Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật giáo & Xã Hội


......... .

 

 

 

XÃ HỘI HỌC PHẬT GIÁO

 Buddhist Sociology

Tác giả: Nandasena Ratnapala

Người dịch: Trí Quảng
 

---o0o---

 

1.
 

I. DẪN NHẬP

 

Siddhattha Gotama (Sĩ Đạt Ta Cồ Đàm)[4] được hàng triệu đồ đệ khắp thế giới kính gọi là Lord Buddha (đức Phât) hay Gotama Buddha (Phật Cồ Đàm)[5] ra đời vào khoảng 566 trước thường lịch (T.L.),[6] sinh quán tại Lumbini (Lâm Tì Ni) thuộc Kapilavatthu (Ca Tỳ La Vệ),[7] nay là một thị tứ nhỏ trong vùng biên giới Vương quốc Nepal giáp quận Gorakhpur, Cộng Hòa Ấn Độ.  Nhằm giải quyết đời sống đầy phức tạp, ông đã chiêm nghiệm những nghiệp thuyết & hệ thống đạo giáo đương thời;[8] cuối cùng, nỗ lực cá nhân giúp ông khám phá lối sống mới gợi là Bát Chánh Đạo.  Đạo lộ tinh thần này dẫn người nhận thích Bốn Chân Lý Cao Nhân (cattari ariyasaccani)[9] và, theo đó, đoạn tâm mọi khổ ưu, chấm dứt samsara - vòng luân hồi xoay chuyển mọi hữu tình. 

Tư tưởng của Phật Gotama được bảo lưu trong ba bộ đai tập, hay Tam Tạng (Tipitaka/Tripitaka).  Ba bộ đại tập ghi chép lời đức Gotama dạy, gồm những bài Kinh (Sutta), Luật nghi (Vinaya) & Luật lý (Abhidhamma).[10]  Lời ông dạy được ghi nhớ qua nhiều thế hệ khẩu truyền; cho đến những năm 29-17 trước T.L., toàn bộ được biết thành văn ở Aluvihara, Matale, Sri Lankra.

 Tác phẩm này căn bản trên tư tưởng nhà Phật, khi tập hợp một chuỗi khảo luận mang những chủ đề khác nhau mà nhà xã hội học lẫn nhân loại học ngày nay đều quan tâm.  Tài liệu chính yếu là các văn bản Phật giáo nguyên thủy.  Những văn bản hệ Pali sớm nhất được thừa nhận như nguồn Phật giáo đáng tin cậy, do đó, người nghiên cứu đặt sự chủ ý hàng đầu.  Những nguồn Pali & Sanskrit giai đoạn sau chỉ được dùng khai triển, minh giải điều gì đã thấy trong ‘chân ngôn chính truyền’ hay tư tưởng Phật giáo nguyên thủy.

 Để làm sáng tỏ dữ liệu thu nhập, phương pháp so sánh Dhamma & Vinaya – Pháp & Luật – là nguyên tắc chủ đạo.  Trong chừng mực có thể, lối minh giải truyển thống của những vị giải thọ (Acariya) từng thực hiện trong nhiều bản sớ giải vẫn được tôn trọng kế thừa.  Việc tái khám phá & xác chứng trọn vẹn tư tưởng nhà Phật qua thực hành quả thật cần thiết, & như thế, chúng tôi hết sức cân nhắc trong việc nghiên cứu nhằm lột tận tư tưởng nhà Phật & ứng dụng những tình huống sống động tương thích thời thế hiện đại.

 Tư tưởng xã hội của Phật Gotama không tập trung ở bộ kinh điển nào như bàn bạc đó đây.  Ta phải nghiển ngẫm xuyên suốt Tam tạng nhặt nhanh những lời tản mạn, công đoạn xâu chuỗi khả thi sẽ giúp hệ thống hóa một học thuyết xã hội mạch lạc.  Tuy nhiên, nên lưu ý rằng mục đích chính thúc đẩy đức Gotama giảng dạy trợ duyên ta lần hồi tháo gỡ vô số khốn khổ giăng chằng cuộc tử sinh, không vì đan kết nên một học thuyết xã hội mang tính khoa học hay bất cứ học thuyết nảo khác. 

 Tuyệt đại đa số điều gì liên hệ đến xã hội dễ thường tìm thấy trong những bài Kinh (Sutta) & Luật nghi (Vinaya), hai tạng được sủ dụng như nền tảng hình thành tác phẩm nghiên cứu.  Khuynh hướng chung của giới Ân Độ học sau khi so sánh Kinh (Sutta) & Luật nghi (Vinaya) đã xem lại lịch Luận lý (Abhidhamma) tương đối trễ tràng nên chúng tôi trân trọng đặt Tạng này sang một bên - sẽ sử dụng tới vào dịp mai sau -, họa hoằn tham khảo đôi điều.

Nếu phải phát triển xã hội học Phật giáo - một sự nghiên cứu có phương pháp về xã hội từ quan điểm nhà Phật – như các bộ môn khoa học khác, thì đòi hỏi ta phải trải nhiều công phu thâm nhập toàn diện lời Phật dạy.  Tác phẩm nghiên cứu hiện tại chỉ khiêm nhường là một đề cương, một nỗ lực đơn giản cổ võ & khích lệ giới xã hội học & nhân loại học tương lai dấn thân vào tư tưởng nhà Phật để khai quang lãnh vực còn màu mỡ & đáng bỏ công này.

Các bài khảo luận được sắp xếp theo một trật tự đặc biệt với dụng ý thảo vài nét chính của xã hội Phật giáo.  Bắt đầu đề cập từ gia đình, quá trình xã hội hóa, các đoàn thể xã hội (như tổ chức kinh tế, chính trị, tôn giáo, giáo dục), thân phận phụ nữ, sự phân tầng xã hội, những vấn đề xã hội (như vấn đề rượu men, chất say xìn), bạo hành & chủ nghĩa khủng bố, cấu trúc xã hội, lý thuyết sức khỏe nhà Phật &, cuối cùng, bàn về thái độ đức Phật đối với vấn đề phạm pháp & xử phạt.  Mục tiêu nhắm đến là khám phá điều gì mới mẻ & thực tiễn trong phối cảnh Phật giáo hội nhập xã hội hiện đại.

Thế giới hôm nay bận rộn tìm trăm phương nghìn kế giải quyết vô số vấn đề nhân loại gặp phải.  Nhiều triết lý sống hay học thuyết mà chúng ta từng tâm đắc một thời xem ra không còn thích dụng với nhu cầu tìm kiếm những quan điểm phù hợp với thực tế để từ đó nảy sinh những giải pháp tốt hơn cho các vấn đề xã hội.  Tư tưởng xã hội Phật giáo có thề cung cấp những giải pháp thú vị cho những nhu cầu như thế, nếu được khai thác thêm trên hình bình diện xã hội & nhân loại học.

Liên quan vấn đề này, xin dẫn sơ được vài ví dụ.  Nền dân chủ chúng tôn muốn nói đến được hiểu trong tư tưởng Phật giáo như một lối sống toàn bị.  Đây không phải một tiến trình lựa chọn giới cầm quyền hay chỉ hưởng sự tự do bày tỏ.  Nền dân chủ Phật giáo đặt dấu hỏi giới cầm quyền này là ai, họ nên có những phẩm chất gì để nắm giữ vai trò lãnh đạo, & xem xét điều gì tạo nên động cơ tự do bày tỏ.  Thậm chí đa số thuận chưa hẳn được xem là dân chủ khi nó là mâu thuẩn tinh thần sự thật.  Những cách thức & phương tiện làm thế nào lôi kéo sự đồng tình & sự tham gia của quần chúng cũng được các văn bản nhà Phật chính chắn gợi ý.

Một nền dân chủ sẻ hóa tê liệt nếu thiếu giáo dục.  Không ít giáo lý nhà Phật nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục giành cho cả hai, giới lãnh đạo & thường dân trong một nền dân chủ.  Bao giờ giảm đến mức tối thiểu khoảng cách biệt giữa giới lãnh đạo & thường dân, & chia trách nhiệm đồng đều thì không rơi vào tình trạng độc chiếm trị quyền vĩnh viễn, trái lại, nhiều người thay phiên chia sẽ tạm thời.  Mặt khác, khi phân tích thuyết quyền lực trong tư tưởng Phật giáo, ta thấy thuyết này đề cập tới năm loại quyền lực khác nhan, & nhấn mạnh lên làm thế nào để quyền lực của trí tuệ trở thành yếu tố hướng đạo.  Không có trí tuệ, thì những quyền lực khác (như giàu sang, quần chúng, địa vị, dòng dõi) cũng hoàn không.

Sự hòa nhập xã hội theo quan điểm nhà Phật là một kinh nghiệm khởi lên từ giai đoạn trước khi lọt lòng, hoặc có lẽ liên hệ vô số tiền nhân.  Đức Phật đã chú xướng cách giải thích tách bạch chế độ đảng cấp tuỳ thuộc hành vi mỗi người, không dính dấp gì với dòng dõi thân thế.  Một thuyết kinh tế hoàn chỉnh do đức Gotama để đạt giúp nhân loại chúng ta có cùng cơ hội truy cập nguồn vật chất & phi vật chất đồng đều trong luc duy trì óc sáng tạo cá nhân, nhưng ông không đồng tình bất cứ cá nhân hay đoàn thề ra sức bóc lột xã hội vì mục đích ích kỷ riêng tư,  Song song, ông cũng nêu một chỉ số đơn giản ước lượng mức phát triển kinh tế (kết hợp với những hình thái phát triển khác, như phát triển xã hội chẳng hạn).

Về tội phạm & xử phạm, thử nghĩ, phải chăng các biện pháp xử phạt của chúng ta có tác dụng như phần thưởng ưa thích trợ duyên can phạm trở thành công dân tốt hơn hay vô tình thúc ép họ phạm tội nhiều hơn & khuyến khích xã hội xa lánh họ?  Phật giáo nhìn vấn đề rất khác thường.  Chế độ án treo Parivasa là trọng tâm luật pháp dành cho tội phạm nhà Phật.  Chúng ta hôm nay cần nên nghiên cứu tỉ mỉ những khái niệm như thế để khám phá & thẩm thấu nhiều điều hữu ích liên quan.

Mối quan tâm tuyệt đối đến môi trường là một lãnh vực quan trọng khác trong tư tưởng Phật giáo.  Môi trường không chỉ có loài người, mà còn bao gồm hệ thực vật & động vật, nói chung toàn thể thiên nhiên.  Bắt đầu với sự tôn trọng đời sống loài người, rồi mở rộng lòng khắp thú vật, chim muông, cá, mọi sinh linh lớn nhỏ; cùng cỏ cây, địa cầu chúng ta nương gá, các tinh tú, mặt trăng, mặt trời.v.v..  Nếu nguyên lý tôn trọng đời sống được tuân thủ nghiêm chỉnh thì tự dưng an lập tính thăng bằng hài hòa giữa con người & thiên nhiên.

