Những đoản văn
viết trong 25
năm qua
Thích Như Điển
---o0o---
Phần 1
Lời nói đầu
Nếu
nói 20 năm là một thế hệ, thì những bài viết trong quyển sách thứ 36 nầy
đã hơn một thế hệ rồi. Đó là 25 năm của một chặng đường lịch sử mà chúng
tôi đã đi qua.
Chúng tôi là những
người Việt Nam sinh ra trước năm 1975 và kể từ đó đến nay đã có không biết
bao nhiêu cuộc chia ly để kẻ ở người đi, kẻ còn người mất. Nếu không có
ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì chúng tôi đã không hiện hữu ở ngoại quốc ngày
nay lâu như vậy. Nếu đa phần là sinh viên đi du học thì sau khi thành tài,
lại phải về nước để phục vụ quê hương. Nhưng ở đây thì không phải thế,
càng ngày người Việt Nam càng ra ngoại quốc nhiều hơn. Con số thống kê
chính thức của người Việt Nam năm 2002 ở ngoại quốc là 1.500.000 người. Đó
là chưa kể khoảng 500.000 người bị chết chìm nơi biển cả hay trong rừng
sâu khi đi tìm tự do. Như vậy nếu còn sống sót hết thì con số phải được
cộng chung thành 2 triệu người. Trong số ấy cũng có lắm trẻ sơ sinh được
chào đời và cũng có nhiều người bị chết đi do bệnh tật hay già yếu.
Ngày xưa ở
Việt Nam mỗi gia đình trung bình là 5 người con. Bây giờ ở ngoại quốc, mỗi
gia đình tính là 2 người con ở thế hệ thứ nhất và một người con ở thế hệ
thứ hai, thì số sinh vẫn nhiều hơn số tử. Do đó con số 2 triệu nó không
dừng tại đó.
Thế hệ
trước, khi chúng tôi bỏ nước ra đi, có không biết bao nhiêu điều nhục nhằn
chua xót. Có người giàu có cũng phải ra đi. Có người nghèo khổ cũng không
thể ở lại. Vợ xa chồng, con xa cha vì phải đi học tập cải tạo nơi rừng sâu
nước độc, rồi bị bỏ mạng nơi chốn núi đồi nào đó, chẳng còn ai đoái hoài
đến nắm xương tàn kia! Rồi ngày tháng qua đi, nhưng tiếng gầm của biển,
tiếng uy hiếp của hải tặc trên đại dương... không thể nào làm cho người
thân an giấc ngủ, mà lúc nào cũng nhớ nhớ thương thương về người thân của
mình bị hãm hiếp đọa đày. Do vậy mà những áng văn thơ, nhật ký đã được
viết ra, đăng tải trên khắp báo chí để ghi lại một nỗi nhọc nhằn, một sự
mất mát mà ông cha họ, hay chính bàn tay của họ đã bao đời gây dựng nên,
mà nay chỉ còn là 2 bàn tay trắng!
Tôi sinh
ra cũng đúng vào thời điểm loạn ly của đất nước; nhưng được cái may là vào
chùa tu rất sớm từ năm 1964 và đi ra khỏi nước từ năm 1972; tuy không bị
cái cộng nghiệp mất mát, tủi hờn như cả miền Nam Việt Nam phải hứng chịu;
nhưng tôi đã là người Việt Nam thì cũng cùng chung một số phận là rời bỏ
quê hương, chưa bao giờ có ngày trở lại; nên trong thời gian 25 năm ấy,
những sáng tác của tôi đã ghi lại những thực thể mà người tỵ nạn Việt Nam
đã trải qua. Có lúc tôi ghi lại một cuộc hành trình qua những cái đẹp của
núi sông cảnh trí của một đất nước nào đó tôi đã đi qua. Đôi khi cũng ghi
lại một vài cảm nghĩ đối với vấn đề giáo dục và thế hệ trẻ trong tương lai
của Việt Nam tại Hải Ngoại. Hay một bài tùy bút, một bài cảm tưởng v.v...
Đó là cả một tấm lòng của tôi đối với mọi người.
Trong 25
năm ấy tôi đã xuất bản tổng cộng là 34 cuốn sách và ngoài những sách tôi
viết mà quý độc giả đã đọc, cũng có rất nhiều bài được đăng trên báo Viên
Giác. Nay tôi tập họp lại những bài viết ấy để in thành quyển sách thứ 36
nầy. Sách nầy sẽ được dịch ra tiếng Đức và cũng như lâu nay Bộ Nội Vụ đặc
trách về truyền thông và văn hóa của Đức sẽ tài trợ phần vật chất để sách
nầy được xuất bản. Ơn ấy cho đến bao giờ tôi cũng không thể nào quên được.
Rồi mai
đây thế hệ thứ hai, thứ ba của người Việt Nam được sanh ra tại Hải Ngoại,
có lẽ họ sẽ không biết gì và cũng chẳng liên hệ gì với quá khứ như cha ông
họ hay những người đi trước đã kinh qua. Do vậy một chặng đường lịch sử
phải cần ghi lại cho mai hậu là vậy.
Cũng như
thế đấy, có nhiều gia đình người Đức trong đệ nhị thế chiến (1939-1945) đã
bỏ quê hương nầy, tránh nạn độc tài phát-xít để đi lánh nạn và lập nghiệp
tại Mỹ, Canada hay Úc Châu, thì nay thế hệ thứ 3, thứ 4 của con cháu họ,
chắc không hiểu và cũng chẳng quan tâm về một sự kiện như thế đã xảy ra
nơi quê hương của cha ông họ cách đây gần 100 năm về trước. Tuy nhiên lịch
sử vẫn là lịch sử. Lịch sử là những chứng cứ hùng hồn nhất của một dân
tộc, có thể cả tốt lẫn xấu, chúng ta không được phép bỏ qua hay lờ đi. Vì
nếu tốt thì ta có thể rút ra làm một bài học cho bản thân mình. Nếu xấu
thì nên tránh xa, không cần đề cập đến nữa.
Câu chuyện
của Việt Nam nó cũng là một câu chuyện thương tâm như thế. Cho nên thế
giới mới động tình mà cưu mang cho cả 2 triệu người đang sinh sống, học
hành, làm việc ở ngoại quốc ngày nay. Dĩ nhiên là họ còn có bổn phận đóng
góp công sức, trí tuệ, bạc tiền cho những nơi học đang sinh sống nữa, chứ
không chỉ thuần là ngửa tay để đi nhận những ân huệ của nhân dân và chính
quyền sở tại mãi ban cho.
Để đóng
góp phần mình một chút gì cho quê hương nước Đức nầy, nơi đã cho tôi tự do
và không khí của đất trời để sống, để thở; nên tôi đã sáng tác, hoạt động,
trải rộng lòng từ bi đến mọi loài và mọi người. Có được như vậy là cả một
ơn đức khó có gì sánh được. Nên tôi góp phần mình vào việc chung nầy bằng
những tác phẩm, tuy không giá trị lắm đối với đời; nhưng là một chứng nhân
của thời đại, khi mà con người ngày nay cần những thông tin phải được cập
nhật hóa hằng ngày.
Một con én không đem
lại một mùa Xuân. Một tác phẩm không làm hài lòng tất cả mọi người; nhưng
nếu một mùa Xuân có nhiều cánh én thì mùa Xuân ấy đẹp biết bao và trong
gia tài tri thức của con người có được sự tập hợp của trí tuệ qua sách vở,
biên khảo thì trí tuệ ấy càng phong phú hơn nhiều. Đây là niềm hy vọng và
sự cầu nguyện của tôi cho mọi người và mọi loài được thâm nhập như thế.
Viết tại thư phòng Chùa Viên Giác
vào một sáng mùa Xuân năm 2003
để kỷ niệm năm thứ 25 thành lập
Chùa Viên Giác và Báo Viên Giác.
Tác giả
Thích Như
Điển
Phật Giáo Việt Nam xưa và nay
(Trích bài nói chuyện bằng tiếng
Đức
của ĐĐ Thích Như Điển tại Lemgo
và Hannover)
Kính
thưa liệt Quý vị,
Trong những thế kỷ gần đây, quý
vị là những người Tây phương, có cơ hội tiếp xúc, tìm hiểu về người Đông
phương của việc buôn bán, ngoại giao, chính trị, văn hóa ... và đương
nhiên trong đó có phần Tôn Giáo. Chúng tôi cũng thế, là những người sanh
ra và lớn lên tại Đông phương, chịu ảnh hưởng của Đông phương rất nhiều và
cũng đã biết người Tây phương bằng sách vở qua nhiều thế kỷ trước. Ngày
xưa chúng ta ở xa nhau, đã tìm hiểu đến nhau là điều đáng quý và bây giờ
chúng ta có cơ hội gần nhau và tìm hiểu nhau hơn nữa là một điều đáng nói
biết bao.
Phật Giáo đã đã truyền Việt Nam
từ Trung Hoa và Ấn Độ bắt đầu từ thế kỷ thứ 2 sau công nguyên. Một lịch sử
kéo dài gần 18 thế kỷ, nối liền với vận mệnh của dân tộc Việt Nam như thế,
chúng tôi không thể trình bày với quý vị trong khoảng thời gian hơn nửa
tiếng đồng hồ nầy được, mà chúng tôi chỉ trình bày những phần chính về sự
phát triển cũng như suy vong của Phật Giáo trong mạch sống dân tộc Việt
Nam mà thôi. Sau đó quý vị có gì thắc mắc thì chúng tôi sẽ lần lượt trả
lời trong phần câu hỏi của quý vị.
Người Nhật Bản có câu phương
ngôn là: "Xưa là xưa, nay là nay". Nếu xét cho kỹ ý nghĩa của câu
nầy cũng chí lý thật, vì sống cho ngày hôm nay thôi, chứ chuyện xưa thì đã
quá xa xôi đối với chúng ta. Thế nhưng, muốn tham cứu về lịch sử thì không
biết xưa thì làm sao mà có nay. Do đó tôi trình bày cho quý vị cả xưa lẫn
nay của Phật Giáo Việt Nam.
Đạo Phật được phát sanh từ Ấn Độ
cách đây 2522 năm và được truyền sang các nước Á Châu khác theo từng thời
điểm của từng quốc gia một. Phật Giáo ngày nay có hai phái chính là: Đại
Thừa Phật Giáo và Tiểu Thừa Phật Giáo. Các nước theo Đại Thừa Phật Giáo
như: Tây Tạng, Trung Hoa, Đại Hàn, Nhật Bản và Việt Nam. Các nước theo
Tiểu Thừa Phật Giáo như: Thái Lan, Tích Lan, Miến Điện, Cao Miên, Lào và
Nam Việt Nam. Nếu xét về căn bản giáo lý của hai bộ phái nầy có rất nhiều
điểm dị biệt, nếu có thì giờ chúng tôi sẽ trình bày riêng với quý vị trong
phần câu hỏi.
Riêng về Việt Nam, Phật Giáo
được truyền vào từ Trung Hoa nhân kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất (BC. 111-931
NC) do các nhà sư Trung Hoa chạy loạn đến Bắc Phần Việt Nam sinh sống và
truyền đạo tại đó. Ngoài ra còn một thuyết nữa cho rằng Đạo Phật Việt Nam
được truyền vào trực tiếp từ Ấn Độ do những thương nhân và tu sĩ lúc bấy
giờ. Người Ấn Độ xưa kia hay buôn bán với người Trung Hoa bằng đường thủy,
trước khi họ sang Trung Hoa, bắt buộc họ phải ghé Việt Nam vì điều kiện
gió mùa. Và đây cũng là cơ hội để họ truyền Đạo tại Việt Nam.
Kể từ khi Phật Giáo được truyền
vào Việt Nam (thế kỷ thứ 2) mãi cho đến thế kỷ thứ 10, Phật Giáo mới giữ
một vai trò quan trọng trong triều đình cũng như nhân gian lúc bấy giờ.
Phật Giáo được truyền vào Việt Nam hầu hết là Thiền tông và các Tăng đồ
phải học thông viết thạo chữ Hán mới có thể đọc được kinh điển của Phật
Giáo. Cũng vì lúc bấy giờ trong dân gian không có ai thông thạo chữ Hán
bằng các vị Thiền sư, nên mỗi lần có sứ Trung Hoa sang Việt Nam, là nhà
Vua phải nhờ các vị Thiền sư ra đối đáp.
Vào triều Tiền Lê (980-1009) đã
có một Thiền sư danh tiếng, đó là Khuông Việt Thái sư đã được vua Lê Đại
Hành mời làm Thầy cho Vua và cho nhân dân trong nước. Đến triều nhà Lý
(1010-1225) Thiền sư Vạn Hạnh cũng là một vị danh Tăng, đã đóng góp cho
lịch sử Việt Nam một gương sáng muôn đời bất diệt. Đó là khai sáng thời kỳ
tự chủ, độc lập của triều đại nhà Lý. Cũng chính triều đại nầy, Phật Giáo
được thịnh hành nhất. Từ vua đến quan, từ dân đến thợ đều một lòng quy
ngưỡng theo Phật Giáo. Đất nước được thái bình thịnh trị, bên ngoài không
có giặc ngoại xâm, bên trong kinh tế, chính trị, văn hóa tôn giáo được
phát triển cao độ nhất trong lịch sử Việt Nam tự cổ chí kim. Mặc dầu Phật
Giáo chiếm một địa vị độc tôn từ triều đình cho đến dân chúng lúc bấy giờ,
nhưng Khổng Giáo cũng như Lão Giáo được tự do phát triển và chính các vua
tôi nhà Lý đã khuyến khích triều đình cũng như nhân dân không những chỉ
tin theo Phật mà còn phải tìm hiểu và học hỏi Khổng cũng như Lão Giáo nữa.
Sang nhà Trần (1225-1400), lúc
đầu Phật Giáo phát triển một cách rất mạnh mẽ. Điển hình là vua Trần Nhân
Tông nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông để đi tu, cũng chính vị vua nầy
là một Thiền sư khai tông phái Trúc Lâm Yên Tử. Nhưng dần dần về sau Phật
Giáo bị Nho Giáo chèn ép và không còn phát triển mạnh như lúc trước nữa.
Vào khoảng năm 1400, quân nhà Minh sang đô hộ Việt Nam lần thứ 2, biết bao
nhiêu Tăng sĩ đã bị bắt, chùa chiền bị đập phá, kinh sách bị thiêu hủy,
các cơ sở tín ngưỡng, từ thiện, văn hóa xã hội v.v... bị chôn vùi bởi
thiên tai và bởi quân cướp nước nhà Minh gây nên.
Sau khi đất nước đã được khôi
phục lại nền tự chủ bởi vị anh hùng áo vải Lam Sơn Lê Lợi, Phật Giáo Việt
Nam lại có cơ hội phát triển, mãi cho đến thời Trịnh Nguyễn phân tranh và
sự hiện diện của người Pháp trên đất nước Việt Nam thì Phật Giáo lại chịu
nhiều cơn pháp nạn. Trong khi người Pháp đô hộ Việt Nam gần 100 năm sống
dưới chế độ thực dân phong kiến Phật Giáo cũng không phát triển được gì,
mặc dầu hơn 80% nhân dân Việt Nam là đồng bào Phật Tử. Người Pháp sợ các
phong trào của Phật Giáo càng ngày càng mạnh mẽ làm mất thế đứng của họ
tại Việt Nam và Đông Dương một cách mau chóng hơn, nên họ đã tìm đủ mọi
cách để ngăn chặn mọi sự phát triển của Phật Giáo lúc đương thời.
Sau năm 1954, Hiệp Định Genève
được ký kết, Miền Nam theo chính thể Tự Do, Miền Bắc theo chủ nghĩa Cộng
Sản. Phật Giáo Việt Nam vẫn còn tồn tại trong hai miền. Ở Miền Nam Phật
Giáo được phát triển một cách tự do hơn Miền Bắc, còn ở Miền Bắc sự phát
triển của Phật Giáo hay nói đúng hơn là tất cả các tôn giáo khác đều bị
kiểm soát chặt chẽ (ví dụ như ở ngoài Bắc mỗi chùa chỉ để lại một Thầy lớn
tuổi trông coi chùa, tự túc sản xuất, còn nếu ai muốn đi tu phải được sự
đồng ý của nhà cầm quyền địa phương; còn trong Nam thuở bấy giờ một chùa
có bao nhiêu Tu sĩ, hoặc đi hành đạo chỗ nầy chỗ kia không bị cấm đoán
nhiều như ngoài Bắc).
Phật Giáo Việt Nam sau những năm
tháng dài, bị thực dân Pháp đô hộ, cố gắng vươn mình lên, củng cố Tăng
đoàn và chấn hưng Phật học. Từ 1954-1963 Phật Giáo tương đối phát triển
tốt đẹp. Nhưng vào thời điểm 1963, chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm đã
đàn áp Phật Giáo một cách trắng trợn, biết bao nhiêu Tăng Ni và Phật Tử đã
hy sinh cho công cuộc đấu tranh nầy, cho đất nước Việt Nam thân yêu đau
khổ nầy. Cuối cùng Phật Giáo đã thắng bạo quyền gia đình trị Ngô Đình Diệm
và tiếng nói chân chính của Phật Giáo Việt Nam đã được nhân dân trong nước
cũng như các phong trào, các đoàn thể và các Tôn Giáo tiến bộ khác trên
thế giới đã hoàn toàn ủng hộ một cách chân thành và Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất được đản sanh. (Chữ Thống Nhất ở đây có nghĩa là
thống nhất cả Tiểu Thừa lẫn Đại Thừa Phật Giáo cũng như các tông phái khác
đã góp phần trong công cuộc tranh đấu chung vào thời kỳ vừa qua).
Từ năm 1963 đến 1975, Phật Giáo
Việt Nam đã góp phần mình cho công cuộc đấu tranh chung của nhân dân, đòi
có tự do dân chủ, có Quốc Hội Lập Hiến, có hòa hợp hòa giải dân tộc thực
sự, kêu gọi hòa bình, ngưng chiến... để cho dân tộc Việt Nam khỏi phải
chịu cảnh đao binh khói lửa nữa. Nhưng độc hại thay chính quyền tham nhũng
Nguyễn Văn Thiệu đã không phục vụ đại đa số quần chúng nhân dân, trong đó
có Phật Giáo và các Tôn Giáo khác, mà chỉ cốt củng cố quyền hành, tham
quan, ô lại, nên vận nước đã giao trọn cho người Cộng Sản sau ngày
30.4.75.
Ở thời điểm nầy biết bao nhiêu
dân tộc trên thế giới đã ca ngợi về sự chiến thắng của dân tộc Việt Nam
đối với người Mỹ, cũng không khác nào năm 1954 mà các dân tộc trên thế
giới đã ca ngợi Việt Nam chiến thắng người Pháp. Nhưng thế giới đã lầm, vì
không sống với người Cộng Sản Việt Nam nên không biết sự lừa bịp của họ.
Họ đã lừa bịp nhân dân trong nước cũng như nhân dân thế giới về những việc
làm tội lỗi của họ. Họ bao giờ cũng huênh hoang tự đắc là chiến thắng
30.4.75 là chiến thắng vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam và lịch sử thế
giới. Sau khi họ chiếm trọn Miền Nam Việt Nam, họ rêu rao nào là có tự do
tôn giáo, tự do tư tưởng, tự do đi lại, tự do hội họp v.v... Nhưng sau một
thời gian làm việc chung với chính quyền Đảng Cộng Sản Việt Nam, tất cả
mọi người dân cũng như các Tôn Giáo khác đã tỏ ra vô cùng chán ngán cho
lối làm việc của người Cộng Sản Miền Bắc và phương cách đối xử với dân
Nam. Giáo Hội Phật Giáo cũng như Công Giáo hay các Tôn Giáo khác có mặt
tại Việt Nam đã ý thức rằng: Đất nước Việt Nam qua bao nhiêu năm chiến
tranh đã tàn phá, bây giờ đã thanh bình, quyền độc lập dân tộc Việt Nam
tạm có, nên Phật Giáo cũng như Công Giáo đã tỏ ra nhiều thiện chí trong
công cuộc đóng góp, xây dựng chung cho xứ sở. Nhưng người Cộng Sản đâu có
muốn thế, họ luôn luôn sợ các thế đối lập trong đó có Phật Giáo và họ luôn
luôn tìm cách đàn áp cũng như họ muốn cái gì cũng chỉ có Đảng mới có quyền
còn nhân dân chỉ là những hình nộm mà thôi.
Sau 3 năm người Cộng Sản cầm
quyền tại Việt Nam kết quả là gì?
Về Tôn Giáo:
Biết bao nhiêu chùa chiền, nhà thờ, thánh thất, tu viện, tượng Phật lộ
thiên... bị đập phá một cách tàn nhẫn và dã man, biến những nơi trang
nghiêm thanh tịnh thành nơi chứa thóc, chứa than, mặc dầu không có đủ thóc
hoặc than để chứa. Biết bao nhiêu Tu sĩ trẻ đã bị trở về đời sống bình
thường, hay bị đi vùng Kinh Tế Mới. Biết bao nhiêu cơ quan văn hóa, giáo
dục, từ thiện, xã hội... đều bị quốc hữu hóa. Các cơ quan ngôn luận, xuất
bản của các Giáo Hội cũng bị tịch thâu. Song song với việc đàn áp nầy,
Chính quyền Đảng Cộng Sản Việt Nam lập ra một phái gọi là "Phật Giáo Yêu
Nước" hòng làm công cụ tay sai cho chính quyền và bên ngoài cốt để khoe
khoang với thế giới rằng Việt Nam cũng có tự do tôn giáo, nhưng đó chỉ là
trò lừa bịp bợm của chính quyền đảng CS, không thể che giấu được lương tri
tiến bộ của nhân dân trong cũng như ngoài nước được. Bên Công Giáo thì
chính quyền đảng CSVN cũng lập ra Hội "Yêu Nước Kính Chúa" để nói láo giùm
cho chính quyền. Trong khi đó những Thượng Tọa, những Linh Mục chân chính
chống lại chính sách cai trị mù quáng có tính cách ngu dân của chính quyền
đảng CSVN đều bị bắt cầm tù hoặc bị thủ tiêu mất tích... Tự do tôn giáo
của CS là thế đó! ...
Về Nhân Dân:
Nhân dân đã bất mãn cùng cực sau ba năm người CS lên cầm quyền tại Việt
Nam, có kẻ đã quyên sinh vì sống không nổi với chế độ độc tài CS, có người
liều mình vượt biển tìm tự do, hàng tháng có cả hơn 10.000 người đến được
đất liền, còn số chết chóc trên biển cả bởi thiên tai thì chưa kể tới...
Số phận của họ rất hẩm hiu, chỉ mong đánh đổi được hai chữ Tự Do, còn tất
cả quê cha đất tổ, bạn bè thân thuộc đều bỏ lại sau lưng.
Về Kinh Tế:
Kế hoạch kinh tế 5 năm của chính
quyền đảng CS đã hoàn toàn thất bại, nạn đói kém càng ngày càng trầm
trọng, nạn thiếu hụt thực phẩm mỗi lúc một lên cao từ xưa đến nay chưa
từng thấy. Miền Nam Việt Nam là một vựa lúa của nhân dân, nhưng bây giờ
những lãnh tụ đầu não của chính quyền đảng CSVN phải đi ăn xin thế giới.
Điều nầy do ai gây nên? Thiên tai hạn hán cũng có, nhưng phần lớn là vì
chính sách chỉ đạo sai lầm của chính quyền đảng CSVN đối với vấn đề nông
nghiệp.
Về Giáo Dục:
Giáo dục của chính quyền đảng CSVN là giáo dục một chiều, họ bắt buộc dân
chúng phải học chủ thuyết Mác-Lénin. Ngoài ra dân chúng không được tham
cứu những sách vở khác. Họ đầu độc con em bằng những chủ thuyết ngoại lai,
mà trước đây Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã từng chống đối.
Ngày xưa Giáo Hội chống đối sự tham nhũng của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu
cũng như sự can thiệp quân sự, kinh tế, lẫn chính trị vào nội bộ Việt Nam,
không có nghĩa là đồng lõa với người Cộng Sản Việt Nam đi làm tay sai cho
Nga hoặc làm bù nhìn cho các chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, hay bất cứ một thế
lực ngoại nhập nào, mà thế lực đó không đi đúng với nguyện vọng của nhân
dân Việt Nam. Dầu là ở bất cứ trên bình diện nào.
Trên đây là tiêu biểu những điều
đã xảy ra tại Việt Nam đối với Phật Giáo - từ quá khứ cho đến hiện tại. Để
kết thúc buổi nói chuyện hôm nay, tôi xin nhấn mạnh điểm nầy với quý vị: "Khi
dân tộc Việt Nam thịnh thì Đạo Phật Việt Nam hưng; khi dân tộc Việt Nam
suy vong thì Đạo Phật Việt Nam cũng chịu chung số phận như thế".
Và tôi hy vọng rằng trong buổi
thảo luận hôm nay chúng ta sẽ đi sâu vào từng chi tiết một và sẽ giải
quyết được nhiều điều thỏa đáng hơn.
( Đặc San Viên Giác Số 1
(Ngày 1.1.1979)
Nguyên nhân Đản Sanh
của Thái Tử Tất Đạt Đa
Ai
trong chúng ta cũng đều biết rằng: Thái Tử Tất Đạt Đa (Siddhattha) con Vua
Tịnh Phạn (Suddhodana) và Hoàng Hậu Maya (Mahà Màyà) ở xứ Ca Tỳ La Vệ
(Kapilavatthu) bên ranh giới nước Ấn Độ thuộc nước Népal ngày nay.
Thái Tử sinh ngày trăng tròn
tháng tư (Vesak) tại vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini) dưới gốc cây Vô Ưu. Khi Thái
Tử sinh ra có nhạc trời chúc tụng, hoa báu rưới khắp mọi nơi nhằm cúng
dường một Đấng Đại Từ, Đại Bi, Đại Trí, Đại Giác vừa xuất hiện ở cõi đời
nầy trong dòng họ Thích Ca (Sakya) để mang lại lợi lạc cho quần sanh.
Năm nay chúng ta kỷ niệm lễ
Đản Sanh của Ngài năm thứ 2523 năm nhưng thật ra đó là chúng ta kể niên
đại nhập Niết Bàn (nirvana) của Ngài. Đúng ra ta phải cộng với 80 năm của
cuộc đời Ngài chúng ta mới có Ngày Đản Sanh của Ngài được. Vậy nói cách
khác năm nay chúng ta đang cử hành lễ Đản Sanh của Thái Tử Tất Đạt Đa
thành năm 2603 năm mới đúng. Sở dĩ Phật Giáo chọn năm Nhập Diệt của Ngài
để cử hành lễ Đản Sanh là vì năm tháng ấy đánh dấu một sự thị hiện của
Ngài tuy đã đi vào trong cảnh yên vui tịch mịch nhưng lời dạy của Ngài vẫn
còn vang dội khắp mười phương pháp giới. Điều đó hẳn đúng vì chúng ta là
những người Phật Tử thực hành theo giáo pháp của Ngài đã chỉ dạy trong
suốt 49 năm hành đạo độ sanh. Ngài đã thuyết rất nhiều kinh điển nhưng
cuối cùng Ngài nói với các đệ tử của Ngài rằng: "Suốt 49 năm hoằng pháp ta
chưa nói một câu nào cả". Vì chúng sanh ở trong cõi đời này đều chấp vào
sự Có và sự Không - đôi lúc còn nhầm lẫn chấp cả sự Không là Có mà sự Có
chấp Không. Còn giáo lý của Phật Giáo là một chân giá trị tuyệt đối, một
bản thể nhất như - không hai mà cũng chẳng ba, không đến cũng không đi,
không tăng cũng không giảm, không có cũng không không. Nếu ai còn chấp vào
sự không và sự có tức là còn vọng tưởng. Còn vọng tưởng tức là còn mê muội
- mà còn mê muội là chúng sanh chứ không phải Phật Thánh. Bởi vậy Đức Phật
có dạy rằng: "Chánh pháp còn phải bỏ thay, huống là phi pháp". Khi đã
chứng đắc đạo quả vô thường giải thoát rồi thì chuyện có chuyện không cũng
không còn bận tâm nữa, huống gì với sự chấp có chấp không. Cũng vì lý do
ấy mà đệ tử của Phật sau nầy kỷ niệm năm Phật nhập Niết Bàn cũng là năm
Đản Sanh của Ngài đều không khác vậy.
Như vậy Đức Phật ra đời để
làm gì?
Câu hỏi tuy giản dị nhưng hàm
chứa nhiều ý nghĩa. Trước tiên ta phải hiểu danh từ Phật là gì đã, sau đó
ta sẽ đi sâu vào nguyên nhân Đản Sanh của Ngài.
PHật là một danh từ chung
dùng để chỉ cho những bậc đã giác ngộ bản tâm và vạn hữu. Tiếng Phạn gọi
là BOUDDHA, tiếng Trung Hoa dịch là "giác giả", dịch sang tiếng Việt Nam
là "kẻ hay người giác ngộ", người giác ngộ là người hiểu biết một cách
sáng suốt gọi là Phật. Phật không phải là một vị Thần hay một vị Chúa tể
của muôn loài có quyền ban ân giáng họa, tạo phước đức cho chúng sanh mà
Phật chỉ là một con người bình thường như bao nhiêu con người bình thường
khác - đi từ địa vị phàm phu đến quả vị tuyệt đối kia sau nhiều năm, nhiều
kiếp tu hành để được giác ngộ.
Trong kinh Pháp Hoa (Sutra)
có dạy rằng: "Tất cả các Đức Phật ở trong ba đời: quá khứ, hiện tại và vị
lai - thị hiện ở trong đời nầy không ngoài mục đích là mở bày cho tất cả
mọi người thấy rõ và đi vào sự thấu hiểu tột cùng của bậc đã giác ngộ" -
(Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến). Như thế chúng ta đã thấy
rằng các Đức Phật ra đời trong đời nầy là vì chúng ta chứ không vì ai khác
nữa. Chúng ta là những con bệnh đang quằn quại trong cuộc đời khổ trược.
Phật như một vị thầy thuốc giỏi muốn đem chân lý, sự sáng suốt chỉ dẫn cho
con người ra khỏi chỗ bùn nhơ nước đọng ấy. Phật ra đời vì lòng thương
chúng sanh như lòng mẹ thương con, như tình thương muốn dập tắt lửa hận
thù.
Trong kinh Tăng Nhứt A Hàm ca
ngợi Thái Tử Tất Đạt Đa lúc Đản Sanh như sau: "Một chúng sanh duy nhất,
một con người phi thường, xuất hiện trong thế gian nầy, vì lợi ích cho
phần đông, vì hạnh phúc của phần đông, vì lòng bi mẫn, vì sự tốt đẹp, vì
lợi ích và hạnh phúc của chư Thiên và nhân loại". Đó cũng là ý nghĩa và
nguyên nhân Đản Sanh của Thái Tử Tất Đạt Đa vậy.
Cũng vì chính lòng thương
chúng sanh ấy mà Ngài đã thị hiện ở cõi Ta Bà (Samsara) nầy, cũng chính vì
lòng thương ấy mà Ngài quyết đoạn tuyệt cuộc đời vương giả, vợ đẹp con
ngoan, lầu vàng điện ngọc để đi vào chốn núi rừng cốt tìm cho được một
chân lý thoát khỏi sinh tử để cứu độ cho sinh linh. Cũng chính vì không
muốn thấy giữa con người đi bóc lột con người, giữa kẻ mạnh đi hà hiếp
người yếu, giữa kẻ có quyền thế đi mua chuộc lợi danh, giữa những kẻ có
oai quyền đi chinh Đông phạt Bắc. Tất cả chỉ vì lòng ham muốn nhỏ mọn của
con người mà ra cả. Vì con người chỉ muốn mình là chúa tể của muôn loài,
mình là trung tâm của vũ trụ. Đối với Đạo Phật hay Đức Phật, con người chỉ
là một hạt cát trong bãi sa mạc mà thôi. Chúng ta sở dĩ có thân nầy vì do
những nguyên nhân đã hợp mà thành, rồi theo ngày đêm năm tháng, những yếu
tố được cấu thành thân thể của con người cũng mai một đi để trở về trạng
thái cũ của nó. Con người bị lạc vào trong đường dữ nhưng không biết lối
ra, bị ở trong nhà lửa nhưng không biết nóng. Lửa si mê, lửa thù hận đang
đốt cháy ngập trời, thiêu rụi cả ba cõi nhưng con người vẫn còn say mê
chưa tỉnh ngộ...
Cũng chính vì thế mà Đức Phật
ra đời, mong muốn đưa con người từ bờ mê sang bến ngộ nhưng có ngộ được
hay không con người phải ý thức ở chính mình và tự mình đi thẳng vào chỗ
ngộ ấy mới mong ngộ được. Còn nếu con người còn ỷ lại nơi chính mình, còn
nương vào những cái giả tạm để làm cứu cánh thì mãi cho đến bao giờ con
người vẫn còn sự khổ cứ triền miên theo bám víu chúng ta. Đức Phật đã bao
năm tháng mòn mỏi đợi chờ; nhưng đàn con dại chúng ta đang còn mãi lặn hụp
trong biển đời ngao ngán. Bồ Tát đã hiểu rõ tâm trạng của chúng sanh nên
có nhiều lần Ngài đã thệ nguyện rằng: "Bao giờ tất cả con người và mọi
loài thành Phật thì Ngài mới thành Phật". Như thế chúng ta đã thấy rằng
các Đức Phật đã vì chúng ta, vì mọi loài mà mong dẫn dắt con người ra khỏi
chỗ mê mờ trở về sự hiểu biết sáng suốt, nhận chân được giá trị của cuộc
đời, của con người đâu là chánh, đâu là tà ...
Tóm lại chúng sanh còn đau
khổ là Phật còn thị hiện. Phật ở trong ta, trong người, ở trên, ở dưới, ở
khắp cõi hư không và mười phương pháp giới. Khi nào tất cả chân tánh của
mọi loài hoàn toàn hiển lộ thì Phật không còn ra đời nữa, vì hạnh nguyện
của các Ngài đã hoàn toàn viên mãn.
Hôm nay chúng ta kỷ niệm Đản
Sanh và nhắc lại ý nghĩa Đản Sanh của Ngài không ngoài mục đích là tự nhắc
nhở chúng ta hãy luôn luôn đi theo chánh đạo và chối bỏ những hận thù tội
lỗi... Ngày nào mà ánh sáng chân lý đều đến với tất cả muôn loài thì Đức
Phật mới hoan hỷ trụ được nơi yên tịnh trong cõi Niết Bàn vậy.
( Đặc San Viên Giác Số 2
(ngày 5.5.1979)
Cách báo hiếu trong Đạo Phật
Xưa
nay trong xã hội loài người đã xuất hiện biết bao nhiêu Tôn Giáo khác nhau
như Bà La Môn, Phật Giáo, Hồi Giáo, Khổng Giáo, Lão Giáo, Thiên Chúa Giáo
v.v... Mục đích của tất cả các Tôn Giáo trên là cốt dìu dắt con người đi
từ chỗ sai lầm đến chỗ hiểu biết, từ bỏ sự mê mờ và quay đầu về bờ giác
ngộ. Tránh tất cả các việc dữ, làm các việc lành, lợi mình và lợi người
vậy...
Mục đích tuy giống nhau,
nhưng phương tiện để đi đến mục đích đó mỗi Tôn Giáo lại chủ trương khác
nhau. Ví dụ như Khổng Giáo chủ trương rằng: một người được sanh ra có bổn
phận phải nối dõi tông đường, sinh con đẻ cái để nối truyền cái gia nghiệp
của Tổ Tiên, nhưng Phật Giáo thì không quan niệm như vậy, vì còn sinh tử
trong cõi luân hồi nầy là còn luân hồi nghiệp báo. Vậy muốn thoát khỏi
cảnh sanh tử luân hồi trong cõi đời nầy, điều cốt yếu là đừng nên tạo
nghiệp tiếp tục nữa, đó là con đường đi đến chân lý giải thoát tuyệt đối
vậy.
Trong các kinh điển nói về
đạo hiếu của con cái đối với cha mẹ hiện tiền cũng như cha mẹ trong những
đời quá vãng rất nhiều và Đức Phật cũng đã nói thật rõ ràng về sự mang
nặng đẻ đau của mẫu thân cũng như công ơn sanh thành dưỡng dục của song
thân từ khi con mới biết sún cơm, bú mớm. Công ơn sanh thành dưỡng dục của
cha mẹ như non cao bể rộng. Ngài có lần dạy cho bốn chúng đệ tử biết rằng:
nếu khi cha mẹ già yếu không có cơm ăn, người con tự lấy dao rạch thịt da
của chính mình để cung phụng nuôi dưỡng cha mẹ. Ấy cũng chưa đền được một
trong muôn ngàn ơn sâu nghĩa trọng. Có người cõng cha mẹ trên hai vai đi
suốt quanh hòn núi Tu Di trong nhiều kiếp cũng chưa đền được chữ hiếu của
mẹ cha. Bởi vậy cho nên Đức Phật thường hay dạy rằng: "Phụ mẫu tại tiền
như Phật tại thế", nghĩa là: "cha mẹ trong đời nầy cũng giống như Phật
đang ở gần chúng ta. Biết kính thờ và hiếu thuận với cha mẹ tức là biết
kính thờ Phật vậy".
Mẩu chuyện Ngài Đại Hiếu Mục
Kiền Liên cứu mẹ đã cho ta một gương sáng nên soi theo đối với những người
theo Phật Giáo. Mẩu chuyện được kể như sau:
"Sau khi Ngài Mục Kiền Liên
đã đắc quả thần thông, liền vận dụng thần thông ấy đi tìm mẹ. Vì mẹ Ngài
đã mất lâu nay nhưng Ngài chưa có cơ hội để quán xét. Cuối cùng Ngài gặp
mẹ Ngài - Bà Mục Thanh Đề đang bị sanh vào kiếp ngạ quỷ (quỷ đói), trên
đầu bà đội một chậu máu, dưới bà bị ngồi trên một bàn chông. Thân thể vô
cùng đau đớn, cơm không có ăn, áo không có mặc, lạnh buốt tận xương tủy.
Ngài Mục Kiền Liên thấy động lòng, nên liền mang cơm đến dâng cho mẹ để
mong mẹ Ngài dùng cho đỡ đói, nhưng nào ngờ đâu cơm kia chưa đưa vào miệng
thì đã hóa thành than lửa rồi mẹ Ngài không thể nào dùng được. Ngài Mục
Kiền Liên càng đau khổ thêm, khóc lóc thảm thiết. Cuối cùng Ngài chẳng có
cách nào hơn là về bạch lên với Phật và mong Ngài giúp đỡ.
Đức Phật chỉ cho Ngài Mục
Kiền Liên thấy rằng: xưa nay bà Mục Thanh Đề lúc còn sống thì bán Phật,
khinh Tăng, không còn tin kính phép luân hồi nhân quả, ưa nhạo báng Phật
Pháp và tạo nhiều ác nghiệp do lòng tham lam của chính bà tự tạo lấy, nên
sau khi thác bà phải chịu khổ sở trong chốn u đồ. Dầu Ngài Mục Kiền Liên
có thần thông đệ nhất trong tất cả môn đồ của Đức Phật, dầu thần thông của
Ngài Mục Kiền Liên đã được các hàng trời, Đế Thích, bốn vị Thiên Vương rất
thán phục, nhưng nếu chỉ một mình thần lực của Ngài Mục Kiền Liên cũng
không thể nào cứu mẹ ra khỏi chốn u minh kia được. Lúc bấy giờ Đức Phật
mới dạy Ngài Mục Kiền Liên rằng: "Nếu ngươi muốn cứu đặng mạng của bà Mục
Thanh Đề thì phải thành tâm và phải nhờ vào thần lực của chư Tăng chú
nguyện trong ngày tự tứ, thì mới mong thoát khỏi. Vì ngày ấy là ngày hoan
hỷ của chư Tăng, ngày mãn hạ và cũng là ngày đầy đủ các bậc cao Tăng hiền
đức từ trong chốn núi rừng cho đến nơi thị tứ cũng đều vui vẻ tụ lại một
nơi để cầu nguyện cho bảy đời cha mẹ được siêu thăng và cho phụ mẫu hiện
tiền được nhiều hồng phước. Những người con hiếu thuận chính ngày ấy nên
sắm các thức ăn, vật dụng, giường nằm, nệm lót, y phục dâng cúng chư Tăng
và sau khi chư Tăng đã thọ thực nhờ đạo cao đức trọng sau 3 tháng an cư
kiết hạ của các bậc cao Tăng hiền đức chú nguyện cho người còn được an lạc
kẻ mất được siêu thăng, chứ một mình ông thì không thể làm được".
Ngài Mục Kiền Liên đã vâng
lời Phật dạy và thực hành theo đúng như sự chỉ giáo của Đức Thế Tôn, nên
cũng chính trong ngày tự tứ của chúng Tăng ấy bà Thanh Đề đã được hóa sanh
về cõi Thiên cung. Sau đó Ngài Mục Kiền Liên thấy việc làm ấy có hiệu quả
nên bạch với Phật và xin Ngài nên đặt để hiệu kinh để sau nầy các chúng đệ
tử tại gia cũng như xuất gia nếu muốn báo hiếu cho cha mẹ thì nên làm theo
như Ngài Mục Kiền Liên để cha mẹ quá vãng được hưởng nhiều lợi phước. Đức
Phật nhận lời và đặt tên kinh là "Báo Hiếu Phụ Mẫu Ân Kinh" và mãi cho đến
bây giờ cứ mỗi năm đến Rằm Tháng Bảy là ngày mà tất cả mọi người con Phật
dầu bất cứ ở nơi đâu, dầu đang làm ăn sinh sống ở đâu cũng đều tụ hội về
lo báo ân phụ mẫu nhân ngày tự tứ của chư Tăng.
Chữ hiếu trong đạo Phật là vậy.
Không những lo cho cha mẹ mình, mà cũng còn có thể hộ niệm và cầu nguyện
cho cha mẹ của người khác cũng được hóa sanh về những cảnh giới an nhàn,
tự tại hơn.
Nhưng đất nước Việt Nam chúng ta
đã trải qua biết bao cơn binh đao khói lửa, ngày thanh bình vẫn không đến,
mặc dầu danh từ thống nhất, độc lập, tự do, dân chủ đã có, nhưng những
người lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam họ đã mang chủ nghĩa vô thần, vô gia
đình, vô quốc gia vào ngự trị trên quê hương ta - một quê hương đã bao đời
chịu ảnh hưởng của Phật Giáo và Nho Giáo, đặt nặng vấn đề chữ hiếu, nhưng
ngày nay người Cộng Sản đã mang chủ nghĩa Mác-Lénin vào để thay thế cho
phong tục, tập quán của người Việt Nam và mang hình ảnh Hồ Chí Minh để
thay đổi vị trí của những bậc Giáo Chủ của những Tôn Giáo lớn. Họ không có
gia đình, ông bà, cha mẹ thì còn đâu để báo hiếu. Họ là những người chỉ có
xác mà không có hồn. Họ là những người bị nô lệ bởi chủ nghĩa duy vật cực
đoan và thiển cận. Nhưng có lẽ một ngày nào đó khi mà nghiệp duyên đã mãn
thì dầu cho bất cứ một chế độ nào, một chủ nghĩa nào mà không thực hành
đúng nguyện vọng của nhân dân thì ắt có ngày sẽ sụp đổ.
