XÃ HỘI HỌC PHẬT
GIÁO
Buddhist
Sociology
Tác giả:
Nandasena Ratnapala
Người dịch: Trí
Quảng
---o0o---
2.
VII. CÓ HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ TRONG TRUYỀN THỐNG PHẬT GIÁO?
Cơ
sở cần thiết để xác minh một học thuyết chính trị đậm tích Phật giáo
được tìm thấy trong Maha Parinibbana Sutta (Kinh Đại Bát Niết Bàn).
Ở đây, đức Gotama đề cập đến tập đoàn vua chúa nền cộng hòa dưới danh
xưng Licchavi,
& giải thích đặc điểm mô thức chính trị xây dựng trên bảy nguyên tắc
quan trọng mà các vua chúa này đã áp dụng triệt để, không hề vi phạm.
Đức
Gotama xem trọng bảy điều luật đó vì nếu một quốc gia vận dụng chúng
đúng đắn sẽ mang lại kết quả tiến bộ rõ rêt & chính phủ được lòng dân
tin yêu sẽ không bao giờ suy tàn. Những điều luật đó củng cố sự thống
nhất & lòng tin trong dân chúng. Chỉ khi nào bảy điều luật bị vi phạm
trắng trợn, đoàn thể chính trị hay bộ máy nhà nước so hành xử trái
nguyên tắc dẫn đến suy vi, cuối cùng là tàn lụi. Căn bản trên bảy
điều luật của vua chúa Licchavi, đức Gotama đã rút ra một bộ luật &
thừa nhận chúng như nguyên tắc căn bản tạo khối đoàn kết vững mạnh cho
cộng đồng Phật giáo.
Điều
luật đầu tiên đề cập về việc cần tồ chức họp mặt thường xuyên. Các
buổi họp như thế nhằm mục đích đi đến những quyết định, đặt biệt là
những quyết định chính trị. Theo tương truyền, có 7707 vua chúa
Licchavi.
Có thể so sánh tất cả nhân vật trong cơ quan chính trị nền cộng hòa
này như các đại điện của dân chúng. Những cuộc họp thường xuyên do
các nhà lập pháp tổ chức có ý nghĩa tiêu biểu. Chúng ta không có bằng
chứng cả quyết phải chăng những vua chúa này được bầu cử hay bổ nhiệm
giữ những chức vụ họ định đặt. Có thể chính vì gia thế đặc biệt nên
nhân dân chấp nhận họ làm đại diện. Điều luật quy định cần thiết phải
có các buổi họp thường xuyên giữa giới lập pháp ám chỉ rằng họ là đại
diện của nhân dân. Hoặc qua bầu bán hoặc qua lựa chọn, nhận dân chấp
nhận họ như các đại diện xứng đáng.
Để
nhìn thấy đáo đường ra các vua chúa như thế, cách hay nhất là ta trở
lại những kinh văn nặng nhất sử liệu tìm thấy trong văn học Phật
giáo. Mahasammata, có nghĩa Đại Tuyển, là danh hiệu đặt cho vị trị vì
đầu tiên do nhân dân đã tuyển cử. “Ông Đại Tuyển được chọn lựa tại một
cuộc quần tụ nhân dân đông đảo vào thời gian tài sản riêng tư & gia
đình bị xâm phạm. Người ta bổ nhiệm ông nhằm duy trì luật lệ & trật
tự xã hội; bù lại, theo khả năng của mình, ông ấy được nhân dân san sẻ
bầy đàn gia súc & các vụ mùa như để trả công phục vụ”.
“Theo thuyết thỏa hiệp xã hội của nhà Phật, chủ quyền trong ý nghĩa
quyền lập pháp tối cao được trao cho hay thuộc về khối quần chúng nhân
dân”.
Khi nhân dân chịu trách nhiệm tuyển cử vua chúa, thì không có chuyện
cha truyền con nối, không đặt vấn đề chỉ con vua thừa tự ngôi báu vì
đó là di sản gia phụ. Thậm chí một người trở thành vua vì những quyền
lợi định đặt cũng cần phải đạt sự thuận tình của nhân dân nếu muốn
tiếp tục an vị.
“Hỡi
con trai, thiên luân xa này tiêu biểu cho quyền lực chính trị không
phải là một phần di sản của cha. Nếu con tự chỉnh đốn mình theo các
nguyên tắc quân vương thiên hạ.
rất có thể luân xa, châu ngọc, biểu tượng quyền uy lại khởi lên”.
Trong chuyện Uluka,
người ta thấy cách thức hội đồng nhân dân chọn lựa vị vua đầu tiên
(atite pauhamakappika sannioatitva). Nhân vật được chọn lựa có một
dáng vẻ thanh lịch dễ coi, tác phong uy nghi, sức khỏe tốt. Như vậy,
không thể xem nhẹ thể hình vua chùa hay người cầm quyền.
Truyện Uluka còn cho ta thêm thông tin về cơ cấu bầu bán giới cầm
quyền như đã mong đợi trong hệ thống chính trị nhà Phật. Tù sự liên
hệ này, Sen phát biểu: “Ta có thể suy luận hợp lý rằng nếu vấn đề
tuyển cử quốc chủ từng nêu ra trước hội đồng, điều diễn ra theo sau
đại để là mô thức đã tả trong câu chuyện này”.
Khi
loài chim tề tựu tuyển con cú làm vua, một con qụa phản đối đại diện
như thế vì tướng mạo kỳ cục. Con quạ bày tỏ những luận điểm phủ quyết
việc chọn con cú. Sau khi lắng nghe lời quạ nói, chim khác đề nghị
rằng hội đồng nên thực hiện cuộc đầu phiến ổn định vụ việc. Thế là,
loài chim bỏ phiếu chống việc tôn con cú làm vua.
Không chỉ trong vụ việc tuyển cử người cầm quyền, mà trong suốt gia
đoạn y yên vị hay tại chức, ý kiến quần chúng luôn được xem trọng.
Thiên luân xa tượng trưng cho tiếng nói của nhân dân. Miễn khi nào vị
vua trị nước đúng luật pháp (dhamma), thiên luân xa giữ nguyên trạng,
không biến mất.
Có năm điều đáng lưu ý:
1.Thiên luân xa là biểu tượng của công luận hay những mong muốn của
nhân dân.
2.
Khi vua hay giới cầm quyền mất lòng dân, thiên luân xa tự dưng biến
mất - hiện tượng nhân dân không tin cậu giới cầm quyền.
3.
Chính nhân dân ảnh hưởng đến sự còn hay mất của thiên luân xa. Bất cứ
khi nào vua hay giới cầm quyền hành xử trái với nguyện vọng công
chúng, họ lập tức phản ứng, biểu lộ phản ứng chống lại giới cầm quyền
khi luật lệ đất nước bị coi thường.
4.
Một vị vua hay người cầm quyền mình chính không thể phớt lờ công luận.
5.
Một vị vua hay người cầm quyèn không còn được nhân dân ủng hộ việc giữ
quyền lực thì nên khôn ngoan rời khỏi chức vụ để không tổn thương &
tránh hư hại vị thế của mình trong đời sống. Thường, vua hoặc người
cầm quyền, sau khi thoái ngôi hay từ chức (abdication), sẽ ẩn dật để
trầm tư đạo lý. Như kết quả của cuộc ra đi không ngoan này, y không
mất sự tôn trọng nể nang từng hưởng thời yên vị, tại chức; trái lại,
do trở thành bậc tu hành, lòng tôn trọng & quý kính dành cho y tự
nhiên gia tăng hơn. Như vậy, khi biết không còn được nhân dân ưa
thích mình trong vai trò lãnh đạo, y rút lui một cách ôn hòa, giữ lấy
tư cách hiền sĩ đáng kính trọng, không bị bẽ mặt ô nhục.
Nguyên
lý thứ nhất “những buổi họp thường xuyên của cơ quan chính trị” rõ
ràng trở nên quan chính trọng khi tă xem cách chọn lựa chọn giới cầm
quyền & làm thế nào công luận chế ngự họ hữu hiệu. Đây là một quá
trình hai chiều. Vua chúa hay người cầm quyền dù được nhân dân lựa
chọn & chấp thuận trên danh nghĩa địa vị xã hội.v.v. nhưng cuộc kiểm
chứng đá vàng chỉ thật sự diễn ra qua công luận xét nét hoạt động của
nhân vật đại diện. Mặt khác, vua hoặc người cầm quyền cố gắng thực
hiện chức năng duy trì an ninh & trật tự. Để quá trình hai chiều vận
hành êm thuận, việc hội họp thường xuyên giữa các nhà lập pháp là
tuyệt đối cần thiết.
Cá
nhân hay các nhân được tuyển cử hoặc thừa nhận như vua chúa hay người
cầm quyền cần có một vài phẩm chất thuận lợi sau:
1.
Y xuất thân nhà gia giáo, là con của bậc cha mẹ đàng hoàng,
đứng đắn, khôn bị tai tiếng gièm pha.
2.
Y có tướng mạo dễ coi, dễ gây cảm tình, dáng nhìn thanh lịch &
nghiêm trang.
3.
Y giàu sang, nhiều của cải, lắm vàng, lắm bạc, có kho hàng hóa,
ngũ cốc, châu báu & các vực lúa thóc để hưởng thụ (nên không tham lam
của công).
4.
Y có quyền uy thống lĩnh bốn binh chủng (tương binh, kỵ binh,
xa binh & cung tiễn binh) trung thành, có kỷ luật, uy danh lẫy lừng,
làm cho những ai mang tâm xâm lược phải thoái chí.
5.
Y là người có đạo tâm, người làm điều lành, bàn tay sẳn sàng mở
ra, tấm lòng rộng lượng & hào phóng, là suối nguồn lợi lạc cho các
sramana & brahmana - giới tu hành -, dân nghèo, dân du canh du cư, dân
xin ăn & những ai yêi cầu giúp đỡ.
6.
Y có kiến thức phong phú về nhiều lãnh vực trong đời sống.
7.
Y biết ý nghĩa điều gì được nói đến & có thể giải thích “lời
nói này là nên hiểu như vầy, như vậy”.
8.
Y thông minh, sáng suốt, có khả năng suy sét sự việc hiện tại,
đã qua hay tiên liệu tương lai. (SBB. Vol. II, 175-176).
