bên:
3)- Khuyến Khích Và Giúp
Đỡ Cha Mẹ Trong Việc Tu Tập Đạo Đức:
D)- Đối Với Xã Hội:
1)- Khiêm Cung Đối Với Mọi
Người:
2)- Thể Hiện Đức Hạnh Của
Bậc Trượng Phu Và Thục Nữ:
3)- Loại Bỏ Những Chuyện
Thị Phi Ở Đời:
2.- MIỆNG HÒA KHÔNG TRANH CẢI:
(Khẩu Hòa Vô Tránh)
1)- Nhẫn Nhục Để Vượt Qua
Mọi Trở Lực:
2)- Ái Ngữ Trong Việc Đối
Xử:
3)- Thắc Mắc Cần Phải Giải
Tỏa:
3.- Ý HÒA CÙNG HOAN HỶ: (Ý Hòa Đồng Duyệt)
1)- Bất Cứ Ai Có Ý Kiến
Hay Nên Tán Đồng Và Chấp Nhận:
2)- Hãy Nuôi Ý Tốt Đẹp Đối
Với Nhau,
Hãy Trao Dồi Đức Hỷ
Xả:
4.- GIỚI HÒA CÙNG TU TẬP:(Giới
Hòa Đồng Tu)
1)- Phải Giữ Tròn Luật Lệ
Gia Đình:
2)- Phải Giác Ngộ Lý Nhân
Quả Để Tránh Những Thói Hư Tật Xấu Của Xã Hội:
3)- Trau Dối Trí Tuệ Sáng
Suốt Để Giải Quyết Mọi Vấn Đề Gia Đình:
4)- Lấy Đạo Đức Từ Bi Cư Xử
Với Nhau:
5)- Phải Tu Tập Giới Luật
Đã Thọ Cho Được Thanh Tịnh Để Tiêu Biểu Đạo Đức Làm Người:
5.- KIẾN HÒA CÙNG NHAU GIẢI BÀY: (Kiến
Hòa Đồng Giải)
1)- Trao Đổi Ý Kiến Với
Nhau Cùng Hiểu:
2)- Chia Xẻ Với Nhau Khi
Thất Bại:
3)- Phải Biết Cách Sống Để
Được Hạnh Phúc Bền Lâu:
4)- Khuyến Khích Với Nhau
Trong Việc Tu Học, Phước Thiện:
6.- LỢI HÒA CÙNG CHIA XẺ: (Lợi
Hòa Đồng Quân)
1)- Không Được Riêng Tư
Quyết Định:
2)- Phải Chi Tiêu Có Điều
Độ Đúng Theo Nhu Cầu Cần Thiết:
3)- Phải Dự Trù Trong Việc
Chi Tiêu:
4)- Phải Tri Túc Trong Nếp
Sống:
V.-KẾT LUẬN:
VI.-NGHI THỨC LỄ THÀNH HÔN
VII.- WEDDING CEREMONY
NHỮNG
KINH LUẬN THAM KHẢO |
LỜI MỞ ĐẦU
Thật là bất hạnh, giới trẻ mới lớn lên khi bước chân vào đời qua
cánh cửa gia đình đa số đều thất vọng chua cay, bao nhiêu lý tưởng cuộc
đời đều sụp đổ trôi sông vì họ tự chuốc lấy nhiều khổ đau ngang trái hơn
là gặt hái được những hạnh phúc chân thật mà họ hằng ước mơ.
Phần đông giới trẻ nhìn cuộc đời
thấy toàn là hoa mộng, đầy trăng sao kết thành bức tranh đời linh hoạt,
một bản nhạc sống tuyệt trần. Nhưng chúng không thấy rằng phía sau cuộc
đời hoa mộng kia giăng mắc khắp nẻo đường trần đầy chông gai cay đắng.
Thật
ra giới trẻ không phải ích kỷ chỉ biết sống theo bản năng dục vọng
riêng tư và họ hết sức chăm sóc người họ thương yêu, nhưng vì khi lập
gia đình bắt đầu sống tự lập không được giáo dục chín chắn về hôn nhân
của những người lớn nhiều kinh nghiệm, không có phương thức xây dựng
hạnh phúc gia đình của các thế hệ trước trao truyền, chỉ đi trong sự mò
mẫm học lóm bên ngoài với tánh cách vá víu hời hợt. Họ ăn ở bắt chước
theo đường lối truyền thông đại chúng miêu tả, nào sách vở, báo
chí..v..v... diễn dịch có tánh cách lý luận triết học sinh lý mập mờ
thiếu kiểm chứng, cho nên không thể áp dụng được. Cũng vì những lý do
trên, tôi cho ra tác phẩm với nhan đề là “Xây Dựng Hạnh Phúc Gia Đình”
ngỏ hầu giúp cho thế hệ trẻ một cẩm nang sống đúng ý nghĩa của một con
người trên lãnh vực hạnh phúc gia đình. Nhan đề “ Xây Dựng Hạnh Phúc
Gia Đình” đúng ra gọi cho đủ là “Những Điều Kiện Căn Bản Xây Dựng Hạnh
Phúc Gia Đình Theo Tinh Thần Phật Giáo” mới đúng ý nghĩa của nội dung
trong tác phẩm này muốn trình bày.
Thật là trớ trêu và buồn cười,
tôi là một ông thầy tu, xuất gia vào chùa lúc lên 8 tuổi và hiện nay,
năm 2007 đã đến 80 tuổi rồi, đã hoàn toàn không biết chút nào về chuyện
đời mà lại bàn luận đến “Những Điều Kiện Căn Bản Xây Dựng Hạnh Phúc
Gia Đình Theo Tinh Thần Phật Giáo”. Những điều tôi trình bày trong
tác phẩm này chưa chắc được mọi người tin tưởng mà tin tưởng sao được
khi một người không biết đời là gì lại bàn đến những chuyện không có
chút kinh nghiệm. Đúng ra tôi viết nên tác phẩm này là nhờ căn cứ theo
tinh thần của các Kinh Luận, như các bộ Kinh Nikàya, phối hợp bốn bộ A
Hàm, Kinh Đại Niết Bàn, các bộ Duy Thức Luận, ..v..v.... trong đó có
Kinh Thi Ca La Việt (Singàlaka); ngoài ra tôi còn căn cứ theo tinh thần
Tâm Lý Học, Sinh Lý Học, Xã Hội Học mà tôi đã học qua trong khi còn là
một sinh viên, chẳng những thế tôi còn góp nhặt những sự kiện của một số
gia đình Việt Nam đã xảy ra ở hải ngoại mà tôi làm cố vấn tinh thần. Căn
cứ theo tinh thần trong các Kinh Luận, nghĩa là tôi đã căn cứ theo những
điều mà đức Phật đã chỉ dạy trong các Kinh Luận về hạnh phúc gia đình
viết nên tác phẩm này mà không phải căn cứ theo những lời chỉ dạy trong
bối cảnh của lịch sử thời đại ngày xưa. Bối cảnh lịch sử của thời đại
ngày xưa không phải là bối cảnh lịch sử của thời đại ngày nay, nhưng
tinh thần của đức Phật chỉ dạy trong các Kinh Luận về hạnh phúc gia đình
thì có giá trị tuyệt đối ở bất cứ thời đại nào, chẳng những có giá trị
từ ngàn xưa mà còn có giá trị mãi cho đến ngàn sau. Mặc dù tôi không có
chút kinh nghiệm nào về hạnh phúc gia đình, nhưng những điều kiện căn
bản mà tôi viết trong tác phẩm này chính là những nguyên tắc sống để có
hạnh phúc mà không cần đòi hỏi phải có kinh nghiệm mới viết được, vì
những điều kiện đó đều đặt trên nền tảng đời sống tâm thức để xây dựng.
Người đời thường bình luận về hạnh phúc gia đình luôn luôn đặt trên nền
tảng vật chất để xây dựng, nào phải có tiền của nhiều, tài năng giỏi,
học vấn cao, sắc đẹp tốt..v..v.... mới có hạnh phúc. Nhưng thực ra những
thứ đó càng lôi cuốn dục vọng càng phát triển, ham muốn càng nhiều, lòng
tham càng đòi hỏi, nếu không đáp ứng thỏa mãn nhu cầu của dục vọng thì
phiền não càng chồng chất và như thế đời sống làm sao có được hạnh phúc
chân thật. Đời sống tâm thức có được xây dựng thì chồng vợ mới có hiểu
biết nhau, có thông cảm nhau, mới có chia xẻ cay đắng ngọt bùi với nhau
trên mọi nẻo đường đời chông gai quanh co khúc khuỷu và được như thế đôi
chồng vợ mới gặt hái được hạnh phúc thực sự.
“Những Điều Kiện Căn Bản Xây Dựng
Hạnh Phúc Gia Đình Theo Tinh Thần Phật Giáo” mà tôi sáng tác đều được
thiết lập trên quy chế Sáu Pháp Hòa Kính của đức Phật chỉ dạy để làm
phương châm cho nếp sống tập thể của một gia đình. Sáu Pháp Hòa Kính,
gọi tắc là Lục Hòa là quy chế của đức Phật sáng lập dành cho tập thể
người xuất gia sống trong tinh thần hòa hợp, tương kính, tương thuận để
cùng nhau tu tập đạo giác ngộ và giải thoát. Theo tôi, một gia đình cũng
là một tập thể nhỏ, đã sống chung thì nhất định phải có tinh thần hòa
hợp, tương kính, tương thuận mới đồng lòng để tát cạn biển Đông. Tác
phẩm này tuy không phải khuôn vàng thước ngọc nhưng dù sao đi nữa cũng
là cẩm nang cần thiết cho những thế hệ trẻ lúc ban đầu khi bước chân vào
đời khỏi bị vấp ngả đớn đau. Cha mẹ nào muốn dựng vợ gả chồng cho con
cái của mình nên bắt chúng học thuộc lòng cẩm nang này trước khi tiến
tới hôn nhân.
Vấn đề hạnh phúc gia đình, tôi khi còn ở Học Đường Ấn Quang,
trong lớp Trung Đẳng có học qua, nhưng không chút quan tâm, chỉ chuyên
tu học những tư tưởng triết học của Phật Giáo cho được thông suốt. Lúc
đó tôi quan niệm rằng, vấn đề hạnh phúc gia đình là chuyện của thế gian
thường tình, không phải là pháp môn vô lậu giải thoát, cho nên không
thích hợp với những người xuất gia như tôi để tâm đi sâu vào nó. Đến khi
ra nước ngoài, tôi đi hoằng pháp khắp nơi, nhất là ở nước Mỹ và nước
Canada, gặp rất nhiều Đạo Hữu hỏi tôi trong Phật Giáo có Kinh nào dạy
cách xây dựng hạnh phúc gia đình, cũng như một số thanh niên Phật Tử
cũng hỏi tôi về vấn đề trên. Đó cũng là những lý do thúc đẩy tôi phải
nghiên cứu lại các kinh điển của Phật Giáo và viết thành tác phẩm này.
Nội dung trong tác phẩm này chưa hẳn không có khuyết điểm, nguyên nhân
là vì tác giả hoàn toàn chưa có kinh nghiệm trên lãnh vực tình yêu,
nhưng dù sao cũng là khởi điểm lúc ban đầu cho những tư tưởng mới đáng
giá và thiết thực xuất hiện qua những ngòi bút đầy kinh nghiệm hơn. Tôi
hy vọng sẽ đón nhận rất nhiều sáng kiến đầy kinh nghiệm và thiết thực
của quý đọc giả bốn phương để bổ xung tác phẩm này cho được hoàn hảo,
mong làm sao cho các thế hệ trẻ bước chân vào đời có một cẩm nang gối
đầu quan yếu cho việc xây dựng hạnh phúc gia đình.
Cẩn bút
Phật Lịch 2551, năm Mậu Tý, ngày 4
tháng 3 năm 2008
TỊNH THẤT VIÊN HẠNH
Sa Môn THÍCH THẮNG HOAN.
I.-
VÀO ĐỀ:
Vấn đề hạnh phúc gia đình là vấn đề trọng đại trong cuộc sống của
con người. Từ xưa đến nay không có người nào không bôn ba khắp mọi nẻo
đường đời để đi tìm hạnh phúc chân thật cho lẽ sống, nhưng họ hoàn toàn
thất bại vì không biết bản chất của hạnh phúc là như thế nào và phải đi
tìm ở đâu. Phần đông họ tưởng rằng hạnh phúc phát xuất từ bên ngoài và
trên lạc thú vật chất. Cho nên họ thi đua đổ rất nhiều công sức xây dựng
hạnh phúc gia đình trên ngũ dục lạc của thế gian, như xây dựng trên tiền
tài, trên sắc đẹp, trên danh vọng, trên ăn uống, trên ngủ nghỉ, rồi đi
vào thực tế những người đó không có chút nào hạnh phúc cả. Người giàu có
cái khổ của người giàu, người nghèo có cái khổ của người nghèo, người
quan quyền có cái khổ của người quan quyền, người thứ dân có cái khổ của
người thứ dân..v..v...., nghĩa là gia đình nào cũng có thảm cảnh riêng
của họ.
Họ không biết rằng hạnh phúc chân
thật đều phát sanh từ nơi tâm linh của mỗi con người và phải được xây
dựng trên tinh thần hòa hợp thân thương. Trong sự sống chung hằng ngày,
bất hòa là một tai họa không gì bằng.
-
Trong gia đình, vợ chồng không hòa thì gia nghiệp không thành, con cái
khổ sở vì xa cha hoặc xa mẹ.
- Trong xã hội, xóm làng không hòa thì sanh ra rầy rà, kiện cáo, chém giết lẫn
nhau,
- Quốc gia không hòa thì sanh ra
giặc giả loạn lạc, dân chúng khổ sở,
-
Nhân loại không hòa thì chiến tranh tiếp diễn, nhân sanh điêu đứng, suy
tàn.
Vì sự bất hòa vô cùng nguy hiểm
cho nếp sống tập thể, thế nên đức Phật mới chế ra Pháp Hòa Kính,
Pháp Hòa Kính gồm có sáu loại, gọi chung là Lục Hòa.
II.- ĐỊNH NGHĨA:
Lục là sáu, Hòa là hòa kính,
nghĩa là hòa thuận và kính nể lẫn nhau. Lục Hòa là sáu pháp hòa kính,
nghĩa là sáu phương pháp cư xử hòa thuận, tôn trọng và kính nể lẫn nhau
trong sự sống chung. Hòa ở đây không phải nhu nhược mà nhằm mục đích làm
lợi lạc cho tất cả, gây hạnh phúc cho tất cả, trong đó có ta và người.
Muốn xây dựng hạnh phúc gia đình
trên tinh thần Lục Hòa cho được hữu hiệu, trước hết chúng ta cần phải ý
niệm rõ tinh thần duyên sanh của Phật Giáo.
III.- TINH THẦN DUYÊN SANH:
Duyên sanh gọi cho đủ là nhân
duyên sanh. Tinh thần duyên sanh, nghĩa là tất cả pháp trong thế gian
đều quan hệ lẫn nhau để sanh tồn, để phát triển, cái này có thì cái kia
có, cái này không thì cái kia không, cái này sanh thì cái kia sanh, cái
này diệt thì cái kia diệt, bác sĩ sống được là nhờ bệnh nhân hổ trợ và
bệnh nhân sống được là nhờ bác sĩ trị liệu, cho đến cỏ cây sống được là
nhờ con người cung cấp thán khí và con người sống được là nhờ cỏ cây
cung cấp dưỡng khí,..v..v.... Tất cả đều nói lên tinh thần duyên sanh
cả, cho nên nhà thơ có câu:
“ Cây thường cho ta dưỡng khí
để ta sống góp mặt đời, Ta thường cho cây thán khí để cho cây lá khoe
tươi”
(Thắng Hoan Thi Tập)
Trên tinh thần duyên sanh, con người muốn sống có ý nghĩa để được
hạnh phúc chân thật trước hết cần phải ý niệm những điều cơ bản sau đây:
Giá trị gia đình, giá trị nương tựa và giá trị chức năng.
1. GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH:
Gia đình là căn bản của gia tộc,
của cộng đồng, của xã hội. Sự giá trị này có hai lãnh vực:
a-Lãnh Vực Gia Tộc:
Lãnh vực gia tộc là căn cứ trên
dòng họ định mức giá trị quan hệ. Gia tộc là bao gồm nhiều đơn vị gia
đình cùng chung một dòng họ. Gia tộc có giá trị là khi nào mỗi gia đình
sống có ý nghĩa, có đạo đức, có hạnh phúc chân thật. Sự quan hệ giữa gia
đình và gia tộc trên hai phương diện: quan hệ vật chất và quan hệ tâm
linh.
1)- Sự Quan Hệ Vật Chất:
Con người gồm có hai phần: phần
vật chất và phần tâm linh. Hai phần này hòa hợp chặt chẻ tạo thành con
người, trong đó phần tâm linh đứng vai chủ tể trong mọi lãnh vực sinh
hoạt đời sống. Riêng về phần vật chất, con người quan hệ như thế nào với
gia đình với gia tộc.
Thân thể
người con chính là máu huyết của cha mẹ trao truyền. Thân thể cha mẹ
chính là máu huyết của ông nội bà nội của ông ngoại bà ngoại hai họ hòa
hợp trao truyền. Thân thể ông nội bà nội cũng do máu huyết của ông
cố bà cố hai họ trao truyền, cứ như thế lần lên đến cao tằng tổ
khảo..v..v.....
Cũng từ ý nghĩa quan hệ đó, chúng
ta ý niệm được rằng, thân thể chúng ta toàn diện chính là máu huyết của
cha mẹ nẩy nở và phát triển, cũng giống cây đậu xanh toàn diện là do hạt
đậu xanh nẩy nở và phát triển. Không những sự có mặt máu huyết của cha
mẹ khắp trong thân thể chúng ta cả đến sự có mặt máu huyết của dòng họ
tông môn nhiều đời trong thân thể chúng ta. Trong tinh thần duyên sanh
của các pháp, chúng ta là những kẻ có kiến thức đôi chút không thể phủ
nhận ý nghĩa quan hệ này trên lãnh vực vật chất.
2)- Sự Quan Hệ Tâm Linh:
Con người ngoài sự quan hệ về vật chất còn có quan hệ về tâm linh.
Tâm linh của con người là chúa tể của mọi sự sống, tâm linh hiện hữu thì
con người tồn tại, tâm linh giả biệt thì con người biến hoại, tâm linh
thánh thiện thì cuộc sống của con người thăng hoa, tâm linh sa đọa thì
lôi cuốn con người đi vào vực thẩm đen tối của cuộc đời. Ý niệm được
hạnh phúc an lạc cho lẽ sống cũng do tâm linh và chuốc lấy những thất
vọng chán chường khổ đau của cuộc đời cũng từ nơi tâm linh.
Sự quan hệ của tâm linh con người
đối với gia tộc như thế nào? Theo tinh thần duyên sanh, tâm linh của con
cháu đối với tâm linh của dòng họ gia tộc quan hệ đến bảy đời, thường
gọi là quan hệ thất tổ. Tâm linh của tổ tiên gia tộc chính là nguồn tâm
linh cung ứng trực tiếp cho con cháu qua hệ thống tâm linh của cha mẹ.
Nguồn tâm linh của tổ tiên dòng họ quan hệ với dòng tâm linh của con
cháu trong mỗi gia đình cũng tương tợ như nguồn điện lực của nhà máy
phát điện quan hệ với dòng điện các bóng đèn trong mỗi nhà. Nguồn tâm
linh của tổ tiên dòng họ cũng tương tợ như nguồn điện lực của nhà máy
phát điện, dòng điện lực của bình biến thế nơi mỗi khu vực cũng tương tợ
như dòng tâm linh của cha mẹ, đòng điện của mỗi con cháu trong gia đình
cũng tương tợ như dòng điện của mỗi bóng đèn trong nhà. Sự quan hệ của
tâm linh con người đối với gia tộc đúng như câu Tục Ngữ nhân gian thường
nói: “Cây có cội, nước có nguồn”, nghĩa là cây cối thì phải có
gốc rễ mới nẩy mầm sanh hoa trái, nước phải có cội nguồn thì mới tỏa
khắp rạch sông, làm con người thì ai cũng phải có cha mẹ tổ tiên.
Chúng ta cắt đứt mọi sự quan hệ
tâm linh với cha mẹ dòng họ tổ tiên, chỉ biết sống riêng tư với khả năng
của mình thì không khác nào bóng đèn cắt đứt mọi sự quan hệ với nguồn
điện lực của nhà đèn, chỉ quan hệ với bình điện nho nhỏ (Battery) của
riêng nó. Với hiện tượng này, dòng tâm linh cá nhân của mỗi con người tự
nó không đủ sức đương đầu với cuộc đời quá nhiều cạm bẩy khổ đau đen tối
dồn dập đưa đến, cũng như dòng điện của bóng đèn với bình điện nho nhỏ
(Battery) không đủ soi sáng một ngôi nhà quá cao rộng.
Sự quan hệ về mặt tâm linh vừa
trình bày trên cho chúng ta một ý niệm cụ thể rằng giữa chúng ta và cha
mẹ tổ tiên ông bà có mối tương quan tình cảm một cách chặt chẽ không thể
phân ly. Để tránh những sự bất hạnh sau này sẽ xảy ra cho đời sống của
mình, chúng ta không nên cắt đứt mọi sự quan hệ về mặt tâm linh với cha
mẹ tổ tiên ông bà bằng những cung cách bất kính, những cử chỉ thiếu lễ
độ mà còn phải nuôi dưỡng mối tương quan tình cảm nói trên qua sự kính
trọng, thương yêu, quý mến và thường xuyên quan tâm đến đời sống, đến
tình cảm của họ mà họ đã đặt hết niềm tin vào mình. Chúng ta nếu như cắt
đứt mọi sự quan hệ tình cảm với cha mẹ tổ tiên ông bà thì vô tình khiến
tâm linh của chúng ta bị tổn thương bị đau khổ vì đứa con bất hiếu.
Chúng ta giả như có thái độ bất hiếu với đấng sanh thành là nguyên nhân,
rồi sau này con cháu của chúng ta sẽ có thái độ bất hiếu với chúng ta và
sẽ làm cho chúng ta đau khổ cũng như chúng ta đã từng làm cho họ đau
khổ. Chúng ta có thể trốn khỏi luật pháp thế gian, nhưng không thể trốn
khỏi luật pháp nhân quả nghiệp báo.
b- Lãnh Vực Cộng Đồng và Xã Hội:
Sự quan hệ giữa con người, giữa gia đình với cộng đồng với xã hội
như thế nào? Trước hết chúng ta nhận xét tổng quát sự quan hệ giữa con
người và cộng đồng:
1)- Sự Quan Hệ Với Cộng Đồng:
Cộng đồng nghĩa là những người
sinh hoạt chung một nghề nghiệp, chung một tư tưởng, chung một quan
niệm. Cộng đồng bao gồm có các tôn giáo, các đoàn thể, các nghiệp
đoàn,..v..v..... Sự quan hệ giữa con người với các tôn giáo, các đoàn
thể, các xí nghiệp được nhận định như sau:
+ Một tôn giáo được xã hội tôn
kính và quy ngưỡng là do mỗi cá nhân của những tín đồ nơi tôn giáo đó
thể hiện được đạo đức qua lời nói, qua hành động, qua tư tưởng và họ
biết hòa hợp lẫn nhau trong cùng một nếp sống đạo đức mà chính họ đã
chọn tôn giáo đó làm lý tưởng. Ngược lại tôn giáo đó mất giá trị với xã
hội, mất niềm tin với mọi người là do những tín đồ của tôn giáo đó không
biểu tượng được tư cách đạo đức để làm gương mẫu cho chúng sanh quy
ngưỡng. Tư cách không tốt của một số tín đồ gây ảnh hưởng không nhỏ đến
với tôn giáo của họ nương tựa đúng như câu tục ngữ nhân gian thường nói:
“Con sâu làm sầu nồi canh”.
+ Một đoàn thể được mọi người
kính yêu và nương tựa là do mỗi thành viên của đoàn thể đó biết sống
chân thật, biết liên kết chặt chẽ với nhau, biết thể hiện được tinh thần
đạo đức tập thể.
+ Một nghiệp đoàn được phát triển
lớn mạnh điều quan trọng không nhỏ là do giữa người lãnh đạo và các đoàn
viên biết hòa hợp chặt chẻ, biết thiện chí trong nghĩa vụ, biết chia xẻ
và thông cảm trong trách nhiệm.
2)- Sự Quan Hệ Với Xã Hội:
Một xã hội có rất nhiều cộng đồng
hiện hữu, trong đó bao gồm tất cả đơn vị gia đình, gia tộc, đoàn thể,
nghiệp đoàn, tôn giáo,..v..v....cùng nhau góp mặt. Một xã hội muốn được
hòa bình an lạc thật sự, muốn đời sống văn minh tiến bộ cả hai mặt vật
chất và tinh thần, tất cả thành phần đơn vị trong những cộng đồng, bao
gồm có cá nhân của mỗi người biết hòa hợp thân thương, biết đoàn kết
chặt chẽ, biết dấn thân hợp tác đóng góp hết mình trong mọi lãnh vực văn
hóa, đạo đức, kinh tế, an ninh,..v..v.... Trái lại, trong một xã hội,
có vài đơn vị mâu thuẩn, có vài cá nhân bất chánh sẽ tạo nên tình trạng
bất an và viễn ảnh đưa xã hội vào con đường bi đát, tràn ngập khổ đau
cho đời sống của mọi người.
Những dữ kiện đã trình bày tổng
quát ở trên cũng đủ nói lên được sự quan hệ như thế nào giữa con người
với gia đình, với gia tộc, với cộng đồng và với xã hội. Tất cả sự quan
hệ này là tất yếu của con người sinh tồn và không ngoài nguyên lý duyên
sanh của Phật Giáo. Những người sống trong một gia đình hay trong một xã
hội không thể thoát ly khỏi mọi sự quan hệ nói trên, nhất là sự quan hệ
về mặt tâm linh, nguyên vì con người sở dĩ ý niệm được hạnh phúc chính
là nhờ ở nơi tâm linh. Giờ đây chúng ta đã khái niệm được giá trị trọng
đại của lẽ sống qua sự quan hệ như thế nào giữa con người với gia đnh,
với gia tộc, với cộng đồng, với xã hội thì cần phải tiến thêm một bước
nữa là phải ý niệm được sự nương tựa.
