Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Giáo Việt Nam


 

 

 

 

NHỮNG NGÔI CHÙA Ở NGŨ HOÀNH SƠN

GS Kiêm Đạt

 

Vị trí:     Cách thành phố Đà Nẵng khoảng 7 km về phía đông nam, mọc lên giữa đồng bằng gần sát biển, một cụng năm hòn núi đá nhấp nhô, xa trông như một đàn voi khổng lồ chen chúc nhau nhào ra biển. Ngũ Hành Sơn nay  Núi Non Nước là một địa danh  được cả nưóc biết đến  từ lâu,  là môt  trong những  thắng cảnh  đẹp nhất của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. 

Cụm núi Ngũ Hành nằm trên một  vùng đất rộng phẳng sát biển xanh, trên bãi cát vàng, hình thù kỳ  dị với những ngọn lô nhô, cây cối um  tùm mọc  lên giữa  các hốc  đá, màu  sắc núi  thayb đổi  theothời tiết, từ xám sang tím, từ tím sang xanh thẫm, đen. Giữa cảnh đất trời sông biển bao la nầy, Ngũ Hành Sơn xuất hiện từ thời xa, như những hòn đảo nổi giữa mây  nước bồng bềnh, như bức tranh sơn thủy, xứng đánh sánh với Hạ Long, Phong Nha, Hà Tiên; đây cũng là cái đẹp độc  đáp của hang động, đền chùa,  thạch nhũ, thạch bích, của gió  trăng lồng lộng  qua cửa động,  của ánh sáng  huyền diệu thay đổi  từng muà, từng ngày,  từng giờ trên vách  đá, khiến cho các  tượng Phật,  các hình  đá thiên  nhiên trở  nên sinh động lạthường.

Địa chất của Ngũ Hành Sơn   Ngũ Hành Sơn là một quần thể  núi nằm trên bờ biển miền Trung Việt Nam, cho  nên quá trình hình  thành cũng như những  đặc điểm hình thái chịu ảnh hưởng tất lớn giữa dãy Trường Sơn một bên, biển Nam Hải một bên. Về địa chất, Trường  Sơn được hình thành sau đợt vận động tại núi phù hợp với thời gian "biển thoái" Hersini. Khối núi Trường Sơn Bắc nguyên là một màng  biển sâu (Địa máng) tồn tại từ đầu  thời đại  Cổ Sinh,  nổi lên  ngay từ  đợt vận  động tại núi  Hersini.  Trường Sơn  Bắc được  bắt đầu  từ cao  nguyên Trấn Ninh (Lào), kéo  dài theo hướng Tây  bắc - Đông nam,  ra tận biển, vàotận dãy Bạch  Mã nối liền với đèo  Hải Vân, tận cùng tại  núi Sơn Trà và  các hòn núi nhỏ  ngoài vịnh Đà Nẵng. 

Mạch núi Trường Sơn bắc chạy dài 753 cây số. Còn khối núi cao của Trường Sơn  Nam là một cấu trúc Hersini, bắtđầu từ phía nam  đèo Hải Vân trở đi, cho đến  miền đông Nam Phần, từ  vĩ tuyến  16 độ  B cho  đến vĩ  tuyến 11  độ B. Chiều dài của Trường Sơn Nam là 512 cây số.  Khối núi cao nguyên Trường Sơn Nam bao chiếm gần hết diện tích miền trung Trung Phần và miền cực nam Trung Phần.Quảng Nam - Đà Nẵng ở vùng  phía bắc của Trường Sơn Nam, giáp với phần rìa của Trường Sơn Bắc. Trước  kia, nơi đây là một vụng biển cắm sâu  vào giữa hai  khối núi, đá  hoa cương A  Tuất (2,500m) ở phía Bắc  giáp với Thừa  Thiên - Huế  và núi Ngọc  Linh (2598m) ở phía Nam, giáp  với Kontum, như một cái nêm  lớn ở giữa.

Vào giữa thời kỳ  Tri - Át, thời  đại Trung Sinh, cách  đây khoảng hơn 200 triệu năm, có  một cuộc vận động tạo núi  mới, gọi là "Indonesy". Sau đợt vận  động tạo núi nầy hầu  hết lãnh thổ Việt Nam  đều nổi lên trên mặt  biển, ngoại trừ một số vịnh  và vụng nhỏ, trong đó có vùng đồi núi sông Bung. Sau khi nước rút, do vận động nâng lên của Trường Sơn Nam, sông Thu Bồn và các sông nhánh khác của nó đã bồi lên một vùng  đất rộng 540 km2, bao gồm cả  vùng cửa sông Hội An, thu hẹp  ở vùng Thăng Bình và  mở rộng ra ở vùng  Tam Kỳ rộng 510 km2. 