Chúng ta là những người Phật Tử,
coi trọng công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ và suốt đời một dạ báo
hiếu cho song thân, hầu đền đáp những ơn thâm nghĩa trọng kia. Bởi thế
người xưa thường nói: "Thiên kinh vạn quyển, hiếu vi đệ nhất". Nghĩa là
dầu cho một ngàn quyển kinh, mười ngàn quyển sách chỉ có chữ hiếu là đứng
đầu.
Mùa Vu Lan năm nay cũng sắp về
nơi hải ngoại cũng như trong quốc nội. Chúng ta hãy chắp tay thắp nén
hương lòng gởi về cố quốc, nhằm cầu nguyện cho những người con đang chịu
nhục nhằn trong ngục tù cộng sản sớm được trao trả tự do và phục hồi nhân
phẩm của họ. Cầu nguyện cho những người đang trốn chế độ cộng sản ra đi
tìm tự do không may chết chìm trên biển cả được cao đăng Phật Quốc. Và cầu
nguyện cho chính chúng ta có đủ can đảm để đấu tranh với người cộng sản
cho đến giai đoạn thắng lợi cuối cùng cho công việc phục hưng Quốc Gia,
Dân Tộc và Đạo Pháp.
( Đặc San Viên Giác Số 3 )
Thiền học
Đại Lão Hòa Thượng Thiền Sư
YOSIOKA TOICHI soạn - nguyên tác "ZEN"
Thích Như Điển dịch từ Nhật ngữ
ra Việt ngữ.
Con
người sống trong xã hội hiện tại hay mong muốn cái gì cũng giống như sự
giáo dục của sự hợp lý chủ nghĩa, nghĩa là dầu cho nỗ lực ít nhưng phải có
kết quả. Do đó ta có thể nghe hỏi rằng: Việc tọa thiền có công dụng như
thế nào?
Sau thời kỳ hậu chiến (1945) các
tôn giáo mới lại xuất hiện nhiều. Đứng về phương diện tôn giáo thì có
nhiều kết quả lợi ích, ví dụ như lễ bái để được lành bệnh... có thể nói
rằng đó là thuộc về quan niệm tôn giáo nguyên thủy.
Thế nhưng sự ngồi thiền ở đây
tôi (tác giả) không cho là một loại thuốc hay.
DOGEN (Đạo Nguyên) Thiền Sư đã
từ Trung Quốc về (Nhật) đến Kyoto mở chùa Hưng Thánh Tự. Tại Trung Quốc
Ngài đã học về Phật Giáo hiện thời. Nhưng nếu có hỏi Ngài đã tu được gì
thì Ngài trả lời rằng: "Được thấy mắt ngang, mũi thẳng và trở về quê bằng
hai tay không". Dưới triều nhà Tống năm thứ 5, Ngài phát hiện ra chuyện
mắt nằm ngang, mũi ngay thì đâu có khác gì chuyện ngày nay như người ta
biết. Vậy thì Ngài chẳng tu học được cái gì, về nước bằng hai tay không
sao?
Thiền không thể nói như một món
hàng bán ngoài quán được. Nếu cứ hỏi chuyện lợi ích của Thiền hoặc giả vẽ
ra mục đích chẳng hạn thì người đó không thể nào tiếp xúc được với bản
chất của Thiền mà cứ đứng quanh quẩn ngoài ngõ Thiền.
Ngài Đạo Nguyên đã cho biết
rằng: "Hãy bỏ danh lợi và lấy đạo tâm". Nếu muốn thành con người tiếng tăm
hoặc đi tìm sự lợi ích cho chính mình thì Thiền là một giới luật nghiêm
khắc không được vào cửa ngõ của Thiền vậy.
Nói vậy nhưng ngồi Thiền không
phải là không có hiệu quả. Thế nhưng không phải vì cái hiệu quả ấy mới
ngồi Thiền. Trong lúc ngồi Thiền cái tự tánh hiển hiện ra, nó khác với cái
hiệu quả trên. Ngồi một chút là thành Phật một chút. Ngồi một thước là
được dạy cho một thước thành Phật. Điều nầy được hiểu là: Nếu có ngồi thì
Phật tánh mới hiển lộ.
Người tu Thiền chơn chính được
gọi là ngồi Thiền "vô sở đắc" lại nữa đó cũng gọi là "Bổn chứng diệu tu"
của sự tọa Thiền.
Ngoài ra, đó không phải là sự
định ước mục đích cho sự tu Thiền mà trong đó phải biết được cái "bản lai
diện hữu" là được đi vào Thiền vậy.
Ngồi Thiền thì phải ngồi cho
đúng cách. Điều chỉnh hơi thở cho đều đặn. Thực hành đúng như vậy thì từ
chỗ hoạt động không bình thường của mũi, ruột, khí quản... ở vị trí không
an định trở thành điều hòa. Ở trong một thời gian nhất định, sau khi đã
thực hành đúng nguyên tắc thì tất cả các cơ năng vận động hợp lý. Người ta
thường nói con người không ăn 2 tháng không sao, nhưng nếu không thở chừng
5 phút thì sẽ bị chết. Khi nội tạng được nằm trong một vị trí điều chỉnh
đứng đắn thì máu lưu thông đều đặn và các tế bào của cơ thể sinh hoạt bình
thường. Điều đó có thể duy trì sức khỏe của con người có hiệu quả.
Nếu thân thể được tráng kiện,
tinh thần an định thì tự nhiên sự phiền não tiêu tan. Ngoại cảnh không thể
phá rối được và các lực bên trong tăng trưởng thuận chiều. Tham, sân bị
mất. Từng ngày, từng khắc có thể sống một cách bình thường.
Thế nhưng, tọa Thiền không phải
là một phương pháp làm cho thân thể khỏe mạnh mà cũng chẳng phải tọa Thiền
để được sống lâu. Ngài Đạo Nguyên 54 tuổi đã quy tịch. Ngài Tổ của Thiền
Lâm Tế (Bạch Ẩn 1685-1768) sống tới 83 tuổi.
Nhưng kẻ tọa Thiền cũng không
thể nghĩ rằng việc sống lâu là sai sự thật. Sống lâu trăm tuổi thành hận
với đời. Nếu trong một ngày không làm được việc gì thì sống trăm tuổi cũng
chẳng lợi gì. Trăm tuổi đối với sự sống của tha nhân là trở thành tự do
vậy. Đó không phải là vấn đề tính toán của toán học mà là vấn đề sống cho
có phương pháp trong một ngày, một khắc.
Tôi (tác giả) đã gần 30 lần thăm
viếng Việt Nam trong lúc chiến tranh. Phật Giáo Việt Nam và Phật Giáo Nhật
Bản đã nỗ lực trong việc giao thiệp với nhau. Có một lúc nọ trước mặt tôi
cả một việc nguy hiểm đã xảy đến, nhưng trong thân tâm tôi chưa bao giờ
nghĩ chuyện nguy hiểm là gì.
Ngẫu nhiên vào năm Showa thứ 48
(1973) ngày mà Hiệp Định Ba Lê được ký kết 27.1.1973 về sự hòa bình của
Việt Nam, tôi đã dùng máy bay Cathay Pacific bay đến Việt Nam và ở tại nhà
của một vị Tỉnh Trưởng tại thành phố miền Trung Việt Nam, Phú Bông.
Khoảng 10 giờ trưa mọi người có
liên quan trong tỉnh đường đều sẵn sàng ứng tiếp. Trong lúc mọi người gặp
gỡ nhau thì đột nhiên ở phía sau dinh tỉnh trưởng khoảng 30 mét các tiếng
đại bác nổ rầm trời. Tiếng súng nổ làm cho ghế cũng bay tung lên được.
Sau khi hỏi kỹ thì được biết
rằng cách đó 5 cây số có một toán đặc công Việt Cộng xuất hiện khoảng 400
người và vì lý do đó nên lính mới nổ súng. Ở xa xa mỗi lúc lại nghe tiếng
pháo nổ, mọi người gương mặt đều dợt dạt, trải dài một thời gian kinh dị.
Thế nhưng đối với tôi lúc đó chả có gì xảy ra cả.
Tỉnh Trưởng nói: "Hòa Thượng
người Nhật coi bộ không sợ hả?". Thế nhưng trong tôi không phải là không
sợ nguy hiểm đó, mà tôi là người trở lại sự hô hấp bình thường trước mọi
người, nên xem tôi có vẻ bình tĩnh như vậy.
Ngồi thiền là một phương pháp an lạc
"Tọa Thiền không phải là tập
Thiền, tuy cái này trở thành một pháp môn an lạc". Điều này ở trong "Phổ
khuyến tọa thiền nghi" đã thuyết như vậy. Ngồi Thiền không phải là sự vui
thích mà cũng chẳng phải là vị trí thức. Ngồi Thiền được gọi là làm cho
rời xa việc khổ não và trụ vào trong một thế giới an lạc, gọi là Thiền.
Sau đây tôi xin nhắc đến cảm
tưởng của những người nhân viên tuổi 20, ngồi Thiền tại đạo tràng của tôi.
"Ngủ dậy lúc 5 giờ. Giờ này
là giờ bao giờ cũng buồn ngủ. Sau đó rửa mặt đi lên Thiền đường. Đây là
ngồi Thiền thứ 2 nên hôm nay ngồi Thiền với phương pháp vô ngôn (không lời
nói) như hôm qua đã được học hỏi. Lưng ngồi thật ngay ngắn. Buổi sáng ở
Thiền đường người ta có thể hít thở không khí tốt thật là sung sướng. Xa
xa nghe tiếng chim kêu vọng lại...". (Lời của một thiếu nữ).
"Chính việc làm của mình
không phải do người khác chỉ bảo mà chính mình phải cảm nhận cái không khí
thoải mái tự nhiên ấy để thăng tiến". (Lời của một thanh niên).
"Tôi đã nói công việc ngồi
Thiền cho cha mẹ của tôi nghe. Sau khi đi ngồi Thiền về, không biết có
phải là tôi đã bị ám ảnh bởi những lời thuyết pháp không nữa nhưng tự
nhiên thấy khó có thể giải thích rằng mọi công chuyện tôi đều làm xong một
cách có thứ tự vui vẻ. Điều lợi ích này tôi mong muốn luôn được giữ mãi".
(Lời của một thanh niên).
Điều này cho thấy rằng mỗi
người ngồi Thiền có mỗi kết quả khác nhau. Ngồi Thiền không phải chỉ một
phương diện mà Thiền sẽ thuận ứng tùy theo thể chất và nhiều phương diện
của từng cá nhân một. Thế nhưng nói chung lại thì quả sự thể nghiệm của
việc ngồi Thiền có thể nói rằng: "trở về với giác ngộ bản thân" vậy. Điều
này có thể gọi là kết quả của một pháp môn an lạc.
Ngài Đạo Nguyên đã nói:
"Người học Phật đạo là kẻ học tu chính mình. Học tu chính mình là điều hòa
ở chính mình. Điều hòa ở chính mình là chứng đắc vạn pháp. Chứng đắc vạn
pháp là chính tự thân tâm của ta và thân tâm của kẻ khác được giải thoát
vậy". (Chánh pháp nhãn tạng, hiện thành công án).
Ngài Đạo Nguyên đã nói việc
học Phật đạo là tọa Thiền. Nếu mà tọa Thiền thì chính mình và tha nhân,
nhân loại được lìa khỏi sự chấp trước mà đạt được sự giác ngộ chân thật.
Điều đó được gọi là một chân lý Đại tự nhiên vậy.
Dạo này khi đêm đến khí trời
nóng nực nhiều người ngủ không được. Lúc muốn ngủ mà không có thể ngủ được
chả phải là điều hạnh phúc. Nếu càng tinh tấn ngồi Thiền thì chuyện khó
ngủ kia trở thành một pháp môn an lạc vậy.
Tại sao mà lại khó ngủ? Tại
vì trong quá khứ đã có bao nhiêu chuyện dồn dập, cứ nghĩ đến chuyện này
chuyện kia, thất bại, thành công... rồi sinh ra mất ngủ.
Một điều nữa là, như trước đã
trình bày, từ cái lòng mong muốn không được đáp ứng cũng sinh ra khó ngủ.
Khi mà còn lo nghĩ nhiều như vậy thì trung khu não bộ phải làm việc nhiều
và sinh ra khó ngủ. "Đại Huê thơ" còn gọi là "Thiên tịch" đã thuật lại
những chuyện như dưới đây.
Đại Huê (1089-1163) Thiền
Tăng đời nhà Tống đã viết rằng: "Việc trong quá khứ không thể nghĩ lường
được hoặc là xấu, hoặc là tốt" và nữa "cái việc của tương lai cũng không
thể đo lường được". Không phải vì cái việc xấu trong quá khứ mà phải viết
lại, cũng chả phải cái việc thiện mà không làm bổn phận, ngoài ra cũng
đừng nên phân biệt tương lai là phải làm như thế này hoặc thế nọ.
Nếu mà như vậy thì phải theo
thế nào mới tốt được? Đại Huê suy nghĩ như sau: "Dầu cho bất cứ trường hợp
nào, công việc tốt hay xấu nếu mà quên nhất tâm niệm thì thời gian đi qua,
nhân duyên lạc mất, như vậy cái lý của sự tự nhiên không thuần ứng được.
Đây là cảnh địa của "Thiền
Định Tam Muội" vậy. Lúc muốn ngủ thì ngủ, muốn thức thì thức.
Takemura Yoshimigi Vệ Môn là
người nổi danh về giàu có mà cũng là một hành giả của đạo Thiền. Ông ta
trong lúc làm việc tại ngân hàng Yasuda đã xảy ra 226 vụ kiện. Giữa đường
gặp lúc đa nan thấy chuyện trước mắt không thành, nhiều chuyện không tốt
đã xảy ra liên tiếp nên ông muốn kiếm món ăn lót dạ, đã cầm quyển sách
Thiền đi vào trong núi.
Ba dặm đầu tiên, trong đầu óc
ông ta đã hiện ra nhiều thứ nhưng đến năm dặm rồi dần dần không còn sức
lực nữa để suy nghĩ, thân tâm cũng mệt lả đi, lúc đi được 6, 7 dặm thì
những bước chân đi không còn ý thức nữa. Quay trở lại nhà, đi tắm một chút
rồi đi ngủ, sáng hôm sau thức dậy trở nên dễ chịu lạ thường. Để kết luận
cho việc này người ta thuật lại là một phương pháp đúng nhất.
Lịch sử thiền
Thiền là một phương pháp tu
hành được phát xuất từ Ấn Độ. Nếu nhìn văn hóa Tây phương thì không có một
thí dụ nào để nói cả.
Thiền tiếng Pali gọi là Dhyana.
Cũng vì chữ mẫu nên cuối cùng được tỉnh lược thành Jhan, nên chữ Hán viết
là Thiền nhưng đọc là Ch'an. Lúc Đức Thích Ca thuyết pháp bằng tiếng bình
dân của người Ấn Độ đúng lúc bấy giờ, ấy là tiếng Pali. Thế nhưng vào thời
cổ đại của xứ Ấn Độ, vì sự phân chia của tôn giáo nên tiếng Sankrit (Phạn
ngữ) được dùng đến nhiều nên Đức Thích Ca cũng đã thuyết bằng tiếng
Sanskrit.
Thiền được gọi là Dhyana. Đây là
hợp chung nội dung tư tưởng của tôn giáo vậy. Tiếng Trung Hoa dịch là "Tự
tánh tu" hoặc là "Tĩnh Lự".
Chữ Thiền được có từ lâu đời
trong văn hóa của Ấn Độ và đó thuộc về kỷ lục của văn hiến. Thế nhưng việc
ngồi Thiền thực tiễn về tôn giáo, đó là Đức Thích Tôn vậy. Trong những
chùa thuộc về Thiền Tông thường thờ 7 Đức Phật trong thời quá khứ trước
Đức Thích Ca và mỗi buổi sáng thường đọc kinh, phụng trì báo ân. Điều này
không phải là ý kiến của Thế Tôn. Mà sau khi Thế Tôn tịch diệt chuyện này
mới xảy ra và văn hóa cổ đại của Ấn Độ bị ảnh hưởng việc trên như là một
chuyện cổ tích.
Sau khi Thế Tôn tịch diệt, Phật
Giáo Ấn Độ đã bao phen hưng thịnh, suy vong. Trong những người tu Thiền,
có kẻ lìa đời sống bình thường đi vào trong núi lập chùa để tu, xa rời đời
sống hiện thật tạo thành những nhóm đệ tử Thiền. Đây được gọi là phái
Thiền tiêu cực và để phản đối khuynh hướng này: Thiền là vì tha nhân chứ
không vì tư kỷ nên phái tích cực đại chúng hóa được đản sanh. Nhóm sau này
về đời hậu lai cũng còn gọi là Đại Thừa Phật Giáo vậy.
Cũng từ sự lưu chuyển này mà Bồ
Đề Đạt Ma (? - 528) đã mang Thiền truyền sang Trung Quốc. Trước Bồ Đề Đạt
Ma là thời kỳ Hậu Hán (25-220) ở tại Trung Hoa Thiền cũng đã được truyền
sang, nhưng làm hiển lộ chân lý Thiền, thực tu, thực chứng về Thiền thì
phải kể bắt đầu từ Bồ Đề Đạt Ma. Kết quả là Thiền được phát sinh từ Ấn Độ
được truyền bá rộng rãi sang Trung Hoa và Thiền được truyền sang Nhật Bản
là Thiền của Trung Quốc chứ không còn phong vị Thiền của Ấn Độ nữa.
Thiền của Trung Quốc từ Bồ Đề
Đạt Ma đến ngũ tổ Hoằng Nhẫn (601-674) thì Thiền được phân chia giáo đoàn.
Những người tin theo tăng nhanh, trước đây những người tu hành trong núi
non bây giờ cũng xuất hiện nơi thị tứ và đã trực tiếp giáo hóa nhân dân
như một việc làm tích cực.
Đạt Ma đến Trung Hoa chừng
khoảng 200 năm sau thì Huệ Năng (638-713) và Thần Tú (606-706) xuất hiện.
Huệ Năng chủ trương đốn tu và ở phía Nam Trung Quốc. Thần Tú thì chủ
trương tiệm ngộ và ở Bắc phương Trung Quốc. Từ đó lãnh vực truyền đạo rộng
rãi. Thiền đầu tiên chia ra làm hai Tông Nam Bắc, giáo lý cũng phân hóa và
người bình dân càng ngày càng theo và tin theo Thiền nhiều hơn.
Thuyết Bắc Tông của Thần Tú
chừng mấy đời sau thì bị mất và Thiền của Huệ Năng càng ngày càng tăng
trưởng nhưng nếu nói theo hệ thống thì Mã Tổ của Hồng Châu Tông, Thần Hội
của Hà Trạch Tông. Dược Sơn và Thạch Đầu của Dược Sơn Tông là những sự bắt
đầu. Cũng đã có chia ra làm nhiều phái nhỏ nhưng đối với địa phương rộng
lớn như Trung Hoa thì không có gì đáng nói.
Trong lúc này vào thời mạt kỳ
của nhà Đường thì Hoài Nhượng (677-744) là thuộc về Thiền Lâm Tế. Quy
Ngưỡng của 2 Tông từ Thanh Nguyên (? - 740) Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn
ba Tông được đản sanh. Ngoài Lâm Tế Tông ra, Hoàng Long, Dương Kỳ hai phái
được chia ra. Sau nhà Tống thì xưng Thiền theo hệ thống "ngũ gia thất
tông" (năm nhà bảy nhánh). Thiền được truyền sang Nhật Bản là thuộc vào
trong lịch sử đó.
Sự thăng tiến của Thiền Nhật Bản
Thiền Nhật Bản được truyền từ
Trung Quốc qua truyện Tây Du Ký với danh tiếng của Đường Tam Tạng đã dạy
cho Đạo Chiếu (629-700). Đạo Chiếu đã dựng chùa Nguyên Hưng và đã dựng nên
Thiền đường tại đó.
Đạo Tuyến (702-760) là Tăng đời
nhà Đường đã đến Nhật Bản năm Thiên Bình thứ 8 (736) Thiền Sư là người
được truyền thừa Thiền phương Bắc của Thần Tú.
Vào sơ kỳ thời Heian, Tối Đăng
sáng lập Thiên Thai Tông (767-822). Thiền Ngưu Đầu cũng được truyền sang
từ Trung Hoa. Thiền được gọi là hiển giáo vì cả sự luận lý đều sáng tỏ để
đối chiếu với thần chú là giáo lý của Mật Giáo, nhưng Thiên Thai Tông của
Trung Quốc cũng ngồi Thiền. Trong lúc ngồi Thiền cũng đã quán pháp thật
tướng.
Sau Tối Đăng là Viên Nhơn
(794-864) và Viên Trân (814-891)... cũng sang học Thiền tại Trung Quốc đã
mang Thiền tích và Thiền pháp về truyền cho Nhật Bản. Hiện tại Thiên Thai
Tông cũng còn ngồi Thiền gọi là Mật Thiền. Nhưng cái này Thiền Tông Trung
Quốc còn gọi là thời kỳ lạm thương vì Thiền ở triều Đường bị gián đoạn và
Thiền được thạnh hành nhất là Thiền dưới đời Tống và Thiền này được truyền
sang Nhật Bản.
Lâm Tế TÔng
Thiền Tông của Nhật Bản có Lâm
Tế Tông đồng một hệ phái với Hoàng Bích Tông. Ẩn Nguyên (1562-1673) là Tổ
khai sáng. Nói cho rõ ràng thì tại Trung Quốc không có gọi Hoàng Bích Tông
là một Tông phái mà Ẩn Nguyên là xuất thân từ Lâm Tế Tông, đã đến Nhật và
mang Thiền vào truyền tại đây.
Ẩn Nguyên đã chạy loạn vào cuối
đời nhà Minh năm Thừa Ứng thứ 3 (1654) cùng với môn đệ khoảng 20 người đã
đến Nagasaki và yết kiến tướng quân Gia Võng. Sau đó họ ở lại Nhật và lập
chùa Vạn Phước Tự. Sự trang trí trong chánh điện, ngôn từ... tất cả đều
ảnh hưởng nhà Minh bên Trung Quốc. Trong thời kỳ bế quan tỏa cảng Nhật Bản
đã sanh ra một giáo phái mới về Thiền.
Những Tu sĩ của Lâm Tế, Tào Động
đã giao thiệp với nhau và tạo nên một môn "Trà Đạo". Sau này văn hóa của
Thiền được đề cập đến luôn.
Tào Động Tông
Vị khai sáng Tào Động Tông là
Ngài Đạo Nguyên (1200-1252), đầu tiên lên núi Bỉ Duệ Sơn tu theo Thiên
Thai Tông. Sau đó thì học Thiền của Minh Toàn, đệ tử của Ngài Dinh Tủy, ở
chùa Lâm Tế Kiến Nhận Tự. Trịnh Ưng năm thứ 2 (1223) cùng với Minh Toàn đã
đến Trung Hoa vào triều nhà Tống. Đến núi Thiên Động Sơn làm học trò của
Như Tịnh, đến năm An Trinh thứ 3 (1228) thì trở về Nhật và sáng lập ra Tào
Động Tông của Nhật Bản.
Ngài Đạo Nguyên đã đưa cao chí
nguyện về Thiền của Ngài Như Tịnh, đã liên kết với các Tông phái khác. Đạo
Nguyên đã liên kết với các nhà quyền thế của quốc gia lúc bấy giờ trong tư
tưởng cực đoan và đã tuyển chọn đất bỏ hoang của dân lập nên chùa Vĩnh
Bình (Eiheiji). Ngài đã cùng những bậc chân tu, hành đạo ở đó. Đứng về
phương diện văn học Ngài Đạo Nguyên rất có tài, đã viết ý chính của Tông
mình vào quyển thứ 95 "Chánh Pháp Nhẫn Tạng". Hoài Hải (720-814) của đời
nhà Đường đã dùng Bách Trượng Thanh Quy và Ngài Đạo Nguyên cũng đã đưa
theo thanh quy này chế ra "Vĩnh Bình Thanh Quy". Vì sự học đạo của kẻ khác
nên Ngài cũng đã soạn ra "Học Đạo Dụng Tâm Tập" và quyển sách này cũng đã
xác định được phương pháp căn bản của giáo đoàn Tào Động.
Ngài Đạo Nguyên mới 54 tuổi đã
viên tịch. Sau đó giáo đoàn một thời đã hỗn loạn. Đời thứ tư là Bảo Sơn
(1268-1325) mới thực hành nguyên lý chỉ đạo của Đạo Nguyên và truyền bá
rộng rãi. Đã dưỡng dục bao nhiêu bậc anh tài và đã xác lập được giáo đoàn
của Tông Tào Động. Sự phát triển giáo đoàn của Bảo Sơn làm cứ điểm ở Tông
Trì Tự tại Năng Đặng. Nhưng vào khoảng cuối thời Minh Trị bị chiến loạn
nên mới dời về Yokohama và đó là trụ sở chính cho đến bây giờ.
Trong các đệ tử của Bảo Sơn có
Nga Sơn, Minh Phùng là những bậc anh tài xuất chúng. Đã có ảnh hưởng rất
lớn trong việc truyền đạo cho toàn nước Nhật.
Tào Động Tông đã phát triển một
cách tột bực vào thời kỳ Giang Hộ (Eido) là do công lao của Nguyệt Chu
(1617-1696). Tào Động Thiền Tăng Ẩn Nguyên dưới triều nhà Minh đã mang một
không khí Thiền mới vào Nhật và chính đây là sự không thay đổi của giáo
đoàn Tào Động Tông.
PHỔ HÓA TÔNG
Trong các Tông Thiền tại Nhật
Bản, ngoài ra còn có Tập Đoàn Hư Vô Tăng của Tông Phổ Hóa nữa. Phổ Hóa (?
- 860) là Tổ của Thiền này, được khai Tông dưới đời nhà Đường. Không dùng
kinh điển, mặc áo trắng, cầm và kiếm ngắn. Họ thổi sáo, tiếng sáo vang dội
khắp nước. Khi thổi như vậy họ điều chỉnh hơi thở. Khi vào cảnh Thiền thì
có Tông Chỉ của Thiền, nên năm Minh Trị thứ 4 (1871) vì đồ chúng tệ hại,
nên Tông này đã bị phế chỉ.
Lâm tế tông và tào động tông
Lâm Tế và Tào Động là 2 Tông
Thiền được truyền sang từ Trung Quốc. Cả hai phái Thiền đều có những sự
khác nhau.
Lâm Tế Thiền còn gọi là Khán
Thoại Thiền. Khi được giao cho một công án thì giải đáp và ngộ đạo từng
nấc thang một (từng bước một) nên còn gọi là "Thiền bậc thang" hay là
"Giai đoạn Thiền".
Tào Động Thiền còn gọi là Mặc
Chiếu Thiền. Đặc biệt không có trao công án, ngồi Thiền và ngộ được Thiền
nên gọi là "Thiền ngồi ngủ" hoặc là có nhiều người xấu miệng cũng gọi là
"Đãi Ngộ Thiền".
Cả hai loại Thiền trên, trong
lúc ngồi Thiền đều được người Sư Trưởng chỉ đạo và giảng nghĩa Thiền cho
đại chúng nghe. Khi vị Sư Trưởng vào phòng thì từng người một được đi vào
phòng và được hỏi đạo từng người.
Các Tông phái của Phật Giáo có
nhiều loại kinh điển khác nhau, gọi là "Giáo tướng phán thích". Từ phái
này có nhiều sự phê phán bình luận phái kia, nhưng 2 phái của Thiền trên
đây ngay cả sự tranh luận giáo lý của giáo học hầu như không có. Thiền
Tông không căn cứ vào kinh điển nhiều nên chuyện luận tranh về giáo lý
không có.
Ngược lại Lâm Tế, Tào Động,
Hoàng Bích khi va chạm với Phổ Hóa Tông thì có nhiều khuynh hướng dị biệt
khác nhau. Các Tông phái càng ngày càng không liên kết chặt chẽ với nhau
mà kể từ khi hậu kỳ của Minh Trị, vì sự xác nhận cơ cấu của từng Tông vụ
một nên đã xảy ra chuyện trên cho đến bây giờ.
Nói một cách tổng quát Lâm Tế
Tông là được truyền vào ở giai tầng cao trong xã hội và việc tu hành
nghiêm ngặt. Còn Tào Động Tông là được truyền cho nhân dân nên việc tu
hành có vẻ dễ chịu.
Nhưng trên thực tế nếu bước vào
đạo tràng của từng Tông một thì cũng không đúng hẳn như điều trên đã
thường hay nghe thấy. Ở Tào Động Thiền, Ngài Đạo Nguyên đã cho thấy rằng:
"Tham Thiền là làm cho thân tâm nhẹ nhàng, phải điều chỉnh hơi thở cũng
như cách ngồi". Gần nhất của việc tọa Thiền là đã được thuyết trong "Chánh
Pháp Nhãn Tạng". Trong "Kim Khoa Ngọc Diệu" của Lâm Tế Tông có chỉ dẫn của
"Bích Nham Lục" và gần nhất là giải thuyết các công án. Điều đương nhiên
là không có sự chối bỏ các công án này. Mà ngược lại Thiền Lâm Tế vào thời
đại Chiêu Hòa của Cự Tượng Kato Canh Sơn đã viết: "Việc xử dụng công án
hay nghĩ đi sẽ nghĩ như thế nào? Công án là làm cho đầu óc phải suy nghĩ".
Những cấp bậc dưới của Thiền Lâm Tế thì phục tùng công án, nhưng những bậc
chỉ đạo thì có người phủ nhận công án.
Lâm Tế Thiền và Tào Động Thiền
sai khác như thế nào? Giữa Khán Thoại Thiền và Mạc Chiếu. Thiền dầu luận
thuyết cho đến đi chăng nữa cũng không hiểu được Thiền, mà trở lại chấp
trước giữa các Tông phái với nhau, bằng chi hơn là hãy thực hành Thiền là
điều quan trọng hơn cả.
THIỀN Và Văn hóa (1)
Gần đây người ta
thường nghe tiếng ngoại quốc gọi DISCOUR JAPAN - Nhật Bản có lẽ phải tự
thấy lại ở chính mình một lần nữa mới phải. Nếu tìm sâu ngọn nguồn văn hóa
của Nhật Bản thì phải cảm nhận rằng có ảnh hưởng của Thiền ở trong đó.
Những người ở gần Kyoto hoặc Kamakura đều được tiếp xúc với Thiền nhiều
nên họ có đầy nhân tính về Thiền. Nếu không nói đến Thiền thì không thể
nói đến sự giáo dục của Nhật Bản được. Nếu nói cho đúng thì quê hương cũ
của tinh thần người Nhật là Đông Dương. Dầu cho có tiếp xúc, học hỏi, ảnh
hưởng văn hóa Tây phương bao nhiêu đi chăng nữa Thiền vẫn được ngấm sâu
vào tận đáy lòng của nhiều người Nhật. Thiền được truyền sang từ Trung
Quốc, nhưng Thiền được hợp với văn hóa đại lục và được truyền sang Nhật
Bản là một văn hóa nguyên lưu. Cách ngồi trầm lặng của người Nhật, cách
chào hỏi cho đến phương cách ăn, uống đều đã được thành lễ nghi là do sự
ảnh hưởng của Thiền được truyền vào Nhật vậy.
Những lễ nghi trong
hiện tại còn sót lại là những lễ nghi đời Kamakura, mà những lễ nghi đó đã
được thời Edo (Giang Hộ) chế định. Đối với việc này Ashiriki ở Tín Châu là
học trò của Thanh Quật (Thiền Tăng người Phúc Châu năm 1326 đã đến Nhật)
đã mời Thầy mình đến Tín Châu mở chùa Khai Thiện Tự và đã thọ lãnh sự chỉ
giáo của Thầy mình về các lễ nghi. Cho đến lúc đó Nhật Bản chưa có tiêu
chuẩn cho việc lễ pháp nào cả. Căn cứ theo uy nghi tác pháp Thiền của Bách
Trượng Thanh Quy mà giai cấp vũ sĩ người Nhật Bản Tiểu Trúc Nguyên Lưu đã
đặt ra thành lập trong thời kỳ Giang Hộ. Mặc dầu sau này có chia ra những
chi nhánh nhỏ nhưng vẫn được xác nhận đặc biệt của lễ nghi tác pháp này.
Ảnh hưởng của Thiền
được bắt đầu từ đời Giang Hộ trong việc tĩnh tọa hay lúc ngủ dậy, rửa mặt,
đi ngủ, ăn cơm, lễ bái v.v... Hơn thế nữa sự sinh hoạt của người Nhật Bản
được gắn liền với Thiền và cũng được thay đổi một ít.
Thiền được gọi là bất
lập văn tự (không dùng đến chữ) hoặc giáo ngoại biệt truyền (không truyền
từ bên ngoài). Trong cảnh sinh hoạt của "Thiền miệng" văn chương khó có
thể biểu hiệu mà những động tác bằng hơi thở, bằng mũi hoặc sự điều hòa
của lưỡi được biểu hiệu nhiều hơn.
Huệ Chiếu ngữ lục
trong "Lâm Tế Lục" có viết như sau:
Tăng hỏi: Đại ý của
Phật Pháp là gì?
Sư đáp: Hãy đưa lưng
đây cho ta đánh.
Đệ tử hỏi đại ý của
Phật Pháp mà Huệ Chiếu đòi lấy gậy để đánh đệ tử, như vậy Thiền không trả
lời những câu hỏi trực tiếp mà những câu hỏi ấy chạy trốn thực tại. Đó
chẳng phải là điều đùa giỡn mà là sự thanh khiết của Thiền vậy.
Trên phương diện lịch
sử văn học thế giới, lối thơ ngắn (Haiku) làm bằng những bài ca của Nhật
Bản có ảnh hưởng của Thiền rất nhiều.
Những Thiền Tăng
Trung Quốc hay làm thơ chữ Hán bằng kiến thức của mình những Thiền Sư Nhật
Bản cũng học những thi kệ này. Những vị Tăng của Thiền Tông lúc chết
thường hay để một lá cờ trước mặt có viết những thi kệ. Đó là những tập
tục còn sót lại cho đến ngày hôm nay.
Tứ ngôn và thất ngôn
tuyệt cú của chữ Hán thật ngắn và được đổi lại bằng những bài đoản ca.
Trước đó Nhật Bản thường có những bài ca trường thơ và định đầu ca, nhưng
những hình thức này đã bị mất từ lúc nào không ai biết được mà chỉ thấy
Haiku là một thể thơ ngắn xuất hiện sau đó trong văn học Nhật Bản mà thôi.
Thiền là biểu hiện cho sự thanh cao và Đoản ca hay Haiku được chồng chất
từng chữ từng chữ lên nhau giống như công phu của những kẻ tu Thiền vậy,
càng ngày càng phải điêu luyện là điều tất yếu quan trọng.
Các Thiền Tăng Đại
Điên và Phật Đảnh chùa Viên Giác đã có nhiều cuộc giao thiệp và có những
câu thơ tuyệt hảo còn sót lại đến ngày hôm nay như sau:
"Ao xưa ếch nhảy
tiếng nước reo"
và Phật Đảnh đã hỏi
lại là:
"Phật Pháp lúc
chưa có thì như thế nào?"
Thiền Tăng Tào Động
Tông cũng vừa là thi nhân như Lương Khoan sau 22 tuổi xuất gia học đạo,
chuyên cần tu thiền và tiếp tục du hành "Vân Thủy Hành Cước", mãi cho đến
ngày nay cũng còn lưu lại nhiều thơ kệ, đoản ca và nhiều danh tác khác.
Con nhỏ dại cầm tay
nhau trên vạn lý,
Chơi ngày Xuân dầu
trời xấu cũng đi.
Đó là những câu thơ
biểu hiện thi cảnh và lòng từ ái của thi nhân. Và đó cũng là tâm hồn của
một Thiền Sư vậy.
Thiền và văn hóa (2)
Chữ "Thiền Tông Tự
Viện" (Zenshũ Jiin) thường dùng nó trùng với âm chữ Tuyền "Zen" là nước
suối. Có nhiều người đã lầm và đã gọi là Tuyền Tông Tự. Từ thí dụ nhỏ này
ta có thể thấy nước là một vấn đề quan trọng có liên hệ mật thiết với chùa
chiền. Có suối nước chảy thì có ao hồ, có nước thì có cây cối mọc. Khi có
cây cối thì vườn tược được thành hình. Đó là những điều kiện tất yếu. Do
đó cho nên trong các chùa Thiền luôn luôn có những vườn cây cảnh. Đó không
phải là tượng trưng cho sự yên lặng nhàn rỗi mà vì từ Thiền nên vườn tược
mới biểu hiệu cho sự tu ấy vậy.
Ngũ Sơn và Thập Sát
của Lâm Tế Tông là những tên để gọi 10 cảnh trong chùa như núi, sông, đá
v.v... Đây là những cảnh Thiền có liên hệ với thiên nhiên.
Chùa chiền của Lâm Tế
Tông có vẻ trang nhã và đẹp trong khi đó chùa của Tào Động Tông thì không
thể so sánh bằng. Điều đó cũng dễ hiểu là Lâm Tế Tông một thời đã nhờ các
tay quyền lực của triều đình Kamakura và Bakkufu, nên việc trang trí trở
nên tráng lệ, còn Tào Động Tông thì ngược lại.
Nữ hoàng Elisabeth đã
thăm viếng chùa Long An Tự ở Kyoto, lúc đến thưởng ngoạn vườn đá của chùa
đã thán phục và khen tặng. Trong lúc Tây phương làm vườn thường hay tính
theo số học, đó là nguyên tắc chánh. Cứ cách 15 hòn đá thì một cây được
trồng, thử hỏi một cái vườn chật bày trí như thế nào mới đẹp mắt?
Những đá nhỏ chắn
giữa đá lớn là cách bày trí của người Đông Phương, theo sự điệu hòa cảm
của họ, ngoài ra không có cách gì hơn nữa nên Nữ Vương đã giật mình là
phải.
Ở trong tập "Tác đình
ký" có ghi như sau: "Đá được sắp theo đá gốc và những cục đá tiếp theo cứ
dựng liên tục mà thành".
Cục đá là vật không
tâm nhưng người tạo dựng nên nó là tượng trưng cho sự tồn tại của tánh
Phật. Do đó cho nên người làm vườn cũng phải có Thiền tâm thì tạo vườn mới
có màu sắc của Thiền.
Trong thư viện hay
trước bàn Phật, sự bày trí họa là một nghệ thuật có từ thời Heian (Bình
An) và đây được xác nhận là ảnh hưởng của Thiền.
Cách cắm hoa và dâng
hoa được biểu hiệu qua sự truyền miệng từ người này qua người khác, nhưng
đó là thiên nhiên tự tánh của Thiền và đó là sự khởi xuất tư tưởng của
Thiền trong hành động vậy.
Đặc biệt trà đạo của
Nhật Bản cũng được phát triển và đó cũng là một chuyển hướng của Thiền.
Ở tại Trung Quốc ngày
xưa tục uống rượu đã trở thành tệ hại nên các Thiền Tăng mới bày ra cách
uống trà và trà là công đức của mọi người. Trà được du nhập vào Nhật thời
Thiền Dinh Tây truyền sang. Thuở bấy giờ cũng có sách viết chỉ dạy cách
uống trà như "Khiết trà dưỡng sinh lý".
Khi khách đến chùa
Thiền thì được mời trà, nhưng trà của các chùa Thiền ở Nhật được mời là
một loại trà bột được cán ra, cho vào trong chén uống với nước đun sôi. Để
thay thế lối uống trà của Trung Hoa được truyền sang từ đời Tống.
Ở Trung Quốc có Bách
Trượng Thanh Quy, ở Nhật có Vĩnh Bình Thanh Quy, Bảo Sơn Thanh Quy. Trong
các sách vở nói về quy luật của các chùa Thiền thường gọi là Tiêu Diệm
Pháp và uống trà là một trong những lễ nghi được định sẵn. Trong Bích Nham
Lục có kể một chuyện như sau:
"Thích Tôn đã dạy như
thế nào?"
Trả lời:
"Hãy dùng trà đi"
Người được nhận trà,
kẻ uống trà là một vị không có gì thay đổi. Đây là trà Thiền nhứt vị (chỉ
một mùi).
Vị Tổ Sư của trà đạo
là Châu Quang đã có viết rằng: "Sức nóng của trà là xuất phát từ Thiền
Tông, trở thành vị Tăng chơn chánh".
Một ly trà là kết hợp
với Thiền, trong gia đình, ngoài xã hội, mỗi sự động tĩnh đều nhờ ảnh
hưởng của Thiền mang đến và đó là điều kiện căn bản của văn hóa Nhật Bản.
DANH TỪ
THIỀN
Trong các
chùa Thiền hay trong các Đạo Tràng thường hay nghe những danh từ lạ. Đó là
những tiếng Trung Hoa đọc âm Nhật, mãi cho đến bây giờ vẫn còn dùng.
Cảnh Sách:
Trong lúc tọa thiền không được ngủ gục, kẻ ngủ gục bị đánh bằng gậy và khi
muốn được đánh để cảnh sách thì phải chắp hai tay lại để yêu cầu.
Hành Bát:
Là việc ăn uống, là được ăn của cúng dường. Công việc làm nghiêm nhặt.
Trong lúc ăn ồn ào hoặc còn để sót lại bị cấm tuyệt đối. Trước và sau khi
ăn phải tụng niệm.
Công Án:
Trong lúc ngồi, Thiền Sư trưởng sẽ cho những Thiền sinh một vấn đề để tự
giải đáp. Lâm Tế Tông hay dùng hình thức này.
Tại Gia:
Tại gia là những tín đồ Phật Giáo ở tại nhà chứ không ở chùa như Tu sĩ.
Tác Vụ:
Trong Thiền Tông chịu ảnh hưởng của Bách Trượng "một ngày không làm một
ngày không ăn", nên rất tôn trọng chuyên làm việc. Ngồi Thiền cũng là một
công việc làm vậy.
Trực Đường:
là nơi Tọa Thiền, tu hành của những người có nhiệm vụ trong việc cảnh
sách.
Xọa Thủ:
Khi tiến đến trước Phật hoặc khi gặp khách hai tay chắp lại gọi là Xọa
Thủ.
Tiểu Tham:
là những vấn đề nghi vấn của người tu hành đem hỏi vị Sư Trưởng nhưng
thông thường được thực hành là sau buổi tụng kinh sáng. Đối nghĩa với Tiểu
Tham có Đại Tham.
Chấn Lịnh:
Lúc ngủ dậy hoặc lúc đi ngủ của kẻ tu hành phải được báo thức, khi nghe
tiếng trống kiểng kêu lên gọi là Chấn Lịnh.
Độc Tham:
Sự tham cầu Phật Pháp của từng cá nhân một đối với vị Sư Trưởng.
Ngư Cổ:
Là cái bảng gỗ có hình cá. Cái mõ cũng có hình cá chạm nổi. Tục truyền
rằng ban đêm cá không ngủ nên người tu không thể thua cá được mà phải tinh
tấn tu hành, nên phải dùng đến tiếng mõ.
Pháp giới
định ấn:
Đó là cách ngồi Thiền hai tay đâu vào nhau như lúc Thế Tôn thành đạo.
