Nhà Xuất Bản Văn Hóa - Thông Tin
Hà Nội - 1997
CHÙA HÀ NỘI
Nguyễn Thế Long
Phạm Mai Hùng
LỜI NÓI ĐẦU
^
Phật giáo từ khi được truyền vào Việt Nam hồi đầu
công nguyên đã hòa nhập với tín ngưỡng bản địa và có sức sống mạnh mẽ. Đã
có thời kì Phật giáo là quốc giáo và quốc học. Phật giáo đã góp phần củng
cố ý thức tự chủ độc lập dân tộc trong thời kỳ đầu và góp phần xây dựng
nền văn hóa Việt Nam trước và cùng với Nho giáo trong hàng chục thế kỷ
qua. Chùa là nơi thờ Phật đã có ở khắp làng quê Việt Nam từ mấy ngàn năm
nay là hình ảnh đã in sâu trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam.
Lên chùa
lễ Phật hay văng cảnh vào các ngày lễ, ngày rằm, mồng một là sinh hoạt
tinh thần của văn hóa Việt Nam, đã được đông đảo các tầng lớp nhân dân đón
nhận. Cuốn sách này sẽ giúp bạn đọc những hiểu biết sơ lược về Phật giáo,
quá trình phát triển ở nước ta và ở kinh đô Thăng Long, nội dung triết lý
với các thiền phái, các lễ và quan niệm Phật giáo của dân gian. Bên cạnh
đó, cuồn sách cũng giúp hiểu biết tổng quát về kiến trúc của các ngôi
chùa, giá trị Mỹ thuật của các pho tượng Phật. Nói tóm lại cuốn sách giúp
bạn hiểu biết cái Chân, cái Thiện, cái Mỹ của Phật giáo và các ngôi chùa
Việt Nam.
Ở thành
phố Hà Nội, trừ nội thành, ở ngoại thành có bao nhiều làng thì gần như bấy
nhiêu chùa, cuốn sách mới chỉ giới thiệu được hơn 120 ngôi chùa đã được Bộ
văn hóa và thông tin xếp hạng di tích lịch sử nhà nước cùng với ngôi chùa
quen thuộc. Trong việc giới thiệu các ngôi chùa đã được xếp hạng ở Hà Nội,
có những ngôi chùa được miêu tả khá đầy đủ, đó là những ngôi chùa được
nhiều người quen biết vì giá trị lịch sử, kiến trúc hay nghệ thuật, còn
những ngôi khác chỉ được giới thiệu những nét tiêu biểu, đặc sắc. Nội dung
giới thiệu các chùa được căn cứ chủ yếu vào hồ sơ xếp hạng các di tích của
Cục bảo tồn bảo tàng thuộc Bộ Văn hóa và thông tin và Ban quản lý di tích
và danh thắng Hà Nội, có tham khảo các sách cổ, các sách viết gần đây và
các bài viết trên các báo Thủ Đô, Thủ đô Hà Nội, Hà Nội Mới, Người Hà Nội,
Văn Hóa… Nhân đây chúng tôi cũng xin bầy tỏ lòng cảm ơn các đồng chí ở Cục
bảo tàng Bộ Văn hóa và thông tin đã nhiệt tình cung cấp cho những tư liệu
một số chùa để giới thiệu với đông đảo bạn đọc được biết vẻ đẹp của các
ngôi chùa ở thủ đô Hà Nội.
Giáo lý
Phật giáo cao siêu, thâm diệu, vi tế, mênh mông được diễn tả trong mấy vạn
pho sách kinh khổng lồ, các bậc cao tăng nghiền ngẫm cả đời cũng chỉ lĩnh
hội được phần nào; nay vì mục đích chủ yếu là giới thiệu các chùa ở Hà
Nội, không thể không nói mấy lời rất sơ lược về đạo Phật ở Việt Nam để bạn
đọc dễ nhận biết đạo Phật và các ngôi chùa thời phật là văn hóa Việt Nam
đậm đà bản sắc dân tộc. Do sự hiểu biết rất hạn chế, do tư liệu về các
chùa hầu hết trước đây đều truyền miệng và khác nhau nên cuốn sách chắc
chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong bạn đọc bổ khuyết và xin
chân thành cảm ơn.
Ngày Phật đản, năm Ất Hợi (1995)
Các tác giả
PHẦN I
^
CHƯƠNG MỞ ĐẦU
^
- Giữ
gìn bản sắc văn hóa dân tộc là một phương châm cần được quán triệt trong
mọi hoạt động văn hóa trên đất nước ta hiện nay. Bản sắc văn hóa dân tộc
mang một nội dung ý nghĩa rộng rãi đó là một tổng thể những đặc trưng diện
mạo về tinh thần và vật chất, về lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng,
tôn giáo, đạo đức và tình cảm, văn học và nghệ thuật… nó cũng biểu hiện
trong các di sản vật chất hữu thể như kiến trúc, đình chùa, miếu mạo, nhà
cửa. Hai phần hữu thể và vô thể đó gắn bó hữu cơ với nhau, khó có thể tách
rời, đã tạo nên cái riêng biệt của dân tộc ta trong trường kì lịch sử và
tồn tại mãi cho đến ngày nay. Hiểu biết, nhận rõ, giữ gìn và phát huy bản
sắc dân tộc trong công cuộc hội nhập vào cộng đồng thế giới ngày nay không
phải là việc làm của riêng những nhà hoạt động văn hóa mà là của mỗi người
Việt Nam trên mọi lĩnh vực trong đời sống hàng ngày. Hiểu biết về đạo Phật
và những ngôi chùa đã được xây dựng từ bao đời trên đất nước ta và ở thủ
đô Hà Nội cũng chính là hiểu rõ thêm bản sắc dân tộc Việt Nam ta vậy.
Pháp
lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh ban
hành năm 1984 nhằm: “Bảo vệ và sử dụng có hiệu quả di tích lịch sử văn hóa
và danh lam thắng cảnh trong việc giáo dục truyền thống dựng nước của nhân
dân Việt Nam, góp phần giáo dục tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội
và lòng tự hào dân tộc, nâng cao kiến thức, phục vụ công tác nghiên cứu
khoa học, đáp ứng nhu cầu thẩm Mỹ và văn hóa của nhân dân…” Trong danh
sách các di tích đã được xếp hạng từ năm 1962 đến nay, bên cạnh các đình
đền… đã có rất nhiều chùa thờ Phật được nhà nước xếp hạng. Ở thủ đô Hà Nội
những chùa được xếp hạng ngay từ đầu như chùa Một Cột, chùa Trần Quốc,
chùa Láng, chùa Hòe Nhai, chùa Liên Phái… tính đến nay (4 - 1994) đã có
tới 128 chùa đã được xếp hạng.
- Từ rất
xa xư, các mái chùa cổ kính đã góp phần tô điểm cho làng quê Việt Nam. Cây
đa bến nước, mái đình, mái chùa không tách rời trong tâm trí kỷ niệm của
mỗi người dân xe quê hương, nhớ tới nơi chôn rau cắt rốn, nhớ tới tổ tiên
ông bà, họ hàng, làng xóm. - Tiếng chuông chùa thu không vang lên trong
những buổi hoàng hôn đã đi vào nhịp sống thường nhật của mỗi người dân. Đã
có một thời kì dài trong lịch sử dân tộc, Phật giáo là quốc giáo, dù sau
này không còn giữ địa vị độc tôn nhưng tinh thần từ bi bác ái của Phật
giáo vẫn thấm sâu trong tâm hồn người Việt. Lên chùa lễ Phật, vãng cảnh,
không phải chỉ là việc làm của các Phật tử mà là của đông đảo các tầng lớp
nhân dân và thật sự là một nét đẹp trong việc giữ gìn bản sắc dân tộc.
Không thể nào coi việc lên chùa vãng cảnh lễ Phật là lạc hậu hay mê tín
như có một người, trước hết nó giúp người ta gác lại mọi lo toan nhọc nhằn
của đời thường hoặc những sầu não về tinh thần hay vật chất trong cuộc đấu
tranh kiếm sống… “Thế gian là một bể khố”, nhưng lần lên chùa lễ Phật đã
đem lại cho con người những giây phút thanh thản, hướng tới cái Thiện, cái
Chân, cái Mỹ của cuộc sống. Tâm hồn con người khi được tiếp xúc với điều
thiện sẽ có những khát khao trong sáng hơn để làm cho bản thân vươn lên
những biểu hiện nhân tình. “Con người là tổng hòa của các quan hệ xã
hội”, nhưng con người cũng là một sinh vật, một sinh vật cao cấp hơn tất
cả các sinh vật khác. Để khác và trên tất cả các sinh vật khác, bên cạnh
việc vươn lên nắm lấy tri thức khoa học tự nhiên và xã hội, phục vụ cho
đời sống con người ngày càng văn minh hơn, còn một mặt nữa mà con người
cần phải cố gắng vươn tới để hoàn thiện mình, đó là lĩnh vực tinh thần,
tâm hồn, đạo đức, tình cảm. Trong mỗi lĩnh vực việc vươn lên là vô tận,
không giới hạn. Chỉ có sự hài hòa giữa trí thức với tâm hồn, đạo đức và
tình cảm, con người mới dần dần tự hoàn thiện mình, tách xa khỏi loài thú
và vườn lên thánh thiện hơn như những Bồ Tất và Phật Thích Ca… Lên chùa lễ
Phật có thể khẳng định là sinh hoạt văn hóa mang bản sắc dân tộc cần được
bảo tồn, tôn trọng, tùy theo nhận thức nhu cầu cần thiết thuộc cõi tâm
linh của mỗi người. Đó cũng là quyền tự do tín ngưỡng mà hiến pháp đã ghi
nhận và cũng là quyền con người của xã hội văn minh.
Trong
một xã hội văn minh phát triển, luật lệ dù hoàn chỉnh đến đâu cũng không
thể ngăn ngừa được tội phạm, vả lại có biết bao nhiêu điều ác mà chưa là
tội phạm thì điều gì có thể giúp cho con người Việt Nam ta đẩy lùi điều ác
dù nó rất nhỏ bé để làm điều thiện, tại sao ta không khuyến khích cổ vũ
nhất là điều đó đã được cả dân tộc tin theo trong quá trình lịch sử. Một
vấn dề cơ bản của nhân sinh là tính người ta vốn “bản ác” hay “bản thiện”.
Ngày nay, chúng ta hiểu con người có quan hệ chặt chẽ với giáo dục và hoàn
cảnh môi trường, vai trò chủ động của con người trong việc hình thành nhân
cách, tại sao chúng ta lại không thừa kế những di sản thành tựu của mấy
ngàn năm lịch sử để làm cho con người có điều kiện vươn lên hoàn thiện
trên nhiều bình diện của cuộc sống muôn mầu muôn vẻ? Việt Nam là một xã
hội ở phương Đông, từ mấy chục thế kỷ nay dân tộc ta đã chịu ảnh hưởng sâu
sắc của Phật giáo và Nho giáo. Những yếu tố tích cực của Phật giáo và Nho
giáo còn tồn tại lâu dài trong đời sống văn hóa dân tộc, là di sản văn hóa
dân tộc, đã có tác dụng không nhỏ đến việc thúc đẩy xã hội phát triển.
Chúng ta
không quan niệm một xã hội văn minh phát triển chỉ có vẻ mặt vật chất kỹ
thuật, về tổng sản lượng quốc dân, về mức thu nhập bình quân… mà một xã
hội phát triển văn minh cần phải phát triển cả về mặt tinh thần với những
giá trị nhân bản cao quý với cuộc sống văn hóa tốt đẹp. Trong nhiều thế
kỷ, ở Việt Nam ta những giá trị nhân bản của Phật giáo đã thấm sâu trong
nhân dân cần được khơi dậy, phát huy trong đời sống thường ngày. “Người
người làm việc thiện, nhà nhà làm việc thiện, ngày ngày làm việc thiện”,
đó là điều xã hội ta mong ước. Có biết bao nhiêu việc thiện cần khuyến
khích làm. Có biết bao nhiêu điều ác dù nhỏ li ti trong đời sống thường
ngày như trong quan hệ với bạn bè, với hàng xóm láng giềng, với đồng
nghiệp, cấp trên, cấp dưới trong cơ quan ở mọi nơi, mọi chỗ, trên đường
đi, trong chợ búa, trong buôn bán giao dịch… dưới muôn hình vạn trạng, cần
được đẩy lùi, ăn năn, hối hận, triệt tiêu. Tất cả những cái xấu, cái ác đó
chỉ có thể bị đẩy lùi nếu như chúng ta biết phát huy tổng hợp những di
sản, bản sắc văn hóa tinh thần của dân tộc, những yếu tố tích cực của Phật
giáo trong cuộc sống hiện nay. Trong mỗi con người Việt Nam ta, cần được
khơi dậy tính thiện một cách tự giác tích cực, điều đó thì khó một ai có
thể “lên lớp” cho người khác, chỉ khi nào nó trở thành nhu cầu của mỗi
người. Lên chùa lễ Phật hướng tới điều thiện vốn dĩ là bản sắc văn hóa dân
tộc, cần được nhìn nhận đúng đắn và khuyến khích.