Nhưng do bị kẹp  giữa Trường Sơn và  Biển Đông, các con sông nầy đều ngắn, cho nên quá  trình bồi đắp những vụng biển lớn đã diễn ra  rất chậm chạp, phải nhờ những  cuộc vận động kiến tạo mới và  địa hình lục  địa, cho  nên  các đồng bằng  ven biển miền Trung nói chung, Quảng Nam - Đà  Nẵng nói riêng chỉ mới được hình thành rất  gần đây, vào thời  Đệ Tứ, cách đây  khoảng 1 triệu 800 nghìn năm. Sự bồi đắp vẫn tiếp diễn,  vào thế kỷ thứ IV và thứ V, con người vẫn chứng kiến sự hoạt  động đó. các vùng biển bị lấp vẫn còn để lại những lạch nước chảy gần như liên tục, từ bắc xuống nam. Người  ta vẫn nạo  vét các  lạch  nước đó, để  sử dụng trong nhiều thế kỷ sau nầy. Vào thời điểm  đồi núi sông Bung còn là vùng biển, vùng Ngũ Hành Sơn cũng như Sơn Trà, những hòn núi cuối cùng của Trường  Sơn Bắc, là những  hòn đảo nằm chơ  vơ giữa vùng biển khơi.

 

Những ngôi chùa ở Ngũ Hành Sơn

Trong quá trình hình thành đồng bằng Quảng Nam, các hòn đảo đó dần dần được nối vào đất  liền, như người xưa thường nói: "Phù nhất thiên  niên tiền Ngũ Hành  nhất đảo; nhất thiên  niên hậu vị Ngũ Hành Sơn" (Một nghìn năm trước Ngũ Hành là hải đảo; một nghìn năm sau  là Ngũ Hành Sơn). 

Nhưng Ngũ Hành Sơn  cũng chỉ mới được nối vào đất liền, vì hiện nay, ở ngoài sông Trường Giang, một con sông chảy dài theo ven biển Quảng  Nam, nối liền sông Thu Bồn với sông Tam Kỳ. Giữa Trường Sơn Bắc và Trường Sơn  Nam có nhiều khác biệt rõ rệt. Chẳng hạn, có thể nói hai bên  đèo Hải Vân là hại "bầu trời" khác hẳn nhau. Có những ngày, đứng ngay trên đèo Hải Vân nhìn về phía Thừa Thiên - Huế thì  mưa mù đầy trời,  nhưng quay về hướng  Nam, vùng Quảng Nam - Đà nẵng, khí lạnh mây mù  đã không còn nữa, cảnh vật rực rỡ dưới bầu trời xanh ngắt, trải rộng  trên vịnh Hàn và thành phố Đà Nẵng.

Thủy Sơn là hòn núi nằm về phía  bắc trong Ngũ Hành Sơn, ở vị trí đầu tiên trên con đường chạy từ Đà Nẵng đến Hội An. Trong dãy nầy, đây là  hòn núi lớn  nhất và đẹp  nhất, thường được  du khách đến viếng thăm quanh năm.Thủy sơn nằm trên môt dải đất  hình thuẩn, theo hướng đông - tây,rộng khoảng 15 mẫu tây. Đỉnh núi  có ba ngọn nằm ở ba tầng, trống giống như  ba ngôi sao Tam  Thai ở chuôi chòm  sao Đại Hùng Tinh, cho nên, thường được gọi tên là núi Tam Thai. Ngọn cao nhất trong hệ thống nầy là 106 mét ở  phía tây bắc, gọi là Thượng Thai; ngọn phía nam thấp nhất gọi là Trung  Thai; ngọn phía đông ngô cao hơnmôt chút gọi là Hạ Thai .Trong vùng Thủy Sơn có nhiều chùa chiền và hang động, có thể phân chia ra  làm 3 cụm, theo  ba ngọn núi nầy:  Cụm Thượng Thai phiá tây bắc có  Vọng Giang Đài, tháp Phổ Đồng,  chùa Từ Tâm, chùa Tam Tôn, chùa Tam Thai, hành Cung, động Hoa Nghiêm, động Huyền Không, động Linh Nham và động Lăng Hư. Cụm Trung Thai nằm ở giữa, có hai cổng Động  Thiên Phước Địa và  Vân Căn Nguyệt Quật,  các động Vân Thông, động  Thiên Long và  hang sáng vân  Nguyệt. Cụm Hạ  Thai ở phía đông  có Vọng Hải Đài,  chùa Linh, động Thàng  Chân (với cácđộng Tam  Thanh, động Chiêm Thành,  hang Ráy, hang Gió,  động BànCờ, chùa Linh Ứng, động Chơn Tiên), động Ngũ Cốc và phía dưới núiGiếng Tiên và động Âm Phủ.

