Phật giáo Việt Nam
và hướng đi nhân bản đích thực
Trần Thạc Ðức, 1967
---o0o---
Vấn đề đào
tạo Tăng tài
Các
Thầy và các đạo hữu hẳn cũng đã nhận thấy số lượng ít ỏi cũa các vị tăng
già có tu học ở xứ ta. Hàng triệu phật tử cư sĩ đang ở vào tình trạng
thiếu các bậc tăng già hướng dẫn. Bao nhiêu tỉnh hội, chi hội và bao nhiêu
đơn vị "khuôn" hiện giờ đang khao khát một vị tăng già trú trì tại địa
phương mình để hướng dẫn sự tu học. Bao nhiêu cặp mắt tin tưởng đổ dồn về
cấp lãnh đạo. Nhưng số lượng của các vị giảng sư qua một vài lần trong
những dịp đại lễ, thế rồi thôi. Biết bao nhiêu đơn vị Phật học gởi thơ về
thiết tha mong cấp lãnh đạo gởi về một vị tăng già để nắm giữ việc sinh
hoạt hoằng pháp tại địa phương, nhưng đã mỏi mắt trông chờ mà chưa thấy có
kết quả. Thiếu một vị tăng già, không khí tu học sẽ trở nên lệch lạc. Vấn
đề đào tạo tăng tài bây giờ đã trở nên một công việc khẩn bách.
Giảng sư của cả hai miền Nam Trung hiện giờ gồm lại không đây ba mươi vị.
Các vị trú trì được bổ nhiệm đi làm phật sự cũng không quá số lượng ấy bao
nhiêu. Tự viện trong toàn quốc có đến hàng mấy vạn, mà số các vị trú trì
có khả năng hóa độ và hướng dẫn tính ra không được một phần mười. Quần
chúng Phật tử thiếu các vị tăng già hướng dẫn, và đó là một nguy hại lớn
cho nền đạo đức cổ truyền của dân tộc. Nguy hại là ở chỗ quần chúng không
biết đạo, mà không biết đạo thì rất có thể dễ dàng bị lời tuyên truyền của
ngoại đạo, của duy vật, của ma quỷ lung lạc. Vấn đề đáng đặt ra và cần đặt
ra trong thời đại, vì ở ngày xưa, mối lo ngại ấy không cần phải có.
Khắp các nơi, tổ chức giáo dục thanh thiếu niên Phật tử được thành lập
theo phong trào du học hiện thời. Nhưng thật là một điều đáng ngại nếu mỗi
nơi không có một ban hướng dẫn vững vàng lành mạnh, thông hiểu đường lối
và phương pháp giáo dục Phật giáo. Các trại huấn luyện co dấp Tổng trị sự
mở chung cho hai ba tỉnh tuy là cần thiết và kịp thời, nhưng chưa đủ, phải
nói là còn thiếu lắm mới đúng. Thông hiểu đường lối giáo dục của đạo Phật,
không ai hơn là các vị tăng già nhất là các vị này có ít nhiều tân học.
Vậy mà có nhiều gia đình Phật tử vắng hẳn bóng chiếc áo nâu trong nhiều
tháng và trong nhiều năm. Bên cạnh Ban Hướng Dẫn phải có một vị tăng già.
Ðó là điều cần thiết. Và giáo lý do chính miệng nhà tu hành đó dạy lại cho
các em mới mang được sức cảm hóa cần thiét và đầy đủ của nó.
Nhiều trường tư thục Phật giáo cũng đã được mở ra các nơi. Nhưng hiện có
nhiều trường thiếu hẳn bóng của các nhà tăng sĩ. Một trường Phật giáo
thiếu mất một giờ giáo lý không còn là một trường Phật giáo nữa. Bóng dáng
của chiếc áo nâu ơe đây thật cũng là cần thiết. Theo nhận xét của chúng
tôi, trường tư thục nào mà có quý thầy dạy thì các học sinh đều thuần hậu
và ngoan ngoãn hơn các trường khác.
Vậy ta có thể kết luận rằng Phật giáo Việt Nam hiện thiếu rất nhiều các
bậc tăng già để hướng dẫn sự tu học cho các đạo hữu.
