Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật giáo & Xã Hội


...... ... .

 

 Phật giáo -

Phương thức sống của con người

trong thiên niên kỷ thứ ba

 

Dr. Granville Dharmawardena

Phước Nguyện dịch

                      

"  Đức Phật là nhà khoa học vĩ đại nhất trong lịch sử loài người"

     

Tôi thường nghe như thế trong những bài thuyết pháp. Điều này hoàn toàn sai. Nhà khoa học là những người phải chấp nhận làm việc trong đơn độc, và chỉ chấp nhận thành tựu tri thức được sinh ra bằng phương pháp khoa học. Họ thường phủ nhận dạng tri thức sinh ra từ phương pháp khác. Đức Phật không sử dụng phương pháp khoa học, vì vậy Ngài không phải là một nhà khoa học.

Trong hai phương pháp để đạt được tri thức vốn có của nhân loại, Phật sử dụng khả năng trực giác nằm ở trung tâm não phải, còn phương pháp của người phương Tây là ở não trái. Đức Phật tu tập để đạt đến cảnh giới cao nhất của của sự giác ngộ, ở đó Ngài hiểu rõ thực tướng của các pháp. Sự giác ngộ đạt được dựa trên nguồn tri thức mà Ngài đã thực chứng thành một triết lý sống. Triết lý này đưa đến đời sống cân bằng và hạnh phúc, sống trong sự hòa thuận với mọi người, hợp với tự nhiên, một đời sống đầy ý nghĩa, tránh xa những căng thẳng, lo âu, lòng ghen tỵ và niềm kiêu hãnh trống không, mọi phiền muộn này chấm dứt trong một tinh thần tràn đầy hạnh phúc. Điều đó được thực chứng hơn 2.500 năm qua. Còn khoa học lại bắt đầu muộn hơn nhiều.

Khoa học thường được diễn tả như là tri thức được công thức hóa một cách hệ thống. Đó là kiến thức cần thiết để hiểu những hiện tượng mà chúng ta quan sát và chúng ảnh hưởng đến đời sống của chúng ta. Đối với người xưa, khoa học là một quá trình tích lũy ngày càng tăng của kiến thức và khả năng thấu hiểu những gì xung quanh họ. Điều đó cũng có nghĩa: khoa học là một chuỗi những chiến thắng vượt qua sự ngu dốt và mê tín. Trong thời Đức Phật tại thế, khoa học vẫn còn là sự giải thích có tính chất suy đoán về những quan sát bình thường do giác quan đem lại của các nhà trí thức, những người đã hiến dâng phần nhiều thời gian trong cuộc đời họ để suy tư và tìm hiểu những hiện tượng tự nhiên. Khoa học đã hỗ trợ để phát triển những công nghệ thiết yếu, giúp cho việc sản xuất các vật dụng cần thiết giúp cho đời sống sung túc hơn.

Trong thế kỷ XVII, nhà toán học người Pháp Rene Des Cartes đã giới hạn phạm vi khoa học trong lĩnh vực vật chất bằng cách chia vũ trụ thành hai phần: vật chất và ý thức, và khoa học chỉ nghiên cứu “vật chất”. Khoa học phát triển dựa trên nền tảng phân chia của Des Cartes đã bị giới hạn trong các đối tượng vật chất thuộc phạm vi nhận thức bằng các giác quan con người, mà các giác quan con người thì không thể nhận thức được bất kỳ điều gì vượt khỏi không gian ba chiều.

Điều đó làm hạn chế khoa học trên con đường tìm kiếm tri thức để nhận thức bản chất của tự nhiên, bởi vì tự nhiên hay các hiện tượng tự nhiên không chỉ giới hạn trong “vật chất” hay “không gian ba chiều”. Vì vậy, có nhiều hiện tượng tự nhiên xảy ra nằm ngoài phạm vi của khoa học. Tuy nhiên, khoa học đã cung cấp cho con người nhiều lợi ích lớn lao về vật chất. Do đó, nhân loại khắp nơi trên thế giới đều rất tin tưởng vào khoa học và chấp nhận bất kỳ điều gì được khoa học giải thích. Mục đích cuối cùng của khoa học là để nhận thức bản chất của tự nhiên, giảm đến mức thấp nhất những khổ đau của con người và giúp họ hạnh phúc bằng cách cung cấp nhiều vật dụng tiện nghi.

Phương pháp đạt được tri thức bằng trực giác của đức Phật vượt qua những giới hạn kiềm chế khoa học, vì vậy không giống với khoa học, tri thức mà Đức Phật đạt được là toàn vẹn và phản ánh đúng bản chất của tự nhiên. Điều này đã được xác nhận qua hơn 2.500 năm trải nghiệm. Vì lý do đó, Đức Phật không có bất kỳ “vết mờ” nào để phải núp dưới đám mây của sức mạnh siêu nhiên ảo tưởng.

