Những Nét Văn Hóa Của Ðạo
Phật
Trung Tâm Văn Hóa – Chùa Việt Nam
TT. Thích Phụng Sơn
---o0o---
Phần
4
9.Bày
Tỏ Lòng Thương Tiếc:
Nhu Cầu
Cần Thiết Của Con Người
Tổng thống Kennedy qua đời trên hai mươi lăm năm
nhưng lòng thương tiếc của người dân Hoa Kỳ đối với ông vẫn còn nhiều.
Ông đã để lại nhiều hình ảnh đẹp cho hậu thế và có lẽ hình ảnh trang trọng
cuối cùng chúng ta thấy về vị tổng thống này là vào hôm cử hành lễ quốc
tang của ông: bà quả phụ Kennedy, hai người con, các anh chị em cùng bà
con quyến thuộc hai bên, các vị nguyên thủ hay những vị đại diện của những
quốc gia nhiều nước, tất cả đều lặng lẽ trang nghiêm tiễn đưa linh cữu
người quá cố đến nơi an nghĩ cuối cùng.
Các tang lễ của người Hoa Kỳ phần lớn được cử hành trang nghiêm như thế
cả. Mọi người trong gia đình cố gắng kềm chế các xúc cảm, mặt ngẩng lên
cao và giữ im lặng. Buổi tang lễ diễn ra trong “Trật Tự”, trong sự tự
chế, trong sự bày tỏ lòng can đảm và sức mạnh của ý chí của những người
sống tiếp tục tiến bước trên đường đời dù người thân của mình đã ra đi.
Theo giáo sư Alan Wolfelt, thuộc thường Ðại Học Y Khoa Colorado và là giám
đốc chương trình Mất Mát (Chết) và Ðời sống Chuyển Tiếp nghiên cứu và điều
trị tâm lý cho những người gặp những khó khăn sau khi thân nhân qua đời,
thì những cố gắng đè nén, không bày tỏ đúng mức lòng thương tiếc người
thân của mình khi họ mất là sự sai lầm tai hại. Ông Wolfelt nhấn mạnhlà
chúng ta sống tại Hoa Kỳ, một nước có nền văn hóa đề cao sự dũng cảm cùng
sự bày tỏ lòng dũng cảm đó: “Hãy tiến bước. Hãy ngẩn mặt lên cao và tiếp
tục làm việc.”
I. Hãy Thương
Khóc Người Qua Ðời
Nhà phân tâm Sigmund Freud cho rằng sự thương tiếc người quá cố làm cho
người ta đau đớn nhưng đó là một sự kiện bình thường. Tỏ bày sự thương
tiếc giúp cho người sống quên dần, bớt dần sự ràng buộc tâm tình với người
đã ra đi. Dĩ nhiên, điều ấy không xảy ra dễ dàng vì không ai muốn chấp
nhận là đã mất đi người mình yêu quý. Tuy nhiên, nếu chúng ta thương tiếc
quá lâu hay tránh né, đòi lại sự tỏ bày thương tiếc thì cả hai điều gây
những kết quả tai hại như nhau.
Vào năm 1989, trong 165 buổi hội thảo nhiều nơi trên nước Mỹ, ông Wolfelt
trình bày cho các vị giáo sĩ cách hay nhất để giúp thân nhân của kẻ qua
đời là để cho họ trực tiếp đối diện với niềm đau đó và bày tỏ sự thương
tiếc một cách tự nhiên theo xúc cảm của họ: “Chỉ qua sự bày tỏ tiếc
thương theo niềm tin tôn giáo của họ mà họ sẽ hoàn toàn trở lại bình
thường.”
II. Thời
Gian Tỏ Bày Lòng Thương Tiếc
Thương tiếc là niềm thương nhớ trong lòng, thương khóc là sự bày bỏ công
khai niềm thương tiếc đó. Sự bày bỏ công khai niềm thương tiếc là điều
cần thiết cho những người còn sống. Khi thực hành được điều ấy một cách
tự nhiên nhất theo mỗi người như khóc lóc, than thở, nói những lời tỏ bày
tình thương yêu người qua đời thì những áp lực bên trong sẽ giảm đi
nhiều. Ngoài ra, nghi lễ tôn giáo của người còn sống giúp họ hiểu biết
được lẽ sống chết, xoa dịu những đớn đau qua niềm tin và hy vọng thân nhân
của mình sẽ về chốn Niết Bàn, chốn Tịnh Ðộ hay chốn thiên đàng khi họ chấm
dứt đời sống trên quả đất này.