Lên chùa
lễ Phật để hướng tới điều thiện là nhu cầu của cõi tâm linh, hướng tới
cái Chân, cái Thiện cũng còn là để hướng tới cái Mỹ, để cảm nhận vẻ đẹp
của các ngôi chùa. Chùa Việt Nam nào cũng có vẻ đẹp, mỗi chùa có một vẻ
đẹp riêng. Như trên đã viết, cái đẹp của ngôi chùa trước hết gắn liền với
cái nhân, cái thiện mà kiến trúc của chùa biểu hiện cái nội dung đó. Mỗi
ngôi chùa gắn liền với lịch sử xa xưa của một vùng, một làng xóm, ở đó
những người sống trong chùa và ngoài chùa đã bằng công sức mồ hôi và trí
tuệ của mình, xây dựng nên những giá trị tinh thần và vật chất của mỗi
miền và của cả đất nước. Có người đã góp phần tích cực vào việc xây dựng
nhà nước Đại Việt ngay từ buổi đầu dựng nước như Pháp Thuận, Ngô Chân Lưu,
Vạn Hạnh, Huyền Quang… Nhiều người đã dốc cả cuộc đời vì cái thiện, là
những tấm gương về điều thiện cho dân chúng trong vùng noi theo. Đã có
thời kì trong hàng trăm năm, chùa là trường học, là nơi truyền bá cái
thiện, truyền bá văn hóa. Ngày nay ở vùng đồng bào Khơ me Nam Bộ, chùa vẫn
còn là trường học cho thanh thiếu niên trong vùng, chùa và trường là một
đủ cho thấy ý nghĩa văn hóa của ngôi chùa trong lịch sử dân tộc.
Cái đẹp
mà người lên chùa còn tìm thấy nữa là ở kiến trúc của ngôi chùa, mỗi chùa
được xây dựng có một vẻ đẹp riêng bởi bàn tay khéo léo của những nhà kiến
trúc dân tộc tài tình: nhà sư và dân chúng. - Cái đẹp của ngôi chùa còn
thể hiện rất rõ ở những pho tượng Phật với nhiều tư thế khác nhau. Vẻ đẹp
nhân bản của những pho tượng Phật đã thể hiện tâm hồn của những người đã
hi sinh cả cuộc đời cho sự cứu vớt chúng sinh người đã hi sinh cả cuộc đời
cho sự cứu vớt chúng sinh ra khởi bể khổ, đã được những nghệ nhân dân gian
sáng tạo, dù họ có phải tạo tác theo một công thức nào đó. Người lên ngôi
chùa sẽ tìm thấy ở trong hàng chục Pho tượng vẻ đẹp tinh thần tùy theo cảm
hứng tư tưởng và nghệ thuật của mỗi người.
Cái đẹp
bên trong của ngôi chùa kết hợp với cái đẹp bên ngoài của hình dáng kiến
trúc cụ thể, với cảnh quan môi trường xung quanh sẽ được cảm nhận tăng lên
ở mỗi người tùy theo sự lĩnh hội, cái hữu thế và cái phi vật chết của văn
hóa Việt Nam. Lên chùa lễ Phật để cảm nhận cái Chân, cái Thiện, cái Mỹ,
góp phần nâng tâm hồn nhân văn của con người Việt Nam, chính là giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
CHƯƠNG II
^
VÀI
NÉT VỀ ĐẠO PHẬT Ở VIỆT NAM VÀ HÀ NỘI
Đạo Phật
hình thành ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ 5 trước công nguyên. Người sáng
lập lại ra đạo Phật là Siddharha (Tất Đạt Đa), họ là Gautama
(Cổ Đàm) là con vua Suddhodama, trị vì bộ tộc Sakya ở miền
Bắc Ấn Độ. Ông sinh ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch của Trung Hoa và Việt Nam.
(Các sách viết về lịch sử Phật Thích Cau Mâu Ni viết đức Phật sinh “ngày
trăng tròn”, tháng Vaiskha, tức ngày 30 tháng 2 âm lịch Ấn Độ, tức ngày 15
tháng 4 âm lịch Trung Hoa và Việt Nam. Khi các nhà sư Ấn Độ truyền bá đạo
Phật ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch), vào khoảgn năm 563 trước công nguyên và
mất khoảng năm 438 trước công nguyên, thọ 80 tuổi.
Xã hội
Ấn Độ thời đó theo đạo Bàlamôn (Brahmanisme) và được phân chia thành 4
đẳng cấp:
1. Giới
tu sĩ Bàlamôn (Brahmas) là người da trắng, dòng Aryan, chịu trách nhiệm về
tôn giáo, là đẳng cấp tối cao của xã hội.
2. Giới
vương tướng (Kshatryas) gồm các vương công quý tộc (tướng lĩnh) là những
người bảo vệ trật tự, xã hội, công lý.
3. Giới
thực nghiệp (Vaishyas) gồm các tiểu chủ công nghiệp và thương nghiệp, có
nhiệm vụ quản lý và làm tăng của cải xã hội.
4. Giới
lao động (Shudras) gồm những người lao động chân tay ở nông thôn và đô
thị, sản xuất ra của cải và lương thực.
Ngoài
những người được xếp trong 4 đẳng cấp trên còn một loại nữa là lớp người
cùng khổ gọi là Parias.
Thái tử
Siddhartha đã nhận thấy nỗi khổ của con người với kiếp sống sinh, lão,
bệnh tật; bất bình trước sự phân chia đẳng cấp và kì thị mầu da, nên đã từ
bỏ đạo Bàlamôn, đến năm 29 tuổi, sau khi sinh trưởng một con trai tên là
Rahula, đã quyết chí bỏ nhà ra đi tu hành tìm con đường giải thoát cho
loài người khỏi mọi đau khổ trên đời.
Từ đó
Siddaharth được mọi người gọi là Sakya Muni (Thích Ca Mầu Ni), có nghĩa là
hiền nhân của dòng họ Sakya. Sakya Muni đã đi tìm nhiều nhà tu hành để hỏi
nguyên nhân và cách giải thoát nỗi khổ cho con người nhưng không ai trả
lời cho ngài được thỏa mãn. Ngài đã rút 5 người bạn cùng chí hướng đến
vùng núi chân dãy Himalaya (núi Tuyết Sơn) để tu theo lối khổ hạnh, mỗi
ngày chỉ ăn một hạt kê, một hạt vừng là uống một ngụm nước trong 6 năm
liền, nhưng không thấy kết quả. Nhận thấy lối tu hành đó đã không đạt được
kết quả, ngài đã ăn uống cho lại sức và đã đến ngồi dưới một gốc cây pipai
để tập trung suy nghĩ trong 49 ngày đêm. Ngài đã tìm ra nguyên nhân nỗi
khổ của chúng sinh, quy luật của cuộc sống và cách giải thoát khỏi mọi khổ
đau.
Trong
suốt 49 năm sau khi đã thành Bụt (bậc Giác Ngộ), ngài đã đi khắp lưu vực
sông Hằng để truyền bá tư tưởng của ngài mà ta quen gọi là đạo Phật. Đạo
Phật đã nhanh chóng được truyền bá sang khắp châu Á xung quanh Ấn Độ.
Đạo Phật
từ Ấn Độ được truyền sang Việt Nam vào buổi đầu công nguyên do các thương
gia và tăng sĩ Ấn Độ đến Việt Nam bằng đường biển. Trong thời gian lưu lại
Giao Châu (Việt Nam), các thương gia Ấn Độ có các tăng sĩ đi theo, đã đốt
trầm, đọc kinh, thờ Phật. Lúc đầu các nhà sư Ấn Độ giảng kinh và làm các
nghi lễ cho thương gia Ấn, sau đó họ truyền bá cho nhân dân Giao Châu con
đường giải thoát, theo đạo Phật. Trị sở của quận Giao Chi lúc đó là Luy
Lâu (còn gọi là Dâu, nay ở Thuận Thành, Hà Bắc) đã sớm trở lại một trung
tâm đạo Phật đầu tiên ở nước ta vào cuối thể kỷ thứ 2. Hai nhà sư Ấn Độ là
Maha Ksudra (Khâu Đà La) và Mada Jivaka (Kỳ Vực) đã đến vùng
Luy Lâu vào khoảng năm 168 - 189. Theo các sách sử thì chính từ Luy Lâu,
các nhà sư Ấn Độ đã đi lên phương Bắc và truyền đạo Phật sang Bành Thành
(kinh đô của nước Sở ở hạ lưu sông Trường Giang, thuộc tỉnh Giang tô ngày
nay) rồi từ đó truyền lên Lạc Dương (kinh đô nhà Đông Hán, trên bờ sông
Lạc, phía nam sông Hoàng Hà, thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay). Khi vua Tùy Văn
Đế Châu, làm chùa để thờ Phật thì lúc đó nhà sư Đàm Thiên đã nói với vua
Tùy: “Giao Châu có đường thẳng thông với Thiên Trúc. Khi Phật pháp mới tới
Giang Đông (đất Ngô) chưa đầy đủ gì thì ở Luy Lâu của Giao Châu đã có tới
20 ngôi bảo sát (chùa), độ được hơn 500 vị tăng và dịch được 15 cuốn kinh
Phật rồi. Thế là đạo Phật truyền đến Giao Châu trước khi đến Giang Đông”.
Mẩu đối thoại này đã được quốc sư Thông Biện thuật lại cho thái hậu Ỷ Lan
nghe tại cuộc họp các sư tại nhà chùa Trần Quốc nào năm 1096.
Chính do
đạo Phật được truyền vào nước ta từ Ấn Độ trước tiên nên trong ngôn ngữ
Việt Nam xuất hiện tiếng Bụt là do phiên âm tiếng Bouddha và nhiều truyện
cổ dân gian Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của đạo Phật như chuyện Tấm Cám… Từ
Phật để phiên âm Bouddha cũng được dùng là do sau này khi các nhà sư Trung
Hoa sang dùng để giảng kinh Phật, phiên âm qua tiếng Hán.
Tại Giao
Châu khi đó một người Trung Hoa tên là Mâu Bác, cũng gọi là Mâu tử,
sinh vào khoảng 165 - 170, chạy sang lánh nạn, từ chối làm quan với thái
thú Sĩ Nhiếp, đã học đạo Phật cùng tiếng Phạn (Sanscrit) với các nhà sư Ấn
Độ và tinh thông Phật pháp. Ông đã viét sách Lý Hoặc Luận (bàn luận
về cách xử lý những điều mê hoặc, sai lầm) gồm 37 câu hỏi và đáp để giới
thiệu về đạo Phật. Sách viết bằng chữ Hán, lời tựa có đoạn viết: “Sau khi
Hán Linh Đế mất (189), trong nước (Trung Hoa) rối loạn, chỉ có đất Giao
Châu tạm yên, những bậc dị nhân phương bắc đều đến ở đây, nhiều người theo
thuật tịch cốc trường sinh của thần tiên. Thời ấy có nhiều bậc học giả đến
đây, tôi (Mâu Tử) thường đem Ngũ Kinh ra vấn nạn, nhiều đạo gia và thuật
sĩ không làm sao đối đáp được”. Sách cũng cho biết đạo Phật ở Giao Châu
được trực tiếp truyền từ Ấn Độ sang chứ không phải từ Trung Hoa sang, các
nhà sư Giao Châu khi đó mặc áo cà sa đỏ, học kinh Phật bằng tiếng Phạn,
khi giao tiếp không quỳ.
