Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật giáo & Xã Hội


......... .

 

 

Hải Ấn - 2002

Con Đường
Phát Triển Tâm Linh

Thích Trí Hoằng

 

Mười Thương

Một thương đất khách dựng chùa

Hai thương gìn giữ quê xưa nếp nhà

Ba thương Phật điện nguy nga

Bốn thương đạo pháp truyền ra nước ngoài

Năm thương Phật tử khắp nơi

Sáu thương cùng khổ không phai lời thề

Bảy thương dân tộc hướng về

Tám thương nguồn cội hồn quê vun trồn

Chín thương xa cách muôn trùng

Mười thương son sắt vẫn cùng núi sông.

Trí Hoằng, 2001.

 

Lời Nói Đầu

Tập sách này là kết tập những bài báo viết trên Bản Tin Hải Ấn và Phật Giáo Việt Nam trong cùng một chủ đề. Đó là Con Đường Phát Triển Tâm Linh.  Nội dung các bài viết này chỉ có một mục đích là trình bày các phương pháp tu trì của Đạo Phật Việt Nam.

Qua bao thăng trầm của lịch sử, Đạo Phật Việt Nam vẫn tồn tại vững mạnh như bao giờ.  Khi ẩn khi hiện trong mọi tình huống chính trị và trong mọi bối cảnh lịch sử, nhưng không bao giờ bị tiêu diệt.  Sức mạnh đó như nguồn nước, khi mạnh mẽ như thác đổ, khi dịu dàng như dòng sông êm đềm chảy qua các đồng bằng, và khi âm thầm len lỏi trong lòng đất.  Điều gì đã khiến cho Đạo Phật Việt Nam tồn tại qua cuộc tồn sinh thử lửa hàng ngàn năm?  Đó chính là Tinh Thần Dung Hóa.  Đạo Phật đã đến Việt Nam vào những ngày đầu của kỷ nguyên Tây lịch, đã kết hợp với văn hóa bản địa để trở thành một thực tại bất khả phân.  Với tinh thần bao dung vô chấp Phật Giáo đã chấp nhận mọi khác biệt tư tưởng nội tại cũng như ngoại tại để dung kết trong đạo lý Tam Giáo Đồng Nguyên (ba giáo thuyết khởi cùng một nguồn.) Con số ba tượng trưng cho số nhiều.  Phật Giáo đã kết hợp không những với những luồng tư tưởng chính thống như Khổng Giáo và Lão Giáo, nhưng cũng kết hợp với tín ngưỡng bản địa để tạo nên một tín ngưỡng tổng hợp cho dân tộc.  Do đó trong một ngôi chùa chúng ta thấy có mặt tất cả những xu hướng đó.  Bên cạnh những pho tượng Phật, tượng Tổ là tượng Khổng tử, Lão tử, Thập Điện Diêm Vương, các thần sông núi, các anh hùng liệt nữ… Và các cách hành trì của nhiều tông phái Phật Giáo đều có mặt như Tịnh Độ Tông, Thiền Tông, Nam Tông và Mật Tông.  Thâu hóa những tinh hoa của các tông phái cũng như các nguồn tư tưởngkhác nhau để bồi dưỡng cho sự hành trì của mình.  Đây là tính chất đặc biệt và cũng là sức mạnh của Đạo Phật Việt Nam.  Tinh thần bao dung và phóng khoáng này đã làm cho Đạo Phật Việt Nam phong phú và đa diện có thể đáp ứng được nhu cầu tu trì trên nhiều phương diện và có thể tồn tại trong mọi hoàn cảnh.  Với hoàn cảnh lịch sử đặc thù và vị trí địa dư đặc biệt của đất nước, Đạo Phật Việt Nam đã kết tinh từ những khó khăn thử thách đó.

Các bài viết trong tập sách này sẽ phân tích yếu tính của Đạo Phật Việt Nam và con đường hành trì:

-Chương 1: Đức Phật và Con Người: phân tích về tính khai phóng trong Phật Giáo cũng như vai trò của con người trong vấn đề sinh tử, giải thoát.

-Chương 2: Đạo Phật Trong Lòng Dân Tộc: bàn về những đặc tính căn bản của Đạo Phật Việt Nam và những đóng góp của Đạo Phật trong văn hóa dân tộc.

-Chương 3: Phương Pháp Ăn Chay: trình bày về những lợi ích của vấn đế ăn chay trong việc giữ gìn sức khỏe để tránh khỏi những chứng bệnh nan y ngặt nghèo.  Cũng như giữ gìn lòng từ bi đối với muôn vật.

-Chương 4: Pháp Môn Lạy Phật: phương pháp hành trì thâm diệu để luyện Thân và Tâm, đồng thời cũng để cập đến sự quan hệ mật thiết giữa Thân và Tâm.

-Chương 5: Thiền Âm Thanh: cách hành trì thiền định bằng sự sử dụng âm thanh.  Âm thanh như một phương tiện hữu dụng trong việc chuyển hóa phiền não.

-Chương 6: Phát Huy Phật Tính: bàn về phương pháp Niệm Phật trong Tịnh Độ Tông như một phương cách hành trì đơn giản, trực tiếp và thường xuyên trong việc tiếp xúc và phát huy Phật tính.

Những chương này bàn về phương pháp tu trì của Đạo Phật Việt Nam trong vấn đề phát triển tâm linh.  Sự phát triển này đặt trên quan hệ mật thiết giữa Thân và Tâm.  Nói lên tính chất thiết thực của Đạo Phật Việt Nam.  Không phải đi đâu xa để tìm đạo.  Đạo nằm ngay trong lòng cuộc sống.  Niết Bàn thực hiện ngay tại thế gian đau khổ và giải thoát cũng đạt được ngay tại cuộc sinh tử vô thường. Và châm ngôn căn bản cho sự tu tập này chính là “ăn chay, niệm Phật.”

Ngày nay, qua những trầm luân của lịch sử, cộng đồng Phật Giáo Việt Nam tại hải ngoại không những đã bảo tồn duy trì được những vốn liếng quý báu mà chư tổ và tiền nhân đã đổ không biết bao tâm lực và sinh mạng để hình thành; mà còn phát triển và truyền bá con đường tu trì này đến với người bản xứ.

Đạo Phật Việt Nam đã kinh qua bao gian khổ để tồn tại.  Kinh nghiệm đó cộng với tinh thần bao dung phóng khoáng vượt qua những sai biệt chấp nê nhỏ hẹp để đưa con người tiến đến giải thoát trong mọi tình huống.  Đây có lẽ sẽ là những đóng góp tích cực của Đạo Phật Việt Nam trong một thế giới đầy nhiễu nhương, phức tạp, chia rẽ, và khủng hoảng.  Ngày nay, sự phát triển khoa học kỹ thuật tại xã hội Tây phương làm khoảng cách ngắn lại, sự truyền thông thuận tiện, sự chia cách không là trở ngại và sự độc tôn giáo điều không còn chỗ đứng.  Nhưng ngược lại cũng làm con người điêu đứng với những nỗi khổ từ thể xác đến tinh thần.  Do vì sự tiêu thụ quá nhiều độc tố trong việc ăn uống, cũng như tinh thần căng thẳng quá mức trong sự làm việc.  Đạo Phật Việt Nam đã đến đúng lúc và đáp ứng kịp thời những nhu cầu của con người thời đại.  Với pháp môn tu tập thiết thực đầy sự bao dung và tinh thần phóng khoáng, mang lại lợi ích cả về thân xác lẫn tâm linh, Đạo Phật Việt Nam sẽ giúp cho người Tây phương tìm thấy an hòa hạnh phúc trong cuộc sống.  Đó là phương cách tạo dựng cảnh Tịnh Độ trong lòng thế gian.

Tập sách này ra đời như một tín tâm sâu xa đối với pháp môn tu tập truyền thống của Đạo Phật Việt Nam cũng như bày tỏ lòng tri ân vô biên đối với liệt tổ tôn sư của đất nước.

Hải Ấn Tự, Đông Bắc Hoa Kỳ (Connecticut)

Rằm tháng bảy năm Canh Thìn (14/8/2000).

Thích Trí Hoằng.

 

Chương I. Đức Phật và Con Người

Đức Phật và Con Người

Cách đây hơn hai nghìn năm trăm năm, vào một đêm trăng tròn tháng tư âm lịch Đức Phật đã đản sinh tại vườn Lâm Tỳ Ni dưới cây Vô Ưu.  Lúc đó trái đất rung chuyển, những cầu vồng hào quang bảy màu xuất hiện quanh mặt trời và quanh khu vườn đó.  Các loài chim ca hót, các thú rừng nhảy múa và các cây hoa nở ra những đóa thơm ngát cúng dường.  Những luồng gió mát thổi từ xa lại mang theo những hương trầm ngào ngạt. Thời gian như ngừng chuyển không gian như cô đọng.  Tất cả hòa vào trong một bầu không khí hân hoan chào đón sự xuất hiện của một vĩ nhân, một bậc thầy của nhân loại.  Một người mà sau này đã tìm ra con đường để giải thoát cho con người vĩnh viễn thoát khỏi khổ đau và trái đất chúng ta có vinh dự chào đón sự xuất hiện của bậc vĩ nhân đó.

Con Người Là Tối Thượng

Sự đản sinh của Đức Phật như một thách đố của con người đối với thần linh và sự thành đạo của Ngài như một đánh dấu sự trưởng thành của tâm thức nhân loại.  Ngài đã siêu việt hóa khả năng vô biên của tâm linh để con người từ nay vĩnh viễn làm chủ vận mệnh của mình.  Với nỗ lực của chính mình con người tự giải thoát mình ra khỏi mọi đau thương vật chất cũng như tinh thần.

Không biết bao nhiêu ngàn năm trước khi Đức Phật xuất hiện, con người vì yếu đuối mê lầm, tưởng tượng ra một đấng sáng tạo, sau đó giao phó hoàn toàn vận mệnh của mình cho vị thần đó để rồi bị đày đọa trong những thế lực thần linh do chính mình tạo dựng.  Con người đã cho vị thần đó tất cả mọi quyền năng để khi thần ban phúc thì được sung sướng; khi thần giáng họa thì phải chịu gian khổ.  Từ đó cả một hệ thống giáo điều được thành lập để nô lệ hóa con người, bắt con người phải tuân phục những chuyện phi nhân, bắt con người phải nhắm mắt tin vào các tín điều phi lý.  Ai không đồng ý đều bị thiêu sống.  Cả thân xác lẫn linh hồn con người đã bị giam cầm trong cái địa ngục gọi là “thiên đường.” Không thể than van oán trách vào đâu được và không cách nào thoát ra khỏi sự khống chế của những giáo quyền đó.

Đến khi Đức Phật xuất hiện ánh sáng của sự giác ngộ đã xua tan những bóng đen quái ác để con người nhận thức ra rằng khổ đau hay hạnh phúc đều do chính TÂM mình tạo ra, chứ chẳng phải do một vị thần linh nào có quyền lực quyết định vận mạng của mình, hoặc có quyền ban phúc giáng họa cho mình cả.  Họa hay phúc đều là hậu quả của những hành vi do mình tạo tác theo một định luật nhân quả.  Đó là Nghiệp.  Như cụ Nguyễn Du đã phát biểu trong Truyện Kiều:

“Đã mang lấy Nghiệp vào thân,

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.”

Hai câu thơ đó đã gói ghém ý nghĩa hùng tráng quan niệm về Nghiệp của đạo Phật.  Một quan niệm chủ trương con người chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi hành động của mình và sẵn sàng lãnh nhận mọi hậu quả đưa đến từ những hành động đó, tốt cũng như xấu.  Không than trời trách đất, không than thân trách phận.  Nhưng cũng không có nghĩa Phật tử chấp nhận khổ đau một cách thụ động như số mệnh đã an bài.  Sự chấp nhận ở đây là sự nhận lãnh trách nhiệm về nghiệp xấu mình đã gây ra trong quá khứ chứ không trốn tránh.  Nhưng đồng thời cũng tìm cách chuyển đổi ác nghiệp thành thiện nghiệp bằng những hành động vị tha và giữ tâm hồn từ bi thánh thiện.