Lên thăm chùa chiền hang động Thủy Sơn, có thể men theo hai đường sau đây:  đường cấp phía  tây nam: dẫn  đến chùa Tam  Thai có 156 bậc;  đường cấp  phía đông:  dẫn đến  chùa Linh  Ứng, có 108 bậc.  Thông thường,  du khách đi  lên theo đường  cấp phía tây  nam, đi xuống lại theo đường hướng đông để  có thể thăm toàn bộ cảnh quan toàn vùng nầy. Đường cấp phía  tây nam là con đường ven  theo vách núi, lát bằng đá Trà Kiệu hoặc La Vân, rộng quãng 4 mét, hai bên có lan cao cao khoảng 60 cm. Các  bậc đá ở đây tương đối cao,  bước lên khó, cho nên từng quảng  có những chỗ cho khách nghỉ  chân. Nhưng qua khỏi hẽm núi vách thẳng đứng như thành  vại ở gần cuối đường, thì mọi mỏi mệt đều tiêu tan, vì trước mặt mọi người là một quanh cảnh kỳ thú, nhiều chùa chiền và nhiều hang động. Quảng nửa  đường cấp, có những  trụ đá to, chạy  chỉ vuông, chuốt hình hoa sen, là biểu hiện cửa ngoài của chuà Tam Thai.

 Những lên khỏi đường cấp, truớc khi vào chùa  Tam Thai, du khách có thể đến thăm chùa Từ Tâm, chùa Tam Tôn  và Vọng Giang Đài. Vọng Giang Đài là môt điểm  cao trước ngôi chùa Tam Thai,  nằm về phía bên phải. Tại đây có một  tấm bia bằng đá Trà Kiệu, chiều  cao 2 mét, chiềurộng 1 mét,  dựng lên trên môt đế  xây lớn. Trên mặt bia  có khắc "Vọng Giang Đài"  bằng chữ Hán; bên cạnh có dòng chữ nhỏ, ghi ngày tháng  xây bia  nầy "Minh  Mạng thập  bát niên,  thất nguyệt, cát nhật".

 Du  khách đứng trước Vong  Giác Đài, có thể  nhìn bao quátđược cả môt vùng  đồng bằng bao la của vùng Quảng  Nam - Đà nẵng,con sông Trường Giang, sông Cẩm Lệ.Tháp Phổ  Đồng là một  cái tháp  xây  bằng đá có  tường bao chungquanh; Nơi  đây, ngày trước tập  trung hài cốt của  những nguy3ờichết rải rác trong núi; chùa Từ Tâm là nơi thờ vọng vong linh củahọ; chùa Tam Tôn là môt ngôi chùa mới xây dựng  về sau nầy.Động Hoá  Nghiêm: Động nầy nằm ở phía ngoài  chùa, không cao lắm,  được xem nhưtiền sảnh của chùa Huyền Không. Trong động nầy, có tấm bia cổ khắc ba chữ "Phổ Sơn Đà". Trong môt hốc đá có tượng đức Quan Thế Âm Bồ Tát, chiều cao  lên gần đến vòm, hướng mặt  về phiá cửa động. Nét điêu khắc của chạm hài hoà  tự nhiên, tưởng chừng như những thạchnhũ tạo nên. Vào năm Thiệu Trị thư sáu (1846), được đổi tên thành động Trang Nghiêm. 

Động Huyền Không: Bên phiá trái của động Hoá Nghiêm là cửa đi vào động Huyền Không. Khi mới đi vào, cửa động tốt tăm, tuy nhiên khi đã đi thêm khoảng mươi mét, động  mở ra rộng rãi, thênh thang.  Động Huyền Không là một hang động lộ thiên, nằm  gọn trong núi Huyền Không, ngay trên đỉnh núi nầy. Núi Huyền Không hình  tròn, cho nên động là một vòm cao rộng. 