2. GIÁ TRỊ NƯƠNG TỰA:
Theo tinh thần duyên sanh, vấn đề
nương tựa là vấn đề quan yếu không chỉ riêng của con người mà còn chung
của tất cả chúng sanh trong vũ trụ. Tất cả chúng sanh trong vũ trụ nếu
như không có chỗ nương tựa thì không thể nẩy nở và phát triển; Chỗ nương
tựa của cây cối là đất đai, nếu đất đai có phì nhiêu thì cây cối mới nẩy
nở tốt tươi..... và ngược lại đất đai thiếu dinh dưỡng thì cây cối trở
nên cằn cỗi yếu ớt. Chỗ nương tựa của con người là cha mẹ và dòng họ,
cha mẹ và dòng họ có phước đức thì con cháu được hiển vinh, cha mẹ và
dòng họ thiếu phước đức thì con cháu sống bất hạnh và khổ đau. Con người
muốn sống có ý nghĩa, muốn được an lạc, muốn được hạnh phúc thì phải ý
niệm được giá trị của sự nương tựa. Đời sống con người có 3 giai đoạn
nương tựa: Giai đoạn ấu thơ, giai đoạn trưởng thành và giai đoạn tuổi
già.
a)- Giai Đoạn Ấu Thơ:
Giai đoạn ấu thơ theo quan niệm
phổ thông, nhất là ở Việt Nam ước lượng vào khoảng con người mới sanh ra
cho đến 20 tuổi, có chỗ cho rằng khoảng 30 tuổi (gọi là tam thập nhi
lập: nghĩa là con người lớn lên đến 30 tuổi thì mới đứng vững với đời).
Trong giai đoạn này, con người có hai nơi nương tựa cho lẽ sống, để lớn
lên, để mở mang kiến thức: nương tựa nơi cha mẹ và nương tựa nơi thầy
tổ.
1)- Nương Tựa Nơi Cha Mẹ:
Cha mẹ nếu không ước mơ thì không
cho chúng ta ra đời, cha mẹ nếu không mến thương thì không cho chúng ta
no cơm ấm áo, cha mẹ nếu không hy sinh hạnh phúc riêng tư thì không cho
chúng ta ăn học để thành danh với đời. Sự có mặt của chúng ta trong cõi
đời này chính là sự hy sinh của cha mẹ quá nhiều cả thể xác và tâm hồn
cho con cái của mình. Thế nên đối với ân nghĩa sanh thành của cha mẹ,
phận làm con phải ghi sâu đậm nét vào tâm khảm để luôn luôn tưởng niệm
tri ân và báo ân, nhất là về mặt tâm linh chúng ta đừng có thái độ phũ
phàng đối với đấng sanh thành vô tình làm tổn thương nơi lương tâm của
cha mẹ đã chịu nhiều cay đắng và đau khổ suốt cả cuộc đời.
2)- Nương Tựa Nơi Thầy
Tổ:
Cha mẹ chỉ sanh ra thân xác cho
chúng ta, nhưng không thể sanh ra trí thông minh cho chúng ta. Chúng ta
muốn có trí thông minh để sống với đời thì phải nhờ thầy tổ chỉ dạy.
Thầy tổ là những ân nhân không thua cha mẹ, người đã tạo dựng trí khôn
cho chúng ta có kinh nghiệm sống để bước chân vào đời khỏi bị vấp ngả.
Chúng ta ngày nay được hảnh diện là một đơn vị quan trọng đáng quý trong
một xã hội văn minh tiến bộ với trình độ kiến thức sâu rộng chính là nhờ
thầy tổ trao truyền sự kinh nghiệm lâu đời của họ. Giá trị tinh thần này
chúng ta cũng phải ghi sâu vào tâm khảm để luôn luôn tưởng niệm ân nghĩa
giáo dưỡng của thầy tổ cũng giống như tưởng niệm ân nghĩa sanh thành
của cha mẹ. Ý niệm giá trị sự quan hệ này cũng là vấn đề trọng yếu trong
sự bồi dưỡng tâm linh.
b)- Giai Đoạn Trưởng Thành:
Giai đoạn trưởng thành ước lượng vào khoảng 20 tuổi đến 60 tuổi. Ở
giai đoạn này, con người đúng ra đủ tư cách dấn thân vào đời và đủ trí
khôn bước chân vào xã hội. Khi bước chân vào xã hội để vươn mình lên,
con người cũng cần phải có chỗ nương tựa. Chỗ nương tựa của con người là
gia đình và tôn giáo.
Gia đình là chỗ nương tựa cho đời
sống con người và tôn giáo là chỗ nương tựa cho tâm linh của con người.
Gia đình là đơn vị truyền thừa của gia tộc là nơi phát huy sự hiển vinh
cho dòng họ muôn đời với tổ tiên. Gia đình là một xã hội nhỏ trong cộng
đồng, bao gồm có chồng vợ con cái. Chồng vợ phải ý niệm được rằng là bạn
đời cần thiết không thể thiếu để chia xẻ với nhau những cay đắng ngọt
bùi trong mọi nẻo đường thăng trầm vinh nhục và cùng nhau xây dựng hạnh
phúc an lạc thật sự cho đời sống. Tôn giáo là miếng ruộng phước để cho
tâm hồn con người phát triển đạo đức làm người. Con người khi thân bệnh
thì phải nhờ bác sĩ trị liệu và con người khi tâm bệnh thì phải nhờ tôn
giáo trị liệu, Bác sĩ trị liệu thân bệnh bằng y dược và tôn giáo trị
liệu tâm bệnh bằng pháp dược. Cho nên con người muốn được lành mạnh thì
phải cần đến bác sĩ và muốn được đạo đức nẩy nở hạnh phúc thì phải cần
đến tôn giáo. Chúng ta là người muốn sống có giá trị thì phải ý niệm rõ
điều đó.
Có người quan niệm rằng họ không
cần phải lập gia đình cho thêm khổ, chỉ nương tựa bạn bè là đủ sống an
lạc rồi. Họ không hiểu rằng bạn bè chỉ giúp nhau trong giai đoạn ngắn,
nhưng không hy sinh cho nhau đến đầu bạc răng long. Hơn nữa bạn bè chỉ
giúp nhau có tánh cách tạm bợ trong phạm vi giới hạn về đời sống vật
chất nhưng không chia xẻ với nhau trên lãnh vực tâm linh, đúng với câu
tục ngữ như sau: “Giúp lời giúp đủa, không ai giúp của giúp cơm”;
chỉ có chồng vợ mới giúp của giúp cơm và giúp suốt cả cuộc đời.
Tóm lại, chúng ta phải lập gia
đình làm chỗ nương tựa vững chắc cho đời sống cũng như cho tâm linh để
có hạnh phúc an lạc thật sự. Chúng ta nếu như không lập gia đình sẽ
buông thả theo dòng đời trụy lạc xa hoa không định hướng, sẽ làm đau khổ
cho mình khi tuổi về chiều, sẽ ô nhiễm tâm linh đen tối khi mình bước
chân vào thế giới bên kia mờ mịt. Chúng ta nếu như không lập gia đình mà
muốn cuộc sống thăng tiến thì phải xuất gia tu hành. Người xuất gia tu
hành cũng phải nương tựa nơi Tăng Đoàn để tiến lên trên con đường giác
ngộ và giải thoát khổ đau sanh tử. Nói cho cùng, con người muốn nếp sống
có ý nghĩa phải tạo dựng cho mình một chỗ nương tựa vững chắc.
c)- Giai Đoạn Tuổi Già:
Giai đoạn tuổi già là giai đoạn
kể từ 60 tuổi cho đến chấm dứt hơi thở cuối cùng của một sanh mạng. Đa
số những người già cả, tâm trạng của họ không nhiều thì ít thường mang
bệnh hay lo xa. Sự lo xa của họ tương đối gồm có:
*)- Tứ đại nơi thân thể
của họ thường hay bất hòa, gây tạo cho họ nay đau mai yếu.
*)- Những ước mơ của họ
chưa hoàn tất mà sức khỏe của họ không cho phép tiếp tục gánh vác
trách nhiệm.
*)- Họ băn khoăn không
biết sau khi họ chết, con cháu của họ có thương yêu chia xẻ và đùm
bọc với nhau hay không.
*)- Họ không biết sau khi
họ chết con cháu của họ có đủ sức đương đầu với cuộc đời hay không.
*)- Họ tự cảm thấy buồn
tủi khi họ không còn là cây đại thọ che mát cho con cháu trong cuộc
đời.
*)- Tuổi họ càng già thêm
thì tình cảm của họ càng lớn mạnh theo tỷ lệ nghịch, cho nên họ cảm
thấy sẽ bị cô đơn rồi đây phải xa lìa con cháu khi họ bước qua bên
kia cửa tử.
*)- Họ càng lo lắng khi
họ chết, không biết con cháu có làm tròn bổn phận giúp đỡ họ những
hành trang cần thiết đi vào thế giới bên kia hay không.
*)- Nhất là họ càng băn
khoăn cho nẻo trước của họ quá mờ mịt, nghĩa là họ hoàn toàn không
biết sau khi chết họ sẽ đi về đâu.
Đây là tâm trạng băn khoăn lo
lắng tổng quát của người già. Tâm trạng băn khoăn lo lắng của họ có khi
quá cực độ khiến cho họ trở nên quẩn trí, thường hay bộc lộ thái độ buồn
phiền, gắt gỏng, bực dọc và cũng có người trở nên tình trạng tâm hồn
bảng lảng. Những người con biết quý trọng đấng ân nghĩa sanh thành thì
cần phải thể hiện chỗ nương tựa xứng đáng cho tâm hồn của cha mẹ trong
khoảng đời còn lại, nghĩa là phải luôn luôn quan tâm đến tình trạng
khủng hoảng của họ, thường xuyên chia xẻ, an ủi và tìm mọi cách giúp họ
được an tâm cho đến khi trút hơi thở cuối cùng. Người nào làm tròn nghĩa
vụ nói trên chính là kẻ ý niệm được giá trị của sự quan hệ sanh tồn nơi
cuộc đời.
3. GIÁ TRỊ CHỨC NĂNG:
a). Định Nghĩa:
Chức năng là bổn phận, ý niệm chức năng nghĩa là ý niệm bổn phận.
Chức năng của con người là sống phải có tình nghĩa. Tình nghĩa chính là
tình cảm và ân nghĩa.
1)- Tình Cảm:
nghĩa là tình thương yêu, biết chia xẻ buồn vui cho nhau. Tình cảm không
phải là tình ái. Tình ái chính là tình yêu xác thịt, chỉ làm thỏa mãn
cho thể xác đòi hỏi mà không có chút tình cảm ở trong. Tình yêu xác thịt
thì dễ bị chán chê, bị quên lãng, nguyên vì theo Tâm Lý Học ăn mãi một
món ăn thì dễ bị ngán ngẩm và thích muốn thay đổi món ăn mới cho ngon
miệng hơn. Tình cảm đặt trên nền tảng nội tâm chỉ đạo thì tạo cho nhau
sự cảm thông và đưa đến tình yêu lý tưởng. Đôi chồng vợ biết sống trên
tình yêu lý tưởng là đôi chồng vợ đạt được hạnh phúc trọn vẹn đến đầu
bạc răng long.
2)- Ân Nghĩa: là bổn phận tri ân
và báo ân. Con người có ân nghĩa là con người biết sống chung và có
trách nhiệm với nhau trong mọi hoàn cảnh, biết gánh vác nghĩa vụ của
mình trong gia đình , biết cùng nhau chia xẻ mọi sự thăng trầm vinh nhục
của cuộc đời và biết ân đền nghĩa trả xứng đáng với những người đồng lao
cộng khổ đang góp phần không nhỏ tạo dựng cho mình có một địa vị xứng
đáng của một con người trong xã hội tiến bộ.
b). Ý Niệm:
Tình Nghĩa
chỉ cho chức năng của con người đối với con người
trong đó bao gồm cả tình cảm và ân nghĩa. Tình nghĩa của một con người
chia làm ba lãnh vực: lãnh vực cha mẹ con cháu, lãnh vực chồng vợ, lãnh
vực thầy trò.
1)- Lãnh Vực Cha Mẹ Con Cháu:
Tình nghĩa cha mẹ con cháu,
nghĩa là giữa cha mẹ và con cháu phải sống có tình có nghĩa với nhau.
Con người phải ý niệm được rằng: cây phải có cội nước phải có nguồn, làm
con người ai cũng phải có cha mẹ. Chúng ta đã có cha mẹ thì phải ý niệm
được giá trị sự quan hệ tình nghĩa giữa cha mẹ và con cháu, đồng thời
nên dạy dỗ con cháu của mình cũng phải ghi tâm khắc cốt giá trị tinh
thần tình nghĩa đối với cha mẹ nói trên.
2)- Lãnh Vực Chồng Vợ:
Chồng và vợ mỗi người là một đơn vị trọng yếu không thể thiếu
trong một gia đình và nếu như mất đi một người thì gia đình đó mất đi ý
nghĩa trong cuộc sống lứa đôi trên con đường xây dựng hạnh phúc bền
lâu. Sự quan hệ gắn bó chặt chẽ trong cuộc sống lứa đôi nơi một gia
đình, giữa chồng và vợ, mỗi người phải xem mình như một phần thân thể về
đời sống của người kia và mất họ mình cảm thấy dường như mất đi định
hướng trên hành trình xây dựng hạnh phúc chung, cũng như mất đi trách
nhiện nối dõi tông đường trên con đường tiến bộ mà đôi chồng vợ đã tuyên
thệ trước bàn thờ tổ tiên khi mới lập gia đình. Sự tương quan sanh tồn
của một gia đình sẽ được trình bày ở sau. Trong tinh thần duyên sanh,
con người ý niệm được giá trị tương quan sanh tồn giữa chồng và vợ của
một gia đình thì mới có thể xây dựng được hạnh phúc chân thật.
3)- Lãnh Vực Thầy Trò:
Chúng ta đã ý niệm được giá trị sự quan hệ giữa thầy trò như đã
trình bày ở trước với nhan đề “Nương Tựa Thầy Tổ” thì phải sống có tình
nghĩa với nhau. Chúng ta làm tròn nghĩa vụ này đối với thầy tổ chứng tỏ
rằng về phương diện tâm linh đã bồi dưỡng được một phần nào đạo đức của
con người để làm hành trang cho sự xây dựng nếp sống an lạc.
Những dữ kiện đã trình bày tổng
quát ở trên cũng đủ nói lên được tánh chất, giá trị và ý nghĩa sự quan
hệ tinh thần duyên sanh của một con người. Một con người sống trong trời
đất nhất định không thể thoát ly khỏi sự ràng buộc của quan hệ này. Một
con người sống chẳng những quan hệ với gia đình, mà còn quan hệ với gia
tộc, với cộng đồng, với xã hội, chẳng những quan hệ với chồng vợ, mà còn
quan hệ với cha mẹ con cháu, quan hệ với thầy trò. Chúng ta đã ý niệm
được sự quan hệ giữa con người với gia đình, với gia tộc, với cộng đồng,
với xã hội là trọng đại thì mỗi người trong gia đình muốn đem lại lợi
ích cho nhau cần phải có chức năng, nghĩa là phải biết sống có tình
nghĩa với nhau.
IV.- XÂY DỰNG HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH TRÊN TINH THẦN LỤC HÒA:
Sự quan hệ của tinh thần duyên
sanh đối với sự sống còn của một con người đã được giới thiệu qua, giờ
đây chúng ta bước sang lãnh vực xây dựng hạnh phúc gia đình trên tinh
thần Lục Hòa của Phật Giáo. Lục Hòa là sáu pháp hòa kính, nghĩa là sáu
nguyên tắc sống của một tập thể để được thanh tịnh và an lạc. Theo Phật
Giáo, chữ Hòa nghĩa là hòa hợp như keo sơn và hòa không có ranh giới
giống như sửa hòa trong nước. Đây là chỉ cho sự hòa hợp của tâm linh con
người. Con người với con người sống chung phải hòa hợp tâm linh thì mới
có thể hạnh phúc an lạc. Đất, nước, gió, lửa là bốn loại mâu thuẩn chống
trái với nhau như mặt trời mặt trăng mà còn biết hòa hợp để cùng nhau
xây dựng nên thân thể con người thì tại sao tâm linh của hai người không
biết hòa hợp để cùng xây dựng hạnh phúc chung cho nhau. Gia đình là một
tập thể nhỏ, mỗi người trong gia đình sống chung muốn nắm lấy được hạnh
phúc thật sự thì cần phải nương theo tinh thần Lục Hòa để cùng nhau xây
dựng. Lục Hòa nghĩa là sáu phương pháp hòa kính và sáu phương pháp này
gồm có: thân hòa cùng chung ở, miệng hòa không tranh cải, ý hòa cùng
hoan hỉ, giới hòa cùng tu tập, kiến hòa cùng giải bày, lợi hòa cùng chia
xẻ. Ý nghĩa sáu phương pháp hòa kính được giải thích như sau:
1.THÂN HÒA CÙNG CHUNG Ở
(Thân Hòa Đồng Trụ)
Thân hòa cùng chung ở nghĩa là
cùng nhau sống chung trong một gia đình thì phải hòa hợp, phải chung
lưng đâu cật, đùm bộc lẫn nhau, không nên dùng bạo lực lấn áp nhau. Muốn
được như thế, trong một gia đình, chồng vợ, con cái, cha mẹ, anh em sống
chung phải có những luật lệ như sau:
A)- Đối Với Gia Đình:
1)- Thánh Thiện Hóa Giá Trị Lập Gia Đình:
Thánh thiện hóa giá trị lập gia đình, nghĩa là lập gia đình nhằm
xây dựng tình yêu lý tưởng. Tình yêu lý tưởng không phải là tình yêu thể
xác chỉ biết thỏa mãn dục vọng. Tình yêu lý tưởng ở đây là tình yêu có ý
nghĩa cao cả. Xây dựng tình yêu lý tưởng có hai mục đích: truyền thừa sự
nghiệp gia bảo của tổ tiên dòng họ và thể hiện đạo đức của gia tộc.
a)- Truyền thừa sự nghiệp
gia bảo của tổ tiên dòng họ, nghĩa là phải có con cái để nối dõi tông
đường, đừng để dòng họ phải bị tuyệt tự và làm thế nào dòng họ của mình
càng ngày càng chặt chẽ lớn mạnh qua gia đình mình và con cháu của mình.
Muốn có con cái nối dõi tông đường, đôi chồng vợ phải áp dụng những
nguyên tắc sau đây:
1- Chồng vợ phải biết tiết dục,
nghĩa là tiết chế ái dục. Tiết chế ái dục là hạn chế ái dục, nghĩa là
tình yêu nam nữ phải có chừng mực, đừng xài phí bừa bãi theo dục vọng
của mình. Đức Phật chỉ dạy: người xuất gia sống phải diệt dục và người
Phật tử tại gia sống phải tiết dục. Chồng vợ tiết dục nhằm mục đích giúp
cho máu huyết của hai người đầy đủ chất lượng tốt để sanh ra đứa con
được lành mạnh toàn diện. Hạt giống lúa nuôi dưỡng không đủ chất lượng
và gặp phải phân đất không được tốt,..v.. v.... thì cây lúa sanh ra
không được lành mạnh. Súc vật còn biết ái dục có mùa thì con người cần
phải biết tiết chế ái dục đúng lúc để sanh con. Đôi chồng vợ nên luôn
luôn tâm niệm với nhau rằng: chúng mình lập gia đình nhằm mục đích sanh
con để nối dõi tông đường mà không phải để thỏa mãn sinh lý.
2- Người vợ khi có thai trong
bụng, theo tinh thần Kinh Đại Niết Bàn phải giữ gìn bào thai trong tư
thế an lạc thanh tịnh cho đến khi sanh ra đứa con. Muốn giữ gìn bào thai
trong tư thế an lạc thanh tịnh, người vợ phải áp dụng triệt để những
điều kiện sau đây:
*)- Không được gần gủi với người
chồng trong lúc mang thai. Đôi chồng vợ gần gủi nhau trong lúc mang thai
vô tình hai ông bà trút vào tâm của đứa bé trong bào thai tràn ngập
nghiệp ái dục và khiến cho nó sau này lớn lên không thể kềm chế nỗi bệnh
ái dục kích thích.
*)- Không được ghen tương phiền
não..v..v.... khiến cho đứa con trong bào thai bị ô nhiễm bởi chất độc
ngu si đần độn từ nơi cha mẹ và còn làm cho nó trong bào thai bị đau đớn
bởi các cơ năng của người mẹ cọ sát vào khi ghen tương phiền não.
*)- Không được đi đứng hấp tấp,
không được tâm trạng băn khoăn lo lắng khiến cho bào thai bị kinh động
bất an làm trở ngại không tốt cho Tâm Thức A Lại Da đang xây dựng hệ
thống thần kinh của đứa bé trong bào thai.
*)- Ăn uống những món ăn khinh
nhẹ, không có những chất độc hại để xây dựng thân thể đứa con lành mạnh
tráng kiện. Thí dụ khi có thai, người mẹ ăn uống toàn những chất phong,
như ăn tôm cua..v..v... tạo cho thân thể đứa con mang bệnh dị
ứng,..v..v....
3- Người vợ khi có thai muốn con
mình sanh ra được tướng hảo tốt đẹp, theo tinh thần Duy Thức Học, nên đi
thỉnh tượng Phật thật đẹp đem về thờ trong nhà của mình, mỗi tối thành
tâm cầu nguyện quán tưởng hình tượng đức Phật đó thì sẽ được toại
nguyện. Nguyên vì tâm của chúng ta như cái máy chụp ảnh, chúng ta thấy
người nào thì hình ảnh (form) người đó đã vào tâm của chúng ta, chúng ta
yêu mến người nào thì hình ảnh (form) người đó từ trong tâm của chúng ta
xuất hiện ra. Khi người mẹ có thai, Tâm Thức A Lại Da trong bụng người
mẹ liền chọn sẳn hình ảnh đã có trong tâm người mẹ để làm kiểu mẫu cho
việc xây dựng đứa con ra đời, trong lúc đó người mẹ nếu như nhớ hình ảnh
của người nào khác nữa thì Tâm Thức A Lại Da lại tiếp tục lấy hình ảnh
vừa mới nhớ của người mẹ đem ráp vào với hình ảnh kiểu mẫu đã chọn liền
sửa đổi canh tân (Modified) lại cho thích hợp để xây dựng thành hình đứa
con trong bụng theo ý người mẹ muốn trong lúc đó. Cũng từ giá trị này,
người mẹ muốn đứa con mình sanh ra cho đẹp, liền mua những hình ảnh đẹp
đem về nhà cầu nguyện.
4- Mỗi gia đình phải có gia phả
để biết người nào là bà con gần xa của mình và phải tạo niềm thân thương
gắn bó với nhau trong bà con dòng họ bằng cách giải thích cho con cháu
được biết những thành tích tốt đẹp của bà con dòng họ để chúng nó học
hỏi.
b)- Gia đình sống phải
hiễn vinh dòng họ muôn đời với tổ tiên, nghĩa là mỗi người trong gia
đình sống phải thể hiện được đạo đức của gia tộc. Đạo đức là giá trị
tinh thần của con người đúng như câu tục ngữ thường nói: “ Hoa thơm nhờ
nhụy, người có giá trị nhờ đạo đức”. Đạo đức không phải có từ nơi tài
năng, tiền của, danh vọng, mà nó có từ nơi tâm linh qua nếp sống, qua
phong cách, qua ngôn ngữ, qua thái độ tư tưởng của mỗi người. Gia đình
chúng ta sống bằng cách nào để cho mọi người nhìn đến đều quý mến và
cũng làm bằng cách nào để cho mọi người khi thấy cha mẹ mình, dòng họ
mình đều kính trọng. Chúng ta thể hiện tối thiểu được một trong hai điều
kiện nói trên cũng là biết sống tình yêu lý tưởng, nghĩa là biết thánh
thiện hóa giá trị lập gia đình.
c)-
Nguyên tắc thiết lập một gia đình lý tưởng của đôi trai gái mà ông bà
chúng ta đã chỉ dạy qua hai câu ca dao như sau:
“Trai khôn tìm vợ chợ đông, Gái khôn tìm chồng giữa đám ba quân”.
+ Chợ Đông: có nhiều nghĩa, nhưng
nghĩa ở đây là chỉ cho chỗ hội chợ đông người. Các cô gái thường tập
trung nơi chỗ đông người như hội chợ,.. v..v..... thì những đặc tính của
mỗi cô biểu lộ rõ nét hoặc tốt hoặc xấu khi trao đổi qua lại với nhau.
+ Ba Quân: nghĩa đen là chỉ cho
ba đội quân lính: Đội quân trung ương, gọi là Trung Quân, Đội quân bên
tả gọi là Tả Quân và Đội quân bên hữu gọi là Hữu Quân, mỗi đội quân gồm
có 12.000 quân lính. Ba quân nói chung là toàn thể quân đội, nhưng ở đây
là ám chỉ cho chỗ tập trung tất cả thanh niên trai tráng. Các thanh niên
có dịp tập trung vào chỗ đám đông thì tánh tình của mỗi chàng trai đều
bộc lộ rõ nét hoặc tốt hoặc xấu khi trao đổi qua lại với nhau.
+ Các thanh niên nam nữ muốn chọn
ý trung nhân thì nên đến chỗ đông người đó để quan sát tìm hiểu. Nguyên
tắc để chọn ý trung nhân làm bạn đời thì đừng đòi hỏi đối phương hoàn
toàn tốt trăm phần trăm điều đó khó thành công, chỉ cần nơi họ có những
đặc tính tương đồng với mình ước lượng khoảng sáu chục phần trăm là đủ
tiêu chuẩn và phần còn lại khi nào sống chung với nhau mới huấn luyện
sau, giống như câu ca dao đã chỉ cách huấn luyện:
“Dạy con dạy thuở còn thơ, Dạy
vợ (chồng) dạy thuở ban sơ mới về”.