Trong quá trình chuyển nghiệp đó nỗ lực cải thiện nội tâm được thực hiện liên tục cho đến lúc tâm hồn hoàn toàn thanh tịnh.  Đó chính là lúc con người tự tại giác ngộ vượt ra ngoài mọi chi phối của nghiệp lực, chính là lúc thành Phật.  Khả năng thành Phật là khả năng tiềm tàng trong mỗi con người, trong mỗi sinh vật, ngay cả trong cỏ cây đất dá cũng đều có khả năng giác ngộ đó.  Đức Phật dạy: “ Tất cả chúng sanh đều có Phật tính.” Hay “Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành.” Đây chính là điểm căn yếu của giáo lý đạo Phật: Phật tính.  Phật tính là khả năng giác ngộ tiềm tàng trong tự tâm của mỗi người.  Đức Phật đã chỉ rõ cho con người thấy ai cũng có khả tính siêu việt đó.  Sự khác biệt giữa người giác ngộ và kẻ phàm phu ở nơi công phu tu tập.  Tâm của người giác ngộ như ly nước đã lắng đọng tất cả những bùn đất phiền não và sự trong sáng của nước hiển lộ.  Còn tâm của kẻ phàm phu như ly nước bùn đất bị khuấy động trong một hỗn hợp đục ngầu của tham vọng, hận thù và mê muội.  Chính những bùn đất phiền não này đã che khuất sự trong sáng của chân tâm.  Sự giác ngộ của Đức Phật là sự thành tựu của quá trình lắng đọng đó.  Đây là sự khai phá tiềm năng vô biên của con người và cũng là một thành tựu to lớn mà Đức Phật đã mang đến cho con người: sự nhìn thấy bản tánh chân thật của mình và của vũ trụ.  Đạo Phật bắt đầu từ nơi con người và tìm thấy Niết Bàn ngay trong tự tâm của mình, chứ không bắt đầu ở thần thánh và thiên đường xa xôi.

Sau khi giác ngộ, Đức Phật đã giảng dạy đạo lý nhân bản đó suốt hơn bốn mươi lăm năm.  Ngài không bao giờ tự xưng mình là Thượng Đế hay thần thánh gì cả, nhưng chỉ là một con người bình thường và đã giác ngộ.

Vùng đất dọc theo lưu vực sông Hằng đã ghi dấu bước chân của Ngài, một con người đầu tiên của thế giới loài người đã phát huy được những khả năng tiềm tàng vô biên của tâm thức.  Đưa con người vượt thoát những chi phối của nội tâm cũng như ngoại cảnh, thế tục cũng như thần thánh, để tự tại bình thản bước những bước chân an lạc trên bãi cỏ xanh mướt màu ngọc thạch của đồng bằng sông Hằng.  Trong ánh sáng bình minh ửng hồng của tâm thức nhân loại, vóc dáng của Ngài đã trải dài trên hai ngàn năm trăm năm lịch sử, đã vang vọng vào tận cùng tiềm thức của nhân loại khổ đau để ánh sáng giác ngộ đó mãi mãi là ngọn đuốc soi đường giúp con người vượt qua những đêm đen hãi hùng của tham vọng, hận thù và mê muội.

Giải Thoát Là Tối Thượng

Đức Phật dạy: “Nước trong bốn biển chỉ có một vị là vị mặn, đạo của ta cũng chỉ có một vị là vị giải thoát.” Câu nói đó đã bao hàm mục tiêu căn yếu của đạo Phật và trong hơn bốn mươi năm hoằng hóa Đức Phật cũng chỉ giảng dạy một con đường duy nhất đó là con đường thoát khổ.  Bài thuyết pháp đầu tiên về Tứ Diệu Đế tại Vườn Nai cũng là bài thuyết pháp cuối cùng.  Giáo lý đó là tư tưởng nòng cốt cho toàn bộ đạo lý giải thoát của Phật Giáo.

Đạo lý đó được cô đọng trong bài giảng đầu tiên cho năm anh em Kiều Trần Như: Tứ Diệu Đế.  Tứ Diệu Đế có nghĩa là bốn chân lý kỳ diệu, đó là:

-Khổ: khổ đau là căn bản của cuộc sống.

-Tập: nguyên nhân của khổ đau.

-Diệt: an lạc tịch diệt là căn bản của giải thoát.

-Đạo: con đường đưa đến giải thoát.

Khổ ở đây không hạn hẹp trong phạm vi tình cảm, nhưng bao gồm một phạm trù triết học rộng lớn về bản chất của sự vật, đó là vô thường, vô ngã hay không trường cửu, không đơn thuần và băng hoại.  Trong kinh điển đề cập đến tám loại khổ (sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, cầu bất đắc, oán tăng hội, ngũ ấm xí thạnh), tựu trung có thể quy vào ba loại khổ là vật chất, tinh thần và tâm linh.

-Khổ về vật chất là nỗi khổ thiếu ăn, thiếu mặc, bệnh tật, thiếu thuốc, già nua, chết chóc.

Khổ về tinh thần bao gồm nhiều lãnh vực từ tình cảm đến trí thức.  Về tình cảm có những nỗi khổ của những kẻ yêu nhau nhưng phải xa cách, nỗi khổ của những kẻ phải đối mặt với người thù, nỗi khổ của những kẻ bất đắc chí.. Về trí thức có những nỗi khổ của kẻ ngu dốt, nỗi khổ của những kẻ nô lệ vào trí thức, nô lệ chủ nghĩa, sử dụng trí thức để làm khổ nhân loại như chế tạo vũ khí giết người… hoặc cuồng tín vào giáo điều để đày đọa nhân loại trong các cuộc chiến tranh chủ nghĩa.

-Về tâm linh với nỗi khổ lớn của sự cuồng tín vào thần quyền, tự xiềng xích mình vào địa ngục của hoang tưởng đó.  Sự nô lệ vào thần linh đã làm cho con người luôn luôn sợ hãi sự trừng phạt của trời thần quỷ vật và không bao giờ dám tự trách nhiệm lấy hành động của mình.  Sự cuồng tín tôn giáo đã làm cho con người thù hận con người thay vì thương yêu nhau như các giáo chủ đã dạy.  Cuộc chiến tranh tôn giáo tàn khốc giữa Thiên Chúa Giáo với Do Thái Giáo và Hồi Giáo kéo dài hơn ngàn năm.  Cuộc tàn sát đẫm máu giữa Thiên Chúa và Tin Lành kéo dài hàng trăm năm tại Âu Châu.  Ngày nay tại Bắc Ái Nhĩ Lan cuộc xung đột giữa các tôn giáo này vẫn còn tiếp diễn.  Cũng như những cuộc đánh nhau giữa Hồi Giáo và Ấn Độ Giáo vẫn còn tiếp diễn. Tất cả đều do cuồng tín và ngu muội.  Phật Giáo đã tự hào, suốt hơn hai ngàn năm trăm năm, chưa bao giờ đổ một giọt máu vì nhân danh tín ngưỡng Phật Giáo.  Lúc Hồi Giáo tàn sát Phật Giáo tại Ấn Độ vào thế kỷ thứ mười hai, chư tăng và Phật tử cam tâm chịu chết chứ không chống trả, một số khác chạy thoát ra ngoài để rồi đạo Phật truyền ra khắp phương Đông. Ngày nay Phật giáo bị bách hại tại các nước phương Đông, thế rồi Phật Giáo lan tràn khắp phương Tây.  Phật Giáo Tây Tạng cũng thế, tuy Trung Cộng tàn phá đất nước và tiêu diệt nhân dân Tây Tạng, nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma lúc nào cũng kêu gọi nhân dân Tây Tạng tiếp tục đấu tranh bất bạo động.  Và trong tương lai chắc chắn thế nào Trung Cộng cũng phải nhường bước trước sức mạnh tâm linh đó.

Tập là nguyên nhân của khổ đau.  Những nguyên nhân đó là gì? Đó là tham vọng, hận thù và mê muội. Tất cả những khổ đau của con người từ cá nhân đến tập thể, quốc gia, xã hội đều bắt nguồn từ những nguyên nhân trên.  Vì tham vọng con người làm khổ cho nhau, quốc gia xâm chiếm lẫn nhau.  Vì hận thù con người xung đột lẫn nhau, chiến tranh tàn khốc kéo dài. Vì mê muội con người tự đày đọa mình vào những địa ngục tối tăm của sự ngu dốt.

Diệt  là sự tịch diệt giải thoát.  Khi tham vọng, hận thù và mê muội chấm dứt thì những khổ đau không còn tồn tại, con người đạt được an vui giải thoát.  Đó là Niết Bàn.  Sự giải thoát là sự thanh tịnh tâm hồn.  Khi con người không còn những tham vọng chính trị hay tôn giáo điên cuồng như ý muốn thống trị toàn thế giới, thì con người không những đã giải thoát cho mình mà còn mang lại hạnh phúc cho kẻ khác.  Khi con người không còn hận thù vì ganh ghét, đố kỵ không xem kẻ khác tử tưởng, chính kiến như kẻ thù thì con người đã giải thoát cho mình và góp phần vào việc xây dựng nền hòa bình trường cửu cho thế giới.  Khi con người không còn ngu muội cuồng tín tin theo những chủ thuyết chính trị hay thế lực tôn giáo đầy tham vọng và hận thù để tiêu diệt sự sống con người cho những mưu đồ đen tối, là con người đã tự giải thoát cho chính mình và đem lại hạnh phúc cho nhân loại.

Đạo là con đường đưa đến giải thoát.  Đó là Bát Chánh Đạo, con đường của tám sự chân chánh.  Đó là: sự hiểu biết chân chánh, sự suy nghĩ chân chánh, lời nói chân chánh, hành động chân chánh, sinh sống bằng nghề chân chánh, nỗ lực chân chánh, ghi nhớ chân chánh, thiền định chân chánh.  Tựu trung, Bát Chánh Đạo chỉ nhằm đến một mục đích duy nhất là sự giữ gìn cho tâm được trong sáng.  Khi tâm đã chân chánh, thì hành động sẽ chân chánh.  Mọi tai họa trên thế giới đều bắt đầu bằng tâm bạo động, tâm chiếm đoạt, khi tâm con người đã trong sáng thanh tịnh thì thế giới sẽ hòa bình an lạc.

Trên đây là sơ lược về Tứ Diệu Đế.  Đây là giáo lý căn bản của mọi tông phái Phật Giáo.  Đức Phật thường dạy vì chúng sanh có nhiều trình độ và hoàn cảnh khác nhau, do đó Ngài đã giảng dạy bằng nhiều cách khác nhau.  Từ căn bản đó, Ngài đã thiết lập tám mươi bốn ngàn pháp môn, tức là tám mươi bốn ngàn đường lối tu tập khác nhau nhưng đều đưa đến giải thoát.  Từ đó Phật giáo đã xuất hiện ra nhiều tông phái với những chủ trương khác nhau từ Thiền Tông với chủ trương phế bỏ kinh điển, đến Tịnh Độ Tông với sự hành trì bằng con đường tụng kinh bái sám.  Mật Tông với phương pháp trì chú mật truyền, Hiển Tông với sự tuyên dương giáo nghĩa… Về hình thức, các tông phái này có vẻ như mâu thuẫn đối nghịch nhau về chủ trương cũng như phương pháp hành trì, nhưng thật ra các tông phái này đều là các tông phái Phật giáo, tất cả đều hướng về một mục đích duy nhất là giác ngộ giải thoát.  Còn những hình thức sai biệt kia chỉ là những phương tiện khác nhau mà thôi.  Ví như những người đi về kinh đô bằng những phương tiện di chuyển khác nhau tùy theo khả năng và điều kiện riêng của mỗi người để tự chọn một phương cách thích nghi, nhưng tất cả đều hướng về một mục tiêu như nhau.  Từ đó Phật giáo đã thiết lập một hệ thống kinh điển đồ sộ mà chưa một hệ thống tôn giáo triết học nào trên thế giới có thể so sánh được.  Nhưng tất cả kinh điển đó đều chỉ diễn tả một nội dung duy nhất đó là sự giải thoát.  Tính nhất quan này đã được hòa thượng Phước Hậu (1866-1953), chùa Báo Quốc Huế đã diễn tả trong một bài kệ:

Giáo pháp lưu truyền tâm vạn tư,

Học hành không thiếu cũng không dư.

Năm nay ngẫm lại chừng quên hết,

Chỉ nhớ trên đầu một chữ Như.