Động Linh Nham: Ra khỏi động Huyền Không, trở lại phía sau của Tam Thai, men theo đường cấp bên  phía trái về hướng đông bắc  sẽ đến động Linh Nham ngay trên đỉnh núi. Chặng đường nầy quanh co, đi lại khó khăn hơn trước. Trên  cửa động, có một  hòn đá, trông như  hòn non bộ nhỏ.Trước khi, trong động nầy thờ đức  Quan Thế Âm Bồ Tát; ngôi tượng của ngài bị sụp đổ, cho nên về sau thờ Ngọc Hoàng; thành thử động nầy còn có tên là động Ngọc Hoàng. 

Động Lăng Như: Động Lăng  Như nằm ở  phía trên  của  động Linh Nham,  nằm ở lưng chừng núi, vách đá cheo leo. Lối  vào khó khăn, khi lên trên đỉnh nhìn xuống thì dường như không còn có nẽo trở về nữa. 

Hang Vân Nguyệt: Từ phía sau  của chùa Tam Thai, đi  về hướng đông là khu  vực của chuà  động vùng  Trung Thai.  Đến đây,  bắt đầu  đi vào bằng cổng "Động Thiên  Phước Địa" (chỗ  trời tiên đài  phúc). Hang nầy  rất sáng khó nhận biết, thậm chí có người ở ngay trong động nhưng vẫn không  nhận biết  được.  Hang  Vân Nguyệt  là một  lòng chão  rộng khoảng 100 mét,  chiều dài khoảng vài trăm mét,  nẳm giữa dãy núi Thanh Sơn  bên phải, dãy  núi có hang  Thiên Long bên  trái, cộng

Động Thiên  Phước Địa phía tây  và cổng Văn Căn  Nguyệt Quật phía đông. Ở  nơi đây thường  có hiện tượng  hơi nước bốc  lên như mây khói, lại có ánh trăng dọi  vào, thành những vầng sáng lung linh,  huyền ảo, nên có tên là Vân Nguyệt. 

Động Vân Thông: Ở phía bên phải  của hang Vân Nguyệt, trên sườn  núi Thanh Sơn làđộng Vân Thông. Động nầy nằm gọn trong lòng núi, hình tròn, trông giống như môt đường ống hướng  chếch lên phía ngọn núi. Trước cửahang động có một chiếc đỉnh đồng to xây bằng xi mặng để thờ vọng. Trong dộng  có một tấm bia  xưa nhất, khắc ba  chữ "Ngũ Uẩn Sơn".   Tại trung  tâm có môt tượng  Phật rất lớn. sau  lưng tượng nầy làcon đường đi lên động. Mới đi vào, đường khá rộng rãi, nhưng càng đi sâu vào,  con đường lại hẹp dần; hướng  lên đỉnh núi khó khăn,du khách phải bám  vào các tảng đá mới bò lên  được. Cuối động là một khoảng tròn, để thông ra bên ngoài. Ánh sáng từ trên động rọivào, những những hào quang từ trên không trung chiếu xuống. Người ta thường gọi  đây là "đường lên trời". Trên  đỉnh động có thể đi theo sườn núi Thanh  Sơn xuống đến ngã ba đi lên  Vọng Hải Đài vàchuà Linh Ứng phía ngoài cổng  Vân Căn Nguyệt Quật. 

Hang Thiên Long: Hang  Thiên Long  còn gọi  là Hang  Rồng, nằm  bên trái  hang Vân Nguyệt, phía gầ cộng Vân Căn  Nguyệt Quật. Hang nầy hình tròn, ănsâu xuống lòng đất, có nhiều tảng đá lởm chởm. Lòng hang sâu thăm thẳm, trông như  miệng con rồng cho nên có  tên là Hàm Rồng. hang Thiên Long thông với Hang Gió trong động tàng Chân ơ khu Hạ Thai. 

Vân Căn Nguyệt Quật: Vân căn  có nghĩa là  gốc mây; nguyệt  quật là hang  trăng. Ngụ ý nói:  Trăng núp  trong gốc  mây. Cũng  có thể  giải thích là: Cội gốc của mây trăng; hay là: Trăng soi thấy chân mây. Du khách bước vào đây như đi vào môt thế giới huyền bí, sau đó chuyển sang vùng trời biển  bao la. Bên  nầy Vân Căn  Nguyệt Quật là  thế giới của nhiều hang động; bên kia là vùng duyên hải, biển trời mênh mông.