Văn Thù Bồ
Tát:
Giữa Thiền đường thường hay để tượng Ngài. Ngài là một vị Thánh Tăng tượng
trưng cho trí tuệ.
Dạ Tọa:
Tọa Thiền lúc ban đêm. Sau khi tọa Thiền là giờ đi ngủ.
Lâm Hãn:
Chỉ cho việc đi tắm. Nhà ăn, chỗ tiểu tiện, mỗi nhà tắm được gọi là "tam
mặc đạo tràng".
THIỀN SINH
Thiền giống như một
trái bom nổ yên lặng. Đã có nhiều người cầu cứu Thiền như là một trạng
thái tinh thần. Có nhiều người đã tìm đến Đạo Tràng của nhiều nơi để ngồi
Thiền.
Thiền không phải chỉ
những người Nhật mới quan tâm mà một phần nữa xã hội Âu Châu cũng như Mỹ
Châu đã tìm đến những Đạo Tràng của Nhật để ngồi Thiền. Họ thực hành việc
ăn uống cực khổ, quét tước, cũng như chịu khổ trong lúc ngồi Thiền v.v...
Ở tại chùa Tổng Trì
Yokohama, các đoàn thể du lịch của ngoại quốc cũng đến ngồi Thiền. Chùa
với một diện tích rộng 15.000 mỲ, cây cối mát mẻ, những Thiền sinh trong
pháp phục màu đen, bước đi trong dáng điệu trầm lặng đã làm cho nhiều
người thán phục.
Chùa Tổng Trì cũng có
khóa Thiền riêng cho Cư Sĩ tại gia. Tính tổng số trung bình cứ 4 tháng là
có khoảng 3.000 người đến tham Thiền.
Thiền Đường là nơi để
người ta ngồi Thiền và kềm chế bớt dục vọng. Không có phân biệt địa vị hay
sang hèn mà ai nấy cũng phải chịu cực khổ về thể xác. Đây thuộc về sự sinh
hoạt nguyện thệ của bản thân và muốn tìm cầu bản tâm an định thì đó là
những sự thật hiển nhiên mà một Thiền sinh phải thực hành vậy. Dẫu giải
thích thế nào đi chăng nữa chuyện trên cũng khó hiểu.
Có những đạo tràng
sau khi Thiền sinh tham gia ngồi Thiền một hoặc hai buổi tối mặc dầu chân
bị đau đớn, nhưng theo kết quả cho thấy thì gần 92% là muốn ngồi Thiền trở
lại. Dẫu cho chân có bị đau đi chăng nữa, nhưng hãy gắng một lần thì sự
đau đớn ấy lại mất đi. Đó là lý luận có tính chất mị lực của sự ngồi
Thiền.
Những Thiền sinh đã
đi đến trước cửa Thiền đường, thì có nhiều sự kỳ vọng ở cá nhân. Điều này
theo sự giải thích của Thiền Tông thì không phải là một điểm sai.
Những sự giáo dục học
đường của xã hội hiện tại, tạo cho con người một khái niệm trừu tượng,
nhưng không làm sao giải đáp được chuyện khổ não của con người cả. Hơn thế
nữa trong xã hội hiện đại được tổ chức theo cơ cấu tập đoàn, nên có nhiều
phần tử cá nhân bị bỏ rơi ngoài tập thể. Do đó cho nên con người sinh ra
nhiều sự khổ não.
Có nhiều trung tâm
nghiên cứu cho biết rằng: "Trong xã hội hiện đại có nhiều chuyện bất an
liên quan đến những việc làm của cá nhân". Đối với việc này, người Nhật
Bản trong hiện tại dẫu cho cá nhân hay đoàn thể cảm thấy chuyện bất an
càng ngày càng gia tăng. 76% cảm thấy tương lai bất an. Gần 60% sống không
có mục tiêu. Đó là kết quả của sự điều tra. Đối với người có tinh thần
vững mạnh thì cảm thấy đời sống an định và hàng ngày sống qua những giây
phút thoải mái nhẹ nhàng.
Tại sao lại có những
chuyện này? hoặc tự hỏi phải làm sao cho hợp lệ, cũng chính từ những chỗ
thắc mắc này đã có nhiều người tự hỏi chính mình và đi tìm học Thiền để
được cởi mở.
Mỗi người đều có cá
tính khác nhau, nhưng không ai là không có sự khổ. Cũng có sự chứng đắc
trong sự sống khổ não, nhưng sự khổ não đó nó không như mình nghĩ rằng nó
thường có trong đời sống hàng ngày, mà sự nghĩ đó phát xuất từ sự ham muốn
của chính mình. Cũng có lắm điều chính mình nghĩ và thực hành theo ý muốn
được, nhưng cũng có lắm điều nghĩ mà trong thế giới đã có biết bao nhiêu
chuyện không thành.
Cũng có nhiều người
chạy trốn sự khổ não, nhưng nếu can đảm đứng hướng mặt về sự khổ thì cuối
cùng sự khổ này cũng tan biến. Đó là cửa ngõ vào Đạo Thiền vậy. Thiền là
một thang thuốc hay để chữa bệnh gầy, làm cho sự tin tưởng trở nên trong
sáng.
Nhiều người bị mệt
mỏi về sự khổ não, do đó cho nên tự chán chính mình. Lắm lúc đứng trước
gương mà cũng không nhận ra mình là ai nữa. Khi còn mạnh khỏe tất cả mọi
việc thuận chiều thì yên tâm, nhưng khi thân thể không ở trạng thái điều
hòa, công việc không song suốt, tình yêu bị dở dang v.v... thì sinh ra
thất vọng chán chường.
Thế nhưng cũng tùy
theo lúc, tùy theo sự thất bại của tình yêu mà thấy lại ở chính mình cũng
có.
Yêu đương là chính ở
mình lại thiếu chuyện đó, nên mới đi tìm cầu ở kẻ khác, thông đồng với
người yêu, nhưng đến một lúc nào đó khi người yêu không còn yêu mình nữa
thì tấm lòng nhiệt tình của kẻ yêu đương cũng bị tuyệt vọng và sinh ra
chuyện bất an, bất tín. Dẫu cho hạnh phúc có mang đến trước mắt cũng không
dám nhận lãnh ánh sáng ấy nữa, vì thương tích yêu đương ngày xưa còn nặng
quá và một lần nữa chính mình lại không muốn nhìn mặt mình.
Tùy theo người đối
diện mà được lòng ta, nhưng nếu tùy theo lòng của kẻ khác thì không phải
là cái chơn thật của ta vậy. Khi mà muốn cầu cứu thì đừng nên cầu bên
ngoài mà hãy tìm cầu ở nơi ta, lúc đó Thiền là nơi phát xuất vậy.
Thiền là phải thấy
chơn thật cái phật tánh của mình
Tâm hồn yên tĩnh
Người tham Thiền nên
có trong tay quyển "Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi" của Ngài Đạo Nguyên. Trong
đó có chỉ phương pháp tọa Thiền, chỉ cách thức điều chỉnh thân tâm và câu
đầu của cuốn sách trên có viết như sau: "muốn ngồi Thiền phải ngồi nơi yên
lặng". Khi ngồi Thiền nên cố gắng tìm nơi cho thật vắng vẻ.
Có một vài Đạo Tràng
có dán bảng yết thị như sau: "Tâm Hồn Yên Lặng". Trong khung cảnh tịch
tịnh có sự tiếp tục trường cửu vĩnh viễn của sức lực. Cái đó là tâm hồn
yên tĩnh vậy.
Điều đó chính thân
mình ngồi và chính mình thấy được mình và tâm hồn của con người là ở chỗ
đó.
Tâm hồn yên lặng là
dừng lại mọi động tác để được thanh tịnh. Hãy đếm hơi thở, ngồi ngay ngắn
và yên lặng thử thì lúc đó, bấy giờ là lúc sống thực và ngày mai sống bằng
các lực ấy. Đó chính là Thiền Định lực.
Những sự lo âu của
thế giới ngày nay càng nhiều. Nào truyền hình, máy phát thanh, báo chí...
đã cho biết rằng sự khổ não của con người còn tăng cao hơn nạn Đại Hồng
Thủy. Hơn thế nữa, nếu càng ngày mà các điều nguy hại của thế giới bên
ngoài không có quan tâm đến thì chả khác nào chúng ta đầu hàng trước trách
nhiệm. Cũng từ những chỗ khủng hoảng đó mà con người tìm về với chính
mình, với chính nội tâm của mình, và bắt đầu từ đó cái tâm thanh tịnh,
trong sạch lại được đản sanh.
Sự khủng hoảng, sợ
hãi càng ngày càng gia tăng thì con người càng ngày càng muốn tâm mình
được giữ ở mức quân bình và phải được sống trong một thế giới an ổn. Ở
trong sự động loạn người ta thường tìm đến sự thanh tịnh, không phải là
việc ấy bây giờ mới có, mà trong quyển "Thái Can Thảo" nói về "Tịnh mà ở
trong tịnh thì không gọi là chơn tịnh. Ở trong sự động loạn mà bản tánh tự
thân được hiện bày, ấy mới gọi là tịnh. Cái sung sướng trong sự sung sướng
không phải là niềm sung sướng, chơn thật, mà ở trong sự khổ chính ta và
tâm ta biết được cái ấy, đó là sự vui chân chính".
Quyển sách trên là
một quyển sách viết về Thiền của Trung Hoa vào đời nhà Minh do Hồng Tú
Thành biên soạn. Đó cũng là một quyển sách trị bệnh về tâm lý của con
người. Nhật Bản từ xưa cũng đã có những sách nói về chuyện này, như cách
đây 400 năm có nhiều sự vui thích tìm hiểu về chuyện "tâm thanh tịnh" như
trên. Nếu nói thời đại nhà Minh là một thời đại ít có về sự khổ, nên mới
phát sinh ra những chuyện ở trên và cho đến ngày nay người ta vẫn lấy đó
làm điểm cơ bản để bàn tính về sự khủng hoảng của thời đại.
Nếu ý nghĩ "Tịnh" có
trong ta thì đương nhiên đối với cái này có ý nghĩa "Động" được phát sanh.
Ngồi Thiền là sự thống nhất ý nghĩ về Tịnh cũng như về Động, phải tập
trung tinh thần, tư tưởng. Bởi thế cho nên sự thống nhất và sự tập trung
tư tưởng là những sự chướng ngại đối với việc ngăn ngừa ngoại giới mà
chúng ta phải làm, để tìm đến điều kiện yên tịnh.
Đúng là khi ta ở nơi
yên tịnh thì tâm ta lắng dịu xuống, thế nhưng mà sự mê vọng chưa phải là
đã dứt hẳn đi, giả thử như có mất đi được trong một thời gian ngắn ngủi
nào đó, khi trở lại với thế giới động loạn thì sự mê vọng kia ưu tiên trở
lại trước với chúng ta. Đó không phải là sự thanh tịnh chơn chính vậy.
Việc tịnh kia được phát xuất từ việc ngồi Thiền nhưng đó không phải là
điểm tối thắng vậy.
Cảnh giới thanh tịnh
chơn thật là trong đời sống hữu hạn của chúng ta, chúng ta không thể chạy
trốn nó, mà 3 cõi trong quá khứ, hiện tại và vị lai trong động đều có tịnh
và Tịnh cũng như Động là một thể "nhất như" chứ không hai.
Tâm hồn thanh tịnh là
tâm hồn không phải chỉ đơn độc được yên lặng đối với sự khủng hoảng của
thế giới bên ngoài, mà cũng không phải là nguyên nhân khởi ra sự động loạn
của đời sống. Nếu mà biết được sự động tịnh này chỉ là một, thì động cũng
không bị mê mà tịnh cũng không bị lầm. Một thế giới mới vô hạn sẽ được
xuất hiện.
Vào khoảng thế kỷ thứ
9, Ngài Nam Tuyền người Trung Hoa đã nói chuyện với Ngài Triệu Châu, còn
ghi lại trong quyển "Vô Môn Quan" như sau:
Chính Triệu Châu là
đệ tử của Nam Tuyền và có lúc Nan Tuyền đã nói với Triệu Châu: Nếu mà đạt
được cái đạo chơn thật không còn chỗ nghi ngờ nữa, thì tròn đầy như mặt
trời và không còn có chỗ không nữa". Lúc Nam Tuyền nói điều đó thì Triệu
Châu ngộ được Đạo Thiền.
Cảnh địa của Thiền nó
lại giống như một sự "KHÔNG" rộng lớn mà không có đáng là gì. Dùng lời nói
hay bằng văn chương không thể nào diễn tả hết được. Thiền cũng chả phải
như thế này mà cũng chả phải như thế kia. Dẫu là những sự thao thức ấy có
lẩn quẩn trong đầu óc chúng ta nữa thì chưa có ai hiểu được Thiền cả.
Đối với kẻ học Thiền,
Ngài Đạo Nguyên đã chỉ vẽ trong "Học Đạo Dụng Tâm Tập" điều thứ nhứt là:
Phật Đạo là việc tất yếu để đi vào nơi thực hành. Dầu cho kẻ ngộ sớm hay
người ngộ trễ, dầu cho sự sai biệt có khác nhau đi chăng nữa thì cũng chả
có gì là thực tiễn hơn điều thứ nhứt mà Ngài Đạo Nguyên đã chỉ dạy.
Tại sao phải ngồi
Thiền?
Trong đời sống
hằng ngày con người ít có cơ hội thực tập Thiền định nên khi ngồi lại thấy
khó chịu, áy náy khi bẻ chân lên hoặc bỏ chân xuống. Có nhiều người thấy
khung cảnh của chùa rất thích, nhưng nếu bảo ngồi Thiền, nhiều người đã
trả lời rằng không. Có người tò mò muốn hỏi thử nguyên nhân tại sao không
thích, có phải là tại không biết ngồi không?
Thật ra khi người Âu
Châu ngồi Thiền mới thấy khổ sở. Vì thường ngày họ hay ngồi trên ghế chứ
không ngồi kiểu người Nhật, nên khó chịu mỗi lúc ngồi, nhưng Thiền cũng
chẳng lệ thuộc vào cách ngồi, vì càng lệ thuộc thì không còn Thiền nữa.
Ngồi nơi yên lặng
Không có chướng ngại
Giữ giới trong sạch
Ăn uống điều hòa
Nơi ngồi thanh tịnh
Đời sống dễ dàng
Đây là một chương
trong Pháp Cú kinh mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã truyền dạy cho chúng ta
đến ngày hôm nay. Điều này cho ta thấy rằng người Đông Phương đã quen cách
ngồi từ cổ chí kim và cũng chính tùy theo từng cách ngồi mà nhiều người đã
chứng được đạo quả. Thế nhưng ngồi Thiền phải ngồi nghiêm chỉnh, ngay ngắn
và cách ngồi phải được qui định bởi một nguyên tắc nhất định bởi người
hướng dẫn.
Trong kinh có dạy "Uy
nghi tức Phật Pháp". Người hành đạo phải chú ý về oai nghi, đó là một hình
thức pháp tướng bên ngoài, nếu mà tự mình lung lạc thì không có giới luật
nào cho phép cả.
Có nhiều người hỏi
rằng : Muốn ngộ được Thiền tại sao phải ngồi?
Trong lịch đợi Thiền
Tông chư vị Tổ Sư khai sáng chưa có một vị nào đã giải thích tại sao phải
ngồi cả. Nhưng mà cũng có thể nói rằng : Những người tham thiền luận đạo
tùy theo cách ngồi của họ, vì họ đã làm theo những tín điều nên họ đã ngộ
đạo. Nếu mà như vậy thì câu hỏi trên được đặt ra không phải là chuyện sai.
Cách đây 2500 năm về
trước Đức Thích Ca đã chứng đạo trên bờ sông Ni Liên là một chi nhánh của
sông Hằng. Ngài ngồi dưới gốc cây Bồ Đề, Thiền định và đã đạt được đạo ở
đó.
Trong niềm tin Tôn
Giáo, những bậc tu hành đã điềm nhiên Thiền tọa, ngồi ngay ngắn, đúng với
sự thực hành của đấng Thích Tôn. Tùy theo từng sự ngồi, mà cũng chính từ
đó Đức Thế Tôn đã chứng đạo và sự ngộ đạo của Đức Thế Tôn được gọi là "cảm
ứng đạo giao". Chỉ có yên lặng mà ngồi là tốt hơn cả.
Thiền không phải là
vấn đề tri thức, không y cứ vào văn tự (chữ), không thể phê phán mà lại
càng không thể giải thích được. Vì chỗ sở cầu nên mới tùy thuận. Do đó nếu
câu hỏi "tại sao phải ngồi Thiền" thì cũng bằng thừa.
Kể từ thời kỳ Minh
Trị duy tân (Meiji ishin - 1868) sự giáo dục học đường của Nhật Bản đều
hấp thụ sự giáo dục của Âu Châu. Sự học vấn hay nền giáo dục là niềm mong
đợi mang lại hạnh phúc cho con người, thế nhưng hạnh phúc tất yếu của con
người không thể y cứ vào vấn đề giáo dục được.
Giáo dục cơ bản của
Nhật đã trở thành chủ nghĩa hợp lý, chủ nghĩa chủ trị. Nếu tôn trọng lý
tánh, cảm tình hoặc bản năng hay kinh nghiệm thì bị phê phán thật nghiêm
khắc. Sự nhận thức trên đây được nảy sinh từ kinh nghiệm của lý tánh và
tiến đến một mục tiêu phản lại Tôn Giáo.
Khoa học càng ngày
càng tiến bộ, văn minh cơ giới ngày càng phát triển, sự sinh hoạt hằng
ngày càng bất an và đời sống tinh thần của con người càng ngày càng trở
nên khô cằn sỏi đá. Nếu con người càng ngày càng dựa vào văn minh của khoa
học thì hạnh phúc chơn thật của con người ngày càng cao bay xa chạy.
Nếu nhận xét một cách
khách quan thì tình thương cũng không được nảy sanh, nếu chỉ dựa trên văn
minh khoa học hiện đại, vì tình thương là một việc không thể giải đáp trọn
nghĩa của nó được. Trong khi đó khoa học cái gì cũng có sự đo lường.
Có nhiều người cho
rằng tình thương là một sự hy sinh, nhưng thực chất của tình thương không
phải là sự hy sinh thế mà khi có tình thương cho kẻ khác thì hay bị phê
phán là "hy sinh". Nếu nói một cách hợp lý thì trong tình thương đó có ít
nhiều mong muốn hy sinh, nhưng tình thương là một sự hy sinh không bờ bến.
Đứng về phương diện
lịch sử, nếu nhìn một cách khách quan về những người theo quan niệm "duy
vật sử quan" thì: dầu cho lịch sử là một việc có thật đi chăng nữa, lịch
sử cũng không thể trốn chạy sự thật được. Dầu cho có phê phán được đi
chăng nữa thì trong vấn đề lịch sử ta cũng không thể lấy ý kiến riêng của
một mình ta mà cái gì của cuộc đời có là nó có.
Cùng với vấn đề trên
ta có thể so sánh với vấn đề của thiên nhiên vạn vật được. Dầu cho thiên
nhiên là những vật được phân tích, hệ thống hóa được đi chăng nữa, sự tạo
dựng lại thiên nhiên vẫn không thể được. Cũng có người cho đó là một việc
phải thiên nhiên hóa, nên phải để ý.
Thiền là sự chống đối
lại cách viết có tính cánh bao quát của chơn lý thuộc về tính cách khách
quan, và xuyên qua việc tọa thiền chúng ta có thể chi phối được vũ trụ một
cách dễ dàng, ấy là chơn lý.
Thiền không biên giới
Ở chương trước đã
trình bày về quyển "Phổ Biến Tọa Thiền Nghi" rằng Thiền không phân biệt kẻ
trí người ngu, kẻ khôn người dại.. mà ngồi Thiền là để hiểu biết (giác
ngộ) ở chính mình. Thiền không chủ trương là kẻ trí mới ngộ mà người ngu
không ngộ. Ngày xưa Ngài Thân Loan Thánh Nhơn (Shinran Schònin) Tổ Sư của
Tịnh Độ Chơn Tông đã nói rằng: không những chỉ kẻ thi thiện mới được vãng
sanh mà kẻ khác cũng được vãng sanh nữa. Trong lãnh vực tôn giáo không
chấp trước giữa chuyện thiện và ác, kẻ có trí người mê muội - mà tất cả
mọi người đều có thể hành trì như nhau cả. Đương nhiên cũng không có
chuyện phân biệt cái này quá đẹp, cái kia quá xấu, con người, quốc tịch...
Cứng rắn quá hoặc dịu
dàng quá, khôn quá hoặc dại quá đối với những trạng thái này người tu hành
từ chối ngay.
Về đời Giang Hộ (Edò)
có một vị Thiền Tăng xuất thân từ hàng thứ dân tên là Nhứt Hưu
(1394-1481). Có một võ sĩ hỏi Ngài rằng: "Thế gian pháp nghĩa là thế nào?"
Ngài trả lời rằng:
"Sống trong cuộc đời, ăn uống, ngủ nghỉ và sau đó là chết".
Cũng có nhiều người
tọa thiền đã thay đổi phong cách và có nhiều người đã bảo kẻ tọa thiền kia
thuộc về loại người "khác thường", nhưng không đó là những sự thay đổi của
con người ở nơi đạo tràng của Thiền vậy.
Bởi thế cho nên chúng
ta có thể nói rằng: Con người hay thay đổi liên tục, kẻ ấy không thể gọi
là Thiền mà những người đang ở trong trạng thái bình thường chính là Thiền
vậy. Trong đời sống hằng ngày thông thường những người ở trạng thái bất
bình thường, thường hay thấy người bình thường trở thành bất bình thường.
Điều ấy đã xảy ra trong những bệnh viện thần kinh, khi người bình thường
hay người thân vào thăm họ, những người bất bình thường đều xem những
người đi thăm họ là những kẻ "dị thường".
Ngày xưa Ngài Nhứt
Hưu nuôi một con Hạc trong chùa và đặt tên cho nó. Một ngày nọ con Hạc
không may chết đi, Thiền Sư làm lễ chôn cất nó như một con người và Thiền
Sư viết những câu liễn điếu con Hạc, ngày nay vẫn còn đó. Ngày nay cũng có
nhiều người thương chó, khi nó chết thường hay mời một vài vị Sư đến tụng
kinh cầu vãng sanh và chôn cất tử tế giống như Thiền Sư Nhứt Hưu vừa nói
trên. Cũng có nhiều người nghĩ Thiền Sư là người "dị thường", nhưng không,
chính những kẻ mà nghĩ điều đó mới là những kẻ "dị thường" vậy.
Ngài Nhứt Hưu cũng
chẳng phải là con người phi phàm, cũng chẳng phải là người thượng căn trí
thức mà cũng chẳng phải là người học giả thông minh. Thiền không chấp nhận
những người không bình thường, nhưng cũng không hẳn hoàn toàn là như vậy,
vì Phật Giáo hay nói đúng hơn là Thiền không công nhận sự toàn trí toàn
năng về sự tồn tại của nó. Trong khi đó ở lãnh vực Tôn Giáo tại Âu Châu
thường hay chủ trương rằng thần thánh là bậc tuyệt đối và con người là kẻ
không hoàn toàn, nên khi nghiên cứu đến Phật Giáo, một tôn giáo không công
nhận có thần linh thì họ cho rằng đó không phải là tôn giáo mà đó chỉ là
Đạo Đức học mà thôi.
Ở trong các chùa
Thiền thường hay có những thời gian để nghiên cứu về việc tu hành của
những vị Tu Sĩ gọi là "an cư". Ở Ấn Độ theo âm lịch vào đầu Tháng Tư là
bắt đầu mưa và cũng vì trời mưa suốt ngày nên những vị Tu Sĩ không thể đi
khất thực được, nên hay nhập cốc, tham thiền, luận đạo suốt trong 3 tháng
trường. Trong lúc an cư kiết hạ những bậc tôn túc thường hay giảng những
nghĩa lý về Thiền. Trong quyển "Bích Nham Lục" thường hay dùng những danh
từ Thiền này.
Ngài Đạt Ma Tổ Sư (?
- 528) lúc đi từ Ấn Độ sang Trung Quốc, bấy giờ gặp đời vua Lương Vũ Đế
trị vì. Vua Vũ Đế đã hỏi Ngài Bồ Đề Đạt Ma như sau:
Thánh đế đệ nhứt
nghĩa là gì?
Đạt ma đáp: Không có
gì là Thánh cả.
Vua hỏi: Vậy đối
trước Trẫm là ai đây?
Đạt Ma đáp: Không
biết - cũng không Vua.
Rồi Đạt Ma qua sông,
đến núi Thiếu Lâm ngồi xây mặt vào vách suốt 9 năm trường.
Ngài Đạt Ma đến Trung
Hoa vào đời nhà Lương (Phổ Thông nguyên niên 520), lúc bấy giờ Vua Vũ Đế
được xưng tụng như Vua Văn Đế đời nhà Tống là những bậc Quốc Vương hộ pháp
đắc lực đối với Phật Pháp. Nên khi gặp Ngài Đạt Ma nhà vua liền hỏi:
Đối với Phật Giáo
việc gì là quan trọng hơn cả?
Đạt Ma trả lời: Chả
có việc gì là quan trọng cả.
Nhà vua lại hỏi tiếp:
Vậy đối trước mặt Trẫm là ai?
Đạt Ma
đáp: không biết.
Đối với
công án (Koan) này là căn bản của Thiền Tông, nhưng cũng có nhiều cách
giải thích. Thế nhưng, Đạt Ma không trả lời hẳn câu hỏi của nhà vua, vì
nhà vua tự biết mình là người thông hiểu và đang bảo hộ Phật Pháp. Đạt Ma
trả lời "không biết" là Đạt Ma muốn phá cái chấp của nhà vua.
Mặc dầu
những người thường hay tu Thiền nhưng nếu không có tiến bộ trong Thiền
thường hay đem chỗ hiểu biết riêng của mình mà giải thích, hoặc người nào
có chuyện gì thất bại thường hay nói theo một lối lý luận suông. Đối với
những người này thì mãi cho đến bao giờ cũng chẳng nếm được hương vị của
Thiền.
Ngược lại
đối với những kẻ chính tự mình làm sai một việc gì mà hiểu được điều đó là
sự lầm lỗi của mình thì kẻ đó tu Thiền lại mau tiến bộ hơn cả.
Thiền - Thực tế của
nó là gì?
Có người nói Thiền là
một tôn giáo, là một tư tưởng, là một triết học v.v... Đó là những câu trả
lời của những người ngoại quốc khi đến Nhật học Thiền. Nếu quý vị là người
đã mở cửa của tâm hồn để đón nhận Thiền vào thì Thiền sẽ đi vào tâm thức
của quý vị vậy. Vì trước cửa Thiền bây giờ chỉ có một mình quý vị. Vì
Thiền không phải là vấn đề để giải thích và lý luận, Thiền là để đạt đến
một cảnh giới giải thoát của tâm linh trong cuộc sống thực tiễn hằng ngày
và làm tròn nhiệm vụ bởi chính mình.
Điều căn bản để học
Thiền là phải có tâm cầu đạo, nghĩa là phải "phát Bồ Đề Tâm". Đó là việc
thượng cầu Bồ Đề hạ hóa chúng sanh - trên thì cầu đạo vô thượng giải
thoát, dưới thì hóa độ sinh linh. Đó là việc thể nguyện với chính bản thân
của mình. Thiền tuyệt đối không phải là một việc khó.
Sơ tâm học đạo
Dầu tốn bao nhiêu
công lao nghiên cứu cũng không thể hiểu được Thiền. Vì Thiền là tự tu tự
chứng bởi chính mình, nên khó có thể giải thích được. Ai cũng có thể hành
Thiền được cả. Thiền không phải chỉ để dành riêng cho những kẻ xuất gia
học đạo mà là cho tất cả mọi người. Trong quyển "Phổ Khuyến Tọa Thiền
Nghi" của Ngài Đạo Nguyên Thiền Sư có viết những bài kinh dành cho những
người sơ tâm học đạo rất dễ hiểu. Từ xưa đến nay những người Phật tử tại
gia đã tu Thiền và đã thành đạt được nhiều kết quả tốt.
Nếu quý vị là những
người có ý muốn tọa Thiền thì đầu tiên nên đến những ngôi chùa Thiền gần
đó để tu Thiền. Nếu ở đó có Thiền Đường thì đương nhiên có người hướng dẫn
và nếu không thì tìm đến những người hướng dẫn ở những chùa gần đó. Có
Thầy hay bạn giỏi chỉ Thiền cho mình càng tốt, nhưng tốt hơn nữa là phải
theo người chỉ đạo chơn chánh, việc Thiền mới có kết quả.
Tham thiền hội
Ở đây có thể giải
thích về tham thiền hội của chư thiện nam tín nữ như sau: Trong những lúc
nghỉ hè, học sinh hay thanh niên thường lợi dụng những thời giờ rảnh ấy để
ngồi thiền tập thể trong những Thiền đường rộng lớn. Đó gọi là hội. Đối
với thanh niên lúc ngồi thiền nên mặc áo cho rộng hay hơn là mặc Âu phục.
Còn nữ giới thì không nên mặc ríp ngắn hoặc đồ bó mình, vì những
thứ này làm trở ngại trong việc ngồi thiền.
Muốn thực hành thiền,
việc chính là phải ngồi thiền. Vấn đề phương thức tọa thiền sẽ giải thích
ở chương sau, nhưng lúc ngồi thiền thì phải có người hướng dẫn mới tốt.
Dầu kẻ mới ngồi cũng
không khác kẻ ngồi lâu là mấy, cũng tùy theo từng chùa thiền nguyên tắc
làm việc khác nhau, nhưng tất cả những việc như ăn cơm, uống nước thì
không có thay đổi gì cả - phải nhất mực hành trì.
Thấy được
sự chết
Thiền Tông
của Nhật Bản (Tào Động Tông) kinh điển được chia ra rõ ràng trong "Tu
Chứng Nghi" (quyển 5) như sau :
Từ quyển
95 của "Chánh Pháp Nhãn Tạng" mà Ngài Tổ khai tông Đạo Nguyên đã chỉ giáo
cho "Bạt Phấn" biên tập. Sau đó vào thời kỳ Minh Trị thì được sửa đổi
thành tiếng thông dụng hơn để thích hợp với thời đại nên Thiền không trực
nhận được một cách trực tiếp mà loại kinh điển của Thiền là dạy cho con
người trở thành sống một cách thân thiện dễ dàng.
Ở trong
chương thứ nhất phần tổng quát của lời nói đầu có dạy như sau: "Việc sanh
tử là đại sự nhân duyên của nhà Phật".
Thiền là
phương pháp để giác ngộ. Sự giác ngộ đó là "biết sự sống và hiểu rõ ràng
sự chết".
Khi con
người sống trong cuộc sống bình thường họ ít có khi nghĩ đến việc "sanh"
hay việc "tử". Đó là một chuyện rất thông thường và dễ hiểu, nhưng nếu có
một chuyện gì trắc trở trong đời sống hằng ngày thì chính họ là tự đặt
những nghi vấn về điều đó.
Ở vào thời
đại Kamakura có Ngài Tăng Minh Huệ thuộc tông Hoa Nghiêm (1173-1232) là
một trong những người đầu tiên đã tuyên dương Thiền của Nhật Bản. Lúc lên
8 tuổi Ngài mất mẹ, sau đó phụ thân của Ngài cũng đã qua đời vì chiến trận
"Nguyên Bình".
Ngài Đạo
Nguyên, Tổ khai sơn của Tào Động Tông, lúc lên 3 tuổi cũng đã mất mẹ và
lúc 8 tuổi lại mất cha. Lúc 13 tuổi thì xuất gia đầu Phật.
Lâm Tế
Tông được truyền bởi Ngài Mộng Song (1275-1351) cũng là một người lúc 4
tuổi đã mất mẹ.
Đa số
những vị được gọi là Cao Tăng Đại Đức, hay được xưng là danh Tăng đều là
những người đã gặp những nghịch cảnh và đã tiếp nhận sự sống cũng như sự
chết trong thuở quá khứ rất nhiều.
Lúc còn có
nhân duyên ở gần bên cha mẹ thì sự liên hệ giữa con cái và cha mẹ được gắn
liền một cách sâu sắc đậm đà và con cái được sự an tâm, nhưng khi người
thân trong gia đình bị mất đi thì cây trụ của tâm linh coi như không còn
nơi nương tựa, nên người còn trẻ trở nên bơ vơ trong cuộc đời. Đó là điều
hiển nhiên mà thiên hạ xưa nay chưa có ai sống ra ngoài cương giới ấy cả.
Tinh thần bị chôn vùi vào trong sự trống rỗng vì họ hoài nghi vì sự chết.
Đó là ảnh hưởng của chư hành vô thường (tất cả những việc làm trong cuộc
đời đều bị biến đổi).
Cho đến
ngày hôm qua cha mẹ đã sống một cuộc đời tươi sáng, nhưng bây giờ thể xác
đã lạnh tanh, dầu cho có kêu to, có la lớn hay có giao động bao nhiêu đi
chăng nữa thể xác ấy vẫn ngoảnh mặt làm ngơ không đáp lại một lời nào. Sự
sống đã mất và đang đối diện với sự chết.
Thiền là
sự hợp lý với việc tiến bộ của khoa học, sự lý luận cũng được rõ ràng và
tuy rằng không giải quyết được sự chết, nhưng nhờ Thiền mà giác ngộ được
phần nào về sự chết đó.
Vậy thì sự
chết nghĩa là như thế nào?
Thiền
không trả lời trực tiếp câu hỏi trên. Nhưng đó là một sự trả lời đúng
nghĩa nhất vậy.
Vậy thì sự
sống nghĩa là gì?
Đối với
Thiền, việc này cũng không trả lời gì cả. Dầu cố gắng giải thích như thế
nào đi chăng nữa. Tất cả những câu trả lời đều sai. Đó cũng là một sự trả
lời vậy.
Nếu nói có
sự trả lời thì các Tu sĩ trong Thiền Tông thường hay chỉ xướng một chữ
"yết" hay "lô" trong bài kinh cuối cùng của nghi lễ tống táng mà thôi.
Ngài Đạo
Nguyên đã thuật lại trong "Chánh Pháp Nhãn Tạng" phần "thân tâm học đạo"
rằng: Cả sự sanh đến sự tử đối với những kẻ phàm phu là điều không thể
biết đến được.
Sanh là gì? Tử là gì?
Đó là một câu hỏi trọng đại, nhưng ở Thiền không trả lời những câu hỏi ấy.
Vậy thì vì lý do gì?
Nếu trả lời trong sự
chấp trước thì có thể bảo như sau: Vì có sự sanh cho nên phải có sự chết.
Vì thế sự sanh tử đối lập với nhau là quan niệm hai chiều. Vì vấn đề của
sự sanh cũng như sự tử không thể lìa ra khỏi nhau được, nên sự tử không
đồng với sự sanh và sự sanh cũng không đồng với sự tử được.
Trước đây có đề cập
đến "Vô Môn Quan" của phép "Đạt Ma an tâm" như sau:
Lúc Ngài Đạt Ma chia
tay với vua Lương Vũ Đế đi qua sông Giang Tử đến chùa Thiếu Lâm ngồi nhìn
và tường suốt chín năm trường. Sau đó thì Huệ Khả (486-593) đã nghe được
Thiền của Đạt Ma nên đã đến gõ cửa chùa Thiếu Lâm, nhưng Đạt Ma đã không
chỉ một điều gì và cũng chẳng nói lời nào với Huệ Khả cả. Huệ Khả đứng
trong tuyết trước hiên chùa Thiếu Lâm suốt cả một đêm đông giá lạnh. Huệ
Khả đột nhiên thấy tâm mình dũng mãnh lạ thường, tự chặt đứt cánh tay trái
của mình, máu chảy loang lỗ trên tay và chỉ cho Đạt Ma và yêu cầu "Ngài
hãy an tâm cho đệ tử". Đạt Ma lớn tiếng bảo rằng "Hãy mang cái tâm lại đây
cho ta", và Huệ Khả tự thấy rằng "Tâm đó không thể tìm mà thấy được". Đạt
Ma bảo "Đó, ta đã an tâm cho ngươi rồi đó".
Sự trả lời kỳ lạ của
Thiền như vậy gọi là một công án. Công án đó, là một tấm gương của chính
tâm mình và đó chính là sự tu hành của Thiền vậy.
Chính Huệ Khả tự mình
chặt tay như thế rất là đau đớn, kể như sự chết gần kề, nhưng Huệ Khả đã
không để ý về việc đó - chuyện sanh và chuyện tử đã gần kề - mà đó là một
sự lưu chuyển về sự sống và sự chết. Đứng về phương diện Phật Pháp mà nói:
Khi nào không còn sanh không còn tử thì đó mới gọi là bất sanh bất diệt.
Thiền không ngộ ở khế
lý
"Tham Đồng Khế" cũng
là những bài học căn bản của Thiền, trong đó có viết "Thiền không ngộ ở
khế lý". "Tham Đồng Khế" là do đệ tử của Thanh Nguyên là Thạch Đầu (? -
790) sáng tác ra. Đó là một loại kinh 5 chữ 14 dòng. Thạch Đầu được xưng
là hiện thân của Phật sống. Một sự tình cờ nào đó mà tượng của Thạch Đầu
được an trí trong bảo vật quán của chùa Tổng Trì.
Xã hội văn minh hiện
đại người ta chỉ tôn trọng qua sự lý luận. Sự lý luận này được phù hợp với
nhu cầu. Sự lý luận là một hình thức bảo thủ của ký ức. Sự thật được biểu
tượng cho dấu O và dấu X.
Ví dụ như Napoléon
mất ngày 5.5.1821 tại đảo Saint Hélène. Nếu giải đáp đúng ngày này thì O,
ngoài ra là X. Thế nhưng không biết có phải thật ngày ấy không? cũng không
biết là có lầm lẫn ngày tháng tại đảo lúc bấy giờ không? Hoặc là sự chết
của Napoléon phải giải thích như thế nào v.v... nhưng nghi vấn và những sự
giải đáp khác như trên đều không được tán thành.
Trong hiện tại, nếu
sự giải đáp ngoài O và X thì không được chấp thuận.
Đó cũng là ảnh hưởng
văn hóa của Thiên Chúa Giáo đối với người Tây phương. Hơn nữa, nếu có vị
thần toàn trí, toàn năng O - thì ngoài vị thần đó ra là X. Đó là ảnh hưởng
của nhất thần giáo vậy. Thế nhưng Phật Giáo là một tôn giáo được phát sinh
từ Ấn Độ và lưu hành ở Á Châu, không công nhận một vị thần tuyệt đối. Bởi
vì thế nên không có chuyện giải thích O hoặc X. Phật Giáo thừa nhận một
thế giới O cũng chẳng phải O mà X cũng chẳng phải X. Không chấp trước vào
một thế giới O và X. Đó gọi là Thiền.
Những Thiền gia từ
thiện đương nhiên phải tụng kinh "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh".
Kinh này được rút ra từ kinh Đại Bát Nhã gồm 600 quyển, còn 262 chữ. Trong
kinh này thuyết về thế giới "KHÔNG" - là một loại kinh trọng yếu của
Thiền.
Kinh này được lược
dịch là Bát Nhã Tâm Kinh - Ngũ Uẩn, Thập Nhị Xứ, Thập Nhị Nhân Duyên
v.v... Là những giáo lý căn bản của Đạo Phật, nhưng phần trọng yếu nhất
phải nói là "Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc".
Không là chữ riêng
của thế giới Thiền, là trào lưu tư tưởng căn bản của Đông Phương.
Ông "Xuyên Đạm Khương
Thành" người Nhật Bản, năm 1968 là người đầu tiên được lãnh giải thưởng
Nobel Hòa Bình. Lúc ông ta giảng cho mọi người nghe về kỷ niệm nhân ngày
nhận thưởng ấy trong quyển "Nước Nhật và Tôi" ông đã dùng một bài
ca của Ngài Đạo Nguyên như sau:
Xuân có hoa
Hạ có nóng
Thu có trăng
Đông có tuyết, băng
...
Đó là ảnh hưởng của
Thiền - là tâm hồn của Trà đạo - là nét họa của Đông Phương. Đó cũng là sự
tiếp xúc với hoa Thung trong sự sinh hoạt hằng ngày của người Nhật mà
trong tác phẩm của tôi (tác giả) đã nói lên được sự kết hợp đó.
Trong cuộc đời này
chẳng có cái gì tuyệt đối cả. Có rồi không, không rồi có. Có của sự có là
không và có là sự phủ định để được đồng nghĩa với sự không. Đó là hai lý
luận đối nghịch với nhau, nhưng qua câu "không tức là có" nghĩa là trong
cái không có cái có vậy. Điều đó chứng tỏ rằng trong cái gì được gọi là
tồn tại cũng đều hàm chứa cái ý nghĩa không cả.
Mà không cũng chẳng
phải là không - không tức là có. Đó là một sự lý luận cực kỳ vi diệu theo
tinh thần Bát Nhã. Trong sự phát minh về số học, người ta gọi số không là
không, nhưng trong phạm vi số học của Ấn Độ thì số không vẫn còn tính đếm
được.
Trong cuộc đời này
người ta thường gọi chỉ có những cái gì có là một sự tồn tại và cái gì
không là cả thế giới này đều không, nhưng thời gian và không gian sẽ vượt
lên trên tất cả thế giới này. Đó là trí tuệ của bậc Giác Ngộ.
Nếu cứ giải thích lẩn
quẩn như thế này thì cũng chưa hiểu gì về Thiền cả. Vì sự giải thích chỉ
là một sự giải thích chứ không phải Thiền. Thiền là thế giới "không cần
đến chữ nghĩa", chữ nghĩa không thể diễn tả được Thiền, vì Thiền là "dĩ
tâm truyền tâm". Tâm này có thể kết hợp với tâm kia, ngoài ra không
thể giải thích được.
Công án của Thiền
được thí dụ như Đức Phật cầm cành hoa sen đưa lên trong pháp hội tại Linh
Thứu Sơn. Ngài cầm cành hoa trên tay và quay ra phía Đại Chúng. Tất cả
những đệ tử của Ngài hiện diện trong Pháp Hội không ai hiểu ý Ngài muốn
nói gì cả, chỉ có Ngài Ca Diếp (một trong 10) Đại Đệ Tử của Phật - và là
Tổ thứ hai) mỉm cười. Đoạn Đức Thế Tôn thụ ký cho Ngài Ca Diếp bằng Chánh
Pháp Nhãn Tạng, bằng Niết Bàn Diệu Tâm, bằng thật tướng vô tướng và vi
diệu pháp môn của Ngài. Không cần đến chữ nghĩa, không truyền từ bên ngoài
và chỉ truyền cho Ngài Ma Ha Ca Diếp.
Bởi vì sự Giác Ngộ
của Thiền không có hình thức cho nên tìm sự lý luận để hiểu được Thiền là
cả một điều khó khăn và hoài công vô ích. Nếu Thiền hiểu được bằng tri
thức thì Thiền ấy chẳng phải là Thiền.
Từ Sơ Tổ Thiền Tông
của Trung Quốc là Bồ Đề Đạt Ma cho đến Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn (601-674) có
nhiều môn đệ giỏi về thi văn như Ngài Thần Tú (606-706) đã làm một bài thơ
như sau:
Thân là gốc Bồ Đề
Tâm là đài gương
sáng
Ngày đêm thường
lau chùi
Bụi trần ai hết
sạch.