Đạo Phật
đã phát triển mạnh ở Ấn Độ từ khoảng thế kỷ thứ 3 trước công nguyên đến
thế kỷ thứ 5 sau công nguyên rồi sau đó lu mờ dần trước sự phát triển của
Ấn Độ giáo. Trong quá trình phát triển đạo Phật đã phân chia ra làm 2
phái: phái Tiểu Thừa (Hinayâna) và phái Đại Thừa (Mahayâna). Tiểu Thừa có
nghĩa là “cỗ xe nhỏ”, ngụ ý chỉ chở một người. Phái Tiểu Thừa chủ trương
tuân theo sát những giáo lý của Phật Thích Ca Mâu Ni, giữ nghiêm giác ngộ
(Phật hóa) cho bản thân mình. Phái Tiểu Thừa phát triển xuống phía nam như
Sry Lan ca, sang Thái Lan, Cămpuchia và Đông Nam Á nên cũng gọi là Nam
Tông. Đại Thừa nghĩa là “cỗ xe lớn”, ngụ ý chở được nhiều người. Phái Đại
Thừa chủ trương không câu nệ, cố chấp vào giáo lý, rộng rãi trong việc
thựchiện giáo luật, thu nạp tất cả những ai muốn quy y, giác ngộ, thờ
nhiều Phật kể cả các Bồ Tát (Boddhisattva). Phái Đại Thừa phát triển lên
phương bắc như Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản… nên còn gọi là Bắc Tông.
Do đạo
Phật được truyền vào Việt Nam đầu tiên và trực tiếp từ Ấn Độ nên đạo Phật
ở Việt Nam ban đầu là đạo Phật Tiểu Thừa, Nam Tông. Sau này khi các thiền
sư Trung Hoa sang truyền đạo Phật ở Việt Nam lại mang mầu sắc Đại Thừa và
dần dần sau này xu hướng Đại Thừa là chủ yếu.
Khi đạo
Phật được truyền đến Giao Châu thì tín ngưỡng của dân bản địa là đa thần
giáo, thần linh ở mọi chỗ: thần Sấm, thần Sét, Mưa, thần Núi, thần Sông
(Sơn Tinh, Thủy Tinh) thần cây Đa, thần ông Táo, người chết còn linh hồn
tại cùng người sống và che chở cho họ. Khổng giáo và Lão giáo chưa xâm
nhập vào Giao Châu mạnh mẽ và sau này khi được phổ biến rộng rãi thì người
Giao Châu coi đó là phương tiện của kẻ đi áp bức đô hộ nên đã không được
tiếp nhận bởi đông đảo dân chúng. Đạo Phật truyền vào trên mảnh dất Giao
Châu không có sự cản trở của Khổng giáo và Lão giáo, lại dung hợp với tín
ngưỡng bản địa nên dã được tiếp thu dễ dàng như “nước thầm vào lòng đất”.
Thuyết nhân quả, nghiệp báo phù hợp với quan niệm Ông Trời trừng phạt kẻ
ác, cứu giúp người hiền lanh. Thuyết luân hồi phù hợp với quan niệm về
linh hồn tồn tại ssau khi xác chết đã tan biến… Kho tàng truyện cổ tích
Việt Nam đã thu nhập nhiều yếu tố từ Phật giáo Ấn Độ, truyện Tấm Cám là
một truyện nhân quả nghiệp báo trong đó Bụt (lấy từ chữ Buddha của chữ
Phạn) đóng vai Ông Trời, thấy được những bất công trên đời cứu giúp người
hiền lành, kiếp luân hồi được thể hiện trong nhiều lần hóa kiếp của cô
tấm. Trong dân chúng, đạo Phật chỉ là một tín ngưỡng bình dân.
Quan
niệm về Phật (Bụt). Dân Giao Châu coi Phật như một đấng có phép thần
thông hiểu biết mọi chuyện trên đời như ông Trời nhưng không ở trên cao
nhìn xuống, mà rất gần gũi con người. Bụt có thể hiện ra để cứu giúp những
người bị oan ức bất công nhưng khác với ông Trời ở chỗ không trừng trị kẻ
tàn ác. Bụt là đấng tối cao không mất đi, có thể biến hiện, không gì có
thể làm mất hoặc tan biến được.
Quan
niệm về Pháp. Người dân Giao Châu quan niệm về phép Bụt biến hiện thần
thông để cứu đời giúp người, dân chúng thường đọc để tỏ lòng quy kính Bụt
và cầu mong Bụt che chở. Theo phép Bụt dân chúng đọc tam quy (lúc đầu có
thể là tiếng Phạn sau đó là tiếng mẹ đẻ hoặc Hán Việt), cúng đường tăng
sĩ, bố thí cho người nghèo cho kẻ đói ăn. Phép Bụt cũng tin ở nghiệp báo
luân hồi và linh hồn bất diệt.
Quan
niệm về Tăng. Người Giao Châu cho đó trước hết là những SA Môn Ấn Độ,
là những tu sĩ khoác áo vàng, đầu cạo trọc từ bỏ đời sống gia đình, của
cải, thờ Bụt. Đọc kinh chữ Phạn, sống trên sự cúng dường của những người
theo Bụt. Ngoài Tăng Môn người Ấn Độ có Tăng Môn là người đã sinh sống tại
Giao Châu, còn người bản địa chưa thấy ghi lại.
Quan
niệm về nghiệp báo và luân hồi. Người Giao Châu quan niệm làm thành
thì gặp lành, ở ác thì sẽ gặp ác. Tín ngưỡng về linh hồn tồn tại ngoài thể
xác sau khi chết và vẫn tồn tại dễ dàng chấp nhận thuyết luân hồi, dẫn
người ta đến chỗ lo ăn ở nhân từ hiền lành, thương người và tu tạo phúc
đức. Muốn vậy phải từ bi bác ái cứu giúp và tu tạo phúc đức. Muốn vậy phải
từ bi bác ái cứu giúp người ốm đau hoạn nạn, bố thí kẻ nghèo nàn, cho cơm
ăn, nước uống, không trả thù người khác. Người dân phải làm công đức, dâng
thức ăn cho Tăng Môn, cho on người đói ăn. Kinh Tứ Thập Nhị Chương
có nói đến việc bố thí: “Cho một trăm người ác ăn cơm, có công đức, nhưng
công đức ấy không nhiều bằng cho một người hiền ăn cơm”.
Đạo Phật
đã thâm nhập vào đời sống của dân Giao Châu một cách tự nhiên không gặp
phản ứng và trở ngại vì những giáo lý của Phật giáo không chống đối lại
tín ngưỡng bản địa mà lại hòa nhập cùng những tín ngưỡng đó. Nay đối với
Khổng giáo và Lão giáo do những người Hán cai trị và tị nạn chiến tranh
phương bắc truyền sang thì Phật giáo cũng tìm cách hòa đồng mà không chống
đối. Chính sách “Lý Hoặc Luận” của Mâu tử đã sử dụng kho tàng giáo
lý của Khổng, Lão để phiên dịch kinh Phật và truyền đạt Phật giáo làm cho
nhiều người theo Khổng, Lão thấy được chiều sâu và giá trị của đạo Phật
một cách dễ dàng. Mâu Tử đã trả lời: “Ngũ Kinh ngày xưa đối với tôi chỉ là
hoa mà chưa là trái…”, “Không chắc là đất Hán nằm giữa. Tôi kính trọng đạo
Phật và tôi học Phật, không phải vì vậy mà tôi bỏ Nghiêu, Thuấn, Chu,
Khổng. Vàng ngọc không gây tì vết cho nhau, bích ngọc và mã não để chung
không sao cả. Khi ông cho người khác là lầm lạc có nghĩa là chính ông đã
lầm lạc không?…”, “Xe và thuyến không đi cùng một lối, nhưng đều đưa người
tới chốn”.
*
* *
Để thành
Phật (bậc Giác Ngộ) các Phật tử về sau lại có nhiều biện pháp để đạt tới
(tu hành). Đạo Phật bao gồm 3 tông phái là Thiền Tông, Mật Tông và Tịnh Độ
Tông. Đạo Phật khi vào Việt Nam cũng bao gồm 3 tông phái là Thiền Tông,
Mật Tông, và Tịnh Độ Tong.
THIỀN TÔNG
Thiền
(rút gọn của từ Thiền Na là phiên âm của tiếng Phạn Dhyna) có nghĩa là
tĩnh tâm, tập trung trí tuệ để suy nghĩ (thiền) tự mình tìm ra chân lý để
trở thành Phật. Tu theo Thiền Tông đòi hỏi khả năng trí tuệ, công phu tĩnh
tâm suy nghĩ nên chỉ thích hợp với tầng lớp thượng lưu có học.
Nhà sư
Khương Tăng Hội (gốc người Sogdiane vùng Trung Á) sinh ở đất Giao
Chỉ là người khởi thủy Thiền Tông tại nước ta trước tiên từ nửa sau thế kỷ
thứ 3. Theo Khương Tăng Hội, Thiền học không chỉ là những phương pháp hành
đạo mà còn là một căn bản triết học về tâm học. Khương Tăng Hội viết: “Tâm
là không có hình, không có tiếng, không có trước, không có sau, thâm diệu,
vi tế, không có tóc tơ, hình thức…” Thiên là phương pháp để chính tâm,
nhật ý, tập trung điều thiện duy trì trong tâm, ý thức những ý niệm nhơ
bẩn để thử diệt. Thiền có 4 trình tự:
- Nhất
thiền là khử bỏ tham ái, ngũ yêu là sự (như sắc, thanh, hương vị, xúc)
diệt trừ 5 sự ngăn che là tham dục, giận dữ, mê ngủ, dâm lạc, hối hận,
nghi ngờ.
- Nhì
thiền là đã thoát li oán thù, tiến tới diệt trừ quan niệm thiện ác chống
nhau, ý niệm vui sợ đều bị triệt, mười điều ác tuyệt dứt, không còn gì xâm
nhập tới tâm.
- Tam
thiền là giữ gìn tâm một cách kiên cố, cả thiện và ác không thâm nhập
được.
- Tứ
thiền là cả thiện và ác đều bỏ, tâm yên và sáng như ngọc.
Đạt được
tứ thiền thì muốn là gì cũng được.
Khương
Tăng Hội cũng chính là người đã truyền Thiền học sinh đất Đông Ngô (Trung
Hoa). Khi các nhà sư Vinitaruci, Vô Ngô Thông… đến Việt Nam vào thế kỷ thứ
VI, IX thì các chùa ở Việt Nam đã là những Thiền viện rồi. Tiếc rằng những
sách sử Phật học không còn ghi chép sự phát triển của Thiền học trong các
thế kỷ thứ 4 và 6, vì vậy khi nói tới Thiền Tông Việt Nam là người ta chỉ
thấy ghi chép các Thiền phái là Thiền phái Vinitaruci, Thiền phái Vô Ngôn
Thông, Thiền phái Thảo Đường, Thiền phái Trúc Lâm, Thiền phái Lâm Tế, Tào
Động, Liên Tông.
1. Thiền phái Vinitaruci.
Vinitaruci (Tì ni đa lưu chi) là người Ấn Độ qua Trung Hoa truyền bá đạo
Phật rồi đến chùa Pháp Vân ở làng Cổ Châu, Long Biên vào năm 580 và mấy
năm 594. Khi ông đến chùa Pháp Vân thì ở đó có Thiền sư Quán Duyên
đang dạy Thiền học cho Phật tử. Thiền phái Vinitaruci gồm 19 thế hệ, thiền
sư Y Sơn thuộc thế hệ 19, mất năm 1213.
2.
Thiền phái Vô Ngôn Thông. Năm 820 nhà sư Trung Hoa Vô Ngô Thông từ
Quảng Châu qua Việt Nam tu ở chùa Kiến Sơ, làng Phủ Đổng, huyện Tiên Du,
Bắc Ninh (nay là Gia Lâm, Hà Nội). Kiến Sơ là một chùa mới được thành lập
đã có một vị tăng là Lập Đức trụ trì. Vô Ngôn Thông mất vào năm 826. Thiền
phái Vô Ngô Thông gồm 17 thế hệ đến thế kỷ XIII. Thiền phái Vô Ngô Thông
chịu ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa sâu đậm hơn trong việc trình bầy
lịch sử Thiền, trong tổ chức tự viện, trong sử dụng thoại đầu và ở chỗ ảnh
hưởng Tịnh Độ giáo. Các thiền sư trong Thiền phái này thay vì chỉ dùng các
kinh Bát Nhã, đã sử dụng rất nhiều các kinh Viên giác,
Pháp Hoa, nhấn mạnh đến chủ trương Đốn ngộ và Vô Đắc vốn rất gần gũi
với Thiền phái phương nam của Trung Hoa, nhưng Thiền phái này cũng rất gần
gũi với đời sống xã hội, tham dự vào đời sống nhập thế trong khi vẫn duy
trì sinh hoạt tâm linh độc lập.
