MỸ
THUẬT PHẬT GIÁO
Kiêm
Đạt
(ĐH Đông
Phương – California – USA)
9.
Phật Giáo nước ngoài
Đạo Phật truyền bá sang Tây Phương
Ở
Phương Tây, mỗi khi nói đến Phật Giáo là người ta nói đến Thiền.
Người Tây Phương quan tâm về Thiền hơn là Tịnh Độ tông, vì theo họ,
Tịnh Độ tông có vẻ bề ngoài rất giống Thiên Chúa Giáo, không có gì
lạ. Thiền là sản phẩm tiêu biểu nhất của Phương Đông, một thứ văn hoá
vừa đơn sơ, vừa thâm trầm, rất hấp dẫn người Phương Tây. Dĩ nhiên,
để truyền bá văn hoá đạo học nầy, cần thiết phải có tác phẩm giới
thiệu được viết bằng ngôn ngữ Phương Tây.
Về
phương diện nầy, các tác phẩm của bác sĩ Daisetsu Suzuki được coi như
một hiện tượng. Người ta cũng không quên công giúp đỡ của vợ ông, bà
Béatrice Suzuki. Nhiều tác phẩm của ông viết bằng tiếng Anh đã được dịch
sang tiếng Đức và tiếng Pháp, phổ cập rộng rãi trên thế giới. Các tác
phẩm được đọc nhiều nhất là: Thiền Học Nhập Môn (An Introduction to Zen
Buddhism), Sống Thiền (Living by Zen), Thiền Phật Giáo Cương Yếu (Manual
of Zen Buddhism), Thiền tăng tu hành (The Training of Zen Buddhist
monk), Thiền Phật Giáo và Văn hoá Nhật Bản (Zen and Its Influence
on Japanese Culture)...
Tuy nhiên, các tác phẩm Thiền của ông chủ yếu thuộc phái Thiền Lâm Tế mà
không chiếu cố mấy đến các phái Thiền khác. Vì vậy, khi học giả Phương Tây
đề cập đến Thiền, thì đa số là Thiền qua các tác phẩm của bác sĩ
Suzuki. Như thế phải chăng đã thực sự tốt? Triết học sâu xa của Thiền
sư Đạo Nguyên và Thiền Tào Động nghiêm mật chưa được giới thiệu là bao
nhiêu; đó là điều thiếu sót. Do đó, học giả Phương Tây chưa thể biết rõ
chỗ dị đồng giữa Thiền Lâm Tế và Thiền Tào Động.
IV- Những chương trình nghiên cứu mới
Hiện nay, giáo sư Callway, chủ nhiệm bộ môn Tôn Giáo Tỷ Giảo Học ở Đại
hoc South Western đang tiến hành việc nghiên cứu nầy và đã gửi nhiều câu
hỏi chất vấn các học giả Nhật Bản. Friedrich Heiler, nguyên giáo sư Thần
học tại Đại học đường Marburg đã tỏ rõ sự quan tâm hứng thú trong tác
phẩm Buddhistsche Versenkung (Thiền Phật Giáo) của ông. Giáo sư Dumoulin
đã dịch Vô Môn Quan, một tập công án Thiền ra tiếng Đức và đã viết bằng
tiếng Đức tác phẩm "Lịch sử Thiền tông sau ngài Lục Tổ". Tác phẩm nầy
đã được bà Ruth Fuller Sasaki dịch từ tiếng Đức sang tiếng Anh và đã
phát hành trong một ấn bản xinh xắn. Bà Sasaki đang cai quản một Thiền
viện ở New York tên là Sokeian (Tào Khê Am), nhằm phổ biến Thiền học cho
người Mỹ.
Naberfeld, bạn của giáo sư Dumoulin đang caiquản nhà thờ Thiên Chúa
Giáo ở Kichijôji (Kyoto) đã dịch xong Kinh Duy Ma và Tu Chứng Nghĩa ra
tiếng Đức. Nhiều năm trước đây, bác sĩ Nukariya Kaiten, nguyên Viện
trưởng Viện Đại học Komazawa, một Viện Đại học Phật Giáo của phiá Thiền
Tào Động ở Tokyo, đã xuất bản quyển The Religion of The Samourai (Tôn
giáo của người Võ sĩ đạo), lần đầu tiên cổ xúy Thiền Tào Động bằng Anh
ngữ. Christmas Humphreys, Hội trưởng Hội Phật Giáo Luân Đôn đã viết một
tác phẩm về Thiền nhan đề là Zen Buddhism (Thiền PhậtGiáo). Tuy nhiên, tác
phẩm đó chưa cho thấy chỗ lý giải đầy đủ về Thiền Tào Động. Ông cũng xuất
bản một tập sách nhỏ với nhan đề là Twelve Principles of Buddhism (Mười
hai nguyên lý của Phật Giáo),có thể nói là thành công một phần nào, vì
đã nêu lên được những khái lược về Phật Giáo, nhưng chỉ tiếc không thấy
đề cập đến Tịnh Độ tông.
Giáo sư Lan Wans của Viện Đại học Asia Institute đã viết quyển The
Spirit of Zen Buddhism (Tinh thần Thiền Phật Giáo) và một quyển nhỏ
hơn nhan đề là Zen (Thiền); cả hai đều đi theo con đường trước của
bác sĩ Suzuki. Tạp chí Philosophy East and West của đại học Hawaii thường
xuyên đăng tải những bài nghiên cứu về Thiền học.
V- Phát
triển Thiền Tào Động
Mấy năm trước đây, đã có cuộc trao đổi lý thú giữa bác sĩ Suzuki và
giáo sư Hồ Thích, một học giả Trung Quốc ở Đại học Princeton. Học giả
Hồ Thích là nguyên Viện trưởng Viện Đại học Bắc Kinh, một thời là Đại
sứ Trung Quốc tại Hoa Kỳ; ông là chuyên viên nghiên cứu các tư liệu
khai quật ở Đôn Hoàng liên quan đến Thiền.
Lập luận của Hồ Thích có ảnh hưởng đáng kể đến học giả Nhật Bản, lý luận
bén nhọn. Điều nầy ảnh hưởng không ít đến những tác phẩm của Suzuki sau
đó. Thiền lại phát triển nhiều nơi ở Mỹ. Đáng kể là tại Los Angeles,
Senzaki Nyoden, môn đệ của ngài Sôen, tổ chức những khoá dạy thiền cho
Phật tử Hoa Kỳ. Ông xuất bản cuốn Zen (Thiền), phỏng dịch cuốn "Phổ
Khuyến Thiền Nghi" của ngài Đạo Nguyên; ngoài ra, ông còn dịch "Vô Môn
Quan" ra Anh Ngữ. Cùng thời, Dwight Goddard xuất bản cuốn A Buddhist
Bible (Thánh Thư Phật Giáo), trong đó đúc kết các hệ phái Phật Giáo,
đặc biệt là Thiền Tào Động. Cùng chung biên soạnsách nầy có Saiho Loe,
một nhà trí thức Phật Giáo nổi tiếng. Mặc dù tuổi đã cao, ông vẫn chuyên
tâm nghiên cứu sâu rộng và đã xuất gia. Hai vị đều là thiền sư Tào Động.
Phát triển thêm, ông John Bolfeld đã dịch cuốn "Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu
Luận" của Đại Châu Huệ Hải ra Anh ngữ với nhan đề "The Path to Sudden
Attainment".