Vị
vua hay người cần quyền mang trọng trách đại diện một nhà nước nên cần
thiết phải có những phẩm chất này. “Xét về mặt tiêu cực, sức mạnh
quyền lực thường bị biến dụng độc đoán, chuyên quyền, dẫn đến hành
động tàn bạo khó đoán trưóc, & thói chiếm hữu làm của riêng. Vì
khuynh hướng sang đoạt của người như thế đó, ta có thể so sánh vua
chúa hay giới cầm quyền bất chính với bọn cướp bất lương”. Những phẩm
chất trên là tư cụ lượng định sẵn có trong vị vua hay người cầm
quyền. Tuy nhiên, khi hội ý chọn lựa nhân vật đại diện làm vua hay
cầm quyền, người ta tiến hành soi xét hành vi của ứng viên. Thêm vào
đó, nếu ứng viên trở thành vua hay người cầm quyền, y phải theo đúng
pháp luật phù hợp lòng dân; muốn biết y thực hiện tốr công vụ hay
không, điều đó chỉ được kiểm chứng qua công luận. Cũng trong giáo lý
nhà Phật (chẳng hạn, Mahasudassana suttana – Kinh Đại Thiện Kiến),
người ta tìm thấy những lời khuyên vua chúa hay người cầm quyền luôn ý
thức tính giả tạm của mọi vật. kể cả hiện thực huy hoàng của mình để y
không tham quyền cố vị & luôn cố gắng đáp ứng những nhu cầu vật chất &
phi vật chất của nhân dân.
Tính
chất quan trọng lẫn trong nguyên tắc tuyển cử được nhấn mạnh & đem vấn
dnụg vào cộng đồng tu sĩ Phật giáo. “Nền dân chủ (của cộng đồng tu sĩ
Phật giáo) căn bản trên tư cách cử tri tưởng thành, tức là quyền biểu
quyết của những tỷ kheo hay tỷ kheo ni từ 20 tuổi trở lên. Nhưng điều
đầu tiên mà cộng đồng mong đợi họ chứng tỏ là phải có một nền tảng
giáo dục & công hạnh tu tập nào đó dưới sự dìu dắt dạy dỗ của những
bậc cao đạo uyên bác. Điều thứ hai là hội đồng tiến hành động bất
đồng, mà phải đồng thuận, hòa hợp mọi thành viên tu hành trong cùng
khu vực có địa dư nhất định”.
Thuyết vương quyền nhà Phật có những yếu tố mang nhiều ý nghĩa. Như
đã đề cập, vị vua do khối toàn dân tuyển cử (Mahajana sammata): “Sau
cuộc tuyển cử, vị vua là một vị hữu tình ‘giống & không giống chính
họ’ vì nhân loại bình đẳng, dù người được tuyển cử có một nhân cách
hào hoa & oai phong.
Dấu hiệu hơn người trong y là bản tính bodhisattva (hữu tình hướng
thiện) tiềm ẩn nhờ tu dưỡng đức hạnh, không phải nhờ gia thế, dòng
dõi. Cơ quan vương truyền khai mở sự tiến hóa xã hội.
Quyền lập pháp, tư phấp & hành pháp của vua bắt nguồn từ sự thật rằng
y đại diện cho nhân dân & mọi công vụ y làm được nhân dân mặc nhiên
đồng thuận. Thêm vào tướng mạo hào hoa, vị vua còn toát cốt cách oai
phong, thông minh đĩnh đạc, có ‘khả năng quở phạt & ban thưởng’
(patibalo niggahapaggaham katum).
Có
bằng chứng cho ta thấy hệ thống chính trị Phật giáo hoàn toàn giới hạn
quyền lực của nhà vua. Trong chuyện Jataka số 96 có kể rằng, khi một
ma nữ (yaksani) yêu cầu nhà vua nhường triều chính cho thị, thì vị vua
này trả lời: “Ái khanh ôi, ta không có quyền gì trên thần dân cư ngụ
khắp vương quốc. Ta không phải chủ nhân của họ. Ta chỉ có trách
nhiệm xét xử những ai gây rối loạn hay làm điều tổn hại”.
Luật
thứ hai của các vua Licchavi đề cập đến tinh thần tiến hành những cuộc
họp. Nền tảng đạo lập luật này là tính thống nhất. Trong lúc tu tập,
trong lúc tham biện, trong lúc ra quyết định & lúc thực thi quyết
định, tính thống nhất phải được duy trì liên tục. Người ta có thể
kiểm chứng thực tế ý nghĩa & tầm quan trọng của tính thống nhất qua xã
hội tu sĩ.
Nguyên tắc cơ bản của tính thống nhất là bày tỏ lòng tôn trọng tất cả
cá nhân tham dự hội nghị. Mọi sắc thái ý kiến được trình bày & bàn
bạc thấu đáo. Giới lãnh đạo Licchavi “cho thảo luận & tranh cãi” (ite
sabbepi patipuccha vitakka aherum). Hiểu biết quan điểm & ý kiến của
người khác hay thấu cảm là một thượng sách giải quyết những xung đột
tư tưởng. Người ta có quyền công khai trình bày những ý kiến trái
ngược nhau; nhưng khi ta ra một quyết định, phải đặt ‘tính thống nhất’
lên trên nhằm đồng thuận một giải pháp có thể chấp nhận đối với tất
cả. Tính thống nhất này báo hiệu quyết định sẽ được thực thị tốt sau
đó & không hoài công tổ chức hội nghị.
1.
Hội nghị phải thảo luận tất cả vấn đề khởi lên, không gạt bỏ thậm chí
một ý kiến tầm thường.
2.
Một quan điểm, dù nó đại diện cho thiểu số, phải được thảo luận thấu
đáo. Đây không chỉ là sự chấp nhận mà là sự đánh giá đúng tầm vóc vấn
đề. Những ý kiến loại trừ lẫn nhau được khuyến khích & chịu chất vấn
lý lẽ.
3.
Những quyết định đưa ra sau cuộc thảo luận dài, phải làm chắc rằng
quyết định sau cùng & quá trình thực thị quyết định có sự đóng góp ý
kiến & đồng thuận của tất cả. Trong khi thực thị quyết định. mọi
người nên đạt tính thống nhất, tức là năng động đóng góp ý kiến; quần
chúng đóng góp sẽ làm tăng thêm ý nghĩa & thay đổi chiều kích thời
hiệu của quyết định.
4.
Những quyết định đồng thuận như thế có giá trị chuẩn mực; nhưng thể
không đạt được sự nhất trí, Phật giáo khuyến khích chấp nhận quyết
định đa số qua các bỏ phiếu kín. Trong trường hợp này, cần lập tỉ mỉ
những thủ tục tiến hành bỏ phiếu.
Nếu
làm quyết định mang tính dân chủ thiếu sự kiểm tra & cân nhắc thận
trọng có thể dẫn tới hiệu quả bang bổ nền dân chủ. Để đảm bảo điều
này, phải kiểm tra tư cách tất cả những ai tham dự quá trình bỏ phiếu,
chẳng hạn, xem xét họ hội đủ tiêu chuẩn đã mang cho người biểu quyết
hay không, Thủ tục bỏ phiếu được đề ra cẩn thận. Trước tiên, nhất trí
tuyển cừ một viên chức đặc biệt mang đức tính không thiên vị, hiểu
biết rõ ràng luật lệ & thủ tục bỏ phiếu. Vai trò, Phẩm chất hay đặc
tính nào viên chức này nên có được mô tả chi tiết, & nhấn mạnh việc
nhất trí tuyển cử y là bước đầu hệ trọng trong thủ tục bỏ phiếu.
Phận
sự chủ yếu của viên chức kiểm phiếu là đảm bảo mở cuộc tuyển cử sạch &
công bằng theo đúng luật pháp. Có thể dùng phương pháp bỏ phiếu kín
(Gulhaka), bỏ phiếu công khai (Vivataka), hay rỉ tai. Vị thẩm phán
(ám chỉ viên chức kiểm phiếu được toàn thể hội nghị tín nhiệm) có đặc
quyền quyết định nên tiến hành phương pháp bỏ phiếu nào, & cũng có
quyền khuyên nhủ các thành viên về những vấn đề liên quan pháp luật,
đạo đức, nếu y lo sợ xảy ra tình trạng vi phạm tính công bằng. Xét
những quyền hành người ta đã cho viên thẩm phán, ta thấy đây không chỉ
là sự tán thành có ý nghĩa quan trọng từ đại đa số, mà còn phù hợp với
tinh thần & tích xác đáng của thuật ngữ pháp lý, tức là Pháp Luật.
Luật
thứ ba của dân Licchavi đi sâu vào trọng tâm hệ thống dân chủ, đó là
tôn trọng áp luận dụng hiện hành hoặc làm cho nó có hiệu lực. Họ
không duy trì những điều luật không thể áp dụng vào đời sống xã hội
thực tiễn. Giới ra quyét định hay lập phát phải biết tâm trạng & cảm
xúc của nhân dân. Họ không nên tiếp tục công bố những luật gây mâu
thuẫn với nhân dân. Nên không hiểu lợi hại của những phong tục tập
quán trong nhân dân &, nếu vần thiết, hệ thống hóa những luật mới bằng
cách kết hợp hài hòa những giá trị cổ truyển.
Việc
lưu ý mối quan hệ giữa luật & lệ hay phong tục tập quán cho thấy sự
chính chắn của tư tưởng chính trị nhà Phật. Vấn đề kiểm soát xã hội
không thể tách rời phong tục tập quán. Hầu hết hành vi con người căn
bản trên phong tục tập quán trong khi luật do nhân định chỉ là một
phần nhỏ tạo nên hành vi con người. Do đó, cá nhân hay tập thể ra
quyết định chính trị càng phải quan tâm thêm về cơ sở của hảnh vi con
người, tức là phong tục tập quán, đặc biệt là những thứ nào có giá trị
& chuẩn mực nhất định.
Văn
hóa hay mô thức hành vi xã hội bao gồm di sản tinh thần & giáo dục
được lóp người trước truyền lại thế hệ sau. Lý thuyết chính trị nhà
Phật ghi nhận quá trình này như điều luật thứ tư: Thế hệ trẻ cần lắng
nghe & học hỏi vốn liếng trí tuệ của thế hệ trước. Qua ứng dụng thực
hành, nguyên tắc này nhắn nhủ thế hệ trẻ nên bày tỏ lòng kính trọng
bậc cao tuổi hơn mình, gần gũi những ai có học thức để trao dồi văn
hóa, mở rộng kiến thức. Mặc khác, thế hệ trước nên quan tâm thế hệ
trẻ, hướng dẫn & dạy bảo họ, trao cho người trẻ năng lực quyết định
chính trị dưới sự hướng dẫn của mình.