Cũng giống như khoa học, đạo Phật không bắt buộc các môn đệ phải tin một cách giáo điều vào bất kỳ điều gì đức Phật dạy. Ngài khuyên mọi người không mù quáng chấp nhận những gì Ngài đã tuyên thuyết, mà nên áp dụng chúng cho bản thân xem có ích lợi hay không trước khi chấp nhận. Vì lý do đó, giáo pháp của Ngài vẫn còn nguyên vẹn giá trị trong mọi hoàn cảnh và thời gian.

Tri thức của Đức Phật - tạm gọi như vậy - phản ánh đúng bản chất tự nhiên, thì những gì mà các nhà khoa học khao khát để hiểu được - giống như mục đích cuối cùng của phương pháp khoa học - cũng vậy, là bản chất của tự nhiên. Mục đích của giáo pháp đức Phật là tận diệt những đau khổ của con người và làm cho con người hạnh phúc bằng cách rèn luyện tâm hồn và kiềm chế những ham muốn của bản thân, còn mục đích của khoa học là cung cấp cho con người nhiều tiện nghi vật chất.

Năm 1905, Albert Einstein đã phá vỡ rào chắn không gian ba chiều trong khoa học, đưa khoa học vượt qua những giới hạn không gian ba chiều và của Des Cartes. Điều này cho phép con người có tham vọng mở rộng tầm hiểu biết về tự nhiên và những hiện tượng tự nhiên thông qua phương pháp khoa học. Khoa học hiện đại của thế kỷ XX đã phát triển vượt bậc sau khi rào cản không gian bị phá vỡ vì các thuyết tương đối, cơ học lượng tử và hệ thức bất định của các nhà khoa học lừng danh như Albert Einstein, Erwin Schrodinger, Louis de Broglie, Paul Dirac, Werner Heisenberg, Richard Feynman, Murray Gellman, Sir Arthur Eddington và Stephen Hawkin. Điều này đã phá đổ sự phân chia giả định của Des Cartes và chủ nghĩa duy vật cực đoan trong khoa học. Vào giữa thế kỷ XX, khoa học đã gặt hái được nhiều thành công, nhờ đó đã tạo nên nhiều phòng thí nghiệm hữu hiệu trong các lĩnh vực nghiên cứu, để giám sát, phát triển các học thuyết, tiên đoán, thẩm định các tiên đoán và công nhận chúng.

Việc vượt qua rào cản không gian ba chiều và đưa khoa học vươn xa hơn khả năng cảm nhận của giác quan con người đã loại trừ sự đòi hỏi của các cơ chế hiện thời, chỉ chấp nhận các hiện tượng phải quan sát được. Sự ra đời của máy vi tính đã hỗ trợ mạnh mẽ khả năng làm việc của não người để giải quyết các hiện tượng phức tạp, những hiện tượng mà nếu giải quyết chỉ bằng trí lực của người chưa giác ngộ thì quả thật kinh khủng. Máy vi tính không thể đạt được những năng lực như não người. Bởi não người do ý thức điều khiển, hoạt động ở tốc độ nhanh hơn nhiều so với tốc độ ánh sáng.

Thành tựu chính mà các nhà khoa học trong thế kỷ XX đạt được nhờ vượt qua rào cản không gian ba chiều làm cho nhân loại hiểu biết chính xác hơn về tự nhiên và các hiện tượng tự nhiên. Sự phát triển vượt bậc của khoa học thế kỷ XX cho phép chúng ta thẩm định một cách khoa học các khái niệm như vô thường, tái sinh, tha tâm thông và vô ngã do Đức Phật dạy là đúng với tự nhiên, vượt qua không gian ba chiều, vì vậy vượt qua khoa học cổ điển.

Triết gia Derek Parfit ở Đại học Oxford (có lẽ là nhà triết học nổi tiếng nhất thế giới hiện còn sống) chấp nhận quan niệm của Phật giáo về đời sống và vô ngã. Ông tin tưởng rằng sự thừa nhận về vô ngã của mình là kết quả của những nghiên cứu trên não người, đã giải phóng ông khỏi ngục tù của chính mình. Ông nói: “Khi tôi tin rằng sự tồn tại của tôi như một thực tại xa xôi, tôi dường như đã bỏ tù chính mình. Cuộc đời tôi dường như bị nhốt trong đường hầm kính, thông qua đó mỗi năm tôi hoạt động nhanh hơn, và cuối đường hầm là bóng tối. Khi tôi thay đổi quan niệm, bức tường trong đường hầm kính của tôi biến mất. Bây giờ tôi sống trong bầu không khí ngoài trời”.

Derek Parfit, Fritj of Capra (nhà vật lý hạch tâm nổi tiếng) và Gary Zukav chấp nhận quan niệm của Phật giáo về vật chất và tin chắc rằng cần phải giải phóng bản thân chúng ta khỏi ngục tù của các phân tử vật chất.