Thiền sư Tachibana, nguyên Viện trưởng Viện Đại học Komazawa qua Luận
văn The Ethics Of Buddhism (Luân Lý Phật Giáo), đề cập sâu sắc về Thiền,
nhất là Thiền Tào Động. Như thế, trong mấy năm gần lại đây, Thiền Tào
Động được trình bày sâu rộng và có hệ thống tại Hoa Kỳ. Đáng kể là hai
công trình biên soạn: "What is Zen" (Thiền học là gì?) và "Zen Culture"
(Văn hoá Thiền). Giáo sư Ryusaku Tsunoda, giảng dạy Thiền tại Đại học
Columbia đã dịch ra tiếng Anh cuốn Chính Pháp Nhãn Tạng Tùy Văn Ký của
ngài Đạo Nguyên. Đây là tác phẩm kinh điển về Thiền Tào Động.
VI- Thiền
dưới nhãn quan mới
Gần đây, trên tạp chí Life và Time của Hoa Kỳ thường đăng tải các đề tài
về Phật Giáo, đặc biệt là Thiền. Tài liệu đáng kể là của bác sĩ Jung,
nhà phân tâm học nổi tiếng trên thế giới. Vấn đề tạo nhiều ảnh
hưởng. Trong dịch phẩm "Introduction To Zen Buddhism" của Suzuki, ông
đã không hài lòng về phương pháp "Phân tâm học" của Sigmund Freud về
trung tính dục (sex) là cội rễ của mọi vấn đề, nhân đó, giới thiệu
Thiền là điểm xuất phát mớ trong lãnh vực tâm lý học. Bác sĩ Jung phân
tách cái "Tâm" ra làm "Ý thức" và "Vô ý thức" (Mạt Na Thức). Vô ý
thức lại được phân loại thành Vô ý thức cá nhân và Vô ý thức tập hợp.
Vô ý thức tập hợp tồn tại ở 3 mức độ (1) Ở nam là Anma, ở nữ là
Animas (2) Ở nam là Cổ hiền nhân (the old wise man); ở nữ là Địa mẫu
(the earth mother) (3) Ở nam cũng như ở nữ đều có Tự ngã (Self). Sự
thực cái Tự ngã nầy không phải là cái tự kỷ có tính cách cá nhân, mà
là tự thể của bản chất siêu cá nhân. Thiền học gọi đó là "Bản Lai
Diện Mục" là Chân tính, là Cốt lõi. Thấu triệt chỗ nầy tức là Giác ngộ.
Bác sĩ Jung gọi đó Individution là Con người toàn chân thật. Ngôn ngữ
Thiền trong quan niệm nầy gọi là Bản Lai Diện Mục.
Trong bài Tựa của dịch phẩm kể trên, bác sĩ Jung viết: "Thiền là một
trong những thể hiện tốt đẹp nhất của tinh thần Phật Giáo, đã nở hoa từ
tư tưởng vĩ đại và bao la của thế giới Phật Giáo”. Như thế bác sĩ Jung
đã mở ra một vùng khai thác mới mẻ vói tư duy củangười Tây Phương. Ông
không đi theo con đường dùng những khảo hướng (approaches) có tính
thuần lý (intellectual) của Tây Phương. Ông thay đổi cách nhìn, cách tư
duy có tính bao quát hơn. Như thế, môn Tâm Lý Học của Jung, nhất là đối
với những người tu Thiền, là sự lãnh hội dễ dàng hơn khoa nầy của Tây
Phương trước đó.
Vấn đề 2:Phật Giáo các nước
Tây Phương
A- Phật Giáo tại Anh Quốc
Vào
tháng 3 năm 1788, sau khi thành lập Hội Học Thuật Châu Á của Hoàng Gia
Anh, chính quyền thực dân đã ủng hộ công cuộc nghiên cứu đối với 2 văn
hệ Pali và Sanscrit. Nhân đó, giáo sĩ truyền giáo Claugh nước Anh đã
công bố tư liệu về "Văn pháp và ngôn ngữ tiếng Pali", vào năm 1824. Thời
điểm nầy đã được một số nhà nghiên cứu xem là mốc giới truyền bá Phật
Giáo tại Anh Quốc. Nhưng một số học giả khác thì cho là sớm hơn thế nữa.
Thu thập kinh văn: Vào năm 1833, viên công sứ Hogglin người Anh
ở Népal đã thu thập được một khối lượng lớn kinh văn Phật Giáo được ghi
chép trên lá bối (bối diệp) bằng tiếng Sanscrit. Ông trao tặng toàn bộ
cho trường Đại Học Oxford và Đại Học Luân Đôn. Ngay sau đó, dựa vào tư
liệu nầy, Pawnoff đã chỉnh lý và hệ thống hoá lại những tư liệu mà
Hogglin đã gửi về, xuất bản cuốn "Bàn Về Lịch Sử Phật Giáo Ấn Độ (1845).
Sách được truyền bá sâu rộng và ảnh hưởng lớn. Max Muller là môn hạ của
Pawnoff, đã nhận sự ủy thác của Hội Học Thuật Châu Á Hoàng Gia Anh, đã
biên tập và xuất bản bộ "Đông Phương Thánh Thư" gồm 49 quyển, trong đó
phần lớn là kinh điển Phật Giáo Đại Thừa và Tiểu Thừa.
Vợ
chồng Liszt Dawidh, nhà nghiên cứu Phật Học Anh, vào năm 1881, đã tập
trung một số nhà trí thức Anh, thành lập ra Hiệp Hội Pali Thánh Điển.
Ông đã giành hết cuộc đời còn lại của mình để chú giải bộ Tam Tạng bằng
tiếng Pali, in bằng mẫu tự La Mã, dịch một phần kinh sách nầy sang tiếng
Anh. Nhờ đó, phong trào nghiên cứu Phật Giáo tại Anh được mở rộng.
Khai quật khảo cổ học: Vào những năm đầu thế kỷ XX, nhà thám hiểm Anh,
F. Sdanen, đã 3 lần đến khai quật di tích khảo cổ học tại Tân Cương, Trung
Quốc và Trung Á, đã tìm thấy được những kinh điển Phật Giáo tàng trữ ở
Đôn Hàng viết bằng các loại Phạn Văn (Sanscrit), Quy Tư Văn, Hồi Cốt Văn
và Lập Đặc Văn. Số lượng lớn lao của kinh văn được phát hiện nầy đã làm
chấn động các nhà nghiên cứu tôn giáo học và ngôn ngữ học. Cũng từ đó,
nhiều công trình dịch thuật và nghiên cứu kinh điển Phật Giáo tại Anh
được lan rộng, với phương pháp mới và nhãn quan mới. Hai tác phẩm nổi
danh trong giai đoạn đó là "Ánh sáng châu Á" của Anowder và "Phúc Âm của
Phật Giáo" của L. Karlosi. Những tác phẩm nầy được phát hành rộng rãi,
báo chí đề cập nhiều và cũng được dịch ra nhiều thứ tiếng. Nhiều Viện
Đại Học Anh cũng dùng làm sách tham khảo.