Có một số các vị tăng sĩ chân tu hiện giờ vẫn còn ẩn náu những chốn tịch
liêu, chưa muốn ra làm việc hoằng pháp tiếp độ. Một số các vị trưởng lão
Hòa Thượng và các vị Thượng Tọa có học có tu khác hiện giờ tuy đang đảm
đương công việc Phật sự, nhưng vì số lượng quá ít ỏi nên mỗi vị thường
mang nặng trên vai có khi đến ba bốn chức vụ, làm việc đêm ngày không
ngớt. Một số các vị sớm có nhận thức về đường lối của Phật giáo dân tộc đã
tinh tấn và hoan hỷ tham gia công việc của giáo hội và của các tập đoàn,
hoạt động Phật sự trong các ngành Hoằng Pháp, Trú trì, và giáo dục. Một số
học tăng và học ni chừng ba trăm vị đang tùng học tại các Phật học đường,
nhưng gặp nhiều trường hợp cần thiét, cũng đã phải ra làm việc từng tháng
một, xong một khóa lại trở về Phật Học Ðường học tập. Một số nữa các vị
trú trì ở các tỉnh nhờ nhận thấy con đường mới, đã gia nhập giáo hội toàn
quốc và sốt sắng tham gia các khóa học tập và thực hành hoằng pháp.
Ðó, gia tài của Tăng Bảo Việt Nam, tuy cũng có thể xứng đáng làm hiển lộ
chân tướng Tăng Bảo, nhưng vỏn vẹn chỉ có từng ấy, một số lượng quá ít ỏi.
Ngoài ra, sót lại của thời đại suy đồi, còn không biết bao nhiêu vị "hình
đồng tăng già" mà tình trạng ngư mục hỗn châu càng làm tăng thêm nỗi hoang
mang cho người tín đồ chưa biết đạo.
Nhìn vào tình trạng ấy, người hữu tâm với nền đạo lý phải kết luận rằng:
thế nào cũng phải đào tạo một thế hệ tăng già mới, cao quý về phẩm và
phong phú về lượng. Vấn đề là một vấn đề căn bản.
Chúng tôi có những nhận xét và đề nghị sau đây:
A) Về các ngành
chuyên môn của các vị Tăng già:
Theo nhu cầu hoằng pháp thiết thực ở hiện đại, thì ngoài các vị chuyên
tĩnh tu ẩn cư không tiếp xúc với thế tục, Phật giáo Việt Nam còn cần có
các vị tăng già trong những ngành chuyên môn sau đây:
1- Các vị giãng sư:
Các vị này đã học xong cấp trung học Phật
giáo và có trình độ trung học chuyên khoa. Phận sự của các vị này là theo
đúng chương trình và sự phân phối của ban Hoằng pháp Trung ương để đi
giảng dạy giáo lý cho các từng lớp Phật tử ở khắp các nơi thành thị và
thôn quê. Ðịa điểm diễn giảng là các tự viện và các niệm Phật đường địa
phương. tại đây, các vị ấy thỉnh thoảng cũng theo chương trình đã ấn định
mà mở những lớp Phật pháp phổ thông để giúp sự học hỏi cho quần chúng Phật
tử. Các vị giảng sư sẽ làm việc lưu động, từng khóa một và thay phiên nhau
để mỗi người đều có thể có những khóa an cư tu tập và học hỏi thêm.
2- Các vị giáo sư:
Hiện thời số lượng các trường tư thục Phật
giáo đã tăng thêm rất nhiều. Các vị tăng sĩ cần phải đứng ra đảm nhiệm một
phần lớn sự giáo dục cho các trường này. Các vị sẽ dạy ở cấp trung học và
tiểu học. Trong số các giáo sư trường Bồ Ðề chẳng hạn, ít ra phải có vài
ba vị tu sĩ để chăm lo về phần đức dục, giảng giờ giáo lý và dạy ở một vài
lớp trong trường.
Các vị giáo sư tu sĩ này có điều kiện gần gũi tuổi trẻ. Sự gần gũi đó gây
được nhiều thông cảm, vì đã từ lâu, tuổi trẻ vẫn thường bỡ ngỡ và hình như
còn ngại ngùng khi nhìn thấy các vị học tăng.
