Những Hạt Sương
Thích Chơn Thiện
Sài Gòn, 2000
---o0o---
[06]
Ðạo Ðức
Phật Giáo
-ooOoo-
A.- Tổng Quan Về Ðạo Ðức Học:
Trước tiên, chúng ta tìm
hiểu ý nghĩa của từ đạo đức (Ethico) và các quan niệm tiêu biểu về đạo đức
của các vùng văn hóa lớn của nhân loại.
Tự điển Dagobert D.Runes
(1970) định nghĩa: "Ðạo đức là môn học liên hệ đến các phán xét về điều
kiện chấp nhận hay phủ nhận, đúng hay sai, tốt hay xấu, đức hạnh hay phi
đức hạnh, dục vọng hay trí tuệ của các hành vi của con người".
Tự điển giáo dục của Mc
Graw-Hill Book Company, New-York, Toronto, London (1959) ghi:
"Ðạo đức học là môn học về
cách cư xử của con người không phải chỉ để tìm thấy sự thật như thật của
sự vật, mà còn tìm hiểu giá trị hay điều thiện của các hành vi của con
người; là khoa học về đức tính con người; liên hệ đến sự phán xét về bổn
phận hay nghĩa vụ (cái đúng, cái sai, cái phải làm) và liên hệ tới các
phán xét về giá trị (tốt hay xấu)".
Như thế , đạo đức học là
môn học đánh giá các hành vi con người biểu hiện qua thân, lời và ý, và
được thực hiện bởi lý trí, tình cảm và ý chí.
Các nhà tư tưởng, các nhà
đạo đức thường quan niệm khác nhau về giá trị và tiêu chuẩn giá trị. Tuy
nhiên, hy vọng chúng ta sẽ vẫn tìm thấy những nét tư tưởng gặp gỡ rất cơ
bản về đạo đức và một nếp sống đạo đức, mà ở đó giá trị đích thực của con
người có mặt.
Các Quan Niệm Về
Ðạo Ðức:
* Socrate: - Socrate là
một nhà tư tưởng lớn của Hy Lạp, thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch, phát biểu:
"Một nền đạo đức không thể căn cứ vào một giáo lý mơ hồ, ta có thể tạo
dựng một nền luân lý hoàn toàn không lệ thuộc thần học, hoàn toàn thích
hợp với con người có tôn giáo cũng như không có tôn giáo, thì xã hội ổn
định." (Câu chuyện triết học, Will Durant, Bửu Ðích dịch, Tu thư Ðại Học
Vạn Hạnh, 1971, tr 18)
Lời phát biểu của Socrate
gợi cho ta niềm tin có một nền đạo đức chung cho mọi tầng lớp nhân dân đưa
đến xã hội ổn định, an lạc.
* Platon: - Platon là môn
đệ của Socrate, nói: "Mỗi cá nhân là một sự phối hợp của các ước muốn, các
tình cảm và ý nghĩ. Nếu các yếu tố ấy được điều hòa thì cá nhân sẽ tồn tại
và thành công... Tất cả những sự xấu xa ở trên đời đều do sự thiếu hòa
điệu giữa con người và vũ trụ, giữa con người với con người, và giữa các
yếu tố trong tâm hồn của mỗi người". (Ibid, tr 60)
Với Platon, đạo đức là sự
thể hiện hòa điệu trong mỗi cá nhân, giữa những cá nhân, giữa cá nhân và
môi trường sống. Tình người và ý sống sẽ tiết ra từ sự hòa điệu ấy như sức
sống đã tiết ra từ một bản đại hợp tấu.
* Aristote: - Aristote, là
môn đệ xuất sắc của Platon, thì nhận định: "...Mục đích trực tiếp của cuộc
đời không phải là cái hay cái đẹp, mà chính là hạnh phúc. Hạnh phúc là sự
phát triển hoàn toàn đầu đủ các đức tính của con người." (Ibid, tr 92)
Aristote là một nhà khoa
học nên phát biểu của ông mang tính chất thực tế và thực tiễn, gây được
nhiều sự chú ý.
* Spinoza: (thế kỷ 17) -
Nhà tư tưởng trẻ trung Spinoza đã giảng giải đạo đức bằng toán học. Tư duy
của Spinoza vì thế nhuốm màu lý tính. Oâng quan niệm: "Hạnh phúc là mục
đích của mọi hành động. Hạnh phúc là sự có mặt của các cảm giác thoải mái,
và sự vắng mặt của khổ đau." (Ibid, tr 228)
Và: "Những kẻ sống một
cuộc đời đạo đức không nên hy vọng rằng Thiên chúa sẽ tưởng thưởng cho họ.
Cần phải quan niệm rằng cuộc đời đạo đức chính là phần thưởng của Thiên
chúa và chính là hạnh phúc tối thượng, là sự tự do tối thượng. Hạnh phúc
không phải là phần thưởng của đạo đức. Hạnh phúc và đạo đức chỉ là một."
(Ibid, tr 246)
Hạnh phúc chính là đạo
đức, đó là quan niệm gặp gỡ giữa Aristote và Spinoza, hai nhà tư tưởng
sống cách xa nhau gần 20 thế kỷ.