Bạo hành & khủng bố hầu như đã trở thành một ‘hiện tượng tự nhiên’ trên thế giới đương đại.  Những hành vi hung hãn xảy ra đó đây.  Làm thế nào người ta có thể giảm phạm vi bạo hành & khủng bố tác động, & áp dụng biện pháp gì để nhăn chặn chúng?  Làm thế nào giải thích trọn vẹn ý nghĩa bất bạo hành & vận dụn triệt để vì lợi ích của tất cả hữu tình?  Một phân tích về tệ nạn này có thể tìm thấy trong tư tưởng Phật giáo.

Xã hội học ngày nay quan tâm về con người. Đi xa hơn, xã hội học Phật giáo không chỉ đề cập con người (tất nhiên, vì là phần tử quan trọng nhất), mà còn bao phủ cả thú vật, chim muông, cá, mọi loài phi nhân.v.v..  Nhãn quan xã hội học Phật giáo bao quát hơn tầm nghiên cứu cùa xã hội học quy ước.  Xã hội học Phật giáo nổ lực xem xét & tìm hiểu phản ứng của con người đối với hữu tình cộng tồn ngay đời này, cũng liên hệ những kiếp sống khác trong samsara – vòng tái sanh.

Đứng trước các vấn đề xã hội, Phật giáo luôn có một thái độ thực tế.  Thế giới vốn đang bị tham ái (tanha) chiếm ngự, các vấn đề xã hội đương nhiên loạn tung lên.  Cố gắng tiệt tiêu hoàn toàn các vấn đề xã hội là điều Không Tưởng, không hiệu quả, chi bằng tìm hiểu những vấn đề này & hóa giải chúng.  Theo Phật giáo, một thái độ như thế giúp chúng ta kiểm soát các vấn đề xã hội, đó chính là giải pháp xã hội học thiết thực.

Biết mình & biết hữu tình cộng tồn làm cho chúng ta sống đời viên mãn & phúc lạc, tối thiểu phải tự khắc chế xung đột nội tại, không vung bừa ra ngoài phương hại kẻ khác.  Rất thường thấy xung đột riêng chúng ta, trong chúng ta hay với chúng ta đặt nền tảng cho mọi xung đột với tha nhân.  Càng ít xung đột nội tại sẻ càng ít gây hấn.  Xã hội học Phật giáo kiến tạo thế giới tốt đẹp hơn, trong đó, loài người chung sống chan hòa, vui vẻ, hạn chế cùng cực những cuộc chiến nội tại hay ngoại tại.

 

II. PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRONG TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO

 

 Nhờ nghiên cứu tư tưởng Phật giáo, người ta có thể tìm thấy nghiều quan kiến hũu ích trong việc mở rộng phạm vi phương pháp luận theo yêu cầu xã hội.  Chúng tôi bắt đầu phần này nói về thái độ nhạn Phật đối cứ liệu hay nguồn tham khảo đáng tin cậy.  Trước tiên, xin dẫn lời khuyến cáo nổi tiếng đến dân chúng Kalama: “Giờ đây, các vị Kalama hãy lưu tâm cho.  Đừng vội tin lời tường thuật, truyền thống hay tin đồn.  Đừng bị những luận & suy đoán suông lạc dẫn; đừng dễ dàng ưng thuận vì đã xem xét nguyên do hay nhẫm nghĩ qua loa vài điều; cũng đừng vì nó hợp ý hay vì xuất miệng từ thầy mình.  Nhưng nào các vị tự biết rõ:  Những điều này là không tốt, là lầm lỗi, bị bậc thiện trí chê trách.  Những điều này nếu thực hiện, dẫn tới mất mát & sầu khổ thì các vị cần phải bỏ”. 

 Sự thể nhẳm nhắc nhở chúng ta không nên cả tin bất kỳ phát ngôn của ai mà chưa qua kiểm chứng.  Nếu soi sọi hậu quả lời nói dưới ánh sáng tri thức & kinh nghiệm, & minh định mối liên hệ của chúng ta với sự thật, trước khi chấp nhận hay phủ nhận.  Nói chung, lời khuyến cáo đến dân chúng Kalama không khuyên vô cớ loại bỏ tài liệu gì gọi là xác tin, trái lại, việc đó nhất mực dựa trên tự thân kinh nghiệm điều gì đúng hay sai, hữu ích hay vô ích.

 Đức Phật đã khuyến cáo rằng nên lấy Pháp & Luật làm tiêu chuẩn quyết định phải chăng một lời dạy gán cho ông là đúng hay không.  Tất cả phát ngôn nào tuyên bố là lời dạy đáng tin cậy của đức Phật đều nên được “so sánh & thấy tương thích với Kinh (Sutta) & Luật (Vinaya)”. Vấn đề ở đây chính là trường hợp cứ liệu mang danh nghĩa kim ngôn chân truyền của đức Phật Gotama.  Trong những trường hợp như thế, quá trình so sánh Pháp & Luật không loại trừ việc ứng dụng lời dạy vào thực hành, kiểm chứng qua kinh nghiệm cá nhân & trắc đạc tính xác thực của lời dạy bằng cách so sánh với kinh nghiệm riêng mình.

 Có bốn nguồn tham khảo (cattaro maha padesa) trọng yếu trong Phât giáo:

  1. Do đức Phật trưc tiếp công bố

  2. Do một nhóm tỳ kheo trong tu việc công bố

  3. Do hội chúng tỷ kheo gồm các trưởng lão & chư vị lãnh đạo thông hiểu Pháp & Luật công bố

  4. Do một tỷ kheo thông hiểu giáo lý & luật nghi công bố

Thậm chí bất cứ nguồn tham khảo, cứ liệu hay xuất xứ lời dạy & luật nghi được so sánh với toàn bộ giáo lý nhà Phật: Nếu khi đem đối chiếu với Kinh (Sutta) & Luật (Vinaya), chúng trái lý Kinh, nghịch sự Luật, phải đưa đến kết luận:  Chắc chắn đây không phải là lời của đức Thế Tôn.. & tỷ kheo đã thọ trì lầm lẫn.  Vì thế, hãy bỏ nó đi…”  Nếu khi những lời dạy hay luật nghi “được thực hành không gây ‘thiệt hại & sầu khổ’, chúng phải được chấp nhận như lời Phật dạy”. 

Trong bài giảng khác nói rằng dẫu lỡ lập niềm tin cực bộ nào đó, thì kinh nhiệm thẩm tra cá ngân phát ngôn là quan trọng.  Ở đây nhấn mạnh khả năng nhận xét chính chắn.  Do nghe cũng như do quán sát trực tiếp hành động của một người mà biết phẩm chất của y thị.  Mọi thông tin & nguồn (y thị cung cấp gián tiếp hay trực tiếp, chẳng hạn) phải được kiểm chứng cẩn thận.  Xin dẫn thí dụ về đức Phật Gotama.  Nếu một kỷ kheo thắc mắc phải chăng đức Gotama giác ngộ viên mãn hay không, vị ấy nên kiểm chứng hai điều: tức là, điều gì vị ấy biết do quan sát & điều gì do nghe đồn.  Việc này được thực hiện bằng cách quan sát nghiêm ngặt xem ông có đạo hạnh thuần khiết hay không, & không bị tai tiếng đồi bại hay đạo hạnh bất nhất như thiên hạ đồn đại.  Kỳ hạn quan sát trải một thời gian đáng kể, nó được thực hiện không phải là một lần, tái kiểm & thẩm định giá trị đối tượng quan sát.  Đây là mặt quan trọng của phương pháp “quan sát khoa học” trong Phật giáo.

 Thái độ tin cậy đức Phật Gotama - dẫn đầu bốn cứ liệu đã đề cập – là một “niềm tin có lý trí” phát triển nhờ thời gian dài quan sát hành vi của ông, lắng nghe điều gì thiên hạ nói về ông.  Đó là một niềm tin do thông hiểu, do lý trí (akaravati saddha) tạo nên, đối ngược niềm tin phi lý, mù quáng đặt tên cứ liệu.  Chính vì thế, người ta khi ứng dụng lời Phật dạy chắc chắn thành tựu những kết quả khả quan ngay đời sống này, & như vậy là bậc trí tự thân kiểm chứng.

Niềm tin lý trí là khởi điểm nhận thức chân lý.  “Có hai nguồn phát sinh chánh kiến: truyền đạt & phản biện”. Khi đã kiến lập tính xác thực của nguồn (chẳng hạn, từ đức Phật), niềm tin lý trí chấp nhận sực việc.  Nhưng lần nữa, chính nhờ phân biện về sự việc sẽ kiếm lập chân lý, phá tan mọi ngờ vực,

Điều gì được chấp nhận trên niềm tin lý trí, điều ấy cho phép người ta đưa ra một giả thuyết &, sau đớ, phân tích nó bằng kinh nghiệm từng trải.  Để trình bày rõ rang, chính xác, đòi hỏi một giả thuyết phải trải qua cuộc thẩm tra sơ bộ & đã đạt tới chỗ hợp lý.  Thêm vào kinh nghiệm từng trải (như sưu tập dữ liệu & phối kiểm chúng dựa vào kinh nghiệm), ta có thể kiểm tra giả thuyết theo một phương pháp khác.  Đó là phương pháp lục thông được một người phát triển nhờ quá trình tuy tâm luyện thiền.

Việc loại bỏ cứ liệu ám chỉ sự phủ nhận những luận điệu thiên khải, truyền thống & lời tường thuật vốn được xem là những nguồn cứ liệu xác tin trong khi người ta chưa từng kiểm chứng & chưa từng có kinh nghiệm ứng dụng chúng.  Nghe nói hay tin đồn, bao gồm những truyền thuyết & dã sử, nằm chung xuồng cứ liệu như thế.  Có người chỉ tin cứ liệu đã lưu trong các văan bản kinh điển.  “Có thể xem, trên nguyên tắc, bất cứ tuyên ngôn nào nhất quán với các văn bản này là thật, kỳ dư là hư”.[11]   Ngay cả sự chứng thực hay ngộ đạo của những nhân vật gọi là đáng tin cậy, ta cũng không nên dễ dãi chấp nhận hay tin theo chỉ vì tôn kính họ.

Một số xưng danh toàn tri & được được nhiều người trọng vọng tín nhiệm.  Đức Phật Gotama định rõ tính chất toàn tri như sau: “Ờ đây, một số Đạo Sư tự xưng mình có kiến thức & nhãn quan vô hạnh hiện hành bền bỉ & liên tục”.  Theo Đức Phật Gotama, không ai là toàn tri trong ý nghĩa này.  Nếu cẩn thận quan sát, ta sẽ hiểu thông vấn đề.  Giả sử, bậc toàn tri bước vô ngôi nhà vắng chủ, y thị không thọ nhận đuợc cái gì, có thể cnò bị đổ họa.  Điều đó chứng minh bậc toàn tri không toàn tri sự việc.  Vậy làm thế nào người ta khó thể căn bản cứ liệu trên một toàn tri như thế?