Có
thể dùng giáo lý nhà Phật triển khai thêm việc nhấn mạnh sự hòa nhập
giữa hai thế hệ trong khi làm quyết định chính trị. Thường, người ta
chấp nhận những bậc cao tuổi & trí thức hướng dẫn những người trẻ, tuy
nhiên, có những trường hợp tuổi trẻ thông minh tài cao được coi trọng
hơn người cao tuổi. Truyện tiền thân Ummagga kể rằng chàng trai có
tên Mahosadha vói trí tuệ xuất chúng đã làm những quyết định mang tính
chính trị khôn khéo hơn các thành viên vao tuổi, khiến mọi người nể
trọng.
Sự
xunh khắc giữa thế hệ cao tuổi đối với thế hệ trẻ, đặc biệt trong quá
trình làm quyết định chính trị, khó tránh khỏi khi hành vi của thế hệ
cao tuổi không hoàn hảo. Nói cách khác, lý thuyết chính trị nhà Phật
hàm ý rằng giới làm quyết định chính trị đừng bao giờ cố tình phủ nhận
những chuẩn mực & giá trị đã thiết lập trong xã hội. Họ nên dẫn đầu
đời sống gương mẫu bằng việc tuân thủ & giúp duy trì những luật họ ban
hành. Hành vi như thế được xem là tầm gương cho tuổi trẻ. Phật giáo
có nói đến mười phẩm chất hay đức tính mà vị vua hay người cầm quyền
cần tu dưỡng để đạt mục đích thu phục thân tâm.
Điều
luật thứ tư nhấn mạnh mối quan hệ giữa thế hệ cao tuổi & thế hệ trẻ.
Đây là mối quan hệ tương tác góp phần thống nhất các nhóm bảo thủ &
cấp tiến trong xã hội, đồng thời bảo đảm tính tương tục của chính xã
hội. Sự thống nhất này sẽ đàn hồi chủ nghĩa cực đoan bảo thủ & chủ
nghĩa cấp tiến. Mỗi nhóm buộc phải tích cực kiểm soát hành động lẫn
nhau.
Điểu
luật kế tiếp nhắm đến việc bảo vệ các nhóm yếu trong xã hội. Hiển
nhiên, phụ nữ già trẻ được thừa nhận thuộc nhóm như thế. Do đó, luật
này ước định quyền lợi do cho phụ nữ. Các bậc cha mẹ & xã hội nên
chăm lo các nguyện vọng chính đáng của họ, không thúc ép họ vào những
cuộc hôn nhân nghiệt ngã. Họ không bị bóc lột dưới mọi tình huống.
Khi suy diễn thêm đạo luật này, ta có thể nói rằng một xã hội dân chủ
không bao giờ cho phép các lực lượng mạnh thế bóc lột những nhóm nhỏ
cộng tồn. Chính quyền nào dung túng mọi hình thức người bóc lột
người, thì chính quyền & xã hội ấy không thể được gọi là một nền dân
chủ.
Hai
đều luật sau cùng đề cập đến chức năng tinh thần & giáo dục trong một
nền dân chủ. Truyền thống Phật giáo xem giáo dục như một phương diện
quan trọng của chính sách quốc gia. Người ta nên cẩn thận sắp đặt mọi
mục đích hướng tới. Theo Phật giáo, nội dung tinh thần của giáo dục
do yếu tố tôn giáo cung cấp, vì vậy, cần xem trọng vai trò tôn giáo
trong một nhà nước dân chủ. Quan điểm này không chỉ tạo thuận lợi cho
một tôn giáo nào (như Phật giáo chẳng hạn), mà còn để bảo vệ & ủng hộ
các tôn giáo khác. Vấn đề giáo dục gắn liền cà đời người, do đó, đừng
bao giời nghĩ chuyện hoàn vốn hay định lượng khoản chi phí bỏ ra & lãi
thu về.
Cũng
trong luận điểm của mình, Phật giáo đặt thẳng vấn đề rằng một nhà nước
dân chủ không nên đở đầu hay khuyến khích năm loại hoạt động kinh tế
sai trái tinh thần nhân đạo (sẽ nói đến ở chương kinh tế Phật giáo).
Lý do cơ bản không chỉ là phí tổn xã hội nhiều hơn những hoạt động như
thế gây ra, mà còn làm mất thăng bằng không cần thiết giữa con người &
thiên nhiên, chẳng hạn, nó xâm hại & huỷ hoại bừa bãi môi trường sinh
thái, cuối cùng dẫn đến sự tàn diệt mọi sinh linh trên hành tinh này.
Việc sản xuất vũ khí giết hại là một trường hợp tiêu biểu đáng phải
giải trừ.
Người cầm quyền hay chính phủ của nhà nước dân chủ theo khuôn mẫu Phật
giáo nên thương yêu nhân dân như cha mẹ. “Giống như đứa con khỏe mạnh
phải chăm sóc người cha cao tuổi, cũng vậy, đức vua hay giới cầm quyền
phải quan tâm đến tất cả nhân dân”.
Lý thuyết chính trị Phật giáo đề cập & bài bác một số chính sách được
người giới cầm quyền hay chính phủ thực thị trên nhân dân.
Phổ
biến nhất giữa các chính sách ấy là cách chước lễ nghi hay nghi thức.
Có thể tôn giáo nào đó với hệ thống lễ nghi quy mô lôi kéo đông đảo
nhân dân tham dự ảnh hưởng sâu động khắp đất nước. Vị vua đương thời
dự tính: “Vì lợi ích & hạnh phúc lâu dài, ta phải thực hiện một cuộc
tế lễ long trọng”,
nên đã sắp đặt việc tổ chức tế đàn vì lợi ích của y & vương quốc. Ý
định của vua là tổ chức theo lễ nghi tôn giáo để cầu khẩn thần linh
ban phúc lành. Nhưng vị quốc sư lại chỉ cho vua thấy lễ nghi như thế
chẳng khác gì đặt một gánh nặng khủng khiếp lên nhân dân do tăng thuế
má & uổng phí những nguồn giá trị gồm cả việc giết thú vật trong cuộc
tế đàn. Lý thuyết chính tri nhà Phật cho rằng chính sách này không
đúng & vô ích.
Hình
phạt là chính sách kế tiếp. Vua hay chính quyền thường buộc những ai
vi phạm luật phải chịu những hình phạt khốc liệt. Xét chính sách này,
ta thấy có một số hiểm họa khó lường. Hình phạt do vua hay chính
quyền quy định có thể khiến nhân dân bắt chước theo, vì họ nghĩ: Nếu
vua hay cơ quan nhà nước phạt chặt tay, chặt chân hay trảm đầu kẻ phạm
tội, tại sao ta không tự mình làm điều đó. Chắc chắn trường hợp như
thế xảy ra khi người lãnh đạo quốc gia chấp nhận duy trì hình phạt.
Chính sách này còn mặt bất lợi khác vì dẫn đến sự kiện thuộc hạ của
vua hay các viên chức nhà nước lợi dụng luật dưới danh nghĩa vua hay
nhà nước để hiếp đám dân lành. Đó có thể là điều kiện khởi lên điều
gì chúng ta gọi là tối loạn an ninh quốc gia. Sau cùng, những hình
phạt khốc liệt trở nên phản tác dụng, dễ thường tạo điều kiện cho mọi
cuộc nổi dậy chống đối trong xã hội.
Tính
vô hiệu của chính sách này hiển nhiên được kinh điển nhà Phật ghi
nhận: “Hoàng thượng sẽ hành động sai trái. Chắc hẳn hoàng thượng
nghĩ: ‘Ta sẽ ngăn chặn bọn vô lại nhờ biện pháp giáng thức, lưu đày,
phạt vạ, gôm cùng, & hành quyết’. Nhưng rõ ràng những biện pháp đó
không có kết cuộc như ý, các phần tử chưa được hình phạt vẫn tiếp tục
quấy phá quốc độ…” (SBB. Vol. II). Để ứng phó với chính sách, người
dân mới bắt đầu trang bị khí giới: “Chúng ta phải có gương giáo sẳn
sàng. Đối với họ, những ai ta đánh cướp, ta sẽ giáng xuống cho họ chí
tử, rồi cắt bỏ thủ cấp bịt đầu mối…”, & các tay giang hồ này mài gươm,
tiến vào làng mạc, thị tứ, thành đô, hoặc làm kẻ cướp đường. Những ai
không may trở thành nạn nhân của bọn cướp, thì mạng họ cũng không
còn. (SBB, Vol, II, Part I).
Câu
chuyện Jataka số 520 đã minh họa sự việc hành vi bạo động khởi lên là
do chính quyền khủng bố, chính sách nhà nước hà khắc. Các viên chức
thuộc tất cả phẩm cấp cậy quyền ỷ thế hiếp đáp người dân. Có hàng loạt
sự việc phơi bày thực trạng này, xin nêu hai trường hợp đủ để chứng
minh:
1.
Một nông dân lo chuyện đồng án chờ đợi bữa ăn trưa. Bà vợ mang
vật thực cho chồng, nhưng thuộc hạ của vua bắt buộc giao nạp. Người
phụ nữ đành quay về nấu vật thực khác. Ông nông dân, trong cơn đói
cồn cào, sơ ý làm chấn thương chân lúc đang cày ruộng. Và khi nghe vợ
tường thuật sự việc, ông nguyền rủa nhà vua.
2.
Ông khác có một con bò, nhờ bán sữa bò mới duy trì đời sống gia
đình. Viên chức địa phương cứ yêu cầu cung cấp sữa lần này đến lần
khác. Con bò tức giận vì bị vắt vú liên tục nên đá đổ bình sữa. Cáu
tiết trước hành vi con bò, người đàn ông đâm ra nguyền rủa vua & giới
quan lại.
Bên
cạnh những sự kiện giải thích thực trạng nhà nước nhiễu hại như thế,
loại hành vi bạo động khác cũng được kể ra. Một số người dân phỏng
theo hành vi bạo ngược của vua quan. Câu chuyện sau đây cho ta thấy
điều này.