* Immanuel Kant: (thế kỷ
18) - Banzeladze, trong cuốn đạo đức học xuất bản ở Liên xô năm 1973, ghi
lại lời của Kant rằng: "Sự lương thiện là chính trị tốt nhất" (tr 156)
Gennady Batygin trong tạp
chí Newtime số 46 (11/1988) thì trích dẫn lời Kant: "Thành thật tốt hơn
tất cả chính sách". Batygin ghi nhận đạo đức vẫn là giá trị cao quý của
con người thời đại khoa học, ông viết: "Ðạo đức, mà không phải là sức
mạnh, dần dần trở nên một nhân tố rõ ràng trong tương hệ quốc tế."
* Schopenhauer: (thế kỷ
19) - Schopenhauer là nhà tư tưởng lớn của phương Tây thế kỷ 19 cảm nhận
rằng: "Ý dục càng ít kích động bao nhiêu, chúng ta càng ít khổ đau bấy
nhiêu."
Với Schopenhauer, hạnh
phúc là sự vắng mặt của khổ đau, càng ít muốn càng ít khổ đau. Ðây là một
lời phát biểu cần đặt biệt chú ý.
* Ðạo Ðức Việt Nam: -
Người Việt đặt nặng tình người chân thật trong sinh hoạt xã hội. Ðấy là
hiếu, trung, tình, nghĩa, để, nhân, tín. Tình người ấy bàng bạc khắc ca
dao, tục ngữ, thi ca và chuyện cổ, tiêu biểu như:
-"Dẩu xây chín bậc phù
đồ
Không bằng làm phúc cứu cho một người." -- (Nguyễn Du)
-"Trời nào phụ kẻ có
nhân
Người mà có đức muôn phần vinh hoa." -- (Nguyễn Trãi - Gia Huấn Ca)
-"Nhiễu điều phủ lấy giá
gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng." -- (Ca dao)
-"Giặc đến nhà, đàn bà
cũng đánh."
-"Anh em như thể tay
chân..."
-"Công cha như núi Thái
sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra." -- (Ca dao)
-"Ðói lòng ăn nữa trái
sim,
Uống lưng bát nước đi tìm người thương." -- (Ca dao)
Văn học Việt Nam còn đề
cao các đức tính đoàn kết, hòa bình, biết ơn, chung thủy, khiêm tốn... Ðó
là các nét biểu hiện đạo đức của con người Việt Nam dẫn đến một nếp sống
gia đình êm ả và một xã hội ổn định.
* G.Banzeladze: (người
Nga, 1973) - Trong tập đạo đức học được biên soạn rất công phu, khoa học,
xuất bản ở Nga năm 1973, Banzeladze viết:
- "Tính chất xã hội là
một nét cơ bản của con người." (Bản dịch nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội,
1985, tr 27)
- "Tính tự giác, tự
nguyện là những nét tiêu biểu cho cuộc sống con người." (Ibid, tr 45)
- "Hành vi mà động cơ là
cái thiện, đó là hành vi đạo đức." Ibid, tr 101)
- "Khác với hành động
bản năng của loài vật, hành vi đạo đức là ở chổ: sự quan tâm tự giác đến
những hạnh phúc của người khác có tính chất tự nguyện. Nét đặc thù của
đạo đức là từ đó." (Ibid, tr 104)
- "Vấn đề về lý tưởng
tối cao và ý nghĩa của cuộc sống thực chất là vấn đề hạnh phúc." (Ibid,
tr 232)
- "Con người là giá trị
cao nhất, là cơ sở, là ngọn nguồn của mọi giá trị." (Ibid, tr 242)
- "Nơi nào không có điều
kiện cho hạnh phúc thì nơi ấy không có điều kiện cho đức hạnh." (Ibid,
tr 260)
Ðến đây, qua một số quan
niệm tiêu biểu về đạo đức của các thời đại và văn hóa cách biệt, chúng ta
đã khám phá ra một điểm gặp gỡ nền tảng, đó là:
Ðạo đức đồng nghĩa với
hạnh phúc. Nó là động cơ của các hành vi dẫn đến an lạc, hạnh phúc cho gia
đình, tự thân và xã hội.
Từ điểm gặp gỡ nền tảng
ấy, chúng ta đi vào tìm hiểu đạo đức của Phật giáo.
B.- Các Nét Khái Quát Về Cơ Sở Ðạo Ðức Phật Giáo:
1. Phật giáo đặt
trọng tâm vào con người:
Trên con đường giải thoát
khổ đau, Phật giáo dạy con người quay trở về nương tựa mình trong hiện tại
và tại đây. Ðức Phật dạy:
- "Hãy trở về nương tựa
mình và nương tựa pháp."
- "Hãy là nơi nương tựa
cho chính mình, không tìm kiếm một nơi nương tựa nào khác."
- "Ngươi là hòn đảo là
nơi nương tựa của chính ngươi."
Giáo lý nhân quả xác định
rõ con người là chủ nhân của nghiệp và là kẻ thừa tự của nghiệp. Thế nên,
địa bàn chính để đoạn trừ khổ đau là chính mỗi người trong hiện tại và tại
đây. Nếu khổ đau phát sinh từ đó, thì cũng từ đó phát sinh sự dập tắt khổ
đau, hay phát sinh hạnh phúc.