Những danh tăng: Vào những năm đầu thế kỷ XX, đã có nhiều người
trong giới trí thức quy y. Vị tỳ kheo đầu tiên của Anh là ông
Bernardo, có pháp danh là A Nan Đà Di Lặc (Ananda Maitrya). Vào năm
1898, ông lên đường đến Sri Lanka, Myanma để nghiên cứu Phật pháp (Tiểu
thừa). Để phát triển thêm, ông thành lập Hội Phật Giáo Quốc tế tại
Myanmar. Đến năm 1908, ông dẫn một phái đoàn tăng ni đến truyền bá Phật
Giáo tại Anh. Ngay sau đó, nhiều nhà trí thức khác noi gót của
Bernardo: Jackson, Ailon là những tên tuổi lớn. Họ thành lập Hiệp Hội
Phật Giáo Anh Quốc, do Tiến sĩ List Dawigh làm Hội trưởng. Hai năm sau đó,
Hội nầy đổi tên là Hội Phật Giáo Anh và Ireland, đồng thời xây dựng
những chi hội tại Manchester, Liverpool, Birmingham, Manchester và
London. Nhiều trí thức, nhiều nhà văn hoá đã gia nhập hội nầy ngày càng
đông.
Một số cơ sở Phật Giáo cũng ra đời, nổi tiếng là Hội Phật Giáo Linh Trí
Học Hội do vị phán quan Humfos tổ chức. Hội này cũng phát triển khá
nhanh chóng và sau đổi thành hội Trung Đạo Phật Giáo. Hội nầy phát
triển Phật Giáo Tiểu Thừa lẫn Đại thừa, và về sau có thêm Kim Cang thừa.
Năm 1926, đánh dấu một bước ngoặt mới của Phật Giáo Anh quốc, khi ngài
Dharma Bahar từ Sri Lanka đến Anh quốc. Ngài một trong Tứ đại danh tăng
châu Á sang London để thành lập hội Makaba Pa. Hội nầy chủ trương phát
huy những tinh túy chính thống của Tiểu Thừa Phật Giáo.Vào thời Đệ nhị
thế chiến, do tình thế hỗn loạn, Phật Giáo Anh đình chỉ hoạt động trong
một thời gian; tuy nhiên, khi hoà bình vãn hồi thì lại vươn lên cao hơn
bao giờ hết. Cũng trong giai đoạn nầy, Mật Tông truyền bá sang Anh và
nhanh chóng bắt kịp đà tiến triển của các giáo phái khác. Phật Giáo Anh
phát triển không ngừng; theo thống kê năm 2000 thì tại Anh, có 230,000
Phật Giáo đồ, trong số 49% là tín đồ Mật Tông, 26% theo Phật Giáo Đại
thừa, 24% theo Phật giáo Nguyên thủy và Phật Giáo Tiểu thừa.
B- Phật Giáo Đức Quốc
Người có công nhất trong giai đoạn phát triển đầu tiên Phật Giáo tại nước
Đức là Max Muller. Những nhân vật tiếp nối là Rozenberg, Weber, Newman,
Clak và Oaleger. Họ chuyên dịch và phổ biến những kinh văn Phật Giáo
bằng tiếng Pali. Những bộ kinh Phật được truyền bá sâu rộng tại nước
Đức là "Thanh Tịnh Đạo Luận" và kinh "Di Lan Đà Vương Giản Kinh". Tất cả
đều được dịch sang tiếng Đức, cho nên truyền bá sâu rộng được dễ dàng. Sau
đó là giai đoạn thành lập Hiệp hội. Vào khoảng 1913-1914, học giả Seddon
đã xây dựng Hội Truyền Bá Phật Giáo tại Berlin. Ngay sau đó, sự bành
trướng ngày càng nhanh, cho nên đã chuyển đổi thành Liên Hiệp Phật Giáo
Hội, để có thể phát triển đồng bộ Phật Giáo Đại Thừa, Tiểu Thừa và Kim
Cang Thừa. Để phát triển thêm, một tạp chí nghiên cứu Phật Giáo có tên
là "Rama" (Đại Ngộ), trụ sở đặt tại Munich là nơi tập trung đông đảo
nhất các nhà trí thức Phật Giáo tại Đức Quốc.
Những trung tâm Phật Giáo đa dạng khác được thành lập trong giai đoạn
nầy như: Phật Giáo Tịnh Xá, Nội Thiết Phật Điện, Thiền Đường, Tự
Viện. Phulunau trở thành trung tâm quốc tế giao lưu Phật học ở nước
Đứcvới những quốc gia châu Âu và Bắc Mỹ. Năm 1951, các tín đồ Phật Giáo
ở thủ đô Berlin đã xây dựng nên Hội Phật Giáo Đức, được truyền bá
Phật Giáo sâu rộng, kể từ khi chế độ Quốc Xã Đức bị sụp đổ. Cứ theo đà
đó, lại có thêm nhiều Hiệp hội khác: Năm 1954, hình thành Hội Phật Giáo
Hamburg; năm 1955, thành lập Hội Phật Giáo Đức Quốc thống nhất cả nước;
năm 1960, thành lập Hội Liên Hiệp Phật Giáo Đức Quốc, với quy mô và
khuynh hướng phát triển sâu rộng hơn. Cũng trong năm đó, các nhà trí thức
Phật Giáo Đức thiên về Mật Tông đã tổ chức nghiên cứu toàn bộ tư tưởng Kim
Cang Thừa, với sự tán trợ của đức Đạt Lai Lạt Ma thứ XIV. Cho đến nay, tại
nước Cộng Hoà Liên Bang Đức (Tây Đức) có khoảng75,000 tín đồ Phật Giáo;
Đông Đức có khoảng 53,000 tín đồ. Con số ngày càng gia tăng. Điều đặc
biệt mà các nhà nghiên cứu tôn giáo ở đây thường nhấn mạnh là sở học Phật
Giáo của hầu hết tín đồ tại Đức có trình độ rất cao. Họ chú trọng về
phẩm hơn là về lượng. Đại bộ phận những trung tâm Phật Giáo Đức đều ở
Berlin, Stugart, Munich, Hamburg, Hạ Ruhr.
C- Phật Giáo tại Pháp
Quốc
Trong những quốc gia châu Âu, nước Pháp phát triển Phật Giào sớm nhất và
đa dạng nhất. Tính ra, đến nay, các nhà nghiên cứu Phật học ở đây đã
khởi đầu từ 150 năm hay nhiều hơn nữa. Nhân vật đặt nền tảng đầu tiên là
ông F. Pawnof, thành lập Hiệp Hội Pháp Á Phật Giáo ở Paris. Ông dịch
kinh Diệu Pháp Liên Hoa bằng Phạn văn ra Pháp văn và phát triển Pháp Hoa
tông tại Paris và nhiều thành phố khác. Những người kế tiếp là Lévi,
Fousier và và Porelowsky; họ nghiên cứu kinh điển bằng Hán Văn, Tạng
Văn và Phạn Văn. Lévi đã hiệu đính cuốn "Trung Luận" và dịch ra Pháp Văn
cuốn "Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận". Ngoài ra, về Thiền Học, phải kể
đến sự đóng góp của Thiền sư Nhật Bản, Cao Nam Thuận Nghĩa Lâm. Đệ tử của
Lévi là Poussin, hiệu đính "Trung Luận Tụng" của ngài Long Thọ và "Minh
Cú Luận" của ngài Nguyệt Xướng. Ngoài ra, ôngcòn dịch "Thành Duy Thức
Luận" do ngài Huyền Trang biên dịch,"Câu Xá Luận" của ngài Thế Thân ra
Pháp ngữ. Những hoạt động của Lévi và những cộng sự viên đã đặt nền
tảng cho việc nghiên cứu Phật học hiện tại ở châu Âu. Ngoài ra, phải
kể những dịch giả Renoir, Fénocesse và Sayminucay đã tham gia nhiều để
chuyển ngữ kinh điển Phạn văn ra Pháp văn.