Ông
lão nọ trở về nhà vào buổi tối, loay quay tháo gở các vật chướng ngại
mà ông đã gắn trước cửa cái & cửa sổ chặn bước quân trộm cướp & quan
lại. Từ sáng sớm, ông phải trốn biệt trong rừng nhằm tránh vua quan ở
đó đến bóc lột. Lúc đang bận rộn dọn dẹp lối vào nhà, ông bị một que
gai bung trúng mắt. Ông lão đau đớn buông lời thán rằng chính vì vua
quan cai trị tàn bạo bằng các hoạt động phản xã hội nên chỉ người dân
cố gắng làm bậy theo.
Lý
thuyết chính trị nhà Phật cũng nói về một chính sách hòa giải kém hiệu
năng & có thí dụ giải thích sự thất bại thảm não ê chề của chính sách
này. Ở đây, nhà vua chiêu hàng những ai tham gia hoạt động chống xã
hội. Biết rằng họ nghèo khó, y ban bố của cải & yêu cầu họ lo cho vợ
chồng, con cái, phụng dưỡng cha mẹ, & làm các việc lương thiện như ủng
hộ các bậc tu hành. Các hảnh xử trở nên vô hiện khi các người khác
nghe tin bọc can phạm xã hội không bị hành phạt, lại được vua ban của
cải.
Chính sách hòa giải nhân từ nhưng không quán triệt nhân quả chứ đầy
tìm ẩn. Cách hành xử của vua không bao giờ có thể giữ mật. Dân chúng
sẽ thấy những phạm nhân manh của cải vua ban về nhà, họ bắt đầu bàn
tán: tại sao mình không lao vào các hoạt động phản xã hội để nhận của
cải vua ban? Và họ rất hay hành động phạm pháp nhằm kiếm thêm tài
sản. Mặt khác, khách quan nhận xét, những ai trong nhân dân đã phạm
pháp thường gặp những cảnh sống khó khăn, bức bối tương tợ & họ không
có lối thoát. Nhà vua quên tìm hiểu cặn kẽ nguốn cơn của hành vi, y
chỉ đơn giản nghĩ rằng tài sản ban bố sẽ là một động lực đủ giúp dân
chúng đoạn tuyệt cảnh sống bi đát thường ngày.
Lý
thuyết chính trị nhà Phật gợi ý xây dịnh chính sách này căn bản trên
một số nguyên tắc cần thiết để giải quyết ổn thỏa các vấn đề xã hội:
1.
Nhà vua hay giới cầm quyền nên thiết lập ‘đường dây nóng với
nhân dân’. Nói cách khác nhà vua hay chính phủ nhà nước dân chủ càng
luôn luôn thăm dò ý kiến nhân dân thông qua các đại điện quần chúng;
mở cuộc trao đổi quan điểm trong tinh thần hòa hợp, khuyến khích công
luận lên tiếng. Những ý kiến như thế sẽ phản ảnh trung trực của thế
giới cầm quyền. Câu chuyện về thiên luân xa đã đề cập trong văn cảnh
trước minh họa cho điều này. Vả, còn có nhiều cách khác mà nhà vua
hay người cầm quyền có thể áp dụng để theo kịp công luận.
Một vị minh quân thường đi kính lý giữa dân chúng như câu chuyện
Gandhathindu
(Jataka 520) ghi nhận. Nhà vua thường thực hiện những biện pháp thị
sát dân tình & đời sống họ. Nhân dân có phương pháp truyền thống để
bày tỏ ý kiến. Một phương pháp phổ biến là tập hợp với nhau, rồi la
hét sao cho tiếng nói của dân lọt lỗ tai vua. Những cách nhơ thế xúc
đẩy giới cầm quyền xét lại những luậtn định ban hành & thay đổi phù
hợp lòng dân.
2.
Nhà vua hay chính quyền phải thiết lập & duy trì công lý giữa
mọi người. Công lý được biết như là Dhamma - đức Gotama đã nói nhiều
về điều này. Một trong những lời dạy tương đối ngắn gọn là năm phương
chăm xử thế: (1) tránh giết hại hữu tình, (2) tránh việc trộm cắp, (3)
tránh chung chạ vợ chồng người, (4) tránh hành vi gian dối hại cá nhân
hay tập thể, (5) tránh dùng các chất gây say. Nếu một người nắm quyền
bắt chính, tất nhiên cấp dưới làm bậy theo. Diễn trình tiêu cực sẽ
lan rộng đến tầng lớp thấp nhất trong xã hội. Phật giáo nói nó tác
động xấu đến môi trường xung quanh, cuối cùng, thực vật & động vật bị
hủy hoại, mưa sái thời, thiên tai gia tăng, nông sản thất mùa. Trong
thời kỳ vua quan, giới cầm quyền bất chính, dầu, mật & các thứ tương
tợ cũng như củ quả mất hương vị, chẳng những thế, cả quốc gia ngày một
trở nên tồi tệ. Khi nào nhà vua hay giới cầm quyền minh chính, mọi
vật phục hồi trạng thái thường nhiên.
Liên
quan vấn đề này, thật thú vị để xem xét ý nghĩa của một bài kệ thường
được người tu Phật nhắc đi nhắc lại khi thực hiện các đoạt động tôn
giáo & xã hội:
Mong
mưa thuận gió động hòa
Mong
mùa màng hoạch đắc
Mong
thế gian an lạc
Mong
chính quyền thanh liêm.
Công
lý hay chánh hạnh vốn có mối quan hệ với thế giới thiên nhiên. Giới
cầm quyền hay chính quyền nhà nước chỉ thành công khi quân bình thiên
nhiên & con người; khi mưa đến đúng thời điểm & vụ mùa thu hoạch dồi
dào. Nhờ vậy nhân dân nơi nơi no cơm ấm áo, vui đời hạnh phúc. Để
tất cả điều tốt lành xảy ra, vua quan hay giới cầm quyền phải dẫn đầu
nếp sống hành xử chánh trực. Sự quân bình vật chất & tinh thần phải
được duy trì nhằm giữ hài hòa con người với thiên nhiên.
3.
Nhân cách của giới cầm quyền là rất quan trọng trong việc xâ
dựng thành công một nền dân chủ kiểu mẫu Phật giáo, Jataka 52 đã giải
thích những phẩm chất này. Trước hết là nhấn mạnh phương châm từ bỏ
lời nói dối, từ bỏ thái độ cố ý lừa bịp công chúng. Chính sách mị dân
bao giờ cũng dẫn đến những hậu quả tai hại. Trong luật truyền dạy
cộng đồng tu sĩ, lời nói dối gạt gẫm một người hay nhiều hơn luôn bị
xem là một tội lỗi nghiêm trọng.
Nhân
cách quan trọng khác mà vua quan hay giới cầm quyền cần tu dưỡng là
lòng nhân từ, không thù hận. Người cầm quyền nên luôn hiểu rằng y là
con người có quyền lực. Nếu y tức giận & làm những điều gì cho cơn
giận thúc đẩy, tự thân y không thể đảo ngược tác động của nó, không
thể hốt lại đầy bát nước đổ. Lòng nhân từ không thiên vị đối với tất
cả sẽ nâng cao chất lượng của Dhamma hay sự công bằng y phân tỏa cho
mọi người.
Người cầm quyền không nên chi tiêu phung phí tài sản nhà nước vào các
cuộc ăn chơi hoang lạc. Y không chỉ có phận sự giúp nhân dân làm
giàu, mà còn phải biết khôn khéo bảo vệ của cải đó không thất thoát
bừa bãi. Việc nghiện ngập chất say, cờ bạc, ham mê gái đẹo sẽ dẫn đến
vung tay tiêu phí của cải nhân dân nhọc nhằn khổ cực kiếm được.
Sau
cùng, người cầm quyền đừng bao giờ cố tình tạo ra kẻ thù không cần
thiết, không nên gây chiến tranh; & không nên mê mãi những hoạt động
thực hiện vì tham vọng của mình hay tập đoàn lãnh đạo. Y nên tận tụy
với việc công, nhìn xa thấy rộng, thu phục nhân sĩ trí đức hợp tác
chung lo đất nước. Người cầm quyền không nên nghe những lời nó hẹp
lượng, sàm tấu, phù phiếm.v.v. không hành động nông nổi dựa vào nguồn
thông tin cung cấp như thế.
Tư
tưởng Phật giáo xem nội xâm - sự xâm hại bên trong quốc gia – cũng như
ngoại xâm - sự xâm hại bên ngoài lãnh thổ - là càn quấy. Một văn bản
nhà Phật đề cập đến hành động này như loại bất hảo cần phải tránh hành
động: “Thưa đại vương, đừng ôm ấp thái độ thù nghịch đối với các vua
lân bang. Bất cứ ai hận thù sẽ bị địch thủ đáp trả thù hận. Hảy phát
triển mối giao hảo hữu nghị với các vua lân bang, hỡi chúa thượng muôn
dân, thiên hạ luôn tôn trọng các đấng quân vương kết tình hữu nghị bền
vững”.
Khi một nhà vua trị nước với tư tưởng xâm hại, vận dụng các phương
tiện bầt chính, vương quốc của y trở nên suy yếu & phân rã vì những
phe cánh bất đồng & phiến loạn nổi dậy đó đây. Khi nào nhà vua trị
nước theo nguyên tắc chánh trực, vương quốc trở nên ‘hùng mạnh, hưng
vượng, phồn thạnh & được ngưỡng mộ’.
Theo
lý thuyết chính trị nhà Phật, sức mạnh được chia thành năm thành tố:
Sức mnạh vũ trang, sức mạnh kinh tế, sức mạnh tương thân (nhóm, tập
thể…), sức mạnh lai lịch (dóng dõi, gia thế…), sức mạnh trí tuệ (kiến
thức, hiểu biết…). Trong năm loại, sức mạnh trí tuệ (panna labam)
vượt trội hơn tất cả vì sự có mặt của trí tuệ thúc đẩy & dẫn dắt những
sức mạnh thành tố khác vào chiều hướng đúng đắn. Không có trí tuệ,
sức mạnh vũ trang (bahu labam) – bao gồm năng lực vật thể & thần thái
có thể sai khiến đối tượng làm điều ta quyết định, dù cho họ đồng ý
hay không – hóa ra hành vi man rợ thô bạo. Cũng thế là những sức mạnh
khác. Một người sanh vào thế gia vọng tộc (abhijacca balam) nên có
sức mạnh lali lịch, sức mạnh này là do thuận duyên mang lại cần được
trí tuệ hướng dẫn & kiểm soát. Sức mạnh kinh tế (bhoga balam) & sức
mạnh tương thân đạt đuợc nhờ thân tâm liên kết ủng hộ (amaca balam)
củng phải như thế.