Thiền
phái Vô Ngô Thông nhấn mạnh thuyết đốn ngộ, chủ trương con người có
thể trong giây lát đạt được giác ngộ, khỏi cần đi qua nhiều giai đoạn tiệm
tiến. Thiền phái Vô Ngôn Thông nhấn mạnh nguyên tắc vô đắc, có
nghĩa là sự giác ngộ không thể do một ai khác trao truyền cho mình mà phải
tự thực hiện lấy. Phương pháp “thoại đầu” được sử dụng giữa thế kỷ IX, là
một câu nói hay một mẩu đối thoại có tác dụng thúc dẩy hay phát khởi sự
đạt ngộ nơi tâm tư người thiền. Thiền phái Vô Ngô Thông cũng chịu ảnh
hưởng của Mật giáo, được kế truyền với các thiền sư Không Lộ (Minh Không),
Giác Hải và Nguyện Học.
3.
Thiền phái thảo Đường. Năm 1069 vua Lý Thánh Tông đem quân đi đánh
Chiêm Thành có bắt được một nhà sư Trung Hoa sang đó truyền đạo Phật là
Thảo Đường. Khâm phục sức học và đạo đức của Thảo Đường, vùa đã phong làm
quốc sư. Thảo đường trụ trì tại chùa Khai Quốc (Trấn Quốc ngày nay) ở kinh
thành Thăng Long. Thiền phái Thảo Dương có khuynh hướng tri thức và văn
học, dung hợp Phật giáo và Nho Giáo. Khuynh hướng này cũng đã ảnh hưởng
đến các thiền phái Vinitaruci và Vô Ngô Thông và thiền phái Trúc Lâm đời
Trần. Thiền phái Thảo Đường gồm có 19 người trong 6 thế hệ, có tới 9 người
là cư sĩ gồm vua và quan như Lý Thành Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông.
Dưới
thời Đinh, Lê, Lý, Phật giáo đã đóng một vai trò quan trọng trong đời sống
tinh thần của dân tộc. Năm 971, vua Đinh Tiên Hoàng phong thiền sư Ngô
Chân Lưu làm Tăng thống. Các thiền sư tham gia cố vấn chính trị cho
các vua được gọi là quốc sư. Vạn Hạnh, Khô Đầu, Thông Biện, Viên Chiếu
là những tăng sĩ được ban danh hiệu quốc sư. Năm 1010 khi Lý Thái Tổ lên
ngôi đã chọn những người xuất sắc cho đi xuất gia. Năm 1016 ở kinh đô
Thăng Long có tới 1000 người đã được tuyển chọn để xuất gia làm tăng sĩ và
đạo sĩ. Cuối đời Lý số tăng sĩ quá nhiều, những tệ lậu đã nẩy sinh, vua Lý
Cao Tông đã cho khảo hạch các tăng quan và sa thải bớt. Dưới thời Lý, vua
đã sàin sang Trung Hoa lấy kinh Tam Tạng nhiều lần và cho xây dựng các nhà
tàng kinh như Bát Giác, Đại Hưng, Trùng Hưng, chép và khắc lại kinh.
Các nhà
sư thiền phái Vinitaruci như Lá Quý An, Pháp Thuận, Vạn Hạnh còn sử dụng
sấm vĩ học và phong thủy học để củng cố ý thức độc lập ổn định tình hình
triều đình phong kiến tự chủ những khi có tranh chấp lộn xộn. Sấm truyền
đã có tác động ổn định nhân tâm nhanh chóng. Khi Lê Ngọa Triều tàn ác bị
mọi người ghét bỏ thì thấy xuất hiện chuyện một con chó trắng trên lưng có
hai chữ thiên tử bằng lông đen, để nói lên vào năm Tuất (chó) sẽ xuất hiện
một người tuổi Tuất lên làm thiên tử (Lý Công Uẩn). Chuyện sét đánh chết
cây gạo thành một bài thơ có những câu như sau:
Chữ Hán:
Thụ căn điều điểu
Mộc biểu thanh thanh
Hòa đao mộc lạc
Thập bát tử thành
Đông a nhập địa
Dị mộc tái sinh
Chấn cung kiến nhật
Đoài cugn ấn tinh
Lục thất niên gian
Thiên hạ thái bình.
Dịch
nghĩa:
Gốc cây thăm thẳm
Ngọn cây xanh xanh
Cây hoa đào rụng
Mười tám hạt thành
Cành Đông xuống đất
Cây khác lại sinh
Đông mặt trời mọc
Tại sao ẩn hình
Sáu bảy năm nữa
Thiên hạ thái bình.
Sách
Đại Việt sử kí toàn thư viết: “Nhà sư Vạn Hạnh tự đoán riêng rằng:
Trong câu “Thụ căn điểu điểu”, chữ căn là gôc, gốc tức là
vua, chữ điểu đồng âm với chữ yểu, có nghĩa là nhà vua
chết yểu (Lê Ngọa Triều sẽ chết sớm). Trong câu “Mộc biểu thanh
thanh”, chữ biểu là ngọn, ngọn là bầy tôi, chữ thanh là
xanh đồng âm với chữ thanh là thịnh, nghĩa là một trong số quân
thần sẽ lên nắm chính quyền. Ba chữ hòa, đao, mộc viết lại thành
chữ Lê, lạc là rớt, tức là nhà Lê sẽ đổ. Ba chữ “Đông a nhập
địa” thì chữ đông và chữ a gộp lại thành chữ Trần
(nhà Trần sẽ nối tiếp nhà Lý. “Nhập địa” để chỉ người phương bắc sẽ
vào cướp (nhà Minh sang cướp nước). Trong câu “Dị mộc tái sinh” để
chỉ một cây khác lại nổi lên (chỉ nhà Hậu Lê)… Mấy câu sau ý nói vua thì
thứ nhân ở phương Tây lặn mất trong vòng sáu bảy năm nữa, nhà Lê hiện ra
thì nhà Lý sẽ mất.
4.
Thiền Phái Trúc Lâm
Đến đầu
thế kỷ XIII, 3 thiền phái Vinitaruci, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường dân hòa
nhập thành một. Do ảnh hưởng lớn của Trần Thái Tông và Tuệ Trung
thượng sĩ sự sáp nhập của 3 Thiền phái đã đưa tới sự phát triển của
Thiền phái Yên Tử thành Thiền phái Trúc Lâm tức là Thiền phái duy nhất đời
Trần. Thiền phái này với người mở đầu là Thiền sư Huyền Quang, xuất
phát từ núi Yên Tử. Tổ thứ 2 là Thiền sư Viên Chứng hiệu là Trúc
Lâm, được phong quốc sư, là thầy của vua Trần Thái Tông. Thiền phái Trúc
Lâm gồm 23 thế hệ. Vua Trần Thái Tông và Thánh Tông, cư sĩ thuộc thế hệ
thứ 3, 4. Vua Trần Nhân Tông xuất gia, lấy hiệu là Trúc Lâm Thiền
sư thuộc thế hệ thứ 6.
Năm 1236
vua Trần Thái Tông bỏ ngôi vua lên núi Yên tửu định đi tu, Viên Chứng là
đệ tử của Huyền Quang đã nói với vua: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở
trong tâm ta. Nếu tâm ta lắng lại và trí tuệ xuất hiện thì đó chính là
Phật. Nếu bệ hạ giác ngộ được tâm ấy thì tức khắc thành Phật ngay tại chỗ,
không phải đi tìm được cực nhọc bên ngoài”. (Tựa “Thiên Tông Chỉ Nam”).
Thiện sư cũng khuyên vua trở về trị dân: “Đã làm vua thì không còn có thể
làm theo ý thích của mình được nữa. Phải lấy ý muốn của dân làm ý thích
của mình được nữa. Phải lấy ý muốn của dân làm ý muốn của mình. Phải lấy
lòng dân làm lòng của mình. Nay dân đã muốn vua về thì vua không làm sao
được”?
Trần Thủ
Độ đem các quan lên núi Yên Tử đón vua về, đã nài nỉ nhiều lần, vua vẫn
không nghe liền nói: “Vua ở đâu thì lập triều đình ở đó”. Và: “Tôi dám nói
rằng bệ hạ vì sự tự tu cho riêng mình mà làm vậy thì được, nhưng còn sơn
hà xã tắc thì sao. Nếu để lời khen suông cho đời sau thì sao bằng láy ngay
thân mình làm người dẫn đạo cho thên hạ”.
Trần
Thái Tông đã viết: “Trẫm cùng mọi người trong triều trở về kinh, miễn
cưỡng lên ngôi báu. Ròng rã trong mười năm trời mỗi khi việc nước nhàn
rỗi, trẫm lại tụ họp các bậc kì đức để học hỏi đạo thiền. Các kinh điển
của hệ thống giáo lý chính, không kinh nào là trẫm không nghiên cứu”.
Trong bài tựa kinh “Kinh Cương Tam Muội”, Trần Thái Tông viết:
“Trẫm lo việc chăn dân, mỗi lúc gian nan thường lăn lóc trong công việc
quên cả sớm chiều. Công việc thì có hàng vạn thứ mà thời gian nhàn rỗi
không có được bao nhiêu. Siêng công việc, tiếc ngày giờ, trẫm cố học hành
thêm. Chữ nghĩa thì chưa biết được bao lăm cho nên ban đêm đến giờ khuya
vẫn còn phải thức để đọc sách, học sách Nho rồi học kinh Phật”.
Trần
Thái Tông sau khi ở núi Yên Tử về được 2, 3 năm đã lập Viện Tả Nhai
để làm nơi học tập đạo Phật và mời các bậc kì đức đến đàm đạo về thiên
học. Các thiền sư đó là: những người đang giảng dạy Phật giáo tại kinh đô
Thăng Long: Tức Lự, Ứng Thuận, Đại Đăng; Thiên Phong và Đức Thành
là 2 thiền sư từ Trung Hoa sang cũng có đến đàm đạo với vua.
Trần
Thái Tông đã viết các sách: Thiền Tông Chỉ Nam, Kinh Cương Tam Muội Kinh
chú giải, Lục Thì Sám Hối Khoa Nghi, Bình Đẳng Lễ Sám Văn, Khóa Hư Lục,
Thi tập. Những sáng tác đó đã thể hiện nhu yếu của một tâm hồn muốn
luôn luôn tự đánh thức mình trong cuộc đời, muốn thực hiện một cái gì có
giá trị vĩnh cửu cho con người, đó là sự ngộ đạo. Vua không phải là một
người tầm thường chỉ muốn hưởng thụ những lạc thú cuộc đời, muốn vươn tới
và tự nhủ đừng đánh mất mình trong ham thú hình sắc, thanh âm, hương vị,
cảm xúc.
Thái
Tông ở ngôi vua 32 năm, sau đó nhường ngôi cho con là Trần Thánh Tông, lên
làm Thái thượng hoàng, lui về ngự ở cung Thiền Trường.
Một ông
vua đời Trần đã xuất giai là Trần Nhân Tông, Trần Nhân Tông tên tục là
Trần Khâm, là con của Trần Thánh Tông, sinh năm 1258, lên ngôi vua năm 20
tuổi, ở ngôi 14 năm, làm Thái thượng hoàng 5 năm, đến năm 41 tuổi (1299)
xuất gia; mất năm 1308, lúc 51 tuổi. Năm 1299 Trần Nhân Tông cho xây một
thiền am trên núi Yên Tử gọi là Ngự Dược Am vào tháng 7, đến tháng
8 thì xuất gia, đặt pháp hiệu là Trúc Lâm. Từ đó trở đi Thiền phái Yên Tử
trở thành nổi tiếng, thế lực lan rộng trong triều đình và dân gian. Một
ông vua đã đánh bại cuộc xâm lăng của nhà Nguyên đem lại hòa bình cho đất
nước, khi xuất gia đã làm cho cả nước hướng về Yên Tử. Đạo Phật trở thành
yếu tố tâm lý liên kết toàn dân trong mục đích xây dựng vào bảo vệ đất
nước, có vai trò lớn trong đời sống tinh thần của nhân dân.