Chữ Như ở đây có nghĩa là Chân Như, Giải Thoát.  Ngoài ra cũng có nghĩa là tất cả kinh Phật do Ngài A Nan kết tập đều bắt đầu bằng câu: Như Thị Ngã Văn (Tôi đã nghe Chân Như Thị Hiện như sau.)

Từ Bi và Trí Tuệ Là Tối Thượng

Sự giải thoát chỉ đạt được trong sự giác ngộ hoàn toàn với lòng từ bi vô lượng.  Sự giác ngộ chính là sự phát triển tột đỉnh của trí huệ, là sự hiểu biết toàn diện.  Tâm trí con người bị vô minh phiền não che lấp không nhìn thấy bản tính chân thật của sự vật, để từ đó ngộ nhận phát sinh, đó là căn nguyên của đau khổ.  Sự đau khổ đó chỉ chấm dứt khi nào tâm con người trong sáng, ngộ nhận không còn, nhìn thấy sự thật hiển hiện.  Quá trình tu tập để phát triển trí tuệ, để làm sáng tâm trí.  Tham vọng ích kỷ được chuyển hóa thành vị tha, hận thù được chuyển hóa thành từ bi, mê muội được chuyển hóa thành trí tuệ.  Trong quá trình chuyển hóa đó, nội tâm được gạn lọc.  Những bùn cặn vô minh được tẩy trừ, để tâm trí hoàn toàn trong sạch.  Đó chính là cao điểm của trí tuệ và sự giác ngộ.  Ánh sáng của sự đạt đạo tỏa rạng khắp nơi, sự nghiệp này chỉ thành tựu trong sự vị tha vô biên với lòng từ bi vô hạn.  Nếu giác ngộ không có từ bi thì đó là sự ích kỷ.  Khi tâm hãy còn phân biệt chấp ngã, hãy còn nghĩ đến mình đến người thì mình hãy còn lăn lộn trong luân hồi lục đạo, đó chưa phải là giác ngộ.  Sự giải thoát chỉ trọn vẹn khi có sự kết hợp hài hòa giữa trí tuệ với từ bi.

Từ bi là tình thương cao rộng trong ý nghĩa Từ là làm cho kẻ khác bớt đau khổ và Bi là đem lại an vui hạnh phúc cho kẻ khác.   Sau khi được giác ngộ giải thoát, không còn bị khổ đau vì sự chi phối của những điều kiện vật chất cũng như tinh thần.  Các vị Phật, Bồ Tát đã phát lòng từ bi vô lượng thương tưởng đến những kẻ đang trầm luân trong biển khổ để tìm phương cách cứu độ.  Với khổ đau vật chất, chúng ta chia sẻ cơm áo thuốc men, với khổ đau tinh thần chúng ta dùng lời an ủi, dùng Phật pháp để giác ngộ.

Trong kinh điển Đại Thừa thường đề cập đến các vị bồ tát với lòng từ bi vô lượng, như Bồ Tát Quan Thế Âm, trong Kinh Phổ Môn, với hạnh nguyện cứu khổ cứu nạn cho chúng sanh.  Ngài lắng nghe tiếng kêu đau thương của chúng sanh trong cõi Ta Bà để thị hiện cứu độ.  Nơi nào có tiếng kêu đau thương, nơi đó có mặt của Ngài.  Bồ Tát Quan Thế Âm đã phát nguyện: “Khi nào trong thế gian không còn chúng sanh đau khổ thì lúc đó Ngài mới nhập Niết Bàn.”

Trong Kinh Địa Tạng, Đức Địa Tạng Bồ Tát phát nguyện xuống địa ngục để cứu độ chúng sanh với đại nguyện: “Địa ngục vị không thệ bất thành Phật, chúng sanh vị tận phương chứng Bồ Đề.” (Khi nào địa ngục chưa trống hết thì tôi chưa thành Phật, lúc nào chúng sanh chưa khỏi luân hồi thì tôi chưa chứng Bồ Đề.) Với đại nguyện đó Bồ Tát Địa Tạng đã xông pha vào các tầng địa ngục để cứu vớt chúng sanh.  Chỉ những chúng sanh trong các cõi đó mới kinh nghiệm sâu xa về khổ đau.  Trong triền miên đau khổ đó, sự phát tâm mới sâu sắc và ý chí mong cầu giải thoát mới mạnh mẽ.  Có lẽ trong cõi địa ngục là nơi chúng sanh thực chứng Đệ Nhất Diệu Đế về sự khổ đau sâu sắc hơn hết.  Nhưng sự thống khổ triền miên không cho chúng sanh cơ hội tu tập, nếu không có từ tâm bảo hộ của các vị bồ tát thì các chúng sanh đó chỉ triền miên với đau khổ mà thôi.

Trong Kinh Lăng Nghiêm, Ngài A Nan với đại nguyện: “Như nhất chúng sanh vị thành Phật, chung bất ư thử thủ Nê Hoàn.” (Nếu còn một chúng sanh chưa thành Phật, tôi nguyện chưa nhập Niết Bàn.) Chúng sanh đây không phải chỉ là chúng sanh trong một cõi, nhưng là tất cả chúng sanh trong mười phương thế giới, trong vũ trụ bao la.  Với con số thế giới vô cùng, chúng sanh vô tận đó để chúng ta thấy được tầm kích vĩ đại vô hạn về lòng từ bi của các vị Bồ Tát.

Trong Phật Giáo, từ bi (tình thương) đi đôi với trí tuệ (sự hiểu biết), đây là căn bản của sự tu tập chuyển hóa.  Hai tiêu chuẩn này như đôi chân của con người, chúng ta sẽ bị què quặt nếu chỉ có một chân.  Từ bi mà thiếu trí tuệ chỉ là sự thương vay khóc mướn.  Trí tuệ thiếu từ bi chỉ là những kiến thức khô khan vô nhân.  Do đó sự giải thoát chỉ thật sự là giải thoát khi nào con người đã phát triển cùng cực lòng thương và sự hiểu biết của mình.  Với ánh sáng trí tuệ giải thoát, các vị Bồ Tát soi sáng nỗi khổ của chúng sanh bằng tình thương bao la.  Đối xử mọi người mọi loài bằng tâm bình đẳng với tất cả sự thương yêu và sự hiểu biết để tìm phương cách cứu vớt.

Tóm lại, qua những tìm hiểu trên chúng ta thấy điểm nổi bật của đạo Phật là đặt trọng tâm ở con người.  Bắt đầu từ nỗi khổ đau của con người, để rồi tìm phương cách giải thoát nỗi đau khổ đó trong điều kiện và khả năng của con người.  Trong sự khám phá về tiềm năng vô hạn của tâm thức con người, Đức Phật đã cho chúng ta thấy rằng: chỉ có con người mới giải thoát mình ra khỏi mọi nỗi thống khổ, không một thần linh nào có thể thay đổi vận mệnh của con người, cũng như đày đọa con người.  Đạo lý về Nghiệp cho chúng ta nhìn thấy sâu sắc hạnh phúc hay khổ đau là do con người tự tạo, con người làm chủ lấy vận mệnh của mình.  Vì mê lầm chúng ta tạo ra một thần linh rồi trở lại nô lệ vào thần quyền đó.  Sự giác ngộ chính là sự nhận thức đúng đắn sự thật đó mà thôi.

 

Chương II. Đạo Phật Trong Lòng Dân Tộc

Đạo Phật Trong Lòng Dân Tộc

Trong sự tăm tối cùng cực của đêm là thời điểm khởi đầu cho một ngày khác. Quê hương chúng ta đang trải qua những ngày đen tối, nhưng niềm tin chúng ta vào sức sống mãnh liệt của dân tộc không phai mờ.  Sự tin tưởng này không phải là niềm tin hão huyền hay một an ủi trong sự tuyệt vọng.  Suốt dòng sử mệnh, văn hóa Việt đã nhiều lần minh chứng sức sống mãnh liệt đó.

Sức sống đó chính là khả năng dung hợp cá biệt, hóa giải những đối nghịch, đãi lọc những tinh hoa để phong phú nền văn hóa cố hữu của mình trong truyền thống Tam Giáo Đồng Nguyên của dân tộc.  Đây là nền văn hóa tiềm tàng nhưng hiếu động, là lực đẩy dân tộc Việt vượt qua mọi gian nguy, tiến về phía trước.  Chính trong những lúc tuyệt vọng nhất là những lúc văn hóa Việt biểu lộ sức sống mãnh liệt nhất.  Sức mạnh này đã giữ cho dân tộc Việt vẹn toàn trước những âm mưu xâm lăng ngoại lai trên các lãnh vực văn hóa cũng như chính trị.

Về phương diện hình thức, văn hóa Việt không có những công trình tráng lệ và phô trương.  Chúng ta không có những đền đài hùng vĩ như Đế Thiên Đế Thích (Angkor Wat) của Cam Bô Chia, Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc, Kim Tự Tháp của Ai Cập v.v… Chúng ta không có những triết gia vĩ đại như Khổng Tử, Lão Tử, Socrate, Descartes… Vì thế có người cho rằng dân tộc chúng ta không có một nền văn hóa đặc thù.  Đó là cái nhìn hời hợt, phiến diện bên ngoài, không thể nào nhìn thấy được sức sống mãnh liệt, tiềm ẩn trong lòng dân tộc của nền văn hóa Việt.

Văn Hóa Sự Sống

Văn hóa đó chính là văn hóa về Sự Sống.  Sở dĩ chúng ta không có những đền đài cao chót vót vì hoàn cảnh thái bình không có mặt lâu dài trên quê hương.  Do đó bao nhiêu tâm lực chúng ta đã sự dụng để bảo tồn cuộc sống và để xây dựng niềm tin cao ngất về sự sống đó.  Cuộc tồn sinh thử lửa hàng bao ngàn năm qua với những cuộc chiến diệt chủng tàn khốc là minh chứng hùng hồn về sức sống mãnh liệt đó.  Đất nước triền miên khói lửa nhưng giống nòi không bị hủy diệt.  Dân tộc bị lệ thuộc hàng ngàn năm nhưng văn hóa không bị tiêu mất.  Chúng ta không có những triết gia vĩ đại vì mỗi chúng ta một triết gia về sự sống của chính mình.  Trong ca dao Việt Nam không thiếu những câu biểu hiện triết lý yêu thương nồng nàn sự sống đó:

“Còn người còn của.”

“Người sống hơn đống vàng.”

“Dầu xây chín bậc phù đồ

Sao bằng làm phúc cứu cho một người.”

Văn hóa của chúng ta là sự sống.  Mầu nhiệm và sinh động.  Chúng ta không thể hóa thạch sự sống trên những pho tượng, đền đài.  Chúng ta cũng không thể đóng khung sự sống trong những chủ trương, triết thuyết hay giáo điều.  Tất cả những điều đó chỉ là sự tẩn ướp của một thây ma được mệnh danh là “văn hóa.” Mọi nền văn hóa đóng khung trong triết thuyết, giáo điều chỉ là những nền văn hóa khô chết và phiến diện.  Khi tìm đến một nền văn hóa toàn diện là một cuộc hành hương tìm về cội nguồn của sự sống.  Rồi đắm mình trong dòng sống đó, chứ không phải đứng trên bờ để phân tích tìm hiểu dòng sống đó.

Yếu tính của nền văn hóa Việt chính là sự sống. Hoàn cảnh lịch sử chiến tranh liên tục của nước Việt đã khiến cho dân tộc ta có một tinh thần yêu sự sống nồng nàn.  Những tang thương dâu bể giúp dân tộc ta ý thức sâu xa về sự đổi thay vô thường để thấy rằng những công trình kiến trúc cao vĩ cũng chỉ là công dã tràng trước sự phá hủy tàn khốc của chiến tranh và thời gian.  Một khi sinh mệnh của dân tộc đã tuyệt chủng, thì những đền đài đó chỉ là những phế tích, vang bóng một thời như những Kim Tự Tháp của Ai Cập, vết tích của một dĩ vãng huy hoàng, hay những tháp Chàm khóc thương cho quá khứ.

Sự đau khổ dai dẳng trong chiến tranh đã làm cho dân tộc ta trưởng thành.  Do đó chúng ta không cần những triết gia chỉ đạo về ý nghĩa của kiếp sống.  Tất cả những nỗ lực tư tưởng chính yếu của văn hóa Việt đều dồn vào việc tu bồi cho sự sống thanh bình, tạo dựng một cuộc sống an lạc giải thoát về vật chất cũng như tinh thần trong lý tưởng “sanh thuận tử an” (sống an vui và chết không nuối tiếc.)  Một triết lý sống bình dị, nhưng mạnh mẽ với sự tỉnh thức cùng độ trong từng giây phút để tận hưởng sự mầu nhiệm của cuộc sống.