Tùy theo mối liên hệ bà con sự thương tiếc có thể kéo dài từ vài tháng đến
vài năm. Trong bình, lòng thương tiếc kéo dài trong sáu tháng đầu với tất
cả sức mạnh của nó rồi dịu dần. Sau sáu tháng, các sự buồn rầu, giận dữ
hay mặc cảm tội lỗi do cái chết của thân nhân tạo ra lắng xuống dần. Kể
từ đó, họ đã vượt qua giai đoạn nguy hiểm của cơn khủng hoảng tinh thần.
Theo các nhà nghiên cứu Bowlby và Parke thì sự thương tiếc người qua đời
gồm có ba giai đoạn mà chúng ta có thể quan sát nơi mọi người, không phân
biệt nam nữ, chủng tộc, lớn hay nhỏ kể cả các em bé vừa được 6 tháng. Ba
giai đoạn này gồm có: Tháng đầu tiên khổ đau vô cùng. Nhiều người phụ nữ
biểu lộ bằng sự than khóc sầu não, hoảng hốt, buồn đau hay giận dữ. Người
đàn ông có thể ít biểu lộ hơn nhưng không phải vì thế mà không có sự đau
đớn bên trong. Lòng họ bị tê liệt trong sự khổ đau đó. Trong giai đoạn
này người ta thường không tin, không chấp nhận là cái chết đã xảy ra cho
người thân của mình.
Giai đoạn thứ nhì lòng người sống luôn luôn nhớ đến kẻ qua đời, nhớ đến
những kỷ niệm bên nhau, và thường phản ứng thuận theo lòng mong ước là kẻ
qua đời vẩn còn quanh quẫn nơi đây mà cực độ là có thể “thấy” người đã
chết. Giai đoạn này gồm hai yếu tố độc lập với nhau là thương nhớ người
qua đời và chống đối sự việc xảy ra mà cực điểm của trạng thái đó là vào
tuần lễ thứ hai đến tuần lễ thứ tư.
Giai đoạn thứ ba họ cảm thấy chán chường, không định hướng và không thiết
tha nhiều với tương lai. Giai đoạn này xảy ra sau một năm khi thân nhân
qua đời.
Những nhà tâm lý, dù thuộc trường phái nào, cũng nhấn mạnh đến sự cần
thiết của việc bày tỏ lòng thương tiếc, đừng có đè nén, đừng có để chậm
lại một thời gian sau vì càng để lâu thì càng có những biến chứng khó
khăn. Như thế, đừng có biến tang lễ thành một lễ nghi trang nghiêm công
cộng mà phải cử hành như là một nghi lễ thương tiếc chân thật của những
người trong gia đình. Một nghi lễ có thể rất đẹp, trang trọng nhưng không
giúp ích gì cho thân nhân người qua đời. Một nghi lễ khác tuy nhỏ bé,
“bình dân”, thân mật, không nặng về hình thức vì để cho người thân bày tỏ
dễ dàng cảm xúc của họ. Nghi lễ thứ nhì vốn tốt đẹp bội phần hơn nghi lễ
thứ nhất dù nghi lễ này diễn ra rất đẹp, rất trật tự và hoàn toàn đúng
theo lớp lang dự trù.
Ở Hoa Kỳ, khóc lóc thường bị gán cho là yếu đuối nên phải đè nén, không
biểu lộ ra ngoài. Về phương diện tâm lý, đó là một sự sai lầm nguy hại,
nhất là khi thân nhân chúng ta qua đời. Hãy tỏ bày những xúc cảm một cách
tự nhiên và chân thành nhất trong các tang lễ, đó là lời khuyên của các
chuyên viên tâm lý.