Trúc Lâm
đã góp phần tích cực cho việc xây dựng một xã hội trên nền tảng luân lý
Phật giáo, lấy giáo lý Thập thiện làm cơ bản cho đạo đức xã hội. Cuối năm
1304 vua Trần Anh Tông mời vua cha về cung và xin làm Bồ Tát tâm giới tại
gia, Nhiều quan lại trong triều thấy vua Anh Tông xin thụ giới tại gia
cũng đã phát nguyện xin theo và trở thành phật tử, Truyền thống Phật giáo
Yên Tử đến đời của Trúc Lâm đã mang nặng tính xã hội và nhập thế và được
gọi là Phật giáo Trúc Lâm, một thiền phái liên hệ mật thiết với chính trị
và phong hóa xã hội. Tháng 3 năm 1301 Trúc Lâm đi Chiêm thành để quan sát
Phật giáo tại đây, đã đàm đạo với vua Chiêm Thành là Chế Mân củng
cố tình hữu nghị và hòa bình giữa hai nước. Trong cuộc viếng thăm này vua,
“Trúc Lâm thiền sư” đã hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm.
Vua Chiêm dâng hai châu Ô và Lý làm sính lễ vào năm 1305 (4 năm sau). Đến
năm 1307 hai châu này được đổi thành Thuận và châu Hóa.
Năm 1308
Trúc Lâm mất, thiền sư Pháp Hoa nối pháp, trụ tì ở chùa Siêu Loại.
Trúc Lâm đã để lại những sách: Thièn Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục, Trúc Lâm
Hậu Lục, Thạch Nhất Mị Ngữ, Đại Hương Hải Ấn Thi Tập và Tăng Già Toái Sự.
Thiền
phái Trúc Lâm phát triển nhanh chóng. Năm 1313 Pháp Loa trụ trì tại chùa
Vĩnh Nghiêm ở Lương Giang, quy định chức vụ tăng sĩ, làm sổ tăng
tịch kiểm tra tự viện. Pháp Loa thấy số lượng tăng sĩ quá đông nên quyết
định 3 năm mới có một lần độ tăng, số người bịi thải ra có đến hàng ngàn
người. NGăm 1239 số tăng sĩ xuất gia trong giáo hội của Trúc Lâm đã đến
trên 15.000 người, Số tự viện là trên 100 ngôi. Tính đến năm 1329 Pháp Loa
đã xây 5 cây bảo tháp, hai cơ sở hành đạo Quỳnh Lâm và Báo Ân với trên 200
tăng đường, đúc tới 1300 tượng Phật lớnn nhỏ bằng đồng. Vua Trần Anh Tông
nhân ngày lên làm Thái thượng hoàng đã cho đúc 3 tượng đồng Phật Di Đà,
Thích Ca và Di Lặc, mỗi tượng cao 17 thước ta, Vua Anh Tông cũng đã cúng
(năm 1308) 100 mẫu ruộng của riêng, năm 1313 cúng 5 vạn quan tiền để bố
thí, sau đó cúng 500 mẫu ruộng, bảo vật thờ tự, vật liệu xây dựng vào chùa
Bảo Ân. Các vương công quý tộc trong triều đình cũng đua nhau cúng hiến
tiền và ruộng. Chùa Quỳnh Lâm có tới 1000 mẫu ruộng và 1000 tá điền.
Nối tiếp
Pháp Loa là Huyền Quang. Ông sinh năm 1254, nhiều hơn Pháp Loa tới
30 tuổi. Ông đã đi thi hương, thi hội, làm quan trong triều khoảng 20 năm
rồi xuất gia, trụ trì tại chùa Vân Yên trên núi Yên Tử. Sách “Tổ Gia
Thực Lực” có ghi lại chuyện hàm oan của ông với một cung nữ là Điểm
Bích.
Sau
Huyền Quang, Thiền phái Trúc Lâm không còn hưng thịnh nữa. Huyền Quang ở
trên núi Côn Sơn, ít giao du liên lạc với quan trong triều. Do quá dựa vào
triều đình không biết tìm thế đứng trong dân gian, khi sự ủng hộ của triều
đình không còn, do sự phát triển của Nho giáo đang lấn tới nên Phật giáo
tất sẽ suy. Phật giáo đời Trần hưng thịnh đến cực độ, đã liên kết nhân tâm
trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước. Tinh thần từ bi và khoan dung của
đạo Phật trong lúc đất nước bị ngoại xâm đã dẫn đến sự đoàn kết nhất trí,
nêu cao ý thức độc lập quyết đánh tại Hội nghị Diên Hồng. Phật học trong
đời Trần đã phát triển mạnh mẽ ở triều đình và giới trí thức trẻ ở kinh đô
Thăng Long, việc họcp Phật Trúc Lâm là một nền phật giáo độc lập, là xương
sống của nền văn hóa quốc gia phục vụ cho người Việt Nam, chính vì vậy nên
khi nhà Minh sang xâm chiếm đã tìm cách thu hết các sách vở đem về Kim
Lăng và năm 1419, chúng đã chở các sách của chúng sang thay thế.
Theo các
sách còn lại, đời Trần có khoảng 30.000 tăng sĩ, 15 quốc tự, chùa do vương
hầu và người giàu có tạo dựng là 330 chùa, chùa do quần chúng tạo dựng là
9.000 chùa, tổng số vào khoảng 9.500.
* Do sự
phát triển mạnh mẽ của đạo Phật dưới thời Lý - Trần, nền văn hóa Phật giáo
đã tạo nên 4 công trình nghệ thuật lớn mà các sách thường nói tới là An
Nam tứ đại khí.
1.
Tượng Phật chùa Quành Lâm. Chùa Quỳnh Lâm được xây dựng vào khoảng thế
kỷ II ở Đông Triều (Quảng Ninh), có pho tượng Di Lặc bằng đồng cao 6
trượng (1 trượng vào khoảng 4 mét, cao gần 24m) được đặt trong một Phật
điện cao 7 trượng. Đứng cách xa 10 dặm vẫn còn trông thấy nóc điện.
2.
Tháp Báo Thiện, Tháp Báo Thiên do vua Lý Thánh Tông cho xây vào năm 1057
trong khuôn viên chùa Sùng Khánh ở phía tây Hồ Lục Thủy (Hồ Gươm ngày
nay). Tháp gồm 12 tầng cao 20 trượng, xây bằng gạch và đá, riêng tầng thứ
12 đúc bằng đồng. Năm 1914 quân Minh xâm chiếm nước ta đã cho phá tháp
đồng để đúc súng. Đến khi Pháp xâm chiếm Hà Nội đã cho xây nhà thờ trên
nền tháp cũ.
3.
Chuông Quy Điền. Năm 1011 vua Lý Nhân Tông sau khi cho xây dựng chùa
Diên Hựu, Một Cột đã cho xuất hàng vạn cân (ta) đồng để đúc chuông treo
trong một tháp chuông cao 8 trượng. Nhưng khi đúc xong, chuông to và nặng
quá (tương truyền chuông cao 3 trượng (12m), đường kính 1,5 trượng (6m)
nên không treo lên được đành để ằm ở ngoài ruộng, là tổ cho loài rùa đến ở
nên gọi là chuông Quy Điền.
4.
Vạc Phổ Minh. Được đúc vào thời Trần Nhân Tông (1279 - 1293( và đặt
tại chùa Phổ Minh, làng Tức Mạc, Nam hà, (quê hương vua Trần). Tương
truyền vạc sâu 4 thước ta (1,6m), rộng 10 thước (4m) nặng trên 7 tấn. Vạc
to có thể nấu được cả một con bò mộng. Trẻ con có thể chạy nô đùa rên
thành miệng vạc. Đến nay vẫn còn trụ đã kê chân vạc trước sân chùa Phổ
Minh.
Tất cả
các thành tựu khoa học kỹ thuật đó đều dã bị quân Minh sang xâm chiếm nước
ta phá theo lệnh của vua Minh Thành Tổ năm 1406 và 1407.
Dưới đời
Trần, đạo Phật không còn được độc tôn như các thời trước, Nho giáo đã phát
triển, bên cạnh các kì thi Tam giáo (Phật, Lão, Nho) đã có tổ chức các kì
thi Nho học riêng đào tạo tầng lớp trí thức Nho học, một số đã công kích
đạo Phật như Lê Bá Quát, Trương Hán Siêu.
Lê Bá
Quát viết trong bia chùa Thiện Phúc ở Bắc Giang phê phán việc tôn sùng
đạo Phật quá mức trong triều đình và dân chúng.
“Đạo
Phật lấy phúc, họa cảm động người ta mà sao được lòng người sâu xa bền
chặt đến thế? Trên từ vương công dưới đến dân thường, hễ đối với đạo Phật
dâng hết của cũng không tiếc. Nếu được ủy thức trông coi làm chùa thì hớn
hở như đã nắm chắc tả khoán để được báo lại ngày mai. Cho nên từ trong
kinh thành đến ngoài châu phủ, thôn cùng ngõ hẽm, không có lệnh mà theo,
không phải thề mà tin, chỗ nào có người ở là có chùa, rồi lại dựng, nát
rồi lại sửa, chuông trống lâu đài so với nhà dân đã chiếm phần nửa, xây
dựng rất dễ mà tôn sùng cũng rất rộng…”.
Trương Hán Siêu cũng viết văn bia chùa Khai Nghiêm, Bắc Giang:
“Chùa đã đổ lại đựng, đó không phải là ý của ta, bia dựng và khắc thì việc
gì ta nói. Hiện nay thánh triều đem giáo hóa nhà vua như cơn gió thổi lên
để chấn chỉnh phong tục đồi bại, thì dị đoan cần bỏ chính đạo nên theo.
Phàm kẻ sĩ phu không phải đạo Nghiêu Thuần không nên tâu ở trước vua.
Không phải đạo Khổng mạnh không nên chép thành sách, thế mà nhiều kẻ không
làm thế, cứ chăm chăm lầm rầm niệm Phật thì hòng nói dối ai?”
Dưới
thời Lê, không còn các kì thi Tam giáo nữa, Nho giáo đã trở thành quốc
giao. Nhà nước phong kiến Việt Nam đã tìm thấy ý thức hệ để củng cố chế độ
phong kiến là Nho giáo. Năm 1429, vua Lê đã bắt các tăng sĩ và đạo sĩ phải
đến dự khảo thi, ai thi hỏng bắt hoàn tục. Vì khảo hạch này theo lối từ
chương của Nho giáo làm cho chỉ có những người hay chữ mới được gọi là
tuâhnfh chân chính còn dù những người mộ đạo và tâm thành nếu không diễn
đạt được đức tin và kiến thứuc của mình bằng văn chương cũng bị hoàn tục.
Nhà sử
học Ngô Sĩ Liên đã công kích các kì thi tam giáo đời Trần.
Ngô
Sĩ Liên, trong Đại Việt sử ký toàn thư đã phê phán: “Đạo chỉ là
một, nogài đạo tu nhân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, không còn có gì
gọi là đạo nữa… Do thế người đời mê tín, uống thuốc ăn quả để cầu thành
tiên, ăn chay tụng kinh để hòng thành Phật nhưng hỏi đến tôn chỉ của Tiên,
Phật đều không biết gì. Chính như lời Cổ Hoan đã nói, tín đồ Phật giáo là
sa môn đánh dấu thuyền, tín đồ Lão giáo là đạo sĩ ôm gốc cây (ý nói cố
chấp) có gì là thông mà đáng thi, (thi Tam giao đời Trần) mà là cũng cho
đỡ giáp khoa với ất khoa?”.
Vào thế
kỷ 15 chỉ có nhà nho Lương Thế Vinh, đậu trạng nguyên năm 1463, đã viết
“Thiền Môn Khoa Giáo” và đề tựa “Nam Tông Tự Pháp Đồ”.
5.
Thiền phái Lâm Tế, Tào Động, Liên Tông
Vào
khoảng giữa thế kỷ XVII, một số cao tăng từ Trung Hoa sang Đại Việt hành
đạo. Sau gần một thế kỷ rưỡi loạn lạc đầy bạo động, lòng tin vào Tống Nho
đã lung lay, bất lực và suy thoái. Các chúa Trịnh và Nguyễn tuy không hành
đạo, chỉ là tín đồ Phật giáo nhưng đã tìm thấy ở Phật giáo chỗ dựa tinh
thần là một nguyên nhân dẫn đến sự phục hưng Phật giáo. Thiền phái Lầm
Tế từ Trung Hoa được truyền sang, ở Đàng Ngoài do các thiền sư
Chuyết Chuyết và Minh Hành, ở Đàng Trong do thiền sư Nguyễn
Thiều và Minh Hoằng. Đồng thời thiền phái Tào Động cũng
được truyền sang Đại Việt lần đầu, ở Đàng Ngoài do thiền sư Thủy Nguyệt
sang du học đem về, Đàng Trong do các thiền sư Hưng Liên và Thạch Liêm đưa
tới.