Tư tưởng nhà Phật không dành chỗ cho lòng thiên vị hay nhận thức cảm tính.  Đây là một yếu điểm khác.  Thiên vị hay nhận thúc cảm tính & tánh khi nông nỗi đôi lúc dẫn dắt con người làm những quyết định lầm lạc hoặc xui khiến họ sử dụng sai sót phương pháp quan sát.  Phật giáo nói một người rơi vào sai lầm như thế bởi lý do (1) tham dục (chanda), (2) sân hận (dosa), (3) sợ hãi (bhaya), (4) si mê (moha).  Bốn thứ này được xem như nguyên nhân đưa đến sa ngã bất chính.

Mỗi cá nhân nên tỉnh táo nội quán & chủ động phân biện tư tưởng, càm xúc để tìm ra điều thiên vị riêng mình bằng cách kiển điểm phải chăng bản thân đã mắc phải bốn thứ oái oăm kia. Mức độ đức Phật Gotama bài trừ thiên vị được thấy qua lời khuyên đồ đệ (tỷ kheo cùng cư sĩ) không để tâm trí bị tổn thương chỉ dù miệng đời chê bai đức Phật & Pháp ông giảng giải.  Nếu các đồ đệ, khi nghe lời chê bai, ghim lòng oán ghét hay khởi ác ý đối với đương sự, lòng phẫn hận sẽ tạo tâm cảm bất bình.  Một người giận quá mất không, không thể bình tâm suy xét phải chăng những phát ngôn là đúng hay sai, Đồng thời, họ không nên thích thú hay mở cờ trong bụng khi nghe mấy giọng điệu trang trọng tang bốc ca tụng đức Đạo Sư.  Những cảm xúc như thế vẫn tạo một hình thái bất bình tương tự, phủ mờ nhãn quan & làm hạn hẹp khả năng nhận biết điều gì là sự thật & điều gì hư ngụy trong phát ngôn.

Thái độ này quá khách quan.  Tính khách quan là yếu tố cần thiết cho người đi tìm sự thật hay chân lý.  Để minh họa việc đức Gotama nhấn mạnh về tính khác quan, Jayatilleke cử trường hợp của đức Sariputta.  Dịp nọ, đức Sariputta - thượng thủ để tử của Phật - thổ lộ rằng ông cảm tưởng chưa tùng có & sẽ không bao giờ có một nhân vật siêu xuất kiến thức & am hiểu hơn đức Đạo Sư.  Điều đó là khiến Phật Gotama vặn hỏi: “Chà! Sariputta, có phải ông đã xét rõ tâm chư vị Chánh Đẳng Giác ở thời quá khứ… thời tương lai… hay tâm tôi trong hiện tại?”.  Khi nhận câu trả lời phủ định, đức Gotama mới chỉ cho đức Sariputta thấy được điểm của một phát ngôn quyết đoán.  Jayatilleke bình luận (trong cùng tác phẩm): “Tình tiết này biểu bày thái độ khách quan của đức Gotama, ông đòi hỏi rằng đới với những phát ngôn đúng đắn, chúng phải đặt trên chứng cứ rõ ràng để biện hộ cho điều gì đã khẳng định, chứ không nên vì thành kiến chủ quan”.

Tình khách quan bao giờ cũng gần gũi với sự thật & mang lại lượng dữ liệu đáng tin cậy, do vậy, tư tưởng Phật giáo xem trọng tính khách quan: “Nhận thức sự vật như tánh như tướng là tri kiến cao quý nhất”.  Những sự thật đức Gotama đã khám phá tiêu biểu cho lối quán sát này.  Những sự thật đó khách quan vì “dù chư Chánh Đẳng Giác thuyết giảng giáo hay không, thì giáo lý (tức là những sự thật do vị Chánh Đẳng Giác khám phá) vẫn duy trì tính y nhiên”.  Sự thật vốn dĩ khách quan, & ta có thể tiếp cận nó chỉ bằng tâm thái khách quan.

Trong lúc kiểm chứng dữ liệu, mối quan hệ giữa nhân & nắm quả giữ một vị trí quan yếu.  Luật này đưọc minh họa qua bài kệ nôm na sau:

 “Có này nên có kia;

 do này sanh, nên kia khởi.

 Không này nên không kia;

 do này vắng, kia cũng lặng”.[12]

“Luật” nhân quả cũng như sự tương quan hiện tượng nằm trong tầm quan sát của thuyết Bốn Chân Lý Cao Nhân & thuyết Tùy Thuộc Duyên Sinh.  Bốn Chân Lý Cao Nhân cung cấp cho ta một cấu trúc phân tích: trước tiên chúng ta định rõ vấn đề (chẳng hạn: điều gì là nỗi khốn khó trong đời sống?).  Xong, chúng ta thử tìm nguyên nhân gây ra vấn đề (nỗi khốn khó).  Thứ đến, chúng ta cố gắng xem xét phải chăng có lối thoát khỏi vấn đề (nỗi khốn khó).  Sau cùng đường lối chân chánh đó (Bát Chánh Đạo) là gì?

Với “luật” nhân quả này, Phật giáo nỗ lực phân tích dữ liệu một khi đã tích lũy chứng.  Sự tập trung thần trí là rất cần thiết trước khi phân tích dữ liệu.  Phật giáo cung cấp cho người nghiên cứu loại thiền án an thần tỉn trí; y thị có thể chọn bất kỳ Kosaina (đề mục tập trung tử) vào & tự rèn luyện thần trí trong lúc sưu tầm dữ liệu.  Kỹ thuật thiền quán hướng dẫn người ta cách phân tích phê bình dữ liệu đã sưu tầm.

Tư tưởng nhà Phật cũng chỉ người ta nên kinh qua bốn đức dục được biết như tứ vô lượng đức hay tứ tịnh hạnh (Brahmavihara).  Đó lá tứ ái, bi mẫn, cảm thông, hành xã.

Vai trò quan trọng của tứ vô lượng đức đối với lãnh vực nghiên cứu - đặc biệt trong việc dựng các mối quan hệ đúng đắn & mang tính khách quan, từ bỏ thiên kiến - thường bị lờ đi.  Thái độ từ ái khởi từ nội quan – nhìn vào bên trong chính mình -, sau đó, triển hành các luồng tâm tưởng từ ái phủ mát tự thân & dần dần mở lòng quảng đại đến tất cả hữu tình cộng tồn trên khắp thế giới.

 “Mong mọi sinh linh an vui,

 Tấm lòng dưỡng nuôi hiền lương, thuần hậu.

 Dù thể chất ra sao

- yếu, mạnh; thấp, cao;

nhỏ, to; gầy, béo

- trong mắt nhìn hay chưa rõ mặt nhau.

Sinh linh trú nơi nào,

gần hay xa,

đã sanh thành hay sắp sanh ra,

mong tất cả an hòa vui sống”. 

 Người nghiên cứu trước tiên nên lập tâm từ ái như thế để tạo mối quan hệ tương thích trước đối tượng liên đệ.  Nếu khởi sự bực tức thì cũng có kỹ thuật thiền định loài trừ thái độ lệch lạc này.  Nói chung, khi tâm trí bị đối tượng kích động, người nghiên cứu được đề nghị nhiều phương pháp khác nhau nhằm khắc phục chúng.

 Bi nhẫn hay Karuma, đức dục thứ hai, giúp mở rộng mở rộng mối quan hệ đã thiết lập.  Người nghiên cứu khỏa đầy tư tưởng thương cảm với mọi đối tác & cố gắng thể hiện lòng bi mẫn bằng biểu hiện cụ thể qua lời nói, cử chỉ & hành vi.

 Có thể phát triển thêm mối qua hệ bằng cách tu dưỡng đức cảm thông trước phúc lợi của người.  Điều này gắn liền việc vui theo sự thành công & cùng người san sẻ nỗi khổ ưu.  Một đức dục như thế làm cho ta dễ sinh lòng tương cảm với đối tượng.  Người nghiên cứu tập nhìn vấn đề từ quan điểm của chính đối tượng; sự cảm thông (mudita) không chỉ giúp người nghiên cứu xem xét dữ liệu, giải thích chúng từ quan điểm khách quan của đối tượng.

 Sau cùng, đức hành xả (upekkha) giúp thiếp lập tính khách quan trong quá trình sưu tập thông tin.  Tứ ái, bi mẫn, cảm thông đều do đức chí tâm vô tư dẫn dắt theo phương châm: “Như đá dựng vững chắc không bị gió máy lay chuyển, cũng như thế, bậc thiện trí không bị xao động vì tiếng đời khen hay chê”.[13]  Dù tánh chất đối tượng ra sao, những thông tin mà y thị cung cấp có gây dị ứng nơi người nghiên cứu hay không, phương châm upekkha khi đã được tu dưỡng chắc chắn giúp người nghiên cứu đạt đến một tâm khách quan tiện lợi cho công việc của y thị.

 Bốn phương châm xử thế này đồng đều hữu ích trong việc phân tích dữ liệu.  Ba đức dục đầu trợ lực người nghiên cứu đặt mình vào vị trí của đối tượng để soi rọi dữ liệu.  Các điểm tương quan đan xen ngay bản thân dữ liệu được khám phá tốt nhất nhờ tu dưỡng từ ái & bi mẫn.

 Kỹ thuật thiền định nổi bật là Vipassana hay Phân tích (mà ta quen gọi thiền quán) mở rộng phạm vi kiến thức của người nghiên cứu trong sự liên hệ với việc phân tích dữ liệu.  Kỹ thuật thiền quán được xem như một quá trình trực giác dẫn đến thẩm thấu là cực kỳ hữu ích cho việc phân tích dữ liệu, vì kinh vận dụng kỹ thuật như thế, người ta sẽ hạn chế khuynh hướng bị lạc bào những kết luận sai lầm.

 Phương pháp luận của đức Phật Gotama là một phép thực nghiệm.  Sự quan sát tinh tường đã dẫn ông đến nhận thức về tính vô bổ của việc sống đời nhiễm trước thái quá.  Thế rồi, ông chuyển hướng tận cùng vào đường lối hành trì khổ hạnh.  Kinh nghiệm đã thuyết phục ông rằng đạo lộ này cũng bất chính & không thể đạt tới chân lý.  Sau cùng, khi tiếp tục với những thực nghiệm, ông khám phá chân lý (theo Trung Đạo) mà ông đã giải minh & chỉ dẫn tha nhân.

 Giáo lý nhà Phật, do đó, đặt căn bản trên kinh nghiệm & thực nghiệm.  Mối tương hệ giữa các sự thật phải luôn được lưu ý.  Thí dụ tiêu biểu là giáo lý tùy thuộc duyên sinh, trong đó, tất cả yếu tố cố kết với nhau & lệ thuộc lẫn nhau.