2. Tính thiết thực
hiện tại của sự đoạn khổ sinh lạc:
Ðức Phật đã nhiều lần xác
định Ngài ra đời chỉ vì lợi ích, an lạc cho chư Thiên và loài Người, chỉ
vì lòng thương tưởng cuộc đời. Giáo lý nền tảng của Phật giáo là Tứ đế chỉ
đưa ra vấn đề khổ đau và con đường giải quyết khổ đau. Câu chuyện nắm lá
Simsàpa và câu chuyện mũi tên độc là các ảnh dụ nhấn mạnh vào tinh thần
thực tế và thực tiễn khẩn thiết loại bỏ khổ đau khỏi con người và cuộc
đời.
3. Tinh thần Bi,
Trí, Dũng:
Trên đường loại bỏ khổ
đau, Chánh kiến (hay trí tuệ, bao gồm chánh tư duy) luôn luôn dẫn đầu các
pháp hành. Hành giả trước nhất cần nhận rõ thực trạng khổ đau và các
nguyên nhân gây khổ đau để nhận ra con đường loại bỏ chúng. Thiếu nó thì
hành giả sẽ đi chệch hướng giải thoát.
Sau khi có Chánh kiến, trí
tuệ, hành giả tiếp tục vận dụng chánh tinh tấn, hay Tứ chánh cần, để thực
hiện con đường. Trên đường đi hành giả thường xuyên phát khởi lòng từ để
dập tắt dục vọng và để cứu độ chúng sanh.
Ðấy là ba yếu tố quyết
định một hành vi hướng về hạnh phúc và giải thoát của Phật giáo.
4. Mục tiêu là
hạnh phúc, giải thoát ngay tại đời này:
Ðức Phật chỉ dạy khổ và
con đường đoạn tận khổ có nghĩa là chỉ nói đến hạnh phúc và sống đời sống
tâm thức hạnh phúc ngay trong hiện tại, tại đây, ở trên đời này.
Mỗi bước đi của bố thí,
trì giới, thiền định và trí tuệ là mỗi bước đi ra khỏi các tác nhân gây
rối loạn tâm lý, và đi vào an lạc, hạnh phúc của tâm giải thoát và tuệ
giải thoát.
Bước đầu tiên đi vào thiền
định là bước đầu xúc tiếp với hạnh phúc có tần số rung động cao hơn tần số
rung động từ vật chất. Càng sâu vào định, càng cảm nhận hạnh phúc cao đẹp
hơn, tinh tế hơn và bền bỉ hơn. Cho đến lúc trí tuệ sinh khởi có thể đốt
cháy hết thảy tham, sân, si cội nguồn của mọi khổ đau, thì hành giả đối
mặt với hạnh phúc chân thật của Niết bàn giải thoát thân (Vikmukti-kàya).
Tại đây chưa đề cập đến Niết bàn pháp thân của bậc Chánh đẳng chánh giác.
Nếu đạo đức được hiểu đồng
nghĩa với hạnh phúc thì toàn bộ giáo lý Phật giáo là một nền giáo lý về
đạo đức giới thiệu con đường sống ngay trong hiện tại phù hợp với mọi căn
cơ, mọi không gian, thời gian và văn hóa đi vào hạnh phúc ngay tại trần
gian giữa dòng sống vô thường. Nền đạo đức này có đầy đủ tính chất nhân
bản, khoa học, thực tiễn và rất là thực tại.
5. Nhận thức cơ
bản của nền đạo đức Phật giáo:
Giáo lý Duyên khởi và Ngũ
uẩn xác định con người là một tập hợp thể của 5 yếu tố: sắc uẩn (vật lý),
thọ, tưởng, hành, thức (tâm lý). Không có một ngã thể là tự ngã, linh hồn
hay tiểu ngã nào có mặt ở đó. Sắc uẩn thì bao gồm tự thân vật lý, thân tha
nhân và thế giới vật lý; thọ uẩn thì bao gồm các cảm thọ thiền định và các
cảm thọ từ các căn xúc tiếp với các trần; tưởng uẩn, thức uẩn và hành uẩn
cùng tồn tại bất khả ly với hai uẩn kia. Như thế, con người hiện hữu gắn
liền với tha nhân và thế giới. Con người chỉ ổn định khi nào thể hiện được
sự hòa điệu của 5 uẩn ở bên trong và thể hiện hòa điệu với gia đình, xã
hội và thiên nhiên ở bên ngoài.
Giáo lý Duyên khởi cũng
xác định con người tương quan mật thiết với thế giới, vừa xác định khổ đau
có mặt khi ái, thủ, vô minh có mặt. Khổ đau ấy nàm ngay trong thân ngũ uẩn
nên cũng do duyên mà diệt đi từ thân ngũ uẩn. Ðiều này có nghĩa là khi ái
diệt, thủ diệt, vô minh diệt thì khổ diệt. Khổ diệt là chân hạnh phúc,
chân an lạc, giải thoát xuất hiện. Con người có thể tự mình dần dần hay
tức thời dập tắt ái, thủ để cảm nhận hạnh phúc ngay trong hiện tại.
Ðây là cơ sở nhận thức mở
ra con đường đạo đức của Phật giáo.
Giáo lý nền tảng Tứ đế
giới thiệu cùng nhận thức như thế và giới thiệu cụ thể lộ trình giải thoát
hay lộ trình của các nếp sống đạo đức.