III. Tạo
Môi Trường Thuận Tiện Tỏ Bày Lòng Thương Tiếc
Việt Nam, cũng như nhiều nước Ðông Phương, khuyến khích sự bày tỏ lòng
thương tiếc người quá cố. Phật giáo qui định rất rõ ràng các chi tiết
tang lễ đễ giúp người sống tỏ bày lòng thương mến người quá vãng qua các
lễ Nhập Quan (Liệm Xác), Thành Phục (Phát tang), Cầu Siêu (Cầu nguyện chư
Phật tiếp độ người qua đời về chốn Cực Lạc), Cúng Linh (Cầu nguyện và cúng
các thức ăn cho hương linh, kẻ qua đời) tại nhà quàng cũng như tại chùa.
Ở Việt Nam, buổi lễ được quy định rất chi tiết khi ở nhà, lúc di quan
(Chuyển quan tài đi chôn hay hỏa táng), khi đến nghĩa địa, lúc hạ huyệt,
v.v… Ngoài ra, những người thân trong gia đình sẽ mặc các tang phục theo
sự liên hệ với người qua đời. Những điều ấy rất tốt về phương diện tâm lý
vì nó nuôi dưỡng tình thương, bảo vệ mối liên hệ tinh thần của người sống
đối với kẻ qua đời, khi tình thương và mối liên hệ đang gặp khủng hoảng vì
đối tượng thương yêu bị mất đi. Những nghi thức này một mặt giúp cho gia
đình nhận rõ sự thật là người thân của mình đã qua đời, mặt khác vẫn duy
trì được tình thương yêu của người sống đối với kẻ ra đi hay nói một cách
khác, giúp cho người sống nhận ra tình thương yêu vẩn còn có mặt trong tâm
mình và hướng tình thương yêu của họ đến người ấy.
Trưóc khi cử hành lễ cầu siêu, quý vị tăng ni thường dặn người Phật tử
đừng than khóc quá nhiều, đừng làm những điều huyên náo, tạo một không khí
yên tĩnh để mọi người có thể tụng kinh, trì chú, đem lòng thành mà cầu
nguyện cho hương linh nhờ đó mà người trong gia đình có thể chuyển những
niềm thương tiếc buồn rầu thành năng lực của tình thương yêu tích cực.
Chính trong bầu không khí linh thiêng đó mà họ cảm nhận được giáo lý mầu
nhiệm của đạo Phật và giúp tâm họ khai mở.
Trong những buổi cầu siêu và tiến cúng hương linh người quá vãng tại nhà,
nơi nhà quàng và sau đó tại chùa, các vị tăng ni thường tụng kinh A Di Ðà
nói lên cảnh giới an vui trong sạch của chốn Tịnh Ðộ, làm lễ quy y Phật,
Pháp và Tăng cho hương linh, nhắc nhở hương linh quay về thế giới của an
lành và giải thoát vốn là quê hương chân thật ngàn đời của mình. Ngoài
ra, quý vị tăng ni còn dâng Sớ (đọc trước bàn Phật) và Ðiệp (Ðọc trước bàn
thờ chư hương linh quá vãng). Trong sớ và điệp

“Phật chúng sanh tánh thường rỗng lặng
Đạo Cảm thông không thể nghỉ bàn …”
Kê khai tên họ của người thân cùng những lời nguyện cầu chân thành và tốt
lành cho người mới ra đi cùng tụng các bài thần chú có âm thanh nhiệm màu.
Thân nhân lễ Phật, đem lòng thành tham dự vào lễ cầu nguyện. Tiếng tụng
kinh trầm bỗng, thiết tha, lời nguyện cầu tâm thành, tiếng mõ đều nhịp,
tiếng chuông thanh thoát, ánh sáng đèn lung linh và mùi thơm của nhang
trầm giúp cho thân nhân người qua đời cảm thấy gần gủi hơn với kẻ đã ra
đi. Một cách chính thức, họ chấp nhận người thân của mình đã giả từ cuộc
đời này. Mặt khác, về phưong diện tâm linh, người thân của họ không bị
tiêu mất theo cách nói thông thường “Chết là hết”, và họ cảm nhận được sự
có mặt của người thân vẩn còn gần gủi họ trong những buổi lễ cầu nguyện
như trên. Chính qua nghi lễ cầu nguyện đó mà những sự tiếc thương, buồn
bã, giận hờn, nuối tiếc, khổ đau được chuyển thành tình thương yêu bao la
hướng đến người qua đời. Ðó là sự chuyển hoá năng lượng từ tiêu cực thành
tích cực.