Ai ai cũng có Phật
tánh và nếu siêng năng gìn giữ và tu hành nhất mực thì Phật tánh hiển lộ.
Vì lối lý luận hợp lý như vậy, nên mọi người đều cảm thán tài của Thần Tú
Nhưng đồng thời lúc
đó có một người mới lên 3 tuổi đã mất cha, sống trong cảnh nghèo cùng,
không được giáo dục, xin vào chùa làm công quả bửa củi, xay lúa, sàng gạo
để phụng sự Chúng Tăng. Đó là Ngài Huệ Năng (638-713) đã sửa lại bài thơ
trên như sau:
Bồ Đề vốn không gốc
Tâm không một tấm
gương
Trước sau không một
vật
Lấy gì để lau chùi.
Ngài Hoằng Nhẫn (Đệ
Ngũ Tổ) thấy Thần Tú còn chấp ở lý, nên chỉ truyền tâm ấn cho Huệ Năng và
Huệ Năng trở thành Lục Tổ của Thiền Tông Trung Quốc.
Vì Thần Tú còn chấp
vào lý và sự để giải thích sự Giác Ngộ, nên còn đứng bên ngoài Thiền chứ
chưa đạt được tâm Thiền.
Tọa Thiền
Toàn quốc Nhật Bản có
tất cả khoảng 73.000 ngôi chùa Phật Giáo, trong đó Thiền Tông chiếm hơn ¼
tổng số chùa chiền tại xứ Nhật. Nếu đi thăm những chùa thuộc Thiền Tông,
người ta cũng thấy được nhiều tông phái và tông phong tùy theo từng chi
nhánh của Thiền. Cách ngồi Thiền cũng tùy theo từng tông phái mà có sự
khác nhau, nhưng người cầu đạo không nên câu nệ vào hình thức sai biệt đó
thì sự ngồi Thiền mới tinh thục được.
20.000 ngôi chùa
Thiền Tông trong toàn nước Nhật cũng có chùa tọa Thiền nhưng cũng có chùa
không quan tâm đến việc ấy. Thế nhưng, nếu tìm hiểu cho thật kỹ thì chùa
nào thuộc về Thiền vẫn còn phong vị của Thiền. Nếu những hành giả nào có ý
muốn ngồi Thiền thì trước tiên nên tìm hiểu những chùa có ngồi Thiền.
Có chùa có Thiền
đường riêng dùng làm chỗ tọa thiền cho Thiền sinh, nhưng cũng có nhiều
chùa dùng chánh điện để làm chỗ ngồi Thiền. Có nhiều nơi còn dùng đến đạo
tràng để ngồi Thiền nữa.
Trong những chùa
Thiền thường có những phong vị khác hơn những chùa thuộc Mật Tông như
Thiên Thai, Chơn Ngôn, Tịnh Độ, hoặc Tịnh Độ Chơn Tông. Ngoài ra những
chùa Thiền cũng khác với những chùa thuộc tông Pháp Hoa. Chùa Thiền thường
có chánh điện to lớn, trang hoàng đơn giản nhưng thật trang nghiêm. Chùa
nào cũng có vườn cây, mà cây khô lại nhiều. Những người hay bận rộn với
việc thế gian hay bị cuộc đời làm cho khổ não, khi vào chùa tự nhiên thấy
mình khỏe khoắn hẳn lên, tâm hồn được thanh thản như người vừa thoát tục.
Vì lẽ dễ hiểu là chùa luôn luôn trang nghiêm thanh tịnh.
Sự ngồi Thiền xưa nay
cũng có một vài sự biến đổi, nhưng một số nguyên tắc căn bản phải được lưu
giữ. Ví dụ như không được mặc quần đùi hay váy cao vào chánh điện. Lúc đi
phải để hai tay ngang ngực, hay lễ lạy 3 lạy v.v... những người trẻ sinh
ra trong thế hệ này thường thực hành sai rất nhiều những qui tắc trên.
Thiền Lâm Tế và Thiền
Tào Động cũng có rất nhiều sự sai biệt. Ví dụ như nhà vệ sinh Lâm Tế Tông
gọi là "tuyết ấn", Tào Động gọi là "đông ty". Ngay cả cùng
một Tông Lâm Tế nhưng phái Diệu Tâm và phái Kiến Trường tự cũng khác nhau,
nhưng Thiền thuộc Tào Động Tông thì dầu ở đâu cũng ít có sự khác biệt,
nhưng việc này cũng tùy thuộc nơi Sư Trưởng, người chỉ đạo v.v... giải
thích khác nhau về bối cảnh lịch sử của chùa mình.
Thiền Lâm Tế - việc
chính yếu trong lúc ngồi Thiền là nhận Công Án từ vị Thiền Sư. Ví dụ như
Công Án "âm thanh của hai bàn tay". Hai tay hợp lại tạo thành âm
thanh. Nhưng tay mặt tạo thành âm thanh hay tay trái tạo thành âm thanh?
Đó là đề tài bắt buộc Thiền sinh phải giải đáp. Nếu qua được việc này thì
được nhận tiếp những Công Án khác.
Trong Thiền Tào Động
chỉ có một số Thiền Sư cho Công Án như Thiền Lâm Tế, ngoài ra hầu như
không làm như thế.
Khi nào muốn ngồi
Thiền một cách thực sự thì hãy đi đến chùa, tìm vào chánh điện hay Thiền
đường, tập cách ngồi, hoặc giả tìm người hướng dẫn, chỉ cho việc chuẩn bị
ngồi Thiền, như vậy tốt hơn. Khi đã vào trong Thiền đường để ngồi Thiền,
nơi đây thường khác với những sinh hoạt thường ngày trong thế sự, nên dầu
cho có mê hay ngộ đối với việc tọa thiền chơn chánh nó sẽ sinh ra nhiều ấn
tượng tốt.
Thế nhưng sự chuẩn bị
cho tri thức, cũng chỉ là một sự chuẩn bị. Đối với Thiền tri thức chỉ là
một quan niệm tốt chứ không là một sự tu hành chơn chánh.
Lúc đi đến Đạo Tràng
để ngồi Thiền tâm hồn của chính mình không yên tịnh cũng không sao, nhưng
lúc ngồi Thiền phải giữ tâm hồn mình một cách vững chắc mới được. Trong
lúc ngồi Thiền hãy cố gắng giữ những tín điều, hay những nguyên tắc để tâm
hồn mình được yên tịnh. Ngài Đạo Nguyên đã dạy như sau : "Thân mệnh này
là vô thường, nên đem thân ra hành đạo. Vì thế ngay bây giờ phải siêng
năng tinh tấn".
Chỗ để ngồi Thiền
phải là chỗ được xây riêng biệt ngoài chánh điện mới đúng. Ngay giữa Thiền
đường nên thờ tượng Ngài Bồ Tát Văn Thù, tượng trưng cho trí tuệ. Cũng nên
chia ra từng khu nhất định để được riêng biệt. Trường hợp những người mới
sơ tâm cầu đạo không được phép vào Thiền đường một mình. Vị trí của người
mới phát tâm cầu đạo còn nằm ở ngoài Thiền đường. Nếu tu hành đến một
trình độ khả dĩ tiến bộ thì được phép đi vào Thiền đường. Nếu không sẽ bị
cấm chỉ.
Người tu hành lúc ở
trong chùa hay lúc đi lại trong Thiền đường phải để hai tay lên ngực bước
đi một cách yên lặng. Nghĩa là tay trái để lên tay phải và đặt lên trên
ngực. Nếu có người đi trước chỉ dẫn thì dễ nhớ hơn. Nếu ở trong hành lang
của chùa, hay trong phòng gặp Tu sĩ hay người đi lễ bái phải dừng lại,
chắp hai tay khẽ cúi đầu chào.
Lúc đi vào Thiền
đường bắt buộc phải đi phía bên phải bằng chân phải trước. Lúc đi ra cùng
cửa đi vào và đi bằng chân trái trước.
Lúc vào Thiền đường
rồi phải đứng yên một chút, đoạn chắp tay cúi đầu, sau đó cung tay lại,
tiếp tục yên lặng ngồi xuống chỗ ngồi thiền của mình. Đầu tiên phải xá lễ
chỗ ngồi, rồi xoay lại bên trái chỗ ngồi lễ bái người ngồi thiền đối diện.
Làm tất cả những nghi lễ này xong, đoạn quay lại phía bên trái một lần
nữa, ngồi lên trên tọa cụ từ phía bên phải, hạ lưng xuống và điều chỉnh áo
quần, xếp chân lại để ngồi thiền.
Viết bằng câu văn để
diễn tả những việc trên trở nên khó khăn, nhưng thực tế, nếu làm thử thì
không có khó như điều đã viết ở trên.
Phương pháp tọa thiền
Cách ngồi thiền có
hai. Đó là kiết già phu tọa và bán già phu tọa. Người nào ngồi quen với
lối kiết già thì tốt nhưng chân hay bị đau, hoặc giả những người tật
nguyền không ngồi theo lối này được. Ngồi bán già cũng tốt, nhưng nếu nói
ngồi cho đúng phương pháp phải nói là lối ngồi kiết già.
Kiết già phu tọa
nghĩa là: chân phải để trên chân trái và chân trái để trên chân phải, hai
chân phải tréo vào nhau. Bán già phu tọa nghĩa là: chỉ chân trái bỏ lên
mặt là đủ. Nếu hai lòng bàn chân càng để sâu vào chừng nào thì lúc an định
càng mạnh chừng ấy. Hai bắp vế phải tựa sát trên mặt chiếu. Lưng ngồi thật
ngay thẳng. Như thế mới đúng cách ngồi thiền.
Phải chọn những tọa
cụ nào thích hợp với thân thể để ngồi, phải luyện tập nhiều lần thật công
phu, lưng ngồi mới thẳng được một cách tự nhiên. Đầu dừng lại ở thế hơi
cúi xuống một chút. Lỗ mũi và lỗ rốn phải ngay một đường trực tuyến, như
thế khi thở mới tạo được sự điều hòa. Đầu phải giữ cho thật thăng bằng thì
mới tạo được sự hô hấp nhịp nhàng. Hai tay phải vòng lại theo lối Pháp
giới định ấn. Ấn này là ấn lúc Đức Thích Ca thành đạo. Hai tay phải đan
sát vào nhau chỉ có hai ngón tay trỏ là để hở thôi. Đặt lên trên hai bàn
chân và ngay trước lỗ rốn.
Hai môi nên mím lại
đừng cho hở thấy răng không cố gắng tạo thành một sức lực để cưỡng lại
việc trên trong lúc ngồi.
Mắt không được nhắm
nghiền lại, mà cũng không được mở to (nếu nhắm lại là chạy trốn thực
tại, mở to ra lại bị loạn tâm) chỉ được nhìn cảnh trước mặt mình chừng
một mét vào một điểm nhất định nào đó mà thôi.
Với tư thế như trên,
hạ lưng xuống tọa cụ để ngồi, khi thấy thoải mái tự nhiên, giao động qua
lại vài lần từ bên phải qua bên trái cho đến lúc thân thể trở lại vị trí
bình thường. Dầu sao chăng nữa thân thể của những người mới luyện tập lần
đầu cũng cứng cỏi, nhưng nếu xả bỏ tất cả những lực trong toàn thân thể ra
thì tạng phủ trong người trở lại một cách bình thường.
Khi đã điều chỉnh
thân thể rồi, bắt đầu hô hấp, thở ra hít vào một cách yên lặng. Điều này
gọi là "khiến khí nhứt tức", nếu thở 2 hay 3 lần liên tục như vậy,
thấy mình bình thường thoải mái. Điều chỉnh sự hô hấp của chính mình là
vấn đề cần thiết quyết định việc ngồi thiền của mình.
Dáng ngồi của chính
mình, tự mình không thể thấy được, tùy theo từng người có từng cố tật khác
nhau. Có nhiều người cố gắng ngồi đúng cách đi chăng nữa, nhưng cũng có
lắm trường hợp không thể ngồi đúng cách được, phải nhờ người chỉ đạo sửa
giúp mình hay tự chính mình ngồi trước một cái kiếng để kiểm soát thế ngồi
của mình.
Dần dần bắt đầu đi
vào thiền định, nếu lúc ngồi mà đầu óc bứt rứt khó chịu nghĩa là tạp
niệm đã xen vào. Trong đầu óc lúc nào cũng bị những vọng niệm
đến xâm chiếm hết giây này đến phút khác, nếu tìm cách vứt bỏ cái này đi
thì tạp niệm mới khác lại xâm chiếm trở lại, không có lúc nào dừng
nghỉ. Trong khi đó tay chân trở nên đau nhức lạ thường.
Nếu xả bỏ tạp niệm
này bằng sức lực thì tạp niệm khác lại nhẫn nại kéo đến, nếu
tạp niệm sanh đừng cố gắng dập tắt tạp niệm ấy mà hãy giữ những
tạp niệm nguyên như vậy, đến một lúc nào đó tự nhiên tạp niệm
sẽ trở thành một khoảng trống không. Nếu lặp đi lặp lại nhiều lần như
thế này, ấy là việc ngồi thiền cho chính mình vậy.
Chân sẽ bị đau theo
thời gian ngồi lâu hay mau. Sự dứt bỏ tạp niệm đã là việc khó khăn
khổ não, nhưng nó khác hơn sự đau nhức của thân thể. Trong lúc này người
tọa thiền nên nghĩ rằng: "Không phải là ai cũng đang chịu đựng sự khổ
như mình sao? và sự đau đớn của đôi chân không làm cho ta chết được v.v...".
Đó là một phương pháp tập cho mình thật có đầy đủ sức kiên nhẫn trong lúc
ngồi thiền vậy.
Khi tiếng chuông chỉ
tịnh ngân lên, báo hiệu sự ngồi thiền chấm dứt, khi buông xả hai tay hai
chân ra tức là buông xả tâm mình ra. Sự đau nhức của hai chân bao nhiêu
thì lòng tự tín lại trở lại bấy nhiêu. Đây là lúc sức mạnh tinh thần của
mình được xác định lại một lần nữa.
Dầu cố gắng thế nào
đi chăng nữa, nhưng lúc ngồi thiền chân vẫn thấy đau, hai tay chắp lại để
nhờ người đi cảnh sách đánh lên hai vai mình nhiều lần để cảnh tỉnh cái
tâm giãi đãi của mình. Khi được đánh như vậy tâm trở nên yên tịnh lạ
thường. Sự đau đớn của đôi chân cũng tiêu đi một cách nhẹ nhàng kỳ diệu (đây
tuyệt đối không phải là một hình phạt trong Thiền đường, như bao nhiêu
người xem truyền hình thường hay nghĩ vậy, mà chỉ là một phương pháp cảnh
tỉnh chính nội tâm mình khi có vọng niệm xảy đến). Hoặc là yên lặng
đổi thế ngồi của hai chân cho hợp lý cũng không có sao cả.
Cách ngồi thiền này
được gọi là cách ngồi "phi tư lương" - là một yếu thuật vậy. Ngài
Đạo Nguyên đã dạy trong "Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi" như vậy.
Phi tư lương
nghĩa là như thế
nào? Điều đó thật khó giải thích, mà cũng không thể giải thích được nữa.
Nếu giải thích thì không phải là phi tư lương nữa. Phi tư lương
chỉ nghĩa là phi tư lương (ở đây cũng gần đồng nghĩa với chữ: bất
khả thuyết, bất khả tư nghì, bất khả vấn v.v...).
Sự chứng đắc được
thiền không ngoài phương pháp ngồi thiền, những học giả, những vĩ nhân
trong cõi trần này, cái gì cũng biết cả. Biết ai đã nói ra việc đó, ai đã
giảng điều đó, nhưng khi hỏi họ là ai thì họ không hiểu họ là ai cả. Ngồi
thiền không phải là để tìm hiểu tha nhân mà để tìm hiểu chính mình. Và
cũng thế đó - trở về với Phật Giáo là trở về với bản thể chơn tâm của mình
- không tìm cầu bên ngoài, không vọng động, không chấp trước. Chỉ có chơn
tâm là chơn lý bền vững nhất, ngoài ra những cái gì còn được đối đãi trong
thế gian hữu hạn này đều còn bị chi phối bởi luật vô thường của tạo hóa.
Bởi vậy cho nên ngồi thiền không phải là sự nhận xét và phán đoán của tri
thức.
học tập ở chính mình
Càng ngồi thiền nhiều
chừng nào thì những âm thanh của hoài nghi càng nhiều chừng ấy. Ví dụ như
hành giả tự nghi vấn rằng: "Không biết ngồi thiền như thế này có tạo thành
sức mạnh của nội tâm hay không?" hoặc tự hỏi "Không biết phương pháp ngày
xưa như thế bây giờ có hợp với thời đại này không? ...".
Con người trong xã
hội hiện tại hay lý luận bằng tri thức. Vì tri thức còn hoài nghi nên mới
phát sanh như vậy. Nếu chúng ta muốn biết một điều gì thì tri thức lại
thường hay đến trong đầu óc của chúng ta để phán định sự nghi ngờ đó. Vì
bị huấn luyện theo tập quán như vậy, nên con người trong xã hội hiện tại
dầu cho có ngồi thiền bao nhiêu đi chăng nữa cũng không thể đạt được thiền
phần nào cả. Nó sẽ bị trả về với thế giới tri thức một lần nữa, nó sẽ hoài
nghi về việc ngồi thiền. Đây là kết quả của đời sống văn minh vật chất
ngày nay.
Trong những chương
trước cũng đã có nói về lời dạy của Ngài Đạo Nguyên như sau:
"Học Phật Đạo tức là
học ở chính mình, học ở chính mình là học ở bản ngã tự thân. Học được bản
ngã tự thân là chứng được vạn pháp ở trong cuộc đời này.
Nếu chìm lặng trong
bản ngã thì sự tu chứng vạn pháp là sai. Nếu giác ngộ được vạn pháp thì sự
tu chứng của bản ngã là đúng".
Nếu sự nghi ngờ còn
có, vậy việc ấy là gì? Điều này không phải vì ngồi thiền mà có sự nghi ngờ
- ngồi thiền chỉ là một khái niệm, mà nghi ngờ là đối nghịch lại với khái
niệm. Sự nghi ngờ này là một sự mê mờ vậy.
Tri thức có tính cách
khách quan, phổ thông, đại chúng và thông dụng cho mọi người, nhưng điều
đó sẽ bị sa vào hố thẳm. Tri thức không phải là một cố tánh mà lại càng
không phải là quyển bách khoa tự điển, không phải là quyển sách. Vì tri
thức không phát sinh ra trí tuệ được.
Ngài Đạo Nguyên nói
con đường Phật Đạo là sự chơn thật của việc tọa thiền. Tọa thiền được gọi
là tìm thấy tự chính mình. Từ sự tìm thấy ấy sẽ sinh ra trí tuệ. Trí tuệ
không bị biến đổi từ tri thức mà là sự bắt đầu nhận thấy được chính mình
vậy.
Ngồi thiền nhiều bao
nhiêu thì sự nghi ngờ đến bấy nhiêu. Sự nghi ngờ càng đến thì càng sinh ra
cái nghi ngờ khác, và sự ngờ vực đó không bao giờ có thể dập tắt được. Khi
sự nghi ngờ càng gia tăng thì chính thể xác mình cũng bị quên đi. Nếu sông
càng lớn thì sóng càng to chứ không bao giờ nhỏ lại được.
Nếu người bị tri thức
làm chủ thì họ công nhận sự tồn tại về sự khái niệm trong việc ngồi thiền.
Ngồi thiền là một sự suy nghĩ chơn chánh (chánh tư duy), yên lặng và tịch
tĩnh. Ngồi thiền là tự tạo cho mình có một dòng suối mát là tu học ở chính
mình, được thể nghiệm bởi chính mình, là nguyên nhân để tự chứng được vạn
pháp vậy.
Nếu càng muốn giác
ngộ thì càng bị lạc vào trong chốn mê mờ. Chỉ có vậy thôi.
Đệ tử của Ngài Đạo
Nguyên là Hoài Trang đã viết "Chánh Pháp Nhãn Tạng Tùy Thinh Ký" còn sót
lại cho đến ngày nay và trong ấy nói:
"Chứng đắc được là có
thân thể đoan nghiêm, đứng đắn". Ngồi thiền trong đầu không phải là nghĩ
như thế này hay thế kia mà là một sự thể nghiệm của toàn thể thân thể mình
vậy. Toàn thân ở đây không phải là nhục thể mà cả thân lẫn tâm cộng chung
là thân thể vậy. Ngồi thiền không thể nghĩ thân và tâm là hai sự cá biệt
khác nhau mà cả tâm lẫn thân phải đem học đạo. Đó là con đường duy nhất
vậy.
Trong những chùa của
Thiền Tông thỉnh thoảng có thực tập nghiên cứu sự vấn đáp của chính mình.
Cung kính chắp hai tay đứng trước người chỉ đạo và nói những điều nghi ngờ
của chính mình. Ví dụ như câu: "Phật là như thế nào?" hoặc là "Phật có
phải là xa lìa tâm thân không?" v.v... nếu những hành giả của Thiền hỏi
được những câu hỏi như vậy thì hành giả đó được người chỉ đạo khen rằng
tốt.
Một câu niệm, một câu
nghi vấn và chính tự mình phải giải đáp lấy, đó là con đường có thể dẫn
mình đến chân lý của Thiền vậy. Việc này cũng không thể giải thích bằng
lối lý luận được để hiểu một câu có hoặc một câu không. Không có cũng
không không. Vì thân và tâm chỉ là một. Thân và tâm không thể rời khỏi
nhau mà lìa ra sự chấp trước của tri thức. Đó là sự cần thiết tự học hỏi ở
chính mình vậy.
Sự hành trì hằng ngày
Người hay ngồi thiền
không có nghĩa là suốt ngày chỉ biết có việc ngồi thiền, nghĩa là hằng
ngày chỉ có việc lên Thiền đường để ngồi thiền mà thôi mà phải theo những
qui luật năm, tháng, ngày, giờ và tùy theo từng chùa nữa. Đó là đời sống
của Thiền môn vậy.
Tùy theo từng chùa
của Thiền Tông, cũng tùy theo từng phái, từng khu vực khác nhau và từng
mùa, nên cũng có những sự khác nhau đáng kể, nhưng đại để thì cách hành
trì hàng ngày như sau :
4:00 giờ sáng:
thức dậy
4:15 :
ngồi
thiền
5:00 :
tụng
kinh
7:00
:
ăn sáng
8:00:
làm việc
10:00:
giảng kinh
11:30:
thọ trai
14:30:
tụng kinh
16:30:
ăn chiều
17:00:
tắm rửa
20:00:
ngồi thiền
21:00:
ngủ.
Đây là nhật trình
mùa Hạ, còn mùa Đông thì thức dậy lúc 4 giờ 30 phút sáng và có một vài
thay đổi.
Ngoài ra còn có
những công việc Phật sự hằng năm trong những chùa Thiền Tông như sau : Ví
dụ như chùa Tổ đình
Tổng Trì tự (Sooji
ji) ở Yokohama của Tào Động tông:
Ngày mồng Một,
Hai, Ba tháng Giêng là ngày lễ kỳ nguyện đầu năm.
Ngày 26 tháng
giêng là ngày hội Đản Sanh của Đức Cao Tổ.
Ngày mồng 3 tháng
2 là ngày hội tiết phân.
Ngày 15 tháng 2 kỷ
niệm Đức Thích Tôn nhập Niết Bàn.
Từ 17 tháng 3 cho
đến 23 tháng 3 là ngày lễ Bỉ Ngạn (Higan) (lễ Thanh Minh của người Trung
Hoa và Việt Nam).
Ngày mồng 8 tháng
4 là lễ Phật Đản.
Từ 10 tháng 4 đến
16 tháng 4 là lễ báo ân thọ giới hội.
Từ 21 tháng 6 đến
26 tháng 6 là lễ truyền quang hội nhiếp tâm.
Từ mồng Một tháng
7 đến 15 tháng 7 là lễ Vu Lan bồn.
Từ 21 tháng 7 đến
25 tháng 7 là tham thiền hội về mùa Hạ.
Từ 21 tháng 9 đến
26 tháng 9 là lễ Thanh Minh mùa Thu.
Ngày mồng 5 tháng
10 là ngày kỵ của Tổ Bồ Đề Đạt Ma.
Từ 12 tháng 10 đến
15 tháng 10 là ngày kỵ Tổ khai sơn.
Ngày 21 tháng 11
là ngày kỵ giáng sinh của Tổ khai sơn.
Từ mồng 1 đến mồng
8 tháng 12 là lễ Lộ bát tiếp tân hội.
Ngoài những công
việc này ra còn có lễ an cư kiết hạ và an cư kiết đông. Nghĩa là 90 ngày
cấm túc tu hành, và ngày chủ nhật trong mùa an cư là ngày của những người
Phật Tử tại gia đến tham thiền. Vào mùa an cư kiết đông thì những Tu sĩ đi
khất thực trong sự giá rét. Đó là một phương pháp tu hành vậy.
Nếu đúng theo
nghĩa tham thiền thì phải xa lìa tình vợ con, nghĩa phụ mẫu, xuất gia tìm
Thầy học đạo thì mới đúng, nhưng những người còn vợ, còn con, còn bận bịu
với cuộc sống hằng ngày trong kế sinh nhai, còn công ăn việc làm, học hành
chưa dứt thì những kẻ ấy không thể gọi là người xuất gia được.
Mặc dầu không xuất
gia nhưng vẫn có thể tọa thiền và cũng có thể chứng đắc được nếu sống đúng
nghĩa với cách sống của một con người thực tập thiền định.
Những người tại
gia ngồi thiền gọi là Cư sĩ. Ở Ấn Độ có ông Trưởng giả Duy Ma Cật là người
Cư sĩ mà tu cũng chứng được đạo như thường. Bởi vì khắp nơi ông đều có
những bậc thiện tri thức bên cạnh, nên sau khi Duy Ma Cật chứng đắc được
Đạo có tạo ra một loại kinh, gọi là kinh Duy Ma Cật. Duy Ma Cật là một
người tượng trưng trong cõi thế, ở đời nhưng vẫn có thể tu thành Đạo để
cho người đời kim cổ soi chung.
Có nhiều người
không xuất gia, là Cư sĩ nhưng ngộ đạo cũng khá nhiều trong thời kỳ chánh
pháp cũng như tượng pháp.
Những người đã
giới thiệu Thiền cho các xã hội Âu Mỹ ngày nay đều là những Cư sĩ như
Suzuki Daietsu và Oouchi Seilan của Tào Động Tông. Cũng có lắm người làm
nghề nhà hàng ở Tokyo cũng là những Thiền sinh nổi tiếng. Ở tại Pháp có
một người Nhật lúc 51 tuổi ông ta mới xuất gia học đạo, ông ta đã bỏ tất
cả sự nghiệp của đời mình để chuyên môn lo việc Thiền định và ngày nay ông
ta có rất nhiều đệ tử quy y theo để học Đạo.
Thiền không phải
là công việc riêng của người Tu sĩ. Thiền mở cửa tất cả cho những kẻ muốn
tìm cầu. Trong quyển Vô Môn Quan phần mở đầu có viết như sau:
Đại Đạo vô môn -
(con đường lớn không có cửa vào).
Thiên sai biệt -
(có nhiều sự khác nhau).
Môn tú đắc - (Nếu
vào được cửa này).
Càn khôn độc bộ -
(Đi thong thả một mình trong vũ trụ).
Đối với con người,
chỗ nào có cửa ngõ vào bảo rằng khó, nhưng chỗ không có ngõ mà lại vào
được mới là chuyện khó hơn. Nhưng vô môn ở đây không phải là chuyện có cửa
hay không có cửa vào. Bởi thế cho nên Thiền không phân biệt là Cư sĩ hay
Tu sĩ mà mỗi sinh hoạt trong đời sống hằng ngày phải làm như thế nào để
hợp với Thiền, đó là một điều rất cần thiết.
Tâm hồn giống như
bầu trời rộng
Đối với những
người bận rộn thì không bao giờ thấy mình được rảnh rỗi cả. Lúc nào thấy
không có công việc gì nhiều nên đi ra ngoài đồng trống, nhìn lên bầu trời
xanh, hít thở không khí trong lành của thiên nhiên trong sạch ấy thì mới
hay rằng mình đang được sống trong một thế giới có ý nghĩa. Ở đây thiên
nhiên hợp với tâm thiền. Trong kinh Bát Nhã có đoạn "tâm vô quái ngại"
nghĩa là tâm và cảnh không có sự ràng buộc vậy.
Trong "Tín Tâm
Lục" có viết như sau: "Trên dưới không biết là sự không mong muốn. Đây
chính là một sự không vậy".
Nếu ngộ được Thiền
tức là ngộ được cái không. Ấy là nhập và trụ được vào tâm an định. Có
nhiều người nghĩ không là không, và có nhiều người nghĩ không là có một
cái gì đặc biệt của một thế giới khác v.v... Những sự nhận xét đó, tất cả
đều là những sự thấy sai. Có hoặc không, không là điều liên hệ đáng nói mà
sự thật của có và không, không là gì cả.
Không đã là một sự
khó hiểu, mà "cái không lớn" có người lại nghĩ có cái gì đây, nhưng thực
tế "không lớn" ở đây là không có gì cả. Nếu đi tìm cái rỗng không thì bao
giờ cũng rỗng không cả, chứ không có cái cuối cùng của sự rỗng không.
Trong Trí Tâm Lục
có viết: "Không là giống nhau và hợp thành của vũ trụ. Không vọng tưởng
trong sâm la vạn tưởng, không mê hoặc. Ấy là tự mình lấy kiếng soi được
tâm mình vậy".
Trong quyển tiểu
thuyết của Daibutsu Jiro có viết rằng: Gặp thời gặp lúc thì hoa nở rộ. Hoa
nở như không đợi chờ ai. Vì đã đến giờ và đến lúc. Không phải vì sự lưu
tâm xem hoa của kẻ khác, hay vì sự tán thưởng của mọi người mà hoa kia mới
nở. Nhưng hoa nở là vì sự vô tâm, dù cho khi nở cũng như khi rơi.
Thiền là chống lại sự
tạo tác, chê bai việc sửa sang và chủ trương không lập thành văn tự, mà
phải sống cho đúng trạng thái của một con người trong cuộc sống hằng ngày,
không để tóc dài, không trang điểm lòe loẹt. Vì những thứ đó là tự tạo đối
với chính mình. Y phục nên mặc đơn sơ, màu trắng hoặc màu đen thôi. Vì
mang nhiều màu sắc dễ làm cho con người bị mê hoặc. Ăn cũng không nên cho
sót một hạt cơm, giọt nước cũng là công khó của kẻ khác. Dầu hạt cơm hay
giọt nước cũng do công ơn của người khác tạo nên vậy.
Có một nhà báo nọ
muốn tường thuật về việc ngồi thiền nên đã đến chùa Vĩnh Bình để ngồi
thiền và viết như sau:
"Một ngày ba bữa cơm
chay đạm bạc, một hạt cơm, một thỏi khoai cũng không được để sót lại. Hằng
ngày trong cuộc sống bình thường của người thế gian ai hiểu biết và ai đã
thực hành được điều đó".
Con người của xã hội
Âu Mỹ trong hiện tại đang theo đà tiến triển của văn minh vật chất, nhưng
có lần ông Thị Trưởng của thị xã New York đã nói như sau: "Địch của chúng
ta là chúng ta vậy". Vì những thừa thãi trong đời sống sung túc hằng ngày
của họ lại được chế biến lại để họ dùng tiếp tục. Nên chính họ đã thức
tỉnh được điều đó và đã đưa ra những sự cảnh tỉnh như vậy. Điều đó không
phải vì chế độ hay vì chính sách mà chính vì mình không tự học ở chính
mình, không tự học ở chính mình để làm nên ý thức ấy.
Thiền sư Sogen Omori
của Lâm Tế Tông cũng là một nhà kiếm đạo và một nhà thơ đạo, Thiền sư đã
viết: "Tọa thiền là sự tu hành để thân tâm thành một. Ngồi thiền mà cầm
kiếm là kiếm đạo. Ngồi thiền mà cầm bút là thơ đạo vậy".
Nếu mà như vậy thì
quả là đã nhất tâm bất loạn là nông nghiệp thiền chứ chẳng phải là công
nghiệp thiền. Chúng ta cũng có thể nói: khi hướng đến bàn học là học sinh
thiền, và đó cũng là một trong những việc tọa thiền vậy. Tâm hồn mình tự
nhiên vắng lặng như hư không, sống một cách tự nhiên thanh thản trong cuộc
sống hằng ngày.
Trong bài ca của Ngài
Đạo Nguyên có viết như sau: "Trong thế gian này nếu con người không sống
thật với cái chơn tâm của mình thì không thể nào thấy được cái thanh thản
của tâm hồn".
Người sống thật với
chơn tâm tìm cầu trong việc tọa thiền là người đang tìm một tâm hồn yên
tĩnh vậy. Vượt lên trên cả không gian và thời gian, để trở thành một với
sự tự nhiên của vũ trụ đất trời. Tạo thành một thế giới mới cho sự giác
ngộ giải thoát cho muôn loài.
Trong năm qua chúng
tôi đã cố gắng phiên dịch quyển Thiền Học của Đại Lão Hòa Thượng Thiền Sư
Yoshioka Toichi, đến kỳ này tạm chất dứt. Hẹn gặp lại độc giả trong những
lần phiên dịch kỳ tới về Phật Giáo cũng như Thiền của Nhật Bản.
Để đúng với tinh thần
học Phật của chư Tổ sư đã dạy "Thiền Tịnh Song Tu", nên sang năm 1982 mục
Thiền Học sẽ được thay thế bằng Pháp Môn Tịnh Độ hay "Lá Thư Tịnh Độ" của
Ấn Quang Đại Sư để quý Phật Tử xem theo đó mà học hành tu trì.
Thiền và Trà đạo
Trà của Nhật Bản được
truyền sang từ Trung Quốc vào thời đại Nara. Lúc đương thời nhà vua đã mời
100 vị cao tăng vào cung điện để tụng và giảng kinh Đại Bát Nhã cho nhà
vua cũng như triều thần bá quan văn võ. Những vị Sư này đã dùng trà tại đó
và câu chuyện lịch sử này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.
Lúc bấy giờ trà được
gói thành từng gói tròn và bỏ vào trong nước sôi - cho trà ra rồi uống.
Trà này giống như một loại thuốc tốt.
Vào thời kỳ đầu của
thời đại Kamakura vị Thiền Sư Dinh Tây (Eisei) là người đầu tiên đã dạy
cho người Nhật phương pháp dùng trà và sau đó ông Thôn Điền (Murata) mới
chính là Tổ sư của việc dạy người Nhật uống trà với nước sôi.
Ông Murata là đệ tử
của Ngài Nhựt Hưu chùa Đại Đức. Với tài năng nghệ thuật và với tâm hành
Thiền của ông ta cùng hợp lại, ông ta đã tạo được một phương thức thực
hành trà đạo cho đến ngày nay.
Trà mà chúng ta
thường dùng hằng ngày là một nghệ thuật làm thăng hoa cho cuộc sống của
người thế gian cũng như những người xuất thế gian, trà làm cho lục căn trở
nên thanh tịnh. Vì tinh thần của trà đạo là "hòa kỉnh thanh tịnh". Điều
này cũng thật đúng với tinh thần của Thiền.
Theo Ngài Lợi Hưu thì
"sự thực tiễn của trà đạo tức là con đường thâm cứu về chư Phật và chư Tổ
sư trong quá khứ".
Theo chủ trương của
Ngài Lợi Hưu thì đó là một tâm hồn thoát tục, một ý niệm có tính cách quý
trọng sự cao đẹp trong cuộc sống căn bản hằng ngày.
Từ thời đại Kamakura
cho đến giữa thời ấy, có cả hơn 100 Tăng sĩ giữa hai nước Nhật Bản và
triều Tống của Trung Hoa qua lại với nhau. Sau khi Phật Giáo được truyền
vào Nhật chừng một thế kỷ thì dân chúng của Nhật Bản tin theo Thiền Học
càng ngày càng đông và từ đó khắp nơi trên đất Nhật, nơi nào những chùa
Thiền cũng được dựng lên và bắt đầu hình thành một nét đặc thù về văn hóa
của Nhật Bản. Dưới triều đại Mạc Phủ (Bakkufu) người ta thường hay nói đến
văn hóa Chí Đinh và văn hóa Đông Sơn, nhưng phải thành thật mà nói trọng
tâm của những văn hóa này vẫn là tinh thần của Thiền Học. Vì Thiền Tông
không phải là một tông phái chỉ biết lễ bái những tượng Phật, mà mục đích
của Thiền là phải tự ngộ lấy ở chính mình, do đó, việc kiến trúc chùa
chiền cho đẹp đẽ, hay tô tượng cho tráng lệ đều không phải thuộc về Thiền.
Thiền được thấy như là một phương pháp thực tiễn mà trong đó có tính cách
tự do rất nhiều. Đây cũng là tính cách rất đặc biệt về văn hóa của Thiền.
Thơ
đạo
Người bình dân thường
gọi chữ viết là "bút tích", nhưng chữ viết của Thiền Tăng gọi là "mặc
tích". Những mặc tích này vẫn còn lưu lại cho đến ngày nay như: Ẩn khả
trạng, Dịch Cô kệ, Di kệ ... nói về sự liên hệ giữa Thầy trò môn đệ và
Thanh Quy của chế độ Thiền Viện, liên hệ đến việc hành trì và những bài
thơ kệ ngâm vịnh trong chùa đều là những mặc tích.
Sự đặc thù của mặc
tích được suy nghĩ như là "văn tự của những Thiền Tăng là những con người
thật". Lại nữa, mặc tích biểu hiện được cá tính tự do thô lỗ và phóng đại
trên nét chữ của Thiền Tăng. Đó cũng là truyền thống cách họa chữ được
phát hiện.
Với cuộc sống tu hành
nghiêm nhặt và dạt dào của một Thiền Tăng được biểu hiện trên nét chữ của
họ, nếu người sơ tâm học đạo khó có thể hiểu được sự nhiệm mầu này.
Mặc tích nổi tiếng
tại Nhật là của Ngài Nhứt Sơn viết về "lục tổ kệ" trên giấy cảo, của Ngài
Đại Tăng Quốc Sư bài "Kệ Đảnh" và của Ngài Bạch Ơn bài "Tử Tự" là những
mặc tích nổi danh còn sót lại cho đến ngày nay.
(
Đặc San Viên Giác số 5 - Bộ mới số 6
(Tháng 8. 1980 - tháng 12.1981 )
Vai trò của Phật Giáo đối
với văn hóa
Hôm
nay chúng tôi xin hân hạnh được trình bày với quý vị một đề tài, mà có lẽ
ai trong chúng ta cũng hằng lưu tâm đến. Đó là "Vai Trò của Phật Giáo đối
với Văn Hóa" trong sự phát triển cũng như sự tồn tại của Phật Giáo suốt
gần 26 thế kỷ qua trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam nói riêng và lịch sử
thế giới nói chung.
Trước hết và trên hết chúng ta
nên hiểu rõ ý nghĩa của những danh từ trên đây với những chức năng của nó
cũng như sự liên hệ của Phật Giáo đối với văn hóa của một dân tộc như thế
nào, để từ đó chúng ta có thể đi đến kết luận dễ dàng và cụ thể hơn.
Phật Giáo ở đây được hiểu như
là: Những điều dạy dỗ của một bậc giác ngộ hoàn toàn chơn lý ở trong và
ngoài thế gian này về vấn đề luân lý, đạo đức, giáo dục, triết lý, khoa
học, giới luật, kinh điển. Một giáo lý của một bậc đã hoàn toàn giác ngộ,
hiểu thấu trong quá khứ, hiện tại và vị lai, đem dạy bảo lại cho chúng
sanh trong nhiều đời, nhiều kiếp, được gọi là Phật Giáo.
Văn hóa được định nghĩa là:
Những gì thuộc về văn minh, văn hiến, ngôn ngữ, tập tục, thói quen, nghệ
thuật, kịch nghệ v.v... bị biến đổi lâu đời, được nhiều người lặp đi lặp
lại nhiều lần, được gọi là văn hóa. Văn ở đây được hiểu như là văn minh
của con người. Trong văn minh đó có văn minh vật chất và văn minh tinh
thần. Văn minh vật chất thuộc về những sự phát minh của con người về kỹ
thuật để phụng sự cho đời sống con người, và văn minh tinh thần là những
gì vượt lên trên cá thể của một đời sống vật chất, như những giá trị đạo
đức, luân lý, khoa học v.v... Như vậy văn hóa được hiểu như là nền văn
minh và văn hiến của con người được trải qua nhiều đời và lặp đi lặp lại
nhiều lần có tính cách như một thói quen, được gọi là văn hóa.
Như trên chúng ta đã thấy giữa
Phật Giáo và Văn Hóa có những điểm giống nhau và cũng có nhiều điểm khác
nhau như sau:
A/ Sự khác nhau
Văn hóa chỉ do loài
người sáng tạo và bị biến đổi qua nhiều giai đoạn trong đời sống hằng ngày
của con người, được nhiều người thực hành theo.
Trong khi đó Phật
Giáo được sáng lập và được phát sinh ra từ những bậc đã giác ngộ, những
người hoàn toàn hiểu biết về cuộc đời này bằng sự thực tu và thực chứng
của mình, rồi đem những kinh nghiệm của bản thân ra dạy bảo cho con người
và muôn loài.
B/ Sự
giống nhau
Văn hóa
bao gồm những giá trị của văn hiến và văn minh thuộc về cả hai lãnh vực
tinh thần cũng như vật chất.
Và Phật
Giáo cũng bao gồm những sự dạy bảo cho con người một giá trị tinh thần
siêu thoát, giác ngộ và hãy tự giải thoát bởi chính mình.
Mặc dầu
Phật Giáo và Văn Hóa có những điểm khác nhau và những điểm giống nhau như
đã nêu trên, nhưng không vì thế mà giữa Phật Giáo và Văn Hóa có một sự
nghịch lý nào cả, mà đó là một sự thật cần phải có để làm sáng tỏ giữa Đạo
Giáo và cuộc đời.
Suốt trong
dòng sinh mệnh của Phật Giáo đã gần 26 thế kỷ trôi qua trong lòng người,
qua những công cuộc truyền đạo và hành đạo của những nhà giáo dục Tu sĩ
cũng như Cư sĩ đến từ Á Châu sang Âu Châu, rồi sang Mỹ Châu, Phi Châu và
Úc Châu, Phật Giáo đã đóng góp một cách tích cực cụ thể cho những nền văn
hóa của những dân tộc tại xứ đó.
Ví dụ như
tại Ấn Độ: Mặc dầu ngày nay Phật Giáo không còn là quốc giáo như những
thời đại vàng son lúc Đức Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, trong vai trò của
mình đối với văn hóa và học thuật nữa, nhưng không vì thế mà vai trò của
Phật Giáo bị lu mờ. Vì lẽ dễ hiểu là Phật Giáo được phát sinh ra và trưởng
thành tại đó. Ngày nay khắp năm châu, bốn bể được hiểu giáo lý của Đức
Phật là nhờ nước Ấn Độ, nhờ Thái Tử Tất Đạt Đa đã hy sinh đời sống vị kỷ,
tư lợi của mình quyết xuất gia, tìm đường giải thoát cứu khổ cho nhân
loại, nên được nhiều người nhắc nhở đến, cung kính như một vị cha lành của
nhân loại. Do đó cho nên nhiều tín đồ Phật Giáo đã luôn ngưỡng vọng về Ấn
Độ như những tín đồ Thiên Chúa Giáo luôn tìm đến Thánh địa tại Do Thái nơi
Đức Chúa đã giáng sinh cách đây 1981 năm về trước.