Giáo lý nhân quả, nghiệp
báo trình bày rõ rệt các hành động bị điều động bởi tâm lý tham, sân, si
là các hành động dẫn đến kết quả khổ đau, vì thế chúng là bất thiện; các
hành động được điều động bởi vô tham, vô sân, vô si là các hành động dẫn
đến các kết quả an lạc, hạnh phúc, vì thế chúng là thiện. Thiện là đạo
đức, và bất thiện là phi đạo đức của Phật giáo. Hệt như Banzeladze đã
tuyên bố: "Nơi nào không có những điều kiện cho hạnh phúc, thì nơi ấy
không có điều kiện cho đức hạnh."
6. Phật giáo và
các vấn đề cội nguồn của đạo đức và các chuẩn mức đạo đức:
Về cội nguồn đạo đức và
các chuẩn mức đạo đức thì mỗi hệ tư tưởng có một quan niệm khác biệt. Do
vì cái nhìn về con người, thế giới, giá trị, và hạnh phúc khác nhau mà có
sự khác biệt về cội nguồn đạo đức và chuẩn mức đạo đức.
Có quan điểm cho rằng trí
tuệ phát triển trong quá trình lao động, và sự phát triển trí tuệ, tư duy,
ngôn ngữ có ảnh hưởng tương quan đến con người, vì thế có ảnh hưởng đến
quan niệm về đạo đức của con người. Ðạo đức ở đây là sản phẩm của xã hội,
nên khi xã hội biến đổi thì đạo đức cũng biến đổi theo. Vì như xã hội thay
đổi thể chế từ phong kiến qua dân chủ thì quan niệm đạo đức cũng thay đổi
theo.
Có quan điểm đạo đức xây
dựng dựa vào một Ðấng sáng tạo, sáng thế vĩnh cửu, nên nền đạo đức và các
chuẩn mức đạo đức hầu như cố hữu, là hệ quả của các lời phán xét của các
trang Thánh kinh.
Hẳn nhiên còn có nhiều
quan niệm đạo đức khác nhau nữa tùy theo mục tiêu của đời sống dừng lại ở
các chổ khác biệt nhau.
Phật giáo thì xây dựng con
đường sống đạo đức từ trí tuệ thực nghiệm toàn giác cửa đức Phật nên có
cái nhìn giá trị ổn định.
Phật giáo không nêu lên
vấn đề cội nguồn của mọi hiện hữu, gồm cả cội nguồn của đạo đức, bởi vì
mọi hiện hữu đều duyên sinh, vô tự tính. Nhưng ở mặt tương đối, Phật giáo
ghi nhận có khổ đau do ái, thủ, vô minh gây ra. Vấn đề thiết thực ở đây là
dập tắt mọi nguyên nhân khổ đau ở từng cá thể. Do vậy, chuẩn mức đạo đức
chỉ có thể do các cá thể thể nghiệm và đặt ra dựa vào hiệu quả đoạn diệt
tham, sân, si. Không thể thiết lập các chuẩn mức đạo đức dựa vào sự tướng
biểu hiện bên ngoài của các hành động, bởi cùng một hành động có thể do
nhiều động cơ thiện, bất thiện tác động khác nhau nên có giá trị đạo đức
khác nhau.
Con đường đạo đức Phật
giáo vì thế là con đường tự giác, tự chứng và tự nguyện. Dù vậy, trước quy
luật nhân quả quá dành rành, con người vẫn phải nghiêm chỉnh hướng dẫn đời
sống nội tâm của mình.
Do vì hạnh phúc của con
người là mục tiêu của cuộc sống nên hạnh phúc của con người là giá trị
chuẩn. Các giá trị khác là thứ yếu phải xếp xoay quanh cái trục giá trị
đạo đức này.
7. Kinh nghiệm
hạnh phúc - kinh nghiệm đạo đức:
Ở điểm như thế nào mới là
hạnh phúc, thực sự hạnh phúc và làm thế nào để hạnh phúc thì lại càng có
nhiều quan niệm khác biệt nhau hẳn.
Có người cho rằng hạnh
phúc đến từ vật chất. Có người cho đến từ tình cảm, tri thức. Có người cho
hạnh phúc đến từ sự kết hợp giữa vật chất và tinh thần... Vì thế mà nhân
loại đã dựng lên nhiều nếp sống, nếp nghĩ đạo đức khác nhau.
Banzeladze thì cho rằng:
- "Hạnh phúc là một hiện
tượng vừa thuộc về vật chất vừa thuộc về tinh thần." (Ibid, tr 246)
- "Trong lãnh vực khoái
cảm vật chất, khoái cảm càng mạnh thì càng ngắn ngủi. Cường độ của khoái
cảm tỷ lệ ngược với độ dài thời gian của nó." (Ibid, tr 268)
- "Trong lãnh vực những
khoái cảm về tinh thần, nhân tố thời gian có một vai trò hoàn toàn khác;
thời gian tác động có lợi cho con người. Ở đây không có quy luật tỷ lệ
nghịch, ngược lại, cường độ khoái cảm càng cao trong lãnh vực này thì nó
càng kéo dài." (Ibid, tr 269)
Dù cho các triết gia, các
nhà đạo đức có kinh nghiệm khác nhau về hạnh phúc và về thế nào để được
hạnh phúc, thì tất cả các điểm khác biệt đó vẫn có một điểm chung cùng
rằng: "hạnh phúc là một cảm thọ có điều kiện. Ðã là cảm thọ có điều kiện
thì dưới cái nhìn Phật giáo nó là vô thường. Và do vì có mặt lòng tham
trước mà vô thường đem lại khổ đau.
