Những Nét Văn Hóa Của Ðạo
Phật
Trung Tâm Văn Hóa – Chùa Việt Nam
TT. Thích Phụng Sơn
---o0o---
Phần
6
11. Cầu
Nguyện Cho Thân Nhân Về Chốn Cực Lạc
Sau
khi chết chúng ta sẽ ra sao? Đó là câu hỏi vẫn luôn luôn ám ảnh nhân loại
từ bao nhiêu thế kỷ. Bác sĩ Raymond Moody đã cố gắng tìm hiểu vấn đề này
bằng các cuộc nghiên cứu trường hợp hàng trăm người đã chết đi rồi sống
lại mà ông ta trình bày rất tường tận trong tác phẩm Cuộc Sống Sau Đời
Sống (Life After Life). Các trường hợp những nhân chứng được phỏng vấn
này được gọi chung là những người có kinh nghiệm về cận tử (near dead
experiences). Theo định nghĩa về sự chết là không bao giờ sống lại mà họ
là kẻ sống lại và kể chuyện về sau khi được các bác sĩ xác nhận là đã chết
nên gọi là những kẻ kề cận cái chết và có kinh nghiệm về những gì xảy ra
trong thời gian đó. Chúng ta hãy theo dõi một trường hợp điển hình trong
quyển sách nói về đời sống sau khi chết của bác sĩ Ritchie: Trở về Từ
ngày Mai (Return From Tomorrow). Trong đó, bác sĩ Ritchie đã kể lại chính
kinh nghiệm của ông về những gì nghe thấy khi ông đi dần vào cõi chết.
I.
George Ritchie, Người Trở về Từ Cõi Chết
Ritchie được
bác sĩ khám nghiệm xác nhận đã chết vì tim ngưng đập, phổi hết thở trong
một thời gian dài, nhiệt độ cơ thể không còn, áp xuất máu cũng không có,
con ngươi nở lớn ra. Tóm lại, anh ta đã không còn có một dấu hiệu gì để
có hy vọng là còn sống. Lúc đó anh Ritchie
II.
Nhiều Người cũng Thấy Như Thế
Sau khi tác
phẩm nói về đời sống sau khi chết xuất hiện thì càng ngày người ta càng
thấy có nhiều người chết đi rồi sống lại cho biết những kinh nghiệm thực
sự trong “Cõi chết”. Theo viện nghiên cứu Gallup thì tám triệu người Hoa
Kỳ có kinh nghiệm về trạng thái đặc biệt như trên sau khi họ đối diện với
cái chết. Họ diễn tả lại những điều nghe và thấy sau khi họ qua đời (Rồi
sống lại) tuy có khác nhau nhưng theo các nhà nghiên cứu thì chung quy
cũng ở trong các ý kiến như sau:
1.
Họ nghe bác sĩ xác nhận họ đã chết.
2.
Những đau đớn lo âu tan biến và họ cảm thấy thoải mái nhẹ nhàng
ngay sau đó.
3.
Họ nghe tiếng nhạc êm dịu thích thú.
4.
Họ bị cuống hút vào một đường hầm đen tối rồi thấy mình ở trên cao
nhìn thấy mọi người chung quanh và cả thể xác của mình đang nằm chết.
5.
Họ thấy khối Ánh Sáng mà họ gọi là Ngưòi Ánh Sáng, dù nhiều người
không gọi đó là con thưọng đế như Ritchie đã gọi, nhưng đồng ý là họ cảm
nhận tình yêu tràn đầy từ khối ánh sáng chói lòa đó. Những người theo đạo
khác có thể gọi đó là Phật hay Allah.
6.
Ngưòi Ánh Sáng đã cho họ thấy toàn diện cuộc đời của họ trên một
màn ảnh lớn.
7.
Họ muốn ở lại luôn, không muốn trở lại trần thế. Khi sống lại, họ
trở thành những người rất tốt, thương yêu và giúp đỡ cho nhiều người.
8.
Họ xác tín những gì họ thấy là sự thật dù họ ít muốn nói đến trạng
thái sau khi chết. Sau đó, họ không còn sợ chết nữa.
9.
Có những người thấy các hình ảnh làm họ kinh khiếp chứ không phải
ai cũng thấy người tràn đầy ánh sáng tình thương yêu.
10.
Những kinh nghiệm nói trên không thể diễn tả bằng lời nói vì dù nói
thế nào thì cũng không diễn tả hết được những gì họ đã kinh nghiệm
III. Đạo
Phật Nói Gì Về Sau Khi Chết
Các tôn giáo
thường nói về thiên đàng hay địa ngục sau khi chết. Phật giáo là một tôn
giáo đã nói rất rõ, tả rõ những hình ảnh và những cảm xúc người qua đời sẽ
thấy vào các ngày đầu tiên. Chúng ta thử tìm hiểu những điều đạo Phật nói
trong các kinh điển có liên hệ gì với các khám phá mới mẻ của thế kỷ thứ
20 này không.