Đạo Phật
hay nói đúng hơn là giáo lý của Đức Phật đã cảm hóa biết bao nhiêu bậc hôn
quân bạo chúa của xứ Ấn Độ lúc bấy giờ như vua Asoka (A Dục Vương - trước
Thiên Chúa giáng sinh 263-274) đã trở thành một Phật Tử thuần thành đối
với Đạo Phật nhờ những giới luật của Đức Phật đã chế ra và sau đó Hoàng Đế
A Dục đã lấy giới luật căn bản này viết vào Hiến Pháp trị dân. Ở Nhật Bản
có Thánh Đức Thái Tử (Shotoku Taishi - thế kỷ thứ 7-8 sau TC) cũng đã cai
trị dân Nhật Bản bằng tinh thần Tôn Giáo và Văn Hóa của Đạo Phật, và ngày
nay trong Hiến Pháp của Nhật cũng còn dựa theo tinh thần Tam quy ngũ giới,
thời Thánh Đức Thái Tử trị vì, đã có những Đạo Luật đó. Điều đó đủ chứng
tỏ rằng Phật Giáo đã có một sức dung hóa hết sức nhiệm mầu, trên từ những
bậc vua chúa, dưới đến nhân dân trăm họ.
Khi Phật
Giáo được truyền sang Trung Hoa vào đầu thế kỷ thứ nhất sau Thiên Chúa
giáng sinh, Phật Giáo đã tích cực đóng góp vai trò của mình trong công
cuộc phổ biến văn hóa Thiền của Bồ Đề Đạt Ma (thế kỷ thứ 6) một cách uyển
chuyển và dung hòa được với nền văn hóa của Khổng Mạnh vốn đã ăn sâu vào
tiềm thức của nhân dân Trung Hoa hơn 10 thế kỷ trước đó. Vì Phật Giáo đi
đến đâu chỉ mang một sứ mạng duy nhất. Đó là tình thương và trí tuệ. Về
tình thương Phật Giáo chủ trương không hận thù. Vì Đức Phật vẫn luôn dạy
cho các đệ tử của Ngài rằng: "Lấy oán báo oán, oán oán chất chồng. Lấy
ân báo oán, oán liền tiêu diệt". Vì lẽ giản dị đó nên Phật Giáo được
nhiều người ưa chuộng. Về trí tuệ Phật Giáo luôn chủ trương rằng: cuộc đời
này là bể khổ, con người mãi lặn hụp trong sự khổ đau không bao giờ thoát
khổ này, nên Đức Phật đã chỉ cho họ một con đường để đạt đến trí tuệ viên
mãn. Đó là Bát Chánh Đạo, Tứ Diệu Đế, v.v...
Phật Giáo
biết được bổn phận và nhiệm vụ của mình, nên từ các bậc vua chúa đến triều
thần và dân chúng đã tin theo và thực hành một cách triệt để song song với
văn hóa của Khổng Mạnh. Từ những bộ kinh điển có giá trị được các vị Tu sĩ
người Ấn Độ mang sang Trung Hoa, rồi chính tay những vị này dịch sang chữ
Trung Hoa và ngày nay Phật Giáo Trung Hoa có được Tam Tạng kinh điển bằng
tiếng địa phương của họ là nhờ vào những vị Tu sĩ này đã đóng góp không ít
vào văn hóa của dân tộc Trung Hoa.
Lúc bấy
giờ Trung Hoa là một nước hùng cường nhất Á Châu, nên văn hóa và tôn giáo
của Trung Hoa cũng dễ ảnh hưởng đến các nước lân cận như Việt Nam, Đại
Hàn, Mông Cổ, Nhật Bản.
Chính vào
thời kỳ này Phật Giáo được truyền sang Việt Nam bằng những nhà sư người Ấn
Độ và người Trung Hoa qua hai ngõ đường bộ và đường thủy. Đường bộ từ kinh
đô Lạc Dương cũ của Trung Hoa và đường thủy từ biển Nam Ấn Độ đến. Có
thuyết cho rằng trước khi Phật Giáo được du nhập vào Trung Hoa phải vào
Việt Nam trước, vì ngày xưa những thương nhân Ấn Độ buôn bán với Trung Hoa
chỉ dùng tàu bè để đi đường biển, và trên tàu buôn của họ có mang theo
nhiều Tu Sĩ Phật Giáo để chỉ làm nhiệm vụ cầu đảo trời đất, mưa thuận gió
hòa cho thuyền buôn đi đến nơi về đến chốn, và trên đường đi ấy, trước khi
vào kinh đô Lạc Dương trên đất liền của Trung Hoa, những thuyền buôn và
những nhà sư Ấn Độ này đã phải ghé sang Việt Nam để chờ mùa gió nồm, và
đây là cơ hội để những nhà Sư này truyền bá Đạo Phật tại nơi đây.
Xét ra hai
thuyết trên, thuyết nào cũng có lý cả, nhưng cho đến nay lịch sử Phật Giáo
Việt Nam vẫn chưa khẳng định được điều đó, vì trải qua biết bao nhiêu cuộc
chiến loạn hãi hùng của dân tộc Việt Nam, đã mất đi những tài liệu lịch sử
rất nhiều, nên không thể quyết định được việc nào là đúng và việc nào là
sai.
Đa số dân
Việt Nam đều thờ cúng ông bà, theo Đạo Khổng Mạnh giống như người Trung
Hoa, nên Đạo Phật được truyền vào đây một cách dễ dàng không khó khăn mấy,
và cũng chính nhờ những Thái Thú coi đất Giao Châu như Sĩ Nhiếp sùng bái
Đạo Phật nên giáo lý của Đức Phật càng ngày càng phổ cập trong nhân gian
Việt Nam nhiều hơn. Ban đầu chỉ là những nghi lễ có tính cách cúng dường
Đức Phật, như tán tụng, dâng hoa, quả, xây chùa cho có chỗ cho những vị
truyền giáo ở, đúc chuông, tạc tượng để cho có nơi để Phật Tử chiêm bái,
lui tới thiền môn, và chính những vị Tu sĩ này đã phiên dịch những kinh
điển bằng tiếng Phạn ra tiếng Hán tiếp tục để truyền bá cho người Việt
Nam. Thuở bấy giờ người Việt Nam bị Bắc thuộc lần thứ nhất ( - 111 đến thế
kỷ thứ 6) nên văn hóa của Việt Nam cũng bị ảnh hưởng bởi Hán văn của Trung
Hoa, nên đã không cần dịch ra chữ Việt Nam (lúc bấy giờ chỉ có tiếng mà
chưa có chữ theo mẫu tự A, B, C...). Người Việt Nam học hỏi giáo lý của
Đức Phật và thực hành theo những giáo lý ấy để dần dà biến thành một tôn
giáo của dân tộc từ triều Lý đến triều Trần trong những thế kỷ 11, 12, 13
và 14 của Việt Nam.
Và ngày
nay trong tất cả tôn giáo, Phật Giáo cũng bị chung số phận là không được
truyền bá rộng rãi trong dân gian, quần chúng Phật Tử nữa, mà chỉ thu hẹp
lại trong phạm vi thật giới hạn, chỉ có tính cách tín ngưỡng hơn là một
tôn giáo lớn đem văn hóa của mình ra đóng góp cho quốc gia như trong những
thế kỷ trước, nhưng không vì thế mà người dân Việt Nam mất đi niềm tin yêu
với Phật Giáo. Vì lịch sử đã chứng minh rằng: Đạo đức bao giờ cũng tồn tại
với thời gian trên cõi thế này và chính thể hay chính quyền chỉ có tính
cách giai đoạn mà thôi. Và đó cũng là nguyên nhân chính để phải bao nhiêu
người Việt Nam bỏ nước ra đi, mang đến khắp nơi trên hoàn cầu một nỗi đau
thương của con người thiếu Tự Do và Tín Ngưỡng.
Đạo Phật
cũng đã hiện diện với dân tộc của Quý vị (Đức) cũng đã hơn một thế kỷ nay,
qua các nhà truyền giáo của người Nhật, người Tây Tạng, người Tích Lan và
Việt Nam chỉ mới trong thập niên 50 trở lại sau này. Chúng tôi thấy rằng
mặc dầu đất nước của Quý vị đã có sẵn một tôn giáo lớn. Đó là Thiên Chúa
Giáo và Tin Lành Giáo, nhưng Quý vị đã đón nhận và giúp đỡ chúng tôi thật
tận tình và không phân biệt màu da hay tôn giáo, mà còn khuyên giúp người
Việt Nam nên bảo tồn những sản phẩm tinh thần đó song song với việc hội
nhập vào đời sống hằng ngày đối với dân tộc Đức. Chúng tôi đoan chắc rằng:
với tinh thần này Phật Giáo Việt Nam cũng sẽ cố gắng đóng góp với Văn Hóa
của Quý vị cho xứng đáng là những người con Phật học hỏi và thực hành giáo
lý trí tuệ và tình thương của Đức Phật.
Chúng tôi,
những người Việt Nam và những người Phật Tử Việt Nam hiện cư ngụ tại Cộng
Hòa Liên Bang Tây Đức luôn luôn nhớ ơn chính quyền và nhân dân Tây Đức đã
giúp đỡ cho vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa Phật Giáo tại đây ngày càng
phát triển vững mạnh và đảm bảo được giá trị tinh thần của những người
theo Phật một cách sáng suốt, chân thật.
Qua sự
khảo sát và nhận xét trên về Phật Giáo đối với một nền văn hóa dân tộc, ta
có thể kết luận như sau:
"Khi một
dân tộc, một quốc gia phú cường, thịnh vượng, là vì dân tộc đó chuộng
những giá trị tinh thần như đạo đức, luân lý, văn hóa ngoài những sự phát
minh về khoa học có tính cách vật chất. Ngược lại một dân tộc bị suy vi,
một nền văn hóa thiếu đạo đức và thiếu sự đóng góp tinh hoa của nhiều tôn
giáo khác nhau thì dân tộc ấy sẽ sa vào hố độc tôn và sẽ bị biến đổi theo
đà thoái hóa của luật tự nhiên".
( Bộ mới số 5 (Tháng 10.1981)
Ý nghĩa việc An Cư Kiết Hạ
Đã
có nhiều vị hiểu rõ ý nghĩa của việc An Cư Kiết Hạ; nhưng cũng có lắm
người Phật Tử chưa rõ; nên hôm nay chúng tôi xin viết và nói sơ lược về ý
nghĩa "AN CƯ KIẾT HẠ".
Khi Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế mỗi năm Ngài và đệ tử của Ngài đi du
phương hóa độ chỉ 9 tháng - 3 tháng còn lại, Đức Phật và Tăng chúng ở một
nơi yên ổn, không di chuyển đi nơi khác, để tu hành và chuyên tâm vào việc
hành trì giới luật cũng như thực tập Thiền định. Ba tháng này bắt đầu từ
Rằm Tháng Tư đến Rằm Tháng Bảy âm lịch. Ba tháng ấy là mùa mưa của xứ Ấn,
côn trùng hay sinh sản nhiều. Đức Phật không muốn giẵm chân mình lên bao
vạn sinh linh, nên Ngài chế ra phép An Cư Kiết Hạ là vì lý do trên.
Rồi từ đó
Đạo Phật dần dà được truyền sang các nước khác ở phương Bắc và phương Nam
Ấn Độ; chư Tăng vẫn một mực hành trì. Đối với những vị đã thọ giới Tỳ
Kheo, nếu mỗi năm có an cư thì mới kể một tuổi đạo. Đối với các Tăng sĩ
mới xuất gia hay thọ Sa Di, việc an cư cũng trở nên cần thiết, vì đó là cơ
hội để học hỏi và tu trì. Các vị Cư sĩ tại gia Bồ Tát hay ngũ giới cũng có
thể theo hộ đạo và học hỏi để tiến tu đạo nghiệp.
Thông
thường những Phật Học Viện, các Tổ Đình hoặc các chùa lớn tại Việt Nam mỗi
năm đều tổ chức An Cư Kiết Hạ như vậy. Các vị Tăng sĩ ở những chùa nhỏ,
hay những nơi không tổ chức được an cư cũng tụ hội về một nơi nào đó để
nhập chúng an cư.
Theo đúng
luật Pháp chế, cứ 4 vị đã thọ giới Tỳ Kheo trở lên có làm phép Yết Ma bạch
Phật nhập hạ thì mới đúng phép an cư. Nếu không được 4 vị - 3 vị hay 2 vị
hoặc 1 vị trở xuống cũng có thể làm phép Kiết Giới An Cư; nhưng đó chỉ gọi
là Tâm Niệm An Cư hoặc Đối Chúng An Cư mà thôi.
Thường sau
lễ Phật Đản - vào sáng sớm ngày 16 tháng 4, Tăng chúng vân tập nơi hậu tổ
của chùa để nghe Thầy Tri Sự cáo bạch cùng các bậc tôn túc để làm phép Yết
Ma cho việc An Cư Kiết Hạ. Chư Tăng lễ Tổ và vân tập lên chánh điện.
Sau khi lễ
Phật và làm lễ hòa hợp Tăng, vị Trụ Trì hay một vị Thượng Tọa lớn tuổi đạo
nhất đi làm phép kiết giới chung quanh vườn chùa (đất Già Lam) và những
nơi quan trọng trong chùa, như giếng, nhà trù, Đông Tây Nam Bắc, 4 hướng
chung quanh chùa. Phép này cho biết là ranh giới của chư Tăng được ở và
ngoài ranh giới này thì phải làm phép Yết Ma. Sau đó vị Tri Sự sẽ thông
báo chương trình tu học trong 3 tháng để chư Tăng lãnh hội và lần lượt lễ
Phật, lễ Tổ lui về hậu đường.
Theo đúng
phép An Cư Kiết Hạ - vị Tăng sĩ an cư dầu là bậc Hòa Thượng, Thượng Tọa,
Đại Đức Tăng, Đại Đức Ni, Thức Xoa Ma Ni, Sa Di, Sa Di Ni đi chăng nữa
phải ở trọn 90 ngày đêm trong đại giới đã làm phép Yết Ma kiết giới -
không đi ra khỏi vườn chùa mới hợp lệ. Nhưng nếu vì duyên sự Phật Pháp cần
phải đi xa khỏi chùa một ngày một đêm nhẫn đến 40 ngày đêm cũng được phép
nhưng với điều kiện sau :
Vị nào đi
khỏi nơi kiết giới một ngày một đêm thì có thể xin phép một vị Thượng Tọa
lớn tuổi nhất để đi, không có lỗi. Nếu từ 2 đêm đến 7 ngày 7 đêm phải có 4
vị Thượng Tọa đồng ý. Nếu từ 7 ngày đêm đến 40 ngày đêm phải được tất cả
Chúng Tăng đồng ý. Nếu trong Chúng có một người không đồng ý, việc ra đi
không thành. Nếu đi quá 40 ngày đêm khỏi chỗ kiết giới xem như việc an cư
không thành và không có tuổi đạo.
Chương
trình tu học hằng ngày rất nghiêm nhặt : Từ sáng sớm khoảng 4 giờ 30 phút
thức dậy - tham thiền. 5 giờ công phu khuya, trì tụng Thần Chú Thủ Lăng
Nghiêm. Đến 7 giờ chấp tác, làm những công việc ngoài vườn và trong chùa.
8 giờ sáng dùng cháo. 9 giờ đến 11 giờ 30 phút và 15 đến 17 giờ là giờ học
tập kinh điển, giáo lý của chúng Sa Di, Sa Di Ni hoặc Thức Xa Ma Ni hoặc
Cư Sĩ. Nếu những vị đã thọ Tỳ Kheo và các bậc Tôn Túc Thượng Tọa khác dành
thì giờ này để dịch kinh, dịch sách hoặc dạy Tăng Chúng.
12 giờ
trưa là giờ cúng quá đường, dùng cơm và đi kinh hành. Sau đó xuống nghỉ
trưa khoảng 1 tiếng đồng hồ để tiếp tục khóa học buổi chiều.
17 giờ 00
phút là giờ công phu chiều hay còn gọi là Thí Thực Cô Hồn.
Khoảng 18
giờ 30 phút là giờ dùng cháo.
Đến 20 giờ
có khóa lễ Tịnh Độ.
Từ 21 giờ
đến 23 giờ là giờ học bài và ôn bài.
Trước khi
đi ngủ tất cả Tăng Chúng ngồi Thiền độ 30 phút.
Ngoài ra
tối ngày 14, ngày 30 (hoặc ngày 29 tháng thiếu) âm lịch đều có lễ Hồng
Danh Sám Hối. Sáng ngày rằm và mồng một có lễ Chúc Tán, Thù Ân và Tụng
Giới.
Vào các
ngày thứ bảy và chủ nhật thường hay tổ chức Thọ Bát Quan Trai cho các Phật
Tử tại gia - một ngày một đêm 24 tiếng đồng hồ, học hạnh của người xuất
gia để tạo nhân lành giải thoát.
Gần đến
Rằm Tháng Bảy có một lễ khá quan trọng gọi là lễ Tự Tứ, nghĩa là lễ thọ
nhận tuổi hạ và sám hối đối với bậc Tôn Túc bên trên hoặc ngang hàng. Lễ
này nhằm kiểm điểm thành quả tu tập của vị Tăng sĩ trong 3 tháng An Cư
Kiết Hạ có như thế mới thấy được những điểm hay và những điều nên tránh
trong cuộc đời hành đạo của người Tăng sĩ.
Phật chế
giới cho Tăng sĩ cũng như Cư sĩ không ngoài mục đích là giữ gìn mối đạo
cho có quy củ. Vì Đức Phật có dạy rằng: "Giới Luật là Thầy của tất cả -
Giới Luật còn, Phật Pháp còn. Giới Luật mất, Phật Pháp mất". Một vị Tăng
sĩ không có giới đức, sống xa giới luật chẳng khác nào con hổ, loài chúa
tể sơn lâm đã xa lìa khỏi núi. Vì thế mới có câu rằng: "Tăng ly chúng Tăng
tàng, Hổ ly sơn hổ bại".
Thế nhưng
ai đã thọ giới và phạm giới, chính người ấy chịu, chứ không có ai chịu thế
được cho ai cả. Và cũng vì thế nên người nào thọ ở giới nào chỉ hành trì
trong phạm vi của người ấy, những giới cao hơn không được quyền biết đến,
nếu chưa thọ giới. Ví dụ như vị Cư sĩ không được quyền nghe giới của Sa
Di. Vị Sa Di không được quyền nghe giới của Tỳ Kheo. Sợ rằng những người
không ý thức được giá trị của giới luật sinh tâm kiêu mạng, khi thấy người
khác không hành trì, hoặc hành trì sai - chính người không thọ giới đó dễ
đọa vào nơi khổ nạn (và chính người không hành trì cũng thế) nên chư Phật
và chư Tổ chế ra điều đó rất nghiêm nhặt, nhằm ngăn chận những người tâm
không đoan chánh.
Cũng chính vì tâm
niệm việc an cư và giữ giới quan trọng như thế nên năm nay (1984) sau Đại
Lễ Phật Đản 2528 ngày 25, 26, 27/5/1984 chư Tăng chùa Viên Giác tại Tây
Đức quyết định An Cư Kiết Hạ để kiểm thúc thân tâm, tu hành công đức,
nhiên hậu mới có thể phục vụ đồng bào một cách đắc lực hơn.
Cũng chính vì thế -
nên chúng tôi xin được yên tĩnh tu hành trong 3 tháng hạ, bòn một công đức
trong vô lượng công đức khác của người tu, xin được phép không nghe điện
thoại - dầu là chuyện tối cần - trong suốt 3 tháng An Cư Kiết Hạ - có thể
chỉ trả lời thơ; nhưng rất giới hạn. Tuy nhiên quý vị cứ liên lạc về chùa.
Vì ở đây sẽ có những vị Cư sĩ hộ đạo, trả lời cho quý vị. Nếu chẳng may
trong lúc chư Tăng an cư kiết hạ mà gặp người qua đời, chúng tôi cũng xin
được phép không đi đưa đám. Nếu tang chủ muốn cầu siêu độ hoặc làm tuần
thất cho chư hương linh có thể về thẳng chùa để chư Tăng làm lễ chú
nguyện.
Thứ bảy và chủ nhật
hằng tuần tại chùa Viên Giác đều tổ chức lễ Thọ Bát Quan Trai, quý vị Phật
Tử Cư Sĩ tại gia cố gắng dàn xếp việc nhà để về chùa tu tập, công đức ấy
thật vô lượng vô biên.
Nếu trong 3 tháng An
Cư Kiết Hạ ấy, có vị Cư sĩ tại gia nào gia duyên không bị ràng buộc, có
thể về chùa ở luôn trong 3, 2 hoặc 1 tháng tu tập và hộ đạo, giữ giới, trì
trai v.v... chúng tôi cũng xin nhiệt liệt tán dương công đức.
Sau bao nhiêu năm làm
việc cho đồng bào, hay tu niệm cho chính mình thì đúng hơn - chúng tôi cần
di dưỡng tinh thần trong thời gian tối thiểu 3 tháng như thế. Kính mong
các bậc Tôn Túc từ bi mẫn nạp và đại xá cho những điều lầm lỗi. Kính đến
quý vị Đạo Hữu và quý Phật Tử gần xa một mối Đạo tình thâm hậu và dám mong
rằng quý vị không phiền, không trách chư Tăng bị khiếm diện trong các buổi
lễ cưới hay ma chay hoặc sự tham dự với các đoàn thể bạn trong những cuộc
lễ lộc, thuyết trình ... Và để chư Tăng có đầy đủ điều kiện trong việc tu
hành. Kính mong quý vị đàn na thí chủ tiếp tục hộ đạo từ vật chất đến tinh
thần như trước đây để mùa An Cư năm nay được thành công viên mãn.
Kính nguyện Đức Bổn
Sư từ bi gia hộ cho đại nguyện của chúng con sớm đạt thành và nguyện cầu
cho thế giới được hòa bình nhân sinh an lạc, vạn sự kiết tường như ý.
Kính Nguyện
( Bộ mới số 20 (Tháng 4.1984)
Cách xưng hô trong chùa
Có
nhiều người Phật Tử đi chùa lâu năm; nhưng cách xưng hô vẫn chưa hiểu rõ.
Hôm nay chúng tôi sẽ viết về vấn đề này một cách rõ ràng, để quý vị lãm
tường và cố gắng thực hiện cho thêm phần công đức lợi lạc trong cuộc sống
đạo của mình.
Thông thường ở ngoài
đời mình kính trọng ai hay có những cử chỉ kính, nể, sợ và khi mình khinh
khi ai có những cử chỉ trái ngược lại. Trong hai chữ trọng và
khinh cũng đã hàm chứa rõ ý nghĩa của nó rồi. Trọng nghĩa là nặng
chồng chất lên. Khinh có nghĩa là nhẹ hoặc là riêng rẻ. Và hai chữ xưng
cũng như hô cũng đã hình dung cho chúng ta biết được rằng có
người trên kẻ dưới và người dưới đối với kẻ trên. Ở ngoài xã hội đã thế,
trong chùa cũng có lối xưng hô tương đối khá đặc biệt hơn. Chúng tôi sẽ
lần lượt trình bày như sau:
A/ Giới xuất gia đối
với người xuất gia
Người xuất gia là
người đã rời bỏ gia đình, bà con thân thuộc, vào chùa để sống một cuộc
sống đạo hạnh. Xem công danh, địa vị nhẹ tợ hồng mao. Nhưng không có nghĩa
là không có trên dưới phân minh. Vì trong luật cảnh sách có dạy rằng: "Bất
kính thượng trung hạ tọa, như Bà La Môn tụ hội vấn thù". Nghĩa là kẻ nào
không biết kính trên, nhường dưới và kẻ giữa mình, cũng giống như những
người Bà La Môn ngồi nói chuyện phiếm. Vì thế, việc xưng hô ở đây không
còn là giai cấp nữa, mà là một tôn ti trật tự trong cuộc sống hằng ngày.
a) Người lớn tuổi đạo
với kẻ nhỏ tuổi đạo
Tuổi đạo ở đây được
căn cứ theo công đức tu hành trong các phẩm vị Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại
Đức, Sa Di và Chú Tiểu.
Người lớn tuổi đạo
được ngồi trước và ngồi trên hay gọi người dưới mình bằng tên hoặc bằng
cấp bậc. Đôi khi vị Hòa Thượng gọi một Thượng Tọa bằng Thầy hoặc pháp danh
của vị ấy và vị Thượng Tọa gọi vị Đại Đức, vị Đại Đức gọi Sa Di cũng vậy.
Người lớn tuổi đời; nhưng nhỏ tuổi đạo, vẫn phải xếp theo thứ lớp trong
chùa chứ không như ngoài thế tục được.
Một vị Hòa Thượng khi
nói chuyện với người dưới thường hay xưng tôi hoặc chúng tôi. Có nhiều
người thắc mắc tại sao chỉ có một người mà hay thấy quý Thầy xưng là
"chúng tôi". Vì lẽ rằng Đạo Phật là Đạo diệt ngã. Ở Đời người ta bị khổ
đau vì cái "ta" nhiều quá. Nên xưng "chúng tôi" cũng có nghĩa là có ý san
bằng cái ngã tự kỷ của mình với ý niệm diệt ngã trong Đạo Phật. Hoặc xưng
"chúng tôi" cũng có nghĩa là nhún nhường. Có nhiều vị Thượng Tọa xưng là
bần Tăng đối với người dưới hoặc ngay đối với kẻ trên, để chỉ cái nhỏ bé
của mình đối với kẻ khác.
b) Người nhỏ tuổi đạo
đối với những vị lớn tuổi đạo
Chú Tiểu thường xưng
với vị Sa Di là con. Vị Sa Di mỗi khi trình lên với vị Đại Đức một việc gì
cũng thường hay "bạch Thầy" và "xưng con". Cũng có nhiều vị Đại Đức đối
với các vị Thượng Tọa cũng bạch Thầy, xưng con vậy. Lắm khi nhiều vị
Thượng Tọa được Phật Tử nể kính tôn sùng; nhưng khi về lại chùa xưa gặp vị
Hòa Thượng Bổn Sư của mình, ngoài việc bạch Thầy, xưng con ra còn phải
đảnh lễ nhiều lần như thế nữa, để tỏ tình Sư Đệ. Điều này cho chúng ta
thấy rằng dầu người đệ tử của mình có trở thành một vị Thầy như thế nào đi
chăng nữa, đối với Thầy Tổ của mình vẫn cung kính như xưa; không vì phẩm
vị mà quên đi đạo nghĩa của ân sư.
Có nhiều người mới
thọ giới hôm trước, ngày sau đã đắp y đội mũ xưng mình là một bậc Tỳ Kheo
trong thiên hạ, không hổ thẹn lắm ru !! Hoặc hiêu hiêu tực đắc cống cao
ngã mạng xem người trên kẻ dưới chẳng ai bằng. Vì thế Đức Phật thường hay
chế giới ra là để răn cấm những người phá giới.
B/ người xuất gia đối
với các vị tại gia cư sĩ
Được gọi là một cận
sự nam hay một cận sự nữ khi nào người Phật Tử đó đã quy y Tam Bảo và thọ
trì ngũ giới hoặc Bồ Tát giới tại gia. Khi quy y, mỗi người Phật Tử có một
vị Thầy truyền giới cho mình. Vị ấy gọi là Thầy Bổn Sư. Tức là vị Thầy
chính của mình. Trong gia đình, con cái đối với cha mẹ như thế nào; ở cửa
Đạo, người Phật Tử tại gia cũng kính trọng Thầy Bổn Sư của mình như thế
ấy. Vị Thầy của mình quy y cũng giống như là một vị hướng dẫn tinh thần
của mình trong cửa đạo vậy. Vì lẽ ấy nên giữa tình nghĩa Thầy đối với đệ
tử cũng như đệ tử đối với Thầy được phân định như sau :
a) Các vị xuất gia
xưng với các đệ tử
Đệ tử ở đây có thể kể
cả hai giới xuất gia lẫn tại gia. Ít có Thầy nào tự xưng mình là Hòa
Thượng, Thượng Tọa hoặc Đại Đức, mà những phẩm này do người dưới vì sự
kính cẩn nên mới xưng tụng. Nếu có chăng đi nữa ở chỗ tâm tình, vị Thầy
thường hay xưng với đệ tử của mình là "Thầy" hoặc "tôi" v.v... và vị Thầy
đó gọi các vị Cư sĩ tại gia bằng tên, pháp danh, Đạo Hữu hoặc Phật Tử
v.v... Ví dụ một vị Thầy muốn gọi đệ tử của mình thường hay nói như thế
này:
"Nầy Hạnh Tâm! lại
đây Thầy nhờ cái này một chút".
Hoặc "Như Nguyện!
Thầy muốn nhờ con đi mua dùm cái nầy cho Thầy một chút v.v... Nếu vị đệ tử
ấy lớn tuổi đời hơn mình, vì lối xã giao thông thường hằng ngày nên gọi là
anh, chị hay Bác v.v... để phù hợp với các xưng hô của thế trần. Nhưng nếu
gọi đúng phải gọi là Đạo Hữu, Phật Tử hoặc Pháp danh là hay hơn cả.
b) Các vị tại gia Cư
sĩ xưng hô với quý vị xuất gia
Trường hợp này có
nhiều vấn để để viết nơi đây. Có nhiều vị Cư sĩ khi gặp một vị Thầy, vị
Thầy này có thể lớn hoặc nhỏ tuổi, đạo hạnh hay bình thường, hay xưng bằng
"tôi", "con", "cháu" v.v... Có nhiều trường hợp xưng bằng "em" nghe cũng
ngộ nghĩnh và người nghe cảm thấy hơi nực cười.
Tại vì sao người Phật
Tử xưng "tôi" đối với một vị Thầy?
- Có thể vì họ chưa
hiểu đạo. Hoặc vì họ nghĩ rằng họ lớn hoặc bằng tuổi với vị Tu sĩ kia.
Nhưng nghĩ như thế là lầm. Vì mình tuổi đời lớn, chứ tuổi đạo có lớn đâu.
Người nhỏ tuổi nhưng kiếp này đã tu trước mình, có nghĩa là kiếp trước họ
đã tu và kiếp này họ đang tiếp tục. Còn mình mặc dầu đương lớn tuổi; nhưng
chưa có duyên với Phật Pháp, nên vẫn là kẻ đi sau. Tuy lớn nhưng mà nhỏ.
Trong kinh Pháp Hoa
có nói rằng: "Có người trăm tuổi chỉ là một gã thanh niên bảo đây là cha
ta và người thanh niên kia chỉ người trăm tuổi bảo đây quả thật là con ta.
Cha trẻ mà con già". Đây là ý nghĩa đã trình bày như trên vậy.
- Hoặc cũng có thể
người Phật Tử tự cảm thấy rằng mình có địa vị hơn, giàu có hơn, học thức
hơn, nên xưng tôi cũng không có gì khó coi lắm.
Địa vị, giàu có và
học thức là chuyện của thế gian. Còn người tu tất cả phải xem đời là vô
thường mộng ảo, đối với họ đâu có gì quý báu ngoài giá trị của chơn tâm !
Tại sao người Phật Tử
thường hay xưng con với một vị Tăng Sĩ?
- Có thể đây là những
người đi chùa lâu năm và hiểu đạo. Có nhiều cụ già 70 tuổi; nhưng gặp một
vị Đại Đức trẻ vẫn bạch Thầy, xưng con ngọt xớt, đôi khi làm cho vị tân
Đại Đức ấy cũng ngại ngùng. Thế nhưng ở đây có 2 điều lợi:
- Điều thứ nhất -
người tự xưng có thể dẹp bỏ tự ái, cống cao ngã mạng của mình.
- Điều thứ hai -
người được xưng tụng phải xấu hổ mà cố gắng tu hành. Nếu không lo tu, các
công đức đều bị mất dần hết.
Có nhiều vị Phật Tử
còn lạy các vị Tăng nữa. Ở đây cũng có hai vấn đề được đặt ra :
- Vấn đề thứ nhất -
vì cung kính đức hạnh của vị Tăng mà lạy. Khi lạy, người Phật Tử dẹp được
các tự ái ngã mạng của mình.
- Vấn đề thứ hai được
đặt ra là: Vị Tăng ấy có xứng đáng cho mình lạy không? - Có lẽ những người
Phật Tử vì quan niệm rằng vị Tăng ấy xứng đáng nên mình mới lạy. Nhưng
xứng đáng hay không - phần người lạy được thêm phước; kẻ bị lạy, mất đức
rất nhiều; nếu đức của vị Tăng ấy có. Nếu vị Tăng đó không có đức thì đức
đó bị giảm dần và đôi khi còn bị trừ đi nữa là khác. Do đó dầu ở bất cứ
trường hợp nào, người lạy vẫn có phước mà kẻ bị lạy bị hao tổn phước đức
rất nhiều. Vì thế cần phải tu hành tinh tấn nhiều hơn nữa. Trong luật cũng
có dạy rằng một vị Sư Bà khi gặp một vị tân Đại Đức cũng phải cung kính
như bậc Thầy của mình. Do đó, một Cư sĩ tại gia đối với một người xuất gia
xưng bằng "con" là một điều đúng hơn cả. Con ở đây là con tinh
thần của các vị Tăng Sĩ vậy.
Tại sao có nhiều vị
Cư Sĩ gặp quý Thầy, quý Sư Cô xưng bằng cháu hoặc em?
- Vì họ nghĩ rằng
mình đáng vai cháu hoặc em của các vị Thầy này. Nghĩ như thế là nghĩ theo
thế gian pháp. Phật pháp không như thế gian pháp được.
Nếu xưng em mà một vị
Cư sĩ nam đối với một vị Tăng sĩ nghe còn tạm được, mặc dầu hơi chướng
tai. Nhưng nếu là một nữ thí chủ mà xưng "em" với một vị Thầy thì nên coi
chừng sẽ bị tai tiếng hoặc sự dòm ngó bên ngoài.
Có nhiều bà xưng với
Sư Cô hoặc Sư Bà bằng em - điều này có thể tạm được. Nhưng nếu các vị Cư
sĩ nam không lẽ xưng với Sư Cô bằng anh hay Bác sao? Do đó xưng "con" vẫn
là hay hơn cả.
Có nhiều người Phật
Tử trước mặt thì bạch Thầy xưng con; nhưng lúc không có mặt vị Thầy đó
thường hay gọi là ông Hạnh Tâm, ông Hạnh Đức v.v... làm như thế là tự mình
dối lòng mình rồi. Có mặt Thầy cũng như sau lưng Thầy nên gọi bằng Thầy.
Có nhiều người kính trọng Thầy, ít gọi tên Thầy mà hay gọi tên của chùa
Thầy ấy trụ trì. Ví dụ như Thầy Vạn Đức hay Ôn Chúc Thánh v.v... Có nhiều
người còn gọi ông Thầy Tâm Đức, ông Thầy Vạn Phước v.v... Đây là cung cách
gọi của những người chưa hiểu đạo. Nếu gọi bằng "ông Thầy", có lẽ phải có
thêm "Bà Thầy" mới đúng. "Bà Thầy" ở Việt Nam chưa có, nhưng ở Nhựt thì đã
có từ lâu. Vô hình chung các Phật Tử Việt Nam đã đồng hóa Thầy của mình mà
không biết. Hoặc có nhiều người lúc cung kính thì bạch Thầy xưng con ngọt
xớt; nhưng khi có chuyện gì thì xắn quần quá gối đứng trước cửa chùa chửi
vô "cái thằng cha Thầy chùa đó thế này thế nọ" hoặc "Sư gì như Sư hổ mang"
hoặc "Tế Điên Hòa Thượng" v.v... Điều đó chứng tỏ được khả năng hiểu đạo
của họ khá nhiều rồi. Viết đến đây sực nhớ một câu chuyện ngày xưa khi Đức
Phật còn tại thế như sau:
"Có một người Bà
La Môn vì ganh ghét với Đức Phật, nên ngày nào cũng đến nơi Đức Phật ở để
chửi rủa Ngài rất thậm tệ, đến khi sức mỏi lực hao Đức Phật vẫn không có
một thái độ nào cả. Người Bà La Môn kia mới hỏi Đức Phật rằng:
- Bộ ông là gỗ đá sao
mà tôi chửi ông không biết hổ thẹn?
- Đức Phật hỏi lại
rằng: "Nếu nhà ngươi có đám giỗ, làm cỗ thật nhiều, sau khi giỗ xong, mang
cỗ ấy đến biếu người hàng xóm. Nếu người hàng xóm ấy từ chối. Vậy mâm cỗ
ấy về ai?
- Người Bà La Môn kia
trả lời rằng: "Thì về người cho mâm cỗ chứ về ai nữa".
- Đức Phật mới dạy
rằng: "Ở đây cũng thế đó. Lâu nay ngươi đến đây chửi ta; nhưng ta không
nhận. Vậy xin trả lại cho ngươi đó".
Người Bà La Môn ấy
xấu hổ ra về".
Việc học đạo và tu
theo đạo Phật là vậy đó. Mình đi chửi người hoặc xem thường người, chính
tâm ta và miệng ta dơ bẩn trước; trong khi người khác vẫn còn trong sạch.
Nên để ý lắm thay !
Có một vị Thiền sư
Nhật Bản thế kỷ thứ 13 có dạy đệ tử của Ngài rằng: "Ngươi học đạo phải nên
thận trọng, Thái độ của mình lúc tiếp khách như thế nào thì khi ở trong
phòng riêng của mình cũng như thế ấy". Câu nói tuy đơn giản nhưng ý nghĩa
biết dường nào, chúng ta nên xem kỹ lại. Vì thế cho nên lúc có Thầy cũng
như khi không có Thầy, lúc nào cũng xem giống nhau, không nên thiên lệch
mà tổn phước cho chính thân mình.
c) Các vị Phật Tử tại
gia đối với các vị Phật Tử tại gia
Ở đời thường hay gọi
Cụ, Ông, Bà, Chú, Bác, Cô, Dì, Anh, Chị, Em v.v... nhưng khi vào chùa nên
gọi bằng pháp danh với nhau có lẽ dễ nghe hơn. Cũng có thể gọi nhau bằng
anh, bằng chị - nhưng là anh Nguyên Giác, chị Diệu Mỹ v.v... nghe nó có vẻ
Thiền vị nhiều hơn là ông này bà kia.
Có nhiều chùa còn
nghe ông bà Đại Tá, ông bà Đại Sứ, ông Kỹ Sư v.v... nhưng khoe khoang như
thế để làm gì. Đó chẳng qua là nhãn hiệu của phù trần, đâu có cần thiết gì
trong cửa đạo. Vì chuyện của thế gian là chuyện của khổ đau tục lụy.
Chuyện của Thiền môn là chuyện của giải thoát nhiệm mầu. Khi vào chùa
chúng ta nên cởi bỏ những nhãn hiệu ấy đi và nên để ngoài cổng chùa cho
Thiền môn được yên tĩnh.
Trong chùa hai danh
từ thường hay được gọi là Đạo Hữu hoặc Phật Tử. Đạo Hữu là những người bạn
cùng trong một Đạo với nhau. Phật Tử là những người con của Đức Phật. Dùng
danh từ nào cũng đúng nghĩa cả. Nhưng thông thường danh từ Đạo Hữu có vẻ
"già" và "đạo mạo" hơn nên để dành cho những vị lớn tuổi. Danh từ Phật Tử
có vẻ trẻ trung nên để gọi nhau với những người trẻ.
Trên đây là một số
danh từ thông thường trong cách xưng hô ở chùa. Chúng tôi viết lên đây chỉ
nhằm mục đích xây dựng đạo, không có ý chỉ trích ai, hoặc khuyên bảo điều
gì. Nếu quý vị Phật Tử tại gia thấy cần thiết thì nên chấp nhận. Nếu thấy
không hợp thời, không hợp cơ cũng chẳng có sao. Vì Đạo Phật là Đạo Tự
Giác. Không có quyền năng gì để đi ép buộc người khác phải theo mình. Nếu
có chăng, trong tinh thần tự độ và độ tha mà thôi.
Chúng tôi quan niệm
rằng: "Sự thật bao giờ cũng là sự thật"; nên không ngại viết ra những dòng
này để xây dựng một vài khuyết điểm nếu đã, đương và sẽ có trong cửa
Thiền. Cũng sẽ có nhiều vị chống đối chúng tôi. Vì chúng tôi đã viết lên
sự thật. Nhưng người viết bài này không còn cách nào hơn là phải chấp nhận
sự thật vậy. Dù cho sự thật ấy có phũ phàng cay đắng. Biết mà không nói
không phải là người có tâm, vì tha nhân mà nói mà không biết quả là người
chưa biết bơi mà đã tự đi cứu người. Do đó, nếu bài này có đến mắt quý độc
giả, Phật Tử cũng như không Phật Tử; người Đạo Phật cũng như kẻ Đạo khác
xem đây như là một đóng góp chung nho nhỏ trong sứ mạng truyền giáo và hộ
giáo của Tăng cũng như của Tục trong cuộc sống tha hương nơi hải ngoại
ngày nay.
MONTRÉAL - Đầu Đông năm Giáp Tý 1984
(
Bộ mới số 24 (Tháng 12.198
Vấn đề tu học của người Phật Tử
Đã
từ lâu vấn đề này được nhắc đi nhắc lại nhiều lần và hôm nay chúng tôi đặt
lại vấn đề này cho việc tu và học của người Phật Tử cũng không ngoài mục
đích là làm cho sự hiểu đạo cũng như sự hành đạo càng ngày càng được thấm
nhuần và hữu ích nhiều hơn.
Có nhiều người Phật
Tử đi chùa thật lâu năm biết lễ Phật, biết tụng kinh, biết cúng dường chư
Tăng, biết giúp đỡ kẻ khác v.v... nhưng ít ai hiểu trọn vẹn của ý nghĩa
trên một cách rốt ráo; đúng theo chơn tinh thần của Đạo Phật, mà hay hiểu
theo sở học hoặc quan niệm chủ quan của mình về một vấn đề hoặc về một
việc làm gì.
Cũng có người bảo "vì
chẳng ai dạy ai cả, xưa làm sao nay làm vậy; nên họ làm". Điều đó cũng
không sai. Vì lâu nay có nhiều người làm theo thói quen, tập quán hoặc
tục lệ; chỉ chú trọng phần thực hành mà quên đi ý nghĩa của nó. Vả lại Đạo
Phật không những chỉ lễ bái nguyện cầu không chưa đủ mà cần phải hiểu rõ
mục đích của sự lễ bái và sự lợi ích của vấn đề tu và học Phật Pháp mới là
điều quan trọng của người học Phật. Vì Đức Phật dạy rằng: "Tu mà không
học là tu mù. Học mà không tu là đãy sách".
Kẻ chỉ biết thực hành, không biết phương pháp tu ví như người mù sờ voi.