Lý
thuyết chính trị dưới dạng ứng dụng theo khuôn mẫu nhà Phật được xét
qua Ummagga Jataka. Ngườì ta chỉ cần so sánh câu chuyện này với
Arthasastra của Kautiya
để thấy sự khác biệt giữa quan điểm chính trị nhà Phật & Hindu.
Thuyết chính trị nhà Phật không duy tâm & không xa rời thực tiễn như
nhiều người lâu nay vẫn lưu ý. Trong Ummagga Jataka, chúng ta tìm
hiểu lý thuyết nhà Phật được chuyển thành ứng dụng ra sao.
Điểm
nổi bật trong việc ứng dụng thuyết chính trị nhà Phật là dễ cao tính
siêu việt của sức mạnh khác. Mahosadha, vị anh hùng trong Ummagga
Jataka không ai khác chính là biểu tượng trí tuệ. Y trội hơn các nhân
vật xung quanh. Và, bây giờ, chúng ta xem làm thế nào bốn loại sức
mạnh khác trở thành vô hiệu khi đọ với trí tuệ của y.
Mahosadha đại diện cho tuổi trẻ. Chính tuổi trẻ của y tương phản với
giới thái sư cao tuổi. Thanh niên Mahosadha đọ trí với Kevatta, dường
như là một nhân vật thoát ra từ các phẩm Arthasastra với mưu mô, tính
toán mang máu thịt của tác giả Kautilya. Kết cuộc, truyện cho thấy
Mohosadha vẫn tôn trọng người lớn tuổi & sẵn sàng làm lợi từ những lời
khuyên của họ.
Chàng trai thông minh này là biểu tượng mới của sức mạnh chính trị
khởi lên từ lớp nông dân bình thường trong tất cả các thái sư của các
vua đều xuất thân từ những gia đình thượng lưu. Vì lý do đó, uy thế
quyền lực trong con người Mahosadha phải được phân tích theo quan
điểm: sức mạnh chính trị không dính dáng gì đến lai lịch gia thế, dòng
dõi. Nói một cách đúng đắn, nó thuộc về thường nhân nói chung chứ
không dành riêng cho ai tuyên bố nó là đặc lợi gắn liền lai lịch.
Theo tư tưởng nhà Phật, có hai chính sách mà người cầm quyền một quốc
gia có thể thực hiện như thuật trị nước:
1.
Y có thể đương đầu áp lực bằng áp lực, dùng hòa hiếu đáp hòa
hiếu, dùng thiện đối đãi thiện, lấy ác chính phục ác.
2.
Y có thể chế ngự lòng sân hay thù hận bằng lòng nhân từ, lấy
thiện chinh phục ác, rộng lượng thắng tham lam, chân thật thắng giả
dối, hư ngụy.
Trong hai chính sách trên, chính sách thứ hai được coi như tốt nhất
(Jataka 3, 4). Sự chọn lựa căn bản trên giải tích bản thân & nền tảng
đạo đức: lấy bụng ta suy ra bụng người sẽ biết rằng tất cả nao núng
trước hình phạt, & đều lo sợ cái chết, vì thế, tự kiềm chế mình không
làm điều gì tổn thương kẻ khác.
Căn
bản đạo đức này dựa vào kết quả kinh nghiệm phát sinh sau những hành
vi sân hận. Người nào bạn bị cư xử tệ bạc sẽ cố gắng để phản hồi
tương thích (chẳng hạn, “Nói năng thô lỗ với ai, người ăn míếng sẽ trả
miếng”.
Mặt khác, ta có thể quan sát những kết quả như đau đớn thống thiét,
tai họa, thương tích thân thể .v.v. mà người gánh chịu vì hành vi sân
hận. Luật kamma/karma do hành vi như thế chắc chắn sẽ mang lại kết
quả tiêu cực ngay hiện tại hay mai hậu.
Phật
giáo kiêng tránh bạo hành. Câu chuyện về con rắn hổ mang tu hạnh bất
đạo hành đếm độ bà lão quờ quạng nọ khi đi lượn củi đã nhặt nó làm
‘dây’ bó. Con rắng tu bỏ đạo hành chịu đau đớn thể xác kinh khủng.
Về sau, nó đưọc khuyên giãy nảy & huýt gió dọa mấy bà tiều phu quáng
mắt biết rằng nó là con rắn nguy hiểm để yên cái thân. Bất bạo hành
trong Phật giáo có thái độ thực dụng trước các vấn để đời sống, & sống
phải là một sự cam chịu tiêu cực hoàn toàn, không phải trơ mình bất
động mặc ai muốn làm gì thì làm.
Việc
dùng sức mạnh vũ trang là một thuộc tình của nhà nước chính trị hay có
chủ quyền. Trong Ummagga Jataka,
Mahosadha dùng sức mạnh này vào một vài dịp. Khi Kevatta, quân sư của
vua Vedeha cố gắng đẩy Mahosadha ra khỏi vũ đài chính trị, chàng trai
đả trả thù đối thủ cùng một đòn hiểm, thậm chí y còn chà đầu Kevatta
lên sàng đền đổ máu. Cũng Mahosadha bắt toàn bộ gia đình vua Culani
làm con tin & đe dọa cua Culani rằng nếu y bị hại, thì tất cả con tin
sẽ bị quốc chủ của y, vua Vedeha, cư xử tương tợ. Người ta không thể
điều hành trị nước mà không viện tới những hành động như thế. Hành vi
bạo lực là một phần của đời sống thế tục. Ta không thể tránh nó, đặc
biệt là các công việc chính trị. Phật giáo nhìn vào & kiểm tra ý
chính của nhà chính trị có tu dưỡng tinh thần nên điều chỉnh giảm
thiểu bạo hành & hạn chế gây tổn hại tha nhân. Nó nên được thực hiện
không vì mục đích chính đáng của số đông, tức là cứu nhiều người thoát
đại họa.
Lý
thuyết chính trị & ứng dụng đi đôi với nhau trong truyền thống Phật
giáo. Nhà nước hay vương quốc phải phòng ngừa ngoại thù. Ummagga
Jataka cho thấy biện pháp phòng ngừa được thực thi trong số các thức:
1.
Xây dựng thành lũy, chiến hào .v.v cản trở lực lượng ngoại xâm.
2.
Dự trữ thực phẩm, nước & những nhu yếu khác phòng khi bị vây
hãm.
3.
Có một quân đội tinh nhuệ & giữ kỹ luật tốt đủ hiệu quả bảo an
quốc gia.
4.
Tổ chức mật vụ để đoán trước mọi hoạt động của địch. Mahosadha
đã tiến hành công tác tình báo bằng cắch dùng hai người & thậm chí
dùng chim để dọ thám tin tức. Về vấn đề này, Arthasastra & Ummagga
Jataka hầu như theo cùng chiến lược. Nhưng có hai điểm khác biệt giữa
chính trị Phật giáo & chính trị Hindu:
(a)
Bất cứ điều gì được làm, dù trong thời chiến hay thời bình, lý
thuyết chính trị Phật giáo luôn đượm yếu tố trong hành động. Tại sao
phải làm hành động này? Vì để tự miễn tự mãn hay tiêu khiển, hay để
bảo an con người? Hay còn nhiều động cơ nào nữa, như lợi ích của số
đông?
(b)
Hành động chính trị gắn liền trí tuệ. Xây dựng thành lũy, tháp
canh .v.v củng cố địa thế. Dự trừ thực phẩm .v.v. Còn nước, phải
tính ra sao? Đây không phải là vấn đề nhỏ, có thể tư dân trong thành
nhiều nước sử dụng. Mahosadha nghĩ ra một ‘mẹo’. Y tưởng tượng làm
thế nào đối phó một khi quân địch ngăn việc tiếp nước vào thành & với
sự nhìn xa trông rộng, y vạch phương sách tâm lý vượt qua khó khăn.
Nếu
muốn tìm một gương mẫu thực tiễn trong việc ứng dụng thuyết chính trị
nhà Phật, người ta không thể chọn nhân vật điển hình nào tốt hơn vua
Asoka ở Ấn Độ, một nhà nước hay một ông vua tu Phật nổ lực kiện tránh
gây ra chiến tranh & bạo hành. Tuy nhiên, theo vua Asoka “nếu chẳng
may họ bị dính líu chiến sự, họ nên vui thích giữ thái độ nhẫn nại &
bày tỏ hòa hiếu đối với quân địch, luôn nhờ rằng chỉ có sự chinh phục
bằng đạo lý mới là chính nghĩa vì lợi lạc hiện tại & mai hậu”.
Quốc
gia nào theo Phật hay vị vua tu Phật nên thiết lập một tiêu chuẩn hành
vi đức độ cho mình & mong đợi các cấp dưới noi gương. Vào mọi lúc,
người cầm quyền sẵn sàng tư thế phục vụ nhân dân. “Dù ta đang ẩm
thực, hay trong hậu cung, hay trên sàng nghỉ, đang du hành hay trong
ngự uyển” Vua Asoka đã xuống chiếu chỉ như thế nhằm theo kịp yêu sách
& nguyện vọng của nhân dân.
Quan
tâm đến bộ phận yếu kém trong vương quốc, vua Asoka tăng lực bộ máy
chính trị giúp đỡ cho họ. “Những dân nghèo khó thất học bị chế độ tập
cấp Hindu coi thấp hèn hơn thú vật, bị bạc đãi, khinh miệt. Nhưng
trong mắt nhà vua nhân đức, tất cả con người là thân thuộc &, đặc
biệt, vua ra lệnh đối xử với dân bị tước tập cấp”.
Chính sách của vua Asoka triển khai không chỉ phục vụ con người mà
cũng nhắm đến loài vật & cây cỏ. Các loại củ, quả, cây xanh che bóng
mát & môi trường như đã nói trong Phật giáo có thể thấy qua các hoạt
động của vua Asoka. Vua xuống chiếu chỉ cấm nhân dân không được đốt
phá hay hủy hoại rừng, hạn chế giết thú bừa bãi.