IV. Phương Tiện
Thiện Xảo
Thiện xảo là lành và khéo. Ðạo Phật chú trọng đến những phương pháp lành
và khéo để giúp cho con người thoát khỏi những sự khổ đau. Tùy theo căn
cơ của mỗi người, tùy theo mức độ tiến bộ về tâm linh của mỗi người mà họ
chọn lấy những phương thức thích hợp giúp cho họ sống an vui hạnh phúc nơi
cõi đời này cũng như mãi mãi về sau. Các nghi thức quy định cho tang lễ
áp dụng chung cho đa số Phật tử để giúp họ thích nghi dần với sự mất mát
người thân yêu.
Tại Hoa Kỳ, nghi thức cầu siêu được cải tiến cho phù hợp với sinh hoạt
thường ngày. Trong vòng 49 ngày sau khi thân nhân qua đời, những người
trong gia đình đến chùa vào ngày chủ nhật hay ngày thường vào mỗi tuần lễ
để làm lễ cầu siêu và tiến cúng người qua đời. Qua bảy lần cầu siêu chính
thức ở chùa và thêm nhiều lần khác họ tự làm lấy ở nhà, những người trong
gia đình đã bày tỏ rất nhiều lòng thương yêu nhớ tiếc một cách công khai ở
chùa hay riêng rẻ ở nhà. Họ cũng cầu nguyện cho người quá vãng trở về thế
giới an lành và hạnh phúc miên viển nơi chốn Tịnh Ðộ. Qua những lần cầu
nguyện ấy, niềm khổ đau trong lòng họ vơi dần, giúp họ vượt qua giai đoạn
khủng hoảng nguy hiểm ban đầu và tiến dần đến sự hồi phục đời sống bình
thường. Sau 49 ngày gia đình không đến chùa làm lễ cầu siêu nhưng họ có
thể để băng kinh cầu siêu phát ra lời tụng đọc của lễ cầu siêu trước đây
cùng cầu nguyện cho thân nhân.
Một trăm ngày sau, kể từ ngày thân nhân qua đời, gia đình đến chùa xin
thầy làm lễ cầu siêu cho nguời thân đã qua đời. Sau đó, mỗi năm đến ngày
giỗ của người quá cố, gia đình lại làm lễ cầu siêu và cúng linh. Những
dịp đó, mọi người có dịp bày tỏ lòng thương tiếc cùng nâng đỡ tinh thần
nhau. Theo đạo Phật, tổ chức những buổi cầu siêu như thế cũng rất tốt cho
người qua đời. Dù họ đã đầu thai và có đời sống khác họ cũng nhận được
những năng lượng tốt lành của những lời nguyện cầu chân thành đó.
Phương tiện lành và khéo của cầu siêu và cúng hương linh người qua đời đã
được thực hành trên ngàn năm nay trong những nước theo đạo Phật, giờ đây
được khoa tâm lý học tân tiến xác nhận giá trị của nghi lễ đó. Nhiều
người Việt Nam theo “Tây học” cho rằng cầu siêu và cúng linh như thế là
“Mê tín” vì họ chưa hiểu được ý nghĩa sâu xa của tính cách chữa trị tâm lý
cùng nâng đỡ tinh thần người sống khi họ bị khủng hoảng vì cái chết đột
ngột của người thân. Giáo sư Wolfelt của trường Ðại Học Y Khoa Colorado
nhấn mạnh chính sự thiếu hiểu biết về sự cần thiết của việc bày tỏ tình
thương yêu đó tạo ra rất nhiều nguy hiểm tinh thần cho những người còn
sống.
Một nền văn hóa chỉ chú trọng đến sự trẻ trung và đang giảm dần các dịp tế
lễ, cúng kiến như tại Hoa Kỳ làm cho người ta có cảm tưởng sai lầm là làm
đám tang cho chóng rồi quên đi. Giáo sư Wolfelt phát biểu: “Giờ đây khi
có thân nhân qua đời, họ nghĩ cách hay nhất là làm đám ma cho xong và quên
hẵn kẻ qua đời đi”. Ðó là một điều sai lầm tai hại, đó là một sự tin
tưởng mù quáng (một thứ mê tín) về sự lãng quên có thể xảy ra dễ dàng cũng
như khả năng xóa bỏ dễ dàng hình ảnh người thân của mình vừa mất trong tâm
thức để khỏi khổ đau. Họ không biết rằng làm như thế là tạo ra những điều
nguy hại cho đời sống tinh thần của mình cùng gia đình mình trong thời
gian lâu dài.