Những điều trình bày trên là
những nguyên tắc căn bản tương đối để chọn những người yêu và xây dựng
tình yêu lý tưởng. Những ai thực hiện đúng những điều căn bản này chính
là người đó biết cách thánh thiện hóa giá trị lập gia đình.
2)- Tôn Trọng Và Kính Nể Lẫn Nhau:
Con người đối xử với nhau có kính nể mới có tôn trọng và con người
muốn được kính nể thì người đó phải thể hiện trọn vẹn phong cách đạo đức
tốt của một con người, như lịch sự, khiêm cung, lễ độ, linh
hoạt,..v..v..... bao nhiêu đó cũng đủ tư cách biểu tượng cho họ kính nể
và từ kính nể đó đi đến tôn trọng. Nhưng trên thực tế, theo Phật Giáo,
con người là kết tinh của tất cả nghiệp báo của kiếp trước và hiện đang
bị tất cả phiền não, như tham, sân si,..v..v..... đang lên ngôi chỉ đạo
cho lẽ sống, nghĩa là ai cũng có những tật xấu đang tiềm ẩn trong tâm
thức của họ. Khi chưa sống chung, những tật xấu của mỗi người thường tìm
ẩn bên trong nội tâm để chờ cơ hội lên ngôi và khi hai người sống chung
với nhau thì những tật xấu của mỗi người hội đủ điều kiện lên ngôi để
tạo sự mâu thuẩn trong cuộc sống tập thể. Những bạn trai bạn gái khi
chưa lập gia đình thường hay lý tưởng người yêu của mình có những cá
tính thuần lương, nhưng khi sống chung với nhau những lý tưởng đó đều
sụp đổ và cả hai bên đều hoàn toàn thất vọng. Vì hoàn toàn thất vọng, họ
tỏ ra bất kính với nhau và cũng từ đó họ có những thái độ không tôn
trọng danh dự cho nhau.
Nên biết rằng trong một gia đình,
chồng và vợ ai cũng có tự ái cá nhân, đã sống chung với nhau đừng chà
đạp danh dự của nhau trước con cháu, trước bạn bè, trước quần chúng đông
người, nghĩa là đừng cho con cháu hoặc bạn bè biết những tật xấu của
chồng mình hay của vợ mìnhï, đừng đánh đập cấu xé lẫn nhau, đừng nói
những lời thô tục, chửi mắng nguyền rủa, bêu xấu cho nhau, cho đến đừng
hổn láo đem cả dòng họ cấp trên ra lăng mạ cho thỏa mãn nư giận cá nhân.
Đã sống chung với nhau, chồng và
vợ phải biết kính nể và tôn trọng danh dự cho nhau bằng cách thông cảm
và che chở cho nhau, đừng có thái độ đưa người yêu mình vào đường cùng,
theo tâm lý có một ngày họ sẽ phản ứng lại rất mạnh làm nguy hại đến
hạnh phúc lứa đôi, đúng như câu tục ngữ thường nói: “Nhân cùng tắc
biến, vật cùng tắc phản”, nghĩa là đưa người vào đường cùng thì
họ trở mặt biến đổi, đưa con vật vào đường cùng thì con vật đó trở lại
phản mình. Đây là nguyên tắc thứ hai mà mỗi người sống chung trong một
gia đình cần phải giác ngộ để cùng tạo dựng nền tảng hạnh phúc gia đình.
3)- Xây Dựng Đức Tin Cho Nhau:
Đôi chồng vợ mới cưới, hai người
chỉ có niềm tin với nhau mà họ chưa có đức tin chân thật khi đôi bên
thực sự sống chung. Đôi bên chỉ có niềm tin với nhau trên lời nói và
hành động, nhưng trên tư tưởng chưa được dung thông thực sự. Giữa hai
người, niềm tin của họ còn chút nghi kỵ ở trong tâm, nghĩa là hai người
luôn luôn theo dõi những hành động của nhau, điển hình như một người nào
đó khi có việc phải đi ra ngoài một mình thì thường bị người ở nhà gọi
điện thoại theo dõi, điều đó chứng tỏ họ còn chút nghi kỵ, thiếu sự tin
tưởng lẫn nhau. Hai chồng vợ sở dĩ thiếu sự tin tưởng lẫn nhau là do lúc
sơ giao hai bên đều dấu kín những tật xấu của mình không cho đối phương
biết được và chỉ đem những tánh tốt để trau đổi tâm tình. Khi sống chung
với nhau, những tật xấu của hai người bắt đầu xuất hiện tạo nên sự mâu
thuẩn bất ổn trong gia đình, từ đó hai bên trở nên nghi kỵ lẫn nhau
trong sự sống chung.
Muốn xóa bỏ những tâm trạng nghi
kỵ của hai người, đôi chồng vợ trước hết phải áp dụng những nguyên tắc
căn bản sau đây để xây dựng đức tin chân chánh:
a)- Nguyên tắc thứ nhất:
*)- Người chồng muốn tiếp
bạn gái phải hẹn khi có mặt người
vợ ở nhà.
*)- Khi tiếp bạn gái, người
vợ phải đóng vai chánh trong việc
tiếp khách và người chồng chỉ đóng
vai phụ tá.
*)- Người vợ muốn tiếp bạn
trai phải hẹn khi có mặt người
chồng ở nhà.
*)- Khi tiếp bạn trai,
người chồng phải đóng vai chánh trong
việc tiếp khách và người vợ chỉ đóng
vai phụ tá.
Nên biết rằng, theo Phật Giáo tình
yêu bao giờ cũng có mặt trái của nó, nghĩa là yêu không được thì thù hận
và thương không được thì ganh ghét. Mình đã được một người nào để yêu
thì người đó cũng đã được nhiều người khác đã chọn, nhưng mình lại được
người yêu đó đồng tình mà những người khác lại bị thất vọng thì họ nhất
định sẽ tìm mọi cách phá hoại hạnh phúc của mình, cho nên mình phải đề
phòng những hiện tượng trên sẽ xảy đến gia đình của mình, nếu như hiện
tượng đó không có xuất hiện thì mình được phước báo đấy. Để ngăn ngừa
những hiện tượng trên mang đến bất an trong gia đình, mình nên áp dụng
nguyên tắc thứ nhất đã trình bày trên.
b)- Nguyên tắc thứ hai:
Những tật xấu nói trên của đôi chồng vợ là thuộc về tâm bệnh mà
không phải thân bệnh. Thân bệnh thì phải nhờ y dược trị liệu, nhưng tâm
bệnh thì phải nhờ đến pháp dược trị liệu; thân bệnh thì phải nhờ đến Bác
Sĩ cứu chữa, còn tâm bệnh thì phải nhờ đến Phật Giáo hóa giải. Để bồi
dưỡng tâm linh, đôi vợ chồng cần phải chuyên cần tu tập pháp Phật để
thanh lọc những phiền não trong tâm tư của mình cho được thanh tịnh. Đây
là những điều kiện xây dựng đức tin cho nhau.
4)- Quan Tâm Chăm Sóc Nhau:
Đôi chồng vợ trong một gia đình, thân thể thì sống chung với nhau,
nhưng tâm hồn thì sống riêng rẻ biệt lập nhau, chồng sống theo kiểu của
chồng và vợ sống theo kiểu của vợ mỗi người sống một ốc đảo riêng không
bao giờ quan tâm chia xẻ với nhau huống chi là chăm sóc. Thí dụ người
chồng đang làm công việc gì đó tại nhà thì người vợ nên quan tâm đến
hỏi: anh làm có mệt không, có cần em giúp gì không? Cũng thế người vợ
đang làm công việc nhà thì người chồng cũng đến hỏi: em làm chi đó có
cần anh giúp không? Chỉ có những câu hỏi như thế cũng đủ tạo nên sự đậm
đà tình cảm với nhau. Mỗi người sống theo chủ nghĩa cá nhân trên hết,
nhìn nhau như bạn đời qua đường không cho nhau chút tình cảm, khi cần
thì dùng đến và hết cần thì quên đi, chỉ biết có lợi cho mình là đủ rồi,
lạnh nhạt với kẻ khác không chút cảm thông. Mỗi người sống như vậy làm
sao có hạnh phúc được. Những nguyên tắc quan tâm chăm sóc nhau đại khái
như sau:
a)- Người vợ phải biết tâm trạng
của người chồng muốn gì và những điều ước muốn đó không xâm phạm đến sự
sống chung, không tổn thương đến hạnh phúc gia đình thì đừng khắc khe
trói buộc để cho chồng làm tròn nghĩa vụ của kẻ nam nhi; người chồng
cũng phải biết tâm trạng của người vợ muốn gì và những điều ước muốn đó
không xâm phạm đến sự sống chung, không tổn thương đến hạnh phúc gia
đình thì phải cởi mở để cho người vợ của mình khơi dậy niềm vui an lạc
trong tâm hồn. Thí dụ người vợ muốn đi chùa lễ Phật, người chồng đừng có
ích kỷ nên để cho người vợ có niềm vui lý tưởng liền sẵn sàng đưa vợ đến
chùa lễ Phật, nên biết rằng điều ước muốn đó của vợ mình không tổn hại
đến hạnh phúc gia đình mặc dù đối với đạo Phật mình không có niềm tin.
b)- Hai chồng vợ mỗi người làm
việc mỗi sở khác nhau. Chiều đến, sau khi tan sở, người chồng về đến nhà
trước và người vợ về đến nhà sau. Khi người vợ về đến nhà, người chồng
phải chạy ra cửa chào đón thăm hỏi và tiếp tay với người vợ mang đồ vào
nhà. Còn người vợ về đến nhà trước và người chồng về đến nhà sau. Khi
người chồng về đến nhà, người vợ cũng phải chạy ra cửa chào đón thăm hỏi
và tiếp tay với người chồng mang đồ vào nhà. Đó là một trong những cử
chỉ quan tăm châm sóc lẫn nhau. Đôi chồng vợ đã sống chung không nên đưa
mắt nhìn lơ khi người chồng hay người vợ bước vào nhà mà không cần quan
tâm thăm hỏi, hoặc có thăm hỏi nhưng chỉ hỏi cho qua loa không có chút
tâm tình, hoặc có ra giúp đở nhưng chỉ hành động như một cái máy không
có chút tình cảm. Tục ngữ có dạy: “Tiếng chào cao hơn cổ”,
nghĩa là lời chào hỏi quý trọng hơn mâm cao cổ đầy. Đôi chồng vợ muốn
gia đình được hạnh phúc cần phải chú ý ở điểm này.
c)- Người chồng hoặc người vợ,
nếu ai về nhà trước người đó phải vào bếp chuẩn bị cho bửa cơm tối.
Người nào không biết nấu nướng, nhưng phải chuẩn bị những phần căn bản
trước chờ chồng hay vợ về đến sẽ bổ túc sau cho bửa cơm đầy đủ để cùng
nhau ăn uống, hoặc hai người về đến nhà cùng một lúc thì cả hai cùng
nhau vào bếp để giải quyết cho xong bửa cơm tối, rồi sau đó mới làm
những công việc khác trong gia đình, không nên người này làm còn người
kia làm biếng ngồi chơi xem báo. Trường hợp hai người làm việc khác giờ
khắc, công việc ban ngày hoặc công việc ban đêm, người làm việc ban ngày
cũng phải chuẩn bị bửa cơm cho người làm việc ban đêm. Nên biết rằng cả
hai người đều mệt nhọc ở nơi sở làm cả, phải thông cảm và chia xẻ mệt
nhọc với nhau. Đã sống chung với nhau, tất cả mọi việc trong gia đình
đều phải bình đẳng chia nhau cùng làm.
d)- Khi ra khỏi sở, người chồng
hay người vợ phải đi thẳng về nhà rồi sau đó muốn đi đâu sẽ đi. Hai
chồng vợ nên biết rằng, chồng hay vợ mình ỏ nhà đang trông chờ mình về
để cùng nhau ăn uống tâm sự trao đổi những công việc ưu khuyết thành bại
trong ngày cho nhau kinh nghiệm, vì thế khi ra khỏi sở làm, mình không
được chạy vòng quanh tìm bạn bè ăn chơi giải trí khiến cho những người ở
nhà trông đợi, băn khoăn lo lắng buồn phiền, không lợi cho việc xây dựng
hạnh phúc gia đình.
e)- Nếu công việc làm cùng ngày
và nghĩ cùng giờ, người nào về nhà trước phải chờ đợi người về nhà sau
để cùng nhau ăn bửa cơm chung, không nên mỗi người tự cầm tô cơm ăn
riêng mỗi nơi mỗi gốc nhà hoặc vừa ăn vừa xem truyền hình và cũng không
nên mình tự ăn trước không chờ đợi người sau cùng ăn. Trường hợp suốt
tuần lễ, chồng vợ không có ngày nào được ăn chung thân mật thì ít nhất
cuối tuần chồng vợ cũng phải dành một ngày tổ chức ăn chung tình nghĩa
bao gồm chồng vợ con cháu, nếu như có con cháu. Bửa ăn chung tình nghĩa
là bửa ăn tâm tình thân mật cảm thông, nghĩa là bửa ăn từ trường tâm
linh của mỗi người quấn quít hòa quyện gắn bó lấy nhau. Còn như mỗi
người ăn cơm riêng rẻ khiến cho từ trường tâm linh rẻ sang lối khác và
cùng lúc từ trường tâm linh nghịch biến tự động xô đẩy sức hút của từ
trường tâm linh đối phương, tình trạng đó kéo dài lâu ngày tình cảm gia
đình trở nên hao mòn lạnh nhạt. Những dữ kiện vừa trình bày trên chính
là những nguyên tắc quan tâm chăm sóc nhau.
5)- Hòa Hợp Trong Việc Xây
Dựng Gia
Đình (đồng lòng tác biển đông mới cạn)
a)- Người chồng hay người vợ muốn
làm việc gì phải có sự đồng ý của nhau, nghĩa là phải đem việc đó thảo
luận với nhau trước khi hành động, không nên tự ý quyết định mà không có
sự tham khảo trước. Việc làm đó mặc dù mình nhận thấy hợp lý nhưng chồng
hay vợ chưa thông cảm thì phải để qua một bên, chờ khi nào hai người tán
thành thì mới đem ra áp dụng, nghĩa là mình phải thuyết phục đến khi nào
người chồng hay người vợ của mình tán thành thì mới đem ra thực hiện.
Thí dụ mình muốn mở một xí nghiệp gì đó làm ăn trước hết phải thuyết
phục người chồng hay người vợ của mình tán thành thì mới thực hiện,
không nên tự động thực hiện riêng mà không có sự đồng ý của người chồng
hay của người vợ.
b)- Khi thực hiện một công việc
làm ăn gì đó cả hai người phải cùng nhau xây dựng, không nên giao hết
cho người chồng hay người vợ chịu trách nhiệm lấy và người kia không cần
biết đến, không chịu tiếp tay chia xẻ, hoặc giả trong lúc đó người kia
lại tự động mở một công việc làm ăn khác qua mặt người chồng hay người
vợ. Hai chồng vợ hợp tác với nhau trong một công việc, trong một nhiệm
vụ, trên mặt tình cảm chính là hai người đã chia xẻ với nhau trong một
nhiệm vụ, cảm thông nhau trong một hoàn cảnh và gắn bó đậm đà với nhau
trong một nếp sống hạnh phúc. Sự quan tâm của người chồng hay của người
vợ trong một công việc hay trong một nhiệm vụ là điều khích lệ lớn nhất
cho nhau, là niềm an ủi trên hành trình xây dựng hạnh phúc gia đình.
c)- Trong việc xây dựng hạnh phúc
gia đình, cả hai người cùng nhau phải chịu trách nhiệm chung trong việc
gánh lấy thành công hay thất bại trong cuộc đời màø không nên phó thác
hay đổ lỗi cho ai cả. Sự nghiệp nếu được thành công thì cả hai cùng
hưởng, nhưng nếu như thất bại thì cả hai cùng chịu đựng và cùng nhau
dũng cảm đứng lên tìm mọi cách gở rối cuộc đời, không nên buông trôi
theo dòng nước rồi chỉ biết than trời trách đất. Ở đời không có việc gì
tuyệt đối cả, có ngày thì có đêm, có tối thì có sáng, có nước ròng thì
có nước lớn, có rủi ro thì có may mắn, có thất bại thì nhất định sẽ có
thành công, chúng ta nên đặt trọn niềm tin vào đó để tiến lên trên đường
đời. Chúng ta nên biết rằng theo tinh thần Phật Giáo chính mình tự khai
thông sanh lộ cho mình mà không có ai trải thảm cho mình đi cả.
B)- Đối Với Con Cái:
Đôi chồng vợ phải luôn luôn tâm niệm rằng, mình sanh con có hai
mục đích: thứ nhất làø nối dõi tông đường và thứ hai là nhờ chúng nó
quan tâm chăm sóc mình khi tuổi xế chiều. Muốn được hai điều trên, phận
làm cha mẹ phải thực hiện những căn bản sau đây:
1)- Thường Xuyên Phải Cho Con Bú Sữa Mẹ:
Theo Duy Thức Học, tâm lý thì quan hệ với
sinh lý cho nên mỗi khi tâm lý tác dụng thì khiến cho sinh lý bị kích
thích, thí dụ tâm lý ái dục tác dụng thì khiến cho sinh lý phát động đòi
hỏi hưởng thụ, các tâm lý khác cũng giống như thế, từ đó đi đến kết
luận: Tâm lý thương yêu của người mẹ quan hệ đến sữa của mẹ và cho con
bú sữa của mẹ thì tạo nên tình cảm giữa mẹ con gắn bó với nhau. Giá trị
của sữa mẹ, quyển sách “Khởi đầu Khỏe mạnh, Phát triển Thông Minh (Bé Sơ
sinh của Bạn) do Bộ Nông Nghiệp Mỹ, Bộ Giáo dục Mỹ, Bộ Y Tế và Dịch vụ
Nhân sinh Mỹ thực hiện”, mục “Sữa Mẹ Là Tốt Nhất Cho Trẻ Sơ Sinh Của
Bạn”,
trang 9 nói rằng:
“Sữa mẹ là tốt nhất cho trẻ sơ sinh của bạn. Trẻ sơ sinh được bú
sữa mẹ thường không hay ốm và thường không bị nhiều dị ứng. Thậm chí
chúng nó có thể còn thông minh hơn! Đồng thời, cho bú sữa mẹ dường như
còn bảo vệ mẹ khỏi một vài vấn đề về sức khỏe”.
Muốn tìm hiểu thêm về nuôi con bằng sữa mẹ, người mẹ nên liên lạc
đâến Liên Đoàn La Leche theo số 1-800-LALECHE hoặc xem trang Web tại địa
chỉ www.lalecheleague.org/.
Cho nên người mẹ muốn tình cảm của con mình sau này đừng lạc lỏng
với mình thì thường xuyên cần phải cho con bú sữa của mình.
2)- Đừng Hun Hít Âu Yếm Khi Con
Mình Đang Ngủ:
Các tâm lý đều có năng lực riêng của mỗi loại, như tâm lý tham thì
có năng lực điều khiển con người hành động theo tâm lý tham điều khiển,
tâm lý sân thì có năng lực điều khiển con người sân hận theo nó chỉ đạo,
tâm lý si mê thì có năng lực khiến con người hành động ngu si theo sự
chỉ đạo của nó, tâm lý ái dục thì cũng có năng lực khiến con người chạy
theo ái dục điều khiển kềm chế không được,..v..v.... Hành động hun hít
âu yếm là trạng thái tâm lý ái dục sinh hoạt, trạng thái tâm lý này mang
tánh chất si mê, có lúc si mê đứng ra chỉ đạo thì khiến cho con người
hành động trở nên đam mê, thiếu lý trí xét đoán, nhìn “kẻ sứt môi
vẫn thấy đẹp, lợi dụng vẫn thấy trung thành”. Do đó cha mẹ chỉ
nên hun hít âu yếm con mình trong lúc nó thức, không nên hun hít âu yếm
khi con mình đang ngủ mê.
*)- Con mình đang lúc thức, sáu tâm thức của nó hiện có mặt và
đang sinh hoạt trong thân thể thì nó mới có cảm giác. Nhơn lúc nó đang
thức cha mẹ hun hít âu yếm nó thì Ý Thức của nó tiếp nhận có phân biệt,
có chọn lựa và có giới hạn và khi nó tiếp nhận đầy đủ tình cảm của cha
mẹ ban cho liền có những cử chỉ như tránh mặt qua chỗ khác hoặc đưa hai
tay đẩy cha mẹ qua một bên.
*)- Còn đứa con khi ngủ mê, sáu Tâm Thức của nó không còn hiện
hữu, chỉ còn lại hai Tâm Thức Mạt Na và A Lại Da trong thân thể của nó
cho nên nó lúc đó không có cảm giác nhận thức; cha mẹ hun hít âu yếm
trong lúc đứa con đang ngủ mê, nghĩa là cha mẹ trút hết vào tâm của nó
sự đam mê luyến ái qua tâm Thức Mạt Na tiếp nhận không có phân biệt chọn
lựa và không giới hạn, khiến tâm của nó bị ô nhiễm ngu si đần độn, sẽ
làm trở ngại sự học hỏi của nó sau này kém thông minh khi nó lớn lên.
Muốn con mình lớn lên trở nên người thông minh sáng suốt, một trong
những điều kiện là không nên hun hít âu yếm chúng nó trong lúc ngủ mê.
3)- Tạo Tình Cảm Nương Tựa Giữa Cha Mẹ Và Con Cái:
Như trước đă trình bày theo tinh thần duyên
sanh, con người sống cần phải có chỗ nương tựa để tồn tại, để nẩy nở và
phát triển tâm hồn, nhưng đã sống chung với nhau mà không có tình cảm
gắn bó với nhau thì không có hạnh phúc an lạc. Con người sống chung với
nhau mà không có tình cảm gắn bó thì đối xử với nhau có tánh cách máy
móc, tính toán thiệt hơn, thái độ lợi dụng lẫn nhau hơn là thể hiện sự
chân tình trao đổi chia xẻ. Trong một gia đình, con người muốn có hạnh
phúc an lạc thật sự thì mỗi người cần phải xây dựng tình cảm nương tựa.
Nhất là con cái, chúng nó cũng cần phải có chỗ nương tựa để đặt tình
cảm. Chúng nó đặt tình cảm nương tựa nơi cha mẹ thì thương yêu và sẵn
sàng hy sinh cho cha mẹ, chúng nó đặt tình cảm nơi súc vật như con gấu
vải, con búp bê, con mèo, con chó thì thương yêu và sẵn sàng hy sinh cho
những súc vật nói trên. Tại sao đứa trẻ lớn lên chỉ biết thương yêu và
quý mến những con gấu, con búp bê bằng vải, hoặc thương yêu và quý mến
con mèo, con chó hơn thương yêu và quý mến cha mẹ của nó? Nguyên do cha
mẹ không cho nó đặt tình cảm nương tựa nơi mình, cho nên nó phải đặt
tình cảm nương tựa vào những chỗ khác, như nương tựa con gấu, con búp bê
bằng vải..v..v.... để cho tình cảm của nó nẩy nở và phát triển. Cha mẹ
muốn cho con mình luôn luôn mến thương tưởng nhớ đến mình thì phải để
cho chúng nó nương tựa tình cảm từ khi sanh ra cho đến khi thành danh.