Đường lối chính trị của vua Asola tuy không thể cập Nibbana/Nirvana
hay ‘cá nhân’ đạt an lạc tối hậu thoát khỏi tái sanh & đau khổ, nhưng
rập khuôn thuyết chính trị Phật giáo dựa trên nhựng lời dạy đạo đức
của Phật Gotama. Vua thừa nhận tôn giáo nỗ lực biến đổi đời sống con
người tốt hơn ngay hiện tại & mai hậu, & nhìn các tôn giáo như thế với
sự quý trọng & bao dung. Điều đó, lần nữa, làm chúng ta nhớ lại thái
độ của đức Gotama nhìn những tôn giáo đương thời. “Đức vua bày tỏ
lòng quý trọng tất cả người theo đạo, dù họ cư sĩ hay tu sĩ, bằng cách
tặng quá, chào hỏi, & những hình thức trọng vọng khác. Các đạo giáo
mang sắc thái tín ngưỡng di biệt, nhưng không nên tang bốc tín ngưỡng
mình hay chê bai tín ngưỡng người một cách vô lý. Chỉ nên chê bai khi
đủ lý do. Tất cả tôn giáo đều đáng quý trọng vù lý do này hay lý do
khác. Với lối hành xủ như vậy, một người không những yên ổn theo tín
ngưỡng của mình mà còn gieo thiện cảm trong các tín ngưỡng khác; ngược
lại, khi ca ngợi & đề cao tín ngưỡng mình nhưng nhục mạ tín ngưỡng kẻ
khác, thực tế, người ấy tạo tâm lý bất hòa trầm trọng nhất”.
Xét
thuyết chính trị nhà Phật & qua những gương mẫu ứng dụng có thể thấy
từ triều vua Asoka, cần rút ra một nguyên tắc chỉ đạo cho mọi phận sự
& chức năng của nhà nước theo Phật:
(1)
Bước thứ nhất trong nguyên tắc chỉ đạo này là cấn cung cấp “sự
chăm sóc, trông nom, bảo vệ đến tất cả nông dân bao gồm người thuộc
các loại nghành nghề, các tu sĩ & quân đội”. Nên chiếu cố sự chăm sóc
& bảo vệ đến cả loài thú vật.
Tất cả được đối xử với lòng khoan thứ, rộng lượng, thân thiện & từ
tế. Còn ‘trông nom’ ám chỉ những biện pháp giúp nhân dân bảo vệ nhà
cửa, quần áo .v.v. ngăn ngừa mất mát & các tai ương do thiên nhiên hay
con người gây ra (tức là loại bảo hiểm nhà nước thực hiện khi quan tâm
lợi ích của người dân). Người ta có thể triển khai thêm ý nghĩa này
(căn bản trên các hoạt động chính trị của vua Asoka cũng như các vua
Sri Lanka).
Bao gồm các cơ quan làm các công tác phúc lợi xã hội như chăm sóc
người già, người bệnh. Tất cả tu sĩ, hay những ai theo tôn giáo (tức
là sự khác biệt quan điểm) được tự do hoạt động đạo pháp; & thậm chí
phải ban cho chim muông, gia súc cảm giác an toàn, thoải mái thoát
khỏi mọi sợ hãi (abhaya-dana).
(2)
Thứ hai, nhà nước có trách nhiệm bảo đảm rằng không có người
nào sa lầy trong hoạt động bất chính. Phải giảm thiểu tội phạm đến
mức zero. Để đạt mục đích này, phải quan tâm chu đáo các nhân tố (a)
kinh tế, (b) xã hội, (c) tâm lý & xã hội một hệ thống giáo dục hữu
hiệu nhằm truyền trao những giá trị & thái độ đúng đắn trong nhân dân.
(3)
Nhà nước nên bảo đảm rằng không có tình trạng thất nghiệp hay
đời sống công dân không gặp cảnh túng thiếu. Nhà nước năng động vận
dụng mọi phương tiện giúp dân nghèo kiếm được tài sản, thúc đẩy sản
xuất hàng hóa phong phú để người dân có thể dễ dàng lựa chọn & hưởng
thụ sản phẩm tiêu dùng như họ thích.
(4)
Nhà nước nên đặt mọi chính sách trên những nguyên tắc chánh
trực & luôn hoạt động có sự tham khảo cới các nhân sũ trí thức & những
nhà chuyên môn giàu kinh nhiệm về lĩnh vực liên quan.
VIII. NỀN KINH TẾ PHẬT GIÁO
Người
ta nói Phật giáo không có một học thuyết kinh tế đáng kể. Quan điểm
sai lầm này khởi lên vì họ tin rằng Phật giáo là một tôn giáo mang
nặng tính xuất thế hay hứa hẹn lai sinh hơn là những vấn đề trần tục
hàng ngày trên thế giới chúng ta đang sống. Thực tế, giáo lý nhà Phật
luôn nhấn mạnh: trước tiên, phải sống nếp chánh hạnh hiện thời và, sau
cùng, dẫn tới hạnh phúc đời sau (dhammacari sukhamseti asmin-loke
param hica). Như vậy Phật giáo không dạy con người chờ đổi thay kiếp
mới sống nếp chánh hạnh. Thậm chí Nibbana/Nirvana - cứu cánh tối hậu
-, người tu Phật có thể đạt ngay cõi đời này.
Tư
tưởng kinh tế Phật giáo không được trình bày xuyên suốt độc lập trong
kinh văn nào. Ta phải nhặt qua nhiều bài giảng & gom thu những nguồn
tài liệu thuộc về kinh tế, rồi đạn dệt thành hệ thống kinh tế nhất
quán tinh thần giáo lý (dhamma). Đức Phật Gotama đã từng cung cấp cho
chúng ta phương pháp thực tiễn để kiếm chứng phải chăng một lời dạy
phù hợp giáo lý ông giảng dạy hay không.
Trong
kinh điển, chúng ta thấy một bài kệ
hàm xúc những đặc tính tinh hoa của tư tưởng kinh tế nhà Phật. Bài kệ
khuyên người ta nên phân chia của cải thành bốn phần bằng nhau. Phần
thứ nhất chi tiêu cho những nhu cầu căn bản như thực phẩm, trang phục
.v.v. Dùng hai phần kế tiếp vào các hoạt động sinh lợi, có ý nghĩa
như công nghiệp & kinh doanh. Phần còn lại để dành phòng gặp chuyện
hữu sự như đau bệnh hay hiểm họa ngoài ý muốn (lũ lụt, hỏa tai, trộm
cướp, người cầm quyền hãm hại, chẳng hạn).
“Một phần, y thị an hưởng’
hai phần đầu tư làm ăn;
phần thứ tư lo cất giữ,
sẽ
đủ chi dụng khi cần”.
Bài
kệ giản dị này cần được giải thích nhằm lột hết ý nghĩa ẩn vào lớp giá
trị bên ngoài. Trong câu kệ, ta thấy xuất hiện những chỉ số phát
triển kinh tế hay thịnh vượng của cá nhân, nhóm người hay quốc gia.
Chính sách kinh tế của một quốc gia củng được phát họa. Thật không dễ
dàng làm sáng tỏ hết những ý nghĩa hàm tang theo đúng tinh thần Phật
giáo, trừ phi phân tích cẩn thận bài kệ.
Một
xã hội tu Phật nên cố gắng đảm bảo mỗi cá nhân trong đó có đời sống ổn
định, bất luận y thị làm nghề nghiệp gì. Điều này tùy thuộc nguồn thu
nhập. Y thị có thể thỏa mãn nhu cầu căn bản từ một phần tư nguồn thu
thập như thế. Nếu ta áp dụng nguyên tắc này vào một quốc gia, thì mọi
nam nữ công dân khỏe mạnh phải được đảm bảo thu nhập nhờ công ăn việc
làm thích hợp; nhà nước chịu trách nhiệm trợ giúp nguồn thu nhập cho
những người khác.
Liên
quan vấn đề này, nhà nước phải lo nghề nghiệp cho công dân. Nếu không
đủ nghề nghiệp đáp ứng, nhà nước cần trợ giúp những người nào thất
nghiệp đến khi họ có công ăn việc làm. Nhà nước cũng cần trợ giúp
những người nào tàn tật tâm sinh lý, nhưng không gây tổn hại nhân phẩm
của họ. Nền kinh tế Phật giáo tìm thấy hai chỉ số ước lượng mức độ
thịnh vượng trong một quốc gia:
1.
Ai đảm bảo nguồn thu nhập thường xuyên (qua nghề nghiệp sinh
lợi hay nhờ trợ cấp)?
2.
Có thể thỏa mãn những nhu cầu căn bản của cá nhân (hay gia
đình) khi chi tiêu một khoảng phần tư trong tổng số thu nhập?
Nhu
cầu căn bản gồm thực phẩm, trang phục, chỗ trú ngụ, thuốc men, giáo
dục (tức là sự phát triển tinh thần). Những thực phẩm cần thiết có
sẳn để bất cứ ai sống trong quốc gia có thể tìm kiếm không khó khăn.
Mức độ phát triển kinh tế được phẩm định dựa trên sự thật rằng người
dân đủ một phần tư thu nhập chi tiêu cho năm nhu cầu căn bản. Như vậy
chính sách kinh tế của một quốc gia được vạch ra rõ ràng nhằm phù hợp
với mục đích này.
Dòng
kệ thứ hai nói rằng dùng nửa lợi tức hướng vào những hoạt động sinh
lợi hay hữu ích. Theo tinh thần nhà Phật, mọi hoạt động nên có lợi
ích & không tổn hại cho mình & người. Đó là những hoạt động như phát
triển kỹ năng, huấn luyện & cung ứng các nhu cầu căn bản. Về mọi mặt
nào đó, thì đây là phương cách đấu tư trong cơ cấu tổ chức kinh tế
kiểu nhà Phật.
Phần
bài kệ còn lại đề cập đến việc tiết kiệm. Xã hội Phật giáo khuyến
khích người ta sống biết tiết kiệm tài sản phòng khi hữu sự. Trừ phi
ta sở hữu ngân khoản tiết kiệm, ta sẽ phải đối mặt với những vấn đề
kinh tế trong lúc khủng hoảng; đặt biệt là khi đau bệnh xảy ra thình
lình. Nếu không có khoản tiết kiệm dành sẵn, một cá nhân hay một quốc
gia ắt hẳn sẽ lâm cảnh nợ nần chồng chất.
