HỘI PHƯỚC TỰ (Chùa Cát)
(Trích Xứ Trầm Hương của Quách Tấn)
Chùa nằm trong ngõ
hẽm đường Hoàng Tử Cảnh, thuộc xã Nha Trang Tây
Nếu nơi cửa ngõ
không có bốn đại từ “Hội Phước Thiền Môn” và câu đối:
Hội tấn nhơn duyên Phước
Thiền khai trí độ môn.
Thì người đi xa
lâu năm không thể nhận ra là ngôi chùa mình đã từng lai vãng.
Thời Pháp thuộc
vườn chùa rộng đến mấy mẫu. Chung quanh có tường gạch. Trong vườn cây
xanh hoa tươi, hồ sen, non bộ, trang điểm cho ngôi chùa cổ kính thêm vẻ
trang nghiêm. Trước chùa khoảng khoát.
Ngày nay bức thành
ở mặt tiền đã đưa vào gần sát sân. Trước chùa chỉ còn một lối đi nhỏ
hẹp, và bề mặt kia đã bị nhà cửa của đồng bào lấn vào sát tận vách. Cây
me cổ thọ trước kia là của chùa mà nay đã đứng hẳn ra gần lề đường Hoàng
Tử Cảnh
ở giữa một đám nhà tôn. Và cây gạo ở sau chùa đã trở thành của sở hữu
của người khác!
Chùa là một dãy
nhà chữ môn cũ kỹ, lụp xụp.
Vị trụ trì là một
nhà sư tuổi gần 80 cũng đã phải chịu nhiều tang thương như chùa!
Chùa Hội Phước là
tổ đình của hầu hết các chùa ở Vĩnh Xương cất từ thời Nguyễn sơ.
Tổ khai sơn là
ngài Phật Ấn, pháp hiệu Quảng Hiển Lão ông, thuộc phái Lâm Tế.
Ban sơ Ngài cất
một tịnh thất bằng tranh tại hòn Hoa Sơn tức hòn Một, (ở Ngã Sáu, đầu
đường Phước Hải
hiện tại) tu theo xà duy hạnh, tức khổ hạnh đầu đà. Ngày mồng 9 tháng 12
năm Bính Ngọ tức năm Cảnh Hưng thứ 46 (1786) nhà Hậu Lê, ngài thiết lập
hỏa đàn trà tỳ. Đệ tử thâu xá lợi, lập liên hoa tháp tại Hoa Sơn.
Sau đó Hòa thượng
kế tục là ngài húy Đại Thông, hiệu Chánh Niệm dời chùa xuống đất bằng,
cách Hoa Sơn chừng 300 thước, (nơi địa điểm hiện tại)
Chùa lúc bấy giờ
vẫn bằng tranh như lúc ở núi.
Đến đời thứ ba,
ngài Tánh Minh hiệu Trí Quang Đại Lão Hoà Thượng mới cất ngói.
Đó thuộc triều
Minh Mạng (1820-1840)
Ngài Tánh Minh
viên tịch, truyền lại cho đệ tử một bài kệ rằng:
Nhất thành thượng
đạt nhất thành tinh
Nhất cú liễu nhiên
nhất cú minh
Nhất đức nhất tâm
hàm nhất hội
Nhất tâm tịnh độ
nhất trần tinh.
Truyền xuống được
sáu đời nữa, đến năm Duy Tân nguyên niên (1907) thì chùa không có người
thừa kế. Làng sở tại là Phương Sài bèn thỉnh ngài Chơn Hương hiệu Thiên
Quang Hòa thượng ở chùa Linh Sơn ngoài Vạn Giã vào trụ trì.
Đến triều Khải
Định năm thứ hai (1917), lại thỉnh Hòa Thượng Phước Tường về trụ trì, vì
ngài Thiên Quang phải trở về trụ trì chùa Linh Sơn
Lúc bấy giờ chùa
đã hư. Một người ký lục họ Nguyễn đứng ra tu bổ lại để cầu phước.
Từ ấy đến nay,
chùa chỉ sửa sang lại chút ít mà thôi. Vị trụ trì đương kim đã già yếu,
bổn đạo lại ít, nên không đủ sức trùng tu.
Vì chùa lâu đời,
nên trong chùa có nhiều cổ vật quí giá:
_ Các tượng Phật
hầu hết đều bằng đồng
_ Hai quả chuông,
quả báo chung (chuông nhỏ) có từ đời Cảnh Hưng, quả hồng chung (chuông
lớn) có từ đời Minh Mạng. Quả báo chung của Tổ khai sơn truyền lại. Quả
hồng chung chế tạo lúc chùa cất lại bằng ngói
Bức di tượng của
ngài Phật Ấn, cao lớn như người thiệt, vẽ trên giấy lụa. Và trước khám
thờ chư Tổ, khắc câu đối nôm, tương truyền là di bút của Tổ Khai sơn:
Biển ái dứt rồi
Chỉ nẻo Linh Sơn
nào mấy dặm;
Rừng thiền liễu
đặng
Qua miền Thiên
Trúc dễ bao xa
Thật là những vật
quí vô giá!
Riêng tiếc cho nhà
chùa muốn cho hợp thời trang, dùng sơn màu sơn tất cả các tượng Phật. Đỏ
xanh diêm dúa, trông vào tưởng rằng những tượng đất mới thỉnh nơi hàng
thợ mã đưa về! Vẻ trang nghiêm thật giảm sút đi nhiều quá!
Có người thắc mắc:
_ Tại sao chùa Hội
Phước lại gọi là Chùa Cát?
Đó là vì xưa kia
Nha Trang dân cư thưa thớt. Chùa đứng trong vùng cát trắng mênh mông, và
ngoài ra không có gì khác để gọi, nên gọi là chùa Cát.
Còn hòn Hoa Sơn,
khi chưa bị con đường Phước Hải cắt đôi, thì hình thù giống như con rùa
bò vào Nam mà quay cổ ngó xuống Đông. Nhân trên đầu có ngọn Liên Hoa
Tháp của Ngài Phật Ấn, núi được người xưa tặng cho danh hiệu là “Kim Quy
đới tháp”, cùng với ba ngọn khác làm bốn con thú trấn giữ cuộc đất cho
Nha Trang:
_ Núi Trại Thủy là
Ngọc Bức hàm hoàn,
_ Núi Sinh Trung
là Bạch Tượng quyện hồ
_ Núi Cảnh Long ở
Chụt là Thanh Long hí thủy
Con Kim Quy nay đã
biến dạng. Và tháp cũng đã cũ như chùa, cũng đã bị nhà cửa đồng bào che
lấp. Kẻ qua người lại cũng chỉ thấy ngôi nhà thờ đứng oai vệ trên hòn
Hoa Sơn, không ai ngờ rằng nơi đây đã có người “Rừng thiền liễu đặng…”


Bên trong chánh điện