Người chỉ biết thao thao bất tuyệt, không thực hành giáo lý cũng không hơn
gì một cái túi đựng sách. Vấn đề tu và học ở đây không những cho người
Phật Tử tại gia mà cả cho người xuất gia nữa. Nếu người Phật Tử tại gia
không hiểu mà người xuất gia không chỉ vẽ thì quả là điều thiết sót rất
tai hại cho Phật Pháp. Hoặc cũng có lắm khi người tại gia hiểu Phật Pháp
quá rành sanh tâm cống cao ngã mạn xem chư Tăng chẳng ra gì; nên mới có
câu "quy y Phật, quy y Pháp và chẳng quy y Tăng". Hoặc giả "kinh điển
không cần tụng đọc, vì làm như thế hao sức tổn thần". Những người nói như
vậy có thể là những kẻ đã quá liễu ngộ Phật Pháp, không cần đến phương
tiện nữa; nhưng cũng có thể là những người đi sai đường đạo. Vì bao giờ
cũng phải cần cái giả mới tìm đến cái chơn. Nếu không có thân này, lấy gì
để giác ngộ?
Những hiện tượng hiểu
đạo một cách lờ mờ hoặc chủ quan tự đắc đều gây nên một số tai hại cho
Đạo. Đạo Phật không chủ trương bành trướng mạnh trong khi nội dung tu học
chẳng có gì. Cũng vì vậy cho nên chư Tăng cứ mỗi năm 9 tháng tha phương
hành đạo, 3 tháng phải đóng cửa tu hành, trì giới, giữ luật nghiêm minh để
phần nội tâm mình được phong phú; có như thế việc hành đạo mới có hiệu
quả. Nếu không, kết quả chẳng khả quan chút nào mà còn khổ nhọc đến cả
thân lẫn tâm nữa. Vấn đề này đã được Đức Phật và chư Tổ Sư vẫn thường hay
huấn dạy từ đời này qua đời khác. Cho đến ngày nay vẫn còn có giá trị.
Ngày nay một số kinh
sách đã được in lại rất nhiều ở ngoại quốc; nhưng có rất ít người chịu
nghiên cứu. Có nhiều người đến chùa thỉnh kinh về nhà, mang lên bàn Phật
thờ cho có phước; chẳng chịu tụng đọc hoặc nghiên cứu hành trì. Đọc và
tụng một bài kinh bao giờ cũng khó hơn xem một quyển tiểu thuyết hoặc một
chuyện chưởng. Vì kinh kệ quá khô khan không có gì hấp dẫn bằng những loại
trên. Nhưng thử hỏi, nếu vật thực hằng ngày chúng ta chỉ dùng toàn loại
mềm, hoặc cứng, hoặc chua, hoặc ngọt thì cũng không đủ cho các cơ quan
tiêu hóa và tuần hoàn làm việc mà phải cần có đủ mọi thứ cho sự phát triển
của con người. Thì món ăn tinh thần cũng phải vậy, có thứ khó, thứ dễ mới
dung hòa được đời sống tâm linh của mình. Có nhiều người bảo "đọc kinh
chẳng hiểu và chùa thì xa phải làm thế nào?" - Thật sự ra câu trả lời có
trăm phương ngàn lối; nhưng tựu chung nếu người có tâm thì vạn sự tất
thành; chẳng luận việc đời hay việc đạo.
Ngày nay vì hoàn cảnh
ly hương, mỗi người một nẻo. Việc tu học cũng không đơn thuần như khi còn
ở quê nhà. Ngay cả việc chư Tăng một năm đóng cửa 3 tháng tu hành, an cư
kiết hạ cũng không phải là chuyện dễ dàng. Vì ngày nay mỗi Thầy hầu như lo
mỗi chùa và công việc Phật sự đều tập trung vào chùa đó; nếu chùa đó không
có những người hộ đạo trực tiếp lo việc hương đăng, tiếp khách thập phương
thì vị trụ trì đó khó có thể tạo cho mình một khoảng thời gian tự do trong
3 tháng để lo việc tu hành và xây dựng đạo hạnh; mà phải phương tiện.
Nghĩa là vẫn an cư kiết hạ nhưng vẫn tiếp khách thập phương và du phương
hóa độ.
Cũng vì ý thức được
việc khó khăn của Phật Tử và vấn đề giới luật rất quan trọng đối với người
tu hành nên năm vừa qua chúng tôi đã tổ chức An Cư Kiết Hạ trong vòng 3
tháng từ Rằm Tháng Tư cho đến Rằm Tháng Bảy thấy có nhiều kết quả rất khả
quan. Đã đào tạo được một Ban Nghi Lễ vững vàng cho các Phật Tử tại gia và
việc học hỏi giáo lý cũng như Thọ Bát Quan Trai hàng tuần trong 3 tháng hạ
đã mang lại một sinh khí tốt đẹp trong việc tu hành. Chỉ có việc chúng tôi
không nghe và không gọi điện thoại, mặc dầu từ đâu gọi đến đã làm cho
nhiều người phật ý; nhưng xin quý vị cũng thông cảm cho chúng tôi về hoàn
cảnh đặc biệt đó.
Nói đóng cửa không có
nghĩa là chùa không tiếp ai hết, mà có nghĩa là giới hạn trong mọi công
việc như 9 tháng khác trong năm, chỉ chuyên chú tu trì và hành đạo mà
thôi. Cũng nhờ như vậy nên trong mùa An Cư Kiết Hạ vừa qua chúng tôi đã
hoàn thành được 2 quyển sách trong một lúc. Từ kết quả đó, nên năm nay
chùa Viên Giác cũng quyết định an cư như năm trước. Ngày nhập hạ đúng ra
là Rằm Tháng Tư tức 3.6.1985; nhưng lúc ấy chúng tôi vẫn còn ở Úc. Sẽ làm
lễ tại đó và sau khi về Đức trong suốt cả tháng 6.1985 dương lịch phải đi
tham dự các Lễ Phật Đản ở các nơi trong những ngày cuối tuần để trợ lực
cho quý Thầy khác tại Âu Châu.
Tuy nhiên công việc
tu hành hàng ngày tại chùa vẫn tiến hành như thời khóa đã định. Nghĩa là 5
giờ thức dậy. Ngồi thiền từ 5 giờ 30 đến 6 giờ. Sau đó tụng kinh và kinh
hành nhiễu Phật đến 7 giờ. Từ 7 giờ đến 8 giờ đọc sách hoặc chấp tác. 8
giờ dùng sáng. Từ 9 giờ đến 12 giờ học tập giáo lý hoặc phiên dịch kinh
sách. Lễ quá đường kinh hành nhiễu Phật bắt đầu lúc 12 giờ đến 1 giờ. Từ 1
giờ đến 2 giờ là giờ chỉ tịnh. Từ 3 giờ đến 6 giờ chiều được thực hành như
buổi sáng. 7 giờ tối dùng cháo. Đến 8 giờ khóa lễ Tịnh Độ. 10 giờ ngồi
Thiền đến 10 giờ rưỡi là chỉ tịnh.
Trong tháng 6/85
không có Thọ Bát Quan Trai vào cuối tuần. Bắt đầu từ 1.7.85 tức 14 tháng 5
âm lịch đến 16 tháng 7 âm lịch từ 31.8.85 chúng tôi sẽ áp dụng chương
trình tu học như năm trước. Cứ mỗi cuối tuần đều có Thọ Bát Quan Trai, học
tập giáo lý và những ngày trong tuần tổ chức những khóa giáo lý đặc biệt
cho các Phật Tử ở gần chùa. Từ 22 đến 28 tháng 7 năm 1985 suốt cả
tuần lễ này sẽ tổ chức một khóa giáo lý cấp tốc cho những vị Phật Tử ở xa
không có cơ hội về chùa thường, sẽ học và ở lại chùa tu tập trong thời
gian một tuần lễ. Sau đó sẽ có thi tốt nghiệp và sẽ có một căn bản vững
vàng về giáo lý không luận là ai và ở đâu. Nếu quý vị nào muốn đều
có thể ghi danh về chùa tham dự khóa tu học Phật Pháp này. Quý vị Phật Tử
tại gia suốt trong một tuần lễ này sẽ sống như một người xuất gia thanh
thoát tự tại. Nếu quý vị nào có ý nguyện trên xin dàn xếp công việc nhà
ngay từ bây giờ để có thể tham gia được khóa học này.
Đức Phật vẫn dạy
rằng: "Cuộc đời là vô thường nhưng sự chết là chắc chắn". Sự chết sẽ không
đợi chờ người trẻ hay kẻ già. Vậy có được cơ hội nào chúng ta nên lợi dụng
cơ hội ấy để tu học và tìm đường giải thoát cho chính mình cũng như cho
thân nhân và bằng hữu.
Mặc dầu đời sống ở
ngoại quốc không biết bao nhiêu là thứ trói buộc; nhưng nếu chúng ta biết
cởi bỏ sự ràng buộc đó cũng chẳng phải là khó. Nếu chúng ta quyết tâm thực
hiện. Với biển Phật Pháp rộng bao la vô tận so với một tuần lễ chẳng thấm
vào đâu; nhưng vẫn còn hơn là không thực hành gì cả với một cuộc đời sáu
hay bảy mươi năm cũng sẽ trôi qua một cách vô ích nếu chúng ta không biết
quay về với Đạo.
Đây cũng là cơ hội
cho người xuất gia cũng như tại gia hành trì trong 3 tháng hạ. Vậy kính
mong chư Tăng, chư thiện tín và quý vị Đàn Na Thí Chủ xa gần hưởng ứng và
hỗ trợ cho để công việc Phật sự trên được thành công viên mãn.
Mong rằng với đạo tâm
sẵn có của quý Phật Tử xa gần, quý vị sẽ lưu ý và phát tâm học, hành đạo
cũng như trợ duyên cho vấn đề này để công việc tu học của chính mình có
kết quả tốt đẹp.
Nguyện cầu Tam Bảo
gia hộ cho tất cả chúng ta có đủ thắng duyên để thực hiện việc tu và học
Phật Pháp trong mùa An Cư Kiết Hạ năm 2529 này.
Nam Mô Thường Tinh
Tấn Bồ Tát Ma Ha Tát
( Bộ Mới số 26
(Tháng 4.1985)
Sự tích cây nêu ngày Tết
Không
biết bắt nguồn từ thuở nào mà tục lệ dựng nêu vào ngày Tết đã được người
dân Việt chúng ta truyền đạt từ đời này qua đời khác và cũng không biết từ
bao giờ tục lệ này đã được chấm dứt tại Việt Nam, mà ngày nay các thế hệ
trẻ lớn lên được biết câu chuyện này như là một chuyện thần thoại.
Ngày xửa ngày xưa khi
loài người còn độ sơ khai, loài quỷ thường tác yêu tác quái trong thế gian
này. Loài người phải ở tận ngoài biển đông và phải đi làm thuê làm mướn
cho loài quỷ trong đất liền để sinh sống qua ngày.
Loài quỷ làm chủ
ruộng đất, còn loài người chỉ biết làm thuê. Do đó loài quỷ có đặt ra yêu
sách nào thì loài người cũng phải cắn răng chịu đựng thi hành, để có được
một ít lợi tức về nuôi gia đình và bản thân mình.
Một năm nọ loài người
trồng lúa rất được mùa. Loài quỷ ra một điều lệ "năm nay ăn ngọn bỏ gốc".
Thế là mùa gặt năm đó quỷ no mà loài người chỉ gặt về nhà mình là gốc rạ,
nên đói khổ, rên la thảm thiết. Tiếng than khóc và sự kêu cầu của loài
người của loài người đã động đến lòng thương của Đức Phật ở cõi Tây
Phương. Nên năm ấy Ngài dặn loài người rằng: "Năm nay các ngươi hãy trồng
khoai lang thì loài quỷ sẽ đói". Nghe lời dạy ấy, loài người trồng khoai
lang.
Loài quỷ vì bản tánh
gian tham và vô trí, những tưởng rằng năm nay cũng thành công như năm
trước nên ra luật là cũng "ăn ngọn bỏ gốc". Nào ngờ năm ấy loài quỷ chỉ
đem về nhà toàn là lá khoai, còn loài người thì cơm no áo ấm. Gia đình
loài quỷ năm ấy đói khát, kêu trời cũng chẳng thấu nên tức giận vô cùng và
nghĩ rằng năm sau loài người không trồng lúa cũng trồng khoai nên ra một
luật mới là "loài quỷ sẽ ăn cả ngọn lẫn gốc".
Qua kinh nghiệm những
lần trước loài người chưa biết tính sao thì Đức Phật hiện ra để chỉ dạy
cho loài người. "Năm nay các ngươi nên trồng loại bắp". Bắp năm ấy rất
được mùa. Thế là gia tộc loài quỷ lại một phen bị đói nữa. Vì chủ mưu ăn
cả ngọn lẫn gốc, nên loài quỷ chỉ gặt toàn là bông bắp và rễ bắp. Còn loài
người mang về nhà mình toàn là những trái bắp to tướng. Nhà nhà vui vẻ
hoan ca với thắng lợi của chính con người được làm chủ lấy.
Loài quỷ biết rằng
chính Đức Phật ở phương Tây đã giúp cho loài người thành công như vậy nên
tức giận, cả dòng họ nhà quỷ hiện về Tây Phương để kiện với Phật. Loài quỷ
đòi nghênh chiến với loài người - điều ấy Đức Phật không muốn; nhưng loài
quỷ vẫn một mực yêu cầu. Đầu tiên loài quỷ hỏi Đức Phật là loài người sợ
cái gì nhất. Đức Phật phương tiện trả lời rằng: "loài người sợ rau cỏ và
chuối cũng như những loài thảo mộc nhất" và nhân cơ hội này Đức Phật cũng
hỏi loài quỷ sợ cái gì nhất. Chúng trả lời rằng: chúng sợ vôi bột, mũi tên
và tiếng động của âm thanh nhất.
Sau khi nghe Đức Phật
trả lời như thế bà con dòng họ nhà quỷ mang chuối, rau qua tấn công loài
người. Nào ngờ đâu đây là những món thực dụng, nên loài người thâu tóm
hết, còn loài quỷ bị loài người dùng cung tên có tẩm vôi bột và cột vào đó
các loại kim khí tạo nên âm thanh để bắn vào loài quỷ, chúng chạy tứ tán
ra đến biển đông. Dòng họ nhà quỷ phen này đại bại.
Lúc bấy giờ dòng họ
nhà quỷ cũng chẳng chịu thua và lên Tây Phương kiện với Đức Phật, báo hiệu
rằng chúng sẽ lấy lại hết đất của loài người và không cho loài người làm
mướn nữa. Đức Phật động mối từ tâm. Nếu phen này mà loài người không có
đất để làm mướn thì làm sao có thể sống được. Do đó Đức Phật mới đề nghị
rằng: "các ngươi nên cho loài người thuê đất để ở, chỉ bằng trong mảnh
pháp y của ta thôi". Ban đầu loài quỷ không chịu, vì còn tức giận loài
người. Nhưng sau loài quỷ nghĩ lại và bảo rằng: "tưởng to lớn, chứ đất
bằng một chiếc y của Đức Phật thì loài quỷ đồng ý cho mướn".
Sau khi chiêu dụ được
diệu kế ấy rồi, Đức Phật dạy loài người nên trồng một cây tre thật cao và
trên ngọn tre ấy có cột chiếc pháp y của Ngài. Chiếc y thông thường chỉ
rộng độ 2 thước thôi; nhưng sau khi dựng nêu lên, nhờ thần lực biến hóa
của Đức Phật nên bóng chiếc y của Đức Phật tỏa rộng ra khắp sơn hà đại
địa, năm châu bốn bể, dần dần trùm khắp cõi Ta Bà này. Loài quỷ không còn
chỗ ở nữa, nên phải lánh ra ngoài biển đông. Nhưng vì lỡ hứa với Đức Phật
là dưới bóng y của Đức Phật là giang sơn của loài người; nên loài quỷ đã
chịu thua diệu kế ấy. Nhưng cuối cùng loài quỷ cũng yêu cầu Đức Phật như
sau:
"Vì mồ mả của dòng họ
nhà quỷ đã chôn trong đất liền, nên mỗi năm vào những ngày Tết xin phép
Đức Phật được vào đất liền để thăm mồ mả ông bà của chúng. Đức Phật không
nỡ làm ngơ mà không chấp thuận lời đề nghị hữu lý ấy. Nên đã chấp thuận.
Nhưng sợ loài người vì lơ đễnh vui say trong những ngày Tết, mới dạy cho
loài người trước mỗi cửa nhà nên dựng một cây nêu; trên cây nêu ấy treo
những linh khí tạo thành âm thanh để xua đuổi dòng họ nhà quỷ. Đồng thời
chung quanh nhà ở của loài người phải rắc vôi bột để cho quỷ khỏi xâm nhập
vào địa phận của loài người. Ngoài ra còn vẽ một mũi tên hướng về hướng
Đông, trên mũi tên ấy có rải chất vôi để xua đuổi loài quỷ.
Kể từ đó tục lệ dựng
nêu trước ngõ vào dịp ngày Tết đã được thực hiện, trong đó có người Việt
Nam chúng ta. Nhưng ngày nay tục lệ này người mình không còn thực hiện
nữa, có lẽ vì thế, nên quỷ lại hiện hành trên quê hương yêu dấu của chúng
ta chăng?
Nhân ngày Xuân nơi
đất khách để nhắc lại một vài phong tục đẹp cũng như những chuyện xưa tích
cũ của Việt Nam chúng ta, chúng tôi xin ghi vội vài dòng để cống hiến bà
con độc giả xa gần vậy.
( Bộ Mới số 31
(Tháng 2.1986)
Vu Lan trong lòng Dân Tộc
Đạo
Phật đã du nhập vào Việt Nam gần 18 thế kỷ qua; nên đã góp mặt rất nhiều
trong mọi sinh hoạt của quần chúng cũng như của Phật Tử. Từ các phong tục,
tập quán, văn học, nghệ thuật, triết lý v.v... đâu đâu cũng có ảnh hưởng
tinh thần của Phật Giáo. Do đó chúng ta có thể nhận định rằng: Tuy Phật
Giáo cũng đã được truyền vào Việt Nam qua ngả Trung Hoa và Ấn Độ; nhưng đã
được quần chúng Việt Nam chấp nhận tôn thờ. Nên Đạo Phật được gọi là Đạo
của Dân Tộc.
Dân Tộc ta có ảnh
hưởng của Khổng Mạnh rất lớn, họ chủ trương tôn thờ Quân, Sư, Phụ và Nhân,
Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Phật Giáo là đạo vừa nhập thế vừa xuất thế, nên đã
dung hòa được cả bên trong lẫn bên ngoài, không chống đối những quy luật
trên của Khổng Mạnh mà còn thăng hoa ở nhiều phương diện khác nữa. Do đó
việc tạo dựng một thế đứng cho tôn giáo của mình trong lòng Dân Tộc không
khó mấy.
Lịch sử đã chứng minh
có những vị Vua cũng vừa là những vị Thiền Sư nổi tiếng. Ngược lại cũng có
những vị Thiền Sư đã giúp cho Vua cho nước được an bình thịnh trị suốt cả
gần mấy trăm năm. Có nhiều vị Thiền Sư khi đất nước có loạn, tình nguyện
ra đi chống kẻ ngoại xâm. Lúc thanh bình trở về chùa cứ lo tu niệm. Điều
đó đã nói lên sự gắn bó của Đạo Phật với Dân Tộc rất nhiều.
Phong tục và tập quán
cũng thế, không có một lễ nào của Phật Giáo mà dân chúng lại thờ ơ - như
Lễ Phật Đản, Vu Lan, Tết Nguyên Đán v.v... ngược lại người Phật Tử luôn
luôn sẵn sàng đóng góp mọi phương diện để cho tôn giáo của mình được phát
triển
Noi gương Ngài Đại
Hiếu Mục Kiền Liên, như trong kinh Báo Ân Phụ Mẫu và Vu Lan bồn, Đức Phật
đã dạy cho hàng tứ chúng - xuất gia cũng như tại gia - phàm làm con phải
có bổn phận báo đền công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ - nên ngày Vu
Lan trở thành một truyền thống tại quốc nội cũng như hải ngoại.
Ngày Vu Lan - dầu cho
dân tộc ở trong lúc thịnh hay ngay cả lúc suy - khi nào cũng mang một ý
nghĩa cao cả, thiêng liêng, không ai là không nhớ nghĩ đến công ơn sanh
thành dưỡng dục của cha mẹ - đi chùa lễ Phật, cúng dường trai Tăng để cầu
nguyện cho người còn được an lạc, kẻ thác siêu thăng về nơi nhàn cảnh. Nếu
có phương tiện thì tổ chức Đại Lễ long trọng hơn. Nếu phương tiện hẹp hòi,
hạn chế, thì chỉ làm trong phạm vi có thể của mình cũng được. Đạo Phật cao
xa là ở chỗ ấy. To hơn núi Tu Di, hay nhỏ hơn một vi trần cũng có thể chứa
đựng cả ba ngàn thế giới. Nên câu "tùy duyên nhi bất biến và bất biến nhi
tùy duyên" có thể ứng dụng vào trong mọi hoàn cảnh nào của cuộc đời người
Phật Tử cũng được.
Kể từ ngày Cộng Sản
chiếm miền Nam Việt Nam mọi sự tự do đều bị ngăn cấm, trong đó có tự do
tôn giáo là quyền tối thượng của con người cũng bị hủy bỏ nốt. Khi mới
cướp được chính quyền người Cộng Sản hứa hẹn đủ điều; nhưng rốt cuộc rồi
cũng chẳng có điều nào họ thực thi cả ngoài chuyện đàn áp, bắt bớ, tra
tấn, tù đày v.v... Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã lâm vào đại
nạn của Dân Tộc; chịu vinh nhục với nỗi thịnh suy của đất nước đã có không
biết bao nhiêu Chư tôn Giáo phẩm và Phật Tử bị tù đày tra tấn dã man cho
đến chết - như trường hợp của Cố Hòa Thượng Thích Thiện Minh, Cố Hòa
Thượng Thích Trí Thủ v.v... rồi bị đày ải, an trí như trường hợp của
Thượng Tọa Thích Quảng Độ, Thích Huyền Quang v.v... Mới một năm trước đây
các Học giả Tu sĩ Phật Giáo như Thầy Tuệ Sỹ, Thầy Lê Mạnh Thát, Sư Cô Trí
hải v.v... đã bị bắt cầm tù... rồi bị tra tấn dã man. Một nguồn tin cần
cần phải được kiểm chứng của cơ quan Ân Xá Quốc Tế tại Luân Đôn mới đây đã
gởi đi khắp nơi thông báo cho biết là nghe đâu Cộng Sản đã hạ lệnh án tử
hình cho Đại Đức Thích Tuệ Sỹ vào cuối tháng 12 năm 1985 vừa qua. Quả thật
là những hành động điên rồ của những người đang còn say men chiến thắng
của 11 năm về trước - bây giờ ảo ảnh đó đâu còn nữa mà mơ! - nhưng họ
tưởng là thật; nên cứ cưỡng chế và áp bức lên tôn giáo cũng như nhân dân
Việt Nam. Không biết bao nhiêu vụ đập phá chùa chiền, trưng dụng các chỗ
tôn nghiêm làm kho chứa thóc gạo - tượng Phật, tượng Chúa bị đập phá tan
tành bất kể sự chống đối ngấm ngầm của dân chúng. Họ nghĩ rằng họ đang có
sức mạnh và súng ống trong tay. Nhưng họ quên đi rằng Dân Tộc ta đã chiến
thắng vẻ vang nhiều trận đánh của lịch sử không phải bằng gươm to giáo lớn
mà bằng ý chí quật khởi của toàn dân. Theo quan niệm nhân quả của nhà Phật
thì Cộng Sản Việt Nam sẽ không có trường hợp ngoại lệ - là gây nhân nào
phải gặt quả đó. Hay gieo gió ắt phải gặt bão vậy.. Vì có những loại nhân
gây ra bây giờ nhưng chưa gặt quả trong hiện tại đấy thôi - chứ trước sau
gì cũng sẽ lãnh quả - ác lai, ác báo mà. Xưa nay sách vở Thánh Hiền, gương
nhân quả chưa sai tí nào cả.
Trong khi đất mẹ và
quê hương Việt Nam bị dằn vật đọa đày thế ấy thì ở đây cũng có những người
mang danh là Phật Tử nhưng đi làm tay sai nối giáo cho giặc để đàn áp nhân
dân. Chẳng khác nào ngày xưa Nguyễn Thân ở Quảng Ngãi đã theo bợ đỡ thực
dân Pháp mà đào mả nhà cách mạng Phan Đình Phùng - anh hùng của Dân Tộc -
lên đốt thành tro và trộn chung với thuốc súng để bắn cho tan tành thân
xác của người anh hùng vì dân vì nước ấy. Cuối cùng rồi cũng bị lịch sử
phỉ nhổ và nhân dân nguyền rủa những người theo giặc đó. Đời nào cũng có
trung thần lo cho dân cho nước mà cũng không phải là thiếu những nịnh thần
hay bợ đỡ để vinh thân phì gia. Điều đó lịch sử đã cho chúng ta thấy rõ. Ở
đây có nhiều người Phật Tử, sống ở xứ tự do này cứ huênh hoang tuyên bố là
ở Việt Nam đâu có bị đàn áp tôn giáo, chùa chiền đâu có bị đập phá, quý
Thầy vẫn được tự do hành đạo v.v... mà họ đâu có biết rằng đó chỉ là chiêu
bài lừa đảo những người nhẹ dạ không đi sâu vào sự sinh hoạt của quần
chúng. Nếu tốt đẹp như thế chắc không có bỏ nước ra đi hơn cả triệu người
kể từ năm 1975 cho đến nay.
Vừa đây những người
nhân danh Phật Tử, nối giáo cho giặc ấy còn bày đặt kiện chùa Viên Giác và
báo Viên Giác về việc nói họ là Cộng Sản, cũng như tại sao nhục mạ họ thế
này, thế nọ - nhưng họ đâu có biết rằng: Đó chính là sức mạnh của nhân dân
bộc phát. Không có một uy quyền nào có thể thống trị được sức mạnh của
nhân dân cả. Ngày xưa Nguyễn Trãi đã khuyên vua Lê Lợi rằng: "Dân cũng
giống như nước, người lãnh đạo cũng giống như chiếc thuyền. Chính nước ấy
sẽ chở được thuyền đến nơi đến chốn, mà chính nước ấy cũng sẽ lật thuyền
chìm". Những người đang thống trị mang sự bạo tàn để cai trị nhân dân và
những kẻ nối giáo cho giặc, làm tên nịnh thần hãy nên nghe lời khuyên ấy
của Nguyễn Trãi.
Họ tốn tiền đưa ra
tòa kiện tờ báo Viên Giác rồi cũng chính họ bãi nại không kiện nữa. Vì bài
báo đã quá thời hạn và vì một vài lý do sâu kín bên trong, họ thấy không
thắng nổi những người quốc gia chống Cộng, nên lại thôi. Đó là việc làm có
kế hoạch và đường lối, dọa nạt, uy hiếp rồi đến khủng bố. Đó cũng là chủ
trương của Cộng Sản xưa nay mà. Họ sẽ có nhiều chiêu bài nữa; nhưng có lẽ
vải thưa sẽ không che được mắt Thánh. Những ai là người trong cuộc hãy để
ý đề phòng, đừng nên khinh thường những kẻ dua nịnh ấy !
Với lòng từ bi của
Đức Phật có lẽ Ngài chỉ mỉm cười thôi, khi thấy trò đời thay đen đổi trắng
- có lẽ Ngài cũng không cứu được ai - ngoại trừ những người đó hãy tự cứu
vớt chính mình.
Gần đây các hội đoàn
Đức như Christian Solidarity International ở Bonn - Organisation für
bedrohte Völker ở Göttingen, Pax Christi đã gởi thơ kêu gọi các tổ chức
Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo Việt Nam hiện có mặt tại nước Đức cũng như Ủy
Ban Tranh Đấu Đòi Nhân Quyền của người Việt tại hải ngoại hãy ngồi lại với
nhau tổ chức một cuộc biểu tình và đọc cáo trạng lên án chính quyền Cộng
Sản Việt Nam đã bắt giam các vị lãnh đạo tinh thần của tôn giáo như Thượng
Tọa Thích Quảng Độ, Thượng Tọa Thích Huyền Quang, Đại Đức Tuệ Sỹ, Đại Đức
Lê Mạnh Thát, Sư Cô Trí Hải v.v... cũng như Đức Cha Nguyễn Văn Thuận và
một số các vị Linh Mục, Tu Sĩ của Thiên Chúa Giáo. Việc biểu tình sẽ thực
hiện vào lúc 14 giờ chiều ngày thứ sáu - nhằm ngày 5.9.1986 ở trước Sứ
Quán Cộng Sản Việt Nam tại Bonn. Vậy chúng tôi mong rằng các Phật Tử xa
gần hãy về Bonn tham dự cuộc biểu tình ấy, dầu bận rộn đến đâu đi nữa.
Người Đức mà còn quan tâm đến đời sống tôn giáo tại Việt Nam của chúng ta
như thế. Tại sao chúng ta là những người Phật Tử hay con chiên của Chúa mà
làm ngơ trước cảnh khổ của Quốc Gia, Dân Tộc và Đạo Pháp?
Đây cũng là một bằng
chứng để cho ai đó mang danh là Phật Tử, hiện ở Tây Đức hay bất cứ nơi đâu
tại hải ngoại ngày nay, đang làm tay sai cho giặc hãy thức tỉnh kịp thời
và ngưng ngay những trò đời thay đen đổi trắng ấy. Chúng ta quyết sẽ tranh
đấu cho đến cùng để phần thắng sẽ trở về với người bị áp bức trong đó có
Phật Giáo của chúng ta.
Mùa Vu Lan - Mùa Báo
Hiếu - thiết nghĩ rằng chỉ bấy nhiêu việc làm đó cũng đủ nói lên việc hiếu
đạo của con cái đối với cha mẹ, đệ tử đối với Thầy Tổ và con dân đối với
Đất Nước, Quê Hương, Dân Tộc và Đạo Pháp.
Vu Lan năm nay tại
quê mẹ càng lầm than đổ nát bao nhiêu, thì tại hải ngoại này chúng ta hãy
sát cánh bên nhau, tay trong tay, lòng bên lòng, để đứng vững trong lòng
của Dân Tộc mà truyền thống hào hùng, bất khuất trước bạo lực, cao cả
trước mọi hiểm nguy đó sẽ làm cho chúng ta đủ tự hào và hãnh diện là một
người Phật Tử có trách nhiệm trước cơn pháp nạn đã tàn phá quê hương, dân
tộc và Đạo Pháp của mình.
Xin chắp tay nguyện
cầu cho quê hương Việt Nam chóng thanh bình, nhân dân được an lạc, tôn
giáo không còn bị đàn áp nữa và tình người lại được thể hiện nơi nơi để
hương giác ngộ nhân mùa Vu Lan báo hiếu được nở khắp trong vườn hoa của
nhân thế.
Nam Mô Đại
Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát
( Bộ mới
số 34 (Tháng 8.1986)
700 năm trận Bạch Đằng Giang
Bài
nói chuyện của Thượng Tọa Thích Như Điển trong lễ khai mạc khóa hội thảo
và văn nghệ Trần Hưng Đạo, kỷ niệm 700 năm trận Bạch Đằng Giang ngày 19
tháng 11 năm 1988 tại Bremen.
Nam Mô A Di Đà Phật
Kính thưa quý vị lãnh đạo tinh
thần của các Tôn Giáo bạn,
Kính thưa quý Tổ Chức, quý Hội
Đoàn và quý Đồng Hương
Tổ chức sinh hoạt của người Việt
tỵ nạn tại Cộng Hòa Liên Bang Đức trong thời gian qua có văn thư gửi đến
chúng tôi, mời tham dự trại Hội Thảo và văn nghệ Trần Hưng Đạo, kỷ niệm
700 năm Bạch Đằng Giang. Mặc dầu chúng tôi cũng khá bận rộn với nhiều công
việc Phật sự khác; nhưng nghĩ đến công ơn của tiền nhân đã dày công dựng
nước và giữ nước cũng như để khích lệ và ủng hộ công cuộc tranh đấu chung
chống lại sự cai trị tàn bạo của Cộng Sản Việt Nam; nên hôm nay chúng tôi
hiện diện nơi đây và xin có đôi lời với quý vị.
Kính thưa quý vị,
Cách đây đúng 700 năm Dân Tộc
Việt Nam chúng ta đã chiến thắng oai hùng quân Mông Cổ qua sự điều khiển
tài ba của một vị tướng tài còn lưu danh nơi hậu thế. Đó là Hưng Đạo Vương
Trần Quốc Tuấn qua trận đại thắng Bạch Đằng Giang.
Để tìm hiểu thêm những chiến
công hiển hách của tiền nhân, chúng ta thử lướt qua tiến trình lịch sử của
thời buổi ấy.
Vào năm 1282 nhà Nguyên muốn
mượn đường xuyên qua nước ta để đi đánh Chiêm Thành, hầu như các tướng
trong triều đình nhà Trần đều đồng ý. Duy chỉ có Hưng Đạo Vương Trần Quốc
Tuấn là chống lại việc nầy.
Vì không mở đường cho quân
Nguyên sang đánh Chiêm Thành cho nên quân nhà Nguyên đã kéo hết quân sĩ
đánh vào quân ta; Hưng Đạo Vương thất bại và kéo quân chạy về ải Chi Lăng,
sau đó phục binh tại Vạn Kiếp.
Vua Trần Nhân Tôn thấy thế giặc
quá mạnh, sợ nhân dân bị chết chóc, xã tắc bị loạn ly nên khuyên Hưng Đạo
Vương hãy hàng để tránh cảnh máu đổ đầu rơi của nhân dân trăm họ. Hưng Đạo
Vương khẳng khái tâu rằng: "Hãy chém đầu hạ thần trước rồi hãy hàng sau".
Vua nghe lời tâu khẳng khái đó nên rất yên dạ.
Sau đó Trần Nhật Duật thắng quân
Nguyên tại trận Hàm Tử, khi quân nhà Nguyên đi đánh Chiêm Thành về (1285)
đã làm cho tinh thần quân sĩ của ta lên cao và tiếp theo đó Trần Quang
Khải đã lấy lại thành Thăng Long và thắng trận Chương Dương Độ. Sau khi
Toa Đô bị chết ở trận Tây Kết và Ô Mã Nhi phải chạy vào Thanh Hóa. Đến
trận Vạn Kiếp, Thoát Hoan thua phải chạy về Tàu. Suốt trong 6 tháng trường
(từ tháng 12 năm 1284 đến tháng 6 năm 1285) quân ta đã đuổi hơn 50 vạn
quân Mông Cổ về Tàu.
Quân nhà Nguyên thua, chạy về
nước khiến Nguyên Chúa nổi giận và bảo Thoát Hoan phải báo thù. Đến năm
1287 Thoát Hoan đem đại binh sang đánh ta lần thứ 2. Lần này Thoát Hoan
giả đưa Trần Ích Tắc về làm An Nam Quốc Vương; nhưng trên mặt thực tế là
đi rửa hận lần trước.
Lần nầy Hưng
Đạo Vương Trần Quốc Tuấn sai tướng Nguyễn Khoái cho quân đẽo gỗ bịt sắt
nhọn ở đầu (theo kinh nghiệm của người xưa, thời Ngô Quyền đã chiến thắng
Bạch Đằng Giang lần thứ nhất) rồi cho đóng vào lòng sông phía thượng lưu,
chờ cho nước lên đem quân ra khiêu chiến, nhử cho thuyền giặc đến chỗ đóng
cọc, và chờ cho nước thủy triều xuống thì đánh mạnh vào quân giặc, khiến
giặc bị mắc cạn. Nguyễn Khoái khiêu chiến với Ô Mã Nhi trên lòng sông và
Hưng Đạo Vương tiếp viện đánh úp lên; nên các tướng Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp,
Tích Lệ và Cơ Ngọc đều bị bắt.
Trận Bạch Đằng
Giang kết thúc vào tháng 3 năm 1288 và Thoát Hoan bỏ chạy về Tàu; nhưng đã
bị Phạm Ngũ Lão vây đánh và Thoát Hoan thua. Bấy giờ Hưng Đạo Vương rước
xa giá Thượng Hoàng (tức Trần Thánh Tôn) và Trần Nhân Tôn về kinh. Vua
định công phạt tội và phong tước Hầu. Hưng Đạo Vương là người có công nhất
trong việc đánh Nguyên và vua đã ban cho tước hiệu là: Thái Sư Thượng Phụ
Thượng Quốc Công Bình Bắc Đại Nguyên Soái Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.
Đó là sơ lược lịch sử trong việc
quân Nguyên sang đánh nước ta. Trong thời gian nầy có 3 việc xảy ra tương
đối quan trọng, chúng tôi xin trình bày cùng quý vị.
- Việc thứ nhất
- Khi Trần Bình Trọng bị giặc
Nguyên bắt, quyết vẫn không hàng. Tướng Nguyên dụ dỗ mọi điều; nhưng Người
vẫn khẳng khái bảo rằng: "Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất
Bắc". Ô hay cái uy dũng của người xưa, cái anh hùng thao lược của kẻ sĩ.
Làm tướng sẽ chẳng hàng khi mình chưa đền xong nợ nước, làm quân sẽ không
chịu thua giặc, khi sơn hà xã tắc còn máu đổ đầu rơi.
- Việc thứ hai - Nguyên
là Trần Thái Tôn và Trần Thánh Tôn là những vị vua rất nhân từ khoán hậu.
Trần Thái Tôn đã bỏ cung vua hai lần vào núi Yên Tử để tu và Trần Thánh
Tôn cũng là người rất ham chuộng Đạo Phật, cho nên Thánh Tôn mới sinh ra
được một vua Nhân Tôn hiền đức, để sau nầy cũng giã từ vương vị, sau khi
đã đại thắng quân Nguyên vào núi Yên Tử để tu hành và lập nên phái Thiền
thứ 4 của Phật Giáo Việt Nam lấy tên là Trúc Lâm Yên Tử. Cho hay danh mà
chi, lợi mà chi; cuối cùng cũng không qua cái luân hồi sinh tử. Vì thế,
vua đã đoạn thế trần, khoác lên mình một tấm Hoàng y để làm thân Đạo Sĩ mà
lo cho bá tánh.
- Việc thứ ba - Hưng Đạo
Vương Trần Quốc Tuấn cũng là người mộ Đạo Phật hơn ai hết, sinh ra con cái
là những tướng tài và có một người anh là Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung,
sau khi đại phá quân Nguyên đã khoác áo nhà tu lấy hiệu là Tuệ Trung
Thượng Sĩ. Tuệ Trung Thượng Sĩ là một vị Tướng, là một Thiền Sư đã làm
vang danh cho Dân Tộc và Đạo Pháp.
Tiến đến một bước là Thượng
tướng của triều đình, lùi lại một bước chân là Thiền Lâm Giáo Chủ. Đó là
Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung, là Tuệ Trung Thượng Sĩ của triều Trần.
Ngài chí khi cao siêu, dung thần thanh nhã, lúc nhỏ đến thăm Tiêu Giáo
Thiền Sư nghe giảng thuyết mà tỉnh ngộ, Ngài liền tuyệt ý công danh,
chuyên tâm học đạo, từ chức lui về Phong Ấp là Vạn Niên Hương. Khi ngộ
đạo, Ngài thường lập đàn giảng pháp.
Ngài tuy chức trọng quyền cao,
mà đối đãi với dân chúng rất giản dị, nên mỗi khi đăng đàn thì môn đồ
thiện tín đến dự thính rất đông. Vua Thánh Tôn rất kính trọng Ngài và ký
thác vua Nhân Tôn cho Ngài (Vua Nhân Tôn là em rể của Ngài. Vì Khâm Từ
Hoàng Hậu (em gái của Ngài) là vợ vua Trần Nhân Tôn). Ngài hết lòng dạy
bảo cho vua Trần Nhân Tôn về phần đạo lý. Khi trong nước có giặc Ngài lại
lấy võ công mà giúp vua Trần Nhân Tôn.
So ra trong lịch sử Việt Nam
chẳng có triều nào nhân hậu hơn triều Lý và triều Trần, cũng chẳng có
triều nào có nhiều tướng tài và các vị Cao Tăng xuất hiện như trong hai
triều ấy. Đó chẳng qua là ảnh hưởng của các vua chúa đối với quần chúng
nhân dân trăm họ rất đậm đà, sâu sắc. Vua thương dân như con đẻ của chính
mình. Mà sở dĩ vua chúa được như vậy, không đâu qua tinh thần từ bi lợi
tha của Đạo Phật đã ảnh hưởng đến các vị minh quân ấy. Hành động lấy long
bào của vua Trần Nhân Tôn đem đắp lên trên thủ cấp của Toa Đô và bảo quan
quân đem tẩn liệm, đã nói lên được tính khoan từ của ơn cao lượng cả rất
nhiều.
Triều Lý và triều Trần là những
triều cực thịnh của dân tộc. Tuy các vua chúa các triều nầy không xây được
những kim tự tháp như Ai Cập; hoặc Angkor Wat của Cao Miên, nhưng đã xây
đắp cho tình tự của Dân Tộc và lòng tự chủ của con dân nước Việt trong
suốt mấy ngàn năm lịch sử để ngày nay chúng ta mới còn có mặt với đời.
Thật ra trong buổi lễ khai mạc
hôm nay chúng tôi cũng không muốn làm mất nhiều thì giờ của quý vị. Nhưng
mong rằng đây là những chất liệu keo sơn để nối liền quá khứ với hiện tại
và hiện tại với tương lai để xứng danh lần kỷ niệm 700 năm trận Bạch Đằng
Giang mà Tổ Tiên ta đã dày công giữ nước và dựng nước.
Xin kính chào quý vị và chúc
buổi hội thảo thành công.
( Số 48 (Tháng 12.1988)
Tưởng niệm Thầy
Viết bài nầy để kính dâng lên
Giác Linh Thượng Tọa Thích Như Vạn
Trụ trì Tổ Đình Phước Lâm - Hội
An - Quảng Nam.
Mới
đó mà đã 25 mùa Xuân trôi qua rồi, tôi chưa có lần nào viết về ngôi Tổ
Đình Phước Lâm nơi xứ Quảng. Nơi đó có một vị Thầy suốt đời tận tụy nuôi
dưỡng chúng Tăng và cũng chính trong tình thương bao la của vị Thầy ấy,
tôi đã được trưởng dưỡng ngay từ lúc ban đầu.
Con người,
càng ở xa quê hương bao nhiêu lại càng nhớ đến quê hương bấy nhiêu. Nhiều
khi trong giấc ngủ hay trong hồi tưởng, người ta ít nhớ đến những gì đang
xảy ra trong hiện tại mà hay liên tưởng đến những gì trong quá khứ, xa
thật là xa. Thời gian ấy có thể là 30 năm hay 50 năm và ít lắm cũng là 5,
10 năm trở lại.
Tôi xa xứ
Quảng đến nay đúng 20 năm; nhưng thỉnh thoảng những hình ảnh ngôi chùa
xưa, Thầy cũ, bạn bè, lũy tre, bờ ruộng, hình ảnh trẻ mục đồng v.v... vẫn
luôn luôn hiện về trong trí óc tôi. Trong những hình ảnh mơ về đó có ngôi
Tổ Đình Phước Lâm và vị Thầy trụ trì tại đó, tôi sắp kể cho quý vị nghe
đây.