V. Xóa Ði Sự
Cách Biệt Sanh Tử
Một điểm tích cực khác trong đạo Phật là quan niệm “Duy tâm sở hiện” mà
ta thường nói một cách giản dị hơn là mọi thứ do tâm mình mà ra cả. Các
nhà tâm lý học đề cập đến sự nội hoá, chuyển hình ảnh của những người hay
vật mình yêu thích vào trong tâm mình. Sự kiện ấy xảy ra khi có người
thân yêu của chúng ta qua đời. Do đó, dù họ không còn nữa những ta luôn
luôn gần gủi họ trong tâm của mình. Nói một cách giản dị hơn, họ luôn
luôn có mặt trong lòng mình khi mình thương nhớ họ. Khi bày tỏ công khai
lòng thương nhớ đó qua các lễ cầu siêu và cúng các thức ăn cho người qua
đời, chúng ta thấy mình gần gủi với họ theo như ước vọng tốt đẹp tự nhiên
nơi mỗi chúng ta. Nói khác đi, lằn ranh giữa đồi bờ sanh tử bị xóa mờ.
Do đó, sự tiến cúng chư hương linh bằng những nghi thức lễ lạy, cầu nguyện
và cúng hương hoa, quả phẩm cùng thức ăn vào những ngày đầu và ngày giổ
sau đó rất có ích lợi cho người sống. Và dĩ nhiên mọi điều tốt đẹp được
thực hành trong sự chừng mực, trong giới hạn cần thiết, không quá nhiều và
không quá ít qua việc bỏ bớt các điều không còn hợp thời.
Trong ý nghĩa tốt lành đó mà sau bảy lễ cầu siêu và cúng linh ở chùa, gia
đình người quá cố có thể xin ký linh tại chùa, đem bài bị gồm có hình và
tên tuổi người qua đời đến xin thờ tại chùa với niềm tin là hương linh nhờ
đó mà được thường ngày nghe kinh kệ, trút bỏ mọi điều dính mắc, quay về
với Phật tánh và nhờ đó mà trở về với thế giới an lành giải thoát của chư
Phật. Lòng những người thân quyến do đó được an ổn rất nhiều. Một trăm
ngày sau kể từ ngày quá vãng, gia đình người qua đời lại đến chùa xin làm
lễ cầu siêu. Kể từ đó, cứ mỗi năm đến ngày giổ họ lại cùng đến chùa làm
lễ cầu siêu và cúng linh.
Trước đây ở Việt Nam, con cái thường để tang cha ba năm và mẹ hai năm và
trong thời gian chịu tang cha, me, ông, bà những người con cháu hiếu thảo
thường tránh tham dự những cuộc vui choi, những lễ cưới hỏi để tỏ lòng
hiếu thảo của mình. Khi làm lễ họ bận áo quần trắng và bịt khăn trắng,
ngày thường thì họ đeo một miếng vải đen nơi áo. Ở Hoa Kỳ, đời sống vốn
bận bịu, con cái đã xin làm lễ xả tang sau một hay hai năm hay sớm hơn để
dễ dàng tham dự vào các sinh hoạt xã hội cũng như làm lễ cưới hỏi cho con
cháu.
Trên thực tế, sự hạn chế bớt những thú giải trí không cần thiết rất ích
lợi cho họ. Họ có thể tự nhắc nhở mình hay khước từ những sự mời mọc vì
lý do tang chế (chế: hạn chế những sinh hoạt vui chơi khi có tang) để
không tham dự vào các cuộc vui chơi, tiệc tùng, ăn uống hay tiêu pha không
cần thiết làm hao tổn của cải và sức khỏe. Nhờ đó họ có thì giờ nghỉ
ngơi, tu tập và sống đời lành mạnh như ý muốn. Như thế, mục đích chính
ngoài sự tỏ lòng thương yêu kẻ qua đời, tất cả những nghi lễ trên giúp cho
người sống được bình an, lành mạnh về thể chất lẫn tinh thần và giúp họ
tiếp tục tiến bước vững chãi trên đường đời. Người Phật tử do đó phải
biết quý trọng những nghi lễ ấy và cố gắng thực hành cho mình và gia đình
mình được lợi lạc. Người Phật tử là người sống với tình thương yêu và sự
hiểu biết chân thật. Do đó, khi một người qua đời, chúng ta nâng đỡ tinh
thần bà con của họ, giúp họ liên lạc với quý thầy hay cô cùng ban hộ niệm
để lo tang lễ cho được tốt đẹp. Nếu họ thuộc tôn giáo khác thì nhắc nhở
họ gọi điện thoại trình với các vị Giáo Sĩ, Linh Mục hay Mục Sư liên hệ để
xin các ngài hướng dẫn những gì phải làm.