Về mặt tổ chức, nhiều Hiệp hội thành lập. Hội Phật Giáo Hũu Nghị thành
lập năm 1929, với sự khuyến khích của Thái Hư Đại Sư từ Trung Quốc.
Hội Phật Giáo Paris thành lập năm 1939, nhưng bị gián đoạn thời Đệ nhị thế
chiến và phục hoạt sau đó. Hội nầy xuất bản Tập san "Tư tưởng Phật
giáo", dựng Niệm Phật đường, triển lãm nghệ thuật Phật Giáo, lập Trung
tâm hoạt động văn hoá và xã hội Phật Giáo.Vào thập niên 1950, Liên Minh
Tín đồ Phật Giáo Việt Nam cũng được thành lập. Mật Tông phát triển
chậm hơn những lại phát triển nhanh; trung tâm Mật Tông quan
trọng nhất là Tịnh xá Uchincansaselin tại Castelan. Theo thống kê
của "Bách Khoa Toàn thư Cơ đốc giáo" năm 1980, ở Pháp có khoảng 35,000
tín đồ Phật Giáo, nhưng trên thực tế còn đông hơn nữa, nhất là những
Phật tử từ Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Tây Tạng sang nhập cư.
D- Phật Giáo tại Hoa Kỳ
Ba trường phái nghiên cứu Phật Giáo tại Hoa Kỳ:
Những công trình nghiên cứu của Edward Conze, sự hình thành hệ thống
Phật Giáo tại Hoa Kỳ có thể phân chia thành 3 truờng phái:
1- Trường phái Anglo German: Đại diện là T. W. Rhys Davids,
H.Oldenberg và E. J. Thomas. Đây là trường phái chủ đạo toàn cảnh thịnh
hành trong khoảng thời gian 1881-1914. Họ tập trung nghiên cứu truyền
hống Phật Giáo Pali. Do đó, năm 1881, Hội Nghiên Cứu Văn bản Pali
được thành lập. Những công trình của những học giả nầy tạo được cơ sở
vững chắc trong bước ban đầu.
2- Trường phái Đông Âu: Đại biểu cho trường phái nầy là:
Stcherbatsky, Rosenberg và Obermiller. Thời gian vững mạnh nhất của
trường phái nầy là 1914-1944.
3- Trường phái Franco Belgian: Tiêu biểu là những học
giả LaValée Poussin, Jean Ptzyluski, Sylvain Lévi, Paul Demiéville và
Étienne Lamotte.Theo nhận định của Conze thì: Trong khi 2 trường phái
trên càng ngày càng già đi và không mấy ai tham gia, xiển dương thêm
nữa, thì trái lại trường phái Franco - Belgian phát triển không ngừng.
Như thế, hầu hết các học giả Phật Giá Hoa Kỳ hiện nay đều được phát
sinh từ trường phái nầy.
Di sản tôn giá trong quá
khứ ở Hoa Kỳ
Vấn đề nghiên cứu thật quan trọng. Cốt lõi chính của truyền thống văn hoá
Hoa Kỳ đầu tiên được tạo thành do văn hoá Anglo Saxon. Dođó, giới trí
thức thường coi mình là thành viên của văn hoá châuÂu, cụ thể là Anh
quốc. Hiện nay, tại Hoa Kỳ, các trường Đại học có phân khoa Phật Giáo và
các Viện Hàn Lâm Văn hoá đều có khuynh hướng nghiên cứu theo trường
phái Franco - Belgian. Từ trước, người Mỹ thướng hưóng về đạo Tin Lành
từ Anh và Tây Âu sang. Do Thái Giáo và Ki Tô Giáo (Công Giáo) rơi vào
tình trạng phân biệt đối xử. Nhưng nay thì khác.
Phật Giáo vào Hoa Kỳ bám rễ từ tư duy và nhân sinh. Không một áp đảo
chính trị nào diễn ra khi đạo Phật bành trướng ở đây. Bàn về tình hình
tôn giáo Hoa Kỳ hiện nay, giáo sư Eillhelm Pauchk viết: "Sự phát
triển vuợt ra ngoài nền tảng nầy là nguyên tắc "không rõ ràng về tự
do tôn giáo ở Mỹ". Mỗi tôn giáo được phép hành động như là không
có Giáo hội nào tồn tại. Nhưng khi hành động tôn giáo, các nhóm tôn
giáo khác nhau đã thừa nhận các Giáo hội khác đang thực sự tồn tại.
Phật Giáo ở đây cũng không ra ngoài quy phạm đó".Tình hình nầy thực ra
diễn ra trước Đệ nhị thế chiến. Nhưng từ 1945 về sau, chủ nghĩa cô
lập về tôn giáo đã không còn dung hợp tại Hoa Kỳ nữa. Càng ngày, người Mỹ
càng thấy rõ những thách thức tín ngưỡng phi Mỹ, phi Tây Phương, phi Ki
Tô Giáo. Những tôn giáo phương Đông, bao gồm cả Phật Giáo manh nha mạnh
mẽ và ảnh hưởng lớn trong dân Mỹ.
Các giai đoạn
Giai đoạn 1: Một trong những nhà trí thức Hoa Kỳ nghiên cứu
Phật Giáo trong giai đoạn đầu là Paul Carus (1852-1919) . Ông là triết
gia Đức theo khuynh hướng tự do, sống tại Illinois, chủ nhiêm và chủ
bút của hai tạp chí "Người theo chủ nghĩa Nhất nguyên" và tờ "Toà án
công khai". Trước kia, bản thân ông không phải là một Phật tử. Có thể,
ông thích cổ vũ tôn giáo và triết học, trên cơ sở nền tảng khoa học.
Nhiệt tình của ông đối với Phật Giáo được thể hiện qua những tác phẩm
nghiên cứu đầu tiên, điển hình là cuốn "Tín điều của đức Phật" (Gospel of
Buddha) (1889). Cùng với triết gia Hegeler, ông ra sức tài trợ cho "Hội
nghị các tôn giáo" năm 1893. Trong hội nghị nầy, ông đã liên lạc và cung
thỉnh 2 đại sư tham gia: Shibaji Mokurai và Nanjo Bunyu, đại diện cho
Phật Giáo Đại thừa (Mahayana). Một danh tăng khác tham dự Họi nghị
là Shaku Soen, sư phụ của Daisetsu Suzuki. Sau hội nghị, Paul Carus
biên soạn nhiều tài liệu Phật Giáo; tiêu biểu là "Những bài thuyết pgháp
của ngài Mã Minh" về Đại Thừa" (1900); "Những bài thuyết pháp nổi tiếng"
(1906); "Đại cương về Đại Thừa Phật Giáo" (1907). Chính ông đã đặt nền
tảng cho phong trào học Phật tại Hoa Kỳ sau đó.