Nền văn hóa này, cụ Nguyễn Đăng Thục gọi là Văn Hóa Chùa Một Cột, tiêu biểu sự vượt thoát khỏi những thống khổ của cuộc sống để đạt sự an lạc tự tại, như những đóa sen sinh trong bùn, vượt qua sình lầy để vươn mình lên tỏa hương thơm ngát dưới ánh mặt trời.

Mặt khác, sự trường kỳ phấn đấu đã vun bồi un đúc cho dân tộc ta một sức sống mãnh liệt, vượt qua mọi thử thách để tồn tại.  Sự thành tựu đó nhờ vào tính phóng khoáng, tinh thần cởi mở của văn hóa dân tộc.  Không bị ràng buộc hay đóng khung trong một hệ thống ý thức hay giáo điều nào.  Từ đó chúng ta dễ dàng tiếp nhận những luồng văn hóa ngoại nhập, kể cả những ý thức hệ đối nghịch để dung hóa, tô bồi phong phú cho nền văn hóa sinh động của mình.  Lịch sử văn hóa dân tộc đã cho chúng ta thấy rõ yếu tố đặc thù này trong sự thành tựu của đạo học “Tam Giáo Đồng Nguyen.”

Tinh Thần Dung Hóa

Ngay từ đầu kỷ nguyên, Việt Nam đã là một trạm giao thông nằm trên ngã tư quốc tế.  Những thương gia Ấn Độ hoặc các nước khác muốn sang Trung Hoa đều dừng chân tại Việt Nam trước khi tiếp tục cuộc hành trình.  Ngược lại, tàu bè từ Trung Hoa sang Ấn Độ, Ả Rập đều phải ghé lại Việt Nam.  Chính vị trí giao thông đặc biệt này đã khiến dân tộc Việt có cơ hội tiếp xúc với những nền văn minh dị biệt, học hỏi nhiều nền văn hóa ngoại quốc rất sớm để từ đó dân tộc có tầm nhìn bao quát, rộng rãi và phóng khoáng hơn.  Thêm vào đó bản tính bao dung, cởi mở cố hữu đã tạo nên một tinh thần đặc thù của văn hóa Việt.  Tên cũ của nước ta là Giao Chỉ đã gói ghém những ý nghĩa của tinh thần giao lưu văn hóa đặc biệt này.

Theo giáo sư Nguyễn Đăng Thục, tinh thần giao lưu này chúng ta có thể nhìn thấy trong huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ, giải thích về nguồn gốc “Con Rồng Cháu Tiên” của dân tộc Việt, đã ngụ ý rất rõ ràng về sự kết giao giữa hai nền văn hóa đại dương của Ấn Độ và văn hóa lục địa của Trung Hoa.  Lạc Long Quân dòng dõi Rồng ở biển và Âu Cơ dòng dõi Tiên ở non cao.  Núi cao biển rộng trong một tao ngộ trùng phùng sản sinh ra một tinh hoa tổng hợp: bọc trứng trăm con.  Tiêu biểu cho sức sống vô tận, trẻ trung, mạnh mẽ như sức sống của cả trăm dân tộc dồn lại.  Đó là nguồn văn hóa sống động của dân tộc Việt.

Từ hoàn cảnh lịch sử, từ vị trí địa dư đã hun đúc cùng với tinh khí của dân tộc đã tạo ra một nền văn minh sáng hóa, phong phú và sinh động.  Tinh thần đặc thù của nền văn hóa này là khai phóng, mở cửa với mọi tư tưởng dị biệt, với mọi văn minh ngoại lai, để rồi thâu hóa, bồi bổ, tô điểm cho nền văn hóa cố hữu của mình ngày thêm phong phú.  Điển hình là sự thâu hóa hai nền văn hóa Ấn Độ và Trung Quốc trong những thế kỷ đầu lập quốc, cũng như sau này sự thâu hóa văn minh Âu Tây trong thế kỷ hai mươi.

Tam Giáo Đồng Nguyên

Văn hóa Ấn Độ truyền vào Việt Nam theo đường biển do các thương gia và các vị sư người Ấn.  Đạo Phật được truyền vào Việt Nam rất sớm trước khi truyền sang miền Nam Trung Quốc.  Trong một bút ký về cuộc đàm luận giữa quốc sư Đàm Thiên và Linh Từ Thái Hậu nhà Đường đã cho thấy rằng trong khi đạo Phật chưa truyền đến phía Nam Trung Quốc, thì tại Giao Châu (tên cũ của Việt Nam) đã dựng được mấy chục ngôi chùa và đã dịch được nhiều bộ kinh từ tiếng Phạn sang tiếng địa phương.  Những thế kỷ sau, trong những cơn binh biến tại Hoa Lục, rất nhiều sĩ phu Trung Quốc không chấp nhận tân triều đã sang Giao Châu tỵ nạn.  Trong số đó có Mâu Bác, một thiền sư nổi tiếng đã viết bộ “Lý Hoặc Luận” và bắt đầu khai sáng thiền học tại Việt Nam.  Vào thế kỷ thứ tư, một thiền sư Việt Nam Khương Tăng Hội đã rời Luy Lâu (Hà Nội) để sang Nam Kinh hoằng dương Phật Pháp.  Tại đây Ngài đã dịch rất nhiều bộ kinh từ tiếng Phạn sang tiếng Trung Quốc, ngày nay vẫn còn lưu truyền.  Một trong những bộ kinh đó là Kinh An Bang Thủ Ý, cuốn kinh gối đầu cho những người tu thiền.

Khổng học và Lão học được truyền sang Việt Nam do các quan cai trị người Trung Hoa như Tích Quang, Nhâm Diên cũng như các trí thức tỵ nạn người Trung Quốc.  Trong tư tưởng Trung Hoa, Khổng Giáo chủ trương hữu vi nhập thế (giúp đời bằng hành động,) Lão Giáo chủ trương vô vi xuất thế (không xen vào việc đời.) Hai hệ thống tư tưởng này đối nghịch nhau như nước với lửa.  Chính Lão Tử đã từng kết tội Khổng Tử là kẻ đã làm loạn trật tự của vũ trụ khi ông đặt ra pháp luật, cương thường.

Trong khi đó Phật Giáo chủ trương vô ngã giải thoát (không chấp để giải thoát).  Với chủ trương không chấp của Phật Giáo, tổ tiên chúng ta đã vượt qua những hạn hẹp của Khổng Lão, làm một cuộc dung hóa toàn diện, hình thành một nền tam giáo đồng nguyên (ba tư tưởng có cùng một nguồn).  Vì Phật Giáo không chấp “hữu” lẫn “vô”, với tinh thần vô chấp đó đã dung hóa được cả hữu vi của Khổng Giáo lẫn vô vi của Lão Giáo.  Một đạo lý sống toàn vẹn giải đáp được cả ba mặt: sinh lý, tâm lý, và tâm linh.

Trong tinh thần Tam Giáo đó, con người đi vào đời với tinh thần phụng sự của Khổng Giáo, nhưng không tham cầu danh lợi.  Khi nhiệm vụ đã hoàn thành, bổn phận đã làm xong, rời bỏ danh lợi không chút luyến tiếc trong tinh thần tiêu dao của Lão Giáo, để di dưỡng tâm linh. Cho dầu nhập thế hay xuất thế lúc nào cũng giữ tâm thanh tịnh, tu trì giới đức.  Thái độ nhập thế vô chấp này có thể tìm thấy qua hành tung của thiền sư Vạn Hạnh, người đã tạo dựng triều đại nhà Lý.  Sau khi triều đình đã được thành lập, người ta không còn thấy bóng dáng của vị thiền sư này đâu nữa.  Cũng như các vua triều Trần đã nhường ngôi cho con để vào núi tu thiền.

Tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên này là một hòa điệu nhịp nhàng của những đối nghịch trong cuộc sống.  Trong muôn mặt của thực tế, có lúc chúng ta cần có thái độ “hữu”, có lúc “vô”, và có lúc phải bỏ cả “hữu” lẫn “vô”.  Đó là thái độ không cực đoan quá khích.

Trong mỗi người Việt Nam đều sống với cả ba hệ thống tư tưởng trên, cư xử với nhau trong cương thường của Khổng Giáo, tiêu dao nhàn nhã trong tư tưởng vô vi của Lão Giáo, và tự tại giải thoát trong đạo lý giác ngộ của Phật Giáo.  Do đó trong đạo lý truyền thống Việt Nam, thật khó phân biệt ai là người theo Khổng Giáo, Lão Giáo hay Phật Giáo.  Sau này khi thực dân Pháp đô hộ đã gọi những người Việt theo tín ngưỡng truyền thống là “Lương” để phân biệt với “Giáo” (Thiên Chúa Giáo.)

Tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên này đã giúp dân tộc phát triển về mọi mặt.  Các triều đại huy hoàng nhất tiêu biểu cho tinh thần này là các triều Lý và Trần, trong đó Phật Giáo là một nhân tố tích cực nhất đóng góp vào giai đoạn uy hùng cực thịnh của lịch sử dân tộc.  Dưới các triều đại này chúng ta không những mạnh về chính trị (thoát khỏi sự đô hộ của Trung Quốc), về quân sự (phá Tống, bình Chiêm, ba lần đánh thắng quân Mông Cổ), mà còn mạnh về học thuật (chữ Nôm được sáng chế,thiền phái Trúc Lâm được thành lập).  Đạo lý Tam Giáo Đồng Nguyên đã huân tập cho dân tộc tinh thần phóng khoáng, cởi mở để mở cửa đón nhận tinh hoa của các nền văn minh khác nhau, để sáng hóa và phong phú nền văn minh của chính mình.

Thân Hóa Văn Minh Tây Phương

Đến thế kỷ thứ mười sáu, đất nước chúng ta bắt đầu tiếp xúc với văn hóa Tây Phương do các giáo sĩ Thiên Chúa Giáo mang đến.  Sự tiếp xúc này đã đưa đất nước vào vòng nô lệ nhục nhã gần một thế kỷ dưới sự đô hộ của người Pháp vào giữa thế kỷ thứ mười chín.  Trong văn hóa của “súng đạn,” nhân nghĩa không giữ được thành trì, đất nước chúng ta bị bắt buộc phải canh tân.  Sự hô hào sử dụng chữ quốc ngữ thay thế chữ Nho của các nhà ái quốc đầu thế kỷ hai mươi, mở ra một chiến lược canh tân mới: “Dùng chính vũ khí của Tây để đánh Tây” như học giải De Francis đã kết luận trong cuốn sách viết về chữ quốc ngữ của ông.

Chữ Quốc ngữ lúc đầu do các giáo sĩ Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý và Pháp phiên âm để dễ dàng cho họ trong việc học nói tiếng Việt cho mục đích truyền giáo mà không cần phải học chữ Nôm và chữ Nho.  Do đó thứ chữ này suốt trong ba trăm năm chỉ được các giáo sĩ ngoại quốc sử dụng mà thôi, ngay cả giáo dân địa phương cũng không mấy người biết.  Đến năm 1862, sau khi chiếm Nam Kỳ người Pháp bắt đầu áp đặt việc phổ biến chữ quốc ngữ để thay thế chữ Nho.  Nhân dân trong vùng bị chiếm phản kháng mạnh mẽ.  Điển hình là thái độ bất hợp tác của các sĩ phu như Phan Đình Phùng, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Đình Chiểu.  Tuy dưới áp lực của người Pháp suốt mấy chục năm chữ quốc ngữ vẫn không phổ biến.  Cho đến năm 1907, hai cụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh hô hào canh tân đất nước và sử dụng chữ quốc ngữ để làm lợi khí đấu tranh giành độc lập.  Trường Đông Kinh Nghĩa Thục được thành lập.  Với chữ quốc ngữ dân chúng chỉ cần học vài tháng là có thể biết đọc biết viết truyền đơn cũng như sách cải cách.  Từ đó chữ quốc ngữ mới phổ cập rộng rãi trong dân chúng.  Chỉ trong vòng hơn mười năm chữ quốc ngữ đã đủ trưởng thành để thay thế chữ Nho, chữ Nôm và khoa thi Hán học cuối cùng được kết thúc vào năm 1919.  Trong mục đích đó chữ quốc ngữ đã được tổ tiên chúng ta chấp nhận, bổ sung, cải thiện để thành chữ viết chính thức hiện nay.  Tổ tiên chúng ta với chủ trương “mở mang dân trí, đấu tranh giành độc lập” do đó không ngần ngại trong việc tiếp nhận văn hóa mới trong các lãnh vực khoa học, văn hóa, nghệ thuật.