Sự
phát triển kinh tế được ước lượng bằng những chỉ số phụ sau đây:
1.
Phạm vi phúc lợi tinh thần & thể chất của một quốc gia. Sức
khỏe & lợi ích cao quý nhất mà người ta có thể đạt.
2.
Sự không khéo những nguồn tài liệu nguyên nhiên kể việc bảo vệ
môi trường sống. Không nên khai thác hoang phí tài nguyên thiên nhiên
& phải bảo vệ môi trường bao gồm các loại động vật & thực vật. Sống
trong môi trường dễ chịu là một diễm phúc (patirupa desa vasoca).
3.
Không bóc lột sức lao động của con người & thú vật. Bóc lột có
nghĩa là sử dụng kẻ khác mưu cấu vật chất cho bản thân hoặc lợi tức xã
hội mà không trả công lao động hay phục dịch tương xứng. Trong một
quốc gia thịnh vượng kinh tế, tuyệt đối không nên để xảy tra tình
trạng bóc lột như thế; hoặc giảm đến mức tối thiểu.
4.
Sáng suốt phân phối mọi nguồn vật chất lẫn phi vật chất (tức là
những cơ hội nâng cao trí thức), tạo điều kiện cho mọi người sống
trong quốc gia vui hưởng phúc lợi này. Không có cá nhân hay tập đoàn
nào thống trị kẻ khác.
5.
Một quốc gia thịnh vượng kinh tế nên tạo ra & duy trì trạng
thái an hòa, & giảm thiểu những hoạt động phản xã hội. “Mọi người,
khi mê mải lo công việc của mình, sẽ không ai nhiễu loạn quốc độ; ngân
khố nhà nước tăng trưởng; đất nước yên tĩnh, thanh bình, nhân dân vui
sống hòa thái hòa, tung con trẻ trên tay, cửa nhà luôn rộng mở”.
Có
năm nguyên tắc đạo đức do Phật giáo đề ra cần cho một nhà nước làm
kinh tế theo kiểu mẫu nhà Phật áp dụng như một kinh sách quốc gia.
Một nhà nước như thế không nên công khai hay bí mật khuyến khích kinh
doanh năm loại hoạt động kinh tế sau:
1.
Sản xuất & buôn bán vũ khí.
2.
Sản xuất thuốc độc.
3.
Sản xuất, phân phối & buôn bán chất say.
4.
Nuôi gia súc để giết thịt.
5.
Buôn bán thịt.
Học
thuyết kinh tế Phật giáo coi đời sống rất thiêng liêng. Trong khi xem
xét tư liệu sản xuất, Phật giáo nhấn mạnh mối quan hệ của sản phẩm vật
chất với các vật phi vật chất. Sự phát triển của cá nhân liên hệ với
một gia đình; một gia đình với một nhóm người; một nhóm người với một
bang hay quốc gia; bang này với bang khác hay quốc gia này với quốc
gia khác. Như thế, tất cả con người lôi kéo nhau vào quỹ đạo phát
triển. Nhưng Phật giáo không quên nhắc người ta nhớ đến mối quan hệ
với thú, chim, cá cũng như cây cỏ.
Những loài sinh vật có tri giác & vô tri này gắn liền với loài người
mật thiết đến nỗi nếu quên hay phớt lờ chúng khi sàn xuất kinh tế có
thể mang lại kết quả thảm khốc trong tương lai.
Nền
kinh tế Phật giáo dạy chúng ta rằng sự sản xuất kinh tế phải tập trung
trên loài người. Nó nhìn con người trong mối liên hệ với hoạt động
kinh tế mà y thị đã thực hiện. Hoạt động kinh tế này vì mục đích mà
tăng của cải vật chất riêng mình nhờ mồ hôi nước mắt kẻ khác? Phải
cân nhắc một hoạt động kinh tế với những hoạt động khác & chỉ thực
hiện khi nào nó không:
(i)
bóc lột kẻ khác
(ii)
làm tăng dục vọng trong lúc tước đoạt nhu cầu căn bản của kẻ
khác
(iii)
rơi vào năm hoạt động kinh tế bất chính đã nói
(iv)
dẫn đến phung phí quá đáng, hay sáng tạo sự mất thăng bằng
trong những nguồn vật chất có sẵn hoặc làm hại môi trường sinh thái.
Học
thuyết kinh tế nhà Phật quả thật không phải vô luân hay vô giá trị.
Nó nhắm đến hạnh phục & sự thỏa mãn hay lợi lạc cho đa số dân chúng
(bahujana hitaya bahujana sukhaya). Một hoạt động kinh tế cũng là một
hoạt động hữu ý, một kamma/karma chắc chắn có kết quả của nó, hoặc khổ
đau hoặc an vui. Do đó, điều quan trọng nhất là phải biết gắn mình
vào những hoạt động (kammas) kinh tế mang lại kết quả an vui cả hai
đời này & đời sau.
Kamma/karma là một lực lượng tạo điều kiện sinh tồn: “Di truyền (bija
niyama); môi trường thiên nhiên, xã hội & ý thức hệ (salayatana
paccaya phasso .v.v); tâm thức tương tục vận động (citta niyama); kể
cả di sản hành nghiệp (kamma niyama) là những yếu tố điều kiện
khiến con người hiện hữu. Nhưng y thị không bị một hay tất cả yếu tố
này định đoạt”.
Ý chí tự do của con người nằm ở đó. Khi hủy bỏ tất cả những yếu tố &
sự ảnh hưởng này, con người nào thể đạt một ý chí tự do thoát khỏi mọi
hệ lụy, nếu y thị muốn.
Kamma/karma, như bốn yếu tố khác, tuy định đoạt sanh thân của bạn
trong một gia đình nghèo hay giàu, nhưng nó không có nghĩa rằng do
điều này, bạn mang định số giàu hay nghèo mãi mãi. Chính hành vi hiện
tại của bạn, công việc làm ăn của hạn có tính chất quyết định. Đó là
lý do tại sao Phật giáo luôn nhấn mạnh hạnh lành cần mẫn, không dễ
duôi. Điểm then chốt của sự phát triển kinh tế đặt trong phương châm
hành động: “Hãy chuyên cần, hãy nung nấu nhiệt tâm”.
Đức
Gotama công nhận nghèo đói là một thảm trạng phải tìm ta giải pháp cấp
bách. Khi cá nhân thiếu hụt bốn hay năm nhu cầu căn bản, y thị trầm
sa nghèo khó cùng cực. Nhà nước có trách nhiệm cứu tế những kẻ cùng
khồ này. Nếu quốc gia nào tràn lan thảm trạng dân chúng cùng khổ,
không tăng trưởng thu nhập đầu người hay tổng sản phẩm quốc gia, thì
kinh tế học Phật giáo gọi quốc gia đó lạc hậu kinh tế. Một nền kinh
tế phát triển giúp mọi người thoát khỏi nỗi ám ảnh nghèo đói, không có
người trầm sa trong cảnh cùng khổ.
Kinh
điển Phật giáo có lưu câu chuyện một nông dân chịu cơn đói giày vò đến
gặp đức Gotama.
Đức Gotama quan sát biết y đang đói việc trước tiên ông làm là yêu cầu
chư tỷ kheo cho y ăn no bụng. Hễ nhu cầu căn bản (như thực phẩm,
chẳng hạn) chưa được thỏa mãn, không thể thúc đẩy sự phát triển cá
nhân hay tập thể. Kinh tế học Phật giáo nhấn mạnh việc nhận thức rõ
tình trạng thiếu hụt nhu cầu căn bản & để ra những sách lượt phát
triển giúp đỡ bộ phận yếu kém trong xã hội để họ thoát khỏi cùng khổ.
Lần
nọ đức Gotama hỏi các đồ đệ về vấn đề nghèo đói & hậu quả của tình
trạng này:
“Chư
tỷ kheo, có phải nghèo là điều khổ não cho kẻ trần tục?”
“Đúng vậy, thưa Thế Tôn”.
“Khi
người nghèo lâm cảnh khốn khổ, y thị vay mượn, đó cũng là khổ não,
phải không?”
“Đúng vậy, thưa Thế Tôn”.
“Người nghèo bị nợ nần, đó cũng là khổ não?
“Đúng vậy, thưa Thế Tôn”.
“Và
khi phiếu nợ đến kỳ hạn, y thị không thể thanh toán, lại bị chủ nợ
thúc bách, đó cũng là khổ não, phải không?”
“Đúng vậy, thưa Thế Tôn”.
Phương pháp nhà Phật trước tiên là cố gắng tìm hiểu thảm trạng nghèo
đói, nhận ra những nguyên nhân dẫn đến nghèo đói; nhu cầu xoá đói giảm
nghèo & phát triển những chính sách đúng đắn để đạt mục đích. “Do
những người không có của cải không thể tích lũy của cải, nghèo đói lan
tràn. Do nghèo đói lan tràn, trộm cướp lan tràn; bạo hành; giết choc;
vu khống; gian dâm; dối trá & tán dóc; tham lam & ác ý; tà kiến; ác
dục; dâm đảng; cuối cùng, & trở nên bất hiếu & vô đạo. Khi con người
thiếu sự quan tâm tin cậy lẫn nhau, tất khởi lên những lối hành xử
trái nhân nghĩa, đạo đức như thế.
Nghèo đói là kết quả từ việc phân phối các nguồn vật chất & phi vật
chất quá chênh lệnh. Khi con người không đào đâu ra những nhu cầu căn
bản nhất, thì xảy ra tình trạng cùng khổ. Có hai trường hợp: thứ
nhất, cái nghèo dần dai do người dân sống dưới mức nghèo khổ, họ chỉ
thỏa mãn những nhu cầu căn bản tối thiểu mà họ có thể quơ quào quanh
mình chứ không dám ước mơ gì thêm. Trường hợp nghèo khổ này thường
gây ra sự suy sụp tiêu chuẩn sức khỏe & rối loạn xã hội. Thứ hai, một
số người dù đủ khả năng thỏa mãn những nhu cầu căn bản ở chừng mực nào
đó, nhưng rơi vào cảnh sống dưới mức nghèo khổ vì lý do nghiệp nhập
rượu bia, ma túy, cờ bạc & những mưu cầu bất lợi khác. Trường hợp này
(rượu, ma túy .v.v.), dâm dục (nam nữ hưởng dục lạc thái quá) & tiêu
pha bất cứ gì y thị kiếm được vì những mưu cầu đoại loại như thế hẳn
sớm hay muộn sẽ rơi vào cảnh nghèo khổ.