Giai đoạn 2: Sau chiến tranh Nga Nhật (1904-1905) nhiều học
giả Phật Giáo bắt đầu sang Hoa Kỳ để thuyết giảng. Những nhân vật tiêu
biểu là:
Okakura Kakuzo (1862-1913) được mời sang Hoa Lỳ làm việc trong Viện
BảoTàng Boston. Giới trí thức biết ông qua tác phẩm "Trà Đạo" (The
Book of Tea) (1906); ngoài ra, Okakura còn biên soạn những tác phẩm
danhtiếng khác: Lý tuởng của Đông Phương (The Ideals of the East), Sự Phục
Hưng của nước Nhật (The Awakening of Japan), Con Cáo trắng (The White
Fox).
Bác sĩ Takamine Jokichi, người đã tham gia nhiều công trình
nghiên cứu văn hoá Nhật và phổ biến sâu rộng trong giới trí thức Nhật.
Ông cũng là vị danh y, người từng phát hiện ra cách chữa bệnh viêm
tuyến hormone thượng thận.
Bác sĩ Niguchi Hadeo, người đã mang lại cho trí thức Hoa Kỳ
những ý nghĩa sâu xa của văn hoá Phật Giáo Nhật: trà đạo, hoa đạo, thư
pháp, nghệ thuật cắm hoa, tuồng Nô, thơ Bashô... Như thế, mối quan tâm
ngày càng tăng đối với nghệ thuật, văn hoá và tôn giáo Nhật khai triển
thuận lợi. Những luận thuyết của Okakura Kakuzo, Lafcadio Hearn và
Ernest Fellosa đã tham gia phát triển các khiá cạnh văn hoá nầy. Ngay tại
các giảng đường Hoa Kỳ, trí thức Nhật tham gia không ít.
Tiến sĩ Anesaki Masahara được mời giảng dạy môn Văn hoá Nhật tại
Đại học Harvard. Những khoá trình của ông được ấn hành và phổ biến
sâu rộng qua những tác phẩm: "Nghệ Thuật Phật Giáo", "Nichiren: Vị thánh
Phật Tử", "Lịch Sử tôn giáo Nhật"... Sau đó, tiên sĩ Anesaki cũng được
mời giảng dạy tại các Đại học hàng đầu Hoa Kỳ, đã đóng góp những Luận
văn trên nhiều tạp chí văn hoá Mỹ. Ông cũng tham gia biên tập bộ "Bách
Khoa Toàn thư Văn hoá và đạo đức" của Hasting.
Tiếp nối Anesaki, phải kể đến những nhà Phật học đi vào giáo dục Hoa
Kỳ: James H. Wood, nhà Ấn Độ học; Josiah Royce, nhà triết học; George F.
Moore, nhà sử học tôn giáo. Ba nhân vật nầy cũng như Anesaki đã góp phần
không nhỏ trong việc truyền bá Phật Giáo Đại thừa tại Hoa Kỳ.
Giai đoạn 3: Khởi đầu sau Hội Nghị Các triết gia Đông Tây vào
đầu năm 1933 tạiChicago và Honolulu năm 1939. Hai luận sư danh tiếng
nhất của Nhật vào thời đó là Kyshimoto Hideo và Takakusu Junjiro tham
dự, thuyết trình và điều động 2 chương trình nầy. Cũng trong giaiđoạn
nầy, bác sĩ Suzuki trong chuyến sang thăm Hoa Kỳ đã khởi xướng chương
trình nghiên cứu Thiền học tại đây. Những tác phẩm của Suzuki được phiên
dịch ra Anh ngữ trong giai đoạn nầy phải kể đến: Thiền luận Phật Giáo,
Nghiên cứu kinh Lăng Già (Lankavatara), Tu luyện của các Thiền sư Phật
Giáo, Giới thiệu Thiền Phật Giáo, Sổ tay Thiền Phật Giáo, Thiền Phật
Giá và ảnh hưởng với văn hoá Nhật.
Vấn đề 3: Tình hình Phật Giáo thế giới ngày nay
Phật Giáo là một trong ba tôn giáo lớn nhất thế giới, bên cạnh đó là Đạo
Cơ Đốc và Hồi Giáo. Căn cứ theo thống kê của "Bách Khoa Toàn Thư Cơ
Đốc Giáo Thế giới" (2002) thì tín đồ Phật Giáo trên thế giới hiện nay là
295,570,780 người (chung cho cả các hệ phái), được phân chia như sau:
Đông
Bắc Á: 143,359,570 tín đồ - Nam Á và Đông Nam Á: 150,927,990 tín đồ - Nước
Nga: 350,000 tín đồ - Châu Mỹ La Tinh: 501,250 tín đồ - Bắc Mỹ: 189,850
tín đồ - Châu Âu: 212,320 tín đồ - Châu Đại Dương: 17,190 tín đồ - Châu
Phi: 12,610 tín đồ. Tình hình Phật Giáo trong những biến động chính trị
vừa qua cũng có nhiều thay đổi. Sau Đệ Nhị Thế chiến, Phật Giáo ở các nơi
trên thế giới đã trải qua những biến đổi khác nhau, đồng thời cũng đã
xuất hiện một số đặc điểm mới:
1- Hưng thoái của các hệ phái: Mấy chục năm gần lại đây, những
phái truyền thống của Phật Giáo đều trải qua những biến đổi khác nhau;có
phái đang trong giai đoạn suy thoái dần (Duy Thức Tông, Luật Tông, Hoa
Nghiêm Tông), nhưng có hệ phái đã phát triển rất nhanh chóng, hơn thế
nữa, đã có khí thể vươn lên mạnh, bao trùm, trong đó nổi bật nhất là
Thiền Tông và Mật Tông.
a) Thiền Tông: Thiền Tông là một hệ phái Trung Quốc. Ở châu Âu
trước kia, Thiền Tông không được coi trọng, nhưng sau Đệ Nhị Thế
chiến, sự tín ngưỡng và nghiên cứu Thiền Tông đã có một thời sôi
nổi, hình thành một luồng "nóng Thiền Tông". Hiện nay, tại Hoa Kỳ có
175 Trung tâm tu Thiền hay Đạo trường Thiền Tông, đã xuất hiện những
phái Thiền Tông muôn màu muôn vẻ, luôn thay đổi, như: Đồi phế Thiền,
Tạp khoái Thiền, Phương Thiền và Thiền ngoại Thiền... Tu Thiền không
chỉ đơn giản trở thành phương thức sống như Thái Thiền (Thái là
thức ăn rau cỏ), Trà Thiền, Xạ Nghệ Thiền, Vũ Đạo Thiền... và thủ thuật
tu luyện thân tâm của người Mỹ và người châu Âu, thậm chí trở thành "một
loại kỹ nghệ" để bồi dưỡng nhưng nhân viên quản trị xí nghiệp. Thiền
Tông cũng rất thịnh hành ở các nước Anh, Pháp, Đức Ở châu Âu gần đây, đã
thành lập "Liên Minh Thiền Tông châu Âu". Liên Hiệp Phật Giáo Thế Giới
cũng thừa nhận đó là một khu vực trung tâm quan trọng.
b) Mật Tông: Sự tín ngưỡng và thực hành Mật Tông trước đây chỉ
bó hẹp ở trong phạm vi một số các nước theo Đại Thừa Phật Giáo; nhưng
ngày nay, đã truyền bá khắp thế giới. Ổ Ấn Độ từ năm 1959 - 2000 đã có
150 ngôi chùa viện và Trung tâm huấn luyện của Mật Giáo hay Lạt Ma
Giáo, thu nạp và bồi dưỡng hơn 6,200 tăng lữ. Các phái của Lạt Ma Giáo ở
Tây Tạng và ở Mông Cổ hầu như đều truyền đến các nước Âu Mỹ.