Chuyết Chuyết sinh năm 1590 tại Phúc Kiến. Năm 1630 ông đi thuyền qua
Miên rồi qua Chiêm Thành và đến Đại Việt. Năm 1633 đến Thăng Long, giảng
dạy Phật pháp ở chùa Khán Sơn, sau đó dời về chùa Phật Tích. Chúa Trịnh
Tráng và vua Lê Huyền Tông rất kính trọng. Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc
và công chúa Trịnh Thị Ngọc Duyên xuất gia tại chùa Phật Tích. Chúa Trịnh
Tráng cho trùng tu chùa Ninh Phúc ở Bút Pháp. Chuyết Chuyết sang trụ trì ở
đó mà mất năm 1644, thọ 55 tuổi. Chuyết Chuyết thuộc về thế hệ thứ 34 dòng
Lâm Tế. Khi Chuyết Chuyết mất thì Minh Hành trở thành viện chủ chùa Ninh
Phúc. Ông mất năm 1659, được dựng tháp ở chùa để thờ.
Vào thế
kỷ XVII Thiền phái Tào Động được truyền vào Đại Việt cả ở Đàng Trong lẫn
Đàng Ngoài. Thiền sư Thủy Nguyệt quê ở Hưng Nhân, Thái Bình đã sang
học tại Hồ Châu 3 năm, sau khi về nước đã trụ trì ở Đông Triều, Hải Dương.
Thiền Phái Tào Động được tịnh hành cuối thế kỷ XVII và thế kỷ XVII, các
chùa Hàm Long, Hòe Nhai và Trấn Quốc đều thuộc Thiền phái Tào Đọng.
Thiền
phái Liên do Lân Giác thượng sĩ sáng lập. Ông tên là Trịnh Thập
là con của Trịnh Bình em ruột chúa Trịnh Cương, được lập phủ đệ ở phường
Hồng Mai (nay là Bạch Mai), sau đó biến thành chùa để tham Thiền và đọc
kinh Phật, đặt tên là chùa Liên Hoa. Lân Giác thượng sĩ đã đến Yên Tử học
đạo với nhà sư Tuệ Đăng. Ông là tổ thứ nhất của dòng Liên Tông.
Chùa Liên Tông đến đời Thiện Trị đổi tên là chùa Liên Phái (vì phải
kiêng húy vua). Thiền sư Phúc Điền, thuộc thế hệ sau đã trụ trì ở
chùa Liên Tông (Liên Phái, Bạch Mai) đã biên soạn sách Đại Nam Thiền
Uyển Truyền Đăng Tập Lục, được khắc và in vào năm 1859.
MẬT TÔNG
Mật Tông
là giai đoạn phát triển thứ 3 của Phật giáo Đại Thừa ở Ấn Độ. Giai đoạn
thứ nhất là Bát Nhã, giai đoạn thứ 2 là Duy Thức. Mật Tông
bắt nguồn từ tư tưởng của Bát Nhã và tín ngưỡng dân gian Ấn Độ. Mật Tông
chấp nhận sự có mặt của các thần linh được thờ cúng trong dân gian, do đó
đạo Phật được phát triển sâu rộng trong sinh hoạt quần chúng. Ở Việt Nam
khuynh hướng này rất phù hợp với phong tục tín ngưỡng của người Việt nên
Mật Tông trở thành một yếu tố khá quan trọng trong sinh hoạt thiền môn.
Theo Mật Tông, trong vũ trụ có tàng ẩn những thế lực siêu nhiên, nếu ta
biết sử dụng những thế lực siêu nhiên kia thì ta có thể đi nhanh trên con
đường giác ngộ thành đạo khỏi phải đi tuần tự từng bước. Sự sử dụng thế
lực thần linh thần chú, ấn quyết… có thể hỗ trợ cho thiền quán hành đạo.
Chính vì khuynh hướng này của Mật Tông nên Phật giáo đã bao trùm mọi tín
ngưỡng dân gian trong lòng nó ở Ấn Độ cũng như ở Việt Nam. Các thiền sư
Vạn Hạnh, Thiền Nham, Đạo Hạnh đều thể hiện những yếu tố này.
Vào năm
1963, phát hiện ở Trường Yên, kinh đô Hoa Lư có một bia trụ đá tám mặt
khắc bài kệ của kinh Tổng Trì của Mật Tông do vua Đinh Liễn
tạo dựng, điều đó cho ta thấy Mật Tông được phổ biến dưới triều Đình và
Tiền Lê. Một nhà sư Mật Tông là Mahamaya người gốc Chiêm Thành giỏi
cả tiếng Phạn lẫn tiếng Hán, làm quan dưới thời Lê Đại Hành, đã thoát ra
khỏi ngục khi bị vua giam, khuyên dân chúng Thanh Hóa không nên giết hại
súc vật để thờ cúng. Sách Đại Việt sử kí toàn như có ghi chép một
nhà sư Mật Tông Tây Tạng tên là Du Chi Bà Lam đến Việt Nam
vào thời Trần Nhân Tông: “Ông dung mạo đen sạm, tự nói là 300 tuổi, có thể
xếp bằng nổi trên mặt nước, lại có thể thu cả ngũ tạng lên trên ngực, làm
cho bụng lép đi như không có gì…” Đồi Trần Minh Tông cũng có một nhà sư từ
Ấn Độ sang, cũng có thể nổi trên mặt nước.
Yếu tố
Mật giáo trong đạo Phật ở Việt Nam trong buổi đầu thời kì độc lập tự chủ
cũng đã dựng nên chuyện thiền sư Minh Không sang Trung Hoa xin
đồng, vác hết cả kho đồng trong một tay nải mang về nước.
Ông tự
là Không Lộ, họ Nguyễn, tên là Chí Thành sau khi đi Tây Trúc học kinh, đã
về quê dựng chùa Diên Phúc, muốn đúc tượng Phật nhưng không đủ đồng nên đã
đi sang Trung Hoa để xin vua cho đồng. Minh Không mặc áo cà sa, chống tích
trượng vào triều, ngỏ ý xin đồng. Vua Trung Hoa thấy Minh Không đi một
mình, đường về Đại Việt xa xôi ngàn dặm, bèn nói là cho Minh không tùy ý
lấy bao nhiêu thì lấy.
Không
ngờ Minh Không với một chiếc tay nải trên vai đã lấy hết đồng trong kho
của vua. Vua tiếc mà không làm sao lấy lại được vì đã chót nói lấy bao
nhiêu tùy ý rồi. Mang đồng về đúc xong đỉnh tháp Báo Thiên (Hà Nội),
chuông chùa Diên Phúc (huyện Giao Thủy) nơi Minh Không trụ trì, vạc Phổ
Minh và tượng Phật. Minh Không đọc bài kệ:
“Nổi trên mặt đại cương
Cánh tay nặng ngàn cân
Kho đồng trong một túi
Giây phút vượt ngàn trùng”.
Sau đó
vua Lý Nhân Tông đã phong Minh Không là quốc sư. Đến khi vua Lý Thần Tông
bị bệnh, mọc long đầy người và rống lên như mãnh hổ, triều đình đã sai sứ
đến chùa Diên Phúc đón Minh Không về kinh chữa. Minh Không nói đã biết
trước chuyện đó cách đây 30 năm, lấy một nồi cơm nhỏ nấu cơm thết đãi sứ
và quân lýnh, nhiều người ăn mà vânhững không hết. Đến khi xuống thuyền
lên kinh đô thì thiền sư đã làm phép cho thuyền đi nhanh như tên bắn, mọi
người thức dậy thì đã nhìn thấy tháp Báo Thiên. Vào đến triều đình thấy
vua đang lồng lộn gầm thét, Minh Không nói to thì vua sợ, không dám lồng
lộn nữa. Minh Không sai nấu một chảo dầu sôi, bỏ vào đấy 100 cây đinh sắt
rồi lấy tay khoắng đầu, với đinh ra và ném lên người vua. Tự khắc lông lá
trên người vua rụng hết và khỏi bệnh!
Minh
Không sinh năm Bính Thìn, ngày 14 tháng 6 năm Giáp Tuất, được tạc tượng
thờ trong chùa Lý Quốc Sư huyện Thọ Xương (nay ở phố Lý Quốc Sư).
Câu
chuyện nhà sư Đạo Hạnh (để báo thù cho cha, đã tu ở chùa Thầy, tụng
kinh Mật giáo dù một vạn tám nghìn lần, đã đắc đạo, và dùng pháp thuật
đánh chết Đại Điên) đã cho thấy Mật Tông là một dòng của Phật giáo dưới
thời Lý (theo Thiều Uyển Tập Anh ngữ lục). Hiện nay các chúa Láng, Thánh
Chúa (Hà Nội) và chùa Thầy (Hà Tây) bên cạnh việc thờ Phật, đều có thờ Đạo
Hạnh.
TỊNH ĐỘ TÔNG
Theo một
số tài liệu Trung Hoa thì các nhà sư Samghavaman (Kha Tăng Khải) ở
thế kỷ thứ II, Kumarijiva (Cựu Ma La Thập) ở thế kỷ thứ 4 và
Kalyâcn (Cửu Lương Đa Xá) ở thế kỷ thứ V đã đặt nền móng cho Tịnh Độ Tông
ở Ấn Độ. Tịnh Độ Tông được truyền vào Việt Nam từ sớm qua câu chuyện viết
vào năm Tống Vĩnh Sơ (420 - 422) như sau:
“Sư Đàm
Hoàng đi về phương nam, đến Phiên Ngung dừng lại ở chùa Đài, sau đến chùa
Viên Sơn ở Giao Chỉ tụng Vô Lượng Thộ kinh và Quán Kinh, lòng nguyện vãng
sinh Tịnh Độ…”.
Khác với
Thiền Tông, Tịnh Độ Tông với phương pháp tu hành đơn giản, chủ trương dựa
vào sự giúp đỡ từ bên ngoài (tha lực). Các tín đồ Phật tử nhờ luôn niệm
danh “Phật A Di Đà” nên được sự giúp đỡ của ngài sẽ đạt được chính quả. Sự
giúp đỡ từ bên ngoài rất quan trọng, Phật Thích Ca đã có lần thuyết giảng
rằng: “Một viên đá dù nhỏ đến mấy mà ném xuống nước thì nó cũng chìm.
Nhưng một hòn đá dù to đến mấy, nếu đặt trên bè thì nó vẫn nổi” Thực ra
Tịnh Độ Tông là biện pháp tu hành đáp ứng nguyện vọng của đa số quần chúng
thất học, chính vì thế nên sau khi ra đời, Tịnh Độ Tông đã phát triển
nhanh chóng. Theo Tịnh Độ Tông cái tâm hơn cái học vấn. Phật tử thành tâm
tin vào Phật A Di Đà, ngày ngày niệm Phật thì sẽ được an cư lạc nghiệp,
khi chết (giải thoát) sẽ được về cõi Tịnh Thổ. Tịnh Độ Tông gợi cho Phật
tử hướng về cõi Tịnh Độ, nơi yên tĩnh trong sáng, không có khổ đau, đó
cũng là chốn Tây Phương cực lạc, là nơi do công đức của Phật đã kiến tạo
trải qua nhiều kiếp. Theo Tịnh Độ Tông thì không có phân biệt người thông
kinh sử với người không có thuộc kinh, người ngay với kẻ dữ, người tu hành
với kẻ sống trần tục, mọi người đều bình đẳng trước Phật A Di Đà trong
những lúc tưởng niệm đến Ngài, sẽ được ngài giúp đỡ, lúc từ giã cõi đời sẽ
được Phật A Di Đà tiếp dẫn về cõi Tịnh Thổ. Nhờ cách tu đơn giản như vậy
nên trong dân gian người ta tin Phật ngày càng đông và tượng A Di Đà ở
chùa nào cũng có và được tạc to, mỹ thuật.
Đối với
đại đa số dân Việt Nam trước đây, số người biết chữ Hán để đọc kinh Phật
rất hiếm, người có điều kiện đi học thì nhằm mục đích để thi đỗ ra làm
quan, vì vậy biện pháp tu theo tâm, hướng về Phật và niệm danh Phật A Di
Đà của Tịnh Độ Tông là một cách thu hút dễ dàng đông đảo người dân. Vì
vậy, từ sau đời Trần, khi Phật giáo bị các nhà nho công kích, không còn
được triều đình nâng đỡ nữa thì đạo Phật vẫn được phổ biến trong dân chúng
với Tịnh Độ Tông.