 Trong việc kiểm chứng dữ liệu, nên vạch mục đích rõ ràng như cách kiểm chứng đã nêu.  Có lần, đức Phật ở nơi rừng xanh cây lá bạt ngàn, ông bốc một nắm lá & nói rằng điều gì ông đã truyền dạy là có thể ví tợ lá trên tay so với kiến thức của ông như lá trong rừng.  Dù thế gian mênh mong kiến thức, ta trước hết phải xác định điều gì hữu ích & cần thiết, rồi chú tâm thu thập kiến thức đó.  Quá trình thu thập & sàng lọc dữ liệu như thế là dấu chuẩn độ trong tư tưởng nhà Phật.  Tuyển chọn kiến thức kiểu này tạo nên đời sống thích đáng & có ý nghĩa; còn bỏ thời gian, công sức đeo đuổi mớ kiến thức ba láp là một việc làm phơ phào vô dụng.  Một nhà xã hội hay nhân loại học nên cẩn thận chọn điều nghiên cứu khi đang hạ quyết tâm làm hoàn mãn mục đích.  Kiến thức nào người nghiên cứu tích lũy, kiến thức ấy phải trợ duyên y thị giúp đỡ thế giới chúng ta đang sinh sống ngày một tốt đẹp hơn.

 Việc này được thực hiện như thế nào?  Phật giáo định rõ sự hiện hữu của ba tham ái: (1) Khác vọng hưởng dục trần bất tận; (2) Khác vọng sống còn hay khác vọng sống để hưởng dục trần; (3) Khát vọng trường sinh bất tử (desire for immortality).[14] 

 Mục tiêu quan yếu trong giáo lý nhà Phật là từ bỏ ba tham ái này.  Sự tuyệt diệt hoàn toàn như thế xem ra không thực tế trong thế giới loài người; nhưng, nếu mỗi cá nhân & nhóm người nỗ lực kiềm chế tham ái nhằm xây dựng nếp sống hướng thượng, ta sẽ thấy lộ diện một xã hội toàn thiện.  Nghiên cứu xã hội hay nhân loại học dưới ánh sáng đạo lý có thể đặt cơ sở kiến tạo một xã hội thái hỏa, ở đó, số đông quần sinh giảm nỗi bức bối khốn khổ đến mức tối thiểu.  Như thế sự quân bình cá nhân & quân bình xã hội không phải là chuyện bất khả.

 Đức Gotama dẫn trường hợp một người bị trúng tên độc.  Việc cần thiết bấy giờ là phải rút ra mũi tên, lo liệu cấp cứu & thuốc men để giành lấy mạng sống.  Bằng như cứ cố công truy tầm tung tích, hành hung thủ phạm đã nã mũi tên, thời giờ qúy báo đã trôi qua, nạn nhân sẽ chết vì vết thương.  Nhân sinh rành rành ngắn ngủi, những thành tựu thông qua kiến thức & trí tuệ của mỗi cá nhân chẳng được bao nhiêu & thường chỉ là tương đối, tuy nhiên, y thị cần rút nhiều tâm huyết vào việc làm nào cao qúy.  Chính điểm này đã nhắc nhở nhà xã hội hay nhân loại học luôn thận trọng sàng lọc cuộc nghiên cứu của mình.  Nguyên tắc chủ đạo cho những chọn lựa là phải nhấn mạnh được tích thích đáng, mang nhiều ý nghĩa đối với đời sống thực tiễn & cần tập trung trên những mục tiêu như thế hơn là theo những suy đoán suông hay đeo đuổi những bài viết thực tập trường kỳ không ăn nhập gì với các vấn đề con người.

 Đức Gotama thường được mô tả như người nói sao thì làm vậy (yathavadi tathakari).  Biết mà không lảm hoá ra kiến thức chết.  Trí tuệ chỉ tập khởi khi nào kiến thức đã tích lũy được vận dụng thực hành.  Mọi tìm tòi thông qua kiến thức sẽ lụn tàn giá trị, nếu chúng không trực tiếp hay gián tiếp đi vào đời thực.

 Phương pháp tiếp cận dữ liệu trong Phật giáo mang đặc tính chỉnh thế hay toàn bộ.  Một sự thật hay vấn đề nào đó phải được quán sát đa phương, toàn diện cho đến lúc thấu đạo mọi khía cạnh.  Truyện ngụ ngôn nổi tiếng “người mù sờ voi” minh họa lối quán sát này.  Mỗi người mù mò mẫm phần khác nhau của con thú & đã mường tượng con voi như thế đó.  Người chộp cái vòi nghĩ rằng con thú giống một sinh vật dài lúc lắc; trong khi người nắm chiếc tai so sánh con thú với mảnh đệm quạt trấu.v.v..  Nhưng người sáng mắt quan sát khắp thân con thú.  Cái nhìn toàn bộ như vậy là rất quan trọng.

 Trong mối quan tâm đến tính toàn bộ, nhiều khi những đơn sự trong cuộc hội thoại lý giải về một tình huống xã hội cá biệt nào đó buộc chúng ta cũng phải nhìn vấn đề theo nhãn quan của họ.  Kinh điển kể, lần nọ, một phục nữ trẻ gặp đức Gotama & ông đặt câu hỏi: “Cô từ đâu đến?”.  Người phụ nữ trẻ đáp: “Tôi không biết thưa Ngài”.  Đức Gotama hỏi tiếp: “Cô sắp về đâu?”  Thị ứng miệng đúng câu vừa trả lời.  Cuộc đàm thoại tiếp tục mô thức trên khiến thính giả cứ ngỡ tín nữ này điên điên khùng khùng.  Sau đó, đức Gotama giải thích ngụ ý những ngôn từ mà ông & tín nữa đã đối đáp với nhau.  Khi ông hỏi: “Cô từ đâu đến?”, thị nhận vào ý nghĩa “Kiếp trước của cô ra sao?” (Từ nơi nào cô sanh lại hiện tiền).  Câu thứ hai được hiểu nghĩa “Cô sẽ tái sanh ở đâu?”.  Cách suy nghĩ & đối đáp của người phụ nữ trẻ hoàn toàn thể nhập thái độ sống hằng ngày của thị.  Thị vốn là người thường xuyên tu dưỡng phép suy quán bản chất đời sống phù du.  Những lối giải trình như thế xuất phát từ một ý thức tương liên hay thần giao cách cảm được tư tưởng nhả Phật biểu đạt thay cho những tình huống xã hội xảy ra tương tợ.  Ta có thể đào sâu & mở rộng tầm quan sát & những phương pháp khác nhan nhờ hệ tâm được thiền định khai hóa.  Thiền định tạo nề nếp & tôi luyện tâm, dẫn nó sang hệ tâm khai hóa & cụ bị cho nó sáu kỹ nămg siêu phàm[15] sau đây:

1. Thần túc thông hay biến hoá thông (iddhividha)

2. Thiên nhĩ (dibba sota dhatu)

3. Tha tâm tri (ceto pariya nana)

4. Tiền sinh tri hay túc mạng thông (pubbe nivasanussati nana)

5. Thiên nhãn (dibba cakkhu)

6. Lậu tận tri (asavakkhayo nana) 

Jayatillleke đã tham khảo chi tiết những kỹ năng này.  Ông nói rằng Thần túc thông không đơn thuần là khả năng biến hiện theo nghĩa ‘biết làm điều gì đó’, mà là một sự phó diễn ‘sức mạnh của ý chí’.  Còn thiên nhãn ám chỉ khả năng nghe hiểu thanh âm loài hữu hình hay thậm chí loài vô hình khoảng cách gần hay xa, không cần trang thiết bị trợ thích.  Tha tâm trị có nghĩa hiểu biết tổng quát tâm thái của kẻ khác, nó được so sánh với việc soi gương nhắm nghía mặt mình xem có nốt ruồi nào hay không. Thật thú vị để lưu ý làm thế nào các văn bản Phật giáo mô tả những phương pháp hiểu biết tâm kẻ khác.  Một nhà xã hội học cố gắng quan sát hành vi ngoại tại, & suy đoán điều gì xảy ra trong tâm: (1) Y thị quan sát những dấu hiệu bề ngoài, & (2) góp nhặt trông tin qua phỏng vấn .v.v..  Hai phương pháp này được giới xã hội học & nhân loại học (thực tế, tất cả các nhà khoa học xã hội) chuộng dụng rộng rãi.  Thêm vào đó, Phật giáo nói tới hai phương pháp khác là: (1) Nhận hiểu tâm tư bằng cách lắng nghe những rung động, & (2) đọc hiểu tâm tư người khác bằng tâm mình.  Hai kỹ năng này đề cập đến năng lực chiêu cảm – nói chung chiêu trực tiếp hay gián tiếp.

Phát triển tinh thần nhờ phương tiện thiền định giúp cho ta đạt những tâm thái cao hơn, từ đó có thể hồi ức tiền sinh - nhiều kiếp sống xa xưa, chuỗi đời quá khứ của ta & tha nhân.  Kỹ năng thiên nhãn mang lại sự hiểu biết về cuộc sanh tử của hữu hình.  Y thị có thể “thấy” điều gì xảy ra bất cứ nơi đâu trên thế giới; thấy những điều vượt ngoài nhãn quang thông thường.  Kỹ năng thứ sáu là tri thức liễu ngộ Bốn Chân Lý Cao Nhân. Người ta chắc khó thực hiện thành thạo tất cả những phương pháp này cũng như khó dùng chúng trong việc nghiên cứu xã hội.  Nhưng nên tin rằng việc phát triển năng lực quán sát do luyện tập tinh thần là điều thật khả thi.  Ta sẽ không bỏ công nếu cố gắng gia tăng cường lực quán sát qua sự ứng dung những phương pháp này, hoặc theo cùng cách thức như sự ứng dụng của các trợ liệu nhằm nâng cao cường lực quán sát.

Bất cứ tài liệu gì đạt được nhờ mọi phương pháp ngoại cảm có thể kiểm định theo cách quản sát thông thương & dễ được chấp nhận vì tính cách khoa học của nó.  Truyền thống Phật giáo đã ghi nhận những tình huống đang liên hệ.  Có người bủn xỉn thác sanh vào một gia đình cái bang.  Cậu bé ăn mày bị dị dạng này đến xin cơm ngay nhà đức con trai tiền kiếp.  Bọn trẻ của con trai y (vốn là cháu của y) kinh khoảng khi nhìn dáng vẻ ăn mày & bắt đầu la khóc om sòm.  Các gia nhân chạy tới xem kẻ ăn mày; họ đánh đập, xua đuổi y.  Lúc ấy, đức Gotama đi ngang qua đó đã dùng thiên nhãn thấy rằng cậu bé là cha của người làm chủ ngôi nhà hiện thời.  Gia chủ không chấp nhận lời nói của ông thổ lộ.  Đức Gotama bèn gọi cậu bé ăn mày & nhắc nhở nơi nào y đã cất giữ phần lớn sản nghiệp kếch sù trong đời sống trước.  Cậu bé lần hồi ký ức & chỉ ra kho báu giấu kín mà không ai ngoài y biết tới.  Gia chủ mới vỡ lẽ rằng cậu bé ăn mày sanh phận thấp hèn lại bị kỳ hình dị tướng không ai khác hơn người ch keo kiệt của mình.