Trong các bộ
kinh như kinh Đại Bảo Tích, Kinh A Di Đà, nhất là các kinh văn bí mật của
Phật giáo Tây Tạng, nói rất rõ ràng về các hình ảnh mà người chết sẽ thấy
khi họ vừa qua đời và liên tiếp qua những ngày sau đó cũng như thế giới an
vui cực kỳ hạnh phúc của thế giới Chư Phật. Hàng triệu người chết đi rồi
sống lại đã thấy những hình ảnh của những ánh sáng rực rỡ hay những cảnh
làm cho họ khiếp sợ, chỉ là một phần rất nhỏ bé của thế giới bên kia. Như
bác sĩ Ritchie, họ chỉ chết độ năm hay mười phút, còn trạng thái Thân
Trung Ấm kéo dài đến 49 ngày đêm. Trong thời gian ấy Thân Trung Ấm còn
nghe rất nhiều âm thanh, thấy rất nhiều các loại ánh sáng và hình ảnh có
thể làm cho họ sung sướng vô cùng hay khiếp hãi dữ dội tùy theo nghiệp lực
của họ. Những kinh sách nói trên nói rõ các luồn ánh sáng trắng, vàng,
đỏ, xanh rực rỡ hay êm đềm sâu đậm xuất hiện mỗi ngày cùng hình ảnh các vị
Phật trong hào quang thanh tịnh chiếu sáng bao la khi các Ngài xuất hiện
để cứu độ các Thân Trung Ấm. Các sách vở cùng các cuộc nghiên cứu về kinh
nghiệm cận tử (Near Death Experience gọi tắt là N.D.E.) vốn còn rất
sơ lược, rất ít ỏi khi so với những điều đạo Phật nói về sự chết. Điều ấy
cũng dễ hiểu vì những người có kinh nghiệm chết rồi sống lại đó chỉ trải
qua trạng thái chết một thời gian rất ngắn nên họ chỉ thấy biết một phần
rất ít ỏi những gì mà đạo Phật nói về thế giới bên kia. Đó là sự mầu
nhiệm và hiểu biết đặc biệt làm cho các nhà nghiên cứu phải ngạc nhiên
thích thú khi tìm hiểu về đạo Phật vậy.
Một cách tổng
quát, đạo Phật xác nhận đời sống vẫn tiếp diễn khi chúng ta qua đời nhưng
dưới một hình thức khác. Mạng sống con người gồm hai phần thể chất và tâm
linh. Khi tim ngưng đập, phổi ngưng thở, óc không còn hoạt động thì đó là
cái chết của thể xác. Phần linh hồn, đúng ra là thần thức, cái vẫn còn
thấy biết dù không còn thể xác, vẫn còn tồn tại. Phật giáo không dùng chữ
linh hồn vì muốn diễn tả rõ ràng hơn trạng thái người qua đời qua các giai
đoạn khác nhau. Một trong các giai đoạn ấy là khoảng thời gian ở giửa lúc
vừa chết và trước khi đi đầu thai để trở thành một sinh mạng mới. Đạo
Phật gọi cái thân không có thể xác ấy là Thân Trung Ấm. Cái thân này khác
với thân thể của chúng ta mà những người đã có kinh nghiệm về cái chết
trong những tác phẩm cận tử cũng nói rõ là thân lúc họ ra khỏi xác không
giống thân lúc còn sống nhưng không thể mô tả rõ ràng được.
Như thế, Thân
Trung Ấm có mặt ở giữa hai giai đoạn thân có thể xác này chết đi (Tử hửu)
và một thân khác được ra (Sinh hữu) và có mặt trong 49 ngày trong thời
gian chuyển tiếp này. Do đó, lễ cầu siêu trong Phật giáo kéo dài bảy tuần
lễ, cộng chung là 49 ngày như trên. Đạo Phật không những nói rõ Thân
Trung Ấm trải qua những trạng thái nào sau khi họ chết mà còn nói rõ ràng
họ thấy nghe những bà con than khóc mà không thể làm gì được, thấy những
loại hình ảnh và các loại ánh khác nhau và làm thế nào giúp họ giải thoát
khỏi mọi sự đau đớn, sợ hãi, buồn giận, tiếc thương, hối tiếc để họ có thể
trở về nơi thế giới Chư phật dù trong lúc còn sống họ không có được nhiều
thiện duyên với Phật pháp.
IV. Đối Chiếu Kinh Điển Và Kinh Nghiệm Thật Sự
Chúng ta hãy
nghe đại uý Tommy Clark kể lại chuyện ông ta đã đi vào cõi chết khi bị
thương trên chiến trường như sau: “Tôi bị hất tung lên rồi rơi xuống
đất. Khi cố ngồi dậy, tôi biết đôi chân, cánh tay phải và vai phải của
tôi bị mất. Tôi nằm xuống và nghĩ rằng mình sẽ chết. Sau đó tôi không còn
thấy gì cả nhưng biết là nhóm quân y đang cố cứu mạng sống của tôi. Bỗng
nhiên, tôi thấy mình thoát ra ngoài cơ thể, nhìn thấy những người trong
toán quân y đang chăm sóc thân thể tôi và phủ lên người tôi tấm vải nhựa,
dấu hiệu của sự chết. Chúng tôi đến một bệnh viện dã chiến và tôi được
đưa vào phòng mổ. Tôi thấy họ cắt bộ quân phục của tôi và ngay lúc đó tôi
thấy một ánh sáng chói lòa tràn ngập căn phòng. Ánh sáng ấy thật kỳ diệu,
ấm áp, tốt lành, chói sáng như khi chúng ta nhìn mặt trời. Rồi trong một
nháy mắt, tôi lại trở ra ngoài chiến trưòng. Quanh tôi là những chiến hữu
đã chết. Họ đi xa ra và tiếp xúc với nhau nhưng không dùng ngôn ngữ. Họ
không có thân thể như trước đây nhưng tôi biết đây là các bạn Dallas,
Ralph, Terry và họ cũng biết tôi. Họ muốn tôi đi với họ nhưng tôi không
muốn. Sau đó, trong một nháy mắt, tôi quay về phòng mổ nhìn thấy họ săn
sóc thân tôi.”
Trong quyển
sách của Raymond Moody có liệt kê nhiều trường hợp cận tử, những người
chết rồi sống lại. Họ kể thấy những luồng sánh sáng sáng chói, những hình
ảnh của những chốn xa lạ, những thân nhân qua đời từ lâu hiện ra và đón họ
ở thế giới bên kia sau khi họ trôi nổi bềnh bồng nơi chốn vô định. Đa số
các trường hợp người ta thấy điều an vui. Theo đạo Phật đó chỉ là bước
đầu của sự hấp dẫn của các luồn ánh sáng hiện ra tùy theo nghiệp lực của
mỗi người, càng về sau càng có những chuyển biến tùy theo tâm thức của mỗi
người.