Qua những phân tích trên chúng ta thấy rằng dân tộc chúng ta với tinh thần phóng khoáng và uyển chuyển, sẵn sàng tiếp nhận tất cả những nền văn hóa dị biệt của người để làm phương tiện bồi dưỡng và cải thiện nền văn hóa của mình.  Nhưng điều này không có nghĩa là một sự chấp nhận nô lệ văn hóa, chịu để cho một văn hóa nào thống trị.  Lấy tinh thần dung hóa của Tam Giáo Đồng Nguyên làm nền tảng cho mọi sự kết hợp.  Có như thế, chúng ta mới duy trì được bản chất của văn hóa Việt, nếu không chính là sự đánh mất mình để trở thành một loại cô hồn văn hóa.

Khi nhà cầm quyền hiểu rõ những tính chất đặc thù đó của văn hóa Việt thì đất nước hùng cường, nhân dân an lạc. Khi nhà cai trị đi vào con đường cực đoan, cố chấp thì đất nước loạn ly, nhân dân đói khổ.  Dưới các triều đại Lý, Trần, tuy Phật Giáo là quốc giáo với các quốc sư tạo dựng nhà Lý như Vạn Hạnh, Lý Khánh Vân, triều Trần với những vị vua đạo đức sáng ngời như Thái Tông Hoàng Đế là tác giả cuốn Thiền Tông Chỉ Nam, Nhân Tông Hoàng Đế là tổ sư phái thiền Trúc Lâm Yên Tử, với những thiền sư tráng sĩ như thượng tướng Trần Quốc Tảng cũng là thiền sư Tuệ Trung Thượng Sĩ.  Các vị này với tinh thần phóng khoáng, giác ngộ của nhà Phật, đã lập được thế chân vạc vững vàng trong chủ trương Tam Giáo Đồng Nguyên.  Trong giai đoạn đó tuy thế lực Phật Giáo lớn, nhưng không độc tôn.  Nho Giáo dưới thời Lý, Trần được trọng vọng, nhà vua đã mở các khoa thi, lập Văn Miếu thờ Khổng Tử, xây Quốc Tử Giám dạy kinh sử.

Sang đến nhà Lê, thế chân vạc này đã mất.  Với tinh thần Nho Giáo độc tôn, các nho sĩ bắt đầu châm biếm, chống đối Phật Giáo và Lão Giáo. Trong lịch sử chúng ta chỉ thấy nhà Nho chống báng nhà Phật, chứ chưa bao giờ thấy nhà Phật chống báng nhà Nho.  Tinh thần cố chập độc tôn này đã đưa đất nước vào vòng ly loạn suốt từ thế kỷ thứ mười sáu cho đến bây giờ.  Bắt đầu với cuộc chiến Trịnh Nguyễn phân tranh kéo dài hàng trăm năm. Sau đó là cuộc xưng hùng tranh bá giữa nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn.  Thanh bình không bao lâu lại rơi vào vòng nô lệ của thực dân.  Sau đó là cuộc chiến tranh ý thức hệ đã đưa dân tộc đến chỗ suy thoái cùng độ.  Ngày nay tuy đất nước hòa bình nhưng lòng người vẫn ly tán, những khác biệt của dân tộc vẫn tồn tại, những hận thù của lịch sử vẫn còn âm ỉ.

Trong suốt thời kỳ Nho Giáo độc tôn cũng như thời kỳ súng đạn làm chủ, Phật  Giáo đã rời bỏ triều đình để trở về tiềm ẩn trong thôn làng.  Thăng trầm với dân tộc, đồng lao cộng khổ với nhân dân trong cuộc sống.  Cho dầu tình huống đất nước thế nào, Phật Giáo vẫn là điểm tựa tinh thần vững chắc cho nhân dân cùng khổ, là nơi nhân dân đặt để niềm tin lẽ sống trong những khi bức bách cùng khốn, là tia hy vọng bám víu cuối cùng trong hoàn cảnh đọa đày tuyệt vọng.  Phật Giáo và Dân Tộc đã quyện vào nhau.  Dân Tộc đã bảo tồn Phật Giáo và Phật Giáo đã nuôi dưỡng niềm hy vọng cho Dân Tộc.

Kết Luận

Ôn lại lịch sử để nuôi dưỡng niềm tin vào sức mạnh văn hóa dân tộc.  Với tinh thần không độc tôn, không cực đoan nhưng khoan hòa độ lượng, tổ tiên chúng ta đã thành công trong việc chuyển hóa mọi ý thức hệ đối nghịch, mọi tư tưởng dị biệt thành những phương tiện bồi bổ cho nền văn hóa Việt ngày càng quang rạng, làm cho nền văn hóa cố hữu của dân tộc thêm phong phú.  Chúng ta chưa bao giờ tự hủy diệt nền văn hóa của mình để làm nô lệ cho các nền văn hóa ngoại lai.  Bài học lịch sử chứng minh cho chúng ta thấy, khi chúng ta rời xa văn hóa dân tộc để đem văn hóa ngoại tộc về thống trị thì đất nước rơi vào thảm họa chinh chiến.  Khi chúng ta từ bỏ con đường bao dung để đi vào độc tôn thì dân tộc chịu cảnh tương tàn, nhân dân lầm than.  Cuộc chiến tranh chủ nghĩa không tưởng Tây phương vẫn còn là vết thương đau nhức cho đến ngày hôm nay.

Qua bao thăng trầm của lịch sử, vận mạng của Phật Giáo luôn luôn gắn liền với vận mạng của dân tộc.  Khi dân tộc quang vinh, Phật Giáo hưng thịnh.  Khi dân tộc bị nô lệ khổ nhục, Phật Giáo suy yếu.  Dầu thịnh dầu suy, lúc nào Phật Giáo cũng sát cánh cùng dân tộc, đồng lao cộng khổ để đưa dân tộc đi lên, đưa đất nước đến chỗ phú cường.  Trong thời đại hoàng kim của đất nước dưới triều đại Lý Trần, Phật Giáo là nhân tố tích cực để kết nối Khổng Lão trong chủ thuyết Tam Giáo Đồng Nguyên, thu thập nhân tâm về một mối.  Trong tinh thần đó những hội nghị dân chủ đầu tiên của đất nước diễn ra trong ngày Hội Diên Hồng.  Với quyết tâm của cả một dân tộc thì không một bạo lực nào có thể thắng được.  Điều đó đã chứng minh trong ba lần chiến thắng quân Mông Cổ, một đội quân chưa bao giờ chiến bại trên toàn cầu.  Dưới thời Lê khi Nho Giáo độc tôn, Phật Giáo trở về tiềm ẩn trong thôn làng, làm chỗ nương tựa tâm linh cho nhân dân cùng khổ để chờ ngày quang phục.  Dưới thời Pháp thuộc trong tinh thần vô chấp của Phật Giáo tổ tiên chúng ta không ngần ngại thâu hóa văn minh của người để làm lợi khí đấu tranh giành độc lập.  Trong văn hóa dân tộc Phật Giáo là huyết mạch, là cốt tủy, là thực thể bất khả phân.  Do đó khi nói đến văn hóa Việt Nam không thể không nói đến văn hóa Phật Giáo.

Con đường cứu nguy cho đất nước chỉ còn một con đường duy nhất là trở về với văn hóa dân tộc!  Mọi xung đột mâu thuẫn chỉ giải quyết được khi người Việt nhìn nhau trong tình tự dân tộc.  Những khác biệt trong dân tộc, những hận thù trong lịch sử chỉ tiêu tan khi nghiệp dĩ của dân tộc được chuyển hóa.  Điều đó chỉ thực hiện được khi người Việt nhận diện được “bản lai diện mục” (mặt mày xưa nay) của dân tộc mình.  Khi hồn nước trong mình vững mạnh thì sống ở đâu cũng không bị mất gốc.  Khi hồn nước không còn thì dân Việt dù ở tại quê hương hay hải ngoại cũng chỉ là những cô hồn vất vưởng.

Chúng ta vững tin vào sinh lực của dân tộc.  Những hiện tượng về nguồn của người Việt hải ngoại, cũng như sự phục hồi các lễ hội trong nước là những dấu hiệu biểu lộ sức sống tiềm tàng của văn hóa dân tộc.  Lũy tre xanh là hàng rào kiên cố để bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc.  Ngày nào tre vẫn xanh, sinh lực dân tộc vẫn tiềm tàng.

 

Chương III. Phương Pháp Ăn Chay

Phương Pháp Ăn Chay

Trong truyền thống tu tập Việt Nam, vấn đề ăn chay được đặt ngang hàng với sự giữ giới.  Đối với hàng Phật tử tại gia việc ăn chay được khuyến khích gia tăng số ngày ăn, còn đối với người xuất gia đó là điều kiện bắt buộc. Tại sao vấn đề ăn chay được đặt quan trọng như vậy? Qua những phân tích sau chúng ta sẽ hiểu rõ vấn đề.

CA DAO TỤC NGỮ

Trong từ ngữ Phật giáo Việt Nam “ăn chay niệm Phật” đi đôi với nhau, trình bày ngắn gọn phương pháp tu tập chú trọng trên cả hai phương diện Thân và Tâm.  Sự hành trì này đã ăn sâu vào nếp sống của dân Việt trong các câu ca dao, tục ngữ như:

“Đói ăn rau, đau uống thuốc”

“Còn ao rau muống, còn đầy chum tương”

“Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.”

Có thể nói thực phẩm chính của dân quê Việt Nam là rau đậu.  Sự ăn uống đạm bạc này đã giúp giải quyết được nạn đói kém, giữ gìn sức khỏe, cũng như nuôi lớn dân tộc Việt trường tồn trong lịch sử.  Truyện Phù Đổng Thiên Vương ghi lúc cậu bé ăn uống xong, lớn nhanh thành người hùng tráng, cỡi ngựa sắt ra trận:

“Bảy nong cơm, ba nong cà,

Uống liền vốc nước cạn đà khúc sông.”

Những câu ca dao, tục ngữ cũng như huyền sử Việt Nam cho thấy việc ăn chay đóng góp tích cực trong việc nuôi sống và nuôi lớn dân tộc Việt.  Qua đó chúng ta thấy sự có mặt của phương pháp tu tập đạo Phật Việt Nam.

Tại Việt Nam, cho dầu không ăn chay, trong các bữa ăn của người Việt thực phẩm chính vẫn là rau đậu.  Cùng với sự lao động chân tay làm con người ít bệnh.

Ngày nay, sống tại Âu Mỹ, nhiều người đã thay đổi sự dinh dưỡng bằng cách gia tăng khẩu phần thịt, trong khi đó thiếu hoạt động thể dục chân tay.  Đây chính là nguyên nhân gây ra những chứng bệnh hiểm nghèo như: ung thư, áp huyết cao, cholesterol, các chứng bệnh tim.  Một vị bác sĩ cho chúng tôi biết, lúc người Việt tỵ nạn mới định cư ở Hoa Kỳ mười người chỉ có hai người bị cholesterol.  Sau mười năm, mười người hết tám người bị bệnh đó.  Đến khi ngã bệnh, bác sĩ cho biết muốn bớt bệnh chỉ còn phương cách ăn chay.

NGUY HẠI TRONG VIỆC ĂN THỊT

Trong thịt chứa rất nhiều các độc tố gây ra các chứng bệnh nguy hiểm.

1. Chất béo (fat): Chất béo trong động vật là chất béo bão hòa (saturated fat). Chất này có trong thịt và dầu dừa.  Nếu chúng ta tiêu thụ quá nhiều chất béo này, các chứng bệnh như mập phì, ung thư và các chứng về tim mạch sẽ dễ dàng phát sinh.  Các chất béo này thường đông đặc ở nhiệt độ thường.  Khi vào trong máu sẽ tạo thành cholesterol đóng ở bờ thành các mạch máu làm cho máu đông đặc, dẫn đến hiện tượng xơ cứng động mạch, gây ra tình trạng tắc nghẽn sự lưu thông của máu, tạo ra chứng động tim (heart attack), và đứt mạch máu não (strokes).