Tuy đạo
Phật phân chia ra thành 3 tông phái Thiền Tông, Mật Tông và Tịnh Độ Tông
nhưng khi được truyền bá và thâu nhận ở Việt Nam thì không có sự tách biệt
rạch ròi mà là một tổng hợp các tông phái cùng với tin ngưỡng bản địa,
không có tông phái nào thuần khiết. Tuy Thiền Tông chủ trương: “Tâm là
không có hình, không có tiếng, không có trước, không có sau, thâm điệu, vi
tế, không có tóc tơ hình thức”, nhưng các Thiền sư ở Việt Nam đã để lại
rất nhiều trước tác về đạo Phật và văn học có giá trị. Thiền phái
Vinitaruci lại pha trộn với Mật Tông, nhiều thiền sư tham gia chính trị
góp phần củng cố nền độc lập tự chủ, đánh đuổi ngoại xâm. Mật Tông cũng có
một vị trí trong đạo Phật ở Việt Nam do phục vụ cho những nhu cầu chữa
bệnh, ước muốn của người dân trong khi chưa làm chủ được các hiện tượng xã
hội và tự nhiên, đã kết hợp với tín ngưỡng bản địa, nên vẫn tồn tại trong
dân chúng cho đến ngày nay. Đạo Phật ở Việt Nam không có sự tách bạch giữa
các phương pháp tu hành để giải thoát, chủ trương dung hợp giữa tự lực và
tha lực, có sự cố gắng của bản thân và sự giúp đỡ từ bên ngoài, kết hợp
Thiền Tông với Tịnh Độ Tông.
Sự kết
hợp giữa các tông phái đã được thể hiện ngay trong các chùa trong việc thờ
Phật. Chùa ở Việt Nam có rất nhiều tượng Phật, Bồ Tát, La Hán, A Di Đà,
Quan Âm, mỗi loại tượng cũng lại có nhiều dạng như Thích Ca Thuyết Pháp,
Thích Ca Sơ Sinh, Thích Ca Tuyết Sơn, Thích Ca ngồi tòa sen, Thích Ca nhập
Niết Bàn. Quan Âm có Phật Bà Quan Âm, Quan Âm Tống Tử, Quan Âm Nam Hải,
Quan Âm Thị Kính…
* * *
Vào thế
kỷ XVIII trong nước có nhiều cuộc chiến tranh, loạn lạc, chùa chiền bị đổ
nát, đạo Phật cũng không có điều kiện phát triển. Sau khi nhà Tây Sơn dẹp
được chúa Nguyễn và chúa Trịnh, đã quan tâm chấn hưng đạo Phật, xuống
chiếu chỉ xây cất các chùa lớn đẹp (chùa Kim Liên, chùa Tây Phương…) cho
chọn các nhà sư có học thức và đạo đức trông coi chùa và giảng kinh Phật
cho dân chúng.
Đến thế
kỷ XIX các vua triều Nguyễn cũng cho tu bổ các chùa. Năm 1830 vua Minh
Mệnh giao cho bộ Lễ triệu tập cao tăng các tỉnh về kinh để xem xét, cấp
giới đạo và độ điệp, cả thấy được 53 người. Nhiều thiền sư đã viết các
sách kinh Phật.
Cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nước ta trở thành thuộc địa của thực dân Pháp, đất
nước có nhiều biến động do tiếp xúc vưói văn hóa phương Tây, đạo Phật đã
có những chấn hưng, với những tổ chức Phật giáo 3 kì, có báo chí để phổ
biến giáo lý. Những cuộc tranh luận về đạo Phật đã nổi ra xoay quanh những
vấn đề như Phật giáo vô thần hay hữu thần, linh hồn và thể xác, phật tử
xuất thế hay nhập thế…
Đạo Phật
đã thâm nhập trong đời sống của người Việt Nam như vào trong máu thịt, có
thể nói là phần lớn người Việt Nam không theo đạo Thiên Chúa thì đương
nhiên theo đạo Phật dưới nhiều hình thức như tu tại gia, lên chùa lễ Phật
ngày lễ và ngày rằm và mồng một, treo trong nhà ảnh Phật hoặc lúc đau khổ
gặp nạn niệm “Na Mô A Di Đà Phật”… Theo số liệu năm 1993 của Ban tôn giáo
chính phủ thì số tín đồ Phật từ xuất gia vào khoảng 3 triệu người, số
thường xuyên đến chùa lễ Phật vào khoảng 10 triệu người, số chịu ảnh hưởng
của đạo Phật vào khoảng vài chục triệu người.
CHƯƠNG III
^
GIÁO LÝ
ĐẠO PHẬT - ĐẠO PHẬT DÂN GIAN
Đạo Phật
là một tôn giáo lớn ở Ấn Độ cổ đại, đã trở thành một tôn giáo thế giới,
ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời sống tinh thần của nhiều dân tộc phương Đông
trong đó có Việt Nam chúng ta. Với mục đích nhằm giải phóng con người khỏi
mọi khổ đau bằng chính sự giác ngộ của con người với cuộc sống đức độ, đạo
Phật đã nhanh chóng chiếm được niềm tin và tình cảm của đông đảo dân
chúng. Vấn đề chính và cấp bách nhất đối với Phật Thích Ca là giải thoát
nhân loại, Người đã nói: “Cũng như nước của tất cả các đại dương chỉ có
một vị, vị mặn của chất muối, tất cả đạo lý của ta chỉ có một hướng, hướng
giải thoát” hay: “Ta chỉ dạy một điều: KHỔ và DIỆT KHỔ”.
Giáo lý
đạo Phật được thể hiện trong các thuyết pháp về Tứ Diệu Đế (bốn chân lý kì
diệu) và Thập Nhị Nhân Duyên (12 mối quan hệ trong sự tồn tại của con
người).
Tứ
Diệu Đế là:
1.
Khổ Đế. (Dukhha) là chân lý về bản chất nỗi khổ của loài người. Đạo
Phật cho cuộc đời là bể khổ, những đau khổ đó là sinh, lão, bệnh, tử. Con
người triền miên trong ngũ trọc, cũng gọi là ngũ uẩn thì
không sao dứt ra khỏi khổ. Ngũ uẩn là: sắc uẩn (hình thể con
người), thụ uẩn (sự cảm giác), tưởng uẩn (sự tưởng tượng),
hành uẩn (các hành vi), thức uẩn (ý thức).
2.
Tập Đế hay Nhân Đế. (Samudaya) là chân lý về nguyên nhân nỗi
khổ. Con người khổ là do ái dục và vô minh (do ham muốn và
kém sáng suốt), do tham, sân, si (tham lam, giận dữ và ngu dốt).
Con người ta vướng vào tham muốn sống, tham sướng, tham mạnh… tìm mọi cách
thỏa mãn lòng tham, lòng ham không thỏa mãn sẽ gây đau khổ.
3.
Diệt Đế (Nirodha) là chân lý về cách diệt khổ. Nỗi khổ của con người
sẽ bị diệt khi nguyên nhân gây ra khổ bị loại trừ là cái dục và vô mình.
Sự tiêu diệt khổ đau trong con người đạt được, được gọi là Niết Bàn
(Nirvana) nghĩa là dập tắt ngọn lửa phiền não.
4.
Đạo Đế (Magga). Là chân lý chỉ ra con đường diệt khổ. Con đường diệt
khổ, giải thoát đòi hỏi phải rèn luyện đạo đức (giới), phải rèn luyện tư
tưởng (định) và phải khai sáng trí tuệ (tuệ). Việc rèn luyện giới, định,
tuệ được cụ thể hóa trong BÁT CHÍNH ĐẠO (tám con đường chân chính). Bát
chính đạo là:
a.
Chính kiến là cần hiểu biết đúng đắn, kiến giải chính xác, thành thực
mà tin tin theo.
b.
Chính tư duy là suy nghĩ đúng đắn.
c.
Chính ngữ là nói năng thành thật, hòa ái.
d.
Chính nghiệp là làm những việc tốt.
e.
Chính mệnh là nuôi sống mình bằng nghề nghiệp chính đáng, lương thiện,
làm mà sống, không ăn bám, bóc lột.
g.
Chính niệm là luôn luôn nghĩ đến những điều lành, điều thiện.
h.
Chính tịnh là nỗ lực làm cách tiến bộ nhanh chóng.
i.
Chính định là định tâm trí, tập trung tư tưởng vào một vấn đề đã được
cho là chính đáng.
Trong 8
con đường vạch ra thì chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh thuộc về lĩnh
vực rèn luyện đạo đức (GIỚI), chính niệm, chính định thuộc về lĩnh vực rèn
luyện tư tưởng (ĐỊNH), chính kiến, chính tư duy, chính tính tiến thuộc về
lĩnh vực khai sáng trí tuệ (TUỆ).
Bát
chính đạo là con đường trung đạo dắt dẫn chúng sinh đang mê muội tham lam,
trầm luân trong bể khổ đi vào con đường sáng suốt, dẫn tới cõi Niết Bàn.
Mỗi người đều có Phật tính (giác ngộ) đều có thể nỗ lực làm được theo
được.
Thập nhị nhân duyên
^
Triết lý
Phật giáo quan niệm con người ta sinh, tử trong vòng luân hồi không ngừng
trong 6 cõi là Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, A-tu-la, Sa bà (trần thế) và
cõi Tịnh (Tây Phương cực lạc). Nhân duyên quả báo là 2 trạng thái nối tiếp
và tương quan mật thiết với nhau, nghĩa là phải có nhân mới có quả, không
có quả thì cũng không có nhân. Có thể gieo nhân gặt quả ngay tức thời, có
thể gieo nhân đời này gặt quả ngay tức thời, có thể gieo nhân đời này gặt
quả đời này, có thể gieo nhân đời trước gặt quả đời sau, có thể gieo nhân
từ các đời trước, gặt quả các đời sau. Trong quan hệ nhân quả thì nhân
duyên là những tác động giúp cho nhân sinh quả. Nhân và quả có 12 quan hệ
gọi là thập nhị nhân duyên, đó là: Con người có thân thì có khổ
(ốm đau, già nua, bệnh tật). Gốc cửa khổ là sinh (tức sự chuyển
trong luân hồi). Gốc của sinh là hữu (tức ý thức về sự tồn tại của
mình). Gốc của hữu là thủ (tức ham muốn kéo dài đời sống). Gốc của
thủ là ái (tức dục tính làm người ta đam mê). Gốc của ái là thụ
(tức cảm giác). Gốc của thụ là xúc (tức xúc giác). Gốc của xúc
là lục nhập (mắt nhập sắc, tai nhập thanh, mũi nhập hương lưỡi nhập
vị, thân nhập xúc, ý nhập pháp) gốc của lục nhập là hình danh (tức
hình thái và tên gọi). Gốc của hình danh là thức (ý thức về bản
thân). Gốc của thức là hành (chỉ những khái niệm làm cho ta muốn
hàng động). Cuối cùng gốc của hành là vô minh (tức là không sáng
suốt).
Luật
Nhân quả chỉ có tác dụng trong vòng luân hồi. Về mặt xã hội, nó chỉ ra sự
khổ não của con người có nguyên nhân từ ngũ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành,
thức). Từ ngũ uẩn mà xuất hiện sự đối lâp: ác và thiện, tốt và xấu, đau
khổ và hạnh phúc. Lòng tham, sân, si gây ra nghiệp chướng và luân hồi là
vòng luẩn quẩn từ trần gian đến địa ngục. Nghiệp chướng phụ thuộc vào bản
thân cuộc sống tu luyện đạo đức của mỗi người. Cuộc đời mỗi người đều do
tiền kiếp quyết định. Con người sẽ có thể tránh được do cuộc sống đức hạnh
của mình. Muốn từ bỏ vòng luân hồi con người phải tu nhân tích đức, từ bi
bác ái. Đó là biện pháp để giải thoát của con người cũng đồng thời là vấn
đề đạo đức xã hội, đó cũng chính là giá trị nhân bản cao quý chủ yếu của
giáo lý đạo Phật.
Do sự
phát triển, Phật giáo có 2 khuynh hướng Phật giáo Đại Thừa và Phật giáo
Tiểu Thừa, Phật giáo Tiểu Thừa nhấn mạnh do vô minh mà tạo nghiệp
(do không sáng suốt nên tạo nên nghiệp khổ), muốn diệt nghiệp phải cầm
được để sáng suốt không lầm lẫn. Phật giáo Đại Thừa chủ trương vô ngã:
nghĩa là đối với bản thân phải nghiêm khắc sửa mình bằng thiên định, tự
kiểm điểm, phát triển trí tuệ và nhẫn nhịn, đối với mọi người phải từ bi
bác ái vị tha, ngăn ngừa điều ác, khuyến khích điều thiện có nghĩa là phải
bố thí và tích đức.