3- Các vị giảng viên tại Phật học viện:
Các vị này phải học xong cấp Ðại học Phật
giáo nếu họ là giáp sư của cấp Trung Học. Nếu là giáo sư của cấp Ðại Học
thì họ phải có một trình độ khá cao hơn, đã trước tác những tác phẩm hữu
danh hoặc đã trình bày một vài luận án mà ban giáo sư của Phật học viện đã
thảo duyệt.
Số lượng các vị này bao giờ cũng ít. Họ ở tại các Phật học viện để giảng
dạy, nghiên cứu, trước tác và phiên dịch. Họ lại lo lập những thư viện,
xuất bản báo chí.
4- Các vị trú trì:
Số lượng cần rất to tát. Các vị này cần học
xong những năm giáo lý mở tại Phật học viện, những năm giáo lý quy định
cho ngành trú trì chánh pháp. Các vị lại phải thông thạo về nghi lễ, tổ
chức, giảng dạy tín đồ. Phận sự của các vị là thường trú tại một chùa để
trực tiếp hướng dẫn sự tu học cũa dân chúng địa phương. Nhưng đến mùa hè,
các vị lại cần phải về an cư tu học thêm tại các địa điểm an cư do Giáo
hội thiết lập. Các vị có thể ở nhiều năm, có khi hai ba mươi năm - tại một
dịa phương. Nhưng khi cần, các vị cũng được thuyên chuyển đi nơi khác để
được thích hợp với khả năng và với sức khỏe.
Bốn ngành chuyên môn trên đây cần được phân biệt rõ ràng, và nếu cần cũng
nên quy định những điểm dị đồng trong phẩm phục của các ngành tu ấy.
B) Về chương trình
học tập của Học tăng:
Các nhà Phật học tiếng tăm đời Lý Trần, trước tiên đều là những người học
nho rất giỏi. Cần có một trìnhj độ phổ thông vững chắc mới có thể học Phật
được, bởi vì học Phật là một thứ học chuyên môn, một môn đại học. Do đó
Phật học viện chỉ có thể thâu nhận làm sinh viên những học tăng nào có
trình độ phổ thông cần thiết. Bên Nhật, có bằng tú gài mới được xuất gia.
Xứ ta, chưa được thế tưởng cũng nên bắt buộc có trình độ Trung Học Phổ
Thông.
Vậy nếu cần có lớp dự bị xuất gia, thì lớp này cần thu nhận các học sinh
có trình độ đệ thất. Thời gian dự bị xuất gia là bốn năm, phân làm ba giai
đoạn. Giai đoạn thứ nhất, các em ỡ nhà 20 ngày, ăn mặn như thường, ở
trường 10 ngày, ăn chay và sinh hoạt như học tăng. Áo đen quần dài, tóc
rẽ. Giai đoạn thứ hai, ở trường 20 ngày, ở nhà bốn ngày. Xong giai đoạn
này, các em được xuất gia; trình độ đã lên Trung Học Phổ Thông, chữ Hán đã
dịch được một bài hơi dài và Phật Pháp đã có thể vào năm thứ nhất Trung
học.
Suốt thời gian ấy, các em được học tại trường Phật học trong một khóa dự
bị xuất gia dành riêng cho các em. Nếu có trình độ Trung học Phổ Thông rồi
thì không cần theo học sáu tháng trước khi thi vào năm Nhất niên Trung
học. Nếu đã có trình độ Trung học chuyên khoa thì cũng chỉ cần học một năm
dự bị (căn bản Hán tự và giáo lý) để xin vào năm Nhất niên Ðại học. Ðại
học chỉ cần ba năm.
Riêng về các em nghèo thì trong 4 năm dự bị xuất gia, Phật học đường sẽ
phụ cấp. Phụ huynh thường cứ tưởng cho con em đi xuất gia là cực khổ lắm,
không biết đâu rằng đời của một vị tăng rất ít chứa chất những lo âu, buồn
chán và sầu khổ, và đượm rất nhiều niềm an lạc.