Trong tác
phẩm kế tiếp, The Light Beyond xuất bản vào năm 1988, bác sĩ Moody nêu ra
các dữ kiện do nhân viên kiểm kê George Gallup, Jr. cho biết tám triệu
người Hoa Kỳ đã có kinh nghiệm cận tử nói trên và chia ra những nhóm có
kinh nghiệm vào lúc lâm chung như sau:
v
26% thấy bay ra khỏi thân thể
v
23% thấy rõ ràng sự vật chung quanh
v
17% nghe tiếng động hay âm thanh
v
23% cảm thấy bình an, không đau đớn
v
14% thấy ánh sáng
v
32% thấy toàn diện đời sống đã qua
v
32% thấy mình đến thế giới khác
v
23% thấy mình gặp gỡ những người khác
v
9% thấy bị cuốn vào đường hầm đen tối, v.v.
Đạo Phật nói
nhiều đến trạng thái những người hiền gặp hay thấy sự tốt đẹp khi họ qua
đời và những người ác thấy hay gặp điều lo lắng, sợ hãi rong giờ phút lâm
chung và chúng ta thấy có phần tương tự như trên. Liễu Sanh Thoát Tử,
sách chép lại những phần chính trong kinh điển
Phật giáo nói
về những trạng thái sau khi chết, tả rõ về các giai đoạn của Thân Trung Ấm
nhu sau:
“Khi nghiệp
thức đã ở vào giai đoạn Trung Ấm, thì mê rồi lại tỉnh, tỉnh rồi lại mê,
phải cảm thọ những điều không yên ổn, không tự tại. Có một thứ nghiệp
phong mãnh liệt thổi đưa nghiệp thức vào phương hướng vô định, tương tự
như mảy lòng bị gió cuốn: Qua lại lên xuống điều tùy theo chiều gió, cái
thân ấy không do ý mình, phải phiêu lưu knông nhất định. Rồi bỗng nhiên
lại gặp một thứ ánh sáng vô cùng mãnh liệt, vùn vụt chớp lòe, tia sáng
chói lòạ
Hoặc có những
luồn sánh sáng yếu ớt hon của Lục Phàm (Thiên, A tu la, Nhân, Súc Sinh,
Ngạ Quỷ và Địa Ngục) bỗng biến hiện. Tùy nghiệp lực thần thức cảm ứng với
đạo nào mà luồn ánh sáng của đạo ấy sẽ rực rõ lên. Ánh sáng của đạo trời
hơi trắng, ánh sáng đạo người hơi vàng, ánh sáng đạo A tu la hơi lục, ánh
sáng địa nguc như khói đen, ánh sáng ngạ quỷ hơi đỏ, ánh sáng đạo súc sah
hơi xanh.
Quan trọng
hơn cả là cõi Phật trong Năm Phương đều phóng ra những hoà quang rực rỡ,
mạnh mẽ: “Hào quang sắc xanh chói loà, hào quang sắc trắng trong sạch,
hào quang sắc vàng trong như ngọc, hào quang sắc đỏ mãnh liệt. Như vậy có
rất nhiều sắc hào quang của Chư Phật, tuy mãnh liệt song đó là hào quang
siêu việt, ân huệ, giải thoát. Vì nghiệp lực không tương hợp nên người
chết thường sợ hãi các hào quang mãnh liệt của Chư Phật soi đến mà chỉ
thích những thứ hào quang yếu ớt của Lục đạo, tiếp xúc vói hào quang của
Lục đạo để đầu thai về trong sáu nẽo ấy…”
Trước đây chỉ
có một số ít các vị cao tăng đức độ thuộc các truyền thống Thiền, Tịnh và
Mật tông cùng một số cư sĩ tu theo Tịnh Độ nói lên những điều họ thấy
trước khi họ qua đời, sau khi họ qua đời rồi sống lại hay những vị thực
hành các phương pháp bí mật nói rõ những cảnh giới chúng ta trải qua sau
khi chết. Những điều ấy chỉ nằm trong phạm vi Phật giáo và có tính cách
thần bí tôn giáo hơn khoa học. ngày nay, với hàng triệu người có các kinh
nghiệm tương tự, vấn đề này biến thành một đối tượng được các nhà khoa học
nghiên cứu và thảo luận sôi nổi với niềm vui mừng là dầu sao, lúc gần kề
với sự chết, nhiều người thấy được các luồn ánh sáng tỏa chiếu tình thương
và đem đến cho họ một niềm hạnh phúc bao la.
V. Đức Phật Có
Ánh Sáng Vô Lượng
Như thế,
những điều nói trong kinh đã được một số người tả tại một phần nào sau khi
họ chết một thời gian ngắn. Vì khoảng thời gian chết chưa đủ để chứng
kiến những biến chuyển kế tiếp và cũng vì họ chịu ảnh hưởng của nền văn
hoá Tây Phương thường cho những gì siêu việt là Thượng Đế (God) nên gọi
những luồng ánh sáng đó là Thượng Đế hay con Thượng Đế. Rất nhiều người
không biết luồng ánh sáng tràn đầy tình thương yêu đó thật sự là gì và họ
gọi bằng nhiều thứ tên khác nhau tùy theo niềm tin của mỗi người vì họ
chưa bao giờ có kinh nghiệm như thế khi còn sống. Nhiều người gọi đó là
người Siêu Nhân Ánh Sáng (superbeing of light).
Trong đạo
Phật, người Phật tử thường đọc kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ cùng một số
kinh sách nói về một vị Phật toàn thân chỉ là ánh sáng rực rỡ, tràn đầy
tình thương yêu tiếp đón chúng ta về chốn Cực Lạc, chốn niềm vui trong
lành bao la sau khi chúng ta qua đời. Đó là Đức Phật A Di Đà, vị Phật mà
thân tỏa ánh sáng vô lượng vô biên.