Tổ Đình được
định nghĩa là những chùa lâu đời do các vị Tổ sáng lập và chính nơi đó có
thờ các vị Tổ Sư hữu công với đạo và hằng năm có một ngày kỵ giỗ chung, có
nhiều Tăng chúng và tín đồ về tham dự ngày kỵ Tổ nầy; mà Phước Lâm là 1
trong 3 Tổ Đình lớn nhất tại Thị xã Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam.
Quảng Nam là
một tỉnh khá lớn, sau thời Đệ Nhị Cộng Hòa chia ra làm 2, để lập thêm tỉnh
Quảng Tín. Cơ quan hành chánh tỉnh Quảng Nam đặt tại Hội An, cách xa Đà
Nẵng về phía Nam chừng 30 cây số. Hội An là một phố thị của người Tàu đến
lập nghiệp và sinh sống lâu đời tại đây. Đường sá chật chội, cũ kỹ. Phố
nằm sát bờ sông Hội An và bên kia sông là cù lao xã Cẩm Nam. Hội An cũng
có tên là Faifo. Tin đồn rằng ngày xưa người Tây đến đây, nói tiếng Việt
không rành. Họ muốn hỏi đây có "phải phố" không? nhưng không nói
đúng giọng. Vì thế chữ Faifo có từ đó. Hội An có một cái cầu bắc
qua một nhánh sông nhỏ gần Tòa Án tỉnh gọi là Chùa Cầu Nhựt Bổn. Trên cầu
nầy có xây một mái chùa để che chở nắng mưa. Nên gọi là Chùa Cầu. Hai đầu
cầu có dựng tượng 2 con khỉ và chó. Theo sự truyền miệng người ta bảo rằng
Chùa Cầu nầy được xây dựng từ năm Thân cho đến năm Tuất thì xong. Vì vậy
người Nhật đã xây các tượng nầy để kỷ niệm, cầu dài độ chừng 20 thước,
rộng độ 8 thước, hai bên có lối đi bằng gỗ cho người đi bộ và ở giữa cũng
lót ván, dùng để cho xe chạy. Cầu không có gì đặc biệt; nhưng vì đã được
xây lâu đời. Nghe đâu từ thế kỷ thứ 16, khi người Nhựt bắt đầu có mặt tại
xứ ta; nên đã được nhiều người nhắc đến rất nhiều.
Chùa Phước
Lâm, hay ngôi Tổ Đình Phước Lâm nằm xa cách Thị xã Hội An chừng 10 cây số
về hướng Bắc. Tổ Đình tọa lạc trên một diện tích khá rộng, trên 5 mẫu tây
đất, chung quanh là bãi tha ma và ruộng lúa. Bên trong vườn có trồng nhiều
cây bàng, cây xoài và nhiều loại hoa phượng, hoa giấy v.v... Trong vườn
chùa có nhiều cây to, tỏa ra những tàn thật rộng. Do đó khách hành hương
vào chùa buổi trưa, gặp bên ngoài trời nóng gắt, bước chân vào khỏi cổng
tam quan, núp được dưới những tàn cây nầy, quả thiệt không có gì lý tưởng
bằng. Nghỉ một hồi đỡ mệt, tìm lên điện Phật để lễ Phật, sau đó xuống nhà
trù dùng cơm chay đạm bạc với muối tương, còn gì tuyệt hơn nữa.
Tôi đến đây
khoảng năm 1962, khi còn là một đoàn sinh trong Gia Đình Phật Tử Hà Linh
thuộc quận Duy Xuyên. Thấy cảnh chùa vắng lặng, thanh cao. Nhìn những chú
tiểu dễ thương tự nhiên lòng tôi đâm ra mến cảnh nhà Thiền. Lúc bấy giờ
tôi chưa có ý định xuất gia; nhưng dẫu sao với cảnh vật của ngôi Tổ Đình
nầy đã làm cho tâm hồn tôi cảm thấy thanh thoát lạ thường.
Năm 1963 là
năm Phật Giáo tranh đấu, tôi đã có nhiều lần về Hội An; nhưng không có dịp
về Tổ Đình nữa. Đến năm 1964 là năm xuất gia và Thầy tôi đã gởi tôi về Tổ
Đình Phước Lâm để tu học. Thuở ấy ngôi Tổ Đình đã cũ, mái ngói đã rêu
phong, nhiều chỗ bị dột nát. Vì thế Thầy Trụ Trì có chương trình kiến tạo
lại ngôi Đại Hùng Bửu Điện. Tôi đến đây độ chừng 3 tháng sau thì chùa cũng
đã bắt đầu dỡ ngói, đập tường cũ và xây lại. Chùa cũ xây theo lối xưa nên
vào bên trong tối mờ mịt. Vì chùa nằm cách xa Thị xã nên không bắt đèn
điện, chỉ dùng toàn đèn cầy, mà người miền Trung gọi là đèn sáp hay đèn
bạch lạp. Lại thêm ông Thiện và ông Ác thờ bên trong chánh điện, nên mỗi
lần lên chùa thỉnh chuông tối hoặc chuông khuya tôi có cảm giác rợn người.
Ngày ấy trong
chùa nầy có Thầy trụ trì và khoảng 10 Tăng chúng cùng một số người làm
công quả cho chùa. Thầy người huyện Đại Lộc, dáng người nhỏ thó; nhưng ý
chí thì rất kiên cường. Thầy học cùng khóa với Thượng Tọa Thích Như Huệ,
hiện trụ trì chùa Pháp Hoa tại Úc và Thượng Tọa Thích Chơn Phát hiện làm
Giám đốc Phật Học Viện Long Tuyền tại Hội An. Quý Thầy đã có thời lưu học
tại chùa Ấn Quang trong thập niên 50. Sau đó về Trung để chăm lo các Tổ
Đình vì quý Hòa Thượng lớn đã từ từ viên tịch.
Trong chúng
bấy giờ có chú Hạnh Thu và chú Hạnh Đức, chú Như Lệ và chú Hạnh Chơn là
lớn hơn cả. Những vị nầy đã thọ Sa Di. Chú Hạnh Thu người rất cần cù trong
sự tu cũng như sự học, bao giờ cũng miệt mài với kinh sử; nhưng thi hoài
chẳng đậu. Hình dáng cao gầy, tính tình điềm đạm; nhưng ai cũng ngán chú
là "kỷ luật rất nghiêm minh" nhất là trong thời chú làm chúng trưởng. Sau
nầy tôi được tin chú đã chết, khi tôi còn ở bên Nhựt. Lúc ấy chỉ biết đốt
nén hương lòng để tưởng niệm về một bậc đàn anh đã ra đi vĩnh viễn.
Chú Hạnh Đức,
người rất thông minh, học đâu nhớ đó, thích về cả hai chương trình thế học
và Phật học. Học ít nhưng nhớ nhiều. Thi đâu đậu đó; nhưng sau nầy khi lên
đến cấp bậc Đại Học đã lao đao không biết bao nhiêu lần, sau năm 75 có
thời hoàn tục; nhưng nhận thấy thế sự vô thường nên đã trở lại đường tu và
Thầy Hạnh Đức hiện ở miền Nam Việt Nam với Thầy Hạnh Thiện. Thầy Hạnh Đức
thì bạc đầu trước tuổi và có nhiều tư tưởng khác thường. Đôi khi người ta
giỏi, cũng có nhiều tư tưởng hơi kỳ lạ.
Chú Như Lệ,
người mảnh khảnh và rất hào hiệp; nhưng bây giờ chú cũng không còn ở lại
với đời. Mới đó đã ra người thiên cổ.
Chú Hạnh Chơn,
lúc nào cũng đeo kiếng cận, có vẻ trầm ngân, học hành bình thường, không
biết bây giờ đã ra sao, đã gần 20 năm rồi tôi chẳng có tin tức gì cả.
Đến phiên tôi
vào xuất gia nơi chùa nầy thì chỉ chừng ấy vị; nhưng sau tôi chừng 1 năm
có thêm khoảng 20 người nữa. Bây giờ thì hình như chỉ còn một vài vị hiện
tu, trong đó có chú Thị Vinh. Hiện là Thầy Hạnh Quang đang kế vị trụ trì
Tổ Đình Phước Lâm.
Trong 3 tháng
đầu tôi cố gắng học chú Lăng Nghiêm và mỗi tối dộng chuông trước thời kinh
Tịnh Độ. Công việc chỉ có thế và sau 3 tháng, tôi đã làm Thị giả cho Thầy
Trụ Trì. Đây là thời gian mà tôi gần gũi Thầy nhất, cũng là thời gian mà
tôi đã học hỏi được rất nhiều ở nơi Thầy.
Ban ngày các
chú, kể cả tôi, đạp xe đạp từ chùa vào phố để đi học, trưa về lại chùa ăn
cơm, buổi chiều là leo lên nóc chùa dỡ ngói, hoặc khiêng gạch phụ những
người thợ làm chùa. Sau cơm tối chúng tôi, Tăng chúng, và Phật Tử đẩy xe
bò lên tận những lò gạch ở Thanh Hà để chở gạch về xây ngôi chùa mới.
Đường từ chùa đến Thanh Hà xa độ chừng 20 cây số. Một chuyến đi và một
chuyến về đã tốn khoảng 3 tiếng đồng hồ rồi. Trong khi chở gạch, những câu
hò xe trước, đối đáp với xe sau, hoặc ngược lại làm cho mệt cũng vui hơn
lên và cũng từ đó những mối tình của các Phật Tử làm công quả đã chớm nở
trong chốn Thiền môn ấy. Cứ hết đêm trăng nầy, qua đêm trăng nọ, chúng tôi
đều đẩy xe bò chở gạch, chở cát, trộn hồ, thế mà thấm thoát đã một năm
qua, chánh điện ngôi Tổ Đình Phước Lâm đã làm xong và đã đến thời kỳ lợp
ngói.
Trong thời
gian nầy Thầy Như Vạn đã khổ công nhọc sức rất nhiều cho công việc xây cất
ấy. Bình thường Thầy nặng độ 45 kg. Trong thời gian xây cất Thầy còn độ 39
kg. Ai trông Thầy cũng lo cho sức khỏe của Thầy; nhưng lúc nào Thầy cũng
mỉm nụ cười hiền từ và trông có vẻ tự tại giải thoát lắm.
Mỗi tối trời
không trăng, chúng tôi không đi đẩy xe gạch, là những tối dành để học bài,
học kinh và họp chúng. Cứ mỗi tháng chúng họp 2 lần. Nếu có gì khẩn cấp
thì họp thêm một lần nữa. Mỗi lần họp vị Chúng trưởng kiểm điểm tổng quát
mọi sinh hoạt của chùa, sau đó đi vào từng Ban và cuối cùng là từng cá
nhân. Ví dụ như vị Tri Chúng phải báo cáo ưu khuyết điểm trong chúng của
mình. Vị Hương Đăng báo cáo về nhang đèn, hoa quả trên điện Phật. Vị Tri
Viên báo cáo về vườn tược, nước non. Vị Tri Khách báo cáo về sự lễ bái của
khách thập phương. Vị Tri Khố báo cáo về nhà kho của chùa còn nhiều hay ít
v.v... Phần kiểm điểm cá nhân thì có 2 phần. Đầu tiên là tự mình nói lỗi
mình ra cho Đại Chúng biết, sau đó là nhờ Đại Chúng chỉ lỗi của mình. Ai
chưa quen phương pháp nầy thấy hơi khó chịu. Nhưng khi đã quen rồi, quả
thật đây là một cách sửa đổi lỗi lầm rất có hiệu quả. Thông thường thì
mình thấy lỗi người khác dễ hơn lỗi mình và mình phê bình người khác cũng
dễ hơn là tự nhận lỗi mình. Nhưng nếu ai hiểu được nguyên tắc nầy; quả
thật sự phê bình ấy giúp cho việc tu hành của mỗi người nhiều lắm.
Trong thời
gian tôi làm Thị giả cho Thầy, được cái hân hạnh là bưng cơm, hầu nước cho
Thầy. Quét nhà, giặt đồ, lau dọn phòng ốc mỗi ngày cho Thầy. Nhiều khi
cũng đấm lưng hầu Thầy trong khi Thầy làm lụng ban ngày mỏi mệt. Với tuổi
thiếu niên của tôi lúc bấy giờ, nếu ở ngoài đời trong giờ giấc ấy vẫn còn
mơ màng trong giấc điệp; nhưng ở trong chùa thì phải thức khuya dậy sớm để
học hành, tu niệm, hầu Thầy. Nếu không có ý chí cũng dễ nản lắm chứ. Nhưng
nhờ đi tu, chính tự mình phát nguyện, nên dầu cho bao nhiên gian khổ cũng
có thể vượt qua một cách dễ dàng.
Có nhiều đêm
hầu Thầy, Thầy đã ngủ say nhưng cũng không dám rời khỏi nơi Thầy ngủ vì sợ
động giấc ngủ của Thầy, chờ cho đến bao giờ Thầy bảo đi ngủ mới dám đi,
không một tiếng oán than, không một lời trách móc, mặc dầu ngày mai còn
bài vở ở trường rất nhiều.
Người Thị giả
là người hầu cận Thầy, phải đi theo Thầy khi nào có Phật sự ở xa, phải hầu
cơm Thầy, khi Thầy dùng cơm mỗi bữa trong ngày. Người Thị giả nhờ đó mà
học được cái hạnh của Thầy trong khi tiếp khách phải làm sao. Ăn cơm phải
như thế nào. Tụng kinh, ngồi Thiền, họp Chúng v.v... tất cả đều phải thực
hành và ít dùng đến lời nói. Thầy thường hay dạy đệ tử của mình trong nhà
Thiền bằng những hành động cụ thể ấy. Nhiều khi rất khe khắt mà nhiều lúc
cũng rất dễ dãi. Khe khắt hay dễ dãi tùy theo từng trường hợp và tùy theo
từng người đệ tử theo học hạnh của Thầy.
Đồ ăn của Tăng
Chúng là gạo, là khoai; thỉnh thoảng một tuần có 1 lần đậu hủ là vui vẻ cả
chùa. Còn lại bao nhiêu là nước tương muối chấm rau luộc. Nước tương làm
bằng đậu nành có cả cái lẫn nước. Mỗi lần dùng đến, chỉ múc nước bên trên,
gạn cái lại. Sau đó nấu nước muối đổ vào và mỗi lần như thế Tăng Chúng chỉ
dùng nước muối mà thôi. Quanh năm suốt tháng chỉ có thế; nhưng da dẻ của
ai cũng hồng hào. Học hành có nhiều kết quả tốt, chẳng biết tại sao? Có lẽ
vì ai cũng có một niềm tin vững chắc, nên khó khăn nào rồi cũng có thể
vượt qua chăng?
Mặc - chỉ là
nâu sòng áo vải. Đời sống người Tăng Sĩ chỉ đạm bạc có thế thôi. Cái gì
cũng đơn sơ, những cái mà người đời cho là quan trọng như nhà cửa, tiền
tài, ăn ngon, mặc đẹp v.v... đối với người Tăng Sĩ hầu như có thể vượt qua
một cách dễ dàng. Ngay cả giấc ngủ cũng thế, không được ngủ nhiều - có như
thế mới dễ phát sinh trí tuệ và không bị hôn trầm.
Thời gian cứ
như thế lặng lẽ trôi qua. Hết sáng lại chiều, hết chiều lại tối v.v...
chúng tôi sống trong Chúng, cư xử theo phép "lục hòa" nên chẳng có gì xích
mích cãi cọ xảy ra. Thỉnh thoảng cũng có một vài dị biệt nhưng rồi vị
Chúng Trưởng cũng giải quyết rất là êm đẹp. Chuyện nào khó xử nữa thì có
Thầy Trụ Trì lo. Trong chùa cao nhất là Thầy Trụ Trì, có mọi quyền hành để
dạy dỗ cũng như khuyến tấn Tăng chúng. Sống được hơn một năm tại Tổ Đình
Phước Lâm thì tôi về chùa Viên Giác để ở. Lý do để xin đi là vì đi học mỗi
ngày hơi xa. Do đó tôi về chùa Viên Giác của Thầy tôi trong phố để đi học
cho gần. Thầy Trụ Trì cho phép tôi đi nhưng có lẽ trong lòng Thầy không
vui mấy.
Kể từ dạo đó
tôi ở xa Tổ Đình Phước Lâm và mỗi năm chỉ về đó thăm lại một hai lần rồi
lại thôi. Năm 68 tôi vào Sàigòn để năm 72 đi Nhật cho đến nay hầu như chưa
bao giờ tôi đặt chân lại đó một lần nữa. Mặc dầu xa Thầy, xa quê hương
nhưng ngôi Tổ Đình Phước Lâm vẫn luôn luôn ẩn hiện trong lòng tôi trong
bao giấc ngủ chập chờn của những đêm khuya canh vắng tại xứ người.
Năm 1981 tôi
có chuyến Phật sự tại Canada, trong khi thăm viếng chùa Tam Bảo tại
Montréal (lúc bấy giờ còn là Niệm Phật Đường Tam Bảo) sau khi lễ Phật và
chào hỏi Thượng Tọa Thích Thiện Nghị xong, tôi vào lễ Tổ. Nhìn lên bàn thờ
thấy một bài vị bằng chữ Hán, viết như sau: "Từ Lâm Tế Chánh Tôn đệ...
thế, Phước Lâm Tự trụ trì Thích Như Vạn". Tôi như điếng hồn, sụp đầu cúi
xuống lạy và trong lòng lại suy nghĩ mông lung. Sau khi lễ Tổ xong, tôi ra
phòng khách hỏi Thượng Tọa Trụ Trì nguyên do về sự ra đi của Thầy Như Vạn,
tôi được biết có ông bà Hồ Ngọc Tuấn, trước đây là Quận Trưởng quận Duy
Xuyên là đệ tử của Thầy, người hiểu chuyện về Thầy Như Vạn và thờ Thầy ở
đó. Thế là Thượng Tọa Thích Thiện Nghị giới thiệu ông bà Hồ Ngọc Tuấn với
tôi và nhờ đó tôi được biết sự ra đi của Thầy.
Quả đất vẫn
còn tròn, nên tôi còn cơ duyên để biết và gặp lại Thầy, không là trong
nước mà tại hải ngoại, không là hình hài thật của 20 năm về trước mà chỉ
đơn giản có một bài vị được tôn thờ. Ôi nhân sinh là thế đó. Có rồi không,
còn rồi mất. Chẳng có gì vĩnh cửu cả ngoại trừ chân lý. Cái chân lý mà
Thầy đã dạy cho tôi cách đây 25 năm về trước, tôi đã mang vào đời, đi
hoằng pháp khắp nơi. Làm hành trang trong cuộc đời tu niệm của mình. Nó
không phải cao lương mỹ vị của kẻ công hầu khanh tướng, không cao sang
quyền quý như các bậc đế vương, không nghèo hèn đốn mạt như các giai cấp
hạ tiện trong cuộc đời, mà nó, chính nó đã mang đến cho tôi một sự giải
thoát nhiệm mầu trong Đạo.
Thời gian có
trôi đi, không gian có thay đổi, bao nhiêu thế sự thăng trầm, bao nhiêu sự
tuần hoàn của tạo hóa; nhưng hình ảnh ngôi chùa xưa, lời dạy của vị Thầy
khả kính đã làm cho tôi tỉnh thức vô cùng. Chỉ tiếc rằng ngày Thầy ra đi,
tôi không có được cái vinh dự cận kề bên linh cữu của Thầy để đưa Thầy về
trong hư vô của trời đất, hay ở gần đó để đốt lên mộ một nén nhang, giã
biệt người quá cố. Tôi cũng không có được cái duyên nghe được sự ra đi của
Người để làm lễ chung thất hoặc bách nhật trai tuần. Mặc dầu Thầy không là
vị Bổn Sư của tôi; nhưng Thầy đã chăm sóc tôi ngay từ thuở ban đầu, và
cũng chính nhờ cái ban sơ ấy mà tôi sẽ và đã trưởng thành như ngày hôm nay
nơi hải ngoại. Công đức ấy xin hồi hướng lên Giác Linh của Thầy và nguyện
cầu cho Thầy cao đăng Phật quốc, sớm hội nhập Ta Bà để cứu độ chúng sanh.
Khi còn ở
Nhật, mỗi khi hoa Anh Đào nở, tôi cũng đã nhiều lần có dịp nhớ về quê
hương, Thầy Tổ, bạn bè. Sang đến Âu Châu, mỗi lần Xuân đến cũng là cơ hội
để tôi nhớ đến lần đầu tiên đã từ giã gia đình để vào chùa sống cuộc đời
của người tu niệm. Bây giờ nhân ngày kỷ niệm 25 năm xuất gia học đạo, tôi
chọn bài nầy để viết về Thầy, như một sự nhớ ơn và có lẽ sẽ không bao giờ
phai nhạt trong tâm khảm của một người tu dầu ở cách xa quê hương trong
muôn vạn dặm.
Đốt nén hương
lòng để cầu nguyện cho quê hương sớm thanh bình. Hồi chuông triêu mộ của
ngôi Tổ Đình còn vang vọng đến muôn phương và nguyện cầu Giác linh Người
luôn luôn hiện hữu đâu đây để soi đường chỉ lối cho những người còn ở lại.
Viên Giác Tự, một ngày đầu Xuân
Kỷ Tỵ
( Số 50 (Tháng 4.1989)
Mười năm làm báo Viên giác
Báo
Viên Giác đã có mặt tại Tây Đức từ năm 1979, đến nay (1989) đã đúng 10
năm. Ban Biên Tập Báo Viên Giác đầu năm Kỷ Tỵ đã họp tại chùa và quyết
định chọn số báo 51 làm chủ đề Kỷ Niệm 10 Năm Báo Viên Giác. Vì thế hôm
nay có bài viết nầy gởi đến quý độc giả xa gần.
Đây là một bài
viết có tính cách hồi ký mà cũng có tính cách tường thuật lại những sự
việc đã qua trong 10 năm làm báo về mọi phương diện, để độc giả có cái
nhìn tổng quát về tờ báo của chúng ta.
Trong những
năm 72, 73, 74, khi còn ở Nhật, tôi đã bắt đầu tập viết báo cho các tờ
Việt ngữ cũng như Nhật ngữ; nhưng mãi cho đến năm 75 sau khi Chi Bộ Phật
Giáo Việt Nam tại Nhật quyết định ra tờ báo Khuông Việt hằng tam cá nguyệt
thì tôi được giữ trọng trách chủ biên của tờ báo bằng 2 thứ tiếng Nhật ngữ
và Việt ngữ. Kể từ đó đã làm quen với ngành báo chí; nhưng không chuyên
nghiệp và cũng không có kinh nghiệm của một người tu. Năm 77 tôi rời Nhật,
giao lại tờ báo nầy cho Chi Bộ và Thượng Tọa Thích Chơn Thành lo đảm trách
việc ấy. Sau nầy Thượng Tọa Thích Chơn Thành đi Hoa Kỳ thì Thượng Tọa
Thích Minh Tuyền lại đảm nhận công việc trên. Cho đến nay gần 15 năm, tờ
Khuông Việt mới chỉ ra được gần 40 số báo.
Khi đến Đức
tôi chưa có ý định ở lại xứ nầy, nên chưa có ý nghĩ gì về việc ra báo. Đến
tháng 4 năm 1978 khi Niệm Phật Đường Viên Giác được thành lập, sau một
thời gian hoạt động, tôi nhận thấy rằng một tổ chức mà không có một cơ
quan ngôn luận thì khó có thể đi vào quần chúng được. Vì thế đầu năm 1979
tôi đã đơn phương thực hiện ý nguyện nầy. Tờ báo Viên Giác bộ cũ số 1 ra
ngày 1.1.1979, khổ A5 bìa in màu vàng và phát hành lần đầu tiên 300 số.
Những bài viết chỉ chuyên về Đạo và lúc bấy giờ không có một người nào
chuyên nghiệp cả, chỉ toàn là những người viết vì bị bắt buộc mà thôi.
Những số báo đầu có sự đóng góp bài vở của tôi, anh Tuấn, chị Cúc, Thị
Minh và phần kỹ thuật do Thị Chơn trình bày. Tờ báo rất khiêm nhường, nội
dung rất khô khan và việc trình bày cũng không có gì sáng sủa lắm. Năm
1979 ra được 3 số tiếng Việt và 1 số tiếng Đức. Năm 1980 cũng ra được 3 số
tiếng Việt và 1 số tiếng Đức. Số lượng báo tăng từ 300 số của năm 1979 đến
500 số của cuối năm 1980. Tờ báo Viên Giác số 6 bộ cũ hình thức in sáng
sủa hơn những số trước. Vì chùa vừa mới nhận được máy in mới của Bộ Nội Vụ
Cộng Hòa Liên Bang Tây Đức giúp đỡ. Tiện đây cũng xin trình bày về diễn
tiến của nhà máy in để quý vị tường.
Bắt đầu từ năm
1980 chùa Viên Giác đã nhận được sự giúp đỡ tài chính của Bộ Nội Vụ Cộng
Hòa Liên Bang Tây Đức; trong đó đặc biệt về vấn đề văn hóa. Vì thế chúng
tôi có đề nghị với Bộ là xin một số máy móc cũ để in báo Viên Giác. Thầy
trò chúng tôi lo đi xin giá cả của những máy in cũ để gởi lên Bộ. Sau khi
nhận được thư của chùa, Bộ Nội Vụ trả lời rằng: Hãy mua tất cả máy mới,
chứ đừng mua máy cũ vì dễ bị hư; nhưng mỗi một loại máy phải có 3 giá biểu
của 3 hãng khác nhau; sau đó gởi lên Bộ và Bộ sẽ chọn máy nào rẻ nhất, sẽ
cho chúng ta mua.
Thầy trò chúng
tôi lại một phen nữa giở sổ điện thoại ra để tìm nhà máy in đến đó dò hỏi
về máy móc và để hoàn thành một tạp chí như Viên Giác phải cần những máy
nào v.v... Sau khi biết được rằng muốn in một quyển báo điều đầu tiên phải
cần là một máy in offset, một máy làm bản kẽm, một máy làm hình, một máy
đóng gáy, một máy photocopy, một máy cắt. Đó là những máy cần thiết nhất
mà chúng tôi phải đi lấy giá cả; không phải chỉ một hãng mà 3 hãng khác
nhau bán cùng một loại máy như trên. Đây là vấn đề khá vất vả và chẳng đơn
giản chút nào đối với chúng tôi vào thuở ban đầu; nhưng cuối cùng rồi cũng
xong. Chúng tôi đã gởi lên Bộ duyệt xét và trong một thời gian ngắn chúng
tôi đã nhận được thư trả lời là Bộ sẵn sàng tài trợ cho những máy móc của
chúng tôi đề nghị và họ đã chọn một hãng rẻ nhất trong 3 hãng đã gởi lên.
Việc máy in đã tạm xong.
Bây giờ là kỹ
thuật in, cũng chẳng phải là việc đơn giản chút nào đối với một người Tăng
sĩ như tôi. Lúc bấy giờ Thị Chơn đã đi làm, rất bận rộn, không giúp được
tôi gì nhiều, ngoài việc trang trí cho tờ báo; Thị Minh, anh Tuấn, chị Cúc
thì ở xa và bà con Phật tử ở Hannover thuở bấy giờ cũng chưa có mấy người;
nên tôi lại phải bắt đầu học nghề in của một ông thợ già có nhiều năm kinh
nghiệm tại hãng nọ. Sau một thời gian đứng máy đã tự tin, tôi đã chỉ lại
cho Thị Chánh và Linh giúp tôi trong vấn đề ấn loát.
Cuối năm 1980
anh Mai Vi Phúc có viết cho báo Viên Giác bộ cũ số 6 bài "Ngọn bấc xoay
chiều" đã làm cho nhiều độc giả ưa thích và sau đó anh có ý định về
Hannover để giúp tôi trong công việc điều hành tại đây; nhưng sau vì có
việc làm tại Bonn nên anh đã không cộng tác trực tiếp cho Viên Giác nữa.
Anh cũng đã đề nghị là nên đổi lại hình thức của tờ báo Viên Giác, thay vì
A5 như trước, kể từ năm 1981 trở đi nên đổi lại thành A4 và hình thức ấy
đã giữ từ số 1 bộ mới cho đến số 51 ngày hôm nay.
Bìa của những
số Viên Giác bộ mới chúng tôi đã dùng tranh của họa sĩ Võ Đình và nội dung
cũng có một vài thay đổi nhờ có sự cộng tác của những người làm báo chuyên
môn như Đạo Hữu Hồ Trường An, ĐH Nguyễn Hồng Kỳ, Bà Huyền Châu, chị Trần
Thị Cẩm Thi v.v...
Về kỹ thuật
thì cũng đã cải cách ít nhiều; nhưng vì in số lượng ít (500 - 700 số); nên
phải in bằng giấy Folie, thay vì bản kẽm giá hơi đắt so với số lượng kia.
Năm 81, 82, 83
tờ báo ra đều đặn mỗi năm 6 số và số độc giả bấy giờ đã tăng lên đến 1.500
người. Ngày xưa khi mới bắt đầu làm báo, số lượng ít, chỉ cần in, xếp,
đóng, dán tem, bỏ bì thư gởi đi, chỉ cần một cái cuối tuần là xong; nhưng
trong những năm nầy phải chuẩn bị lâu hơn nữa và nhân sự không phải là 2
hay 3 người mà 7 đến 8 người để lo cho việc nầy.
Đến cuối năm
83 chúng tôi nhận thấy báo Viên Giác cần phải thay đổi thêm về nội dung
cũng như hình thức. Vì thế có đề nghị thêm phần tin tức thời sự thế giới
và những mục sáng tác văn nghệ. Cuối năm 84 đã được sự cộng tác của anh Vũ
Ngọc Long, Nguyễn Hòa (Tùy Anh, Phù Vân), Phong-Hưng Lưu Nhơn-Nghĩa. Mục
thời sự thế giới và những bài sáng tác của những Đạo Hữu nầy đã làm say mê
độc giả không ít. Từ đó sự ủng hộ càng ngày càng tăng và vì thế độc giả
cũng không ngừng tăng theo cấp số nhân, chứ không phải là cấp số cộng.
Chúng tôi xin
ghi lại đây những diễn tiến về việc làm một tờ báo như sau: Đầu tiên nhận
và đọc những bài vở của các Tác giả gởi đến. Không phải bài nào nhận là
cũng đăng được đâu. Sau đó người Chủ Nhiệm và Chủ Bút phải phân tích nội
dung của bài báo, giá trị của văn chương, cách hành văn v.v...
Sau đó phải
sắp xếp theo thời gian của nó. Ví dụ như một bài viết ca tụng về mùa Thu
thì không thể nào đăng trong số báo mùa Xuân hay mùa Hạ được. Ngược lại
những bài viết cho Vu Lan thì không thể nào đăng trong Phật Đản được. Bài
phải được phân chia ra làm 2 loại thuộc về Đạo và Đời. Trong phần Đạo lại
phải chọn ra nhiều loại khác nhau như Thiền, Tịnh Độ, Đại Thừa, Nam Tông,
Mật Tông, Phật Giáo và Khoa Học, Phật Học và Triết Học v.v... Phần Đời thì
chia ra Văn nghệ, Sáng tác, Sưu khảo, Ký sự, Văn thơ, Nhạc v.v... Có nhiều
người viết rất hay nhưng thuộc về văn chương ru ngủ, hoặc giả phản tuyên
truyền thì người đọc phải có nhiệm vụ để riêng ra, không cho vào xấp bài
được tuyển chọn. Khi người gởi bài, thấy bài mình không được đăng, dĩ
nhiên ai cũng buồn và không muốn viết tiếp nữa. Nhưng nếu người Chủ Nhiệm
hoặc Chủ bút, vị nể tình riêng người đó cho đăng thì sẽ có nhiều vấn đề
rắc rối sẽ xảy ra. Độc giả không hài lòng, sẽ gởi thư về chùa than trách.
Trách nhiệm thuộc về vị Chủ Nhiệm và Chủ Bút. Vì thế cho nên việc chọn bài
phải thận trọng rất nhiều.
Sau khi chọn
bài xong, giao qua cho người đánh máy. Trong những số đầu có Thị Nhân phụ
tôi đánh máy và bỏ dấu, sau đó có Sư Cô Diệu Ân cũng đã giúp cho việc nầy
trong một thời gian. Từ 5, 6 năm nay có Chị Nga phụ trách việc đánh máy
thường trực cho tờ Viên Giác thì tôi lại không phải lo nhiệm vụ nầy nữa.
Sau khi bài đánh xong thì Thị Chánh và gia đình Đạo Hữu Trần Văn Quang ở
Hannover bỏ dấu dùm. Việc bỏ dấu cũng không phải đơn giản chút nào, nhất
là dấu hỏi, ngã, chấm, phết v.v... Độc giả hoặc chính tác giả khi đọc bài
của mình, thấy sai lỗi chính tả nhiều quá cũng cảm thấy bực mình. Vì thế
việc nầy cũng phải cần thận trọng. Sau khi bỏ dấu xong, tôi phải đọc lại
một lần nữa để thêm dấu vào chỗ thiếu, hoặc bỏ đi những chỗ thừa. Tiếp
theo là giao cho Thị Chơn về nhà trang trí. Sau khi trang trí xong, tôi
kiểm soát lại lần cuối và bắt đầu cho máy chạy để làm bản kẽm rồi quay.
Từ năm 84, 85
trở về sau nầy có nhờ Bác Thị Tâm, Thị Đạo, Thị Pháp, Thiện Thịnh và Thiện
Tấn chuyên lo cho vấn đề kỹ thuật nầy nên tôi có nhiều thì giờ hơn để lo
cho những chuyện khác. Tuy nhiên lúc nào thiếu người tôi cũng phải thay
vào làm thợ in để cho kịp rút báo, xếp thành tập. Thời gian nầy cần có
nhiều người phụ hơn nữa. Vì thế những vị ở gần chùa đã được động viên để
phụ giúp phần công quả nầy. Sau khi sắp thành từng quyển xong, phải có một
ban kiểm lại giấy trắng trong tờ báo. Dầu cố công kiểm soát đi bao nhiêu
chăng nữa nhưng nhiều lúc lơ đễnh không để ý vào tờ báo, nên vẫn còn sót
lại giấy trắng như thường. Vì thế có nhiều độc giả sau khi nhận được báo,
đang đọc say sưa, bỗng nhiên phát giác ra một tờ giấy trắng và viết thư về
chùa khiếu nại bổ túc. Thật ra chỉ vài trang, chứ không có nghĩa là mọi tờ
báo trang ấy đều bị giấy trắng. Đây là lỗi của việc in và của người lựa
báo. Khi lựa xong phải giao qua cho khâu đóng báo. Đầu tiên đóng bằng kim
và cắt báo bằng tay nên quá cực nhọc. Sau nầy đóng báo bằng keo và cắt
bằng máy điện nên đỡ vất vả rất nhiều.
Một tờ báo
được gọi là xong, khi nào đã cho vào bao thư dán tem và mang ra bưu điện.
Trên đường trở về chùa, người làm báo có thể thở phào nhẹ nhõm là đã làm
xong một số báo rồi. Làm báo cực khổ như thế nhiều lúc đến nhà ai thấy tờ
báo bị lót dưới nồi cơm là người làm báo cảm thấy xốn xang vô cùng. Không
phải vì tiếc cho thân phận tờ báo, mà tiếc cho ai đó không và chưa hiểu
được công lao của người làm báo.
Kể từ năm 1985
trở đi có sự đóng góp bài vở của Đạo Hữu Thiện Nghĩa, Đạo Hữu Lê Thị Bạch
Nga, Đạo Hữu Trần Phong Lưu và một số quý vị viết không thường xuyên cho
báo Viên Giác. Đạo Hữu Thiện Nghĩa và Đạo Hữu Trần Phong Lưu có nhiều bài
viết rất hay và Đạo Hữu Lê Thị Bạch Nga đã mang Đạo vào Đời và hướng Đời
vào Đạo trong thể văn nhẹ nhàng, dễ hiểu và làm say mê các độc giả năm
châu bốn bể lâu nay. Cũng trong năm nầy chúng tôi đã thành lập được Ban
Biên Tập Báo Viên Giác mỗi người có trách nhiệm lo cho phần mình phụ
trách. Đạo Hữu Thiện-Căn Phạm Hồng-Sáu, Đạo Hữu Nguyễn Thị Hồng Nhiên cũng
đã đóng góp thường trực các bài ký sự cũng như cho trang Thiếu Nhi của
Viên Giác. Nhiều nhà thơ Hoài Khê, Đồ Cao, Bảo Vân Hà Phong, Huyền Thanh
Lữ, Hà Phước Thảo, Tuệ Nga, Quang Kính, An Lai Thôn Nữ, Đặng Trinh, Tùy
Anh v.v... đã làm say mê các độc giả Viên Giác đó đây qua những vần thơ
đạo thanh cao hay những điệu thơ du dương trầm bổng của Đời.
Năm 86, 87 báo
Viên Giác càng ngày càng cải tiến nhiều hơn, Ban Biên Tập hùng hậu hơn, kỹ
thuật cũng như nội dung thay đổi luôn để đáp ứng nhu cầu của độc giả. Ví
dụ như bìa Viên Giác đã in tối thiểu là 2 màu và chọn những hình bìa thích
hợp với nội dung của tờ báo của các họa sĩ Phạm Thăng, Đặng Văn Nhâm
v.v... để làm nổi bật bộ mặt cho tờ báo. Ban Biên Tập mỗi năm họp tại chùa
một lần để rút ra những ưu khuyết điểm và từ đó sửa soạn cho những số báo
tiếp tục cho năm tới.
Nhà báo lão
thành Nguyễn Ang Ca, nhà văn trẻ Vũ Nam cũng đã đóng góp nhiều bài báo giá
trị cho Viên Giác lâu nay. Trên báo Viên Giác đã có nhiều bài hồi ký như
"Đường Không Biên Giới"; "Tôi Đi Học Tập Cải Tạo" của Tích Cốc làm cho độc
giả đã hâm mộ lại càng hâm mộ nhiều hơn nữa. Mục trang Thiếu Nhi mà người
lớn vẫn đọc như thường, do Vũ Nam phụ trách, sau nầy Thiện Hạnh và Tâm
Bạch phụ trách đã làm cho các bậc phụ huynh lẫn các em ưa thích. Mặc dầu
phần đất của các em rất nhỏ nhưng các anh chị đã lo lắng cho các em đủ các
nhu cầu. Phần Vườn Thơ Viên Giác đã được nhà thơ Hoài Khê chăm bón từ mấy
năm nay đã mang chất liệu văn chương vào tâm hồn độc giả rất nhiều. Phần
Văn Nghệ sáng tác do Đạo Hữu Phù Vân phụ trách đã đưa độc giả từ hình ảnh
nầy qua cảm giác khác trong mọi thế tình. Gần đây báo Viên Giác có thêm
phần xã hội do Đạo Hữu Nguyễn Văn Thinh, Thị Chơn và Thiện Đức lo đã được
nhiều độc giả hoan nghinh. Phần thời sự, tin tức và biên khảo về chính trị
do Đạo Hữu Vũ Ngọc Long phụ trách đã làm cho độc giả rất ưa thích và nâng
cao giá trị của tờ báo Đạo, hiện hữu trong cuộc đời. Về phần tiếng Đức,
Thị Chơn và chú Thiện Tín lo. Về phần đạo do chính tôi đảm trách và trích
một số bài vở trong kinh điển Phật Giáo đã được xuất bản trước đây. Phần
Chủ bút Thị Chơn vẫn lo và phần Chủ nhiệm tôi vẫn đảm trách. Nhưng bây giờ
Thị Chơn lo tổng quát cho tờ báo. Vì tôi công việc Phật sự quá đa đoan,
không thể chăm sóc trực tiếp được. Tôi chỉ xem lại lần cuối trước khi báo
lên khuôn.
Cách đây gần
một năm báo Viên Giác không cần phải bỏ dấu tay như trước kia nữa, vì Thị
Đạo đã tìm ra dấu tiếng Việt trong máy Computer. Rồi đây Viên Giác sẽ có
Laser Druck và dĩ nhiên kỹ thuật in lại cải tiến hơn nữa để khỏi phụ lòng
độc giả đó đây. Ngày xưa báo Viên Giác chỉ cần một người đánh máy trong
vòng 1 tháng là xong; nhưng bây giờ có thêm Đạo Hữu Như Thân phụ vào việc
đánh máy; tuy cả hai người làm việc mà hơn một tháng mới xong. Điều đó
chứng tỏ rằng có nhiều bài đã được đăng và nội dung của tờ báo chứa đựng
cả phẩm lẫn lượng nhiều hơn là những số trước.
Có nhiều độc
giả than rằng chữ báo Viên Giác quá nhỏ đọc không nổi. Thiệt tội cho những
vị lớn tuổi nhưng chúng tôi vẫn chưa có cách gì hơn vì những lý do sau
đây:
- Thông
thường, tâm lý ai cũng vậy, bài đã gởi đến thì muốn được đăng ngay; nếu
không, lần sau sẽ không siêng năng viết tiếp nữa. Vả lại Viên Giác gần đây
có rất nhiều mục, vì thế có nhiều bài, mà muốn đăng được nhiều bài thì
phải rút chữ nhỏ lại.
- Mặt khác nếu
tăng số trang lên 96 hoặc hơn nữa thì tiền tem không còn ở mức 250 gram
cho một tờ báo trị giá 80 Pf loại Büchersendung trong nước Đức nữa, mà có
giá trị cho 500 gram, với giá là 1 DM 20 Pf. Có thể nói giá tem lên rất
cao chùa không thể chịu nổi và không thể gánh vác được lâu dài.
Độc giả báo
Viên Giác cho đến giữa năm 89 nầy là 2.800 người. Nếu tăng chừng 2 trang
báo nữa thì tiền tem có thể tăng lên mỗi lần hơn cả ngàn Đức Mã. Vì thế có
lẽ Viên Giác giới hạn ở số trang 94 cho mỗi số báo vậy.
Chưa có báo
nào ở Đức nầy sống không nhờ vào sự trợ giúp của các cơ quan từ thiện cộng
với sự ủng hộ của quần chúng cả. Ở đây Viên Giác cũng không phải là thương
mại, cũng chẳng phải là tờ báo chuyên nghiệp như những tờ báo khác; nên
chỉ trông mong vào sợ hỗ trợ của Phật Tử và dĩ nhiên có sự ủng hộ một phần
nào của Bộ Nội Vụ Tây Đức. Chúng ta có thể tính một con số khiêm nhường
như sau: Mỗi năm báo Viên Giác phát hành 6 lần. Mỗi lần 2.800 số, trị giá
cho mỗi năm là gần 42.000 Đức Mã. Trung bình mỗi tờ báo kể cả tiền tem gởi
đi hơn 2 Đức Mã. Mặc dầu báo Viên Giác đã được các độc giả xa gần nhiệt
liệt hỗ trợ; nhưng trung bình mỗi năm được 10.000 đến 15.000 Đức Mã là
cùng. Số tiền còn lại nếu không có chính phủ giúp thì sẽ không thực hiện
được. Đó chỉ kể tiền giấy mực, tem thư và không kể một đồng tiền công nào
cả. Vì tất cả các Phật Tử đều làm công quả. Nếu tính tiền công theo người
Đức thì báo Viên Giác phải tính theo cấp lũy thừa, không còn là cấp nhân
nữa. Vì thế cho nên hầu như người làm báo nào cũng mong mỏi ở mọi độc giả
một việc đơn giản là sau khi nhận được một tờ báo, chỉ cho lại tiền tem
thôi là tờ báo có thể sống rồi. Trên thực tế thì khác, không bao giờ giống
như điều mong ước, nên đã có nhiều tờ báo đành bỏ dở giữa đường, mặc dù họ
còn thừa kinh nghiệm và khả năng để điều động một tờ báo, chỉ thiếu một
điều kiện duy nhất là nguồn tài chánh mà thôi. Làm báo có lẽ ai cũng vui
khi thấy độc giả vui và có lẽ ai cũng buồn khi thấy một tờ báo sắp đình
bản. Nhiều khi tôi cầm một tờ báo số đình bản trên tay, lòng cảm thấy nao
nao khi suy nghĩ về cuộc đời, nhân tình và thế thái.