2. Chất xơ (fiber): Chất xơ không có trong thịt cá.  Chất này lấy từ thực vật và có nhiệm vụ giúp thực phẩm di chuyển dễ dàng trong hệ thống tiêu hóa và làm giảm lượng cholesterol trong máu.  Ăn nhiều thịt sẽ gây nên bệnh táo bón, bệnh về tiêu hóa, ung thư ruột và các chứng rối loạn về đường ruột.

3. Chất đạm (protein): Nhiều người nghĩ rằng, ăn nhiều thịt cá để có đủ chất đạm.  Điều này sai lầm, vì những nghiên cứu y học gần đây cho thấy nếu ăn nhiều thịt cá sẽ làm tổn thương đến gan thận và dễ gây ra chứng bệnh xốp xương và ung thư.  Các nghiên cứu này cho thấy sự gia tăng lượng protein thịt dẫn đến sự mất chất vôi (calcium) qua đường bài tiết, cũng như tăng trưởng bệnh sạn thận.  Các quốc gia có tỷ lệ gãy xương cao là Hoa Kỳ, Na Uy, Đan Mạch.

4. Các độc tố do sự chăn nuôi:

Ngày nay vấn đề chăn nuôi đã được công nghiệp hóa.  Người ta đã dùng rất nhiều hóa chất để làm cho súc vật lớn nhanh.  Với chất hormone, người ta có thể làm cho con vật lớn nhanh gấp đôi, gấp ba. Ví dụ: Thời gian cần để cho heo lớn là hai năm.  Với chất hormone, người ta chỉ cần tám tháng là heo đã lớn bằng con hai năm.  Quả thật heo lớn như thổi.  Con người tiêu thụ thịt các con vật đó, rồi cũng lớn như thổi.  Các chứng bệnh độc hại cũng từ đó phát sinh ra.

Gà cũng thế. Từ lúc chui ra khỏi trứng cho đến ngày vào lò sát sinh, các con gà này được nuôi trong những chuồng hộp chật hẹp, chỉ đủ chỗ để nằm.  Do đó các con gà này không đi đứng được, chúng bị bại liệt và suốt đời không hề thấy ánh mặt trời. Chúng ta ăn những con vật bệnh hoạn như thế, thì làm sao chúng ta có thể khỏe mạnh được.

Bò cũng thế.  Bò là động vật ăn cỏ.  Thế nhưng với kỹ thuật chăn nuôi hiện đại, người ta đã dùng hormone cùng với các ruột lòng phế thải để làm thức ăn cho bò.  Việc chăn nuôi này làm đảo lộn hệ thống tiêu hóa của con vật và là nguyên nhân gây ra chứng bệnh “bò điên (mad cow disease).”  Bệnh này đã làm mấy chục người bị chết và cả thế giới không ai dám nhập cảng thịt bò của Anh quốc.

Đối với nhiều loại súc vật khác cũng thế.  Người chăn nuôi chỉ biết làm sao cho lãi nhanh, lãi nhiều.  Còn chuyện độc hại hay không là việc của người tiêu thụ.

5. Các độc tố sinh ra lúc con vật bị giết: Các con vật cũng có linh tính như con người.  Chúng ta vẫn thưòng nghe những chuyện kể về các con vật trước khi bị đưa vào lò sát sinh.  Nhiều con trì lại không chịu đi, nhiều con nưóc mắt ràn rụa.  Trong các phim về động vật, cũng có những phim nói về tình cảm của súc vật.  Phim quay cảnh tượng những con voi cứ quây quần quyến luyến bên xác của voi con suốt mấy ngày.  Hoặc cảnh con vượn ôm xác con kêu la thảm thiết cho đến lúc thây rã nát ra.  Hoặc những con chó đã nhịn ăn khi người chủ qua đời, sau đó nó cũng chết theo.  Như thế, ai bảo súc vật không có tình cảm?  Con vật cũng có những tình cảm vui buồn, sợ hãi.  Sự oán hận, sợ hãi trước khi bị giết đã tạo ra những độc tố trong cơ thể con vật.  Chúng ta ăn những độc tố đó vào làm thế nào nội tâm chúng ta thanh thản được?

Tục ngữ Việt Nam có câu: “Tham thực cực thân.” Chưa bao giờ chúng ta thấm thía bài học đó như bây giờ.  Ngày nay chúng ta khổ không phải vì thiếu ăn, nhưng khổ vì sự bội thực.

LỢI ÍCH CỦA ĂN CHAY

Ăn chay mang lại cho chúng ta nhiều lợi ích thiết thực trên cả hai phương diện thể xác và tinh thần.  Trên phương diện thiên nhiên, cơ thể con người được cấu tạo không phải để ăn thịt, mà để ăn chay.  Các loài động vật như cọp, sư tử có thể tiêu hóa thịt dễ dàng.  Còn cơ thể con người không thể nào tiêu hóa được, nếu chúng ta chỉ ăn toàn thịt mà không có ăn kèm với các loại rau đậu ngũ cốc khác như gạo, rau cải… Bác sĩ Day so sánh các loài động vật ăn thịt và ăn rau cỏ cho thấy ruột của loài người dài đến 1m25, rang nhở không nanh.  Điều này cho thấy con người không phải là loài động vật ăn thịt.  Vấn đề ăn thịt có lẽ chỉ bắt đầu từ khi con người tìm ra lửa để nấu nướng.

1. Giữ Thân Khỏe Mạnh: Việc ăn chay giúp chúng ta không những phòng ngừa được các chứng bệnh nan y, mà còn chữa trị được các chứng đó nữa.

-Chất béo: Chất béo lấy từ thực vật là chất béo không đông đặc.  Chất này không tạo ra cholesterol xấu làm nghẽn sự lưu thông của máu.  Trái lại, nó còn giúp làm giảm lượng cholesterol xấu.  Sự ăn chay có thể bảo đảm cho chúng ta khỏi những tai biến do cholesterol xấu tạo ra.  Các chứng động tim (heart attack), đứt mạch máu não (strokes).

-Chất xơ: Chất xơ chỉ có trong thực vật.  Chất này giúp sự tiêu hóa dễ dàng, làm giảm cholesterol trong máu.  Ăn chay không bị táo bón, không bị các chứng bệnh về tiêu hóa cũng như ung thư ruột.

-Chất đạm: các nghiên cứu y học cho thấy trong đậu nành có số lượng chất đạm bằng với số lượng chất đạm có trong thịt.  Và chất đạm thực vật này không gây ra những chứng bệnh xốp xương hay sạn thận.

Sự ăn chay giúp cơ thể giảm thiểu các chứng bệnh về tim, chứng đứt mạch máu não, các chứng bệnh về đường ruột, bệnh xốp xương, các chứng ung thư bao tử, ung thư ngực, ung thư xương (colon cancer), ung thư nhiếp hộ tuyến (prostate cancer) và các chứng bệnh truyền nhiễm.

Các thực phẩm có dược tính cao

-Đậu nành: có lượng protein nhiều bằng thịt.  Tàu hủ hay các sản phẩm bằng đậu nành có khả năng thay thế thịt.  Trong đậu nành có chất isoflavone-genistein có khả năng ngăn ngừa sự phát triển của ung thư.

-Trà: trong trà có chất polyphenols làm chận đứng sự phát triển tế bào ung thư và làm giảm cholesterol cũng như áp huyết cao.

-Tỏi: có rất nhiều dược tính mạnh.  Có khả năng chận đứng sự tăng trưởng tế bào ung thư, làm giảm cholesterol và áp huyết cao, cũng như hồi sinh các tế bào đã chết. Ngày nay các hiệu thuốc tây chế thuốc tỏi cho những người không ăn được tỏi tươi.

-Brocoli (cải hoa): có chất sulforaphane.  Chất này có khả năng giúp cơ thể tạo ra kháng thể chống lại ung thư.

-Gừng: giúp điều hòa bộ máy tiêu hóa và giúp khí huyết lưu thông.

-Rong biển: có những dược tính có khả năng ngăn ngừa ung thư.

-Cà chua: có chất lycopene có khả năng chống lại các chứng bệnh ung thư.

Các nghiên cứu y học gần đây cho thấy dân Nhật có tỷ lệ ung thư thấp nhất, nguyên do là vì người Nhật ăn nhiều rau cải, rong biển, tàu hủ và uống nhiều trà.  Vấn đề tỏi, có người hỏi: ăn chay có nên sử dụng tỏi hay không? Tỏi là một thực vật có nhiều dược tính nóng không thích hợp cho vùng nhiệt đới. Chúng ta ở xứ lạnh thì tỏi lại rất tốt. Hơn nữa sử dụng tỏi để trị bệnh thì không có vấn đề gì.  Chỉ khi nào trì chú thì không nên dùng tỏi, vì tỏi có mùi không tinh khiết.

2. Giữ Tâm Thanh Thản

Trong Phật Giáo việc ăn chay là một pháp môn tu tập.  Đối với Phật tử tại gia không bắt buộc phải ăn chay trường, tuy nhiên đối với các vị xuất gia, ăn chay là điều kiện tiên quyết khi vào chùa.  Điều này được xem như một giới điều.  Thành ngữ “trường trai giữ giới” nói lên điều đó.  Việc ăn chay không những giữ thân khỏe mạnh, mà còn giữ tâm thanh tịnh. Vấn đề giữ gìn sức khỏe chúng ta đã thảo luận ở trên, bây giờ chúng ta thảo luận về vấn đề giữ tâm thanh thản.  Ăn chay có những tác dụng sau:

-Tăng trưởng lòng từ bi: Một trong các giới điều quan trọng là giới không sát sanh.  Việc ăn chay là sự tỏ lòng thương đối với súc vật.  Chúng ta không nỡ sống trên mạng sống của chúng sanh khác. Có người bảo rằng: Trời sinh muôn vật cho người hưởng thụ.  Nếu thế thì cọp cũng nghĩ rằng: Trời sinh loài người để làm thức ăn cho cọp!

Có người nghĩ rằng mình không tự tay sát sinh thì kể như không phạm tội.  Tuy nhiên nếu mình không ăn thì con vật không bị giết.  Ngày nay xã hội văn minh, chúng ta không tự tay giết, nhưng đã có các siêu thị, McDonald giết súc vật thế chúng ta.  Kinh Hồng Danh: “Không tự mình giết, không bảo người giết, không tán đồng việc giết chóc.” Nhìn kỹ vào trong một miếng thịt chúng ta sẽ thấy máu me tràn đầy.  Nhìn kỹ vào một bữa ăn chúng ta thấy đầy dẫy sự đau khổ!

Trong quan niệm bình đẳng của Phật Giáo, sự sống nào cũng là sự sống, cũng có giá trị ngang nhau.  Cho dầu đó là sự sống của một con vật hay một con người.  Khi dòng máu cùng đỏ thì mọi sự sống đều linh thiêng, đều phải được bảo vệ vì “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.” Với quan niệm luân hồi, các thú vật đó có khi là người thân của chúng ta.

-Làm giảm nạn đói: Tình trạng thiếu ăn trên thế giới không phải vì thiếu thực phẩm nhưng vì sự ăn thịt của loài người.  Thống kê cho thấy muốn sản xuất một ký lô thịt bò người ta cần đến mười lăm ký ngũ cốc. Kỹ nghệ thịt bò của Hoa Kỳ tiêu thụ số lượng ngũ cốc nhiều hơn tổng số lượng ngũ cốc tiêu thụ của hai nước Ấn Độ và Trung Hoa.  Mỗi năm trên thế giới có mười một triệu trẻ em bị chết vì thiếu dinh dưỡng.  Các nhà dinh dưỡng học ước lượng rằng nếu mỗi năm Hoa Kỳ chỉ cần giảm một phần trăm số lượng tiêu thụ, thì số ngũ cốc đó đủ để cứu sống hằng triệu người bị đói trên thế giới.