Những kỹ năng này, tối thiểu vài ba trong năm (trừ kỹ năng sau cùng), cũng thường được các vị cao minh thức giả thuộc truyền thống tinh thần khác luyện thành.  Và do vậy, những kỹ năng này không chỉ thuộc về tư tưởng nhà Phật, trừ điều sau cùng trong sáu kỹ năng đã đề cập cì đó là đặc trưng dành cho những ai thuận hành Phật đạo.  Thiền định hay sự khai hóa tâm là chìa khóa mở toang những kỹ năng như thế.  Các ngành khoa học xã hội, đặc biệt là xã hội học, nhân loại học & phải kể thêm ngành tâm lý học có thể đạt nhiều thẩm thấu hữu ích qua việc thực nghiệm những phương pháp này & cố gắng sử dụng chùng trong qúa trình sưu tầm dữ liệu cũng như phân tích dữ liệu.

 

 

III. GIA ĐÌNH

 

Phật giáo xem gia đình như một cơ quan xã hội.  Văn học nhà Phật thường nói đến gia đỉnh hạt nhân (bao gồm cha mẹ & con cái do chính họ sinh thành) cũng như gia đình khai triển (con cái lập mái ấm riêng, thêm các quan hệ đa phương).  Các mối quan hệ giữa thành viên trong một gia đình là có tình, thân mật & đâu đó rõ ràng.

Một gia đình dủ hạt nhân hay khai triển luôn gắn bó với họ hàng.  Nghĩa vụ gia đình bao gồm việc phụng sự & tỏ lòng tôn kính trong các bậc cha mẹ, bảo đảm sinh kế cho vợ chồnh, kính trọng các bậc cha mẹ, bảo đảm sinh kế cho vợ chồng, con cái & cư xử rộng rãi đối với các bậc bô lão & quyến thuộc.  Sự hỗ trợ từ phía cha mẹ, vợ chồng, con cái & từ thân quyến dành cho nhau là thiết yếu trong quan hệ gia đình để tiến tới trách nhiệm xã hội một cách thành công.

Theo Phật giáo, những điều quan trọng giữa các trách nhiệm gia đình là:

1.  Hoạt động kinh tế: kiếm sinh kế cần thiết để cưu mang & duy trì gia đình.

2. Giúp con trẻ hội nhập xã hội bằng cách gieo vào lòng chúng những giá trị tích cực của đời sống.

3. Thỏa mãn nhu cầu tính dục.

4. Lo ủng hộ tâm lý & sự an toàn cho mọi thành viên. 

Gia đình là đơn vị hay nhóm căn bản trong xã hội.  Nó thiết lập các mối thông gia qua nhiều con đường.  Hôn nhân là một lối tiêu biểu.  Hôn nhân không chỉ tạo ra quan hệ giữa các gia đình mà còn bắt quàng dây nợ tình thân thuộc giữa những thành viên.  Mỗi cuộc hôn nhân xe tơ kết tóc hai người là mỗi lần chuyển biến quan hệ họ hàng. 

Một cô nàng được gả đến gia đình khác bằng con đường hôn nhân, hay một anh chàng đang cưới vợ bắt đầu gia đình riêng của chàng nàng chỉ trong cái khung gia đình khai triển & mạng quan hệ họ hàng.  Ý niệm này mặc nhiên khiến cho gia đình khai triển & nhóm họ hàng thân thuộc sẳm lòng hỗ trợ mái ấm đôi uyên ương trong giai đoạn đầu tạo dụng.

Theo quan điểm nhà Phật, tập thể gia đình khai triển & họ hàng là nhân tố chính giúp gia đình mới hội nhập xã hôi.

Nam nữ thanh niên khi bước vào gia đình bạn phối ngẫu sau lễ cưới gả tự động có thêm cha mẹ mới &, mặt khác, cha mẹ đôi bên mong đợi được nàng dâu & chàng rễ đối xử như cha mẹ thứ hai.

Phật giáo khuyến khích thái độ này vì lẽ nó làm cho cặp chàng nàng dễ dàng hợp nhất với gia đình bên chồng & bên vợ; có thể xem hôn nhân là một chiến lược giúp liên kết các nhóm (gia đình & họ hàng) tương giao hòa hảo trong không khí gia đình.  Do đó, điều tế nhị là không cần thiết phải phân trò hay phận sự gây cảm giác khó chịu cho nàng dâu, chàng rễ hay các thành viên gia đình.  Nên nhìn nàng dâu là con gái của cha mẹ chồng, & chàng rễ này là một đứa con trai mới sanh vào gia đình cha mẹ vợ.

Cha mẹ so tợ trời cao [16] & đôi lúc được sánh với chính đức Phật.  Cha mẹ xứng nhận những quà dâng tặng vì ân tình họ dành cho con.  Người trí nên lễ bái & tỏ ra ân kính trọng cha mẹ đúng mực, cung cấp cho họ thức ăn, thức uống, quần áo, giường nằm, & xoa bóp thân thể, giặt giũ, tắm rửa, giúp lo vệ sinh những khi họ đau yếu.  Chư bậc thánh hiền đều ca ngợi người con biết quan tâm phục dịch mẹ cha.  Không những tiếng lành đồn xa, người con hiếu còn vui hưởng phúc lạc mai hậu.

Kinh Phật thường giảng giải kỹ lưỡng vai trò đặc biệt này.  Người con hiếu nên làm tròn các nghĩa vụ sau đây:

1. Y thị nên ủng hộ, bảo vệ cha mẹ & cung cấp nhu cầu cho họ.

2. Y thị nên chịu thương chịu khó làm việc khuếch trương sản nghiệp của mẹ cha.

3. Y thị nên duy trì danh giá gia đình.

4. Y thị nên chứng tỏ mình xử dụng xứng đáng sản nghiệp thừa tự.

5. Y thị nên nhân danh nghĩa ban của bố thí khi họ chết & đoái tưởng cha mẹ dự phần công đức. 

Như gương mẫu, các bậc cha mẹ không thờ ơ phân vụ của mình trong việc dắt dẫn con cái hội nhập xã hội; thiết lập những giá trị & thái độ đúng đắn trong lòng con trẻ; cho họ hấp thụ nèn giáo dục thích hợp; giúp họ (con trai & con gái) chọn bạn đời phối ngẫu khi họ đã trưởng thành; & ước lượng khả năng của con cái để trao quyền quản lý sản nghiệp.

Những phận vụ này được định rõ để cả hai – con cái & cha mẹ - thực hiện nhịp nhnàg chức năng của họ trong cơ quan gia đình.  Các chức năng của cha mẹ như xã hội hóa con trẻ, cung cấp nền giáo dục kiến thức & kỹ năng, gieo trồng những giá trị tích cực sẽ là những mặt quan trọng. Khi trẻ đến tuổi thành niên, phải lo chuyện cưới gả đúng chổ đúng người, & giao trông nom phát triển gia sản của mẹ cha.

Những chức năng này có tác dụng gây thuận ứng chức năng làm con.  Trẻ vào giai đoạn trưởng thành được ổn định nghề nghiệp, chúng có thể chăm sóc cha mẹ, & đó là lý do tại sao gia sản của mẹ cha nên cho chúng.  Chúng ủng hộ & bảo vệ cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ già yếu, đau bệnh chẳng hạn.  Nhờ thế, nhà nước đở phần tạo lậtp những tiện nghi cho công dân cao tuồi.  Mội trong những điều mà bậc cha mẹ cũng như họ hàng mong đợi hàng đầu là việc giữ gình danh giá gia đình.  Thậm chí sau khi cha mẹ lâm chung, con cái tiếp nối các hoạt động tôn giáo & xã hội để duy trì truyền thống tốt đẹp.

Nếu cả hai – cha mẹ & con cái - thực hiện những chức năng hay trách nhiệm này thỉ nguy cơ xung đột giữa họ sẽ giảm thiểu.  Vợ chồng kính trọng cha mẹ là cách truyền cả con cái kính họ & trọng ông bà.  Bày tỏ lòng kính trọng như thế đối với đối tượng liên quan càng làm tăng sức đối kháng mọi hiểm họa xâm hại mái ấm gia đình.  Kính hay trọng không diễn ra một chiều, mà còn phài có qua có lại thực tiển.

Cặp vai căn bản trong vở tuồng gia đình là giữa chồng & vợ, đạo lý ‘chồng kính trọng vợ, & vợ kính trọng chồng’ được xem như nền tảng xây dựng vai trò & thực hiện chức năng chồng vợ.  Người chồng nên biểu lộ lòng kính trọng vợ qua lời nói & hành độgn cụ thể.  Những điểm then chốt của lời nói & hành động như thế là thái độ tử tế & biết quý mến, không nên vô cớ nỗi giận & buông lời lẽ thoá mạ, vu khống gây đâu lòng vợ.

Người chồng ăn ở chung thủy với vợ.  Đây cũng phải là dấu phẩm chất của người vợ.  Một ông chồng không thỏa mãn vợ nhà & lui tới đào mận lăng nhăng dễ khiến đời  mình tàn tạ.[17]  Vợ chồng càng đồng lòng xây dựng gia đình trên ‘thạch sàng’ tương thân tương ái, tin cậy & quý mến lẫn nhau.  Chính thiện ý, tin cậy & quý mến thôi thúc người đàn ông giao hết tài sản cho vợ giám hộ.  Và, do đó, người đàn bà hay người vợ đặt vào một vị thế quan trọng trong đời sống gia đình.

Người chồng còn phận sự cấp y phục & nữ trang cho vợ.  Chị em phụ nữ có tâm cảm mãn nguyện khi được y phục & nữ trang, đặt biệt từ đấng phu quân của mình như sự bày tỏ tình yêu trong hình thức trân trọng nhất.  Đời sống gia đình như thế là đầy ấn tượng, có tình & thân mật.

Vai trò của người chồng bổ sung cho vai trò của vợ được thực hiện trên những nguyên tắc đúng đắn.  Thì phải quán xuyến việc nhà, tự mình lo liệu hoặc chuyên coi chuyện nấu nướng các bữa ăn.  Để thực hiện phận sự này, thì nên biết khẩu vị của chồng, con cái, nói chung toàn thể thành viên gia đình.  Thức ăn là một khoản quan trọng trong gia đình nên được quan tâm cung ứng đầy đủ cho cả hai – các thành viên & khách khứa thường thăm viếng.  Người vợ phục vụ các buổi ăn đúng giờ giấc & như thế là “cách ngự trị trái tim phu quân nhờ bữa ăn vừa lòng thích ý.”[18]

Người vợ phải hiếu khách & rộng lượng với bạn bè & quyến thuộc học chồng.  Như đã đề cập, thì nên cử xử với cha mẹ chồng như cha mẹ thứ hai.  Tương tợ, thị cũng quý trọng & thương mến bạn bè, quyến thuộc họ chồng.

Một phận sự sống còn mà người vợ cần ý thức rõ là việc trong nom những gì chồng kiếm được.  Thị bảo vệ tài sản, không tiêu pha hay để thất thoát lãng phí.  Khi thực hiện trách nhiệm, đòi hỏi thị năng động, tâm tính không biếng nhác.  Thị nên quản lý công việc một cách khôn khéo.  Trong vấn đề này, người vợ nên học cách đảm đang trách nhiệm nhằm làm chu toàn phận sự.