Cảm thọ hạnh phúc càng
mạnh thì thời gian cảm nhận càng nhanh, sau đó là một khoảng trống tâm lý
lớn lao, hoặc là đối mặt với một cảm thọ tiếp theo hẳn là khổ đau (cản thọ
kém hơn là khổ đau).
Ngay cả khi con người đang
ở trong hạnh phúc, nổi lo sợ vô thường xảy đến cũng đủ gây đau nhức tâm
thức con người.
Thế là hầu như con người
thường phải đối mặt với khổ đau. Phật giáo thấy rõ gốc của mọi khổ đau ấy
là dục vọng, tham ái, hay chấp ngã mà không phải là vô thường hay sinh
diệt. Do đó mà con đường sống chế ngự dục vọng là con đường tiến đến hạnh
phúc, xúc tiếp với hạnh phúc. Tại đây hạnh phúc không có nghĩa là thỏa mãn
các dục vọng, mà là biết sống chế ngự dục vọng và loại trừ dục vọng. Phật
giáo đã giới thiệu một con đường vào hạnh phúc mở rộng co nhiều căn cơ,
nhiều cấp độ tâm thức khác nhau. Chúng ta sẽ tìm hiểu trong phần trình bày
kế tiếp.
C.- Các Nếp Sống Ðạo Ðức Theo Phật Giáo:
Ðức Phật đã giảng dạy giáo
lý giải thoát khổ đau của Ngài một cách thiện xảo đáp ứng nhiều căn cơ
khác nhau trong các nguồn văn hóa khác nhau. Khiến mọi người đều có thể
bằng nổ lực của chính mình tìm thấy an lạc, hạnh phúc ngay trong hiện tại,
từ cấp độ tương đối đến tuyệt đối.
1. Nếp sống gia
đình hạnh phúc:
Qua nhiều kinh nghiệm được
kiết tập trong Nikàya và Aụgama, căn bản là kinh đãnh lễ Sáu phương (hay
kinh Thiện Sinh) và kinh Sư Tử Hống thuộc Trường bộ kinh, đức Phật đã dạy
cho chàng thanh niên Singàla, người thưôụng đãnh lễ Sáu phương để cầu mong
được sự che chở, có vận may, 14 điều phải thực hiện để được sáu phương che
chở và có thể thành người che chở sáu phương rằng:
a) Không làm bốn việc:
-Trộm cắp, sát sinh, tà hạnh, nói dối.
b) Không hành động vì bốn
động cơ: -Tham, sân, si, sợ hãi.
c) Không phung phí tài sản
theo 6 cách: - -Rượu chè, cờ bạc, đam mê nữ sắc, kết bạn với bạn xấu, la
cà đình đám hý viện, la cà đường phố phi thời.
Ðấy là 14 điều xây dựng
nên một người xấu. Không làm 14 điều ấy là xây dựng tự thân thành một
người tốt, đạo đức.
Ðức Phật còn dạy Singàla
xây dựng tốt 6 mối tương hệ của con người trong xã hội thì sẽ được may
mắn, hạnh phúc:
a) Tương hệ giữa cha mẹ và
con cái: Ðây là mối tương hệ thiêng liêng đáng được đãnh lễ. Và ý nghĩa
đãnh lễ đích thực là quay về thực hiện các điểm:
Cha mẹ nuôi con ăn học
tốt,
Khi con lớn, lập gia thất cho con nơi xứng đáng,
Lúc cha mẹ lớn tuổi, trao tài sản cho con.
Con cái biết kính trọng vậng lời cha mẹ,
Lo học hành chăm chỉ,
Gíup đỡ cha mẹ khi cần,
Phụng dưỡng cha mẹ khi già,
Lo đám tang cho cha mẹ hẳn hòi theo phong tục, tập quán.
b) Tương hệ giữa chồng và
vợ:
Chồng đối với vợ:
Thương yêu vợ,
Trung thành với vợ,
Săn sóc đời sống vật chất cho vợ,
Kính trọng gia đình vợ...
Vợ đối với chồng:
Thương kính chồng,
Trung thành với chồng,
Quản lý gia đình tốt,
Siêng năng làm việc,
Ðối đãi tốt với gia đình chồng và bạn bè của chồng.
c) Tương hệ giữa thầy và
trò:
Thầy đối với trò:
Dạy tốt,
Dạy nghề cho trò để khi vào đời có thể sinh sống.
Chọn bạn tốt cho học trò (giới thiệu)
Trò đối với thầy:
Học tốt, chăm chỉ,
Vâng lời chỉ dạy của thầy,
Giúp đỡ thầy khi cần.
d) Tương hệ anh em, bà
con, láng giềng:
Giữ tình cảm chung thủy,
không bỏ nhau khi khó khăn.
Giúp đỡ nhau khi đau ốm, khó khăn.
e) Tương hệ giữa chủ và
thợ:
Chủ đối với thợ:
Trả lương tương xứng
với việc làm,
Thỉnh thoảng cho thêm tiền thưởng,
Săn sóc giúp đỡ thuốc men khi đau ốm.