Hiện nay, các chùa viện, các Trung tâm huấn luyện, các Trung tâm Thiền
định... của Mật Tông Tây Tạng ở Hoa Kỳ có 5 ngôi chùa lớn, có hơn 40
trường Đại học hay Cơ quan Nghiên cứu chuyên giảng dạy và nghiên cứu đại
Lạt Ma Mông, Tạng và các văn hoá khác. Ở Anh quốc, trong các tín đồ quy
y Phật Giáo có đến 50% Phật Giáo tạng truyền, 25% Thiền Tông. Phần còn
lại là các hệ phái Phật Giáo khác. Ở Đức quốc, Hoffman thành lập "Giáo
đoàn Mạn Ðà La Phật Di Lặc", nay đã trở thành một tổ chức Mật Giáo
mang tính quốc tế, cũng lưu hành rất rộng rãi ở Anh, Pháp, Bỉ.
2- Thế tục hoá: Hiện nay, khong ít quốc gia châu Á Phật Giáo và
phong trào chính trị, xã hội đã kết hợp chặt chẽ với nhau, xuất hiện
rất nhiều chính đảng và đoàn thể xã hội Phật Giáo.Tại Ấn Độ và Nhật Bản,
một số chính đảng và đoàn thể Phật Giáo đem việc thực hiện dân chủ xã
hội Phật Giáo và lý tưởng Tịnh Thổ làm mục tiêu phấn đấu trên chính
trường. Tại Thái Lan, từ năm 1932 đến nay, các bộ Hiến Pháp đều quy
định Phật Giáo là quốc giáo. Tại Lào, năm 1947 và ở Myanma năm 1961 cũng
đã từng có lúc tuyên bố Phật Giáo là quốc giáo.
Sự
kết hợp giữa Phật Giáo và các phong trào dân tộc, dân chủ châu Á là đặc
trưng rõ rệt của những thập niên gần đây. Rất nhiều phong trào Chấn
hưng và cải cách dân tộc và xã hội đều chịu ảnh hưởng của Phật Giáo:
Phong trào Khởi Mông Cận Đại tại Sri Lanka đã bắt nguồn từ Thần Trí
Học Hội, Ma Kha Hiệp Hội; Phong trào Ma Kha Bồ Đề Hiệp Hội, phong trào
Khai Sáng đã cải thiện tình trạng giai cấp tiện dân (intouchables) Ấn Độ,
phong trào Khai Sáng Hiện Đại của Népal, phong trào Chính trị Xã Hội tại
Myanma, phong trào Phục Hưng tại Lào, phong trào Tân Hưng Tôn giáo tại
Nhật... đều gắn bó với Phật Giáo. Cũng có những phong trào quần chúng nổi
dậy và phát triển dưới ngọn cờ của Phật Giáo. Gần đây, trong một giai
đoạn, chủ nghĩa xã hội Phật Giáo đã được tuyên truyền rầm rộ và cũng
gây ảnh hưởng không ít trong hàng ngũ tín đồ Phật Giáo. Điều nầy cho thấy
tính quần chúng và tính tiếp cận của Phật Giáo trong xã hội khá vững mạnh.
3- Đối thoại và giao lưu: Càng ngày Phật Giáo các nước đã mở
rộng phạm vi hoạt động văn hoá. Sự thẫm thấu và sự kết hợp tương hỗ
của các hệ phái trong Phật Giáo hay giao lưu tinh thần với các tôn giáo
khác càng được mở rộng hơn trước. Sau Đệ Nhị Thế Chiến, "Tân Phật Giáo" ở
Ấn Độ, một số hệ phái tôn giáo ở Nhật Bản, Hội Phật Giáo Hỗn Hợp Âu
Mỹ, Viện Phật Giáo ở Triều Tiên, Phật Giáo Hoà Hảo ở Việt Nam... Về mặt
giáo lý và nghi thức đều có rất nhiều khác biệt với các hệ phái Phật Giáo
truyền thống; tuy nhiên họ vẫn hướng về giáo lý của đức Phật trên một
lãnh vực nào đó. Chẳng hạn như Viện Phật Giáo (Triều Tiên) chủ trương
lấy "nhất viện" làm trung tâm, lại đem "pháp thân" của Phật Giáo,
"đại cực" của Nho Giáo và "đạo" của Lão Giáo kết hợp với nhau. Theo
họ, kết hợp nầy không có gì là mâu thuẫn nhau cả. Ngoài ra, còn xuất hiện
thêm một số "Tân Phật Giáo" hay những nhà "tân tăng" được họ xem là sự
kết hợp để hoà đồng với xã hội và trào lưu hiện đại hoá.
Những xu hướng nghiên cứu Phật Giáo hiện đại
1- Lĩnh vực nghiên cứu: Lĩnh vực nghiên cứu Phật Giáo hiện nay
tương đối được mở rộng;ngoài việc nghiên cứu về giáo lý, kinh điển,
lịch sử, giáo phái... của bản thân Phật Giáo, lại còn đề cập đến các
lĩnh vực khác như: khoa học, triết học, tâm lý học, luận lý học, luân lý
học, siêu hình học, văn học, nghệ thuật... Phật Học đã trở thành một
trong những môn học tương đối quan trọng trong khoa học xã hội và nhân
văn, trong đó, có những liên hệ đặc biệt với ngành xã hội học. Thiền
đưọc nói nhiều trong trà đạo, hoa đạo, thi ca, hội họa, vườn cảnh,
nghệ thuật cắm hoa, âm nhạc, kịch nghệ, nghệ thuật sống...
2- Chính trị: Một số nhà nghiên cứu chính trị và xã hội châu Á
thường nhấn mạnh đến vai trò và mối quan hệ hữu cơ giữa Phật Giáo và chính
trị tại châu Á trong xu thế phát triển hiện nay. Sau Đệ Nhị Thế Chiến, do
nhu cầu về chính trị, Hoa Kỳ và Nga Sô (trước đây) đã đặc biệt coi
trọng việc điều tra, nghiên cứu hiện trạng ở các khu vực nầy,đã công bố
hàng loạt những công trình nghiên cứu và luận văn có liên quan đến lãnh
vực nầy. Chẳng hạn: Trung Tâm Nghiên cứu Tôn Giáo Thế giới của trường
Đại học Harvard từ năm 1967 đến 1972 đã phát hành bộ sách thứ 3 rất đồ sộ
bàn về "Tôn giáo Trung Quốc dưới thời thống trị của Mao Trạch Đông".
Cũng
trong chiều hướng nầy,trường Đại học Princeton trong thập niên 1970 và
1980 đã xuất bản một loại sách nghiên cứu tôn giáo và chính trị các nước
Đông Nam Á.Nga Sô trong thập niên 1980 cũng phát hành không ít những tác
phẩm chuyên đề và luận văn liên quan đến tôn giáo, như "Phật Giáo và
Phong trào Giải phóng dân tộc Đông Nam Á", "Tôn giáo tại Myanma với chính
trị"...Dĩ nhiên những dụng ý xâm nhập vào Phật Giáo để hoạt động chính
trị không nhỏ.