-Giữ môi trường trong sạch: Kỹ nghệ chăn nuôi đã phá hủy rừng để lấy đất nuôi súc vật.  Các nước Trung Mỹ phá hủy cả trăm triệu mẫu rừng để lấy đất nuôi bò.  Chất phế thải do các kỹ nghệ này thải ra nhiều không tưởng tượng được. Người ta ước tính cứ mỗi quarter pound (phần tư cân) thịt bò người ta phá hủy 55 square feet (bộ vuông) rừng nhiệt đới Trung Mỹ và thải ra 500 pounds (cân) khí carbondioxide vào khí quyển.  Để trồng một pound (cân) lúa mì người ta cần 25 gallons nước, trong khi sản xuất một pound (cân) thịt phải cần tới 2500 gallons nước. Ngoài nước uống và không khí bị ô nhiễm, quả địa cầu cũng bị nóng dần vì hàng triệu tấn khí bị ô nhiễm, quả địa cầu cũng bị nóng dần vì hàng triệu tấn khí methane thải ra từ các trại chăn nuôi.  Nếu chúng ta không thay đổi cách ăn uống thì đến một ngày nào đó chúng ta sẽ hủy hoại chính mình và trái đất sẽ trở thành một hành tinh chết.

Con Đường Trước Mặt

Qua những phân tích trên, chúng ta thấy ngày nay vấn đề ăn chay là một nhu cầu bức thiết để tự cứu mình, cứu các thế hệ con cháu cũng như cứu lấy hành tinh của chúng ta đang ở.  Việc ăn chay không những giúp chúng ta giữ thân khỏe mạnh, mà còn giữ tâm thanh thản và giữ môi trường trong sạch.  Thực tập ăn chay chúng ta có thể đi từng bước.  Bắt đầu bằng mỗi tuần một ngày, bất kỳ ngày nào, sau đó gia tăng dần.  Điều quan trọng là phải ý thức rằng việc ăn chay là để giữ gìn sức khỏe cá nhân, gia đình và đoàn thể trong một xã hội đầy ô nhiễm từ vật chất đến tinh thần.

Như trên chúng ta nhận thấy cơ thể con người không được cấu tạo để ăn thịt.  Do đó việc ăn chay là bẩm tính tự nhiên.  Nếu chúng ta sống ngược với thiên nhiên thì hậu quả chỉ chuốc lấy đau khổ. Những bệnh tật mà con người chịu đựng hôm nay chính là  hậu quả của việc đi ngược lại với lẽ sống tự nhiên.  Bệnh “Bò Điên” ở trên là một bằng chứng hùng hồn.  Và ở con người những bệnh khùng điên này cũng đang gây đau khổ từ thể xác đến tinh thần trong các chứng bệnh nan y như ung thư, động tim, đứt mạch máu não, cholesterol, cũng như những chứng căng thẳng thần kinh (stress).  Tất cả chỉ vì miếng ăn: “Tham thực cực thân.” Đạo Đức Kinh dạy” “Nhân pháp Đạo, Đạo pháp Tự Nhiên” (nghĩa là: Con người sống theo lẽ Đạo và Đạo sống theo Tự Nhiên). Việc ăn chay cần kết hợp với việc lạy Phật để dễ dàng phát huy khả năng an lạc giải thoát tiềm tàng trong mỗi người.  Phương pháp tu này đáp ứng được nhiều phương diện từ thể xác đến tâm linh, mang lại cho chúng ta an lạc, giải thoát ngay trong đời sống hiện tại.  Truyền thống tu tập Việt Nam cung cấp cho chúng ta những phương tiện cần thiết để duy trì thân tâm an lạc để sống khỏe, sống vui và sống lâu trong phương pháp “Ăn Chay, Lạy Phật.”

 

Tài Liệu Tham Khảo:

Tâm Diệu, Quan Điểm Về Ăn Chay Của Đạo Phật, Hoa Sen (California), 1998.

“Fơd in a Pill” in Health, Mach 1998, pp. 87-92

“Soy Monograph” by C.Grauds, Pharmacy Times, 1999.

“Phương Pháp Dinh Dưỡng..” Lá Thư Kim Sơn, số 2, 1998, tr.12.

 

Chương IV. Pháp Môn Lạy Phật

Pháp Môn Lạy Phật

Trong truyền thống tu tập Việt Nam, pháp môn Lạy Phật là một pháp môn rất phổ biến được thực tập trong hàng xuất gia cũng như tại gia.  Các chùa cứ vào những ngày mười bốn và ba mươi âm lịch đều có các buổi lạy Hồng Danh Sám Hối.  Bây giờ tại hải ngoại chúng ta cũng vẫn tiếp tục tu tập theo truyền thống đó.  Như thế đủ chứng minh tính mầu nhiệm của pháp môn này.  Tuy nhiên, lâu nay chúng ta thực tập thấy có an lạc và lợi ích thiết thực cho thân và tâm, nhưng không hiểu rõ nguyên nhân tại sao? Lý do nào khiến pháp môn này mang đến những lợi lạc mầu nhiệm đó.

Sau thời gian dài sống tại Bắc Âu cũng như Đông Bắc Hoa Kỳ là những vùng rất lạnh của thế giới, chúng tôi nghiệm ra tại đây có rất nhiều người mắc phải những chứng bệnh thuộc về phong thấp như đau nhức khớp xương.  Nhất là những người lớn tuổi đến từ các nước thuộc khu vực nhiệt đới.  Bác sĩ khuyên mọi người nên tập thể dục.  Ai cũng thấy lời khuyên đó đúng.  Vì sang đây chúng ta ít khi có cơ hội để vận động thân thể cho khí huyết lưu thông.  Chúng ta ngồi quá nhiều, vừa bước ra khỏi nhà đã leo lên xe, đến sở làm phải ngồi suốt buổi.  Ngày này sang ngày nọ cứ như thế.  Thêm vào đó, qua sự ăn uống cơ thể chúng ta tiêu thụ quá nhiều độc tố.  Từ đó đủ các chứng bệnh về tim cũng như ung thư phát sinh. Tuy thế việc tập thể dục vẫn là vấn đề nan giải.  Với những người trẻ tuổi ít gặp khó khăn.  Còn đối với những người lớn tuổi, đây quả thật là một khó khăn lớn.  Vì văn hóa khác biệt, các cụ ta thấy ngại ngùng trong việc đi bơi đi lội, đi đến nhà tập thể dục để luyện tập thân thể.  Đó là chưa kể vấn đề di chuyển cũng như ngôn ngữ, vì phần lớn các cụ không biết lái xe và tiếng tăm không thông.  Còn việc đi bộ cũng không dễ dàng thực hiện được, vì vào mùa ấm còn đi lại chút đỉnh, chứ những ngày lạnh chẳng dám hé cửa, đừng nói chuyện ra ngoài đường.  Nếu đi không khéo, trợt tuyết ngã thì khổ thân.  Nói tóm lại là đành chịu chết.  Các vị than phiền và không biết phải giải quyết vấn đề như thế nào.  Chúng tôi chỉ khuyên các cụ hãy cố gắng thực tập pháp môn lạy Phật mỗi ngày, sáng cũng như tối.

Các cụ theo đó thực tập vài tuần lễ sau đã có người đến chùa cám ơn, nhờ thực tập pháp môn lạy Phật đã khỏi bệnh.  Có vị cho chúng tôi hay sau mấy tuần lạy Phật, bây giờ đã hết luôn chứng đau lưng.  Chứng bệnh mà vị đó đã bị từ nhiều năm nay, uống thuốc gì cũng không khỏi.  Các vị khác cho hay bây giờ ngủ ngon giấc không mộng mị, các chứng tê nhức cũng đã hết.  Còn những người trung niên cũng cho biết họ đã bán các dụng cụ tập thể dục, vì cứ mỗi sáng sau khi lạy hai mươi phút mồ hôi toát ra như tắm, như thế thì hơn thể dục nhiều.

Trong Các Truyền Thống Phật Giáo

Pháp môn lạy Phật không phải chỉ có các Phật tử thuộc truyền thống Tịnh Độ thực hành, nhưng phương pháp này cũng được các truyền thống khác tu tập.

Với Phật Giáo Tây Tạng vấn đề lạy Phật là một phương pháp tu căn bản.  Trong truyền thống này, khi bắt đầu những kỳ nhập thất dài hạn, thông thường kéo dài ba năm ba tháng ba ngày, các vị lạt-ma lạy một trăm ngàn lạy.  Mỗi ngày từ sáng đến tối chỉ thực hành lạy Phật.  Trung bình mỗi ngày lạy được một ngàn lạy, và cứ lạy liên tục như thế trong ba tháng mười ngày thì đủ một trăm ngàn.

Có người thắc mắc không hiểu lạy như thế có lợi ích gì? Vấn đề này chúng ta sẽ tìm hiểu cặn kẽ trong phần sau.  Đại khái chúng ta có thể hiểu đây là giai đoạn chuẩn bị cho thời gian “hạ thủ công phu” để nỗ lực tinh tấn trên con đường khai triển tuệ giác.  Sự chuẩn bị này được chú trọng trên cả hai phương diện thân tâm.

Sau giai đoạn lễ lạy đó, tâm hồn hành giả thơi thới, thân thể tráng kiện.  Khi đó vị hành giả cảm thấy như mình được tái sinh từ thể xác đến tinh thần.  Cần hội đủ những điều kiện cần thiết đó thì công cuộc khổ tu của những tháng năm đến mới thành tựu viên mãn.  Chúng ta cũng nên biết rằng, Tây Tạng là một nước ở trên núi Hy Mã Lạp Sơn, một dãy núi cao nhất thế giới, tuyết phủ quanh năm.  Trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt như thế, nếu không có một thân thể cường tráng một ý chí mãnh liệt thì khó có thể tiếp tục công việc tiến tu.

Do đó sự hành trì lễ lạy là một phương pháp tốt để đạt những mục tiêu ban đầu. Ngoài ra các Phật tử Tây Tạng cũng thực hành phương pháp “nhất bộ nhất bái” (nghĩa là đi một bước lạy một lạy) trong các cuộc hành hương chiêm bái các thánh tích như: Cung Potala nơi Đức Đạt Lai Lạt Ma ngự, các tu viện nổi tiếng nơi có bảo tháp có các vị tổ sư…

Quang cảnh rất cảm động chung quanh Bồ Đề Đạo Tràng, nơi Đức Phật Thành Đạo, là hàng trăm vị Lạt Ma cùng các Phật tử Âu Mỹ thực hành pháp môn lễ lạy.  Họ cứ lạy từ sáng đến chiều và từ ngày này sang ngày nọ.  Cách lạy của người Tây Tạng cũng khác hơn chúng ta là họ lạy nằm dài hết cả người xuống đất.  Tấm án dùng để lạy trở nên bóng loáng và chỗ hai bàn tay chống xuống để đẩy dài người ra bọ lõm sâu xuống.  Điều đó chứng tỏ họ đã lạy không biết bao nhiêu ngàn vạn lạy rồi.

Qua những khảo sát đó, chúng ta hiểu được: Tại sao dân Tây Tạng có thể sống khỏe mạnh trên đỉnh núi tuyết, nơi lạnh lẽo và thiếu dưỡng khí? Làm thế nào để có được tín tâm vững chãi nơi Tam Bảo? Làm sao để thành đạt kết quả tu tập? Những thành tựu đó có thể nói phần lớn nhờ bởi công phu lễ bái. Chính việc Lạy Phật đã giúp cho dân Tây Tạng sống khỏe mạnh từ thể chất đến tinh thần, có tín tâm kiên cố nơi Tam Bảo, và thành tựu sự nghiệp tu chứng.  Ngày nay dân tộc nhỏ bé yếu kém đó đã mang Phật pháp truyền bá khắp nơi.

Tại Trung Quốc, các Tông phái Phật Giáo từ Tịnh Độ, Thiền, Thiên Thai, đến Luật Tông, Mật Tông v.v… đều chú trọng vào việc lạy Phật như một hành trì căn bản. Tịnh Độ Tông có những cuốn kinh dành riêng cho việc lễ lạy như:

-Kinh Hồng Danh: 108 lạy, kinh sám hối căn bản.

-Kinh Ngũ Bách Danh: 500 lạy, gồm tên của 500 vị Phật hay Bồ Tát.

-Kinh Thiên Phật: 1.000 lạy, danh hiệu của một ngàn vị Phật.

-Kinh Ngũ Thiên Phật: 5.000 lạy, danh hiệu của năm ngàn vị Phật.

-Kinh Vạn Phật: 10.000 lạy, danh hiệu của mười ngàn vị Phật.