Cha mẹ muốn con mình dâng trọn tình cảm nương tựa nơi mình thì phải theo
những điều kiện sau đây:
a)- Phải ngủ chung với con
cái:
Con cái từ hai tuổi cho đến khoảng 12 tuổi,
cha mẹ phải tìm cách thường xuyên ngủ chung với chúng, cha thì phải ngủ
chung với con trai và mẹ thì phải ngủ chung với con gái, phải thường
xuyên kể những gương tốt của mình, của gia tộc cho chúng nghe, đừng để
cho chúng ngủ riêng một mình trong một căn phòng suốt năm này qua năm nọ
khiến cho tâm hồn của chúng lớn lên trong sự cô đơn lạc lõng. Chúng nó
tuổi còn bé thơ nếu như ngủ riêng một mình trong một căn phòng trống
vắng suốt năm này qua năm nọ thì tâm hồn của chúng trở nên ốc đảo và
tình cảm của chúng trở nên lạnh lùng với cha me. Giữa đêm khuya thanh
vắng, tâm hồn chúng nó cảm thấy cô đơn đáng sợ, trong lúc đó không làm
sao hơn đành phải gởi gấm tình cảm vào gối ôm, vào con gấu, vào búp bê
hoặc vào con mèo, con chó..v..v.... để được ấm lòng cho yên giấc ngủ và
cũng từ đó những vật này trở thành bạn lành gắn bó đậm đà không thể phân
ly với chúng nó. Tình cảm của chúng nó đã đặt trọn vẹn vào gối ôm, vào
con gấu, con búp bê..v..v....thì đối với cha mẹ lẽ tất nhiên trở nên lạc
lỏng xa vời và cách biệt. Mình là người lớn, nếu ở một mình trong một
gian nhà hay ngủ riêng một mình trong một căn phòng còn cảm thấy cô đơn,
buồn tẻ, huống chi là đứa bé còn trẻ thơ. Cho nên cha mẹ muốn con mình
đặt trọn tình cảm gắn bó với mình phương pháp đầu tiên và tốt nhất là
phải tìm cách ngủ chung với chúng nó để làm chỗ nương tựa cho chúng nó
an tâm.
b)- Làm gương tốt cho con cái:
Tâm lý của những đứa con, nhất là con gái thường tự hào hảnh diện
và khoe khoang với bạn bè những điều tốt của gia đình của cha mẹ và
chúng nó cũng đau lòng cũng tủi hổ với bạn bè khi bạn bè cho biết những
điều không tốt của gia đình của cha mẹ chúng nó. Cha mẹ phải luôn luôn
thể hiện những đức tánh tốt cho chúng nó lý tưởng. Bậc làm cha mẹ đừng
làm cho chúng nó mất niềm tin với những tật xấu của mình qua hành động,
lời nói hay tư tưởng. Châm ngôn thường nói: “Không có những đứa con xứng
đáng khi cha mẹ không xứng đáng” trong quyển Hạnh Phúc Lứa Đôi, trang
99, của Ven. Dr. K. Shi Dhammananda, Thích Tâm Quang dịch. Cha mẹ ly dị
là điều bất hạnh lớn nhất của con cái, làm tổn thương lớn nhất về mặt
tâm lý của con cái, trước hết là thiếu chỗ nương tựa cho tâm linh, làm
mất lý tưởng thần tượng của con cái về mặt thiêng liêng trong đó có sự
bất kính đối với cha mẹ len lỏi vào tâm hồn của chúng nó, vì chúng nó
cảm thấy rằng tương lai đen tối sẽ đến với chúng nó khi bị cha mẹ bỏ
rơi. Chồng vợ nếu có sự bất hòa vấn đề gì, nếu như việc nhỏ nhặt thì hai
người âm thầm giải quyết lấy đừng cho con cái biết, đừng để tổn thương
đến tâm hồn trong trắng của chúng; còn như những việc bất hòa trở nên
lớn chuyện có thể đi đến ly dị nếu như con cái đã lớn thì nên đem ra
thảo luận với chúng, vì chúng nó cũng có nhiều ý kiến quan hệ tinh thần
với cha mẹ trong cộng đồng sống chung gia đình, nếu cha mẹ còn nghĩ tình
nghĩa với con cái. Thật là một điều bất hạnh và khổ đau nhất cho con cái
khi bị cha mẹ bỏ rơi để họ sống cho hạnh phúc riêng tư. Nói tóm lại, bậc
làm cha mẹ luôn luôn phải biểu tượng tấm gương tốt trong mọi góc độ qua
hành động, qua lời nói và qua ý tưởng để cho con cái noi theo.
c)- Theo dõi sự học hành của con cái:
Theo quyển Hạnh Phúc Lứa Đôi của Thích Tâm
Quang dịch, trang 101 giải thích: “Nhà là trường học đầu tiên và cha mẹ
là thầy giáo đầu tiên. Trẻ con thường học những bài học vỡ lòng tốt và
xấu nơi cha mẹ”. Bổn phận của cha mẹ là phải luôn luôn quan tâm đến đời
sống của con cái nhất là vấn đề học vấn, nền tảng căn bản của đời sống
hạnh phúc của con cái trong tương lai. Thầy giáo đào luyện kiến thức văn
minh cho con cái trong trường học, còn cha mẹ giáo dục kinh nghiệm đạo
đức làm người cho con cái trong trường đời. Nhưng trường học thì khác
hơn trường đời, trường học chỉ giáo dục con người qua sách vỡ, nhưng
trường đời thì giáo dục con người qua kinh nghiệm sống. Để cho trường
học và trường đời không mâu thuẩn với nhau trong phương hướng xây dựng
hạnh phúc tương lai cho con cái, cha mẹ phải thường xuyên theo dõi sự
học hành của con cái mình. Những điều kiện theo dõi sự học hành của con
cái như sau:
1)-
Điều Kiện thứ nhất:
*)- Cháu nào học giỏi cha mẹ khen thưởng,
*)- Cháu nào học kém cha
mẹ an ủi khuyến khích, thí dụ như khuyến khích
nó cố gắng học cuối tháng được điểm cao tặng quà cho nó,..v..v.....
*)- Cháu nào nếu như cuối niên khóa học kém, cha mẹ phải
theo dõi cháu có năng khiếu gì thì cho nó học
ngành nghề theo năng khiếu của nó, nhờ đó nó mới chăm học
để năng khiếu được phát triển. Châm ngôn
có câu: “Nhất nghệ tinh, nhất
thân vinh” , nghĩa là bất cứ nghề nào, miễn nghề đó được điêu
luyện tinh xảo thì một đời được vinh hiển, đừng bắt ép con mình học
theo ý muốn của mình mà những môn học đó không phải đúng năng khiếu và
sở thích của chúng nó.
2 )-
Điều kiện thứ hai:
Cha mẹ theo dõi những điều
học được trong nhà trường có lợi hay có hại về mặt tình cảm trong gia
đình, có những môn học có lợi về mặt khoa học kỷ thuật nhưng không có
lợi về mặt đạo đức tình cảm làm người. Thí dụ:
*)- Nhà trường dạy cháu về giá
trị giữa công nhân và chủ nhân, nghĩa là chủ nhân phải trả lương tương
xứng công suất của công nhân và không được cướp công của công nhân. Khi
về nhà, cha mẹ nhờ cháu làm một việc gì đó và cháu khi làm xong việc đó
liền đòi hỏi cha mẹ phải trả công cho cháu, cha mẹ không trả công cho
cháu thì cháu cứ trách móc cha mẹ cướp công của cháu. Ba má cháu hỏi: ai
dạy con như thế, cháu trả lời nhà trường dạy con như thế. Từ đó cha mẹ
và cháu sứt mẻ tình cảm với nhau. Cho nên cha mẹ phải theo dõi để giải
thích lại mặt trái của vấn đề để cháu so sánh chọn lựa.
*)- Có một số nhà trường dạy
triết lý sex cho học sinh và cho rằng hành động tình dục không có tội
lỗi. Sau khi học xong, đa số học sinh thích thú muốn thí nghiệm cho
biết, mà chúng nó không rõ vấn đề tình dục sẽ gây đau khổ cho cá nhân
cho gia đình, cho cả xã hội và bị người đời khinh khi, còn cho tình dục
la ømón hàng quá tầm thường không còn quý trọng, mất lý tưởng, thường
gọi là “Tình yêu bán chợ trời”.
Ngoài ra còn nhiều vấn đề khác có
hại cho luân lý, cho đạo đức và cho tình cảm của con người mà bậc làm
cha mẹ phải có bổn phận theo dõi để giải thích lại mặt trái của mọi vấn
đề để cho con mình hiểu biết, có nghe được hai tiếng chuông thì mới biết
tiếng chuông nào kêu hơn.
3)- Hướng Dẫn Con Cái Về Đạo Đức
Và Hiếu Hạnh:
Đạo đức là nền tảng căn bản của con người và hiếu hạnh là điều
kiện hàng đầu trong nếp sống làm người. Những đứa trẻ sanh ra theo luật
nhân quả của Phật Giáo là kết quả sơ khởi với dạng vô ký ( không phải
thiện mà cũng không phải ác) của những nghiệp nhân kiếp trước có quan hệ
trực tiếp với cha mẹ, nghĩa là những nghiệp nhân thiện ác chứa đầy trong
tâm của nó chờ gặp duyên xuất hiện để thọ nhận quả báo tốt hay xấu trong
cuộc đời nó. Có thuyết cho rằng đứa bé sanh ra thuộc về bản tánh thiện
và có thuyết cho rằng đứa bé sanh ra thuộc về bản tánh ác. Đứa bé sanh
ra nếu là bản tánh thiện thì không thể trở thành người tội lỗi xấu ác
được; còn đứa bé sanh ra nếu là bản tánh ác thì không thể trở thành
người hiền lương đạo đức được. Theo Phật Giáo, đứa bé sanh ra thuộc về
bản tánh vô ký là bản tánh không phải thiện và bản tánh không phái ác,
nghĩa là nó sống gần những điều thiện thì trở thành người hiền lương đạo
đức và nó sống gần những điều ác thì trở thành người xấu xa tội lỗi.
Những đứa bé mới sanh ra thuộc dạng vô ký, nghĩa là những nghiệp thiện
ác của kiếp trước hiện đầy dẫy trong tâm thức của chúng nhưng chưa có đủ
duyên xuất hiện để tạo lấy quả báo an vui hay khổ đau cho cuộc đời của
chúng đúng với châm ngôn: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.
Cũng vì lý do đó, bậc làm cha mẹ cần phải hướng dẫn con cái xây dựng đạo
đức làm người, tránh xa những điều xấu ác và làm những điều lành, giữ
tâm cho thanh tịnh. Những nguyên tắc hướng dẫn con cái về đạo đức và
hiếu hạnh như:
a)- Về Đạo đức:
*)- Lúc nó còn trẻ thơ, cha mẹ
phải tập cho con cái biết xưng hô dạ thưa, biết vâng lời, biết chào hỏi
khi khách đến nhà, không được lấy mắt ngó rồi bỏ đi hoặc không được nói
năng vô lễ.
*)- Tập cho con cái biết làm việc
thiện, biết bố thí, biết giúp đỡ người già yếu, bệnh tật..v..v....
*)- Chỉ dạy cho chúng biết kính
trên nhường dưới, biết thương yêu anh em bà con dòng họ,..v..v.....
*)- Nếu cha mẹ đạo Phật, dẫn
chúng đi chùa lễ Phật, hợp đoàn bạn đạo với lứa tuổi của chúng và còn
các đức hạnh khác của đạo Phật như mình muốn cúng dường cho Tam Bảo nên
đưa tiền bảo chúng nó bỏ vào thùng phưóc sương, mình đốt hương lễ Phật
đưa chúng nó mỗi đứa một cây và giúp chúng nó cấm lên lư hương trên bản
Phật, mình lạy Phật và bảo chúng nó lạy theo,..v..v... đó là những hình
ảnh, những cử chỉ, những hành động uốn nắn chúng nó trở thành thói quen,
có thể giúp đạo đức được ăn sâu vào tâm não nơi chúng nó.
b)- Về hiếu hạnh:
Cha mẹ phải hướng dẫn con cái
của mình tổ chức ngày lễ Hiếu Hạnh nho nhỏ tại gia đình cũng như ngày lễ
Mother day và Father day của nước Mỹ, nhưng tổ chức nội dung phải có
chất lượng mà không phải chỉ chú trọng hình thức thiếu giá trị tinh
thần, nghĩa là không phải mua một gói quà nho nhỏ và một cái thiệp chúc
cha chúc mẹ là đủ. Nếu gia đình đạo Phật, cha mẹ chọn ngày Hội Vu Lan
rằm tháng bảy hướng dẫn con cái tổ chức ngày lễ Hiếu Hạnh tại gia đình.
Phương thức tổ chức như sau:
·
Tối Chủ Nhật, cha mẹ tập trung các con cái lại tại phòng khách trong
nhà.
·
Trong các cháu, cử một cháu lớn tuổi hơn đứng ra đọc bài văn ngắn chúc
tụng công lao cha mẹ bằng tiếng Anh do cha mẹ viết cho cháu, vì tiếng
Việt các cháu không hiểu hết nghĩa..
·
Một cháu đại diện gắn bông hồng cho cha mẹ và cha mẹ gắn bông hồng lại
cho các cháu.
·
Sau đó cha mẹ tặng cho mỗi cháu một món hòa Hiếu Hạnh nho nhỏ cho các
cháu.
·
Tiếp theo các cháu hợp ca bài hát Bông Hồng, cha mẹ phải dạy trước cho
các cháu hát và giải nghĩa bài hát cho các cháu hiểu.
·
Đồng thời cùng nhau uống trà và ăn bánh ngọt.
·
Sau đó bế mạc, thế là xong buổi lễ Hiếu Hạnh tại nhà.
Các cháu khi lớn lên, ấn tượng Hiếu
Hạnh ăn sâu trong tâm hồn của các cháu không bao giờ quên. Đó là một
trong những phương pháp giáo dục hạnh hiếu đối với cha mẹ cho tuổi trẻ
hữu hiệu không ít. Nhờ đó, các cháu sau này khi lập gia đình biết cách
tổ chức lễ Hiếu Hạnh cho con của chúng nó học hỏi theo.
4)- Đừng Chen Lấn Vào Đời Sống
Gia
Đình Của Con Cái:
Một số không ít, cha mẹ thường hay chen lấn vào đời sống của con
cái có gia đình, kiểm soát lối sinh hoạt riêng tư của chúng, bắt chúng
phải sống theo lối sống của mình, vô tình làm tổn thương đến đời sống
hạnh phúc của lứa đôi. Cha mẹ có những hành động như đã kể trên vô tình
đào sâu hố thẩm ngăn cách tình cảm giữa cha mẹ và con cái, nhất là tạo
nên thành kiến sâu dầy giữa cha mẹ và dâu rể. Thực tế khi cha mẹ già
yếu, con cái không quan tâm đến sự sống chết của cha mẹ mà lúc đó cha mẹ
rất cần đến con cái làm chỗ nương tựa lúc tuổi xế chiều. Cha mẹ phải để
cho con cái có tinh thần tự lập, có trách nhiệm gánh vác sự nghiệp gia
đình riêng tư của chúng nó.
Trước khi lập gia đình, cha mẹ
phải huấn luyện con cái cách sống của một gia đình hạnh phúc giữa chồng
vợ con cái, biết cách xây dựng sự nghiệp, biết chia xẻ tình cảm, biết
nuôi dưỡng con cái, biết giao dịch xã hội,..v..v.....
Khi con cái đã lập gia đình, cha
mẹ không nên chen lấn vào đời sống hạnh phúc riêng tư của chúng. Sự
thành bại của gia đình chúng nó để cho chúng nó tự chịu trách nhiệm giải
quyết và cha mẹ chỉ đóng vai cố vấn là khi nào chúng nó đến nhờ chỉ dạy,
nhưng cha mẹ chỉ trao đổi lợi hại với chúng nó bằng cách ái ngữ để
chúng nó không bị mặc cảm khi tiếp nhận, không thành kiến khi bị trách
móc.
Phận làm cha mẹ nên luôn luôn nhớ
câu: “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhơn”, nghĩa là những điều
mình không thích thì đừng làm cho người khác; mình không muốn cha mẹ
chen lấn kiểm soát vào đời sống hạnh phúc riêng tư của mình thì mình
cũng đừng chen lấn kiểm soát vào đời sống hạnh phúc riêng tư của con
cái.
5)- Không Nên Đem Tôn Giáo Vào
Gia
Đình:
Theo quan niệm của tôi, phận làm cha mẹ không nên đem tôn giáo vào
gia đình mà nên để cho gia đình tự động hướng về tôn giáo, nghĩa là cha
mẹ đừng bắt ép con cái dâu rể muốn được cưới vợ lấy chồng trước hết phải
vô tôn giáo rồi sau đó mới được tác hợp với nhau. Cha mẹ bắt ép như thế
vô tình làm tổn thương tâm lý của đôi trai gái mới yêu nhau mà chúng nó
chưa có khái niệm đức tin về vấn đề tín ngưỡng, nghĩa là chúng nó vì sợ
không được yêu nhau nên vẫn làm theo lệnh của cha mẹ, nhưng tâm hồn của
chúng nó vẫn âm thầm bất kính và khinh thường sự thánh thiện của tôn
giáo đó.
Tôn giáo là một tổ chức thánh
thiện và gia đình là một xã hội thế tục, cha mẹ nếu đem tôn giáo vào gia
đình thì vô tình hạ thấp giá trị thánh thiện của tôn giáo đó khi chúng
nó chưa có đức tin vững chắc. Gia đình hướng về tôn giáo để tu tâm dưỡng
tánh thì tôn giáo đó mới có lý tưởng và gia đình đó mới được hạnh phúc.
Gia đình hướng về tôn giáo để tu
tâm dưỡng tánh, nghĩa là gia đình đó, đôi trai gái sau khi xây dự đức
tin về tình yêu vững chắc cho nhau, rồi sau đó chúng nó mới tự động
hướng về tôn giáo theo đức tin tín ngưỡng sẵn có của mình để cùng nhau
bồi dưỡng tâm linh cho việc xây dựng hạnh phúc chân thật.
Gia đình nào, đôi trai gái cùng
một tôn giáo thì rất dễ dàng cho việc đem tôn giáo vào gia đình trước
khi cưới gả. Còn gia đình, đôi trai gái khác nhau tôn giáo thì đừng ép
chúng nó theo đạo trước khi yêu nhau mà chúng nó không có chút đức tin
tín ngưỡng nào và cũng không có quyền tự do chọn lựa đức tin tín ngưỡng
cho mình.
Phận làm cha mẹ nếu như thật sự
thương yêu con dâu hay con rể của mình thì để cho chúng tự do chọn lựa
tôn giáo theo sự hiểu biết của chúng nó, đừng chen lấn vào gia đình
riêng tư của chúng nó, đừng đem tôn giáo vào khống chế đời sống hạnh
phúc lứa đôi của tuổi trẻ. Nếu được như vậy thì gia đình đó hạnh phúc
biết bao.
C)- Đối Với Người Thân:
Người thân của chúng ta là cha mẹ
ruột và cha mẹ bên chồng cũng như cha mẹ bên vợ. Cha mẹ ruột là những
người thân nhất trực tiếp quan tâm, chia xẻ, bao dung không vị kỷ đến
đời sống của chúng ta và cũng là cây đại thọ che mát cuộc đời của chúng
ta trên cuộc hành trình xây dựng hạnh phúc gia đình; còn cha mẹ bên vợ
và bên chồng là những người thân gián tiếp hổ trợ tinh thần, khuyến
khích và hướng dẫn những kinh nghiệm sống an vui cho chúng ta. Chúng ta
phận làm con, làm rể, làm dâu đối với cha mẹ hai bên phải biết cảm thông
kính trọng.
1)- Phải Tôn Kính Cha Mẹ Hai Bên:
Chúng ta thường có một tâm bệnh
ích kỷ riêng tư chỉ biết tôn kính cha mẹ ruột của mình, còn cha mẹ bên
vợ hay cha mẹ bên chồng thường tỏ thái độ thiếu lễ nghi cung kính. Người
rể cũng như người dâu phải ý niệm rằng: Nếu không có cha mẹ vợ thì làm
sao có vợ để mình yêu và nếu không có cha mẹ chồng thì làm sao có chồng
để mình thương. Chúng ta kính trọng cha mẹ ruột của mình bao nhiêu thì
cũng phải kính trọng cha mẹ bên chồng và cha mẹ bên vợ bấy nhiêu. Chúng
ta nếu như thương yêu vợ của mình thì phải kính trọng cha mẹ bên vợ,
chúng ta nếu như thương yêu chồng của mình thì phải kính trọng cha mẹ
bên chồng giống như câu Ca Dao nhân gian thường nói: “Thương chồng
phải lụy mụ gia, gẩm tôi với mụ có bà con chi”. Một khi đã sống
chung trong một gia đình, chúng ta đừng làm cho chồng của mình hay vợ
của mình lương tâm bị tổn thương, bị giày vò bởi dòng họ nguyền rủa cho
chồng mình hay vợ mình là đứa con bất hiếu đối với cha mẹ của họ do
chính mình gây nên. Mình cứ mãi gây tạo những ấn tượng cho chồng của
mình hay cho vợ của mình bị mang tiếng là đứa con bất hiếu nói trên nội
kết lâu ngày vào tâm khảm sẽ đưa đến tình trạng hạnh phúc gia đình bị
sứt mẻ và cũng có thể đi đến tình trạng chồng vợ ly dị với nhau.
Ngoài ra, chúng ta nếu là người
con rể hay con dâu cũng phải quý mến và kính trọng họ hàng cũng như bạn
bè bên vợ và bên chồng để tạo một bầu không khí tương quan thích hợp, an
vui cho cuộc sống ra riêng tự lập của chúng ta. Nhờ tư cách lễ độ khiêm
cung của chúng ta đối với họ hàng và bè bạn hai bên tạo nên một ấn tượng
đẹp đẽ mến yêu thắm thiết của mọi người và nhờ đó không bị cô đơn về tâm
linh trên bước đường lập nghiệp.
Giả sử, anh chị em bên chồng hay
bên vợ có thái độ ganh ghét thì chúng ta vì chồng của mình hay vì vợ của
mình luôn luôn nhịn nhục làm thinh, nếu nhận thấy những sự ganh ghét đó
không hại đến đời sống riêng tư của gia đình mình. Còn như những sự ganh
ghét đó có ảnh hưởng đến đời sống riêng tư của gia đình mình thì chúng
ta vẫn có thái độ lịch sự với họ, đồng thời chồng hay vợ nên tâm sự với
nhau để cùng thông cảm và không cần phải đôi co với họ không có lợi ích
chi cả, vì họ là những người bên ngoài không có sống chung với chúng ta.
Chúng ta cũng nên giác ngộ rằng
mình thể hiện những cử chỉ lễ độ khiêm cung, tôn kính với cha mẹ hai
bên, với họ hàng bè bạn cũng là một phương pháp bồi dưỡng tâm linh về
đạo đức làm người đúng với câu tục ngữ nhân gian: “Hoa thơm nhờ
nhụy, người có giá trị nhờ đạo đức”.
2)- Thường Xuyên Vấn An Sức Khoẻ Cha Mẹ Hai Bên:
Thường xuyên vấn an sức khỏe cha mẹ hai bên chính là chức năng của con
người hiếu hạnh và cũng là đạo nghĩa của nhân cách làm người. Con người
biết tôn trọng giá trị nhân phẩm, biết sống đạo nghĩa tình người đối với
cha mẹ hai bên thì không thể thiếu sót nghĩa vụ này. Thường xuyên vấn an
sức khỏe cha mẹ hai bên có ba mục đích:
a)- Mục đích thứ nhất:
Nền tảng căn bản của xã hội loài người là sự quan hệ phức tạp trên
mặt đời sống cũng như trên mặt tình cảm giữa cha mẹ và con cái. Theo tâm
lý thông thường, cha mẹ nào khi có con cái đều đặt hết tình thương yêu
vào chúng nó và muốn chúng nó suốt đời không ra khỏi tầm tay chăm sóc
của mình. Nhưng theo luân lý xã hội, con cái lớn lên phận làm cha mẹ
phải dựng vợ gả chồng cho chúng nó và nếu như không cho chúng nó lập gia
đình thì cha mẹ phạm tội lỗi rất nặng thiếu trách nhiệm rất lớn về hạnh
phúc tương lai của chúng nó. Nhưng tình cảm của cha mẹ lại không muốn
chúng ra riêng tự lập, tách khỏi sự quan tâm của mình. Vì lý do đó, thuở
xưa cha mẹ mới đặt ra một luật lệ “Cưới Dâu” và “Bắt Rể” là để chúng nó
được sống bên cạnh gia đình của mình và để tình cảm của mình khỏi bị
tổn thương.
Ngày nay thời đại văn minh khoa học tân tiến, vấn đề “Cưới Dâu” và
“Bắt Rể” không còn giá trị đối với tuổi trẻ. Khi lập gia đình, cập chồng
vợ son trẻ nào cũng muốn ra riêng tự lập theo sở thích của mình mà không
muốn bị ràng buộc, bị khống chế bởi luân lý khô cằn của cha mẹ hai bên.
Con cái khi sống tự lập trên mặt
tâm lý là một hiện tượng khiến cho tâm trạng của cha mẹ trở nên buồn tủi
vì cha mẹ cảm thấy kể từ nay con cái của mình bỏ rơi mình, không còn cho
mình trách nhiệm thương yêu, chăm sóc và bao dung nữa. Đó là lý do bổn
phận làm con cái cần phải luôn luôn cảm thông sâu sắc tấm gương tình cảm
thương yêu vô bờ bến của những đấng sanh thành đã dành trọn cho mình và
nên thường xuyên vấn an sức khỏe cha mẹ hai bên để cho cha mẹ vơi bớt
phần nào tâm trạng buồn tủi mà họ đã cam chịu quá nhiều khổ đau trong
cuộc đời.
b)- Mục đích thứ hai:
Vì quá thương yêu con cái, tâm hồn cha mẹ luôn luôn băn khoăn lo
lắng, khiến cho tâm trạng không an, ăn ngũ không yên, sợ con cái của
mình còn ngây thơ, thiếu kinh nghiệm, không đủ sức đương đầu trước cuộc
đời quá nhiều cạm bẩy giăng mắc khắp nẻo đường trần. Quan niệm của cha
mẹ cho rằng:
*)- Trường học khác hơn trường
đời, trường học chỉ dạy trên lý thuyết nhưng không có dạy trên kinh
nghiệm sống; trường đời mặc dù không dạy trên lý thuyết, nhưng trực tiếp
dạy trên kinh nghiệm. Chỉ có kinh nghiệm mới giúp con người sống thực tế
hơn.
*)- Con cái của mình mặc dù thông
minh trên trường học, nhưng thiếu kinh nghiệm trên trường đời. Cha mẹ
mặc dù không thông minh bằng con cái trên trường học, nhưng rất kinh
nghiệm trên trường đời.
*)- Con cái mới lớn lên còn ngây
thơ trên trường đời, chúng nó chỉ biết bề mặt của trường đời mà không
biết bề trái của nó. Thí dụ chúng nó chỉ biết bề mặt của tình yêu nhưng
không biết mặt trái của tình yêu.
Trên trường đời, tuổi trẻ ngây
thơ tưởng rằng: đời toàn là hoa gấm, vàng son trải thảm trên cuộc hành
trình may mắn và hạnh phúc, nhìn đời với đôi mắt ngang bằng sổ thẳng mà
không biết uyển chuyển tùy duyên để vương mình lên. Trong xã hội, con
người cần có mực thước công bằng để xây dựng đời sống vật chất, nhưng về
mặt tình cảm, con người nếu như sử dụng mực thước công bằng để xây dựng
hạnh phúc thì sẽ thất bại, nguyên vì “Thẳng mực tàu, đau lòng gổ”,
mà ở đây con người phải xây dựng tình cảm trên nguyên tắc “Hạnh Tùy
Duyên” để có hạnh phúc, giống như dòng nước uyển chuyển đều có mặt
khắp nẻo ngọn ngành của sông hồ. Đối với cuộc đời Hạnh Tùy Duyên là hạnh
biết sống đúng với châm ngôn của Phật Giáo là: “Khôn thì chết, Dại
thì chết, chỉ Biết thì mới sống”, chữ Biết ở đây nghĩa là sống biết
tùy duyên theo hoàn cảnh. Người biết sống tùy duyên phải là người có
kinh nghiệm đời và cha mẹ của chúng ta chính là một trong những người
sống có kinh nghiệm ở đời. Cho nên chúng ta là con cái mới lớn lên cần
phải có cha mẹ hướng dẫn trên kinh nghiệm trường đời. Đó là lý do cha mẹ
hai bên lo lắng cho chúng ta khi chúng ta ra riêng tự lập. Điều nên nhớ
cha mẹ hai bên có dạy dỗ cho chúng ta những điều gì, chúng ta nếu thấy
những điều đó có lợi ích thiết thực cho mình thì chân thành tiếp nhận,
còn chúng ta nhận thấy những điều dạy dỗ đó không thiết thực cho mình
thì chỉ lắng nghe mặc niệm cho qua, không nên có thái độ phản ứng bất
kính đối với bề trên.
c)- Mục đích thứ ba:
Như trước đã trình bày ở mục Giai Đoạn Tuổi Già, cha mẹ khi già
yếu, tuổi gần đất xa trời, ngoài việc thân thể bất an, tứ chi mỏi mệt,
tâm trạng của họ trở nên lo âu cho số phận hẩm hiu, cảm thấy đường trần
lần lần thâu ngắn, hố thẳm tử sanh mỗi ngày mỗi gần kề, không biết rồi
đây sau khi từ giả cuộc đời mình sẽ đi về đâu. Đứng trước tình trạng khổ
đau vì mịt mờ nẻo trước này của đấng sanh thành, phận làm con hiếu hạnh
phải thường xuyên đến vấn an sứ khỏe và tìm mọi cách an ủi cha mẹ cho
vơi bớt não phiền ngỏ hầu đem lại đôi chút niềm vui cuối đời của tuổi xế
chiều. Đó là nghĩa vụ của mục đích thứ ba.