3-
Nghiên cứu Thiền và Mật Thiền Tông và Mật Tông là 2 hệ phái Phật
Giáo đang bành trướng mạnh mẽ tại nhiều vùng rộng lớn trên thế giới
hiện nay. Theo đà phát triển của Thiền Tông, Mật Tông cũng được khai
triển, kể từkhi Trung Cộng chiếm Tây Tạng và Mật Tông được giới thiệu
sâu rộng ở nước ngoài. Khắp nơi trên thế giới không những tìm tòi,
thảo luận lý luận và thực tiển của Thiền định, cơ chế, mục đích và phương
pháp tu Thiền, lại còn đem phương pháp tu Thiền ứng dụng vào các lãnh vực
tâm lý, bảo vệ sức khoẻ, võ thuật, nghệ thuật, văn học, quản lý sản
xuất... Sự truyền bá tư tưởng Thiền học trong nghệ thuật sống của con
người đã gây những ảnh hưởng nhất định. Chẳng hạn như một số các nhà lý
luận Cơ Đốc Giáo tuyên bố: "Thiền định là con đường đưa đến sự chứng ngộ
trong Cơ Đốc Giáo". Do đó, đã nẩy sinh ra phong trào "Thiền Cơ Đốc".
Trong chiều hướng đó, Mật Tông cũng gây những ảnh hưởng tương tự như thế.
4- Phương pháp nghiên cứu: Trong giao lưu văn hoá hiện
nay, phương pháp nghiên cứu Phật Giáo đã cải tiến nhiều.Không ít học giả
thường chọn một khu vực và thôn trấn lưu hành một phân chi hay một phái
của một phái biệt nào đó làm đối tượng điều tra chuyên sâu hơn. Phương
pháp so sánh, hiện đại hoá, tỷ giảo học, cảnh quan học... thường được
dùng để thực hiện những công tình biên khảo Phật Giáo hiện nay. Kết quả
nghiên cứu của họ thường thể hiện dưới những báo cáo chuyên đề điều
tra hay luận văn. Phật Giáo được nhận định qua những giác độ khác
nhau. Tuy nhiên, cũng không thiếu một số sơ sót; một số nhà nghiên cứu
đã thiếu mất sự chỉ đạo của thế giới quan khoa học, cho nên chỉ dùng
phương pháp nhận thức chủ quan, có khi chỉ "thấy cây mà không thấy rừng",
nên thường đưa ra những kết luận phiến diện, lệch lạc.
5- Nghiên cứu tổng hợp: Trước đây, một số học giả chỉ tập
trung nghiên cứu những văn bảnvà sử liệu tiếng Pali Nam Truyền, chú trọng
nghiên cứu lịch sử và lý luận căn bản của Phật Giáo trong thời kỳ đầu;
một số học giả khác thì coi trọng sử liệu và kinh văn Hán văn Bắc
Truyền, coitrọng nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến Phật Giáo
Đại Thừa.Nhưng hiện nay đã khác. Các học giả Phật Giáo hiện đại đã chú
trọng đến cả 2 mặt, không những chú ý tới Phật Giáo Nam Truyền, đồng
thời cũng coi trọng Phật Giáo Bắc Truyền. Họ thường tập hợp cả hai để so
sánh, bổ túc cho nhau, đồng thời chọn những giá trị thích hợp và ý nghĩa
nhất trng biên soạn. Cũng không thể bỏ sót những công tình khai quật
khảo cổ học được tiến hành trong những thập niên gần lại đây để có được
những chúng liệu cụ thể và thích đáng trong nghiên cứu lịch sử và tư liệu.
Vấn đề 4: Phật Giáo trong giai đoạn phục hưng
Trong vòng ba bốn trăm nay, do ảnh hưởng của hoàn cảnh xã hội của nhiều
khu vực trên thế giới, Phật Giáo bị ngưng trệ thì đến đầu thế kỷ XX, đã
chứng kiến sự hồi sinh tại nhiều nơi ở châu Á, thuộc Phật Giáo Đại Thừa
hay Phật Giáo Tiểu Thùa.
Tại Nhật Bản: Khả năng hồi sinh nhanh chóng nầy bắt đầu từ năm
1868, khi sự giải thể Phật Giáo vào lúc đầu thời đại Minh Trị và những
chủ trương ngược đãi suốt một thời gian đối với tôn giáo nầy. Tuy nhiên
trong hoàn cảnh đó, Phật Giáo đồ đã cố vươn mình trỗi dậy, như một liều
thuốc kích thích.
Tại Tích Lan, cũng vài năm sau đó, Phật Giáo cũng bắt đầu ngẩng
đầu trở dậy. Những nhân vật có công trong sự phuc hưng ban đầu nầy,
phải kể đến: Meggetuwatte, Gubananad và đại tá H. S. Olcott. Họ đã tạo ra
một ảnh hưởng lớn trong đường hướng tôn giáo của quốc gia nầy. Sự hồi
sinh của Phật Giáo trong vùng đất nầy bắt đầu diễn ra dưới dạng một
phong trào Phật Giáo có tổ chức vào năm1891, khi ngài Anagarika
Dharmapala thành lập Hội Đại Bồ Đề (Maha Bodhi Society).
Tại
Trung Hoa, sự tỉnh thức của hàng ngũ tăng sĩ và tín đồ Phật Giáo bắt
đầu từ những hoạt động của Thái Hư Đại Sư đề xướng phong trào canh tân
Phật Giáo.
Tại Miến Điện: Sự hồi sinh của Phật pháp được gắn liền với
têntuổi của vị học giả uyên bác Ledu Sayadaw.
Trong tất cả các quốc gia Phật Giáo ở châu Á, thì có lẽ chỉ ở Tích
Lan và Miến Điện là 2 nơi Phật Giáo đang hồi sinh một cách thắng lợi
nhất. Chính hoàn cảnh chính trị và xã hội là một trong những yếu tố giúp
đỡ sức hồi sinh sớm nầy. Tích Lan là một ví dụ: Những thành tích đạt được
ở Tích Lan do sự khai sinh 2 tổ chức Phật Giáo lớn của Phật Giáo thế
giới; đó là Hội Đại Bồ Đề và Hội Ái Hữu Phật Giáo Thế Giới. Từ hai cơ
cấu nầy, khắp nơi trong nước đều dấy lên phong trào trùng tu chùa
chiền, tổ chức tăng già và quần chúng tu tập.
Có lẽ, trừ 2 nước Nhật Bản và Tích Lan ra, với khả năng eo hẹp của
mình, nhưng họ cũng đã cử ra nước ngoài, kể cả các quốc gia Tây Phương,
nhiều vị sứ giả Phật Pháp (Dharmaduta) hơn bất cứ một quốc gia Phật
Giáo nào khác. Các học giả Phật giáo như BS Malalasekera,
Coomaraswamy và Buddhadatta, các họa sĩ như Manjurri Thera và George
Keyt, các văn sĩ, thi sĩ như Dhanapala, Tambimuttu, khi giới thiệu
những công trình nghiên cứu, hoàng pháp và thể hiện nghệ thuật ra nước
ngoài đều được đa số tiếp nhận, kính trọng, xem như một trào lưu tư
tưởng và văn hoá mới của thời đại. Theo chiều hướng đó, ngay ở trong
nước, các ngành nghệ thuật, thủ công, phong tục bản địa, văn hoá
truyền thống, từng bước cũng được hồi sinh trên tinh thần mới. Những
ràng buộc, khống chế văn hoá, tín ngưỡng do chế độ thực dân trước kia gây
ra, thì sau đó, Tích Lan đã từng bước tháo gỡ khôn khéo và hữu hiệu.