Quá trình tái sinh của con người được giải thích trong lời dạy của đức Phật là sự kết hợp của tinh cha huyết mẹ và thần thức. Tinh cha huyết mẹ cung cấp đầy đủ các thành phần cần thiết cho nhiễm sắc thể để tạo nên một hợp tử bằng sự phân chia tế bào bình thường và hình thành cơ thể vật lý. Cơ thể vật lý kết hợp với thần thức làm cho nó trở thành một cá thể. Việc tạo ra các em bé thụ tinh trong ống nghiệm của Tiến sĩ Robert Edwards và các khoa học gia cộng sự vào năm 1968 ở Đại học Cambridge là bước tiến bộ vượt bậc, đỉnh điểm là thành tựu của kỹ thuật sinh sản vô tính năm 1996 (tạo cừu Dolly), những điều kỳ diệu như thế đã xảy ra trong sinh học. Tất cả những tiến bộ này chỉ có duy nhất một thay đổi và thay đổi đó đã biến đổi cơ chế tạo hợp tử. Hợp tử trưởng thành tạo ra một bào thai, hình thành cá thể nhờ thức nhập vào và sau đó được sinh ra vẫn còn đúng theo lời dạy của đức Phật.

Hiện tại, điều đó đã trở nên thật rõ ràng đối với những con người tiên phong trong nền khoa học hiện đại. Những gì được khoa học khám phá ra cho là mới, thật ra trên 2.500 năm trước đức Phật đã biết. Điều này đã được xác nhận bằng những lời phát biểu của các nhà khoa học hàng đầu thế kỷ XX.

Albert Einstein - người được tôn vinh là cha đẻ của thuyết tương đối - tuyên bố: “Sự tồn tại của một cá thể ghi dấu anh ta như là một phần của sự giam hãm và anh ta muốn chiêm nghiệm vũ trụ như một thực thể riêng biệt. Sự khởi đầu của vũ trụ trong ý niệm của các tôn giáo vốn xuất hiện trước khi khoa học phát triển, điển hình như trong bài Thánh ca của thánh David và một số Thánh kinh Do Thái giáo. Phật giáo, như chúng ta đã biết, đặc biệt là từ các tác phẩm tuyệt vời của Schopenhauer, hàm chứa một yếu tố vững vàng hơn như thế nhiều lần”.

Niels Bohr, người đã phát minh ra mô hình nguyên tử hiện đại cùng với Earnest Rutherford, cho rằng: “Giống với lý thuyết nguyên tử… những vấn đề nhận thức luận này đã được các nhà tư tưởng như đức Phật và Lão Tử chiêm nghiệm, khi cố gắng để hài hòa vị trí của chúng ta với vũ trụ, như khán giả và diễn viên trong một vở kịch đang diễn”.

Nhà vật lý hạt nhân xuất sắc Robert Oppenheimer, người tạo ra quả bom nguyên tử đầu tiên, phát biểu: “Những khái niệm chung về tri thức nhân loại… được những phát minh trong vật lý nguyên tử minh họa, chẳng phải là những điều hoàn toàn xa lạ, chưa từng có hay hoàn toàn mới mẻ trong bản chất sự vật. Chính ngay trong nền văn hóa của chúng ta cũng có một lịch sử, điều này trong tư tưởng Phật giáo và Ấn Độ giáo được nói đến nhiều và chiếm một vị trí trung tâm. Những gì chúng ta tìm kiếm sẽ là một minh chứng, một niềm khích lệ và tinh hoa của trí thức cổ xưa”.

Cốt tủy của Phật giáo Nguyên thủy là Bát chánh đạo. D.T. Suzuki đã viết về chi đầu tiên - Chánh kiến (thấy đúng) như sau: “Chánh kiến đóng vai trò quan trọng nhất trong nhận thức luận Phật giáo. Thấy đúng (Chánh kiến) là nền tảng của sự hiểu biết. Không thể biết nếu không thấy. Tất cả các tri thức đều bắt nguồn từ Chánh kiến, vì vậy chúng thống nhất trong từng lời dạy của đức Thế Tôn. Mục đích cuối cùng của triết lý Phật giáo là hiểu được thực chất của các pháp. Chánh kiến chính là đang hướng đến giác ngộ”.

Giáo pháp của Như Lai đặt trên nền tảng của bản thể tự nhiên, được thừa nhận là có giá trị vượt thời gian và không gian. Phật giáo là giáo pháp duy nhất dựa trên bản thể tự nhiên mang tính thực tiễn cho toàn nhân loại. Ngày nay, điều đó đã trở nên thật rõ ràng, Phật giáo ngày càng góp phần giải quyết những vấn nạn của nhân loại như: vấn đề gia tăng bạo lực, chủ nghĩa khủng bố, nghiện ma túy và sự hủy hoại bản thân. Những vấn nạn đó là hệ quả của lối sống buông thả quá độ, sự cạnh tranh khốc liệt và lòng ham muốn được trường sinh. Rõ ràng, Phật giáo đang được cả thế giới thừa nhận như là lối sống của những con người trí thức trong thiên niên kỷ thứ ba.

---o0o---

Nguồn: chuyenphapluan.com

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 11/2006

 


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Thư Mục PG & Xã Hội

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au

Ghi rõ nguồn "Trang nhà Quảng Đức" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.