Loại
người bị khác vọng hay tham ái khống chế. Họ làm nô lệ cho tham ái; &
xã hội sẽ luôn dìm mình trong nghèo khồ. Phật giáo đề cập đến tùy
thuộc duyên khởi, theo đó, vô minh hay ngu dốt không tách rời khỏi
những nhân duyên khác. Do vô minh, khởi lên các hành vi hữu ý; do
hành vi hữu ý, khởi lên nhận thức; do sự nhận thức, khởi lên thần
(danh) & sắc; do thần & sắc; khởi lên sáu môi trường (lục nhập); do có
sáu môi trường, khởi lên quan hệ giao tiếp (xúc); do có giao tiếp,
khởi lên cảm giác (thọ); do có cảm giác, khởi lên tham ái; do tham ái,
khởi lên chấp trước; do chấp trước, nên mãi còn (hữu); do còn, tiếp
nối sanh, chết .v.v Sự hiểu biết rõ nghèo khổ khởi lên do kết quả của
vô minh/ngu dốt trong mối tương quan với những yếu tố đới thường là
chìa khóa mở ra nhận thức đúng đắn về thảm trạng nghèo khổ.
Những nguyên dân gì dẫn đến nghèo đói? Nhân tố đầu tiên là vô minh,
từ đây tất cả nguyên nhân khác khởi lên; mỗi nguyên nhân liên hệ
nguyên nhân khác. Khi tập trung xem xét nguyên nhân này hay nguyên
nhân khác trong một con người & môi trường cụ thể, phải nhận diện tính
chất rắc rối của chúng.
Một
bài giảng Phật giáo
cho ta thấy làm thế nào tham ái hay khát vọng cuộc lấy nhân loại &
chính sách sai lầm của giới cầm quyền đã tạo điều kiện nảy sinh & tồn
tại thảm trạng nghèo đói dai dẳng. Tham ái chế ngự con người khiến họ
khao khát sở hữu thêm & thêm nữa (chẳng hạn, muốn chiếm hữu thêm đất
đai…), nên thỏa ước phân chia tài sản rạch ròi & khư khưu gìn giữ.
Một số người biếng nhác nghĩ tới bỏ việc làm để ngồi chơi hưởng thụ.
Như kết quả tiêu cực, họ thích tích trữ ngũ cốc đủ dùng vài ngày hơn
là đi ra ruộng nương gặt hái thực phẩm hằng ngày. Nhưng cũng có những
lười tệ, họ rình rập trộm cướp tài sản kẻ khác đã thu hoạch. Tất cả
hành động này góp phần tạo sự mất quân bình trong việc phân phối các
nguồn vật chất. Người cầm quyền & nhà nước không có chính sách kinh
tế thích đáng để giải thuyết tình trạng này. Học thuyết kinh tế Phật
giáo cho rằng người cầm quyền hay nhà nước phải có trách nhiệm chỉ đạo
chính sách kinh tế thúc đẩy đất nước phát triển & cải thiện mức sống
của người dân, chứ không phải co rúc trong vai trò quan sát viên thụ
động. Chính sách kinh tế nhà nước nên can dự năng động nhằm điều
chỉnh tình trạng phân phối các nguồn vật chất & phi vật chất đang mất
thăng bằng.
Các
hoạt động phản xã hội như tội ác khởi lên do những điều kiện phức tạp
luôn gắn liền với nghèo đói. Một khi các hoạt động phản xã hội khời
lên, hàng loạt hậu quả chuyển động tạo thêm những điều kiện phức tạp
làm trầm trọng thêm tình trạng nghèo đói vốn tồn tại lâu nay, cái vòng
nhân & quả cứ xoay chuyển lẩn quẩn. Theo giáo lý nhà Phật, không dễ
gì đánh bại nghèo đói vì nó cần một sự hiểu biết tường tận tính chất
chất nghèo đói tồn tại trong xã hội. Chính vì thế, nhà nước phải
hoạch định sách lược thận trọng để giải quyết nghèo đói & hành động
hiệu quả. Những sách lượt phát triển kinh tế từ xã hội khác nhau &
thậm chí một tình huống xã hội này cũng khác tình huống kia.
Bài
trừ nghèo đói là giải pháp cho vấn đề này. Về mặt lý thuyết, có thể
xóa sạch thảm trạng nghèo đói khi nguyên nhân cội rễ - vô minh ngay
ngu dốt - được bừng nhổ tận gốc. Sở dĩ không thể bứng nhổ vô minh vì
mọi người bị tham ái chế ngự, chỉ có vài người nỗ lực đạt mụch đích
rốt ráo “Vài người giữa nhân loại vượt đến bờ bên kia; số đông còn lại
chạy loanh quanh bờ này”.
Khi đa số loài người không đeo đuổi lý tưởng thoát ly toàn bộ tệ trạng
trên đời, tất nhiên, việc xóa sạch nghèo đói là điều không dễ dàng.
Lại nữa, con người thường rơi vào cảnh nghèo đói do sự biếng nhác.
Điều gì chúng ta có thể làm là giảm thiểu nghèo đói đang tồn tại trong
xã hội loài người.
Nên
chấp nhận sách lượt gì để giải quyết vấn đề này? Lần nọ, có một vị
cua nghĩ đến việc giải quyết vấn đề quốc gia bằng cuộc tế lễ trọng
thể. Nhưng viên thái sư can gián vua không nên trông cậy kế hoạch như
thế. Lễ tế đàn sẽ khiến chi tiêu phung phí tiền bạc & các nguồn tài
vật, hủy diệt mạng thú vô tội, tạo ra những gánh nặng trên người dân
do tăng thuế má .v.v.
Sách
lược khác là chiêu hàng những người nghèo dính líu các vụ phản xã hội,
hỏi họ: “Cớ sao người cướp bóc của người?”. Khi nghe họ trả lời: “Vì
chúng tôi nghèo & đói”, nhà vua đã ban cho họ tài sản đủ ổn định đời
sống theo khuôn phép nhà nước. Nhưng sách lượt này vẫn không giải
quyết triệt để vấn đề nghèo đói. Ở đây, nhà vua hay chính quyền không
ý thức rõ những nhân tố đóng vai trò nòng cốt trong hành vi người dân.
Thứ
nhất, một cá nhân hay nhóm người vốn quen kiểu hành vi nào đó, thật
khó giúp họ từ bỏ kiểu hành vi tập quán như thế bằng cách chỉ ban cho
tài sản, vì nó sẻ không có tác động làm thay đổi như ý. Thứ hai, nhà
vua hay chính quyền quên mất sự thật quan trọng khác, đó là khi kiểu
hành vi tác tệ nào đó được ban thưởng công khai thì tin tức sẽ loan
truyền rộng khắp, vô tình kích động dân chúng khởi khuynh hướng bắt
chước các hành vi phản xã hội để được ban thưởng. Lời khuyến cáo:
“Đừng để ai biết nhà chức trách ban cho ngươi tài sản” là vô hiệu
quả. Bình sinh, dân chúng biết phạm nhân, lối sống của thị, & biết
tại sao y thị bị giải đến vua hay chính quyền. Nhưng lúc phạm nhân
quay về nhà, không có gì có thể ngăn họ che giấu tài sản mới nhận khỏi
tai mắt thiên hạ. Người khác lập tức có phản ứng: “Nếu họ nhận tài
sản bằng cách này, dại gì mình không làm theo”.
Sách
lược thứ ba là áp dụng hình pháp hình phạt. Những phần tử phản xã hội
- chẳng hạn, do động cơ nghèo đói - bị chính quyền tầm nã, bắt bớ. Họ
phải gánh chịu nhục hình khốc liệt. Dân chúng bắt đầu noi gương chính
quyền. “Nhà chức trách phạt vạ bọn trộm cướp & bọn vô lại, chi bằng
mình cũng làm như vậy”. Họ nói & ra tay hành động chiếu theo luật
pháp mà chính quyền đang áp dụng. Chắc chắn điều này gia tăng tình
trạng hỗn độn. Phật giáo luôn nhấn mạnh rằng người cầm quyền hay
chính quyềnn nhà nước nên thông bao giờ tạo một kiểu mẫu tai hại tác
động đến quần chúng.
Sách
lược đúng đắn để giải quyết những vấn đề này là để ra các biện pháp
đảm bảo một sự tiếp thụ hợp lý các nguồn vật chất & phi vật chất.
Hiển nhiên không thể có sự phân phối bình đẳng cho mọi cư dân sống
trong nước vì mỗi người nam hay nữ sanh vào những hoàn cảnh khác nhau,
nhưng chính quyền nên đảm bảo rằng các nguồn này dành sẵn & mọi người
có đồng đều cơ hội tiếp thu, không ai độc quyền khai thác các nguồn
hay bóc lột người khác.
Nhà
vua hay giới cầm quyền nên nhất mực chiếu cố hộ phận dân chúng yếu kám
trong xã hội, giúp họ nhận phần phân chia nguồn lợi thích đáng, không
bị ai bóc lột. Để hiểu thấu vấn đề & tâm tư bộ phận dân chúng yếu kém
cần trợ giúp như thế nào, Phật giáo khuyến khích giới cầm quyền giả
dạng dân kinh lý đó đây.
Trong
Phật giáo, sách lược phát triển kinh tế được đặc trên bốn nguyên tắc:
1.
Những ai dự phần sản xuất kinh tế mong nghành công nghiệp nên
được cung cấp những thứ cần thiết – như hạt giống, gia súc, phân bón,
đất, nước, dụnh cụ tưới hay dẫn thủy nhập điền .v.v Nhà nước phải có
hành động trợ giúp thiết thực như thế. Chính sách kinh tế nên coi
trọng nông nghiệp, song song, khuyến khích phát triển công nghiệp khác
gắn với mục đích làm thỏa mãn nhu cầu căn bản của con người.
2.
Khuyến khích thương nghiệp bằng cách cung cấp vốn, & tất cả
thuận lợi khác cho những ai đeo đuổi loại động này. Nhà nước cũng nên