Nằm trong Khối Thịnh Vượng Chung, Tích Lan đã tỏ ra kông thua kém gì nước
Anh vềcông cuộc phát triển tôn giáo và văn hoá. Thậm chí, chính quyền
Anh phải phái nhiều học giả sang đây để nghiên cứu Phật Giáo, trở về
truyền bá lại trong nước.
Tại Miến Điện, cũng đã diễn ra trường hợp tương tự. Nền độclập của
quốc gia nầy chẳng những tạo ra phong trào Chấn hưng Phật Giáo, mà lại
còn dẫn đến sự hồi sinh văn hoá Phật Giáo nước nầy. Tình hình một số
nước khác chuyển biến khác hơn. Chẳng hạn: tại Thái Lan, Kampuchia và
Lào, sụ trỗi dậy của Phật Giáo cũng như sự hồi sinh của nền văn hoá
Phật Giáo không được nổi bật lắm; nguyên nhân là ít chịu ảnh hưởng của
nước ngoài, cho nên cả Phật Giáo cùng những ngành nghệ thuật, phong tục,
thể chế đi kèm đã không bị suy sụp đến mức tệ hại như những nước khác.
Tại Việt Nam, dưới thời Pháp thuộc, Phật Giáo không có cơ hội để
tạo nên những nét khởi sắc; mãi cho đến từ năm 1932 trở đi, dã dấy lên
cuộc vận động chấn hưng khắp ba kỳ. Những tổ chức Phật Giáo được thành
lập trong một phạm vi nào đó, phải đợi đến 1963,sau cuộc tranh đấu Phật
Giáo thành công, mới đi đến thống nhất, ít ra, trên đại thể.
Tại Thái Lan, sau một thời gian tổ chức biên dịch, hiệu đính và
kết tập đã hoàn thành việc biên soạn toàn bộ Giáo lý Pali chuyển sang
tiếng Thái Lan, gồm 45 tập. Ấn bản công phu nầy mang tên là "Tam Tạng
Hoàng Gia Thái Lan" đến nay vẫn là ấn bản hoàn chỉnh vàđầy đủ duy nhất của
bộ Thánh điển Phật Giáo nguyên thủy từng được thực hiện ở những quốc gia
Phật Giáo châu Á hiên được lưu hành.
Tại Nhật Bản, quốc gia chịu ảnh hưởng nền công nghiệp hiện đại rõ
nét nhất, thì sự trỗi dậy đáng kể của nền văn hoá Phât Giáo đã không dẫn
đến sự "hồi sinh", nguyên nhân là nhờ dân tộc nầy từ trước đến nay
vẫn duy trì tinh thần hoà hợp giữ Phật Giáo với Thần Đạo; dân Nhật đã
nỗ lực duy trì và củng cố, tuy sống giữa một môi trường đầy bất lợi và
đầy đố kỵ của đời sống hiện tại.
Một
trong những nhân vật am tường Phật học và văn hoá Phật Giáo là Tiến sĩ
D. T. Suzuki, nhà thiền học nổi tiếng. Qua những tác phẩm và những bài
giảng của vị thiền sư nầy, đã tạo được một ảnh huởng sâu xa và rộng rãi
hơn bất cứ một tín đồ Phật Giáo nào khác trên phương diện tư tưởng, văn
hoá của người châu Âu và châu Mỹ.- Vấn đề chính trị: Tại những quốc gia
chịu sụ khống chế của thểchế chính trị, như trường hợp Trung Quốc, Tây
Tạng, Népal, kể cả Việt Nam, chính trị đã chiếm lĩnh một vị trí quan
trọng, chi phốimọi sinh hoạt tinh thần. Với Cộng Sản "tôn giáo là thuốc
phiện của dân chúng", nhưng những chính quyền ở những nước nầy không
thể khống chế toàn diện Phật Giáo được, đành quay sang thực hiện một chế
độ quản trị mới, để tránh phản kháng, ít nhất trong từng giai đoạn.
Những thông tin về chính quyền Bắc Kinh trao tặng Xá lợi xương Phật
cho Miến Điện, hay tặng một bộ Tam Tạng Thánh Điển bằng tiếng Hoa cho
Tây Tạng... nằm trong kế hoạch đó.
Ấn Độ và phong trào hồi sinh Phật Giáo: Sự hồi sinh của Phật
Giáo tại Ấn Độ trong 60 năm qua, nhất là trong thập niên vừa qua, là một
trong những sự kiện đặc biệt và đáng lưu tâm trong lịch sử văn hoá Phật
Giáo. Không một nơi nào trên thế giới có thể tìm thấy được một trường
hợp tương tự của một tôn giáo đã từng biến mất trong nhiều thế kỷ qua,
mà nay lại được hồi sinh. Đây không phải là mệnh lệnh của một bạo chúa,
cũng không phải là do kết quả của nạn ngoại xâm, mà chỉ do quyết tâm của
quảng đại quần chúng.
Điều nầy đang diễn ra rõ ràng nhất trên đất Ấn Độ ngày nay. Chưa đầy một
thế kỷ trước đây, ở đây chẳng ai được nghe nhắc đến Phật Giáo trên miền
đất sinh ra tôn giáo đó; và nếu có được nhắc đến chăng đi nữa, cũng
chỉ nhắc là "một tôn giáo không chính thống", từng bị chống đối và đã
biến đi. Nhưng ngày nay, từ "Phật Giáo" lại trỏ nên quen thuộc với dân
nước nầy. Bên trên chiếc ghế của vị Tổng thống nước Cộng hoà Ấn Độ,
trong Viện Dân Biểu, mấychữ Dharmachakara Pravarttanya (Chuyển Pháp
Luân) sáng ngời ánh điện trước các đại biểu đến dự họp. Ngay chính
giữa lá quốc kỳtung bay trên hàng nghìn công sở Ấn Độ, cũng thấy
ký hiệu này, nhắc nhở mọi người không những về giáo lý cao cả của đức
Phật, mà lại còn cả chủ trương Dharmavijaya (Thắng trí) của vua A Dục. Sự
hồi sinh của Phật Giáo ở đây được gắn liền chặt chẻ với sự phục hưng nền
văn hoá của xứ nầy. Sự phục hưng diễn ra một thời gian trước đó, sau mới
đến sụ hồi sinh của Phật Giáo. Sự hồi sinh nầy, bản thân là một phần của
phong trào rộng lớn nhằm phục hồi đờisống tôn giáo, văn hoá, tư tưởng,
đạo đức và chính trị quốc gia.Sự hồi sinh nầy còn g16n liền với sự phục
hưng của một nền văn hoá Phật Giáo đặc trưng của đất nước nầy. Cũng
trong chiều hướng nầy, các nhà chính trị và tư tưởng Ấn Độ đã nhận
thức được tầm quan trọng của việc nghiên cứu các kinh điển tiếng
Pali, tiếng Phạn, tiếng Tây Tạng và tiếng Trung Hoa nữa. Thơ của thi
hào Rabindranath T. Tagore, tiểu thuyết của Gurabaksh Singh, truyện ký
của Edwin Arnold... chịu sâu xa ảnh hưởng của Phật Giáo, đã trở thành
những tác phẩm kinh điển của văn học Punjab hiện đại.