Đức Phật A Di Đà tỏa chiếu ánh sáng bao trùm vũ
trụ
tràn đầy niềm an vui kỳ diệu. Ngài tiếp độ kẻ qua
đời về chốn cực lạc
Ánh sáng từ
thân Đức Phật A Di Đà tràn đầy một sự trong lành, an ổn, tĩnh lặng vô
biên (Thanh Tịnh Quang Phật), thân Ngài tràn ngập ánh sáng vô cùng vô tận
(Vô Lượng Quang Phật), và ánh sáng ấy là nguồn an vui sâu thẳm kỳ diệu
(Hoan Hỷ Quang Phật) chiếu sáng ra muôn phương thế giới mà không một loại
ánh sáng nào có thể so sánh được (Vô Đối Quang Phật).
Ngoài ra,
một điểm đặc biệt khác trong đạo Phật là vấn đề nghiệp báo. Theo luật
nhân quả thì những hậu quả tốt hay xấu xảy ra cho mỗi người căn cứ vào
những việc làm lành hay dữ của họ khi họ đang còn sống hay qua đời. Do
đó, không nhất thiết có niềm tin là đủ. D` là một người đạo Phật hay đạo
nào mà làm ác thì ác nghiệp vẫn lôi cuốn họ. Một người dù không có đạo
hay theo đạo khác mà làm lành thì thiện nghiệp cũng lôi cuốn họ về với thế
giới an vui giải thoát của chư Phật hay chốn thiên đàng của tôn giáo họ.
Đức Phật là
một bậc đầy hiểu biết, bao dung và đức độ. Ngài không nói phải theo đạo
Ngài mới được cứu vớt, ai không theo Ngài thì đọa địa ngục. Ngài không
dọa nạt như thế vì Ngài mong muốn đem lại hạnh phúc chân thật cho mọi
người bằng cách giải phóng họ khỏi mọi sự lo lắng, sợ hãi, khổ đau từ
những hiểu biết sai lầm mà đạo Phật gọi là vô minh, nhũng kẻcòn bị mê mờ
vì không biết sự thật. Thoát khỏi sự thấy biết sai lầm gọi là bậc giác
ngộ: Người có sự hiểu biết chân thật. Do đó, ngưòi Phật tử xưng tụng
Ngài là bậc thầy không ai hơn: Đấng Vô Thượng Sư.
Đạo chỉ dạy
hãy làm các điều lành, không làm các điều ác để là gieo trồng thiện
nghiệp. Khi thực hành những lời dạy cao quý của đạo Phật thì thiện nghiệp
gia tăng, mang lại cho ta nhiều điều an lành và hạnh phúc khi sống cũng
như lúc qua đời. Trong kinh đã nói rõ chư Phật thuộc năm phương vũ trụ
phóng ra những hào quang rực rỡ để tiếp độ cho những kẻ qua đời, dù họ
thuộc bất cứ tôn giáo nào. Nếu ta tu tập theo đạo Phật thì có tình thương
yêu trong sáng và sự hiểu biết chân thật nên sống đời an lành, hạnh phúc.
Vì có sự hiểu biết chân thật về mọi hiện tượng tâm lý và vật lý nên chúng
ta không sợ hãi khi đối diện với các cảnh biến hiện lúc lâm tử và dễ dàng
hướng đến thế giới chư Phật mà vãng sanh.
Khi một thân
nhân Phật tử qua đời, những người trong gia đình do lòng thương yêu vợ
chồng, cha mẹ, con cái, an hem, bạn bè hay cả những người mình chưa quen
biết, thành tâm niệm Phật, tụng kinh, trì chú và cầu nguyện cho hương
linh, tức là Thân Trung Ấm của người qua đời thì họ sẽ cảm nhận được sự
mầu nhiệm của đạo pháp, buông xả mọi sự lo âu, phiền não, mê mờ, quay về
nương tựa sự Tam Bảo, Phật, pháp, Tăng cùng phát nguyện cầu mong sự giải
thoát và mong được chư Phật tiếp độ trở về chốn Cực Lạc, thế giới an vui
hạnh phúc của Chư Phật. Khi lòng họ đã biết rõ lẽ sanh tử thì họ không
còn sợ hãi khi thấy các luồn ánh sáng mãnh liệt của Chư Phật, không bị
những luồn áng sáng dịu dàng của Lục đạo hấp dẫn họ do đó được dễ dàng hơn
trong việc được vãng sanh về thế giới an lành của Chư Phật.
Có nhiều
người bảo: “Ông tu ông chứng, bà tu bà chứng” nên cho việc cầu siêu cho
chư hương linh được giác ngộ lẽ Đạo khi họ qua đời là không cần thiết.
Điều họ nói rất đúng khi chúng ta còn sống. Khi thực hành sự tu tập thì
chúng ta sẽ kinh nghiệm được, sống được với niềm an vui kỳ diệu. Tuy
nhiên cuộc sống vẫn còn tiếp tục khi chúng ta qua đời dù dưới hình thức
khác, và sự giúp đỡ họ còn cần thiết hơn khi họ còn sống. Do đó, việc cầu
siêu và tiến cúng chư hương linh rất ích lợi cho người đã qua đời cũng như
cho cả người còn sống mà chúng ta đã nói troưóc đây. Đạo Phật nói rất rõ
giữa giai đoạn vừa mới qua đời và tái sinh, Thân Trung Ấm còn có cơ hội
chót để giải thoát khỏi mọi trói buộc tiêu cực, để khám phá Phật tánh rộng
lớn trong sáng bao la của mình. Các vị đạo sư Tây Tạng thường thực hành
các phép tu Mật Tông trong đó có Thiền Quán Về Thân Trung Ấm, một trong
sáu phép thần thông của Ngài Naropa truyền dạy, để khi họ qua đời tự họ sẽ
chọn nơi chốn đầu thai trong cuộc đời kế tiếp theo như ý muốn để tiếp tục
phục vụ chúng sanh.