Vùng Hạ Thai: Vùng nầy  có Vọng Hải  Đài, chùa Linh  Ứng, động Tàng  Chân với 5 động nhỏ (Tam  Thanh, Hang Gió, động Chiêm  Thành, Hang Ráy, động Bàn Cờ), động Ngũ Cốc, Giếng Tiên, động Âm Phủ.

Vọng Hải Đài: Vọng Hải  Đài là điểm  cao nằm bên  phải chùa Linh  Ứng. Đứng tạiđây, có  thề nhìn bao  quát cả 1  vùng trời biển.  Ngoài xa, thấyđược rõ  cụm đảo Cù Lao  Chàm, với những đảo:  Lao, dài, Khô, Lá, Lôi, Tai, Mận. Những đạo nầy thường có loài chim Hải Yến, nên dân chúng thường đến đây khai thác loại hải sản quý nầy.

 Chùa Linh Ứng  Chùa Linh Ứng được xây vào khoảng  thế kỷ XVI, tương truyền là domột vị Tiên hiền khai sáng làng Khải Đông đến ẩn tu tại động Tàng Chân lập  ra ngôi chùa  nầy. Lúc đâu,  nơi đây được  gọi là Dưỡng hơn Am; sau  đổi là Dưỡng Chơn Đuờng. Đến  đời vua Minh Mạng, đã kiến tạo lại để  trở thành ngôi chùa, có tên là  "Ứng Chơn Tự" do Hoà thượng Quang Chánh đạo hiệu là  Bảo Đài trụ trì. Tên Linh Ứng ngày nay được  đổi từ đời vua Thành Thái.  Hiện nay trong chùa có bộ Thập  Bát La Hán  rất quý, được  tạc công phu  bằng đá tại Ngũ Hành Sơn, theo mẫu của chuà Phước  Lâm ở thị xã Hội An. Tượng cao 0,34m, ngang gối 0,23m, đế 0,04m. Trải qua gần 4 thế kỷ tồn tại,  chùa Linh Ứng bị hư hại nhiều lần và cũng  được trùng tu.  Gần đây nhất  là lần trùng  tu năm 1993, Thượng tọa Thích Thiện Nguyện đã  ra sức vận động, quyên góp công sức tín  hữu, đồng thời cũng  đã xây dựng thêm  một số công trình khác nữa, có đúc  tượng Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni  và tượng đức QuanThế Âm Bồ  Tát. Bức phù điêu ghi  lại cuộc đồi của đúc  Thích Ca. Điều đáng  tiếc là hiện nay,  việc khai thác đá  tại Ngũ Hành Sơn một cách  xô bồ, vô  tổ chức, cho  nên đã gây  những hư hại  trầm trọng tại chùa nầy cũng như nhiều chùa và động khác nữa.

Động Tàng Chân:   Đàng sau chùa Linh Ứng là động Tàng Chân. Theo nguyên nghĩa, Tàng Chân là nơi "chứa thiên nhiên chân thật" của vũ trụ. Động cũng là một thung lũng  hình chữ nhật, chiều dài  khoảng 10m, chiều ngang khoảng 7m. Ánh  sáng mặt trời thường chiếu  thẳng vào. Đàng truớc có một cổng cấu  tạo theo hình thể tự nhiên bằng  đá, tiếp đến là một hành  lang ngắn. Trên  vách đá, phía  bên phải có  khắc "Tàng Chân Động". Phía sau hành lang là chiếc cổng thứ 2, tiếp đến cũng là động. Từ cuối  động Tàng Chân,  trông vào có  3 hốc đá,  có cấp đi  lên xuống; đó là những động: Tam Thanh, Chiêm Thành và Hang Gió. Động Tam  Thanh khá  dài và  hình tròn,  ngày trước  thờ Thượng Thanh, Trung Thanh và Hạ Thanh (nên  có tên Tam Thanh). Động Chiêm Thành ở giữa, còn có tên là hang  Hời, có thờ thần Vichnu. Động nầy hình bán nguyệt,  khá sâu và  dài. hang Gió  hònh bán nguyệt,  đá long lanh đủ sắc  màu. Gió tứ phía thổi  vào mát rượi nên có  tên nầy. Nơi đây, phía  trên thì thông lên đỉnh bằng  nhiều lỗ trống, phía dưới thì thông với hang Thiên Long.

 

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 6-2007


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Mục Lục

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544