Tình dục là yếu tố quan trọng khác nhau trong đời sống gia đình, khi xét vai trò chồng vợ.  Trong hôn nhân, giữa nhiều yếu tố thích hợp, thì sự tương thích tình dục được xem như có ý nghĩa hệ trọng.  Đó là tại sao người ta công khai ngăn cản những cuộc hôn nhân quá chênh lệch tuổi tác giữa nàng dâu & chàng dễ.  Chồng & vợ nên thấy rằng họ thật thỏa mãn tình dục trong quan hệ với nhau &, vì mục đích này, luôn giữa lòng chung thủy. Phát biểu chung thủy trong ý nghĩa tích cực.  Ở đây, trong quan hệ hôn nhân, người vợ & người chồng cùng nhau hô ứng sinh lý đến mức không ai giữa hai người còn muốn tìm của lạ đễ thỏa mãn tình dục.

Có bài pháp nhắc nhở người vợ tổ chúc việc nhà hữu hiệu, quan tâm tới nô bộc, cố gắng sống vừa ý chồng, chăm nom những gì chồng kiếm đưọc, ngoan đạo, tư cách tiết hạnh, tử tế & rộng lượng.[19]

Lần nọ, Phật Gotama đã khuyên một nhóm cô gái chuẩn bị kết hôn.  Người vợ trẻ cần thức khuya dậy sớm, làm việc sốt sắng, sắp đặt mọi việc trôi chảy, & tập ăn nói thanh lịch.  Họ nên tỏ lòng tôn trọng, qúy kính tất cả những người được chồng mình tôn trọng, qúy kính.  Người vợ trẻ phải giỏi nhiều việc thủ công; biết săn sóc những người bệnh & đoái thương nô bộc; phân chia thức ăn thích hợp.  Họ nên tranh thủ sự đồng tình của chồng, gìn giữ an toàn tiền của, vàng bạc & bất cứ thứ gì chồng mang về nhà.  Bằng cách cư xử khôn ngoan như thế, người vợ “sẽ đạt quyền lợi & thế giới này nằm trong nắm tay của thị”.[20]

Người vợ thành công việc sánh vai với chồng hay không tùy thuộc vào thái độ, sở thích & đức tính của chị.  Kinh điển lưu truyền rằng, lần nọ, đức Gotana giảng một bài pháp cho một cô vợ cao ngạo về dòng dõi & nhan sắc thường cư xử càn quấy đối với chồng & cha mẹ chồng.  Bài thuyết giảng đặt biệt nhắm đến việc dạy thị hạ thấp lòng kiêu hãnh & ngạo mạn.  Ông nói, có một số vai trò tùy chọn mà, qua đó, người vợ có thể nhận dạng mình trong quan hệ với chồng.  Những vai trò này là: như một kẻ sát nhân; như tỷ muội; như sư phụ; như hiền mẫu; như đạo tặc; như bằng hữu; & như nô bọc.  Khi đã giảng thích cặn kẽ mỗi loại vai trò, cô vợ chua ngoa được yêu cầu chọn vai nào thị thích.  Bấy giờ chị chọn vai trò như nô bộc, vì lẽ cuộc nói chuyện của đức Gotama đã hạ thấp bản ngã của thị.  Tuyên nhiên, Phật giáo muốn truyền cảm phụ nữ thích vai trò vợ như bằng hữu hơn. Phụ nữ được xem là bạn tốt nhất của chồng.[21]

Người vợ trẻ rời cha mẹ ruột đến sống trong một ngôi nhà mới.  Đây là thời gian thị cảm thấy xáo trộn lớn & căn thẳng về mặt văn hoá & tâm lý.  Thị mất mối thâm giao, xa cách mẹ cha, phải sống dưới những điều kiện & môi trường xung quanh lạ nước lạ cái.  Chính vì vậy lúc cử hành lễ cưới gả, một nhóm thông gia được chọn ra để làm cố vấn hôn nhân cho cặp vợ chồng bước vào đời sống mới.[22]  Bất cứ vấn đề nào khởi lên giữa cặp vợ chồng trẻ hay các thành viên trong gia đình, nhóm cố vấn này như một cái ‘lò so đàn hồi’ có tính xã hội sẵn sàng tìm cách giải quyết để giúp gia đình họ bền vững & êm thắm, tránh khỏi sóng gió đời thường.

Văn học giáo nói đến cả hai chế độ một vợ một chồng lẫn chế độ đa thê hiện hành phổ biến trong xã hội đương thời đức Gotama.  Nhưng chắc chắn Phật giáo tán thành tiêu chuẩn một ông bà “nếu không đủ nghị lực sống đời thánh thiện, y không nên rù quyến vợ người”.[23]  Đàn ông chỉ nhận được thỏa mãn lạc thú từ một người vợ (& ngược lại) được xem là đức hạnh đáng ca ngợi “Y không nên chung chạ một vợ với kẻ khác”.[24]

Những quy phạm liên quan đến cơ quan giai đình còn tùy thuộc mỗi cộng động người quy định.  Một lý do để hiểu tại sao dân chúng không vi phạm luân thường đạo lý là vì sợ dư luận xã hội chê trách.  Có trường hợp có một lãi già bị bốn đứa con trai thuyết phục phân chia tài sản.  Ở đây Phật giáo dạy ta biết vai trò cha mẹ liên hệ mật thiết với vai trò con cái như thế nào.  Mối quan hệ song phương thiết lập căn quy phạm:

- Các bậc cha mẹ trao tài sản cho con cái khi chúng trưởng tài

- Con cái trưởng thành, đối lại, nên  chăm sóc cha mẹ già cả.

Nếu quy phạm đạo đức bị vi phạm, chắc chắn không thể tránh xảy ra dư luận xã hội chê trách.  Lão già bị bốn đứa con trai ích kỷ hất hủi đã tìm đến đức Gotama.  Ngay sau đó, đức Gotama đã dạy lão đọc & học thuộc lòng một bài kệ (gồm năm đoạn).  Những câu kệ tâm tình chứa đựng quy phạm đạo đức được lão ngâm nga kể lễ khi quần tập học tại đình làng.[25] 

‘Khi họ chào đời, tôi hân hoan,

Lòng những thầm mong kẻ sống còn

Nay tất cả vui bề thê tử

Hất hủi tôi như đuổi lợn hoang.’

‘Bần tiện, dã tâm là bọn này,

Vốn từng thân gọi các con trai,

Chẳng màng lo cho tròn chữ hiếu

Mặc tôi già yếu & lẽ loi.’

‘Như người mòn hơi bị ruồng bỏ

Không cho ăn cỏ, đuổi khỏi tàu

Các con, như thế, đuổi cha chúng

Xin xỏ cửa người mà quặn đau.’

‘Tôi nói cây gậy còn tốt hơn

Bọn con ghẻ lạnh & vô ơn

Gậy giúp tôi đánh bò xuôi ngược

Hoặc đuổi ra xa con chó hoang.’

‘Một thời run rẩy bước trong đêm

Giờ đây tôi nắm giữ chắc thêm

Nắm gậy nâng thân đà vững thế

Một thời vấp ngã, giờ đứng yên.’[26] 

Chìến lượt của đức Gotama qủa mang lại kết qủa đúng dự đoán.  Áp lực từ dư luận quần chúng & lương tâm cắn rứt từ quần chúng chê trách đã khiến những người con trai nhận ra lầm lỗi & sửa đổi hành vi.

Điều này cho thấy những quy phạm & giá trị đạo đức trong một nhóm nhỏ được gia cố nhờ những giá trị tương tợ trong các nhóm lớn.  Ở đây, những quy phạm & giá trị đạo đức của cơ quan gia đình được tăng sức mạnh nhờ những điều tương tợ trong cộng đồng.  Cộng đồng này bao gồm bạn bè, quyến thuộc & những ai có quan hệ gần gũi với nhau.  Những cư dân cùng cộng đồng thường tập trung tại một chỗ hội họp thông lệ để giiả quyết công việc của họ.  Phật giáo luôn xem trọng những buổi hội họp như thế giữa người cùng cộng động.

Những cuộc họp mặt cộng động diễn ra càng thường xuyên càng gia cố những quy phạm & giá trị đạo đức trong các nhóm gia đình.  Ta có thể thấy những quy phạm & giá trị đạo đức biểu hiện hung hồn trong những nhóm nhỏ hơn do một hệ thống các cặp quan hệ tạo thành, như: chồng - vợ; cha mẹ - con cái; thầy cô - học viên; công nhân - chủ nhân; tu sĩ – cư sĩ là tiêu biểu cho các quan hệ song phương như thế.  Những quan hệ này mang đặc tính thuần ứng, tức là không một mình, mà tùy thuộc vào sự nhập vai nhuần nhuyễn từ hai phía.

Để thực hiện trọn vẹn chức năng gia đình, người ta không nên xem nhẹ mối quan hệ với bạn bè & quyến thuộc.  Chân tình thân hữu có ý nghĩa trọng đại trong đời sống gia đình.  Lại còn phải thực hiện phận sự đối với quyến thuộc của mình.  Họ phải được cư xử tử tế, vì cơ quan gia đình không thể vận hành hiệu quả nếu không có bạn bè & quyến thuộc tận tâm gíup đỡ.

Chức năng gì một người bạn cần tham gia trong sinh hoạt gia đình chỉ được biết khi ta xét đến vai trò của bè bạn.  Vai quan hệ này cũng mang tính thuận ứng.  Bạn bè nên trao tặng nhan những món quả xứng đáng, bày tỏ lời lẽ quý mến, & biểu lộ sự quan tâm thành thật trogn công việc làm ăn của bạn.  Một người bạn luôn so sánh mình với người & theo đó có những hành động tương trợ; may mắn gì người ta nhận được nên vui vẻ san sẻ cho bạn bè mình.  

Một gia đình có thể bị họa tai ập xuống bất ngờ.  Bạn bè phải dốc sức người sức của làm bất cứ điều gì làm hổ trợ nhà bạn giảm nhẹ tác động họa tai.  Nếu gia đình bạn suy sụp vì lý do như trì hoãn thời cơ, biếng nhác hay các thành viên trong gia đình bất cẩn, thì bạn bè nên kề vai nâng đở các cá nhân đó bằng cách động viên, khuyên nhủ & hộ trợ đúng lúc.  Nếu vì một hành động nào đó dễ khiến hao tài tốn của, bạn bè thấy nguy hại thì cần phải cảnh báo gia đình bạn để bảo vệ tài sản.  Không chỉ lo tài sản, của cải, người bạn tốt cũng nghĩ tới việc chăm sóc & bảo vệ con cái gia đình bạn.

Nhiều gia đình người thuê người làm công.  Mối quan hệ chủ nhân – công nhân liên quan đến đời sống & sức khỏe (sự tồi tại khỏe mạnh) của cơ quan gia đình.  Vì lý do này, vai trò công nhân & chủ nhân được nói rõ trong Phật giáo.