Một cách tổng
quát, mọi người đều có Phật tánh và có thể thành Phật như nhau. Một người
có đại hung, đại lực, đại từ bi thì có thể thành Phật ngay trong cõi đời
này như Đức Phật Thích Ca mà Phật giáo Mật Tông thường nói là túc thân
thành Phật. Phật giáo Mật Tông nhấn mạnh đến ba cơ hội mà chúng ta có thể
đạt được quả giải thoát tùy theo căn cơ của mỗi người.
Bậc Thượng Căn
Túc thân
thành Phật, thành Phật ngay trong cõi đời này khi nổ lực tu hành tinh tấn
dũng mãnh cùng phát đại nguyện cứu độ tất cả chúng sanh như trường hợp Đức
Phật Thích Ca.
Bậc Trung Căn
Những bậc tu
hành giác ngộ. Những vị ấy có thể thuộc những pháp môn tu tập khác nhau
như Thiền, Tịnh hay Mật Tông, có thể là tăng sĩ hay cư sĩ. Tùy theo
nguyện lực của họ như muốn tái sanh trong cuộc đời để cứu độ chúng sanh
hay muốn trở về thế giới Chư Phật mà Thân Trung Ấm của họ chuyển đến những
nơi họ muốn.
Bậc Hạ Căn
Không thực
hành sự tu tập đúng mức khi còn sống do đó khi chết không nhận biết được
ánh sáng Chư Phật, sợ hãi khi thấy Chư Phật hiện ra trong ánh sáng rực rỡ
nên không cảm nhận được từ tâm bao la của Ngài nhằm cứu độ cho tất cả
chúng sinh. Khi sự sợ hãi phát sinh thì họ thấy những hình ảnh yêu quái
xuất hiện nên càng khốn đốn.
IV.
Cầu Siêu Giúp Cho Hương Linh Giải Thoát
Tiếng tụng
kinh, niệm Phật và trì chú lúc đó rất cần thiết cho Thân Trung Âm. Lời
niệm Phật sẽ làm cho họ được yên tâm, cảm nhận được lòng thương yêu bao la
của Chư Phật, rủ sạch mọi sợ hãi. Khi sự sợ hãi không còn thì các hình
ảnh quỷ quái ghê rợn làm họ khiếp đảm cũng khng còn, từ đó họ sẽ cảm nhận
ánh sáng từ bi của Chư Phật cùng Chu vị Bồ Tát liên tiếp hiện ra cứu độ họ
trong 49 ngày. Những điều trên được nói rõ trong quyển Liễu Sanh Thoát
Tử và Thân Trung Ấm. Trong các buổi lễ cầu siêu, tiếng tụng kinh nhắc nhở
họ về giáo lý nhà Phật, khuyên họ khám phá Phật tánh vốn có đầy đủ nơi
chính họ, hãy quay về nương tựa Phật, Pháp và Tăng bên ngoài cũng như
chính bên trong mình để giải trừ mọi điều họ còn bám víu, họ còn mong muốn
thiết tha, họ còn dính mắc làm họ ham muốn, lo sợ, thất vọng, giận hờn,
khổ đau và hướng đến thế giới an lành và hạnh phúc vĩnh cữu của thế giới
Chư Phật, của chốn Niết Bàn, chốn Cực Lạc và chốn Tịnh Độ tốt lành vô
cùng.
Khi hương
linh, danh từ chính xác trong đạo Phật dùng để gọi linh hồn người qua đời,
nghe và cảm nhận được lời kinh cùng lòng thành của chúng ta khi cầu nguyện
cho họ thì lòng họ bắt đầu lắng dịu và cảm ứng dần với nguyện lực của Chư
Phật, tức là nguồn năng lượng trong lành của Chư Phật tràn đầy trong vũ
trụ do ước nguyện cứu độ chúng sanh thoát khỏi mọi khổ đau khi còn sống
hay lúc qua đời. Sức mạnh phát ra từ Chư Phật chuyển đến mười phương vũ
trụ để cứu độ chúng sanh đó chúng ta gọi là Phật lực hay là tha lực, sức
mạnh bên ngoài. Nếu chúng ta hướng đến Chư Phật trong bất cứ giai đoạn
nào trong lúc còn sống hay khi đã chết, lập tức ta cảm nhận sức mạnh bao
la đó. Lời kinh tụng, tiếng niệm Phật, trì chú và lòng thiết tha nguyện
cầu của chúng ta trong các buổi lễ cầu siêu làm cho hương linh cảm nhận
được chân lý của đạo, buông bỏ tất cả mọi vướng mắc, rồi họ nương theo sức
mạnh của niềm tin nơi chúng ta (Tín Lực), sức mạnh từ lời Niệm Phật (Niệm
Lực), sức mạnh từ lời trì chú (Chú Lực hay Thần Lực), sức mạnh của tâm
trong sáng vững chắc mạnh mẽ (Định Lực) mà phát sinh ra lòng mong ước mãnh
liệt trở về với thế giới Chư Phật. Đó gọi là tự lực, sức mạnh từ bên
trong mỗi chúng ta. Khi tự lực và tha lực hợp nhất thì lập tức Thân Trung
Ấm được giải thoát. Việc chúng ta tụng kinh cầu nguyện trong các buổi lễ
cầu siêu gọi là Hộ Niệm, tức là hỗ trợ cho chư hương linh biểu lộ được
lòng mong ước mãnh liệt muốn trở về thế giới. Chính qua lòng thành, qua
lời cầu nguyện, qua những tiếng tụng kinh, liờ trì chú, qua sự nhất tâm
kính lễ Chư Phật và Chư Bồ Tát của chúng ta mà chúng ta tạo ra một trợ
duyên tốt đẹp để hương linh cảm nhận được sự nhiệm màu của Phật đạo.