GIỚI
PHÁP (những điều ngăn cấm trong tu hành)
Tăng ni
trong chùa được phân chia thành sa di (sramanera) ta quen gọi là chú tiểu,
nữ được gọi là sa-di-ni (sramanekira); tì khưu, nữ là tì khừu ni, hòa
thượng và thượng tọa, ta quen gọi là sư ông, sư cụ.
Sa-di có
10 giới là:
1. Không
sát linh.
2. Không
trộm cắp.
3. Không
nói dối, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều và chửi mắng.
4. Không
dâm dục.
5. Không
uống rượu.
6. Không
dùng nước hoa và trang điểm bằng hoa.
7. Không
được dùng giường nệm lớn sang trọng.
8. Không
được khiêu vũ hát xướng.
9. Không
được sử dụng vàng bạc.
10.
Không được ăn ngoài giờ ăn.
Tì khưu
có 250 điều giới. Tì Khưu ni có 348 điều giới.
Những
người tu tại gia được gọi là cư sĩ. Họ theo 10 điều giới:
1. Không
giết hại sinh mạng, phải tìm cách bảo vệ sinh mạng.
2. Không
trộm cướp,phải thực hành bố thí.
3. Không
tà dâm, phải bảo vệ danh dự và hạnh phúc kẻ khác.
4. Không
nói dối, phải nói thật.
5. Không
nói lời li gián, phải nói lời xây dựng và hòa giải.
6. Không
chửi rủa, phải nói lời nhẹ nhàng dễ mến.
7. Không
nói lời thêu dệt, phải nói lời tạo nên sự tín nhiệm kính yêu.
8. Không
để tâm tham dục điều khiển mình, phải sống giản dị.
9. Không
để tâm giận dữ oán thù, phải phát triển tâm từ bi.
10.
Không níu chặtt thành kiến, phải cởi mở để trao đổi.
Tinh
thần từ bi là một đặc điểm lớn trong triết lý của Phật giáo. Từ bi là lòng
thương yêu bao la khiến người ta vận dụng tất cả khả năng tâm tư và mọi
phương tiện để làm cho mọi người, mọi sinh vật thoát khỏi khổ đau và được
an vui. An vui cho chúng sinh có nghĩa là tất cả mọi sinh vật trên thế
gian không chỉ riêng loài người. Không chỉ xóa cái khổ hiện tại mà phải
diệt trừ tận gốc mọi nguyên nhân gây nên nỗi khổ. Dứt khổ và được vui là 2
khía cạnh của cuộc đời. Người thực hiện từ bi là hoàn toàn tự nguyện hiến
dâng tình thương, làm vơi nỗi đau khổ trên thế gian, không chịu một áp lực
nào, một điều kiện nào, người từ bi tự thấy được tinh thần yên vui hạnh
phúc. Người từ bi được chết trong yên lành và sẽ tái sinh vào cảnh đời tốt
đẹp.
VIỆC ĐỌC KINH VÀ
NIỆM PHẬT^
Kinh
Phật là hệ thống giáo lý của Phật giáo được ghi trong 3 bộ: Tạng Kinh
(bộ Kinh), Tạng Luật (bộ Luật), Tạng Luận (bộ Luận). Kinh
Phật ghi những lời Đức Thích Ca giảng dạy lúc sinh thời là hệ thống lý
luận về vũ trụ và nhân sinh, về sự giải thoát con người ra khỏi khổ cảnh
của vòng sinh tử luân hồi. Mục đích của sự tu hành là giải thoát. Những
phương pháp tạo dựng công đức được gọi là tu Phúc. Tu Phúc chưa đủ
để giải quyết vấn đề sống chết mai sau, vì vậy phải tu Huệ. Tu huệ
là đọc kinh, niệm Phật và ngồi thiền. Niệm Phật là một lối ngồi thiền dễ
thực hành hơn hết vì niệm Phật cũng đưa tới sự định tâm.
Việc đọc
kinh, nhắc lại lời dạy của đức Phật một cách đều đặn giúp người tu hành
nhớ lại và suy ngẫm về lời Phật dạy, tĩnh tâm, cảm hứng về trí tuệ và tâm
linh nhằm dồn tới sự đồng nhất thế với vũ trụ bao la. Với sự tập trung và
điều khiển hoàn toàn bằng tâm và ý, ngồi theo thế thiền định tĩnh lặng,
nhà tu hành cầu giải thoát để nhất thế hóa với vũ trụ, để tiến tới cái
KHÔNG kì diệu cao siêu theo lời dạy của Phật. Con người ta ai cũng có phật
tính, trong đời sống đấu tranh sinh tồn đã làm mờ đi phật tính sẵn có, đẩy
con người biệt lập với cái KHÔNG, với vũ trụ, với thế giới xung quanh cho
đến lúc chết. Muốn phá bỏ các lớp bao quanh Phật tính, đạt tới khả năng
đồng nhất thể với cái KHÔNG của vũ trụ thì việc đọc kinh Phật theo một số
lượt nhất định bằng cách đếm, đánh dấu các hạt trong tràng hạt (108 hạt)
là việc làm để đạt tới cái Tầm Vô Tâm, cí Không. Việc đọc kinh niệm Phật.
Việc đọc kinh niệm Phật, về thực hành không có gì phức tạp, có thể làm
được ở mọi nơi mọi lúc, song đòi hỏi tấm lòng, sự tĩnh lặng, suy ngẫm, cầu
tới sự giải thoát, sẽ giúp cho người đọc những khả năng kì diệu.
Với
người dân bình thường, niệm Na Mô A Di Đà Phật cũng là một phương pháp tu
hành đạt được chính quả. Tuy đơn giản nhưng phải có sự suy nghĩ sâu mới có
thể hiểu được. Na Mô A Di Đà Phật nguyên là tiếng Brahama (Ấn Độ) được
phiên âm ra chữ Hán.
Na Mô
nghĩa là quy mệnh, quy lễ, kính lễ.
A Di Đà
nguyên âm là Amitabha có nghĩa là vô lượng thọ, vô lượng quang, vô lượng
công đức.
Phật
chính âm là Buddha có nghĩa là giác ngộ, chính giác, đại giác, “Niệm A Di
Đà Phật” có nghĩa là niệm cả danh và hạnh của ngài… Một người biết đem
sinh mạng của mình quay về kính lễ, tin theo đức Phật A Di Đà với cái tâm
“bồ đề” hẳn là người đã biết hối lỗi. Người đó sẽ không còn tham, sân,
si, mạn, nghi, tà kiến, gian dối với mọi người. Người đó biết phục
thiện, biết phục tùng chính đạo, biết cứu nhân độ thế, biết thương cha mẹ,
thương vợ, thương chồng cùng người quyến thuộc. Vì vậy mà ở chỗ nào và lúc
nào ta cũng nên niệm “Na Mô A Di Đà Phật”.
Về pháp
môn niệm Phật, có tài liệu cho rằng, các đệ tử mỗi ngày niệm 500 lần, niệm
liên tục cho đến khi chết mới được siêu thoát về Tây Phương cực lạc. Có 4
hình thức niệm Phật:
-
Tụng niệm là niệm danh Phật trước bàn thờ Phật.
- Mật
niêm là danh Phật ở nơi không có bàn thờ Phật.
-
Quán niệm là vừa niệm danh vừa tưởng nhớ đến công đức của Phật.
-
Chuyên niệm là khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi làm, lúc nào cũng niệm
danh và tưởng nhớ đến công đức của Phật.
Để đến
được cõi Tây Phương cực lạc, miền Tịnh Thổ, khi niệm Phật, các đệ tử phải
có đủ 3 điều kiện sau đây:
- Đức
tin chắc chắn và mạnh mẽ.
- Lập
nguyện vững vàng.
- Thực
hành theo đúng chí nguyện.
Phật A
Di Đà là giáo chủ của cõi Tây Phương cực lạc vì vậy tượng Phật A Di Đà có
rất nhiều trong các chùa Việt Nam. Theo kinh Phật thì A Di Đà là hóa thân
của Phật Thích Ca thời quá khứ. Phật Thích Ca chỉ sống có 80 năm để truyền
giáo và sau đó nhập Niết Bàn. Trong khi chờ Phật Vị Lai và Di Lặc tiếp dẫn
chứng sinh ra khỏi kiếp luân hồi xuất hiện thì Phật A Di Đà làm nhiệm vụ
đó. Trong các chùa Việt Nam, tượng Phật A Di Đà làm nhiệm vụ đó. Trong các
chùa Việt Nam, tượng Phật A Di Đà khi thì ngồi bên trái Phật Thích Ca, khi
thì ngồi chính giữa thượng điện trong bộ Di Đà Tam Tôn.
Cõi Tây
Phương cực lạc hay miền Tịnh Thổ là miền đất thanh tịnh, trong sạch, đối
lập với thế giới Sa Bà là thế giới trần gian đang sống đầy khổ ải. Thế
giới cực lạc đã được Phật Thích cA nói đến cách đây 25 thế kỷ, cách thế
giới Sa Ba chúng ta đang sinh sống hơn mười muôn ức cõi Phật. Ở nơi dân
chúng hết mọi khổ đau, sống an vui.
ĐẠO PHẬT DÂN GIAN
VIỆT NAM
^
Xét ngay
từ yếu tố nội sinh, Phật giáo đã mang tính thích ứng. Khi truyền vào một
nước nào, miền nào cũng đã thích ứng ngay với phong tục tập quán của địa
phương và những tín ngưỡng bản địa. Do sự thích ứng ấy mà các thần linh
bản địa đều có vị trí trong chùa như thần Khuyến Thiện, Trừng Ác, Thổ Địa…
Tín ngưỡng dân gian đã “Phật hóa” và “hóa Phật” ngay ở giai đoạn đầu tiên
và trong suốt quá trình. Ở Việt Nam một nước nông nghiệp, người ta tôn thờ
những hiện tượng thiên nhiên như Mưa, Sấm, Chớp nên khi đạo Phật du nhập
voà Việt Nam người dân đã lấy ngay các vị thần đặt vào Việt Nam người dân
đã lấy ngay các vị thần đặt cho chùa, thành: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi,
Pháp Điện. Tục lễ bái tín ngưỡng của dân địa phương được thực hành ngay
trong phạm vi nhà chùa ngay tại chánh điện cùng với nơi thờ Phật.
Những
hiện tượng mê tín dị đoan, đồng bóng… cũng được kết hợp với lễ Phật như
trên đã viết là do ảnh hưởng của Mật giáo nhưng cũng có nguyên nhân là
người dân cần tới sự che chở, cầu mưa, cầu khỏi bệnh, tai qua nạn khỏi;
những bài kinh, bài chú, sớ dâng sao, giải hạn đã tồn tại là vì vậy. Trong
một số chùa người dân thờ Phật Dược Sư, còn gọi là Dược Sư Lưu Li Q
uang Phật với biểu tượng thờ cúng đèn 4 ngọn với ý mong được cứu độ qua
khỏi bệnh tật. Đèn Dược Sư là một cây đèn cao gồm một trù hình bát giác có
7 tầng, mỗi tầng tỏa ra 7 nhánh, mỗi nhánh là một ngọn đèn (49 ngọn).
Đạo Phật
ở Việt Nam cũng như Trung Quốc, do thích ứng với tin ngưỡng bản địa, với
việc thờ cùng tổ tiên nên trong chùa cũng thường có các tượng thành hoàng
hoặc anh hùng dân tộc như Đức Thánh Trần hoặc Quan Công và ở các nhà hậu
đường thường có thờ hậu. Vì vậy nhiều chùa thờ Phật thường có dạng “Tiền
Phật hậu Thánh”.
Trong
quan niệm đạo Phật dân gian, mục đích gần nhất của sự tu hành là tạo thêm
công đức (punya), là sự tập hợp của những hành động tốt, là một kho tàng
vô hình đảm bảo cho hạnh phúc của tương lại. Nếu có nhiều công đức người
ta sẽ được sống an lành trong kiếp này và trong những kiếp sau, không
những cho mình mà còn cháu mình cũng có thể được thừa hưởng. Muốn tạo công
đức phải làm công quả. Công quả là một danh từ bình dân có có nghĩa là có
công thì có quả. Giữ giới, ăn chay, tụng kinh, làm chùa, đúc tượng, cúng
chùa, chẩn tế cho người nghèo khổ, cho cô hồn đòi lạnh là những việc làm
tạo nên công đức. N