Ở đây chúng ta
có thể đặt câu hỏi rằng: Tại sao những tờ báo thương mại lại sống được? -
Câu trả lời rất đơn giản và dễ hiểu - Vì tờ báo đó đáp ứng được nhu cầu và
thị hiếu của độc giả, chỉ đơn giản có thế thôi -nhưng ở đây nhu cầu và thị
hiếu phải được chia ra làm 2 loại. Loại hướng thượng và loại bình dân.
Loại hướng thượng thì rất ít người đạt tới. Loại bình dân thuộc về đại
chúng -những chuyện tò mò, to nhỏ, dỡ dỡ ương ương v.v... chuyện nầy rất
nhiều người thích đọc, đơn giản và dễ hiểu. Đó là một tờ báo thương mại;
còn tờ báo Đạo hoặc những tờ báo đứng đắn khác làm sao có thể hạ bút viết
những bài, những chữ, những câu chỉ có mục đích giải quyết được những
chuyện hạ đẳng của con người. Quả thật là một tờ báo đứng đắn và một tờ
báo Đạo không ai có thể can đảm làm được việc đó cả. Cũng có nhiều tờ báo
sống chỉ nhờ vào quảng cáo. Vì thế nội dung của tờ báo thì chẳng có gì
đáng để đọc được. Tóm lại chỉ chờ vào sự cảm thông và ủng hộ của độc giả
mà thôi. Nhiều tờ báo Đạo bên Mỹ, Canada, Úc xuất bản không biết bao nhiêu
lần, cũng đành phải đình bản. Vì thiếu hụt tài chánh. Riêng Viên Giác đã
10 năm có mặt với làng báo Việt Nam, đời cũng như đạo kể từ năm 1979 đến
nay qua 6 số bộ cũ, 2 số tiếng Đức và 51 số bộ mới; tổng cộng là 59 số.
Điều đó chứng tỏ rằng Viên Giác vẫn còn tồn tại là nhờ Bộ Nội Vụ Tây Đức
đã yểm trợ tài chánh một phần, cũng như lo cho nhà máy in và sự gia tâm hỗ
trợ của quý Phật Tử khắp nơi. Nhưng nhà máy in sau 10 năm hoạt động, có
một số máy đã cũ, nay cần phải được thay thế. Dĩ nhiên chúng ta phải chịu
phần đóng góp chính trong nầy. Vì Bộ chỉ cho cơ sở lúc ban đầu để chúng ta
phải tự tồn tại và phát triển, không ai có thể lo cho ta suốt cả cuộc đời
mà ta không phải tự mình lo cho mình cả. Cha mẹ nuôi con cũng thế, khi còn
nhỏ lo cho mọi điều; nhưng khi đã lớn khôn rồi thì tự người con đó phải lo
cho chính mình. Vì không còn là đứa trẻ thơ ngây như ngày xưa nữa. Vì thế
những độc giả của Viên Giác, nếu có ủng hộ cho báo, chúng tôi cũng sẽ dành
dụm cho việc trang trải cho tờ báo; nếu có thừa, ngoài sự giúp đỡ của Bộ,
chúng tôi sẽ cho vào phần trang bị máy móc cho nhà in.
Người ta
thường bảo:
"Đường dài
mới biết ngựa hay
Ở lâu mới
biết lòng ai chánh tà"
Nên chúng ta có thể nói rằng: sở dĩ Viên Giác còn tồn tại được cho đến
ngày nay là do lòng thương mến của các độc giả và công lao đại hộ pháp của
Bộ Nội Vụ Cộng Hòa Liên Bang Đức. Ơn ấy xin hồi hướng lên Tam Bảo chứng
tri và nguyện cầu cho mọi người, mọi loài được an lạc giải thoát.
Có lần tôi đã
viết trong "Đường Không Biên Giới" hay đâu đó rằng: Khi mới vào
chùa tu, tôi không nghĩ rằng phải đi học. Vì tôi quan niệm rằng tu chỉ là
tụng kinh gõ mõ mà thôi; nhưng trên thực tế thì không phải thế và ngay từ
khi ở Nhựt cũng như ở Tây Đức, tôi cũng đã không nghĩ rằng phải làm Chủ
Nhiệm những tờ báo Đạo như thế kia, hay thỉnh thoảng phải viết cho một vài
tờ báo khác khi có sự yêu cầu. Âu đó chỉ là một nhân duyên mà nhân duyên
ấy tôi cũng đã chẳng chờ đợi và mong ước. Chẳng qua đó là một bổn phận một
trách nhiệm phải làm mà thôi.
Trên đây tôi
đã tường thuật lại những gì trong 10 năm qua về mọi vấn đề; nhưng tin rằng
vẫn còn thiếu sót. Mong quý vị cộng tác cho Viên Giác niệm tình hỷ thứ cho
những sơ sót ấy của tôi. Vì trong trí nhớ con người chỉ có giới hạn trong
một phạm vi có thể nào đó mà thôi.
Viết bài nầy
tôi có ý trình bày lại mọi diễn tiến trong 10 năm để quý độc giả tường và
mong rằng những cảm tình mà lâu nay quý vị đã đối đãi với Viên Giác vẫn
còn hiện hữu như xưa nay và mong rằng có nhiều người mới khác cộng tác
cũng như hỗ trợ cho mọi vấn đề. Có như thế Viên Giác mới có thể tiếp tục
trong sứ mạng của mình là mang Đạo vào Đời và mong đời được tỏa ngát hương
Từ Bi, giải thoát do sự thấm nhuần đạo lý ấy.
Tôi hy vọng
rằng 15 năm sau nữa sẽ còn viết cho Viên Giác để kỷ niệm lần thứ 25 năm
Viên Giác tồn tại nơi đây và sẽ cải thiện mỗi ngày để Viên Giác xứng đáng
là một tờ báo của mọi người.
Chắp tay
nguyện cầu cho mọi người thấm nhuần giáo lý của Đức Phật và cư xử với nhau
trong tình thương của đồng loại để không còn chiến tranh và thù hận xảy ra
trên quả đất nầy.
A Di Đà Phật.
( Số 51 (Tháng 6.1989)
Người hành khất
Chùa
Viên Giác thường hay đón khách thập phương đủ mọi thành phần nam, phụ,
lão, ấu, như: người Nhựt, người Mỹ, người Âu Châu, Phi Châu v.v... đủ mọi
sắc dân và đủ mọi ngôn ngữ. Nhưng chưa có một vị khách nào có một đặc điểm
đáng lưu ý như một người hành khất đã đến thăm chùa trong tháng 3 năm 89
vừa qua, mà tôi sắp kể cho quý vị nghe đây.
Thật ra trong chữ Bikkhu tiếng
Phạn dùng để chỉ cho các vị Tỳ Kheo thọ đủ 250 giới, trong đó bao gồm 3
nghĩa là: Khất sĩ, Bố ma và Phá ác. Khất sĩ là người đi xin vật dụng của
đàn na thí chủ về nuôi mạng sống của mình; trên cầu đạo giác ngộ, dưới cứu
độ quần sanh. Nguyên ngữ của nó, người đi tu chính là người đi thực hiện
hạnh nguyện vì người và quên mình và tự hạ mình xuống để sự cống cao ngã
mạn không còn tồn tại trong người tu nữa; nên Đức Phật mới chế ra cho các
Thầy Tỳ Kheo như vậy.
Bản thân tôi cũng chỉ thế thôi,
như bao nhiêu vị Tăng sĩ khác trên quả địa cầu nầy; nhưng điều tôi muốn
trình bày ở đây với quý vị là một người Cư sĩ tại gia, mà đi thực hiện
hạnh nguyện của một người hành khất.
Vào một chiều đầu Xuân có người
khách lạ Âu Châu vào chùa tìm tôi và muốn nói chuyện với tôi. Tôi đã tiếp
chuyện với người khách lạ nầy giống như bao nhiêu người khách khác đã đến
chùa và đây là những câu đối thoại:
- Xin cô cho biết, cô muốn gặp
tôi có điều gì?
- Tôi, một người không nhà,
không cửa, không cha, không mẹ, không bạn bè, đã sống đời hành khất suốt 2
năm nay; nhưng bây giờ tôi muốn dừng chân tại đây. Mong Thầy tế độ.
Cô ta chậm rãi trả lời bằng
tiếng Đức như thế. Tôi vừa muốn trả lời, tự nhiên có một vài suy nghĩ chợt
đến. Lẽ nào tại xứ Âu Châu nầy lại có những người như thế ư? Đầu tiên tôi
tưởng cô ta là người mồ côi; nhưng không phải, có lẽ cô ta còn cha mẹ và
họ hàng; nhưng họ hàng không nhìn cô ta, hoặc chính cô ta đã không nhìn họ
hàng của mình. Vì cô muốn tự chọn cho cô một lối đi. Tôi ngồi trầm ngâm
một chút rồi hỏi tiếp:
- Cô quốc tịch gì và tại sao cô
chọn cuộc sống ấy?
- Tôi không có quốc tịch, tôi
cũng không có tên tuổi, và giấy tờ tôi cũng đã mất hết tại Hồng Kông và sở
dĩ tôi chọn cuộc sống khất thực vì tôi muốn mình có một sự tự do nào đó
không bị lệ thuộc vào ai cả.
Nói chuyện với cô ta một hồi tôi
thấy cô ta biết nhiều về Phật Giáo, hiểu rất nhiều về cách sinh hoạt của
các chùa, viện ở Á Châu. Cô ta đã quy y với Phật Giáo Tây Tạng và pháp
danh cô ta đã có, nhưng cô không còn nhớ nữa, ngay cả chính tên của cô ta.
Tôi tin rằng tự cô muốn thế. Vì cũng có nhiều người trên đời nầy muốn quên
tất cả và cô ta đã thực hiện được điều đó. Tôi nghe cô nói về chữ vô quốc
tịch, tự nhiên lại nghĩ đến thân phận mình cũng như của bao nhiêu người tỵ
nạn Việt Nam khác đang sống cuộc đời trôi nổi trên khắp năm châu bốn bề
nầy. Nghĩ người mà ngẫm đến ta, tự nhiên tôi thấy có cái gì lắng sâu vào
tận đáy lòng, xót thương thân phận của người khách ngồi đối diện, có lẽ
cũng chính là xót thương thân phận cho chính mình vậy. Tôi hỏi cô tiếp:
- Vậy ăn, uống và ngủ, nghỉ của
cô ra sao?
Cô ta trả lời rằng:
- Việc ăn uống ở Đức hay ở bất
cứ nơi đâu cũng không khó khăn gì lắm, vào bất cứ nhà hàng nào, nhất là
những nhà hàng Á Châu, xin canh cặn, cơm thừa để ăn qua ngày, đối với tôi
chuyện ấy không khó. Còn ngủ thì tôi đã có tấm nhựa nylon và mền, tôi
thường hay ngủ trên các chòi canh của người săn thú ngoài rừng và đôi khi
tôi vào trong những nhà hoang vắng trong vườn trồng cây để ở lại. Sáng hôm
sau lại tiếp tục đi nữa.
Tôi tự nhiên suy nghĩ thật
nhiều. Ở đây vào đông trời quá lạnh, làm sao chịu đựng được nổi, mà có
người đã chịu đựng được. Tôi tin rằng cô ta đã nói thực điều đó. Có những
người đã có chăn êm nệm ấm rồi còn đòi có nhiều tiện nghi khác. Có nhiều
người đã và đương sống trên giàu sang phú quý với trân hào hải vị trong
các bữa ăn; nhưng vẫn chưa vừa lòng không biết ai đó có bao giờ nghĩ đến
những người hành khất sống, ăn, ở như thế chăng? Một người đàn bà, nhất là
một người đàn bà Âu Châu lại có thể làm được việc đó.
Trông cô ta không phải là người
bất bình thường, chẳng phải là người không có học thức. Vì qua cách đối
đáp cũng như phong diện của cô ta, người ta có thể hiểu được điều đó, chỉ
thỉnh thoảng cô ta có chêm thêm vài câu trả lời không đâu vào đâu cả, biểu
tượng cho tánh xả kỷ của cô thì phải. Tôi trở lại lời yêu cầu đầu tiên của
cô ta để tiếp tục câu chuyện.
- Ở đây chùa Tăng, vì thế chúng
tôi không thâu nhận giới Ưu Bà Di trẻ ở lại chùa. Nếu được, mỗi tháng vài
lần cô có thể đến đây để nghe kinh và dùng cơm chay, chứ chúng tôi không
thể giúp được lời yêu cầu của cô.
Cô ta có vẻ nghĩ ngợi sau câu
trả lời của tôi, một cái buồn nhẹ tênh bao phủ chung quanh người hành khất
ấy. Lòng tôi cũng chùng xuống; nhưng đâu có phương tiện nào khác hơn để có
thể giúp cô ta. Tô quay sang cô ta để hỏi:
- Cô có cần ăn gì không và ngay
cả tiền nữa?
- Tôi không cần ăn nhiều. Thức
ăn của tôi chỉ cần nước canh và bánh mì, đôi khi thêm một ly sữa. Như thế
đủ lắm rồi. Nhưng giờ nầy tôi không đói. Xin cảm ơn Thầy. Còn tiền, tôi
không cần đâu. Tôi đang còn 3 DM trong túi. Như thế quá đủ đối với tôi.
Đây có lẽ là một câu trả lời mà
trong đời tôi chưa bao giờ được nghe ai nói như thế cả, mà câu trả lời ấy
lại thốt ra từ miệng của một người Âu Châu, tôi kinh ngạc làm sao. Trong
một xã hội mà người ta đang đua đòi về mọi mặt; trong khi đó có những
người đang sống giữa xã hội nầy mà không cần đến một phương tiện tài chánh
nào. Quả thật là điều khó làm, mà cô ta đã làm được. Điều đó cũng đã nhắc
nhở cho chính tự thân của tôi là không hờn trách, không oán than, không
bất mãn bất cứ một chuyện gì đã đương và sẽ xảy đến cho mình dưới bất cứ
một hình thức nào cả. Tôi cảm thấy đã đầy đủ tất cả tự hồi nào. Tôi cũng
là một người khất sĩ, đầy đủ trọn vẹn ý nghĩa của nó. Bởi vậy cho nên chư
Tổ Sư mới dạy:
"Có thời có tự mảy may
Không thời cả thế gian nầy
cũng không
Cho hay bóng nguyệt dòng sông
Nào ai hay biết có không là
gì"
Danh mà chi, lợi mà
chi, bằng cấp, địa vị, tiền tài, của cải... có đó rồi mất đó. Nếu ai trong
chúng ta cũng đều ý thức được sự vô thường của cuộc đời thì sẽ không đau
khổ nữa.
Có nhiều người sẽ tự hỏi chính
mình tại sao phải theo đuổi một mục đích lớn như thế? Và theo đuổi để làm
gì? Dĩ nhiên câu hỏi nào đặt ra thì phải có câu trả lời tiếp đó, dầu hay
hoặc dở. Nhưng điều ở đây có cái gì đặc biệt của một người Âu với một
người Á như chúng ta. So ra chúng ta vẫn có đầy đủ phúc duyên hơn nhiều
người khác. Vậy cũng không nên đi tìm cái biết đủ đâu xa mà hãy tự tìm lại
cái chân ngã của mình. Tôi hỏi tiếp:
- Với chừng ấy tiền làm sao cô
có thể đi xe Bus hoặc xe lửa?
Cô ta trả lời rằng:
- Nếu lỡ bị phạt, họ sẽ ghi giấy
tờ cho tôi; nhưng tôi đã nói, tôi không có nhà, do đó làm gì có địa chỉ để
họ gởi tới và họ cũng có thể khám xét tôi, tôi cũng chẳng có thêm một đồng
nào. Cuối cùng rồi cũng thôi. Tôi sẽ bảo với họ "Tôi là người hành khất".
Nếu đi lên xe lửa, điều đầu tiên là tôi nói sự thật với người soát vé là
tôi không có tiền, nếu họ cho đi thì tôi đi tiếp tục. Nếu không, ít nhất
tôi cũng đi trên xe được một đoạn đường.
Không biết có ai trong chúng ta
đã làm việc ấy chăng? Nếu có làm, có lẽ mục đích không giống như cô ta, vì
cô ta không còn gì tất cả. Ngay cả tên của chính cô ta còn muốn quên đi,
huống gì nhớ đến tiền bạc hay những loại vặt vãnh tùy thân khác.
Sau khi nói chuyện xong, cô ta
từ giã mọi người ra đi trong thầm lặng và chẳng biết đi về đâu. Lòng tôi
lại chùng xuống khi nghĩ về "người hành khất" ấy. Tối hôm đó, trong bữa
cơm, tôi đã đem câu chuyện nầy nói lại choTăng chúng trong chùa nghe và
tôi được biết thêm một vài chi tiết khác nữa.
Một chú tiểu trình bày:
"Trong khi Thầy vắng chùa cách
đây mấy tháng, cô ta cũng đã đến đây một lần và cô ta cũng đã thuật lại
câu chuyện ở tù của cô ta tại Irak, chỉ vì lý do không có giấy tờ, và
trong thời gian ở tù đó, cô chỉ được cho uống nước lạnh và ăn bánh mì khô.
Do đó bây giờ cô không quen ăn những loại cứng, khó tiêu, mà tốt nhất là
canh hoặc soup. Cô ta cũng đã kể rằng cô muốn đi khắp nơi trên thế giới
chỉ một tấm lòng thanh thản, không muốn làm phiền ai bận tâm đến mình".
Một vị lớn tuổi thêm vào:
"Trông cô ta ăn cơm với canh
không, mà ăn được tới 4, 5 chén cơm và mồ hôi ra nhễ nhại, thấy mà cảm
động vô cùng".
Nghe những người trong chùa
thuật lại, tôi cũng được biết là cô ta đã tìm đến chùa nầy lúc 2 giờ sáng,
cô sợ quấy rầy giấc ngủ của những người trong chùa; nên đã đi ra ngoài
vườn bông để nghỉ ở đó cho đến sáng hôm sau mới trở lại chùa. Ở chùa ai
cũng thắc mắc, nhưng ít bình phẩm. Vì có nhiều người cũng giống cô ta hay
lui tới chùa; nên ít có người để ý.
Riêng tôi, mỗi lần tiếp xúc với
một người khách, tôi sẽ giúp họ giải quyết những điều họ cần đến và ngược
lại từ trong sự giúp đỡ đó tôi cũng đã tìm hiểu được đối tượng rất nhiều.
Ở đây tôi muốn nói, cách cho một lời nói hay một món đồ rất đáng quý trọng
hơn là cái của đem cho mà không mang một ý nghĩa thực tâm nào cả. Nếu
những bậc lãnh đạo tinh thần có được nhiều thì giờ cũng nên cố gắng nghe
những tiếng nói nhỏ nhất, thấp nhất, mà vang vọng vô cùng. Tôi nghĩ rằng
dầu kẻ đi xin, hay những người ăn cướp đi chăng nữa vẫn còn một chút gì
quý báu của lương tâm. Vì thế nên chúng ta đừng ỷ giàu khinh nghèo, ỷ mạnh
hiếp yếu, cậy mình đẹp, chê kẻ kia xấu v.v... giàu nghèo, mạnh yếu, đẹp
xấu nó chỉ có giá trị thực sự khi con người tự biết cái chơn ngã của nó mà
thôi.
Tôi cũng đã gặp rất nhiều người
hành khất trên vỉa hè Paris, Frankfurt, New Dehli, New York v.v... nhưng
tôi chưa thấy được một người hành khất nào có được một đời sống giải thoát
như người hành khất tôi vừa kể bên trên. Tiền bạc, cơm nước chẳng cần.
Ngay cả tên gọi cũng không buồn phải nhớ nữa, quả là một người đi xin mà
chẳng xin cái gì của thế gian cả và người cho cũng chẳng có cái gì để mà
cho cả. Cả người nhận lẫn người cho không biết ai là kẻ nghèo hơn ai?
Tôi viết bài nầy điều căn bản là
để tự nhắc nhở mình, chính mình cũng là người trong cuộc đời khất sĩ, cũng
giúp đỡ tha nhân và cũng nhận được của tha nhân. Nhưng tôi mong rằng sự
nhận và sự cho đó không còn biên giới nữa để đừng bị trói buộc vào cái
chấp có, chấp không thường tình của nhân thế và điều kế tiếp là để gởi đến
tất cả mọi người một sự suy nghĩ nho nhỏ khi gặp những người hành khất như
tôi đã có lần gặp trong thời gian vừa qua.
Tôi chợt nghĩ biết đâu hình ảnh
cô gái hành khất đó chẳng phải là hóa thân của một vị Bồ Tát hay một vị
Phật nào đó đã hiện ra để theo dõi lòng người, thử thách tấm lòng bác ái
của tha nhân, như những mẩu chuyện cổ tích của Phật Giáo vẫn thường hay kể
như thế.
Hôm nay trời trong quá, tôi ghi
lại mấy dòng nầy trên bàn giấy trong phòng đọc sách. Để kết thúc bài nầy,
tôi nhìn lên từ dung của Đức Bổn Sư đang đặt ngay trước mặt. Tôi mỉm cười
và tự nói với mình là "biết đâu... biết đâu đó là một trợ duyên cho nhiều
kẻ tu hành".
Viên Giác Tự, mùa Xuân năm Kỷ Tỵ
( Số 52 (Tháng 8.1989)
Tương lai thanh
thiếu niên Việt Nam hải ngoại
Viên
Giác số 54 kỳ nầy với chủ đề là "Tương Lai Thanh Thiếu Niên Việt Nam";
nhưng đề tài nầy khá bao quát, cả trong nước lẫn ngoại quốc. Do đó chúng
tôi chỉ xin trình bày về hải ngoại mà thôi. Nói đến thanh thiếu niên là
nói đến sự phát triển, sự vươn lên, sự xây dựng v.v... Vì thế trong bất cứ
một quốc gia nào, một cộng đồng nào, thanh thiếu niên cũng đóng góp một
vai trò quan trọng, nhất là đối với thanh thiếu niên Việt Nam hiện ở tại
ngoại quốc ngày nay.
Đức Phật có dạy rằng: "Muốn
có tương lai tốt thì hiện tại phải tốt". Vì thế muốn có một thế hệ
thanh niên tốt đẹp ở ngày mai, ngay trong hiện tại chúng ta phải gây dựng
cho thế hệ nầy có một niềm tin vững chắc vào tương lai, một sức học uyên
bác qua giáo dục của học đường, một đạo đức đúng đắn dựa vào niềm tin của
Tôn Giáo.
Chắc chắn một điều, ai trong
chúng ta cũng không thể không qua sự giáo dục mà trưởng thành được cả. Khi
còn nhỏ, con cái phải qua sự giáo dục của gia đình, khi khôn lớn, thanh
thiếu niên phải qua sự giáo dục của học đường và khi đi vào đời phải có
một niềm tin vào một Tôn Giáo. Nếu thiếu các điều kiện trên, chắc chắn
thanh niên sẽ không có lối thoát.
Chúng ta vẫn thường hay nghe
danh từ "giáo dục", "sư phạm", "dưỡng nhi" v.v... nhưng cũng có nhiều
người ít khi lưu tâm về ý nghĩa của nó. Vậy giáo dục là gì?
Câu hỏi tuy đơn giản; nhưng
sự trả lời có nhiều phương diện khác nhau. Chữ giáo có nghĩa là dạy
bảo, hướng dẫn, khuyên răn, nhắc nhở. Chữ dục có nghĩa là dưỡng
thành, chăm sóc, huấn luyện. Nếu gộp chung ý nghĩa của hai chữ lại, chúng
ta có thể nói rằng: giáo dục là sự huấn luyện cho con người trở nên đứng
đắn. Sự huấn luyện nầy có thể đến từ cha mẹ hay học đường, trong nhà hoặc
ngoài xã hội.
Còn "sư phạm" có nghĩa là gì?
Sư
có nghĩa là thầy, phạm
có nghĩa là mô phạm, quy tắc của một nhà giáo. Học Sư Phạm tức là học
nguyên tắc của việc làm Thầy, hướng dẫn như thế nào để thanh thiếu niên đi
đúng với đường lối giáo dục.
Ở nhiều nước xã hội tân tiến
có các cơ quan "Dưỡng Nhi, Ấu Trĩ Viên" v.v... để huấn dục các trẻ nhỏ từ
1 đến 5 hoặc 6 tuổi. Đây cũng là những cơ quan giáo dục rất quan trọng đối
với tuổi thiếu niên.
Trở về vấn đề thanh thiếu
niên Việt Nam Hải Ngoại của chúng ta trong hiện tại, chúng ta đã làm được
gì trong 3 điều khoản vừa nêu trên?
A. Đối với gia đình
Gia đình là nền tảng
của xã hội. Gia đình là đơn vị nhỏ nhất trong xã hội; nhưng rất quan
trọng. Vì chính gia đình là những mô thức căn bản giáo dục con người đi
vào xã hội. Nếu căn bản đạo đức của gia đình không vững chắc, thì chắc
chắn rằng các thanh thiếu niên sống trong gia đình đó, khi lớn lên, ra
ngoài xã hội sẽ bị sự tiến hóa của xã hội đào thải và mọi người bên cạnh
chê bai là những thanh thiếu niên đó không được sự huấn dục của cha mẹ.
Có nhiều bậc cha mẹ khi ra ngoại
quốc mải lo bon chen với đời sống vật chất, quên đi sự chăm sóc cho con
cái mình bằng Đạo học Đông Phương, đến một ngày nào đó giữa con cái và cha
mẹ dường như có một bức tường chia cách, vì tuổi tác, vì quan niệm sống,
vì hoàn cảnh bên ngoài chi phối những thanh thiếu niên kia.
Người Nhựt họ tiến bộ thật nhiều
về kỹ thuật; nhưng đồng thời những truyền thống văn hóa, đạo đức cổ truyền
họ không quên, do đó việc duy tân, hội nhập của họ không bị mất gốc. Trong
khi đó, nếu chúng ta không tạo được cho thanh thiếu niên có được đạo đức
của Đông Phương, như: đi thưa, về trình, lễ phép với các bậc trưởng thượng
v.v... thì chắc chắn cái hội nhập của văn hóa Tây Phương sẽ dễ làm cho con
em của chúng ta bị đồng hóa một cách mau chóng và quên đi những cội nguồn
của một Dân Tộc. Đây là một hiện tượng mất gốc.
Những bậc cha mẹ có cái gốc từ
Việt Nam sinh ra và lớn lên tại đó bằng 30 hay 40 năm trời, chắc chắn rằng
cái gốc vẫn còn. Trong khi đó các Thanh Thiếu Niên Việt Nam sinh ra tại
hải ngoại, hoặc giả ở Việt Nam chỉ được 5 hay 10 năm và thời gian trưởng
thành ở ngoại quốc hàng 10 hay 20 năm. Chắc chắn rằng cái ngọn sẽ nhiều
hơn cái gốc. Vì thế hiện tượng bị mất gốc không phải là chuyện khó xảy ra,
nếu gia đình đó, cha mẹ kia không truyền thừa được hạt giống tinh thần,
đạo đức của cha ông từ trong nước ra hải ngoại. Vì vậy bổn phận của cha mẹ
đối với con cái trong gia đình rất quan trọng.
Cái quyền của cha mẹ ở Việt Nam
đối với con cái rất nhiều như việc lo cho con ăn học, lo cho đời sống kinh
tế, dựng vợ gả chồng v.v... nhưng khi ra ngoại quốc, một số quyền nầy cha
mẹ đã bị hạn chế; nên sinh buồn nản và bực dọc con cái mình. Ngược lại,
con cái cũng nhân cơ hội đó mà đòi ly khai gia đình và chấp nhận cuộc sống
tự do ở nơi đây. Như vậy nền tảng của gia đình sẽ bị tan vỡ. Hay hơn hết
cha mẹ nên chấp nhận những cái hay của xứ người, xứ mình, loại trừ những
hủ tục của xứ ta và tật xấu của nơi mình đang sinh sống, nhằm trung hòa
thế đứng giữa hai thế hệ trẻ và già, cũ và mới. Có như thế cha mẹ vẫn còn
giữ được thế đứng của mình và con cái mới vui vẻ chấp nhận một cuộc sống
mới.
B. Đối với học đường
Học đường là lò đúc
nhân tài. Điều đó đúng. Vì xưa nay những người làm nên lịch sử không ai là
không xuất thân từ học đường cả. Thỉnh thoảng cũng có vài người ngoại lệ,
không được đào tạo trong học đường; nhưng họ cũng đã thành danh ngoài xã
hội. Ở nhà có ông bà cha mẹ, đến trường có thầy cô, bè bạn. Thanh thiếu
niên sẽ học được những gì nơi những vị ấy?
Ở Á Đông chúng ta thường thường
người học trò chỉ học từ lời dạy của ông Thầy, hoặc từ sách vở. Vì thế mới
có cảnh phải học thuộc lòng từng chữ, từng câu. Với truyền thống đó, mãi
cho đến bây giờ vẫn còn ảnh hưởng mạnh đến một số thanh thiếu niên Việt
Nam tại Hải Ngoại. Có lẽ ngày xưa Việt Nam chúng ta bị ảnh hưởng bởi nền
giáo dục của Trung Quốc. Khi học chữ Hán, nếu không thuộc mặt chữ, chắc
chắn một điều sẽ không đọc thông câu văn đó. Trong khi đó, chữ quốc ngữ
hoặc chữ theo mẫu tự La Tinh của Âu Châu, mặc dầu chúng ta không biết
nghĩa, chúng ta vẫn có thể đọc được chữ đó như thường. Vì thế cái học của
Âu Châu không cần phải học thuộc lòng và nhồi vào óc như cái học của Á
Đông chúng ta.
Vả lại Âu Châu ông Thầy chỉ là
một vị hướng dẫn mà thôi. Vị Thầy không có quyền tuyệt đối trong việc
hướng dẫn tư tưởng cho thanh thiếu niên học sinh, mà Thầy hay Cô giáo chỉ
là những người bạn đến trường trao đổi kinh nghiệm học hỏi của mình cho
thế hệ đi sau. Châm ngôn Á Châu chúng ta có câu là "Trọng Thầy mới được
làm Thầy". Trong khi đó ở Âu Mỹ Châu người học trò xem Thầy không hơn
không kém một người bạn. Điều nầy giữa Âu và Á có cả những điểm hay và
những điểm dở của nó. Người Á Châu chúng ta khi dạy trẻ thường hay dùng
roi vọt và lời nạt nộ để thị uy làm cho đứa trẻ lo sợ mà học bài. Nhưng
chắc chắn một điều là đứa trẻ sợ cái roi và lời nạt nộ hơn là sợ tư cách
mô phạm của một ông Thầy. Trong khi đó sự giáo dục của Âu Mỹ là trao đổi
kinh nghiệm. Những đứa trẻ có quyền đưa ý kiến của mình trên mọi bình
diện, mọi vấn đề. Vì thế khi ra đời, một thanh niên, sinh viên Âu Mỹ chắc
chắn dạn dĩ hơn những thanh thiếu niên được giáo dục bằng đường lối Á
Châu, chỉ học từ sự hiểu biết của ông Thầy. Dĩ nhiên lối giáo dục nào cũng
có cái hay cái dở của nó; nhưng điều quan trọng là chúng ta phải biết chấp
nhận cái nào và loại bỏ cái nào.
Có nhiều bậc cha mẹ sợ con cái
mình không theo kịp người địa phương, nên cho phép con cái nói toàn tiếng
Đức, tiếng Anh, tiếng Nhật mà không hề cho nói tiếng mẹ đẻ. Cho nên sau
nầy cha mẹ cũng rất khổ tâm, vì không biết con cái muốn nói cái gì với
mình mà cha mẹ cũng không hiểu; vì khả năng ngoại ngữ của cha mẹ có giới
hạn. Cho nên một người được gọi là biết giữ gìn truyền thống văn hóa của
Dân Tộc, chắc chắn rằng chúng ta sẽ không quên việc cho con cái mình học
tiếng Việt và nói tiếng Việt. Việc đọc, nói và viết được một ngoại ngữ là
quý, hơn nữa đây là tiếng mẹ đẻ của các thanh thiếu niên nam nữ ngày nay
tại hải ngoại lại càng cần thiết rất nhiều.
Chúng ta là người Việt Nam, nếu
chúng ta nói tiếng Việt dở thì người Việt mới cười, chứ chẳng ai khen
chúng ta nói tiếng ngoại quốc giỏi, trong khi đó lại quên tiếng của mẹ
mình sinh ra. Chúng tôi có gặp một người đàn bà Việt Nam có chồng Thụy Sĩ
lâu năm, con cái bà ta nói được nhiều thứ tiếng, đặc biệt nói tiếng Việt
rất rành, tôi có hỏi là sao các cháu nói tiếng Việt rành thế? Người mẹ
Việt nam trả lời rằng: Bạch Thầy "các cháu phải nói tiếng mẹ đẻ của cháu
chứ". Nghe câu trả lời rất đơn giản; nhưng ý nghĩa quá sâu sắc. Vì thế các
bà mẹ Việt Nam, dầu cho chồng mình là người gì đi chăng nữa, cũng nên cố
gắng tập cho con mình nói tiếng Việt thì tương lai con cái mình mới có khả
năng hiểu biết về văn hóa của Việt Nam. Trong khi đó cũng có nhiều gia
đình cha mẹ là người Việt Nam mà con cái lại nói toàn tiếng ngoại quốc. Vả
chăng đây là một hiện tượng không còn gốc rễ nữa?! Nếu gia đình đã vậy thì
học đường chỉ là kế thừa những sản phẩm của gia đình mà thôi. Vì thế sự
giáo dục của cha mẹ đối với con cái phải cần thẩm định lại.
C. Đối với tôn giáo
Tôn giáo là đời sống
tinh thần của con người. Nếu con người không có tôn giáo tức người đó như
gỗ đá, không biết thiện ác, xấu tốt mà chỉ sống theo thị hiếu mà thôi. Tôn
giáo tượng trưng cho phần tâm linh hướng thượng của con người. Nếu đời
sống vật chất tăng mà đời sống tinh thần giảm, con người sẽ bị khủng
hoảng. Ngược lại đời sống tinh thần tăng mà đời sống vật chất không phát
triển thì trở nên nghèo nàn, lạc hậu. Vì thế chúng ta cần phải có một đời
sống quân bình. Nghĩa là vật chất và tinh thần phải phát triển đều đặn,
ngang hàng cùng nhau.
Ở Âu Mỹ ngày nay có nhiều bậc
lãnh đạo tinh thần kêu gọi giáo dân, thanh niên, thiếu nữ, nên trở về nội
tâm, trở về sống với thiên nhiên. Vì vật chất đã quá nhiều và vật chất đã
làm chủ mọi phương diện. Tuy tiếng hô to ấy còn vang vọng đâu đây; nhưng
con người tại Âu Mỹ đã bị cuốn hút vào nguồn máy kỹ nghệ, hưởng thụ, cho
nên lời ngăn ngừa của tôn giáo vẫn còn xa thăm thẳm.
Trong khi đó tại Á Châu chúng ta
hay ngay những thanh thiếu niên Việt Nam tỵ nạn ngày nay tại hải ngoại có
được cái may mắn là thừa hưởng một giá trị tinh thần rất nhiều của các tôn
giáo Á Châu. Trong đó Phật Giáo đóng góp một vai trò không nhỏ trong việc
quân bình đời sống của con người giữa xã hội vật chất như ngày nay tại hải
ngoại.
Có nhiều bạn trẻ bảo rằng: Tôi
không cần Tôn Giáo. Có lẽ đúng một phần. Vì khi hỏi một người đang mạnh
khỏe có cần nhà thương không? Chắc chắn là anh ta trả lời rằng: Không.
Nhưng mấy ai trong chúng ta lại được trẻ mãi không già. Mà khi già rồi thì
bịnh đau, chết chóc sẽ đến một cách bất thường. Do đó họ phải cần đến Tôn
Giáo. Tôn giáo là một chiếc phao, là một cây gậy để cho người chết đuối,
hoặc kẻ già nua nương vào đó để sống. Nói như vậy không có nghĩa là Tôn
Giáo chỉ cần cho người già mà người trẻ lại chẳng cần. Đức Phật đã dạy
rằng: "Cuộc đời là vô
thường; nhưng sự chết chóc là chắc chắn".
Ai sinh ra rồi cũng phải chết cả. Mà sự chết đó không chờ ở tuổi tác, hay
sự khủng hoảng tinh thần không lựa người để khủng bố, hủy hoại, mà chúng
đến cùng lúc và cuộn trôi tất cả vào một guồng máy khổng lồ để nghiền nát
đi giá trị tinh thần. Đó là sự phá hủy đi đời sống tâm linh của con người.
Trong khi các thanh
thiếu niên Âu Mỹ ngày nay sống không tương lai và đời sống tinh thần bị áp
đảo ở nhiều mặt, họ tìm đến Tôn Giáo, nhất là các Tôn Giáo Đông Phương,
trong đó có Phật Giáo, thì các thanh thiếu niên Việt Nam tại hải ngoại
chúng ta lại vùi mình vào những hưởng thụ vật chất của Tây Phương, mà chắc
chắn một điều những sự hưởng lạc tinh thần có tính cách ngắn ngủi nầy chỉ
mang con người vào cõi chết như con thiêu thân trước bóng đèn mà thôi.
Vì vậy Tôn Giáo vẫn là một chất
liệu dưỡng sinh cho bao nhiêu tâm hồn lạc lõng muốn tìm về cõi sống tâm
linh của chính mình, mà, điều nầy chủ nghĩa nào cũng không thể mang lại
cho con người được, ngoại trừ Tôn Giáo.
Bên trên chúng tôi đã dựa vào 3
căn bản của Gia Đình, Học Đường và Tôn Giáo để gởi đến các bậc phụ huynh
có con em là những thanh thiếu niên tại hải ngoại ngày nay. Nhằm giúp khai
thông một vài chỗ uẩn khúc nếu có và đối với thế hệ trẻ, chúng tôi muốn họ
nhìn về một tương lai, một chân trời mở rộng, mà chắc chắn giá trị tâm
linh phải được quân bình với đời sống vật chất tại xứ người.
Không có một sự giáo dục nào mà
không lấy con người làm căn bản cả. Vì vậy dù cho là người gì đi chăng
nữa, dầu ở trong nước hay ở ngoại quốc, chắc chắn một điều là con người
không thể thiếu một sự giáo dục nhân bản được.
Đứng trước sự trưởng thành của
các thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam hải ngoại ngày nay và sự lui về quá
khứ của những bậc cha mẹ, chúng tôi tin rằng chúng ta sẽ có một lối thoát,
biết chia xẻ cái hay, cái đẹp cho nhau, biết giữ gìn văn hóa, ngôn ngữ và
Tôn Giáo cũng như phải biết yêu thương nhau những người đồng loại thì một
tương lai Việt Nam huy hoàng bởi những sự đóng góp bằng con tim khối óc
của các thanh thiếu niên nam nữ ngày nay tại hải ngoại không phải là
chuyện ngoài tầm tay.
Nguyện cầu cho mọi người, mọi
loài có được những ý niệm đẹp và cố gắng thực hiện những giá trị nhân bản
của con người.
Chùa Viên Giác một ngày vào Đông 89
( Số 54 (Tháng 12.1989)
Đề tài thuyết trình tại
Caritas Frankfurt ngày 15.1.1993
Phật Giáo trong sự liên
hệ với con người
Kính
thưa quý vị,
Hôm nay, qua
lời mời của Bà Bùi, đại diện cho Caritas Frankfurt, chúng tôi có cơ duyên
đến đây để trình bày với quý vị về một đề tài lấy tên là: "Phật Giáo trong
sự liên hệ với con người". Xin thành thật cảm ơn về sự lưu tâm của quý vị.
Đầu tiên có lẽ
chúng tôi sẽ định nghĩa thế nào là con người dưới cái nhìn của Phật Giáo
và từ đó chúng ta sẽ phân tích sự liên hệ của con người đối với Đạo Phật
như thế nào?
Con người,
theo định nghĩa của Đạo Phật là kết quả của nghiệp lực mà chính mình đã
tạo ra từ đời nầy sang đời khác và chính tâm thức sẽ dẫn dắt chúng ta đi
đầu thai thành con người tốt hay con người xấu v.v... Cũng giống như nước
vậy, từ ngoài hồ, ao, sông, biển, nước sẽ bốc hơi thành mây, mây gặp lạnh
thành mưa, mưa thành nước, nước chảy ra lại ao hồ... Nước cứ luân lưu mãi
như thế từ vô thỉ đến vô chung, nghĩa là không có cái bắt đầu và cũng
chẳng có cái chấm dứt.
Nước cũng có
thể tồn tại trong nhiều dạng thức khác nhau. Ví dụ ở thể loãng, thể đặc và
thể rắn. Sở dĩ có được những thể nầy, vì hoàn cảnh chung tạo nên; những
đặc tính của nước ở trong trạng thái bình thường cũng sẽ là nước.
Con người cũng
thế, nhưng con người khác hơn ở sự vật một điểm là có tâm thức và chính
tâm thức nầy sẽ dẫn dắt con người đầu thai vào thế giới cao hơn hoặc thấp
hơn, tùy theo nghiệp lực mình đã tạo và nương theo ngoại cảnh chi phối ở
bên ngoài.
Tâm của con
người cũng giống như một dòng điện, thân con người giống như một bóng
điện. Một bóng điện dầu tốt đến đâu, chắc chắn một ngày nào đó, bóng điện
ấy sẽ hư; thân thể chúng ta cũng thế.
Ai sinh ra
trong cuộc đời rồi trước sau gì cũng phải chết cả; nhưng chắc chắn sau sự
chết ấy còn những sự sống khác nữa. Cũng như thế, khi một bóng điện bị hư,
chúng ta tin rằng dòng điện vẫn còn và chắc chắn một điều khi thân thể bị
mất đi, tâm thức không thể nào mất hẳn được. Nếu ta thay thế vào một bóng
điện khác, dòng điện lại tiếp tục luân lưu và có thể sáng hơn hoặc mờ hơn,
tùy theo bóng điện kia nhiều công suất hay ít công suất hơn. Tâm thức của
con người cũng vậy, khi đi đầu thai vào một thế giới khác, có thể cao hơn
hoặc thấp hơn là tùy theo hành nghiệp của mình đã làm trong quá khứ và
nghiệp l