Như thế, khi
một người qua đời, họ vẫn còn có cơ hội cuối cùng để đạt được sự giải
thoát an lành nhờ sức hộ niệm của những người còn sống. Do đó, để gia
tăng sức mạnh và hiệu quả của sự hộ niệm quý báu này, trong các buổi lễ
cầu siêu, chúng ta cần phải:
Trai Giới
Không được
giết heo, bò, gà, vịt để cúng và đãi khách. Chỉ cúng chay và dọn thức ăn
chay cho thanh tịnh. Còn sự thanh tịnh bên trong là làm điều lành, không
làm điều ác, lòng an vui, thoải mái và trong sạch.
Thành Tâm
Một lòng
hướng về Chư Phật, đem lòng thương yêu trong lành mà cầu nguyện cho người
đã qua đời qua lời tụng kinh, trì chú, niệm Phật và lạy Phật.
Chọn Chỗ Thanh Tịnh
Nếu có chùa
thì đến xin lễ cầu siêu tại chùa. Nếu không có chùa thì làm lễ cầu siêu
tại nhà. Trước đó lo quét dọn sạch sẽ, lập bàn thờ Phật cho trang nghiêm,
lập bàn thờ cho hương linh, chưng bông hoa, quà phẩm, đốt đèn cho sáng
sủa, cùng dâng hương cúng Phật cho lòng thanh tịnh và nơi chốn được thanh
tịnh.
VII. Cầu Siêu Cũng Là Cơ Hội Đem Lại Sự An Lành Cho Người Sống.
Trong các
ngày cầu nguyện cho thân nhân khi họ qua đòi, chúng ta nên tránh việc sát
sinh, ăn chay, niệm Phật, nói lời hoà nhã với mọi người để lòng được thanh
tịnh làm gia tăng sức mạnh khi hộ niệm để giúp đỡ cho thân nhân chúng ta
khi họ qua đời. Thực hành được điều ấy thì chính người sống cũng như kẻ
qua đời đều hưởng được nhiều lợi lạc.
Có người sẽ
hỏi như thế thì chúng ta chẳng cần tu hành lúc còn sống. Cứ đợi đến khi
chết nhờ gia đình thỉnh quý thầy làm cho các lễ cầu siêu là giải thoát.
Nói như thế thật sai lầm vì thực hành đạo Phật lúc còn sống là hưởng được
nhiều an lành hạnh phúc và khi qua đời chắc chắn sẽ trở về thế giới chư
Phật. Cầu siêu là phương tiện cấp bách cuối cùng mà do lòng thương yêu
người thân qua đời chúng ta không còn cách nào hơn. Nếu chúng ta biết
trước những khổ đau họ phải đối diện khi chết thì chắc chắn chúng ta tạo
ra những duyên lành cho họ thực hành đạo Phật khi họ còn sống để chắc chắn
họ được vĩnh viễn an vui. Còn chủ trương lúc sống cứ làm mọi điều ác, lúc
chết chỉ cần làm vài lễ cầu siêu là họ đưọc giải thoát là quan niệm sai
lầm vì những kẻ làm ác thì sức mạnh của nghiệp lực (Sức mạnh do các hành
vi họ làm) sẽ đẩy họ voà các cảnh giới khổ đau để hứng nhận quả báo.
Chẳng khác gì cây to khi đã nghiêng quá nhiều thì những lời cầu nguyện của
thân nhân trong các lễ cầu siêu như những sợi dây nhỏ, không đủ sức kéo
cho thẳng được và cây sẽ đổ ầm xuống đất.
Một người
thân khi qua đời thì chúng ta thương tiếc, cố gắng làm những gì tốt đẹp
nhất cho họ. Chúng ta đâu có phê phán họ là hiền hay dữ, chúng ta chỉ
mong muốn họ được mọi điều an lành khi qua thế giới bên kia. Lòng thương
yêu đó không những đới với thân nhân mà còn đối với mọi người quen biết
hay không quen biết. Do đó, dù trong hoàn cảnh nào, khi một thân nhân qua
đời điều tốt hơn hết là chúng ta làm lễ cầu siêu cho họ. Lễ cầu siêu vốn
rất ích lợi cho những người mới qua đời, là dịp cuối cùng cho họ đạt được
sự giải thoát mà trở về với Chư Phật. Tuy nhiên, đối với những người chủ
trương làm các việc ác độc gây khổ đau cho nhiều người khác, thì chính vì
sự tham lam, sân hận và mê mờ của họ làm cho họ khó cảm nhận được ánh sáng
từ bi tỏa chiếu của Chư Phật hiện ra khi họ chết, họ sẽ sợ hãi trốn chạy
những luồn ánh sáng khác hấp dẫn họ hơn tùy theo lòng ham muốn của họ để
chuyển thành những đời sống kế tiếp tương ứng với nghiệp báo. Đó là phần
nghiệp báo của họ mà họ phải gánh chịu.

Cực lạc là chốn không có danh từ "khổ"
Điều nói trên
được giải thích rất rõ ràng trong quyển Tử Thư Tây Tạng (The Tibetan Bơk
Of The Death) nói về trạng thái Thân Trung Ấm. Về phần chúng ta, chúng ta
sống với tâm Phật, mong muốn đêm lại hạnh phúc cho mọi chúng sanh, chúng
ta thực hành hạnh nguyện từ bi và đem lòng thành mà nguyện cầu cho họ được
mọi điều tốt đẹp.
VIII.