3)- Khuyến Khích Và Giúp Đỡ Cha Mẹ Trong Việc Tu Tập Đạo Đức:
Đạo đức là nền tảng căn bản cho cuộc sống của con người có ý
nghĩa. Con người cần đến đạo đức cũng như hoa cần đến hương sắc đúng như
câu tục ngữ thường nói: “hoa thơm nhờ nhụy, người có giá trị nhờ đạo
đức”.
Đạo đức tự nó có từ trường móc nối và kết hợp thân thương của tất cả mọi
người quy tụ về mình, hổ trợ cho mình đủ sức vượt qua mọi nẻo đường cay
đắng của cuộc đời, đồng thời nó còn là một sợi giây vô hình thắt chặt
sinh mệnh của mình trong đời này trải dài qua các đời sau trên cuộc hành
trình chuyển hóa thăng tiến tâm linh. Có thể khẳng định đạo đức chính là
liều thuốc dưỡng sinh để bồi dưỡng tâm linh tăng cường sức sống, tạo
nguồn hạnh phúc an lạc thực sự cho mình.
Cha mẹ tuổi đã già cần phải tu
tập để bồi dưỡng đạo đức làm hành trang cho kiếp sau trên con đường giác
ngộ và giải thoát khổ đau của kiếp nhân sanh. Cũng vì lý do đó, khi cha
mẹ tu tập đạo đức hay làm những việc phước thiện để bồi dưỡng đạo đức,
phận làm con hiếu hạnh phải tìm mọi cách giúp đỡ cho cha mẹ đạt được như
ý nguyện và cha mẹ nếu như chưa biết tu tập đạo đức thì hãy khuyến khích
họ chuyên cần tiến tu đạo nghiệp cho đời sống nở hoa, đừng để họ lãng
phí thì giờ của khoản đời xế chiều còn lại.
D)- Đối Với Xã Hội:
1)- Khiêm Cung Đối Với Mọi Người:
Khiêm là khiêm tốn, nghĩa là thể
hiện cử chỉ hạ mình xuống ngang hàng với mọi người. Cung là cung kính,
nghĩa là tỏ thái độ kính nể với mọi người. Khiêm Cung là hành động nhằm
đả phá thái độ cống cao ngã mạn của con người. Người khiêm cung không
phải làm mất thể diện của con người mà trái lại theo tỷ lệ nghịch còn
đưa giá trị của con người nổi lên như ngôi sao sáng trong một bầu trời
đen tối. Người khiêm cung cần phải nhận thức rõ những yếu tố quan hệ sau
đây:
a)- Sự sống còn của chúng ta vô
cùng quan hệ mật thiết với xã hội, xã hội thương yêu che chở là chúng ta
sống, xã hội ghét bỏ phá hoại là chúng ta đau khổ. Thí dụ: chúng ta mở
tiệm buôn bán để kiếm cơm qua ngày phải nhờ khách hàng tiêu thụ; có
nhiều khách hàng thương yêu đến tiêu thụ là chúng ta sống và có nhiều
khách hàng ghét bỏ không đến ủng hộ là chúng ta thất bại. Sự sống còn
của chúng ta quan hệ mật thiết với xã hội đúng với câu Tục Ngữ:
“Bà con xa không bằng lối xóm gần”.
b)- Trong xã hội, rất nhiều người
có tánh hay ganh tỵ hiềm khích so đo,..v..v..... với những người hơn
mình, họ không thích những người tài năng hơn họ, giàu sang hơn họ,
thông minh hơn họ..v..v..... Họ đã không thích những người hơn họ mà còn
tìm mọi cách phá hoại những người họ không thích bằng những phương tiện
như chụp mũ, bôi bác, vu khống, chê bai,..v..v..... làm sao cho những
người đó mãi bị thất bại trên đường đời. Đây là đặc tánh cố hữu của xã
hội và theo Phật Giáo xã hội nếu như không có những đặc tánh nói trên
thì không phải là xã hội trần gian.
Muốn cho cuộc sống của mình được
thuận chiều mát mái theo chiều hướng đi lên trong việc xây dựng hạnh
phúc an lạc, mỗi người trong gia đình cần phải thể hiện thái độ khiêm
cung đối với mọi người. Thái độ khiêm cung là một trạng thái tâm lý móc
nối tình cảm thân thương của tất cả mọi người quy tụ về mình nếu như
không được trọn vẹn như ý muốn nhưng cũng giảm bớt đến mức trung bình
những mâu thuẩn nghịch biến cản trở trên bước tiến lên xây dựng hạnh
phúc và nhờ đó mình mới có cơ hội tạo dựng nền tảng an ổn cho cuộc sống
lứa đôi.
2)- Thể Hiện Đức Hạnh Của Bậc Trượng Phu Và Thục Nữ:
Trượng Phu:
Trượng là cây gậy, phu là người đàn ông; Trượng Phu nghĩa bóng ám chỉ
cho người đàn ông là cột trụ của gia đình. Bậc trượng phu là người đứng
đắn thể hiện được bốn đức hạnh của phái nam trong những phong cách đi
đứng, nói năng, cư xử đới với mọi người, nghĩa là không vì giàu sang mà
thay lòngï, không vì thấp hèn mà đổi chí. Tứ Đức là hiếu, đễ, trung,
tín.
*- Hiếu nghĩa là hết lòng thờ
kính cha mẹ;
*- Đễ nghĩa là tỏ lòng yêu mến
anh chị em;
*- Trung nghĩa là trọn đời yêu nước
thương dân;
*-
Tín nghĩa là quý trọng lời hứa
trên hết.
Thục Nữ:
Thục là hiền lành có nết na, nữ là người đàn bà; Thục Nữ là chỉ cho
người đàn bà có những đức tánh hiền hòa, nhã nhặn, thể hiện được bốn đức
hạnh cao quý:
·
Công: mọi việc đều phải khéo léo,
·
Ngôn: ăn nói phải khôn ngoan lễ phép,
·
Dung: mặt mày phải nghiêm chỉnh, ăn mặc phải vén khéo kín đáo,
·
Hạnh: nết na phải đằm thắm, đoan trang, thuần hậu, hiền lương.
Riêng đôi chồng vợ ngoài sự bồi
dưỡng bốn đức hạnh của bậc Trượng Phu và Thục Nữ vừa được giải thích
tổng quát mà ở đây còn phải chú trọng đến cung cách phục sức khi tiếp
xúc với xã hội bên ngoài để nói lên được giá trị cao quý của bốn đức
hạnh trên. Theo luân lý và đạo đức, đôi chồng vợ muốn thể hiện bậc
Trượng Phu và Thục Nữ khi tiếp xức với xã hội bên ngoài cần phải quan
tâm những điểm sau đây:
a)- Khi giao tiếp với mọi người
bên ngoài, chúng ta không nên ăn mặc thường phục ở nhà, nghĩa là chúng
ta phải mặc sắc phục ngoại giao như theo người Việt Nam, người đàn ông
phải mặc quần tây dài, áo dài tay và gài nút cổ đàng hoàng,..v..v...;
ngươi đàn bà phải mặc áo dài,..v..v...., không nên mặc đồ ngắn hay đồ
ngủ đi tiếp xúc với họ. Chúng ta ăn mặc những quần áo trong nhà, như
quần ngắn, áo thun,..v..v.... ra ngoài tiếp xúc với mọi người có những
lỗi lầm như sau:
*)- Tạo cho mọi người không thiện
cảm với mình, vì chính mình tỏ thái độ khinh họ thấp hèn khi tiếp xúc.
*)- Tạo cho mọi người đánh giá
mình thiếu học thức, thiếu văn hóa nên không biết cung cách giao tiếp.
b)- Khi giao tiếp với mọi người
bên ngoài, đàn bà thì không nên ăn mặc hở hang và nói năng lả lơi có
tánh cách khêu gợi tình dục với người khác phái. Ăn mặc hở hang và nói
năng lả lơi để tiếp xúc với mọi người có những khuyết điểm như sau:
*)- Tạo cho đối phương khinh
thường mình, đánh giá thấp cho mình là hạng bất chánh.
*)- Tạo cho chồng dễ mất niềm tin
với nhau trong khi sống chung qua cách phục sức hở hang hoặc nói năng
thiếu tế nhị.
Đôi chồng vợ cần phải biết, người
đàn ông thì có bạn trai và người đàn bà thì có bạn gái; người chồng khi
ra ngoài xã hội ăn mặc không lịch sự làm cho vợ của mình mất mặt với bạn
gái, vì bị những bạn gái bình phẩm tư cách, cũng như người vợ khi ra
ngoài xã hội ăn mặc không đàng hoàng làm cho chồng của mình mất mặt với
bạn trai, vì bị những bạn trai bình phẩm nết hạnh.
Đây là một trong những yếu tố cần
phải quan tâm trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình. Món hàng có giá
trị là khi món hàng đó khó kiếm và ít gặp và tình yêu có lý tưởng là
tình yêu khó kiếm và ít được thấy. Như vậy đôi chồng vợ muốn được hạnh
phúc bền lâu thì lối ăn mặc và nói năng cũng cần phải cẩn thận.
3)- Loại Bỏ Những Chuyện Thị Phi
Ở Đời:
Vấn đề thị phi được thấy trong
quyển Niệm Phật Thập Yếu của Đại sư Thiền Tâm, trang 153 – 154 có ghi
lại bài kệ Vô Tướng nơi Kinh Pháp Bảo Đàn của ngài Huệ Năng như sau:
“.......................................
“Muốn phá tan phiền não
Hãy trừ tâm thị phi
Thương ghét chẳng để lòng
Nằm thẳng đôi chân nghỉ!”
Xây dựng hạnh phúc gia đình, vấn
đề thị phi theo quan niệm Phật Giáo cũng là một vấn đề tai họa không
kém. Người đời thường bị một thứ bệnh cũng khó trị là những chuyện xấu
trong gia đình không biết đóng cửa để dạy nhau, lại đi bán rao với mọi
người, hoặc những chuyện xấu của người đời bên ngoài không quan hệ chút
nào với gia đình mình lại mang vào nhà làm xáo trộn nếp sống bất an
trong gia đình. Thứ bệnh này của con người, đức Phật ghép vào một loại
bệnh là bệnh Vọng Ngôn (một thứ trong bốn thứ Vọng Ngữ). Vọng Ngôn:
nghĩa là chụp mũ, du khống, chuyện có cho là không có, chuyện không có
cho là có, chuyện phải cho là quấy, chuyện quấy cho là phải, chuyện xấu
trong nhà đem khoe ngoài đường, chuyện xấu ngoài đường mang về làm xáo
trộn trong gia đình. Gia đình muốn được hạnh phúc bền lâu, chồng vợ cần
phải tu tập những điều kiện sau đây:
*)- Không nên đem những chuyện
thị phi bên ngoài vào nhà bình phẩm. Những chuyện thị phi bên ngoài
không quan hệ chút nào với gia đình nếu đem vào nhà bình phẩm làm nếp
sống gia đình trở nên sóng gió vô cớ, vì mỗi người có quan điểm khác
nhau về chuyện thị phi đó; có một số gia đình cũng vì chuyện thị phi vô
cớ nói trên sắp đi đến tình trạng chồng vợ ly dị với nhau. Cho nên luật
của Phật cấm người Phật tử chân chánh tuyệt đối không nên đem những
chuyện thị phi bên ngoài vào gia đình vô tình làm xáo trộn tâm linh của
họ trở nên bất an.
*)- Không nên đem những chuyện
xấu trong gia đình đi bán rao ra ngoài cho mọi người đều biết. Trong gia
đình nếu có chuyện xấu gì, chồng vợ nên đóng cửa để sửa đổi cho nhau,
không nên nhờ người ngoài can thiệp vào sẽ làm mất thể diện cả tông môn
hai họ. Nếu như chồng vợ không giải quyết cho nhau được thì nên nhờ đến
cha mẹ hai bên đứng ra hòa giải, hoặc chồng vợ có tín ngưỡng thì nhờ đến
người lãnh đạo tinh thần đứng ra hòa giải. Còn người ở ngoài thì không
thể nào hòa giải được và nếu như người hòa giải đó không được tốt thì
tạo sự ly gián khiến cho hai bên càng đổ vở thêm và những điều xấu trong
gia đình mình cũng vì họ không kín miệng cho nên mọi người ai cũng biết
đến.
Tâm có hòa thuận thì chồng vợ mới
có hạnh phúc và chuyện thị phi vừa trình bày là những điều kiện khiến
cho tâm của chồng vợ trở nên bất hòa và từ đó lâu ngày nội kết sẽ đưa
đến gia đình mất hạnh phúc. Đôi chồng vợ muốn sống có hạnh phúc thì phải
tu tập tịnh khẩu để tránh những chuyện thị phi nói trên.
2.- MIỆNG HÒA KHÔNG TRANH CẢI:
(Khẩu hòa
vô tránh)
Miệng hòa không tranh cải nghĩa
là lời nói phải hòa hợp không chống đối lẫn nhau, nghĩa là lời nói phải
giữ gìn cho được ôn hòa nhã nhặn. Bất kỳ trường hợp nào, nếu có điều gì
thắc mắc cần phải thảo luận, nhưng phải trao đổi trong sự hòa nhã lễ độ
để tránh sự cạnh tranh hơn thua, thù nghịch nhau. Muốn được như vậy,
trong một gia đình, chồng vợ, con cái, anh em cần phải theo những luật
lệ như sau:
1)-Nhẫn Nhục Để Vượt Qua Mọi Trở Lực:
Theo Phật Giáo, cuộc đời luôn luôn có hai mặt: thiện và ác, tốt và xấu,
thạnh và suy, ngày và đêm, nước lớn và nước ròng. Dòng đời luôn luôn vô
thường biến đổi như dòng nước chảy và nhờ vô thường biến đổi cho nên con
người mới sống cũng như nhờ dòng nước chảy cho nên dòng nước không bị hư
thối. Cũng vì dòng đời vô thường biến đổi cho nên cuộc đời luôn luôn
xuất hiện có hai mặt vừa kể ở trên. Chúng ta hiện đang sống trong dòng
đời vô thường biến đổi và trong cuộc đời hai mặt thì làm sao tránh khỏi
những trở lực đắng cay dồn dập đưa đến. Chúng ta cũng vì sống trong cuộc
đời hai mặt và bị cuốn hút theo dòng đời vô thường biến đổi cho nên luôn
luôn gặp rất nhiều ngang trái hơn là gặp nhiều may mắn.
Chúng ta là Phật tử đã biết cuộc đời là như thế thì phải nên sống theo
Hạnh Tùy Duyên. Hạnh Tùy Duyên nghĩa là đời sống của mình khi gặp con
nước lớn, gặp nhiều phước lành, nhiều may mắn thì đừng tự hào buông thả,
đừng tiêu hao lãng phí cuộc đời mà phải nên chuẩn bị lúc gặp phải con
nước ròng, gặp phải thời vận suy tàn đắng cay dồn dập; còn đời sống của
mình khi gặp phải con nước ròng, gặp lúc thời vận suy tàn, gặp nhiều trở
ngại đắng cay thì cũng đừng thối chí ngả lòng, phải nhẫn nhục để vượt
qua cơn nguy khó thì nhất định sẽ gặp nước lớn trở lại, sẽ gặp nhiều
phước lành, nhiều may mắn tái diễn. Chúng ta đã biết sống theo Hạnh Tùy
Duyên nói trên, nghĩa là chúng ta đã chuẩn bị trước tư thế thì khi gặp
phải những hoàn cảnh bất hạnh như đã nói ở trên không bao giờ bị khổ đau
tuyệt vọng. Ngược lại chúng ta nếu như không biết sống theo Hạnh Tùy
Duyên, nghĩa là không biết chuẩn bị trước tư thế thì sẽ rước lấy từ thất
bại này đến thất bại khác trong cuộc đời.
Những sự kiện trên dạy cho chúng
ta rằng mình là người biết sống Hạnh Tùy Duyên khi gặp phải những hoàn
cảnh bất hạnh, những trở ngại đắng cay dồn dập mang đến thì không nên
mắng trời trách đất mà ở đây cần phải nhẫn nhục để vượt qua và biết rằng
ngày mai trời sẽ sáng trở lại, không nên thối chí ngả lòng để rồi chính
mình phải rước lấy những bất hạnh khổ đau.
2)- Ái Ngữ Trong Việc Đối Xử:
Ái ngữ nghĩa là lời nói thương yêu ngọt ngào. Đôi chồng vợ hằng
ngày đối sử với nhau cần phải sử dụng đến ái ngữ. Châm ngôn thường nói:
“Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”.
Làm người ai cũng có lúc lỗi lầm
và ai cũng có tự ái cá nhân và không muốn người khác phê bình những
khuyết điểm của mình. Chồng hay vợ nếu như có những khuyết điểm gì và
muốn họ sửa đổi thì phải đối xử với nhau bằng những lời ái ngữ với những
nguyên tắc sau đây:
*)- Đừng phê bình, đừng sửa chữa
chồng hay vợ trước mặt mọi người hoặc trước mặt con cái.
*)- Phải dùng những lời ái ngữ để
phê bình hay sửa chữa, nghĩa là phải ca ngợi chồng hay vợ 80 phần trăm
những hạnh kiểm ưu điểm rồi sau đó nói một cách nhẹ nhàng những khuyết
điểm để họ sửa chữa.
*)- Phải nghe tiếng lòng của họ
đừng nghe tiếng nói của họ, nghĩa là khi mình phê bình sửa chữa chồng
hay vợ, thâm tâm của họ đã biết họ có lỗi, nhưng họ vì tự ái cá nhân cho
nên vẫn cứ cải bướng không chịu nhịn. Lúc đó chồng hay vợ phải lắng nghe
khi nhận biết được tiếng lòng của họ đã ăn năn thì làm thinh bỏ đi chỗ
khác để họ tự động âm thầm sửa chữa, đừng chấp trước những lời cải bướng
của họ mà phải đưa đến sự bất an trong gia đình. Chồng hay vợ nếu như
chấp trước những lời cải bướng của họ thì sẽ đưa đến tình trạng họ lại
trở mặt lỳ lợm không chịu sửa đổi những khuyết điểm theo như ý mình
muốn, điều đó đúng với câu tục ngữ : “Nhân cùng tắc biến, vật cùng
tắc phản”, nghĩa là con người nếu như dồn họ vào đường cùng thì
họ nghịch biến trở lại chống mình, con vật nếu như dồn nó vào đường
cùng thì nó phản lại cắn mình.
Đây là nguyên tắc ái ngữ để đối
xử với nhau cho đẹp lòng chồng vợ và để cho nhau hòa hợp sống chung. Đó
cũng là những yếu tố trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình được bền
lâu.
3)-Thắc Mắc Cần Phải Giải Tỏa.
Chồng hay vợ có những thắc mắc gì trong gia đình thì phải trực
tiếp trình bày thẳng với nhau mong sớm giải tỏa, đừng để ẩn uất nội kết
lâu ngày trong lòng trở thành ung thư tâm lý. Tâm lý khi bị ung thư về
những thắc mắc ẩn uất nội kết thì khó khăn trong việc trị liệu tâm bệnh
cũng như bệnh ung thư tham lam, sân hận, si mê,..v..v.... đã nội kết lâu
đời trong tâm hồn con người thì không dễ gì xóa bỏ tận gốc rể. Tâm lý
ung thư nói trên cũng là nguyên nhân đưa đến tình trạng bất an trong gia
đình khó bề hòa hợp mà gia đình nếu như không thể hòa hợp thì việc xây
dựng hạnh phúc lâu dài không thể nào thành công tốt đẹp.
Những thắc mắc trong gia đình
muốn giải tỏa thì chồng và vợ phải thực hiện những điều kiện sau đây:
*)- Chồng vợ phải luôn luôn tâm
niệm rằng, mình là người cột trụ trong gia đình, là cây đại thọ làm chỗ
nương tựa vững chắc và che mát cho các con. Chồng vợ sống chung đừng tạo
nên sự rạn nứt với những thắc mắc không đâu khiến đưa đến tình trạng bất
hòa trong gia đình gây ảnh hưởng không tốt tâm lý cho con cái. Đôi chồng
vợ sống chung hằng ngày cứ mãi chạm mặt cách lòng, nghĩa là hai người
thường giáp mặt gặp nhau hằng ngày mà lòng của hai người cách xa nhau
ngàn dặm là hiện tượng tâm hồn của đôi bên không có chút hòa hợp, tình
trạng như thế chẳng những gây ảnh hưởng không tốt cho đời sống của chính
mình mà còn ô nhiễm đến tâm lý của con cái. Theo Tâm Lý Học, chồng vợ
mặc dù sống chung với nhau, nhưng tâm hồn của hai người không còn tin
tưởng với nhau để nương tựa thì nhất định mỗi người sẽ đi tìm người
khác để gởi gắm tình cảm và con cái của mình cũng vậy một khi đã mất
niềm tin nơi cha mẹ thì mặc dù sống chung với cha mẹ nhưng với thái độ
chạm mặt cách lòng của cha mẹ, chúng nó cũng sẽ đi tìm ngưới khác bên
ngoài để nương tựa. Trong một gia đình sống chung, tâm hồn của mỗi người
lại đi theo lối rẻ của mỗi ngã thì làm sao có được hạnh phúc. Nhằm ngăn
ngừa những hiện tượng không tốt xảy đến trong gia đình, phận làm cha mẹ
chồng vợ nếu có những thắc mắc gì thì phải nên lập tức cùng nhau giải
tỏa ngay, đừng tạo tình trạng chạm mặt cách lòng xảy ra vô tình làm mất
hạnh phúc cho nhau.
*)- Muốn giải tỏa những thắc mắc
nếu có, đôi chồng vợ vì hạnh phúc chung mỗi người phải có thiện chí
giác ngộ thật sự để cùng nhau hóa giải trong sạch tận đáy lòng những
nghi kỵ khiến không còn dấu vết trong tâm hồn. Nguyên tắc giải tỏa những
thắc mắc, chồng và vợ hai người phải đối diện trực tiếp, phải đặt trên
nền tảng xây dựng, phải trao đổi với nhau bằng những lời lẽ ái ngữ, nhằm
cải tiến để sống chung mà không phải để hơn thua, trong lời nói.
*)- Sau khi trao đổi giải tỏa
xong, chồng vợ kể từ đấy trở về sau xả bỏ tất cả những khuyết điểm đã
qua xem như không có chuyện gì cả, tuyệt đối không được nhắc đi nhắc lại
nhiều lần những lỗi lầm đã được giải tỏa. Đôi chồng vợ nếu như mỗi lần
có chuyện gì xảy ra cứ mãi nhắc lại những lỗi lầm đã qua vô tình khơi
dậy sóng gió trong gia đình như khơi lại đốm lửa đã tàn mà theo lẽ chúng
nó đã tắt rụi từ lâu.
3.- Ý HÒA CÙNG HOAN HỶ: (Ý Hòa Đồng Duyệt)
Ý hòa cùng hoan hỉ nghĩa là tán
đồng ý kiến hay, tùy hỷ học hạnh tốt, luôn luôn vui vẻ cùng nhau. Hãy
nuôi ý đẹp đối với nhau, hãy trao dồi đức hỷ xả, đừng bao giờ thù hiềm,
ganh tỵ nhau. Muốn được như thế, trong gia đnh, chồng vợ, con cái, anh
em cần phải theo những luật lệ như sau:
1)- Bất Cứ Ai Có Ý Kiến Hay Nên Tán Đồng Và Chấp
Nhận:
Trong việc sống chung, bất cứ chồng hay vợ muốn thực hiện những điều gì
trước tiên phải đem ra cùng nhau thảo luận rồi sau đó mới thực hiện. Bất
cứ việc gì chồng hay vợ không nên tự động làm theo ý riêng của mình mà
không có sự đồng ý chung. Trong gia đình nếu như các con lớn khôn và có
chút hiểu biết mà chúng nó hiện đang sống chung với cha mẹ, cha mẹ cũng
phải cho chúng nó tham gia trong việc sanh hoạt kinh tế gia đình, nguyên
vì chúng nó cũng có những ý kiến hay đóng góp vào. Cha mẹ cho chúng nó
tham gia sanh hoạt kinh tế gia đình nhằm mục đích giáo dục chúng nó ý
thức trách nhiệm của mình đối với gia đình trong việc sống chung, nghĩa
là chận đứng sự ham muốn đua đòi quá độ của chúng nó mà kinh tế gia đình
không đủ khả năng bảo trợ. Cha mẹ nếu như không cho chúng nó tham gia
sanh hoạt gia đình, nghĩa là không cho chúng nó biết được mức độ kinh tế
trong gia đình thì chúng nó cứ tưởng rằng cha mẹ mình giàu có tiền nhiều
mà chúng nó cứ tha hồ đòi hỏi để chạy đua theo chúng bạn. Trong khi sanh
hoạt gia đình để thảo luận một việc gì, chồng vợ kể cả con cái phải theo
những nguyên tắc sau đây:
1)- Phải chấp nhận những ý kiến
nào được đa số tán thành, mặc dù đó là ý kiến của con mình. Có được như
vậy sự hợp tác sống chung mới được phát triển trong chiều hướng đi lên.