Chủ nhân trong gia đình nên biết phân chia công việc phù hợp với sức lực mỗi công nhân hay phục dịch viên.  Y thị không nên yêu cầu phục dịch viên già cả làm một việc chỉ một người trẻ trung, mạnh mẽ có thể hoàn thành.  Các công nhân cần được cung cấp thức ăn; tốt nhất, hãy cho cùng loại thức ăn mà các chủ nhân & các thành viên trong gia đình thưởng thức.  Công nhân phải được trả sức lao động tương xứng.  Bất cứ hành vi bốc lộc sức lao động sẽ dẫn đến hậu quả khốc liệt khó lường, thường mang thảm họa đến chính gia đình giới chủ.  Khi công nhân bệnh hoạn, nên cho họ miễn việc & lưu tâm thích hợp.  Sau cùng, nên cho công nhân những cơ hội nghỉ ngơi, thư giản.

Anathapindika, một thương gia nỗi tiếng mộ Phật đạo, đã cư xử nô bộc bằng tấm lòng quan tâm, thương mến.  Lần nọ, một nô bộc ngã bệnh. Lúc ấy vị thương gia này bận tu thiền sau khi thọ trì những giới luật cao (bát giới).  Nhưng khi nghe tin về bệnh tình của nô bộc, ông đã đến thăm & tìm hiểu bệnh lý: “Điều gì khiến mày bất an vậy con?”, ông hỏi han.  Rồi ông sai người chuẩn bị thuốc thang, tự tay mình cho nô bộc uống thuốc.  Các chủ nhân nên soi gương đẹp đó để duy trì quan hệ tốt đó với công nhân.  Có những gia đình, trong đó, chủ nhân coi các người làm công như con cái.

   Mặt khác, công nhân là một bộ phận của cơ quan gia đình, họ phải có thái độ & hành vi phản ứng tương quan.  Họ chăm làm công việc đúng ý chủ nhân (hay gia đình); tăng ý thức về lòng tôn trọng & quý kính chủ nhân & gia đình chủ; thực hiện mệnh lệnh của chủ nhân & không bao giờ phạm pháp.  Công nhân không nên mắc tật gian lận, lừa dối.  Trong lúc miệt mài làm phận sư, họ nên ca ngợi những đức tánh của chủ, & tuyệt đối không nói xấu chủ nhân.

Xem xét thận trọng cặp nhận vụ tương giao trong quan hệ chủ nhân – công nhân phục dịch gia đình cho thấy loại công nhân này như kể một thành viên trong cơ quan gia đình.  Họ hưởng thức ăn như mọi thành viên trong gia đình dẫu có cao lương mỹ vị dành cho chủ nhân hay gia đình, họ cũng được chia phần.  Khi họ bệnh chủ nhân cư xử từ tế & lo tận tình như một thành viên trong gia đình.  Và như thế các thành viên khác trong gia đình, họ có thể nghỉ ngơi, thư giản.

Những quy phạm & giá trị trong cơ quan gia đình còn được gia cố bởi một bộ phận vụ tương giao thứ cấp, đó là quan hệ thầy cô - học viên, tu sĩ – sư sĩ.  Hai cặp quan hệ này gắn liền nguyên tắc thuật ứng song phương, chủ yéu đề cập về những bước xã hội hóa khác nhau.  Nhưng khi hai cặp quan hệ tác động lên gia đình, người ta không thể quên tầm quan trọng của chúng trong việc tiếp sức duy trì cơ quan gia đình.

Chính gia đình chuẩn bị & hộ độ thức ăn đến giới tu sĩ (Phật giáo, chẳng hạn).  Không chỉ thức ăn, giới tu sĩ còn nhờ cư sĩ hỗ trợ các nhu yếu phẩm khác.  Để duy trì mối quan hệ rất cần này giữa cộng đồng tu sĩ & giới tại gia cư sĩ, đức Gotama đã ban hành một số luật định.  Cư sĩ hay các thành viên gia đình mong gặp giới tu sĩ để tìm những lời khuyên bảo & để phát triển lời nói gia đình theo những phương pháp mà tu sĩ đã gợi ý.  Đây là sự phát triển tinh thần tuyệt đối cần thiết cho toàn thể gia đình.

Trong gia đình, cha mẹ phải được cư xử với lòng tôn trọng, kính yêu đồng đều.  Họ là thiên thần.  Theo lối nói dung dị, có thể ví mẹ như vị Phật sống trong mái nhà của mình.  Khi nói điều này, chúng ta nghỉ đến việc làm thế nào để cư xử với người mẹ bình đẳng như người cha trong cơ quan gia đình, vì vai trò của me nặng nề hơn vai cha.  Tư tư tưởng nhà Phật nhấn mạnh vị trí quan trọng của mẹ trong cơ quan gia đình.  Điều đáng lưu ý là giữa những hình thức diễn đạt đã dùng cho trường hợp đức Gotama, người ta thường ví ông như “mẹ bất tử” hay “người mẹ đã cho thế giới cam lồ tịch lạc”.    

 

IV. HỘI NHẬP XÃ HỘI 

Theo Phật giáo, con người chủ yếu do thành phần Thần & Sắc (Nama – Rupa) hợp thành.[27]  Nama, có nghĩa là Thần, là phần hướng về đối tượng; Rupa, có nghĩa Sắc, là phần tạo lập các yếu tố vật thể.

Nama đồng nghĩa với Citta, tức là tâm.  Có bốn loại tâm: thiện, bất thiện, quả & tố/duy tác.  Loại tâm nào tùy thuộc vào ba căn: vô tham, vô sân, trí tuệ được gọi là thiện.  Loại nào tùy thuộc vào ba căn: tham, sân, si được gọi là bất thiện.

“Tư tưởng thiện & bất thiện được gọi chung là kamma/karma - những hành vi ý chí phát sinh những hiệu ứng vừa ý hay nghịch lòng tùy theo bản chất riêng của từng loại.”

“Như bóng theo hình, cũng vậy mỗi tư tường do sáu căn điều động gây hiệu ứng tương ứng.

Những loại tâm nào người ta kinh qua như hậu hiệu tất yếu của tư tưởng tốt xấu thì được gọi là tâm qủa.  Những loại tâm cùa cá nhân nào – như chư Phật & chư Arahatta (A La Hán) đã đạt giác ngộ tối hậu – hoàn toàn tuyệt diệt lực tái sinh, chúng được gọi là tố hay huy tác”.[28]

Hội nhập xã hội theo ý nghĩa nhà Phật ám chỉ sự nỗ lực xoay chuyển các cội rễ thiện thay thế các cội rễ bất thiện.  Mục đích tối hật trong quá trình hội nhập xã hội là giác ngộ viên mãn (sự hiểu thông mọi khiá cạch sự việc) hay Nirvana - tịch lạc.[29]  Mục đích tiết thân lúc bình sinh là sống như thái ngay hiện tại, & bảo đảm cuộc sống thư thái trong cả hai tương tai, đời sống này & lai sinh (asmin loke param hica).

Như thế, khái niệm về hội nhập xã hội phải được hiểu có hai mục đích, tức là hội nhập xã hội tối hậu & hội nhập xã hội lúc bình sinh.  Vô minh hay si mê trong chúng ta làm tăng tham ái, & lòng tham ái này cản trở tiềm năng nhận thức.  Kết quả là ta không có khả năng tự thích nghi với nội tại & ngoại tại, ta thất bại trong việc hợp nhất những nhân cách riêng trong mỗi chúng ta. 

Từ quan điểm trên, Phật giáo nhận xét rằng không có bao nhiêu người giữa nhân loại cố gắng đạt đến cùng đích hội nhập xã hội tối hậu, tức là Nirvana: “Chỉ có vài người giữa loài người đi sang bờ bên kia, số còn lại chạy xuôi ngược bờ này”.[30]  Chỉ dù đó là một thật tế, nhưng để sống trong xã hội & tự thích nghị môi trường xung quanh cũng như tạo sự hài hòa nội tại, thì sự hội nhập xã hội bình sinh trở nên cần thiết.

Xét về thời gian tính, quá trình hội nhập xã hội xuyên qua nhiều kiếp sống.  Những gì chúng ta phấn đấu để hội nhập xã hội trong đời sống này được xem như nền tảng cho quá trình hội nhập xã hội của chúng tan ngay hiện tại & tương lai cũng như những kiếp sống mai sau.  Không những nó giúp thích nhi xã hội, mà còn phù hợp với mưu cầu an lạc cho chính mình & tha nhân.  Điều này chỉ có thể thực hiện nhờ nỗ lực biến đổi các căn tâm bất thiện thành thiện căn.

Tư tưởng nhà Phật không chấp nhận có ‘ngã’ thường hằng.  ‘Ngã’ là một khái niệm tương đối do chúng ta đẻ ra vì lòng si mê.  “Tôi” (cá nhân) & “Chúng Ta hay Chúng Tôi” (cộng đồng xã hội) sản sinh cái ngã (hay “mình”) tương đối này; sau khi được sản sinh, nó trở thành vấn đề then chốt mà chúng ta trong quá trình hội nhập xã hội bình sinh phải trắc đạt.  Sự nhận thức lần hồi tính tương đối của khái niệm ngã sẽ góp phần vào tiến độ dẫn đến hội nhập xã hội tối hậu (tức là chứng đạt Nibbana/Nirvana).

Vì có khái niệm tương tục vô tận trong vòng luân hồi (samsara) nên Phật giáo nối thêm chiều kích ‘hồi thế’ vào vấn đề hội nhập xã hội.  Người ta tái sanh lại tái sanh, quá trình hội nhập xã hội mang theo mọi tác động của đời sống này sang đời sống kế tiếp.  Kết qủa của kamma[31] lúc bình sinh chuyển tiếp đến lai sinh.  Như thế, hội nhập xã hội là một quá trình liên kết đời sống của một người từ kiếp này đến kiếp khác.  

Tự nguyện tránh gây thương tổn sinh linh (không giết cũng không đã thương); tránh xa việc lấy việc chưa cho, không lụy dục tình (giao hợp) sai trái đạo đời; ngăn miệng nói lời gian dối & kiêng cử các loại chất say tạo thành năm phương châm xử thế.