Đừng Bỏ Lỡ Cơ Hội Tu Tập Khi Còn Sống
Có người lại
chủ trương chỉ cần làm điều tốt lành như giúp đõ bà con, bạn bè, những kẻ
nghèo khổ, làm các việc thiện là đủ, như thế là tu tại tâm, không cần phải
tụng kinh, lễ Phật, trì chú, ngồi thiền hay tham dự các khóa tu tập. Dĩ
nhiên, làm điều lành tránh điều dữ là lời dạy của Đức Phật, làm được các
điều ấy rất tốt, dễ dàng cảm ứng với các luồn ánh sáng Chư Phật hơn kẻ
ác. Tuy vậy, quan trọng nhất của đời người là trong giai đoạn chúng ta
còn sống. Nếu không học đạo và thực hành thì làm sao chúng ta biết được,
sống được với Phật tánh thanh tịnh bao la nơi chính mình để hưởng niềm an
vui hạnh phúc bao la và tiến bước trên con đường giác ngộ nầy và đời kế
tiếp. Nói khác đi, là tự mình bỏ lỡ cơ hội quý báu khi mình được phúc đức
làm người.
Do đó, khi
còn sống chúng ta thực hành Phật đạo để lòng được an vui, trí được trong
sáng. Trong tình thương yêu bao la của tâm giác ngộ, chúng ta khuyến
khích vợ chồng, con cái, cha mẹ, an hem, bạn bè và mọi người tìm hiểu đạo
Phật, thực hành những điều lành và tu tập để họ được mọi sự an lành hạnh
phúc trong cuộc sống hiện tại. Khi qua đời, họ sẽ về với thế giới Chu
Phật hay tự họ chọn lấy con đường quay trở lại thế giới này, thực hành sự
tư tập để sống đời giác ngộ rồi đi giúp đỡ những người đang bị khổ đau.
Việc làm đó là việc cứu độ chúng sanh, con đường đó là con đường Bồ Tát
Đạo và hạnh nguyện đó là hạnh nguyện của những bậc Bồ Tát mãi mãi ở trong
cuộc đời cứu độ chúng sanh như tấm gương sáng của Ngài Đạt Lai Lạt Ma.
IX. Hãy Nhân Đạo Đối Với Người Chết Hay Sắp Chết Cùng Gia Đình Của Họ
Các nhà tâm
lý học như Carl Jung cùng những người thuộc trường phái này nhấn mạnh đến
sự quan trọng của những yếu tố văn hóa, trong đó có tôn giáo, đối với đòi
sống cá nhân. Qua những kinh nghiệm kể lại của những người trở về từ cõi
chết, những hình ảnh liên quan đến tôn giáo của họ xuất hiện khi họ sắp
qua đời. Điều ấy có thể giải thích theo hai khía cạnh khác nhau. Về
phương diện tôn giáo, những tín đồ tin tưởng mình đã thấy Phật A Di Đà,
Đức Quán Thế Âm, Thượng Đế hay Thiên Thần đến rước họ đi. Về phương diện
tâm lý, người ta cho rằng chính bộ não chúng ta đã tạo ra những hình ảnh
đó bằng cách gia tăng sản xuất những chất hóa học làm cho giây phút cuối
cùng đời ta được êm dịu.
Dù chúng ta
tin theo cách giải thích của tôn giáo hay của các nhà tâm lý thì cũng đều
tốt cả vì cả hai bên đều xác nhận tính cách tốt đẹp của giây phút cuối đời
con người liên quan đến niềm tin tôn giáo của mỗi cá nhân. Như thế, cách
đối xử nhân đạo nhất đối với những người sắp từ giả cõi đời hay vừa mới
qua đời là tổ chức những nghi lễ tôn giáo theo niềm tin lâu nay của họ.
Những hình ảnh, những âm thanh, những lời cầu nguyện tích cực mà họ đã
nghe quen sẽ tác động vào tâm thức của họ, gọi lên những hình ảnh an lành
và tốt đẹp mà họ mang sẳn từ khi còn nhỏ trong tôn giáo của mình, tạo cho
họ những giây phút thoải mái và bình an vào những giây phút cuối. Có
những người có thói quen tai hại là đi thuyết phục kẻ đang bị bệnh nặng
hay đang hấp hối hoặc gia đình họ bỏ đạo cũ để theo đạo của người đi
thuyết phục đó mà không hiểu là họ đang làm một điều ác, một điều trái với
lòng nhân đạo vì gây những xung đột nội tâm cho người đang đối diện cái
chết cùng những khó khăn, rối rắm cho gia đình của người sắp qua đời.
Theo hai chuyên gia tâm lý Holmes và Rahe nghiên cứu về những nguyên nhân
gây căng thẳng đưa đến bệnh tật liệt kê sự thay đổi sinh hoạt tôn giáo là
một nguyên nhân. Những người lành mạnh mà còn bị căng thẳng tinh thần khi
thay đổi sinh hoạt tôn giáo huống gì là những kẻ bệnh tật hay đang hấp
hối. Và bất hạnh nhất cho gia đình của người qua đời không thể cầu nguyện
và bày tỏ tình thương yêu của mình theo nghi thức tôn giáo của gia đình.
Khi thấu suốt
những nguyên nhân và hậu quả tai hại nói trên, là người Phật tử tu hạnh từ
bi, chúng ta tuyệt đối không thuyết phục những người khác bỏ đạo vào những
lúc họ đang cận kề với cái chết rồi thuyết cho họ nghe về đạo của mình mà
họ chẳng có kinh nghiệm gì, hiểu biết gì, chẳng có niềm tin gì. Dù đang
theo đạo nào, chúng ta tuyệt đối tránh không tạo nên sự sợ hãi trong lòng
người đang bị bệnh bằng cách hứa hẹn theo đạo mình thì sẽ lên thiên đàng
hay chốn cực lạc còn nếu không theo đạo mới thì sẽ bị đọa địa ngục làm cho
họ bị thêm nhiều áp lực bên cạnh những khổ đau vì bệnh tật họ đang phải
chịu đụng.