Thợ đối với chủ:
Hết lòng lo việc,
Trung thành với chủ,
Thành thật phục vụ.
f) Tương hệ giữa tu sĩ và
cư sĩ:
Tu sĩ đối với cư sĩ:
Thương tưởng dạy pháp
cho cư sĩ,
Trao truyền kiến thức cho cư sĩ.
Cư sĩ đối với tu sĩ:
Thương kính giúp đỡ 4
vật dụng khi cần thiết,
Tiếp thu chánh pháp.
Nhân tính, hay nhân bản
tính, thường xuất hiện trong tương giao của con người. Xây dựng tốt 6 mối
tương giao ấy là xây dựng tình người và hạnh phúc.
Về hạnh phúc gia đình, đức
Phật dạy thêm các điểm:
Quân bình sức khỏe và
tâm lý,
Sống điều độ,
Kết bạn tốt (có tín, thí, giới, tuệ)
Quân bình chi thu (thu lớn hơn chi)
Về chi tiêu, tiền lời thu
được nên phân phối như sau:
1/4 dùng thường chi cho
gia đình,
1/4 dùng vào bất thường chi,
1/2 đầu tư thêm vào vốn.
Giản lược hơn, một cư sĩ
muốn được hạnh phúc trong đời này, và đời sau thì thực hiện 4 điều: tín,
thí, giới, tuệ.
Tín: Tin vào sự chứng
ngộ của Thế Tôn. Tin vào pháp mà Thế Tôn thuyết giảng là có khả năng
đoạn tận khổ.
Thí: Sống khoan dung,
thương người, hay giúp đỡ người.
Giới: Giữ gìn 5 giới tại
gia.
Tuệ: Có chánh kiến.
2. Nếp sống đạo
đức đối với người ngoại đạo:
- Những ai không phải là
một Phật tử vẫn có thể thực hiện những lời dạy của Thế Tôn dành cho
Singàla. Ðấy là nếp sống đạo đức rất là người, rất là trần thế. Thuật ngữ
Phật giáo gọi nếp sống ấy là thuộc hàng nhân thừa.
- Những Phật tử tại gia và
những ai không phải là Phật tử có thể sống hộ trì 3 nghiệp thân, lời và ý
theo 10 điều đức Phật quy định gọi là thập thiện nghiệp thì sẽ an lạc
trong hiện tại và được hưởng phước của các cõi trời Dục giới trong tương
lai.
Mười điều thiện là:
Không sát sanh, không
trộm cắp, không tà hạnh.
Không tham, sân, si (hay chế ngự tham, sân, si)
Không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói lời thô ác, không nói lời
m người.
Thái độ hộ trì, chứng ngộ
và chứng đạt chân lý:
- Cho rằng những điều mình
đang tin tưởng là đúng và nắm giữ chúng nhưng không phải chỉ có những điều
mình tin tưởng là đúng, còn những điều người khác tin tưởng là sai. Như
thế là hộ trì chân lý.
- Sống theo những điều
mình tin tưởng cho đến khi thấy rõ sự thật của những gì tin tưởng gọi là
chứng ngộ chân lý.
- Thực hiện trọn vẹn sự
thật đã tin tưởng và chứng ngộ gọi là chứng đạt chân lý.
- Có thái độ thân hữu với
các người ngoại đạo, chỉ bàn thảo, trao đổi những điểm gặp gỡ, và gác lại
những điểm sai biệt mà không tranh cãi.
3. Nếp sống xã
hội:
Thế Tôn dạy về 7 điều
thường làm của một xã hội hưng thịnh:
- Thường hay tụ họp và
tụ họp đông đảo.
- Thường hay tụ họp trong niệm đoàn kết, làm việc trong niệm đoàn kết và
giải tán trong niệm đoàn kết.
- Không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những
luật lệ đã được ban hành.
- Tôn kính, đãnh lễ các bậc trưởng lão, biết nghe theo lời dạy của những
vị này.
- Không bắt cóc và cưỡng ép các phụ nữ và thiếu nữ.
- Tôn sùng, đãnh lễ, cúng dường các tự miếu, không bỏ phế các cúng lễ từ
trước đúng với quy pháp.
- Bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán... (Tăng chi II)
Khi xứ sở suy yếu, loạn
lạc thì cần chấn chỉnh kinh tế:
- Cho nông dân giống và
dụng cụ canh tác cùng kỷ thuật canh tác.
- Cấp vốn cho thương nhân đầu tư.
- Trả lương đúng mức, bảo đảm đời sống cho các công nhân.
- Ðại chẩn thí cho dân nghèo thay thế các tế đàn tốn kém.
- Cấp lãnh đạo cần thực hiện 10 điểm gọi là thập vương tử pháp, đại để:
Sống liêm khiết,
Lời nói nhu hòa,
Hy sinh vì quyền lợi của nhân dân,
Lắng nghe tiếng nói của nhân dân,
Nhẫn nhục, không được trả thù,
Phục vụ hòa bình, không chủ chiến.
Làm theo ý dân. -- (theo sớ giải Pháp Cú kinh)
4. Nếp sống Phạm
hạnh:
Nếp sống đạo đức được thể
hiện thuận lợi nhất là nếp sống Phạm hạnh của những tu sĩ xuất ly gia
đình.