“Có thể nói sơ yếu rằng, quyền sống bao hàm phận sự tôn trọng mạng kẻ khác.  Quyền sở hữu phương tiện sinh nhai bao hàm phận sự tôn trọng sản nghiệp của người.  Quyền hưởng khoái lạc trong cuộc đời bao hàm phận sự thừa nhận tha nhân cũng có quyền tương tợ; nhưng việc tham đắm thái quá bất kể mọi thứ thượng vàng hạ cám sẽ xâm đoạt phần lợi lạc của kẻ khác.  Quyền theo đuổi sự thật cao nhất bao hàm phận sự cống chân tình; bởi, không có thể có mối giao hảo nếu ngôn hành bất tín.  Một người sau sưa rượu chè, hoặc mang nỗi ám ảnh, hoặc chứa chấp thành kiến (cũng là những thứ gây độc hại tâm trí), sẽ đánh mất lòng tự trọng, sự tự chủ, & trở thành một đối tượng hiểm họa”.[32]

Năm phương châm xử thế này “thiết lập nguyên tắc cơ bản quyền làm người & những phận sự tương tác giữa các cá nhân, giữa cá nhân & xã hội, giữa nước này & nước kia.  Chúng được đặc trên sự hiểu biết về mỗi cá nhân, vị thế của y thị, & về mối quan hệ với xã hội.  Chúng thừa nhận về sự tồn tại của mỗi cá nhân không phải như một thực thể đơn độc; chúng thừa nhận mỗi cá nhân là một phần tinh hoa & cần cho toàn bộ hóa trình mà không có bất cứ chuyển động hay tiến bộ nào lại không qua nổ lực cá nhân.  Chính cá nhân tạo nên thế giới xoay quanh.  Chính cá nhân ấy tồn tại bên trong quá trình, hòa đời sống vào quá trình & cũng có thể tách đời sống y thị ra khỏi quá trình.”[33]

Trong quá trình thay đổi căn tâm bất thiện thành căn thiện, một cá nhân – khi đang tiến tu rốt ráo - trải mười công hạnh để chuyển mình hội nhập xã hội hoàn toàn.  Mỗi công hạnh dính líu cả hai, bản thân y thị (như một cá nhân) & tha nhân (những thành viên của một nhóm) trong xã hội.  Công hạnh tứ nhất là chia sẽ, còn bo bo giữ lấy là bất thiện.  Chia sẽ là nguyên tắc căn bản trong một gia đình.  Chia sẽ vật chất, cùng chia sẽ các khoản phi vật chất - như tình cảm, giáo dục.  Hành động chia sẽ diễn ra trong xã hội có những cấp độ khác nhau.  Nhưng nếu là người cầu tiến, y thị nên phát huy cao độ đức lành chia sẽ.  Khả năng hội nhập xã hội của một người được định lượng bằng tấm lòng y thị cởi mở đức lành này.

Công hạnh kế tiếp là sống có nề nếp, qua đó một cá nhân bước sâu vào việc hội nhập xã hội.  Ở cấp độ thấp nhất, ta chịu ảnh hưởng kỷ luật do tác nhân bên ngoài áp đặt.  Các bậc cha mẹ thường bắc con cái phải theo phép tắc, nề nếp.  Nơi học đường, ta vâng lời thầy cô.  Cộng đồng hay xã hội đòi hỏi ta không chỉ tuân thủ luật, mà gồm cả tập tục, cổ lệ.  Chưa kể các nhóm hay cộng đồng đặc biệt có thể định đặt những quy chế ràng buộc người của họ.  Những kỹ thuật làm cho ta thích nghi xã hội tốt hơn là khi nào chúng xuất phát từ bản thân.  Trong giáo lý nhà Phật, Sila có nghĩa là giới hay kỷ luật nội tình mà một người tự nguyện gò mình.  Lần nữa, chừng mực bạn gò mình vào kỷ luật được xem như chỉ số biểu hiện cấp độ hội nhập xã hội của bạn.  Theo đó suy luậ, lối sống hành xử vô kỷ luật là kết quả đương nhiên của tư tưởng bất thiện.

Thứ ba, chúng ta nên trau giồi hạnh xuầt ly.  Ở đây ám chỉ khả năng buông bỏ mọi thú, không bị dính mắc vật chầt hay phi vật chất.  Bạn có thể hy sinh mọi thứ bạn ưa thích vì lợi ích tha nhân, hay bạn muốn thâu tóm tất cả? Những tư tưởng bất thiện dễ bị khiến người ta sống vị kỷ, dính mắc người, vật, & mọi trạng huống đời mình.

Thứ tư, đó là công hạnh trí tuệ.  Trí tuệ là kiến thức kinh nghiệm nội quan nhận thức.  Người ta thâu nhập kiến thức nơi học đường, trong xã hội, từ sách vở.v..  Kinh nghiệm thêm vài quá trình làm hoàn thiện kiến thức.  Sự phân tích nghiền nhẫm tiêu hóa kiến thức & kinh nghiệm thành trí tuệ.  Vấn đề hội nhập xã hội theo tinh thần nhà Phật luôn đặc biệt nhấn mạnh về trí tuệ vì chính khía cạnh hội nhập xã hội này giúp con người sống đời tốt đẹp hơn & sau cùng đạt Nibbăna.Nirvana.  Nếu khởi tiến hội nhập xã hội trong chiều hướng khác, nó dẫn đến vô trí - một đời sống hoang rong không mục đích.

Viriya hay tinh cần là công hạnh thứ sáu cần phát huy.  Ở đây một cá nhân không ngừng tự mình nổ lực trong môi vận động tâm sức mang lại kết quả hữu ích.  Biếng nhác hay dễ duôi là mặt tiêu cực.  Nhờ hoạt động tích cực, lướt qua biếng nhác, người ta đạt được một tâm thái giàu nghị lực.

Thứ đến là công hạnh nhẫn nại.  Mặt trài của đạo lý là ý đồ rữa nhục, một tâm thái bất thiện dẫn đến sự hội nhập xã hội tà ma sái quấy.  Nhẫn nại ám chỉ tấm lòng sẳn sàng tha thứ & xóa nhoà nghịch cảnh; không bị sân hận, không oán ghét, không mang mối ác cảm & không tìm cách trả thù.

Việc nói lời chân thật là một khía cạnh cần thiết cửa sự hội nhập xã hội.  Những lời gian dối, khi đã thốt ra, đưa đẩy người ta hội nhập vào một xã hội bất chính do tâm địa bất thiện khai lập.  Một xã hội cộng hợp căn bản trên sự gian dối lẫn nhau tất sản sinh những hậu quả không hay.

Công hạnh quyết định hay kiên trì là yếu tố đức dục kế tiếp làm tăng năng lượng tâm huyết & thôi thúc hành động.  Nói chung, quyết định tạo ra những tâm thái hoặc thiện hoặc bất thiện tuỳ thuộc điều gì người ta khao khát đạt bằng được.  Nhưng để giữ đà tiến tới hội nhập xã hội tốt đẹp, ta nên có những quyết định đúng đắn.

Từ tâm hay tính thân thiện đối với tất cả rất hữu ích trong quan hệ xã hội.  Điều nàu bắt đàu ở nhà, khởi sự bằng việc khai triển từ tâm phủ mát chính mình; kế đến, mở rộnt tình thân thiện đến mọi người trong gia đình, rồi đến họ hàng & những ai quen biết, đến sinh linh xa lạ & cả đến những kẻ ôm lòng đối nghịch.  Sự biều lộ tình thân thiện, trước tiên, được thể hiện qua thân hành -  cử chỉ bên ngoài; thứ đến, qua khẩu hành - lời nói; & sau cùng, cử chỉ lẫn lời nói nhất quán tư tưởng.  Muốn phát triển nhân cách hoàn hào, cá nhân này nên kiểm điểm để thấy rỏ phải chăng những cảm xúc & động cơ tiềm thức không minh bạch tồn tại lẫn lộn trong những tư tưởng thầm kín của y thị.

Cuối cùng, đó là công hạnh hành xã - một tâm thái tôn tạo nhân cách nhờ quá trình hội nhập xã hội đúng đắn.  Ta nên cố gắng giữ mình không bị luật trần gây thất điên bát đảo.  Lợi lộc & thất lợi lộc, danh thơm & tai tiếng, ca ngợi & chê bai, hạnh phúc & bất hạnh là bốn cặp luân trần thao túng đời sống mỗi con người.  Sự hội nhập xã hội giúp người ta hiểu những luật này & tự y thị huấn luyện mình sống an nhiên không bị chúng tác động.

Trong giáo lý nhà Phật, chúng ta thấy rằng vấn đề hội nhập xã hội được lập trên nền tảng đạo đức.  Nguyên tắc đạo đức giản dị chính là bạn nhận biết điều gỉ, khi người khác đã làm, khiến mình không hài lòng thì bạn đừng nhắm người làm điều đó.  Nền tảng đạo đức này khai triển theo ba phương thức: thân hành - cừ chỉ, hành động cụ thể của bạn; khẩu hành - lời nói của bạn; & ý hành – dòng tư tưởng của bạn nhất quán với thân hành, khẩu hành.

Sự hội nhập xã hội có thể gồm cả hai loại hình mở & kín.[34]  Hội nhập xã hội mở do xã hội tiến thành, được các quy phạm & giá trị xã hội tán đồng.  Còn hội nhập xã hội kín hay mật là điều trái ngược hoàn toàn.  Một người tỏ vẻ lo nghĩ & quan tâm về bạn, nhưng lại đẩy bạn tham gia vào những hoạt động tiêu hao hoang phí tài sản.  Y thị tập tành bạn quen thú cờ bạn, rượu chè, trộm cướp hoặc bất cứ thói hư tật xấu khác.  Phật giáo công nhận có quá trình hội nhập xã hội kiểu như thế, & ta có thể xem nó như loại hình hội nhập xã hội mật hay kín.

Như đã xét, khía cạnh tiêu cực của việc hội nhập xã hội kín là quá rõ ràng, tuy nhiên, loại hình này đôi lúc cũng giữ vai trò tích cực.  Chẳng hạn một thương gia hứa cho con trai số tiền nếu y đi gặp Phật Gotama & học được lời dạy nào đó.  Cách này nhằm dụ dỗ (một hình thức hứa hẹn đút lót) cậu quý tử; nhưng kết quả sau cùng là vì lợi ích riêng của anh chàng.  Sử dụng phương pháp hội nhập xã hội kín trong những tình huống như  thế là một kỹ xảo giáo huấn nổi tiếng trong nhà Phật.

Phật giáo đồng nhất gia đình, nhóm họ hay cộng đồng & nhóm bạn bè cùng trang lứa như các cơ quan trung ương trong quá trình hội nhập xã hội.  Việc hội hập xã hội thứ cấp bắt đầu khi người ta dấn thân vào công việc kinh doanh hay nghề nghiệp, tham gia một cộng đồng mang tính tôn giáo hay tinh thần, như Tăng già Phật giáo chẳng hạn.  Đôi khì sự tái nhập xã hội trở nên cần thiết vì hai lý do chính: hoặc một cá nhân hoặc một nhóm đã mất hẳn mọi quan hệ xã hội đạt được một thời trong cơ quan hội nhập xã hội đầu tiên.  Trường hợp lão già bị các con bạc đãi minh chứng cho đời này.[35]  Đức Gotama phải giúp các con lão tái nhập xã hội để họ thực hiện trọn phận sự làm con.

Vào dịp đặc biệt, cách tái nhập xã hội có thể được dùng nhằm củng cố giá trị hội nhập xã hội sẳn có.  Không ít bậc cha mẹ đã mời đức Gotana đến bảo ban huấn từ cho mấy đứa con gái sắp gả của họ.[36]  Visakha được cha dạy dỗ trước cuộc hôn nhân.  Một trong những vị vua nước Kosala, trước khi bị xử trảm, đã giúp con ông hội nhập xã hội bằng một lời khuyên răn, nhờ đó, về sau, làm thay đổi hoàn toàn đời sống của vị hoàng tử trẻ này.