Cùng một vấn đề, mỗi người có một ý kiến đóng góp thì mới thấy rỏ được ý
kiến nào hay và ý kiến nào dỡ, cũng như có nhiều tiếng chuông khác nhau
mới biết được tiếng chuông nào kêu thanh hơn.
2)- Không nên cố chấp, không nên
bảo thủ ý kiến sai lầm của mình.
*)- Không nên cố chấp, nghĩa là
không nên ỷ mình là cha mẹ là người lớn phủ nhận ý kiến của con cái hay
của em út. Cha mẹ cần chúng nó có thiện chí hợp tác công việc chung mà
không phải cần vai vế để rồi chính mình phải tự bao thầu gánh vác lấy
tất cả mọi công việc, còn chúng nó buông thả đi chơi không trách nhiệm.
*)- Không nên bảo thủ ý kiến sai
lầm của mình. Ý kiến của mình không được đa số chấp nhận có nghĩa là ý
kiến của mình mặc dù rất hay nhưng không hợp thời, không đặt đúng chỗ
hoặc người trình bày không rõ ràng khúc chiết khiến mọi người không được
thông suốt. Ý kiến nào mà đa số người sống chung đã không tán thánh, mặc
dù ý kiến đó của cha hay của mẹ cũng phải để qua một bên mà không nên
bảo thủ chống đối hay độc quyền vô tình làm hư hại tinh thần hợp tác
chung. Mình phải chờ đợi một cơ hội khác khi mọi người thông suốt ý kiến
qua sự trình bày của mình thì lúc đó mọi người sẽ dễ dàng hưởng ứng. Vì
quyền lợi chung, chúng ta phải chấp nhận ý kiến tập thể.
2)- Hãy Nuôi Ý Tốt Đẹp Đối Với Nhau, Hãy Trao Dồi Đức Hỷ Xả:
Theo Phật Giáo, con người là hiện
thân của nghiệp báo. Tất cả nghiệp nào là tham, sân, si, mạn, nghi, ác
kiến,..v..v.... hiện đang lên ngôi làm chủ điều khiển cuộc sống của con
người. Như nghiệp tham, sân, si mà ai cũng biết chúng nó là những thứ
tai họa nguy hiểm cho sự sống còn của con người và hiện nay chúng nó
đang có mặt trong tâm hồn con người. Chúng nó khi tác dụng chỉ đạo thì
mọi sự sanh hoạt của con người trở nên xấu xa tội lỗi. Nhưng con người
muốn diệt chúng nó không phải là dễ, đòi hỏi rất nhiều công phu tu tập
lâu đời mới có thể kềm chế được chúng. Cũng vì những thứ bệnh nghiệp nói
trên con người thường phải vướng mắc những tật xấu như sau:
*)- Con người, nhất là chồng vợ
khi mới quen nhau và đối xử với nhau thì tỏ ra cung cách rất lịch sự,
rất lễ phép hay nói cách khác là rất văn hóa. Khi sống chung với nhau,
con người thường hay lờn mặt, không giữ kẻ với nhau cho phải cách, trao
đổi qua lại nhau với thái độ khinh lờn, xưng hô mầy tao mi tớ với lời lẽ
khiếm nhã thô tục..v..v.... Những cử chỉ không tốt đẹp này khiến cho
chồng hay vợ mất mặt với mọi người với bạn bè nhất là mất mặt với con
cháu trong gia đình.
Chồng vợ muốn được hạnh phúc gia
đình bền lâu, việc nhỏ nhặt thường tình này cũng cần phải chú ý, cần cố
gắng cư xử với nhau luôn luôn qua những thái độ, những cử chỉ, những lời
nói, những hành động tốt đẹp như lúc ban đầu hai bên mới gặp nhau, nhất
là trước mặt con cháu hay trước mặt mọi người.
*)- Chồng hay vợ trước khi gặp
nhau hay sau khi gặp nhau, nay đã sống chung với nhau, nếu như họ có
những lỗi lầm nào hay có những khuyết điểm nào mà họ đã ăn năn hay đã
sám hối thì không nên cố chấp, phải bỏ ra ngoài tâm tư định kiến cho
thật xa nghìn dặm và thân thiết với nhau bằng tâm hồn độ lượng hỷ xả tha
thứ tất cả không còn chút ấn tượng nào vướng mắc bợn nhơ trong tâm tư,
để cho hai bên khỏi bị mặc cảm lo âu khổ não suốt đời vì những chuyện
đau thương ấy.
4.- GIỚI HÒA CÙNG TU TẬP:( Giới Hòa Đồng Tu)
Giới hòa cùng tu tập nghĩa là
giới luật cùng nhau học tập và hành trì. Tôn Giáo thì có luật lệ của tôn
giáo, Quốc gia thì có luật pháp của quốc gia, Gia đình thì cũng phải có
luật lệ của gia đình. Luật lệ của gia đình là để quy định trật tự giữa
chồng vợ và con cái. Gia đình muốn bảo vệ hạnh phúc bền lâu thì phải:
1)- Giữ Tròn Luật Lệ Gia Đình:
Giữ tròn luật lệ của gia đình nghĩa là chồng vợ phải ra chồng vợ,
con cái phải ra con cái trong trật tự của xã hội gia đình.
Gia đình, theo Phật Giáo là một
tập thể nhỏ, một xã hội nhõ cũng phải có luật lệ của gia đình cũng như
Hội Đoàn đã có luật lệ của họ gọi là Quy Chế hay Điều Lệ để quy định
trật tự của tổ chức. Luật lệ của gia đình là một luật pháp quy định giá
trị và nghĩa vụ trong sự sanh hoạt sống chung của một tập thể, nghĩa là
mỗi người trong gia đình phải học tập, phải giác ngộ tư cách của mình,
bổn phận của mình thể hiện được giá trị làm một người chồng, một người
vợ, một người con mẫu mực trong việc sống chung. Trong một gia đình, mỗi
người sống buông thả theo sở thích riêng tư của mình mà không có luật lệ
nào kềm thúc họ đi đúng theo nếp sống chung của tập thể, sống theo chủ
nghĩa cá nhân thì sẽ bị rơi vào tình trạng sa đọa nan giải. Phần đông
nhiều gia đình không có soạn thảo luật lệ cho việc sống chung thành thử,
chồng, vợ, con cái, mỗi người cứ sống theo chủ nghĩa cá nhân, nghĩa là
mạnh ai cứ sống theo sở thích riêng tư của mình một cách do dục vọng lôi
cuốn không thể tự kềm chế được, cho nên một số gia đình gặp nhiều sóng
gió nổi dậy gây đau khổ cho nhau triền miên. Nhờ luật lệ gia đình, mỗi
người mới có thể kềm thúc được phần nào dục vọng buông thả của mình đi
vào mực thước của lề lối sống chung. Có một số người nói rằng, chồng vợ
cải vã với nhau sống mới có ý nghĩa. Họ nói như thế có nghĩa là họ nói
liều mạng mà không biết rằng những hành động nói năng của họ gây ô nhiểm
cho tâm hồn các con cái, làm chúng mất lý tưởng nơi cha mẹ, có đứa bỏ
nhà ra đi sống riêng, có đứa tỏ thái độ lầm lì bất kính, đồng thời họ tự
châm ngòi lửa sân hận đốt cháy cuộc sống hạnh phúc lứa đôi.
2)- Giác Ngộ Lý Nhân Quả Để Tránh Những Thói Hư
Tật Xấu Của Xã Hội.
(Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng).
Theo giáo lý Phật Giáo, lý nhân
quả là một định luật tất nhiên và thiết yếu trong vũ trụ, chi phối tất
cả sanh mệnh của vạn pháp, nghĩa là sự thành hình của vạn pháp trong vũ
trụ đều do nhân quả quyết định cả. Trong vũ trụ, con người có thể trốn
khỏi luật pháp xã hội, nhưng không thể trốn khỏi luật pháp nhân quả.
Trong xã hội, con người thích
uống rượu là nguyên nhân rồi bị nghiện rượu say sưa là kết quả, con
người thích cờ bạc là nguyên nhân rồi bị mê cờ bạc sạt nghiệp là kết
quả, con người thích làm nghề ăn trộm là nguyên nhân rồi bị tù đày là
kết quả,..v..v..... Lý Nhân quả quan hệ chặt chẽ đến ba đời trong sự báo
ứng của con người. Đức Phật đã dạy trong Kinh Nhân Quả: “Dục tri
tiền thế nhân kim sanh thọ giả thị, yếu tri hậu thế quả kim sanh tác giả
thị”, nghĩa là muốn biết nguyên nhân ở kiếp trước của mình như
thế nào thì hãy xem chính mình ở kiếp này đang thọ quả báo như thế nào,
muốn biết quả báo ở kiếp sau của mình như thế nào thì hãy cần xem hiện
nay chính mình đang gây tạo những nguyên nhân gì.
Từ những nguyên lý đó, xã hội
ngày nay tràn ngập những điều xấu xa tội lỗi và cũng tràn ngập những
điều phước đức thánh thiện, tất cả đều là thành quả của chúng sanh gây
tạo những nguyên nhân thiện ác ở kiếp trước. Cũng vì lý nhân quả nói
trên, chúng ta nên tránh xa những điều xấu xa tội lỗi trong xã hội để
khỏi vướng mắc những nguyên nhân không tốt cho cuộc sống làm người.
Chúng ta nên biết rằng, tâm của chúng ta như máy chụp ảnh, nếu như chụp
lấy những hình xấu xa tội lỗi vào tâm làm nguyên nhân, rồi một ngày kia
những nguyên nhân đó xuất hiện lôi chúng ta đi vào những con đường quả
báo tội lỗi không thể nào tránh khỏi. Chúng ta thà rằng tránh xa những
chỗ xấu xa tội lỗi vừa kể đừng để bị vướng mắc vào tâm thì nhất định
cuộc sống của chúng ta sẽ được an nhiên tự tại, cũng như chúng ta không
nên thức khuya thì nhất định không bị buồn ngủ.
3)- Trau Dồi Trí Tuệ Sáng Suốt Để Giải Quyết Mọi Vấn Đề Gia Đình
(văn, tư, tu).
Trí tuệ (Intelligence) là một loại trí thông minh lanh lợi và loại
trí tuệ này mới sáng suốt để giải quyết mọi hoàn cảnh thuận duyên hay
nghịch duyên đưa đến trong gia đình. Trí tuệ này được phát sanh từ Phật
Trí và được đào luyện qua Văn huệ, Tư huệ, Tu huệ, ba môn học vô lậu
giải thoát của Phật Giáo. Văn Huệ là trí tuệ được thể hiện từ nơi học
kinh nghe pháp, lão thông Kinh Luận của Phật Giáo một cách thâm nhập. Tư
Huệ là trí tuệ được thể hiện từ nơi sự tư duy thấu triệt yếu chỉ thâm
sâu của đức Phật ẩn mật trong các Kinh Luận. Tu Huệ là trí tuệ được thể
hiện từ nơi tu luyện đạt đạo các yếu chỉ trong các Kinh Luận.
Loại trí tuệ nói trên khác hơn
loại trí tuệ thế gian. Loại trí tuệ thế gian là loại trí tuệ học rộng
hiểu sâu các pháp trong thế gian để trở thành nhà thông thái bác học.
Nói cách khác loại trí tuệ thế gian được phát sanh từ các dữ kiện tổng
hợp duyên sanh trong thế gian mà nó không phải phát khởi từ nơi Phật Trí
nên gọi là Thế Gian Trí. Cũng vì thế loại trí tuệ thế gian không có khả
năng hóa giải tận nguồn gốc khổ đau của tất cả tâm bệnh chúng sanh; thí
dụ như các nhà bác học thuộc về loại trí tuệ thế gian cho nên vẫn bị
vướng mắc khổ đau về vấn đề hạnh phúc gia đình mà không có lối thoát.
Trái lại trí tuệ phát sanh từ Phật Trí thì có khả năng chuyển hóa tận
nguồn gốc khổ đau của chúng sanh kể cả những nguồn gốc gây khổ đau cho
nếp sống hạnh phúc gia đình.
Chồng vợ muốn trau dồi trí tuệ
thuộc Phật Trí để giải quyết mọi vấn đề hạnh phúc gia đình thì cả hai
người phải chuyên cần học tập và hành trì Phật Pháp; giống như trong xã
hội, con người muốn có trí tuệ thế gian thì cũng phải đổ vào đó rất
nhiều công sức học tập trải qua nhiều thời gian mới gặt hái được thành
quả danh phận. Điều đặc biệt trong Phật Giáo, mỗi người tu học đến đâu
thì tự nhiên cảm thấy sự an lạc trong tâm hồn đến đó, nghĩa là người học
tập cơ bản thì cảm nhận được những sự an lạc trong cơ bản, người học lên
cấp cao thì cảm nhận được những sự an lạc trong cấp cao, học tập càng
lên cao thì cảm nhận những sự an lạc càng cao hơn, cũng như người đang
bệnh hoạn nếu như được uống thuốc vào thì cảm thấy khỏe lần và càng uống
nhiều thuốc theo bác sĩ quy định thì cảm thấy khỏe khoắn vì bệnh tình
của mình đã được dứt hẳn. Theo Phật Giáo, người trao dồi trí tuệ không
cần đòi hỏi phải được lên cấp mà ở đây đòi hỏi người tu học phải có
thiện chí, thiện chí càng cao thì sự an lạc tâm hồn càng sâu.
Nói tóm lại, chồng vợ muốn đạt
được hạnh phúc thật sự đúng với ý nghĩa của nó thì mỗi người trong gia
đình cần phải tiến tu đạo nghiệp, trao dồi trí tuệ sáng suốt để chọn lấy
hướng đi đích thực và áp dụng phương châm thực tánh cho việc xây dựng
nếp sống lý tưởng an lạc bền lâu.
4)- Lấy Đạo Đức Từ Bi Cư Xử Với
Nhau:
Hai chữ Từ Bi của Phật Giáo có ý
nghĩa khác hơn tình thương hay tình yêu của thế gian. Tình thương hay
tình yêu của thế gian đều có mặt trái của chúng, nghĩa là thương không
được thì ganh ghét và yêu không được thì hận thù. Từ bi của Phật Giáo
không có vấn đề ganh ghét hay hận thù. Từ bi của Phật Giáo với trạng
thái tâm lý chỉ biết hành động cho ra với lòng vị tha vô ngã không có sự
mong cầu đền đáp. Từ bi theo tiếng Phạn, Từ là Maitrya nghĩa là hành
động ban vui đến với chúng sanh hay nói một cách khác là tôn trọng sự
sống, sự hạnh phúc của chúng sanh và Bi là Karuna, nghĩa là cứu khổ cho
chúng sanh hay nói một cách khác là bảo vệ sự sống còn của chúng sanh.
Hai chữ từ bi ghép chung lại ý nghĩa là hành động với tâm nguyện bảo vệ
sự sống còn của chúng sanh và mang lại hạnh phúc an vui thât sự cho
chúng sanh mà không phân biệt những chúng sanh đó thuộc về người thân
thiết hay sơ giao, thuộc về người thù nghịch hay thân thương. Người thật
hành đạo đức từ bi phải là người xả kỷ vị tha, chọn lấy sự sống của
người khác làm sự sống của mình, nghĩa là mượn chúng sanh bên ngoài để
diệt tâm chúng sanh của mình. Tâm chúng sanh của mình chính là tâm tham,
sân, si, mạn, nghi, ác kiến,..v..v.... mà chúng đã ẩn núp trong tâm hồn
của con người. Mượn chúng sanh để diệt chúng sanh tâm nghĩa là mượn hoàn
cảnh bên ngoài để trắc nghiệm sự tu tập trong sự diệt khổ của chúng ta,
mượn những hoàn cảnh trái ngang của chúng sanh để trắc nghiệm những
phiền não trong tâm của mình còn hay đã mất. Người thật hành đạo đức từ
bi đối xử với mọi người, nhất là đối xử với gia đình phải giống như một
người mẹ đối xử với những đứa con thân yêu của mình, cũng giống như một
gà mẹ đối xử với bầy gà con của nó. Cha mẹ đối xử với con cái bằng tình
thương thì có sự phân biệt, có đứa thương có đứa ghét, có đứa thương
nhiều có đứa thương ít, do đó sẽ tạo ra sự bất an trong gia đình; còn
cha mẹ đối xử với con cái bằng từ bi thì hành động hy sinh không có sự
phân biệt cũng giống như gà mẹ trang trải tình nghĩa cho đoàn gà con của
nó và không cần đòi hỏi chúng nó biết ơn hay trả ơn. Sự khác biệt giữa
tâm từ bi và tâm tình thương:
*)- Tâm từ bi thể hiện qua hành
động vị tha không vị kỷ với châm ngôn là “Đạo cần ta đến chúng
sanh cần ta đi không nệ gian lao không từ khó nhọc”,
*)- Tâm tình thương thể hiện qua
hành động vị kỷ hơn vị tha, chuyên lánh nặng tìm nhẹ, chỗ nào dễ thì đến
giúp , chỗ nào thấy khó thì tránh mặt. Thích chỉ huy mà không thích dấn
thân.
*)- Tâm từ bi đặt trên nền tảng
thi ân bất cầu báo, nghĩa là mình thi ân không cần họ biết ân và không
cần họ đền đáp ân nghĩa.
*)- Tâm tình thương đặt trên nền
tảng thi ân cầu báo, nghĩa là mình thi ân nhưng đòi hỏi họ phải biết ân
và họ phải đền đáp ân nghĩa.
*)- Tâm từ bi không phân biệt kẻ
thân người sơ, kẻ thương người thù, nghĩa là bất cứ ai đau khổ thì mình
sẵn sàng hy sinh cứu giúp.
*)- Tâm tình thương thì phân biệt
kẻ thân người sơ, kẻ thương người thù, nghĩa là mình dành ưu tiên cho
người thân nhiều hơn người không thân, kẻ thương thì mình sẵn sàng giúp
đỡ, còn kẻ thù thì làm lơ.
*)- Tâm từ bi không bao giờ cầu
danh, nghĩa là mình hành động bằng cách vô danh, không cần ai biết đến.
*)- Tâm tình thương thì cầu danh,
nghĩa là quảng cáo để cho mọi người đều biết đến tình thương của mình.
Chúng ta nên biết, gia đình là
một xã hội nhỏ sẽ có những hoàn cảnh bất an đưa đến tạo cho nhau những
sự khổ đau ngăn cách. Chỉ có từ bi mới xóa hết mọi khổ đau và ngăn cách.
Cho nên đôi chồng vợ phải lấy đạo đức từ bi cư xử với nhau mới có thể
ngăn ngừa những bất hạnh đưa đến cho gia đình mất hạnh phúc. Muốn được
như thế, chồng vợ mỗi người phải chuyên cần tu luyện đạo đức từ bi.
5)- Tu Tập Giới Luật Đã Thọ Cho Được Thanh Tịnh Để Tiêu Biểu Đạo
Đức Làm Người.
Giới luật đạo đức làm người theo
Phật Giáo chính là Ngũ Giới và theo Nho Giáo chính là Ngũ Thường. Ngũ
Giới của Phật Giáo và Ngũ Thường của Nho Giáo mặc dù danh nghĩa khác
nhau nhưng ý nghĩa và giá trị không khác nhau, cả hai đều là luật pháp
dùng để xây dựng nhân cách làm người. Pháp số của Ngũ Giới gồm có: Không
Sát Sanh, Không Trộm Cắp, Không Tà Dâm, Không Vọng Ngữ, Không Uống Rượu.
Pháp Số của Ngũ Thường gồm có: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.
Sự quan hệ của Ngũ Giới và Ngũ Thường như sau:
1)- Nhân Bất Sát: nghĩa là có lòng mhân từ thì không được sát sanh.
2)- Nghĩa Bất Đạo: nghĩa là có đạo nghĩa thì không được trộm cắp.
3)- Lễ Bất Dâm: nghĩa là người có lễ độ thì không được tà dâm.
4)- Trí Bất Ẩm: nghĩa là người có trí thì không được uống rượu.
5)- Tín Bất Vọng: nghĩa là người có sự tin cậy thì không được nói
láo.
Còn sự khác nhau giữa Ngũ Giới và Ngũ Thường như là:
*)- Ngũ Thường thì chỉ học tập để thật hành mà không có phát nguyện
hành trì để tu tập.
*)- Ngũ Giới ngoài sự học tập để hiểu biết mà còn phải phát nguyện
hành trì và tu tập.
*)- Ngũ Thường thì chỉ chú trọng nơi lời nói và hành động mà không
chú trọng nơi tư tưởng.
*)- Ngũ Giới ngoài sự chú trọng nơi lời nói và hành động mà còn chú
trọng nơi tư tưởng, nguyên vì tư tưởng chỉ huy lời nói và hành động.
Do đó, con người phải tu tập giới
luật đã thọ cho có chất lượng tốt, nhờ có chất lượng tốt thì mới có giới
đức tốt, nghĩa là có hương thơm giới đức thể hiện nơi con người, nhờ có
giới đức tốt thì mới có giới thân (có giới tướng: tướng tu), có huệ mạng
(mạng sống có trí tuệ sáng suốt) tốt để chỉ đạo cuộc sống làm người. Cho
nên đôi chồng vợ, nếu là Phật Tử muốn có hạnh phúc chân thật đích thực
của nó thì phải chuyên cần tu tập giới luật đã thọ cho được thanh tịnh.
5.- KIẾN HÒA CÙNG NHAU GIẢI BÀY:
(
Kiến Hòa Đồng Giải )
Kiến hòa cùng nhau giải bày, nghĩa là thấy biết những điều hay lẽ
phải thì giải bày cho nhau cùng hiểu. Trong một gia đình, trình độ kiến
thức của mọi người có ngang nhau thì mới cảm thông với nhau, cho nên
chồng vợ mỗi người phải:
1)- Trao Đổi Ý Kiến Với Nhau Cùng
Hiểu:
Bước chân vào đời, không ai tự hào rằng mình thông hiểu hết mọi
mặt của lẽ sống và cũng không ai có kinh nghiệm lão luyện hết mọi nghề
theo nhu cầu cho gia đình mà không cần đến sự học hỏi của kẻ khác, nhất
là sự phức tạp của xã hội quan hệ đến cuộc sống của con người. Người
giỏi về phương diện kỷ sư nông nghiệp nhưng không giỏi về ngành khoa học
cơ giới, người giỏi về ngành bác sĩ trị liệu thân bệnh nhưng không giỏi
về chuyên môn trị liệu tâm bệnh,..v..v.... Trong tinh thần duyên sanh,
sự sống còn của chúng ta không thể thiếu những ngành chuyên môn cung
ứng, kể cả chuyên môn về tinh thần cho mặt tâm linh. Do đó chúng ta cần
phải thâu thập những ý hiến hay bên ngoài để bổ túc cho đời sống của
chúng ta mỗi ngày được tốt đẹp hơn. Cho nên một gia đình muốn đạt được
những thành quả tốt đẹp cho cuộc sống, người chồng hay người vợ, bất cứ
ai đã thâu thập được bất cứ điều gì hay hoặc những kinh nghiệm nào tốt ở
bên ngoài cần phải trao đổi cho nhau cùng hiểu cùng thông suốt để cùng
nhau chia xẻ và cùng bổ túc cho nếp sống gia đình ngày thêm thăng tiến.
Có hiểu biết có thông suốt như nhau thì mới có sự hòa hợp cùng một nhịp
điệu trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình. Đã sống chung với nhau nếu
kiến thức bất đồng, không cùng hiểu biết, không cùng thông suốt, kẻ thì
thấy xa, người thì thấy gần, kẻ thì quan niệm sâu sắc, người thì quan
niệm nông cạn, tình trạng như thế thì không thể nào thành công trong
cùng một ý hướng xây dựng.
Nhưng chúng ta cần nên nhận thức
rằng, không phải tất cả những điều tốt trong xã hội đều là nhu cầu thiết
yếu của gia đình mà ở đây chúng ta cần phải biết sống hạnh tùy duyên
theo hoàn cảnh, nghĩa là phải biết chọn lựa những điều tốt nào quan hệ
không thể thiếu sự có măït của nó trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình
làm cẩm nang cho đời sống. Nói cách khác, chúng ta nên lấy gia đình làm
nền tảng và chọn những điều tốt nào theo nhu cầu của gia đình mà không
nên chạy theo sự phồn hoa của xã hội mà khả năng gia đình không đáp ứng
nỗi, đúng với châm ngôn: “Liệu cơm gắp mắm”.
Nói tóm lại, sống chung trong một
gia đình, chúng ta cần phải trao đổi với nhau những ý kiến hay và những
điều kinh nghiệm tốt mà chúng ta đã thâu nhặt được từ bên ngoài để cùng
nhau hiểu biết cùng nhau chia xẻ và chỉ áp dụng những hiểu biết nào,
những kinh nghiệm nào mà nhu cầu gia đình cần thiết phải có.
2)- Chia Xẻ Với Nhau Khi Bị Thất
Bại:
Trên tinh thần đồng lao cộng khổ, vui cùng hưởng khổ cùng chịu,
chồng vợ khi người nào gặp phải những hoàn cảnh trái ngang như bị thất
nghiệp hay làm ăn bị thất bại..v..v.... thì người kia phải có tinh thần
thông cảm, nên chia xẻ và an ủi, khuyến khích cho họ lên tinh thần để đủ
sức đương đầu với những trở ngại dồn dập đưa đến. Trong những hoàn cảnh
đó, người chồng hay người vợ khi gặp đôi chút khó khăn không nên có thái
độ phũ phàng trách móc đối với bạn đời của mình đang trong tình trạng
khổ đau lo lắng và cũng không nên tự mình rẻ sang lối khác chạy theo sự
tham vọng riêng tư vô tình đưa tâm trạng kẻ bị thất bại vào con đường
quẩn trí đồng thời cũng gây tạo cho gia đình đáng lý phải được êm ấm
hạnh phúc trở nên xáo trộn bất an đốt cháy niềm tin của nhau.