Cần có một lớp thế hệ thanh niên xuất gia biết yêu đời, làm việc cho đời,
biểu dương được chân tinh thần của đạo, để số lượng người xuất gia càng
lúc càng tăng. Các lớp dự bị xuất gia vì thế cần được tổ chức hoàn bị và
cần được luôn luôn ở những địa phương nào thuận lợi.
Khi học xong cấp trung học Phật học, nếu còn điều kiêẹn, họ sẽ thi lên Ðại
Học. Nếu không, họ sẽ học bổ túc một năm và sẽ ra làm việc cho đạo trong
ba ngành giảng sư, giáo sư tư thục, và trú trì chánh pháp. Năm năm sau, họ
có thể hoặc phát nguyện tu trọn đời, hoặc có thể hoàn tục tự nhiên làm cư
sĩ và hộ trợ chánh pháp. Những vị cư sĩ nào đã từng được xuất gia như thế
chắc hẳn sẽ có một căn bản vững vàng về đạo và cũng sẽ có lợi ích nhìều
cho đạo.
Trong cấp Trung học, sinh viên tăng sẽ học Phật pháp bằng hai thứ chữ,
phần chính là Quốc văn, phần phụ là Hán văn. Lên Ðại học, họ sẽ học bằng
Hán văn và tham khảo các sách Phật học và các bản dịch Anh hay Pháp văn. Ở
cấp Trung học, họ vẫn tiếp tục học các môn phổ thông đồng thời với giáo
lý. Ở Ðại học, các môn văn chương, sinh ngữ, khoa học... chấm dứt để chỉ
chuyên học Phật học. Bổ túc môn này, có những giờ triết học, xã hội học,
sử học, dạy kèm theo.
Các môn Phật giáo truyền bá sử, Phật giáo tư tưởng sử, Phật giáo giáo lý
hệ phải có những giáo sư chuyên môn, và các tác phẩm kinh luận phải giảng
theo từng giai đoạn của môn tư tưởng sử và giáo lý hệ theo phương pháp
phân tích mới.
C) Về toàn thể Ni
chúng:
Các vị ni cô, trong giới xuất gia, cần có một chương trình học và hành
khác biệt. Các ni cô sẽ không làm việc trong ngành trú trì, mà chỉ chuyên
về mặt giáo dục, giảng diễn và xã hội.
Các ni cô cần được học thêm về nghề nuôi dạy trẻ em, điều dưỡng bệnh nhân,
và về khoa sư phạm để sau này ra làm việc xã hội. Có nhiều công việc rất
hợp với khả năng họ: tổ chức các vườn trẻ (jardins d'enfants), các trường
mẫu giáo, các cô nhi viện, các bệnh viện, các trường nữ học. Theo chúng
tôi nghĩ, đó là việc làm rất thích hợp với các ni cô, với tinh thần đạo.
Các ni cô làm việc nửa ngày trong các vườn trẻ, hoặc trong trường mẫu
giáo, các cô nhi viện, các bệnh viện, các trường nữ học. Các cô cần phải
thương đời, gần đời hơn nữa để có thể biểu lộ được tinh thần từ bi, hoan
hỷ, của đạo Phật, để đừng cho người ta tưởng lầm rằng "ni cô là những
người yếm thế nhất trong phái nữ lưu."
Kết luận:
Một vài ý kiến hèn mọn đưa ra đây, chúng tôi mong sẽ làm quý Thầy và quý
đạo hữu suy nghĩ. Khi nói ra, chúng tôi đã suy nghĩ nhiều đến tình trạng
và điều kiện của chúng ta hiện tại. Chúng tôi không đến nỗi ước mơ viển
vông; việc là việc chung, có thể làm được. Ước vọng của chúng tôi là một
ngày kia được trông thấy tiền đồ quang minh của đạo Phật, do công phu của
đoàn thể Tăng già chân chính của Phật giáo Việt Nam.
---o0o---
Mục lục
| 01
| 02
| 03
| 04
| 05
| 06
| 07
08
| 09
| 10
| 11
| 12
|13
|14
| 15
---o0o---
Trình bày : Nhị Tường
Cập
nhật : 01-05-2002