Hãy tôn trọng
họ những giây phút cuối cùng của người bệnh. Nếu biết ai có thể cử hành
các nghi lễ theo tôn giáo của họ thì mời đến lo giúp. Chỉ trên bình diện
tâm lý mà thôi thì những nghi lễ thuộc tôn giáo của mỗi người thực hành
lâu nay vốn có rất nhiều lợi ích giúp cho họ an tâm đối diện với những
giây phút khó khăn cuối đời mình và đem đến cho họ niềm an vui lần cuối.
Làm được điều
trên, chúng ta cũng đối xử nhân đạo với gia đình người chết vì họ có thể
tham dự các lễ cầu nguyện cho thân nhân họ theo những nghi thức tôn giáo
của họ, làm giảm đi rất nhiều sự đau đớn của tử biệt.
Về phương
diện tôn giáo, chính niềm tin vào tôn giáo cùng sự cầu nguyện và tụng đọc
kinh sẽ giúp cho người giả từ cuộc đời này đối diện và biết rõ những gì
xảy ra cho họ nơi cõi bên kia, đó không phải là cõi chết như chúng ta lầm
tưởng mà là sự tiếp nối của cõi sống. (Điều này không những ghi lại nơi
kinh điển mà còn do hàng ngàn người chết đi rồi sống lại tường thuật qua
sách vở hay trong các cuộc khảo cứu.)
Khi họ nghe
được những am thanh, thấy được những hình ảnh cùng tiếp nhận những lời cầu
nguyện tích cực từ thân nhân và những tu sĩ thuộc tôn giáo của họ đã quen
thuộc lâu nay thì họ tiếp nhận dễ dàng. Do đó, sự chuyển tiếp đến cuộc
sống tương lai rất tốt đẹp cho họ theo chiều hướng tích cực.
|

Khi một người Phật tử bị bệnh thì
hình ảnh của Đức Phật rất cần cho
họ |
Những người
còn sống, tức là thân nhân, bạn bè, những nhà tu hành cùng tín đồ, khuyến
khích người sắp chết hướng về hình ảnh tốt đẹp thuộc niềm tin của họ mà
cầu nguyện để họ có được sự bình an. Nếu h ọlà con chiên của Chúa thì
hình ảnh Đức Chúa là điều họ rất cần. Nếu họ là con Phật, hình ảnh của
Đức Phật hay Đức Quán Thế Âm Bồ Tát nên treo phía trước hay để bên cạnh
giường bệnh khi họ đến bệnh viện. Nếu bệnh viện không có thì xin các vị
tu sĩ của các nhà thờ hay chùa.
Đừng vì sự cố
chấp của mình mà phạm vào tội ác đối với người sắp từ giả cuộc đời hay vừa
qua đời cùng gia đình họ bằng cách cử hành những lễ nghi tôn giáo mà họ
không tin, không có kinh nghiệm, không biết ý nghĩa và gia đình họ không
thể nào biểu lộ những cảm xúc cùng tình thương đối với người quá cố theo
lễ nghi tôn giáo đó cả.
Tôn giáo nào
cũng dạy người tín đồ phải có lòng thương yêu đồng loại. Tình thương yêu
thật sự không đời hỏi kẻ khác phải theo mình mới thương. Khi sống với
tình thương yêu trong lành thì ta có sự hiểu biết chân thật: thương mến
kẻ sống cũng như những người đã qua đời, biết rõ những giá trị của các nền
văn hóa khác biệt trong đó có các lễ nghi tôn giáo liên hệ mật thiết với
đời sống cá nhân lúc sống cũng như khi qua đời và làm những gì tốt đẹp
nhất cho họ để họ được thật sự hạnh phúc.
Tài Liệu Tham Khảo
v
An Encyclopedia of Archetypal Symbolysm, edited by Beverly
Moon, Shambala, Boston, 1991.
v
Kindness, Charity and Inside, His Holiness the Dalai Lama,
Translated & Edited by Jeffey Hopkins, Snow Lion Publications, New York,
1988-Foundation of Tibetan Myticism, Lama Anagarika Govinda, Samuel Weiser
Inc. Maine, 1989
v
Life after Life, Raymond Mơdy, Jr. Batam, Newyork, 1975
v
Life Beyond Life, Hans Holzer, Parker Publishing Company,
Inc. New York, 1985
v
Psychiatry/III, edited by Harold I. Caplan et al., Williams
& Wilkins Cọ, Maryland, 1980
v
Psychology, Priciples and Applications, Stephen Worchel and
Wayne Shebilske, Prentice Hall, Incọ, New Jersey, 1983
v
Reincarnation, The Phoenix Fire Mystry, Compired & Edited by
Joseph Head & S.L. Cranston, Julian Press/Crown Publisher, Inc. New York
1977
v
Return From Tomorrow, George Ritchie, Chosen Bơks, Texas,
1978
v
The Light Beyond, Raymond Moody, Jr. Bantam Bơks, Newyork,
1988
v
The Tantric Mysticism of Tibet, John Blofeld, Shambala,
Boston, 1987 Compassion in Tibetan Buđhism, Translated by Jeffrey Hopkins,
Snow Lion Publications, New York, 1982
v
The Tibetan Book of the Death, W. Y. Evans-Wents, Oxford
University Press, New Yourk, 1960
v
The Whole of Life and Death, Philip Kapleau Double Day, New
York, 1989
v
Thân Trung Ấm, Liễu Sanh Thoát Tử do các chùa ấn tống
v
Kinh A Di Đà, Kinh Cầu Siêu, nghi thức cầu siêu và tiến cúng
chư hương linh, v.v…
v
Các buổi lễ cầu siêu tại chùa, nhà quàng, tư gia và nghĩa
trang tại vùng Virginia và các tiểu bang khác.
--- o0o ---
Mục Lục
|
Phần 1
|
Phần 2
| Phần 3
Phần 4
|
Phần 5
|
Phần 6
|
Phần 7
--- o0o ---
Vi tính:
Chân Diệu Lan
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật ngày:
01-10-2004