Con người nên biết rằng cuộc đời
không phải tuyệt đối, luôn luôn có hai mặt: có tốt có xấu, có thạnh có
suy, có lúc sung sướng tràn đầy và cũng có khi đau khổ giăng mắc bủa
vây. Con người sống trong cuộc đời khi nắm bắt được những may mắn đến
với mình không nên có thái độ tự hào và khi gặp lúc những bất hạnh bủa
vây cũng không nên thối chí ngả lòng mà phải giữ vững niềm tin chờ cơ
hội một ngày nào đó bình minh sẽ trở lại.
Giữ vững niềm tin có nghĩa là
giữa chồng và vợ phải hợp tác chặt chẽ với nhau, chia xẻ niềm đau cho
nhau trong mọi hoàn cảnh để đủ can đảm đương đầu trước những khó khăn
mang đến và tin tưởng đời sống của mình sau cơn gió lốc đi qua nó sẽ
tươi sáng trở lại.
Muốn giữ vững niềm tin để chia xẻ
với nhau khi bị thất bại, chồng và vợ phải chọn lấy hạnh phúc gia đình
làm nền tảng căn bản để vượt qua mà ở đây không phải chọn lấy chủ nghĩa
cá nhân làm nhu yếu cho lẽ sống. Chồng hay vợ nếu như chọn lấy chủ nghĩa
cá nhân làm nhu yếu cho lẽ sống thì vô tình đạp đổ nền tảng hạnh phúc
gia đình trong việc sống chung trở nên rả nát và cũng từ đó hạnh phúc cá
nhân sẽ mất đi điểm tựa về mặt tâm linh rồi đưa đời sống con người tuột
dần xuống vực thẩm của hố sâu đau khổ. Cho nên đôi chồng vợ phải ý niệm
rõ tinh thần đồng lao cộng khổ mặc dù gặp bất cứ hoàn cảnh nào trong
cuộc đời thăng hay trầm, vinh hay nhục cùng nhau đồng tâm chia xẽ một
cách chân thành thì không bao giờ cản trở được bước tiến của mình trên
con đường xây dựng nếp sống an lạc hạnh phúc chân thật.
3)- Biết Cách Sống Để Được Hạnh
Phúc
Bền Lâu:
Cổ Đức có câu: “Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết mới sống”.
Khôn gọi cho đủ là khôn ngoan lanh lợi, nghĩa là người có trí khôn biết
phân biệt lợi hại phải quấy, biết hoạt bát xoay trở, biết cách nói năng
lanh lợi hấp dẫn. Dại là dại khờ đần độn, nghĩa là người ngu dại tối dạ,
chậm chạp, ít hiểu biết, ít phân biệt phải quấy, thua kém đủ mọi mặt.
Biết là nhận biết, nghĩa là người nhận chân được sự việc đã xảy ra và
biết mình sống như thế nào cho hợp lý.
a)- Khôn Cũng Chết:
Chữ chết ở đây có nghĩa là bị
chết vì đói khổ. Khôn cũng chết, nghĩa là người khôn ngoan lanh
lợi rồi sẽ bị chết vì đói khổ do bởi thất bại mọi mặt trong trường đời.
Trong trường đời, người nào tỏ ra mình khôn ngoan lanh lợi xuất sắc hơn
hết thì sẽ bị mọi người ganh ghét và mỗi khi ganh ghét thì họ tìm đủ mọi
cách bao vây, ruồng bỏ, cô lập, nhằm mục đích phá hoại bước tiến của họ
không cho ngóc đầu lên trong xã hội và cố đẩy họ rơi vào hố thẩm của khổ
đau trong cuộc đời cho thỏa dạ.
Theo lẽ sự sống của chúng ta quan
hệ chặt chẽ vô cùng với xã hội trong mọi hoàn cảnh với tinh thần đùm bọc
chở che đúng với câu tục ngữ: “Bà con xa không bằng lối xóm gần”
mà ở đây chúng ta vì nổi bật sự khôn ngoan lanh lợi cho nên bị
xã hội ganh ghét ruồng bỏ thì làm sao sóng yên gió lặng được, vì thế
châm ngôn mới có câu “Khôn cũng chết”.
b)- Dại Cũng Chết:
Dại cũng chết,
nghĩa là người dại khờ đần độn thiếu hiểu biết, gặp đâu tin đó cho nên
thường bị người đời lợi dụng đến tận cùng xương tủy, đến khi hết sôi rồi
việc liền bị đào thải, vắt chanh bỏ võ, sống lây lất bên dĩa hè của xã
hội cho đến trút hơi thở cuối cùng, vì thế châm ngôn có câu “Dại cũng
chết”.
c)- Biết Mới Sống:
Biết mới sống,
nghĩa là người phải biết cách sống mới được hạnh phúc bền lâu. Người
biết cách sống nghĩa là người không phải hạng dại khờ đần độn và cũng
không phải thuộc về hạng khôn ngoan lanh lợi như trình bày ở trước.
*)- Hạng dại khờ đần dộn là hạng
không có trí tuệ sáng suốt và hạng này cần tu tập đào luyện để có trí
tuệ sáng suốt; người có trí tuệ sáng suốt mới có thể chẳng những hiểu rõ
mặt thật và mặt trái của tất cả pháp mà còn có thể hiểu rõ toàn diện và
cả đến chiều sâu (phía bên trong) của tất cả pháp.
*)-
Còn hạng khôn ngoan lanh lợi
cũng không phải là hạng có trí tuệ sáng suốt. Hạng khôn ngoan lanh lợi
luôn luôn sống bằng xảo thuật để đạt đến mục tiêu của sự ham muốn mà
không thấy được những tai họa ở phía sau, chỉ biết những lợi dưỡng trước
mắt mà không đoán được những biến cố sẽ đưa đến ở tương lai. Đã vậy khi
đắc thế họ còn thường hay tỏ thái độ cao ngạo tự đắc mục hạ vô nhân.
*)- Riêng hạng biết cách sống để
được hạnh phúc là hạng người có trí tuệ biết trước được những hậu quả
của sự việc và biết dự trù để tránh khỏi những hậu quả đó xảy đến. Nghĩa
là hạng người biết cách sống phải có trí tuệ nhận thấy rõ rằng cuộc đời
luôn luôn nằm trong vòng tương đối hết ngày rồi đến đêm hết đêm rồi đến
ngày, hết nước lớn rồi đến nước ròng hết nước ròng rồi lại đến nước lớn
, hết thạnh rồi đến suy hết suy rồi lại đến thạnh, hết may mắn rồi đến
rủi ro hết rủi ro rồi đến may mắn trở lại, không có gì tuyệt đối cả, cứ
xoay tròn mãi cho đến bất tận, đó là định luật vô thường và luân hồi cố
hữu của vũ trụ và tất cả pháp hữu vi trong đó có chúng ta đều không
thoát khỏi hai định luật này chi phối.
Người biết cách sống, khi được
may mắn, gặp chỗ làm ăn phát tài đừng tự hào, đừng buông thả, phải dự
trù khi bị thất nghiệp và nếu có dự trù trước khi bị thất nghiệp khỏi
phải lo âu mọi mặt, chờ thời gian hết cơn bỉ cực đến hồi thới lai, rồi
sẽ có chỗ làm ăn khác phát triển trở lại, các việc khác cũng thế. Hơn
nữa mình trong lúc được hưng thạnh, không ỷ lại tài năng, không tự phụ
sự khôn ngoan lanh lợi, tạo được sự thương yêu với mọi người, nhờ đó khi
bị sa chân thất thế được mọi người chung quanh thương yêu che chở yên
lòng trong thời gian chờ cơ may sẽ đến. Nguyễn Du thường nhắc nhỡ rằng: “Có tài đừng cậy chi tài, chữ tài liền với chữ tai một vần”,
nghĩa là người biết sống theo tinh thần duyên sanh thì đừng cậy nơi tài
năng khôn ngoan lanh lợi của mình mà phải cần đến mọi người chung quanh
tin tưởng thương yêu hổ trợ, che chở khi gặp phải cơn mưa nắng trở trời.
Những hạng thấy rõ thế sự cuộc đời luôn luôn đổi thay như thế và theo
tình thế sống biết dự trù trước chính là những người biết cách sống để
được hạnh phúc bền lâu.
4)- Khuyến Khích Nhau Trong Việc
Tu Học, Phước Thiện:
Như chúng ta đã biết, thân bệnh
thì nhờ y dược của bác sĩ để trị liệu, còn tâm bệnh thì phải nhờ đến
pháp dược của đức Phật trị liệu mới có thể an lành. Pháp dược của đức
Phật chính đức Phật đã ra toa sẵn và theo đức Phật chính mình tự trị
liệu cho mình mà không ai có thể thay thế trị liệu cho mình, nghĩa là
chính mình phải tự uống lấy mà không ai có thể kể cả đức Phật uống thế
cho mình. Nói cách khác đức Phật muốn cho mình trở thành một vị lương y
để chính mình tự trị lấy cho mình. Muốn trở thành vị lương y để trị tâm
bệnh, theo Phật dạy chúng ta phải chuyên cần tu học Phật Pháp là những
toa thuốc Dược Vương Dược Thượng tự uống vào mới ngỏ hầu giải thoát căn
bệnh khổ đau trầm kha trong tâm linh của chúng ta và nhờ đó những hạnh
phúc thực sự chân thật mới gặt hái được cho mình. Đức Phật chỉ là người
gia hộ yểm trợ phương tiện mà không phải là người cứu rổi hay chuộc tội
cho mình. Thế nên đôi chồng vợ muốn đạt được hạnh phúc chân thật bền
lâu cần phải khuyến khích nhau tu học Phật Pháp để trở thành vị lương y
thâm diệu trong việc trị liệu tâm bệnh cho nhau.
Ngoài ra, chúng ta phải phát tâm
làm những việc phước thiện để bồi dưỡng tâm linh cho thêm tăng trưởng
đạo lực từ bi, cũng như một người bệnh nặng sau khi được lành, cần phải
uống thuốc bổ bồi dưỡng thân thể để sức khỏe sớm được bình phục. Từ bi
là chất liệu sống và ý nghĩa của sự sống an lạc mà tất cả chúng sanh
trong tinh thần duyên sanh không thể thiếu trong sự kiến tạo hạnh phúc
chân thật cho con người. Chất liệu từ bi có khả năng hóa giải mọi mâu
thuẩn hận thù và kết nối thân thương mọi khuynh hướng dị biệt trở thành
chất keo sơn hòa hợp trong cộng đồng duyên sanh. Tâm từ bi muốn cho phát
triển lớn mạnh thì môi trường căn bản nhất không ngoài làm việc phước
thiện. Người làm việc phước thiện là người trải tâm từ bi đến với những
nơi phước thiện mà mình thật tâm trang trải và những phước thiện đó
chính là nhân tố ảnh hưởng trở lại tâm mình biến thành quả lành bồi
dưỡng tâm từ bi của mình trưởng thành nhân tố phát triển.
Tóm lại người muốn được hạnh phúc
chân thật thì điều kiện cần thiết phải thực hiện cho kỳ được hai yếu tố
tu tập và làm việc phước thiện nhằm hóa giải những nghiệp khổ đau và
phát triển đạo lực tâm từ bi cho nếp sống được thăng hoa thánh thiện.
6.- LỢI HÒA CÙNG CHIA XẺ:
(Lợi Hòa Đồng Quân)
Lợi hòa cùng chia xẻ nghĩa là
những tài lợi hay đồ dùng thu thập được phải phân chia đồng đều cho
những người cùng sống chung với mình, hoặc cùng nhau thọ dụng, không
được chiếm làm của riêng hay giành phần nhiều về mình. Theo tinh thần
lợi hòa cùng chia xẻ chúng ta phải thực hiện những điều sau đây:
1)- Không Được Riêng Tư Quyết
Định:
Tài sản trong gia đình là của chung, thuộc của chồng công vợ và
tài sản đó muốn thực hiện vào việc gì thì phải có sự đồng ý của chồng
hay của vợ, không được tự mình riêng tư quyết định.
Của chồng công vợ nghĩa là gì?
Của chồng nghĩa là tiền của và sự nghiệp của gia đình sở dĩ có được
chính là do công lao của người chồng đứng ra gầy dựng nên, cho nên gọi
là của chồng. Công vợ nghĩa là người vợ có công thay thế chồng quản lý
tiền của và bảo trì sự nghiệp gia đình được tồn tại bền lâu chính là
công lao của người vợ, cho nên gọi là công vợ. Đây là cách sống chung
của luân lý thời xưa. Theo luân lý thời xưa, người chồng thì đóng vai
tùng quân, cột trụ của gia đình, có trách nhiệm đối ngoại, giao dịch với
mọi từng lớp xã hội để tạo dựng sự nghiệp cho gia đình; còn người vợ thì
thuộc về hạng cát đằng nương bóng tùng quân, đóng vai nội trợ, thay mặt
chồng đối nội, có nhiệm vụ trông nom tài sản của chồng, sắp xếp gia đình
trên dưới có trật tự, trong ngoài có ngăn nấp đâu ra đó để tài sản và sự
nghiệp của chồng khỏi bị thất thoát hư hao. Thế nên tục ngữ mới có câu: “Của chồng công vợ”.
Theo xã hội ngày nay, chồng và vợ
cả hai cùng nhau tạo dựng sự nghiệp gia đình cho việc sống chung và
quyền lợi sở dĩ có được không riêng gì của chồng hay của vợ mà cả hai
đều đầu tư công sức vào đó cả mồ hôi và nước mắt. Những tài sản nói trên
chẳng những người chồng mà cho đến người vợ đều có quyền hưởng thụ.
Nhưng với những tài sản đó muốn sử dụng vào bất cứ việc gì, người chồng
hay người vợ không được độc quyền chi tiêu riêng tư mà không có sự đồng
ý của hai bên, nghĩa là hai người không được quyền có túi hò túi xê của
tài sản chung nói trên. Người chồng hay người vợ muốn hưởng thụ đến tài
sản này phải có sự hợp tác chặt chẽ của hai người trong sự hòa thuận cả
mọi mặt, nghĩa là muốn chi tiêu tài sản đó thì phải thương lượng với
nhau trước khi thi hành và phải được sự vui vẻ đồng tình với nhau trong
tinh thần hòa hợp, trong đó không có sự ép buộc hay cắn răng thắt bụng
nể lòng. Người chồng hay người vợ biết tự trọng và áp dụng đúng nguyên
tắc sống này thì gia đình đó hạnh phúc biết bao.
Thí dụ như vì chuyện gởi quà về
Việt Nam cho thân nhân, nhiều gia đình trở nên bất hạnh, mất hết hạnh
phúc. Nguyên do họ gởi quà cho thân nhân không được công bằng. Chồng hay
vợ thường lấy công quỷ gia đình chỉ gởi riêng cho thân nhân của mình,
còn thân nhân của chồng hay của vợ thì không cần biết đến, không quan
tâm chia xẻ. Tình trạng đó gây rạng nứt không nhỏ trong gia đình, có khi
đưa đến hiện tượng chồng vợ li dị nhau, tạo nên sự bất an cho con cái.
Muốn gia đình được hạnh phúc theo ước nguyện, chồng hay vợ phải tránh
tâm trạng riêng tư ích kỷ trong việc đối sử công bằng mà việc gởi quà
cho thân nhân cũng chính là một trong những điều kiện tất yếu cần phải
chú ý.
2)- Phải Chi Tiêu Có Điều Độ Đúng Theo Nhu Cầu Cần Thiết:
Lương bổng của gia đình thì có
giới hạn, nhưng nhu cầu cho sự sống thì vô cùng. Hơn nữa trong cuộc đời
sự may mắn và sự bất hạnh không có hình tướng, nó đến với chúng ta lúc
nào không biết và nó ra đi khỏi tầm tay của chúng ta khi nào cũng không
hay. Có một điều nên biết, sự may mắn đến với chúng ta chỉ có một lần
rồi vĩnh biệt luôn, nhưng sự bất hạnh đến với chúng ta luôn luôn dồn dập
không chút nương tay. Chúng ta phải biết rằng công ăn việc làm có khi
lên nhưng cũng có khi xuống dốc và tiền bạc có khi sung túc nhưng cũng
có lúc túi cạn tay không. Khi có tiền vô ra thường xuyên, khi có công ăn
việc làm no cơm ấm áo, chúng ta không nên chi tiêu bừa bãi theo sở thích
mà phải sử dụng đúng theo nhu cầu cần thiết của gia đình, miễn làm sao
đầy đủ tiện nghi trong vòng tương đối theo lương bổng của mình nhằm đề
phòng những chuyện bất trắc xẩy đến cho gia đình đủ sức xoay trở.
Thí dụ, trong gia đình, chúng ta
cần một chiếc xe hơi dùng phương tiện để đi làm việc sanh sống, nhưng
khi mua xe phải nhìn lại lương bổng của mình mà định mức chi tiêu, không
nên mua xe đắc giá cho thật sang trọng quá mức đồng lương để khoe với xã
hội mà chính mình phải vướng nợ ngân hàng. Xã hội chỉ khen chúng ta có
chiếc xe sang trọng rồi thôi mà không bao giờ quan tâm đến sự đau khổ
ngủ không yên của chúng ta vì phải lo đi cày hai ba jobs để trả nợ hằng
tháng, vì phải lo chăm sóc khi nó bị hư hao,..v..v..... Cũng vì lao nhọc
lo đi cày hai ba jobs để giải quyết nợ nầng mà hạnh phúc gia đình trở
nên lạnh nhạt, tình nghĩa con cái trở nên thờ ơ lạc lỏng.
Nhằm cung ứng nhu cầu cho gia
đình, chúng ta phải biết chọn lấy những vật liệu dựa trên công dụng căn
bản của món đồ mà không nên căn cứ trên giá trị sang trọng quý giá của
vật liệu. Giữa hai món đồ, một loại với vật liệu tầm thường rẻ tiền và
một loại với vật liệu sang trọng quý giá, nhưng công dụng của chúng đều
giống nhau, chúng ta nên chọn lấy món đồ với vật liệu tầm thường vừa với
khả năng túi tiền, miễn làm sao không thiếu tiện nghi là được. Mặc dù
với vật dụng rẻ tiền, chúng ta biết cách sắp xếp, biết cách ăn mặc thì
gia đình vẫn trở nên sang trọng hơn là những món đồ quý giá đắc tiền mà
người sử dụng không có cặp mắt mỹ thuật trang trí.
Tóm lại, nhắm vào kinh tế gia
đình, chúng ta phải biết tiết kiệm trong việc chi tiêu và chi tiêu có
điều độ chừng mực, không nên phung phí bừa bãi mà gia đình không cần
thiết đến.
3)- Phải Dự Trù Trong Việc Chi
Tiêu:
Có nhiều gia đình ít khi dự trù trong việc chi tiêu, nghĩa là
không có thành lập lịch trình hằng tháng trong việc chi tiêu. Vì thế có
nhiều gia đình chi tiêu không có mức độ, nghĩa là khi có công ăn việc
làm thì họ chi tiêu cho thỏa mãn theo sở thích và đến khi thiếu hụt thì
họ đi vay mượn ăn trước trả sau; cho nên họ bị nợ trước chồng lên nợ sau
và suốt cuộc đời bôn ba đây đó kiếm tiền để trả nợï. Họ cũng vì ăn trước
trả sau không có dự trù chi tiêu thành thử cuộc sống của họ không có
tương lai sáng lạng và con cái của họ tuyệt vọng tiến thân. Hiện tượng
này cũng là một yếu tố khiến cho gia đình trở nên mất hạnh phúc.
Để tránh sự bế tắc xẩy đến cho
cuộc sống mai sau, mỗi gia đình cần phải dự trù trong việc chi tiêu bằng
cách thành lập một ngân khoản Phúc Lợi trong số lương chung của hai
chồng vợ. Ngân khoản Phúc Lợi chính là ngân khoản còn lại được trích ra
trong tổng số lương bổng của chồng vợ cộng lại sau khi khấu trừ tất cả
chi phí hằng tháng cần thiết trong gia đình. Ngân khoản Phúc Lợi cũng
phải chia làm ba phần: ngân khoản dự trù, ngân khoản phụ trội và ngân
khoản phước đức.
*)- Ngân khoản dự trù: nghĩa là
ngân khoản dành cung cấp cho những sự việc bất ngờ xảy ra trong gia đình
như, tai nạn, bệnh hoạn, xe hư dọc đường..v..v..... mà những khoản tiền
chi tiêu đó không nằm trong ngân khoản lịch trình chi tiêu hằng tháng.
Ngân khoản này phải tích lũy hằng tháng sau khi được trích ra từ trong
ngân khoản phúc lợi.
*)- Ngân khoản phụ trội: nghĩa là
ngân khoản dành chi tiêu cho những công việc linh tinh khác ngoài ngân
khoản lịch trình chi tiêu hằng tháng như, lễ hội, tiệc tùng, hội đoàn,
sanh nhựt..v..v..... mà mình không thể không tham dự. Ngân khoản này
cũng phải tích lũy hằng tháng sau khi được trích ra từ trong ngân khoản
phúc lợi.
*)- Ngân khoản phước đức: cũng
gọi là ngân khoản xã hội, nghĩa là ngân khoản dành chi tiêu vào công
việc từ thiện xã hội. Thuốc bổ là y dược để bồi dưỡng thân thể, còn
phước đức là chất liệu để bồi dưỡng tâm linh. Chúng ta muốn bồi dưỡng
tâm linh cho tăng trưởng phước đức làm lẽ sống an lạc cho gia đình thì
phải thực hiện công tác xã hội. Những nơi trợ giúp cho việc phước đức
tăng trưởng chính là công tác bố thí cho những người nghèo đói đau khổ,
công tác cúng dường vào việc cúng chùa, tạo tượng, in kinh,..v..v..... ,
vì những nơi đó là môi trường đáng quý cho việc tăng trưởng phước đức
nơi bản thân nơi gia đình với những nguyên do sau đây:
*)- Thứ nhất, những người nghèo
đói, đau khổ là những nơi rất cần đến những người cứu khổ cho họ. Điều
này đúng với lời chỉ dạy của đức Phật nói ở trong kinh: “Chúng
sanh duyên từ”, nghĩa là nương nhờ nơi chúng sanh để phát khởi
lòng từ bi của mình.
*)- Thứ hai, việc cúng chùa, tạo
tượng, in kinh,..v..v.... vì những nơi đó, những việc làm đó chia sớt
phước đức rất lớn cho chúng ta qua sự cầu nguyện hằng ngày của họ.
Chú ý, trong ba ngân khoản phúc
lợi đã trình bày ở trên, có một ngân khoản nào nếu như bị thiếu hụt thì
chúng ta phải làm việc thêm giờ hay kiếm thêm job để bổ sung mà không
được chi tiêu lấn qua hai ngân khoản thặng dư kia.
Tóm lại, mỗi gia đình cần phải
thiết lập lịch trình chi tiêu hằng tháng, trong đó có ngân khoản Phúc
Lợi để cho cuộc sống có ý nghĩa, có an lạc, có hạnh phúc và có một tương
lai tươi sáng, chẳng những cho mình, cho gia đình mình và cho cả con cái
của mình trong việc tiến thân. Gia đình nào thực hiện được những điều đã
trình bày trên là gia đình đó biết sống cho nhau, biết dự trù trong việc
chi tiêu và gia đình đó đáng được tôn quý trong xã hội.
4)- Phải Tri Túc Trong Nếp Sống:
Tri túc là biết đủ, người sống tri túc nghĩa là người sống
có chừng mực không trụy lạc xa hoa phung phí, buông thả. Kinh Phật có
dạy: “Tri túc thường lạc, đa ưu tắc bi”,
nghĩa là người biết đủ thì thường được an vui và
người lo âu nhiều thì bị buồn khổ nhiều. Người sống biết đủ là người
biết sống lượng sức, biết sống theo khả năng sẵn có của mình, không xa
hoa, không đua đòi những điều quá tầm tay mà khả năng của mình không cho
phép.
Kinh Di Giáo Phật dạy:
“Người tri túc dù nằm trên đất cũng vẫn an vui, Kẻ không tri túc dù ở
cảnh Thiên đường cũng chẳng vừa ý”. Người tri túc không bị năm
thứ dục lạc chi phối. Năm thứ dục lạc nghĩa là cuộc đời con người thường
bị năm thứ dục lạc trói buộc cuốn trôi bởi ham muốn. Năm thứ dục lạc gồm
có:
1)- Tài Dục: nghĩa là tiền của mờ
mắt
2)- Sắc Dục: nghĩa là sắc đẹp
quyến rủ
3)- Danh Dục: nghĩa là danh vọng
lôi cuốn
4)- Thực Dục: nghĩa là ăn uống
say mê
5)- Thùy Dục: nghĩa là ngủ nghỉ
lười biếng.
Kinh Niết Bàn, quyển 22 giải
thích: “Người mê theo Ngũ Dục (năm thức dục lạc) tỷ như con chó
gặm xương khô, như kẻ cầm lửa đi ngược gió, như nuôi nhốt con rắn độc,
như được của trong giấc mộng, như cây trái đầu đường mà nhiều người ném
chọi, như một khúc thịt mà có cả bầy chim tranh ăn, như bọt trên mặt
nước....” Năm thứ dục lạc như của tạm bợ, không được lâu dài.
Trong phạm vi gia đình, năm thứ
dục lạc nói trên cần nên tiết chế theo nhu cầu và sử dụng theo khả năng,
không nên chạy theo thị trường, buông thả theo sở thích mà phải bị lao
tâm tổn sức, phá hoại gia cang, như:
a.
Tiền của:
tạo dựng theo khả năng,
sống theo nhu cầu, đừng chạy đua quá
độ để có tiền của cho nhiều mà bỏ quên
hạnh phúc gia đình.
b.Sắc đẹp:
luôn luôn tâm niệm mình đã có gia đình, vì con cái, không nên để cho sắc
đẹp bên ngoài quyến rủ để làm tổn thương đến hạnh phúc gia đình.
c.
Danh vọng:
tiếng thơm nếu mình đã có thì không cần phải phô trương, luồn cúi, nịnh
bợ làm mất đi phong cách của một con người.
d.Ăn uống:
ăn uống để sống mà không phải sống để ăn uống, cho nên ăn uống phải có
tiết độ, không nên tham ăn tham uống quá độ đem đến tai hại cho thân
xác.
e.