Một tu sĩ Phật giáo là một
người có quyết định đi thẳng vào mục tiêu phạm hạnh, hay gọi là thể hiện
ngay hiện tại đời này trong chính tự thân niềm hạnh phúc chân thật, và
giúp đời cùng thể hiện. Một tu sĩ Phật giáo có hai bổn phận chính:
- Học hỏi giáo lý và
thực hành thiền định,
- Thuyết pháp cho đời về
con đường thoát khổ.
a) Về tự thân: Thực hành
Giới, Ðịnh, Tuệ.
- Về Giới: hộ trì giới
bổn Ba-la-đề-mộc-xoa để nhiếp tịnh 6 căn (hay 3 nghiệp) nhờ đó dẹp tiêu
đi nhiều rối loạn tâm lý. Mỗi niệm động tiêu, thì mỗi niệm tịnh sinh.
Niệm tịnh ấy là niệm an lạc, hạnh phúc.
Giới còn có tác dụng hộ
trì an lạc cho các bạn đồng phạm hạnh và giữ không gây thương tổn đến
hạnh phúc an lạc của các loài chúng sinh chung quanh mình.
- Về Ðịnh: thực hành Tứ
niệm xứ (hay 37 phẩm trợ đạo):
Công phu thiền định là
công phu đi thẳng vào nguồn an lạc, hạnh phúc ngay trong hiện tại và tại
đây, sống với từng hơi thở hạnh phúc. Từ cận định, hành giả đã cảm nhận
an lạc. Từ Sơ thiền đến Tứ thiền, hay đến Vô sở hữu xứ, hành giả sẽ có
dịp, nhiều thời gian tiếp cận với nguồn hạnh phúc vô biên, với thật
tướng, với tâm giải thoát và tuệ giải thoát.
Nhưng mục tiêu giải
thoát chân thật không dừng lại ở đây. Hành giả thực hiện thiền định cho
đến lúc thể nhập như thật trí, thành tựu mục đích giải thoát sau cùng:
trí tuệ giải thoát hết thảy nhân khổ đau (tiêu trừ hết thảy lậu hoặc).
- Về Tuệ: đây là chánh
tri kiền của phàm phu, chánh tri kiến của hữu học và vô học.
Có được chánh kiến và
chánh tư duy là hành giả đã loại ra khỏi tâm thức vô số phiền não dù
chưa thành tựu giới bổn và chưa có công phu thiền định; đã tránh được
nhiều hành vi gây tổn hại tự thân và tập thể. Mỗi cái thấy biết đúng và
suy nghĩ đúng Chánh pháp, nghĩa là phù hợp với nếp sống đạo đức Phật
giáo, đều có đi kèm theo nó niềm hạnh phúc, niệm tin tưởng, dù chỉ là
nhất thời.
Nếu chánh kiến và chánh
tư duy được nuôi dưỡng qua công phu hộ trì giới bổn và thức hành Tứ niệm
xứ, thì hành giả sống trọn vẹn, hay hầu như trọn vẹn, với nếp sống đạo
đức của Phật giáo, và có nghĩa là hành giả sống với từng bước đi hạnh
phúc ngay giữa trần gian này.
Sự thật hạnh phúc đó không
có khoát một vẻ gì thần bí, kỳ bí hay siêu thực nào cả. Nó ở ngay trước
mắt ta, trong chính ta, trong chính hơi thở và cái nhìn của ta, nếu ta
quyết ý thực hiện.
Con đường thực hiện đó chỉ
chuyển đổi tư duy, chuyển đổi cái nhìn và chuyển đổi ham muốn hướng về
nguồn hạnh phúc của vô ngã mà không phải là hữu ngã, vị tha mà không phải
là vị kỷ, vô dục mà không phải là dục, vô chấp mà không phải là cố chấp.
b) Về tương giao trong tập
thể Phạm hạnh:
Vị tu sĩ thực hiện thêm
nguyên tắc sống lục hòa song song với giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa (hay Giới,
Ðịnh, Tuệ), đó là: -Thân hòa, khẩu hòa, ý hòa, lợi hòa, kiến hòa và giới
hòa.
Ðấy là sự thể hiện hòa
điệu cả thân và tâm với đời sống tập thể bên cạnh sự thể hiện hòa điệu của
tự thân và của tự thân với pháp giới qua công phu điều hòa hơi thở, điều
hòa thân và điều hòa tâm của thiền định.
c) Về công tác hóa độ (độ
sinh):
Một vị tu sĩ thông thường
làm tròn bổn phận của mình là đã đóng góp vào việc độ sinh rồi, nhưng chỉ
ở hình thức tiêu cực. Tích cực hơn là thuyết pháp và hướng dẫn người đời
tu học và thực hành giải thoát. Tích cực hơn nữa là hoàn bị tự thân để
xứng đáng là bậc mô phạm giải thoát cho cuộc đời. Bấy giờ thì vị tu sĩ cần
hoàn bị 7 điểm: (Tăng chi II và A Hàm tương đương)
Hiểu rõ từ
Hiểu rõ nghĩa
Hiểu rõ pháp.
Hiểu rõ thời,
Hiểu rõ hội chúng
Hiểu rõ tự ngã
Hiểu rõ căn cơ của người đời.
Một tu sĩ thành tựu 7 điểm
này là vị tự mình thành tựu giải thoát và tự mình là ruộng phước cho đời.
5. Tất cả
nội dung tu tập của một tu sĩ, người cư sĩ nếu muốn vẫn có thể thực hiện
và đi đến cùng một kết quả giải thoát. Mọi người đời cũng thế. Ðó là sự
thật chung của cuộc đời.