-Thủy Sám: sách sám hối, vừa tụng vừa lạy, do ngài Ngộ Đạt soạn.

-Lương Hoàng Sám: bộ sách sám hối, do hòa thượng Chí Công đời vua Lương Võ Đế soạn để sám hối cho hoàng hậu Hy Thị.

Qua các kinh đó chúng ta thấy Phật Giáo Trung Quốc đã hành trì pháp môn lạy Phật nghiêm túc như thế nào.

Ngày xưa các chùa đều được xây dựng nơi núi cao rừng sâu, tránh cảnh thị thành náo nhiệt để các hành giả chuyên chú quán chuyến nội tâm.  Các ngôi chùa như Thiếu Lâm Tự được xây dựng trên núi Thiếu Thất, Tổ Đình Thiên Thai Tông xây trên núi Thiên Thai, Tổ Đình Trúc Lâm xây trên núi Yên Tử.  Để có đủ sức khỏe chống lại sơn lam chướng khí thú dữ, các thiền sinh phải luyện tập võ thuật và khí công kèm với sự tu tập phát huy tuệ giác.  Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma là người đã khai sáng Thiền Tông tại Trung Quốc, cũng là tổ sư sáng lập võ thuật tại đây.  Các tổ sư đã ý thức rõ ràng sự quan hệ giữa thân và tâm.  Sự thành tựu tuệ giác phải song hành với sự tráng kiện của thân thể.  Khí công và nội lực là những yếu tố quan trọng trong việc phát triển tâm linh.  Không thể nào có được ý chí dũng mãnh trong một thân thể bệnh hoạn.  Từ đó các tổ đã kết hợp hai truyền thống tu luyện của Ấn Độ và Trung Quốc, truyền thống yoga cũng như các phương pháp luyện công luyện khí của võ thuật được kết hợp nhuần nhuyễn để chế tác pháp môn Lạy Phật. Như thế chúng ta thấy Lạy Phật là kết quả tiêu biểu cho những kinh nghiệm tu tập thoát thai từ sự dung hợp sâu sắc tinh hoa của các nền đạo học đông phương. Một vị thánh tăng trong thời đại chúng ta là ngài Hư Vân (1840-1959), ngài đã hành trì “tam bộ nhất bái” (ba bước một lạy) từ Phổ Đà Sơn về Ngũ Đài Sơn, quãng đường dài bằng đoạn đường từ New York về Seattle. Trong cuốn Tự Truyện ngài đã kể lại những kinh nghiệm tu chứng của ngài trong thời gian lễ bái đó.  Ngài có được những khả năng phi thường như nhìn xuyên qua vách, nghe được tiếng từ xa, biết việc vị lai v.v… Lúc bị chính quyền cộng sản tra khảo dã man, người cai ngục tưởng ngài chết rồi.  Nhưng sáng hôm sau thấy ngài ngồi dậy khỏe mạnh như trước đó chẳng có chuyện gì xảy ra.  Ngài thọ 120 tuổi.

Ngày nay tại Tổ Đình Vân Môn ở Quảng Đông Trung Quốc, mỗi sáng chư tăng sau thời công phu bắt đầu lạy ba trăm lạy.

Phật Giáo Việt Nam cũng như Nhật Bản và Đại Hàn chịu ảnh hưởng sâu đậm Phật Giáo Trung Quốc.  Do đó trong phương pháp hành trì rất chú trọng về lễ lạy.  Phật tử Việt Nam đến ngày nay vẫn duy trì mạnh mẽ phương pháp tu tập đó.  Vào những ngày mười bốn và ba mươi âm lịch, chúng ta có những thời Hồng Danh Sám Hối.  Chúng ta cũng lạy Ngũ Bách Danh, Thiên Phật, Vạn Phật… Ngoài ra, có người cũng phát nguyện lạy từng chữ trong các bộ kinh lớn như Pháp Hoa, Bát Nhã, Niết Bàn, Hoa Nghiêm…

Trước năm 1975, lúc tôi còn ở Chùa Già Lam, Gia Định, mỗi sáng sau thời công phu, được nghe hòa thượng Trí Thủ xướng hồng danh chư Phật chư Tổ để mọi người lễ lạy.  Giọng Ôn sang sảng vang dội khắp chùa.  Thỉnh thoảng Ôn nhập thất.  Trong suốt thời gian đó Ôn trì niệm và lễ bái hồng danh Đức Phật A Di Đà.  Những năm cuối đời Ôn vẫn kiên trì tu tập pháp môn đó. Qua cuộn băng cassette thu tại Chùa Già Lam vào khoảng năm 1982, chúng tôi vẫn còn nghe giọng xướng trầm hùng của Ôn và Đại Chúng.  Tại Hoa Kỳ, chúng tôi được biết Tu Viện Kim Sơn tại Bắc Ca-li thực hành chuyên cần công phu bái sám.  Đại Chúng lạy mỗi ngày hai thời và mỗi thời khoảng hai trăm lạy.  Pháp môn này vẫn là pháp môn tu tập chính yếu cho hầu hết các chùa Việt Nam tại hải ngoại.

Tác phẩm nổi tiếng về sự hành trì pháp môn lạy Phật này là cuốn Khóa Hư Lục của vua Trần Thái Tôn soạn.  Nhà vua soạn bộ sách sám hối này cũng trong tâm trạng thành khẩn như ngài Ngộ Đạt sám hối nghiệp chướng nhiều đời, như vua Lương Võ Đế sám hối quả báo của hoàng hậu.

Như chúng ta biết vua Trần Thái Tông là vị vua đầu tiên của triều Trần.  Dưới áp lực của thái sư Trần Thủ Độ, cũng là chú của vua, bắt vua phải làm những việc loạn luân, thất nhân tâm như ruồng bỏ vợ, lấy chị dâu đang mang thai, cùng chứng kiến những cảnh tàn sát tôn thất nhà Lý.  Không chịu nổi những cảnh tàn ác đó, nhà vua bỏ kinh thành vào núi để xin xuất gia.

Phù Vân quốc sư đã khuyên nhà vua hãy trở về gánh lấy trọng trách để tìm cách chuyển đổi chính sách bạo tàn thành chính sách khoan hòa nhân đạo, cũng như theo đuổi con đường tu tại gia.  Nhà vua đã trở về.  Sách Khóa Hư Lục đã được soạn ra trong hoàn cảnh đó.  Trong đó nhà vua đã soạn những bài văn thống thiết để ngày đêm sáu thời lễ bái sám hối cho nghiệp chướng tiêu trừ, cho quốc thái dân an.  Với ảnh hưởng đạo đức của vua Thái Tông, triều Trần đã trở thành một triều đại quân chủ Phật Giáo hùng mạnh trong lịch sử với những chiến thắng Mông Cổ oanh liệt.  Mông Cổ là đoàn quân bách chiến bách thắng, xây dựng một đế quốc trải dài từ Âu sang Á, chưa bao giờ bị thua trận.

Sự Lợi Ích

Phương pháp Lạy Phật là kết tinh của những kinh ngiệm tu tập sâu sắc từ những truyền thống đạo học đông phương.  Do đó những lợi ích mang lại từ sự hành trì pháp môn này vô cùng lớn lao.  Sự lợi ích đó đạt được cả trên hai phương diện thân xác cũng như tinh thần.

Về Thân: phương pháp Lạy Phật mang lại những hiệu quả sau:

1. Trước hết, động tác lạy Phật là một phương pháp thể dục tốt.  Với những cử động nhẹ nhàng, nhưng tất cả các bắp thịt trên toàn thân đều được vận động tối đa.  Khác với lúc tập thể dục, vì thông thường khi thể dục chúng ta không vận động tất cả các bắp thịt đồng đều cùng một lúc. Ví dụ: khi đi bộ, chúng ta vận động nhiều bắp thịt ở chân.  Chỉ có bơi lội chúng ta mới cử động toàn thân. Trong lúc lạy Phật, tất cả các bắp thịt trên cơ thể đều hoạt động làm khí huyết toàn thân lưu chuyển giúp chúng ta chữa trị các chứng thấp khớp, cũng như phòng ngừa các chứng bệnh hiểm nghèo khác..

2. Các huyệt đạo quan trọng trên cơ thể được tác động. Từ huyệt bách hội trên đỉnh đầu xuống đến huyệt đan điền, các huyệt dọc theo xương sống và các huyệt ở tay chân.  Chúng ta cảm thấy có một luồng khí nóng chạy đều khắp cơ thể và mồ hôi theo các lỗ chân lông tuôn ra.  Theo y học đông phương, một khi các huyệt đạo trên cơ thể được tác động, khí huyết sẽ lưu chuyển và bệnh tật sẽ tiêu trừ.

3. Sau khi lạy Phật xong, hãy ngồi xuống chừng mười lăm phút, chúng ta sẽ có cảm giác an lạc thư thái ngay vì các huyệt đạo được tác động.  Sự an lạc này rất sâu sắc, một kinh nghiệm rất đặc biệt mà chúng ta chỉ đạt được trong lúc thiền định.  Sự an lạc này mang lại cho chúng ta niềm hoan lạc suốt ngày. Từ đó những phiền não, những ưu tư, những đau buồn… cũng nhanh chóng tan biến.

4. Các trọng huyệt này tương ứng với các luân xa  trong truyền thống yoga Ấn Độ.  Các luân xa này nằm dọc theo xương sống từ đỉnh đầu xuống đến bàn tọa gồm bảy luân xa.  Một khi được tác động, các luân xa này giúp chúng ta khai triển được những năng lực mầu nhiệm tiềm tàng trong mỗi người, tạo điều kiện thuận tiện cho việc phát triển tâm linh.

Về Tâm: phương pháp Lạy Phật là phương pháp điều tâm để thanh tịnh ba nghiệp: thân, khẩu và ý (tư tưởng, ngôn ngữ và hành động).  Phương pháp này giúp ta:

1.  Tiêu trừ nghiệp chướng: Trong sự sám hối, thành tâm đảnh lễ mười phương chư Phật bằng cả thân tâm của mình. Quán chiếu sâu xa nguồn gốc tội lỗi, cùng bản tánh của tội lỗi.  Quán tưởng hào quang chư Phật mười phương hiển hiện trước mắt, cũng như Phật tánh trong tự tâm tỏa rạng. Nhờ Phật lực hộ trì cùng nỗ lực tu tâm để thanh tịnh ba nghiệp.  Với sự sám hối đó các ác nghiệp và chướng duyên đều được chuyển hóa.

2. Thiện căn tăng trưởng: trong khi lễ lạy, hồi hướng cho kẻ thân người thù đều được lợi lạc, đều được thành tựu sự nghiệp giác ngộ giải thoát.  Như thế Bồ Đề Tâm (thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh) được nuôi dưỡng, lòng từ bi được phát triển.  Sự lễ bái hàng ngày đem lại cho chúng ta nguồn an lạc vô biên.  Sự an lạc này giúp cho phiền não tiêu tan, sự trầm tĩnh trở lại trong tâm hồn và lòng thương cũng phát sinh đối với người ghét.

3. Đức khiêm cung phát sinh: trong khi hạ mình xuống sát đất để lạy Phật, để thấy những thành đạt của mình chỉ là những giọt nước trong đại dương bao la. Bác Vũ Xuân Hoài phát biểu trong buổi thảo luận Phật pháp, để chuyển hóa tâm kiêu mạn của mình, mỗi ngày bác lạy Phật để hồi hướng công đức về thiên, về địa, về sư trưởng, về ông bà cha mẹ… để cảm nhận trùng trùng ân nghĩa.  Để thấy sự thành tựu của mình hôm nay là công ơn của nhiều người.  Để từ đó tâm khiêm nhường phát sinh.  Trong Kinh Đức Phật thường dạy, tâm khiêm nhường là cửa ngõ của trí tuệ và là con đường đưa đến giải thoát.

Sự Hành Trì

Trong truyền thống Việt Nam, chúng ta có lạy Hồng Danh, Ngũ Bách Danh, Thiên Phật, Vạn Phật… Tùy theo hoàn cảnh và khả năng để áp dụng lễ lạy cho thích hợp.  Điều quan trọng là sự hành trì đều đặn.  Nếu chưa quen chúng ta có thể bắt đầu bằng ba mươi lạy, rồi sau đó tăng dần cho đến một trăm lẻ tám lạy (để trừ một trăm lẻ tám