Ngủ nghỉ:
trao cái vóc óc u mê, nghĩa là trao dồi thân thể cho đẹp thì tâm hồn trở
nên đần độn ngu si. Con người thiếu ngủ thì dễ bị bệnh hoạn, nhưng ngủ
nghỉ quá độ thì kém thông minh, hiểu biết chậm chạp.
Tóm lại, tri túc là biết sống an
phận, biết chấp nhận những nhu cầu hiện có khiêm tốn trong khả năng tạo
dựng của mình, không phung phí xa hoa dư thừa, không đua dòi theo sở
thích, không chạy đua theo phong trào vật chất, biết dừng lại ở nơi cần
phải dừng trong thanh bần lạc nghiệp. Người sống tri túc là người biết
bảo vệ hạnh phúc gia đình, biết lo cho chồng vợ con cái, dù bất cứ hoàn
cảnh nào giữ gìn cho gia đình được hạnh phúc lâu dài là thỏa mãn cho tâm
nguyện của mình. Những người biết sống như trên đáng được kính trọng và
tôn vinh.
III.- KẾT LUẬN:
Đây là những nguyên tắc căn bản
cho việc sống chung trong một gia đình cần phải có để xây dựng hạnh phúc
dài lâu. Nội dung những nguyên tắc này bao gồm cả tâm lý, sinh lý và vật
lý được rút ra từ nơi những điều Phật dạy trong các kinh luận và xây
dựng trên nền tảng sáu pháp hòa kính (Lục Hòa) ngỏ hầu giúp cho người
Phật Tử tại gia sống có ý nghĩa để được hạnh phúc an vui theo tinh thần
Phật Giáo. Giá trị tinh thần những nguyên tắc trên nhằm mục đích quân
bình cả tâm lý, sinh lý và vật lý qua sự chỉ đạo của tâm trí con người
không cho thặng dư (không cho xí thạnh) sẽ gây xáo trộn bất an cho cá
nhân và tập thể. Đối với tuổi trẻ mới lớn lên, những nguyên tắc nói trên
chính là kinh nhật tụng cần phải gối đầu cho những trai gái trước khi
lập gia đình, là khuôn vàng thước ngọc cho những đôi chồng vợ son trẻ
vững bước trên lộ trình hạnh phúc lứa đôi và cũng là cẩm nang đáng giá
cho những người lớn tuổi căn cứ theo đó giáo dục con cái mình để biết
sống theo con đường hạnh phúc bền lâu. Gia đình nào nếu như quyết tâm
thực hiện những nguyên tắc nói trên một cách triệt để thì gia đình đó
trở thành gương mẫu tốt trong xã hội và cũng là nền tảng xây dựng lâu
đài cho sự giác ngộ giải thoát sanh tử của kiếp nhân sanh.
Nghi Thức
LỄ THÀNH HÔN
Wedding Ceremony
Lễ thành hôn đối với tôn giáo vô
cùng quan trọng không thể thiếu trong việc kết hợp lương duyên được bền
chặt lâu dài. Đôi trai gái muốn kết thành chồng vợ mang đầy ý nghĩa thì
hai người phải vào chùa hay nhà thờ của tôn giáo mà các cháu tín ngưỡng
làm lễ thành hôn. Lễ thành hôn là hai trẻ phát nguyện, tức là tuyên thệ
trước đức Phật hay trước Chúa yêu nhau trọn đời. Những lời phát nguyện
hay lời thề đó ấn vào tâm của hai người thành hai hạt giống (Two Datas)
tình yêu chân thật. Đó là hai nguyên nhân nằm sâu trong tâm thức của hai
người. Hai hạt giống tình yêu này lâu ngày trở thành hai năng lực luyến
ái gắn bó với nhau không cho xa cách. Một trong hai người nếu như phản
bội nhau thì người phản bội đó bị hạt giống tình yêu khiến họ bị đau khổ
bởi cắn rứt lương tâm, rồi đi đến quả báo qua kiếp sau hay đời sau hạt
giống tình yêu khiến họ bị đau khổ bởi người khác phản bội lại họ hoặc
hành hạ họï, nhân nào quả nấy không tránh khỏi.
Nghi thức Lễ Thành Hôn, tôi căn
cứ theo Nghi Thức Lễ Thành Hôn của Tu Viện Trúc Lâm ở Edmonton – Canada
ấn hành, soạn lại cho ngắn gọn mà không mất phần ý nghĩa và giá trị.
Nghi Thức Lễ Thành Hôn này gồm có hai hai phần: phần tiếng Việt và phần
tiếng Anh. Trước hết là phần tiếng Việt được trình bày như sau:
NGHI THỨC HỘ NIỆM HÔN LỄ
Wedding Ceremony
1.- ĐẠI CHÚNG VÂN TẬP
2.- CUNG THỈNH CHƯ TĂNG
3.- DÂNG HƯƠNG:
Xin cho khói trầm thơm
Kết thành mây năm sắc
Dâng lên khắp mười phương
Cúng dường vô lượng Phật
Vô lượng chư Bồ Tát
Cùng các Thánh Hiền Tăng
Nơi pháp giới dung thông
Kết đài sen rực rở
Nguyện làm kẻ đồng hành
Trên con đường giác ngộ
Xin mọi loài chúng sanh
Từ bỏ cõi vô minh
Theo đường giới, định, tuệ
Quay về nơi bến giác
Chúng con kính dâng hương lên Phật và
chư vị Bồ Tát (o)
4.- ĐẢNH LỄ TAM BẢO:
(3 lần đọc và 3 lần
lạy)
Nhất tâm kính lễ Phật, Pháp, Tăng
trường trụ trong mười phương (o)
5.- TRÌ TỤNG (đại
chúng đồng tụng)
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3
lần)
Pháp Phật cao siêu mầu nhiệm
Con nay may được thọ trì
Xin nguyện đi vào biển tuệ
Tinh thông giáo nghĩa huyền vi. (o)
6.- TỤNG KINH BÁT NHÃ: TÂM KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA
Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại
Một khi quán chiếu thâm sâu
Bát Nhã Ba La Mật Đa
Bỗng soi thấy thể năm Uẩn
Đều không thật có tự tánh
Liền vượt qua khỏi tất cả
Bao thứ khổ đau ách nạn.
Này Xá Lợi Tử nghe đây,
Quả Sắc chẳng khác nhân Không,
Nhân Không chẳng khác quả Sắc,
Quả Sắc biến thành nhân Không,
Nhân Không biến thành quả Sắc,
Cho đến, Thọ, Tưởng, Hành, Thức,
Cũng đều giống như vậy cả.
Này Xá Lợi Tử nghe đây,
Thể mọi pháp đều không Tướng,
Không sanh mà cũng không diệt,
Không nhơ mà cũng không sạch,
Không thêm mà cũng không bớt.
Cho nên nơi trong thể Không,
Không có Sắc, Thọ, Tưởng, Hành,
Và cũng không có Thức (Tướng);
Không có Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt,
Cho đến Thân, Ý (sáu Căn);
Không có Sắc, Thinh, Hương, Vị,
Cho đến Xúc, Pháp (sáu Trần);
Không có mười tám Giới riêng,
(Từ Nhãn cho đến Ý Thức);
Không hề có chút Vô Minh,
Và không có hết Vô Minh;
Không có vấn đề Lão Tử,
Và cũng không hết Lão Tử;
Không có Khổ, Tập, Diệt, Đạo,
Không Trí và cũng không Đắc,
Vì không có chỗ sở đắc.
Nên khi Bồ Tát nương theo
Bát Nhã Ba La Mật Đa
Thì tâm không bị chướng ngại,
Vì tâm không bị chướng ngại,
Nên không có chút sợ hãi,
Xa lìa được mọi điên đảo,
Xa hẳn được mọi mộng tưởng,
Đạt đến Niết Bàn tuyệt đối.
Các đức Phật trong ba đời,
Cũng nhờ hành trì theo pháp
Bát Nhã Ba La Mật Đa,
Đều chứng quả Vô Thượng Giác.
Thế nên cần phải biết rằng,
Bát Nhã Ba La Mật Đa,
Chính là Linh Chú đại thần,
Chính là Linh Chú đại minh,
Chính là Linh Chú vô thượng,
Chính là Linh Chú tuyệt đỉnh,
Chính là chân lý bất vọng
Có năng lực rất siêu phàm,
Tiêu trừ tất cả khổ nạn.
Cho nên mỗi khi nói đến
Bát Nhã Ba La Mật Đa,
Bồ Tát liền đọc Thần Chú:
“Yết Đế, Yết Đế, Ba La Yết Đế,
Ba La Tăng Yết Đế, Bồ Đề Tát Bà Ha”
(đọc
Chú này 3 lần)
7.- KHAI THỊ:
(Thầy chủ lễ xoay về phía chủ rể và cô
dâu mà khai thị)
Hôm nay hai Phật tử (tên chú rể) và
(tên cô dâu) làm lễ thành hôn. Trong giờ phút trang trọng này, xin hai
Phật tử nghĩ đến những ơn lớn trong cuộc đời của mình mà lễ lạy Tam Bảo
để đáp đền công đức sâu dày ấy. Sau lời xướng nghe tiếng chuông lạy
xuống 1 lạy.
*)- Phật tử mang ơn cha mẹ sanh thành, cúi đầu kính lễ Tam Bảo thường
trụ trong mười phương.
*)- Phật tử mang ơn sư trưởng giáo huấn, cúi đầu kính lễ Tam Bảo
thường trụ trong mười phương.
*)- Phật tử mang ơn bằng hữu và các bậc thiện tri thức đã tác thành
hôn lễ cho, cúi đầu kính lễ Tam Bảo thường trụ trong mười phương.
8.- PHÁT NGUYỆN:
(Thầy chủ lễ tiếp tục khai thị cho 2
Phật tử)
Hai Phật tử! Đây là lúc hai vị phát
nguyện sống cuộc sống lứa đôi theo giáo pháp của Phật. Nên biết rằng,
thành chồng thành vợ là để cùng nhau xây dựng một gia đình hạnh phúc, để
tiếp nối công trình của tổ tiên, ông bà, cha mẹ mà làm cho nòi giống
được tồn tại, tốt tươi. Hạnh phúc ấy, trước hết là ở sự chia xẻ: chồng
vợ cùng nhau chia xẻ ngọt bùi, buồn vui, cùng nhau nâng đở dắt dìu, chăm
sóc nhau trong cuộc sống.
Chia xẻ để giúp nhau có sức mạnh tinh
thần mà vượt qua những thất bại khó khăn, để thấy được hạnh phúc ở trong
nhau mà cùng nhau sống cuộc sống có ý nghĩa cao đẹp để nuôi lớn niềm tin
cậy và sự kính trọng nhau, lòng yêu thương và hiểu biết nhau, lòng bao
dung và tha thứ nhau – những chất liệu cần thiết làm nên hạnh phúc gia
đình. Hạnh phúc chân chánh chỉ có ở một cuộc sống lương thiện, trong
sạch, lành mạnh.
Đó là những gì mà đức Phật đã ân cần
dạy bảo, thể hiện trong truyền thống đạo đức của tổ tiên và là những gì
mà các bậc cha mẹ luôn mong ước cho con cháu của mình. Lại nữa, nên thấy
mình là trong liên hệ với tiền nhân cũng như với các thế hệ mai sau của
nòi giống. Đã thừa kế di sản của tổ tiên, mang ơn sanh thành, tạo tác
của cha mẹ, thì với con cái sau này, hai Phật tử cũng nên đem hết lòng
yêu thương, khả năng và phương tiện nuôi dưỡng chúng nó nên người xứng
đáng, làm cho nòi giống được lưu truyền tốt đẹp.
Trong giờ phút kết hợp trang trọng này,
trước sự chứng minh của Tam Bảo, sự chứng nhận của cha mẹ và thân bằng
quyến thuộc hai họ, hai Phật tử hãy chân thành đọc theo Thầy lời phát
nguyện sau đây:
*)- Chúng con nguyện: từ nay kết thành
chồng vợ, vui buồn có nhau, sướng khổ có nhau, cùng bên nhau trong mọi
thăng trầm của cuộc sống.
*)- Chúng con nguyện: giữ niềm tin cậy,
yêu thương và hiểu biết nhau, bao dung, tha thứ và lòng kiên nhẫn để
cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình.
*)- Chúng con nguyện: cùng giúp nhau
sống cuộc đời lương thiện, trong sạch và lành mạnh để xứng đáng là người
con Phật, xứng đáng với truyền thống đạo đức của tổ tiên nòi giống và
với tấm lòng kỳ vọng của cha mẹ chúng con.
*)- Chúng con nguyện: thường tự nhắc
nhở rằng, sự trách móc, sự hờn giận và cãi cọ chỉ làm thương tổn hòa khí
mà không giải quyết được gì. Chúng con biết, chỉ có sự hiểu biết và lòng
tin cậy mới bồi đắp được cho tình yêu, hạnh phúc và an vui mà thôi.
*)- Chúng con nguyện: trong đời sống
hằng ngày, sẽ dồn hết tâm lực và phương tiện để xây dựng cho thế hệ con
cháu của chúng con trong tương lai.
9.- Ý NGHĨA CHIẾC NHẪN:
(Thầy chủ lễ giảng ý nghĩa chiếc
nhẫn. Sau khi giảng xong, hỏi chú rễ và cô dâu như sau)
Chiêác nhẫn được làm bằng vàng, là một
thứ kim loại quý trong các thứ kim loại. Trao cho nhau chiếc nhẫn bằng
vàng là trao cho nhau những gì quý nhất của con người mình. Nhẫn này
hình tròn. Trao cho nhau chiếc nhẫn hình tròn là trao cho nhau trọn vẹn
những nguyện ước tốt đẹp nhất trong cuộc đời. Nhẫn này cũng là nhẫn
nhục. Để cho hạnh phúc được bền chặt, là chồng là vợ cần biết nhẫn nhịn,
bao dung, tha thứ cho nhau, biết chấp nhận những cái tốt, đồng thời cũng
biết chấp nhận những cái xấu của nhau để cùng giúp nhau chuyển hóa.
Giờ đây hai Phật tử nghe Thầy hỏi và
trả lời sau câu hỏi của Thầy:
(Nam/Nữ) Phật tử (tên) có nhận vị
(nữ/nam) Phật tử (tên) là người (vợ/chồng) chánh thức để cùng nhau sống
chung hòa hợp, tương kính, tin cẩn và thương yêu nhau. Có hết lòng xây
dựng hạnh phúc gia đình và luôn luôn chung thủy với (vợ/chồng), mọi việc
trong gia đình đều nên cùng nhau bàn thảo một cách hòa nhã, vui vẻ; có
biết kính trọng họ hàng, thân quyến và bạn bè của (chồng/vợ), có sẳn
sàng nâng đỡ, trợ duyên cho (chồng/vợ) trong các việc làm hợp với đạo lý
và lẽ phải không?
- Dạ có.
10.- LỄ TRAO NHẪN:
(Thầy chủ lễ bào hai Phật tử xoay mặt,
chấp tay
đối diện với nhau và nói)
Theo truyền thống của tổ tiên, chồng vợ
kính nhau như mới biết, quý trọng nhau như quý trọng người khách quý.
Thể hiện niềm tương kính đó, chủ rể cô dâu quay mặt lại với nhau cùng
nhau làm lễ giao bái. Lòng yêu thương và sự cam kết sẽ được tiếp tục lớn
mạnh được căn cứ vào sự tương kính này.
-
Chú Rể và Cô Dâu cùng giao bái nhau
(lạy xuống 1 lạy)
(Thầy nói tiếp:)
Hai Phật tử! Bây giờ xin hai vị cầm tay
nhau, lập lại lời Thầy nói trước khi trao nhẫn cho nhau:
-
Anh/Em (tên) xin nhận em/anh (tên) làm người (vợ/chồng) chánh thức của
anh/em. Dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, giàu có hay khốn cùng, khỏe mạnh hay
ốm đau, an vui hay cực nhọc, chúng ta cũng nguyện trọn đời sống bên nhau
trong yêu thương, nhẫn nại, trách nhiệm và danh dự.
–
TRAO NHẪN.
11.- HỘ NIỆM:
( Thầy chủ lễ tuyên bố:)
Giờ đây xin đại chúng chắp tay hộ niệm
cho cuộc hôn phối này được thành tựu tốt đẹp và bền vững.
Nguyện ngày an lành đêm an lành
Ngày đêm sáu thời đều an lành
An lành trong mỗi giây mỗi phút
Cầu ơn Tam Bảo luôn che chở.
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần
–o)
12.- QUAY VỀ NƯƠNG TỰA:
*)- Con về nương tựa Phật, người đưa
đường
chỉ lối cho con trong cuộc đời. (o)
*)- Con về nương tựa Pháp, con đường
của tình thương và sự hiểu biết. (o)
*)- Con về nương tựa Tăng, đoàn thể của
những người nguyện sống cuộc đời tỉnh
thức. (o)
13.- HỒI HƯỚNG:
Phát nguyện pháp thâm diệu
Tạo công đức vô biên
Đệ tử xin hồi hướng
Cho chúng sanh mọi miền
Pháp môn xin nguyện học
Ơn nghĩa xin nguyện đền
Phiền não xin nguyện đoạn
Quả Phật xin chứng nên. (o)
14.- KÝ GIẤY HÔN THÚ
15.- ĐẠI DIỆN HAI HỌ CẢM TẠ
16.- CUNG TIỂN CHƯ TĂNG
HẾT
WEDDING CEREMONY
1.- COMMUNITY GATHERING
2.- WELCOME THE SANGHA ENTERING THE SHRINE HALL
3.- INCENSE OFFERING
In gratitude,
we offer this incense
to all Buddhas and Bodhisattvas
throughout space and time.
May it be fragrant as Earth herself,
reflecting our careful efforts,
our wholehearted awareness,
and the fruit of understanding,
slowly ripening.
May we, and all beings
be companions of Buddhas and
Bodhisattvas.
May we awaken from forgetfulness
and realize our true home.
We offer this incense to all Buddhas
and Bodhisattvas (o)
4.- BOWING
(bow one each time)
-
Homage to the Buddha, the Dharma, and the Sangha in the ten directions
(3 times).
5.- SUTRA OPENING VERSE:
Namo Tassa Bhagavato Arahato
Sambuddhassa (3 times (o)
The Dharma is deep and lovely
We now have a chance to see it
Study it and practice it
We vow to realize its true meaning (o)
6.- CHANTING THE PRAJNAPARAMITA THE HEART OF THE PRAJNAPARAMITA
The Bodhisattva Avalokita,
While moving in the deep course
of perfect understanding,
Shed light on the five skandhas
And found them equally empty.
After this penetration,
He overcame ill-being. (o)
Listen, Shariputra,
Form is emptiness,
Emptiness is form.
Form is not other than emptiness,
Emptiness is not other than form.
The same is true with feelings,
Perception, mental formations,
And consciousness. (o)
Hear, Shariputra,
All dharmas are marked with emptiness.
They are neither produced nor
destroyed,
Neither defiled nor immaculate,
Neither increasing nor decreasing.
Therefore in emptiness there is neither
form,
Nor feelings, nor perceptions,
Nor mental formation, nor
consciousness;
No eye, or ear, or nose,
Or tongue, or body, or mind;
No form, no sound, no smell, no taste,
No touch, no object of mind;
No realms of elements
(from eyes to mind consciousness);
No interdependent origins and
No extinction of them
(from ignorance to death and decay);
No ill-being, no cause of ill-being;
No end of ill-being, and no path;
No understanding, no attainment. (o)
Because there is no attainment,
The Bodhisattvas, grounded
In perfect understanding,
Find no obstacles for their minds.
Having no obstacles,
They overcome fear,
Liberating themselves
Forever from illusion
And realizing perfect nirvana.
All Buddhas in the
Past, present, and future,
Thanks to this
Perfect understanding,
Arrive at full, right,
And universal enlightenment. (o)
Therefore
One should know that
Perfect understanding
Is the highest Mantra
The unequalled Mantra
The destroyer of ill-being
The incorruptible truth.
A Mantra of prajnaparamita
Should therefore be proclaimed
This is the Mantra:
Gate, Gate, Paragate, Parasamgate,
Bodhis Svaha. (3 times – o)
7.- INTRODUCTORY WORDS:
(Master facing to the couple and
teach)
Today (name) and (name) are getting
married. To repay the deep favor of the four gratitude who have
supported you, this is a moment that both of you should express the
sincere gratitude to them by bowing deeply to the Three Jewels after the
bell.
*)-
In gratitude to their parents who have brought them to life, they bow
deeply to the Three Jewels in the ten directions.
*)-
In gratitude to their teachers who have shown them the Way, they bow
deeply to the Three Jewels in the ten directions.
*)-
In gratitude to their friends, who give them guidance and support on the
path, they bow deeply to the Three Jewels in the ten directions.
8.- FIVE VOWS:
(Master of Ceremony reads to bride and
groom)
Students of the Buddha, this is
the moment where you would make your vows to live as according to the
Buddha’s teaching. You should know that this union is to construct a
family, to continue the work of your ancestors, maintaining this human
race. Happiness is, most important of all, sharing – that is you should
share your moments of joy and sadness, your good and bad times, support
and care for one another in your everyday life.
Sharing will grant you spiritual
strength to overcome obstacles; it will enable you to recognize true
happiness, to gain trust and respect, love and understanding, and to
forgive and forget one another – these are the ingredients necessary for
a healthy and happy family.
This is the teaching of the
Buddha; it is also the wish and desire of all of our ancestors. You
should also realize that your existence is the link between your
ancestors and your descendants. For that reason, you should love and
provide for your children.
In this important moment of your
union, before the Triple Gems, witness by the parents and families of
both sides, the Bride and the Groom please repeat these vows after me:
*)- We vow that from now on as spouses
will share joys and sorrows, happiness and sadness, and will be close to
each other in any experience of life.
*)- We vow that, in promoting happiness
in the family, we will maintain mutual trust, love and understanding and
will observe tolerance and forgiveness.
*)- We vow, to urge each other toward
and honest, pure and wholesome life, so as to remain worthy of our claim
as disciples of the Buddha, our moral traditions and our parent’s
highest expectations.
*)- We vow to frequently remind
ourselves that blaming, anger and argument only destroy harmony and do
not solve problems. We are aware that only understanding and trust
nourish love, happiness and peace.
*)- We vow that, in our daily life, we
will dedicate our time and effort to build a strong and healthy
foundation for our future generations.
9.- BRIEF DISCUSSION ON THE MEANING
OF THE RING
(The Master explains the meaning
of the wedding ring. Continue to ask the bride and the groom.)
Gold is the most precious and
valuable metal used in making the wedding rings. Giving the golden ring
to each other represents giving the most precious and valuable part of
yourself to each other. The round shape of the wedding rings is a symbol
of the fullness and prosperity. You both wish to give each other all of
whom you are and the best of who you will become. And, in Vietnamese
language, the meaning of the word “Nhan” (Ring in English) is
patience. That is to say, as husband and wife, in every day life, you
should be patient with each other, tolerate and forgive each other,
accept the good side of each other and also accept the bad side to
support each other in transforming.
Please answer “I DO” after
the following question:
-
Will you (name) take this (man/woman) to be your lawful wedded
(husband/wife) to live together in harmony with mutual respect, trust
and love? Do you promise to care for the family, to be faithful to your
(husband/wife), to have all discussions carried out in a pleasant
manner, to respect the friends and relatives of your (husband/wife), to
encourage your (husband/wife) to do what is morally right?
-
I
DO
10.- CEREMONY OF EXCHANGE RINGS:
(Bride and Groom please turn and face
each
other)
In ancestral tradition, husband
and wife must always repect each other as a distinguished guest. To
express this respect, bride and groom face each other and bow deeply to
each other to show the mutual respect. Your love and commitment will
continue to grow based on this ground of mutual respect.
The Bride and Groom bow down 1
bow.
Now is the time for you to hold
hands repeat after me and exchange rings.
-
I
(name ) take the (name) to be my lawful wedded (husband/wife), to love,
honor and cherish for richer and for poorer, in sickness and in health,
as long as we both shall live. EXCHANGE RINGS
II.- CHANTING:
(Master of ceremony declares):
Will the community recollects the
names of the name of the Buddha in support of the newly-wedded couple.
May the day be well and the night is
well
May the midday hour bring happiness too
In every minute and every second
By the blessing of the Triple Gem.
Homage to Bodhisattva Avalokita of
Great Compassion.
(3 times –
o)
12.- THE THREE REFUGES:
-
I
take refuge in the Buddha, the one who shows
me the way in this life. (o)
-
I
take refuge in the Dharma, the way of
understanding and love. (o)
-
I
take refuge in the Sangha, the community that lives in harmony and
awareness. (o).
13.- SHARING MERIT
Reciting the sutras,
practicing the way of awareness
gives rise to benefits without limit.
We vow to share the fruits with all
beings.
We vow to offer tribute to parents,
teachers,
friends and numerous beings
who give guidance and support along the
path.(o)
14.- SIGNING OF THE MARRIAGE STATEMENTS
15.- WORDS OF APPRECIATION BY THE FAMILIES
16.- FAREWELL TO ALL SANGHA
NHỮNG KINH LUẬN THAM KHẢO
*)- Tăng Chi Bộ Kinh tập I,
IIA, IIIA, IIB, IIIB, VB
*)- Trường Bộ Kinh tập I,
III, IV *)- Trung Bộ Kinh I, II, III, IV
*)- Tương Ưng Bộ Kinh tập I,
II, V *)- Tiểu Bộ Kinh tập I *)- Trường A Hàm
*)- Trung A Hàm, *)- Tăng
Nhứt A Hàm *)- Tạp A Hàm
*)- Kinh Thi Ca La Việt
(Singàlaka) *)- Kinh Đại Niết Bàn
*)- Phật Học Phổ Thông I, II,
III, IV, V. (Thích Thiện Hoa).
*)- Tư Tưởng Xã Hội
Trong Kinh Điển Phật Giáo Nguyên Thủy (Thích Chơn Trí)
*)- Tự Điển Phật Học Huệ
Quang *)- Hạnh Phúc Lứa Đôi (Thích Tâm Quang dịch)
*)- Nghi Thức Lễ Thành Hôn
(Ban Nghi Lễ Tu Viện Trúc Lâm Edmonton – Canada ấn Hành)