6. Các cư
sĩ tại gia nếu có thể, vẫn làm công tác giáo hóa độ sinh như một tu sĩ; có
thể hướng dẫn các hội chúng cư sĩ tu tập, có thể thuyết pháp. Với các cư
sĩ ở cấp độ tu tập này, đức Phật chỉ dạy thêm Tứ nhiếp pháp (bố thí, ái
ngữ, lợi hành, đồng sự) để nhiếp chúng có kết quả tốt và đem lại nhiều lợi
lạc trong sự nghiệp hộ đời.
D.
Các Ðóng Góp Khác Của Phật Giáo Vào Sự An Lạc, Hạnh Phúc Chung Cho Trái
Ðất:
1. Con đường đạo đức của
Phật giáo là xây dựng tâm ổn định, bất hại, an lạc và từ bi cho từng tâm
thức. Ðây là sự đóng góp cụ thể và cơ bản nhất. Nếu hòa bình xứ sở và thế
giới cần xây dựng từ mỗi cá nhân thì con đường giáo dục đạo đức của Phật
giáo là đúng đắn và tích cực, hữu hiệu nhất.
2. Giáo lý Phật giáo cũng
giúp các cấp lãnh đạo, là Phật tử hay muốn thực hành theo lời Phật, phục
vụ hòa bình, không phục vụ chiến tranh. Ðây là sự đóng góp vào hòa bình
của các xứ sở và hòa bình thế giới khá tích cực của Phật giáo.
3. Tự thân giáo lý Phật
giáo nổi bậc sắc thái từ bi, bất hại, bất sát, bất đạo, đó là sắc thái của
giáo lý hòa bình, an lạc...
4. Bản chất của giáo lý
Phật giáo là đoạn tận tham, sân, si là các nhân tố cơ bản phát sinh các
cuộc chiến tranh lớn, nhỏ, nóng, lạnh; đó là nền giáo lý đoạn tận gốc rễ
chiến tranh.
Nếu nhân loại tiếp nhận
nền giáo lý Phật giáo thì hẳn nhiên nền hòa bình, an lạc lâu dài xuất hiện
trên trái đất.
5. Cho đến khi nhân loại
kinh nghiệm sâu sắc nổi đau khổ và tàn hại của chiến tranh đến độ nhàm
chán, kinh sợ, cho đến khi ấy nền giáo lý của hòa bình và trí tuệ của Phật
giáo sẽ thực sự trở thành bài học đáng giá của an lạc và hạnh phúc của con
đường đạo đức rất nhân bản và thiết thực. Có lẽ bấy giờ con người sẽ phải
chọn lựa một trong hai điều kiện:
- Hoặc là một nền giáo
dục đạo đức tương tự của Phật giáo.
- Hoặc là cuộc chiến tranh tàn khốc.
Như có lần Cố thủ tướng
Nerhu đã dự đoán.
6. Mãi mãi Phật giáo vẫn
chờ đợi cống hiến cho nhân loại một nếp sống tìm thấy an lạc, hạnh phúc
ngay trong hiện tại, tại đây cho đủ mọi từng lớp, căn cơ của quần chúng
trong các nền văn hóa trên trái đất.
Nếp sống ấy có thể được
tóm tắt trong 3 điểm giản dị nhất mà chúng ta có thể thực hiện bất cứ khi
nào, nếu muốn:
Từ bỏ mọi điều ác,
Làm mọi điều lành,
Giữa tâm ý thanh tịnh (rời xa mọi ái nhiễm, mọi phiền não)
E.- Kết Luận:
Ðến đây, chúng ta thấy
rằng mọi hướng sống đạo đức đều gặp nhau ở một điểm là nhằm giúp con người
ổn định và xã hội ổn định để từ đó con người có thể sống hạnh phúc đến mức
độ cụ thể.
Các hệ thống đạo đức chỉ
khác biệt nhau ở cấp độ nhận thức gần gủi hay xa rời thực tại như thật của
con người và cuộc đời, ở mục tiêu hạnh phúc và phương thức sống đi đến
hạnh phúc.
Với Phật giáo, cái nhìn về
con người, về xã hội, về thế giới và về khổ đau hay hạnh phúc đều có tính
nhất quán.
Nói cách khác, tất cả hiện
hữu được nhìn dưới cái nhìn như thật về sự thật duyên sinh. Cái nhìn như
thật ấy đã giúp con người thấy như thật khổ đau, nguyên nhân của khổ đau,
do đó mà thấy rõ con đường đi ra khỏi khổ đau, đi vào hạnh phúc chân thật.
Ở cuối đường vào hạnh phúc miên viễn cái nhìn và hạnh phúc là một, con
đường là đích đến.
Ðây là điểm khác biệt rất
đặc biệt giữa Phật giáo và các tôn giáo triết thuyết khác, và chính là
điểm đặc biệt của nếp sống đạo đức Phật giáo tự giác tự nguyện vắng bóng
tất cả mọi mệnh lệnh, mọi tín điều, mọi giáo điều, mọi sức ép.
Con người tìm thấy mình và
hạnh phúc trọn vẹn ở đó./.
---o0o---
Mục Lục |
01 |
02
|
03
|
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10
---o0o---
Source :
BuddhaSasana Home Page
Cập
nhật: 1-12-2002