Trường hợp người qua đời là một Phật tử mà trong vùng không có một vị thầy
hay ni cô, những vị Phật tử quanh vùng có thể họp thành một ban Hộ Niệm để
tụng kinh, niệm Phật để cầu nguyện cho hương linh tại nhà quàng, nghĩa địa
và tư gia trước, trong và sau khi chôn cất.
Trong hoàn cảnh đau thương của gia đình có thân nhân vừa qua đời, chúng ta
tránh nói những điều tiêu cực nhằm gây thêm những điều lo lắng sợ hãi như
nói về sự trừng phạt ở địa ngục, nói về thần trùng, nói về những giấc mơ
kinh hãi, nói về những điềm xấu, về những nợ nần không trả được, v.v… Nếu
họ là những người khác tôn giáo thì chúng ta tránh nói về tôn giáo mình,
đề cao tôn giáo mình và nhất là đừng ép buộc qua cách thuyết phục họ phải
theo nghi lễ của đạo mình khi họ không muốn vì họ không biết và không quen
thuộc.
Như thế, để thể hiện đạo làm người, Nhân Ðạo, một người Phật tử nếu gặp
phải hoàn cảnh một người bạn hay một kẻ không quen biết bệnh nặng sắp lìa
đời mà không có thân nhân thuộc Công Giáo, Tin Lành, Hồi Giáo, v.v… thì
nên thông báo cho các vị Linh Mục, Mục Sư hay Giáo Sĩ đạo liên hệ. Nếu vì
xa xôi cách trở không ai đến được thì nên lấy kinh sách của đạo họ mà đọc
cho họ nghe. Lúc đó họ cần được nghe những lời dạy trong tôn giáo của họ
hơn bao giờ cả. Hình ảnh các đấng giáo chủ thân thiết cùng những lời dạy
trong tôn giáo họ đem lại rất nhiều lợi ích trong giờ họ lâm tử. Tuyệt
đối tránh dụ dỗ họ theo đạo mình lúc họ đau ốm hay sắp lâm chung và đang
đối hiện với nỗi khó khăn cuối cùng của đời người. Làm như thế tạo thêm
cho họ sự rối loạn và đau khổ chứ chẳng giúp ích gì cho họ.
Ép một người hay một gia đình cử hành nghi thức tang lễ theo một tôn giáo
mà họ không biết đến, không có sự cảm thông nào là một tội ác tinh thần mà
chúng ta tuyệt đối không làm vì không giúp ích gì họ trong thời gian họ
đang khổ đau. Ngoài ra, chúng ta cũng tránh không gây xáo trộn cho gia
đình có thân nhân qua đời bằng cách đề cao đạo mình và chê bai đạo người.
Chúng ta theo sự công bằng của đạo làm người, tuyệt đối không làm và cũng
không chấp nhận kẻ khác làm cho mình hay cho người khác vì làm như thế
không những không lịch sự mà còn biểu lộ lòng ác độc chỉ biết nghỉ đến
mình, nhất là lúc gia đình họ đang gặp cảnh tang gia bối rối. Ðạo Phật
đặt trên tình thương yêu và sự hiểu biết chân thật, người Phật tử lại càng
phải lưu ý điều ấy. Câu: “Ðừng làm điều gì cho người khác nếu mình không
muốn kẻ khác làm điều ấy cho mình” của Ðông Phương vẫn còn là một khuôn
vàng thước ngọc cho sự giao tiếp lành mạnh và tốt đẹp giữa các cá nhân, tổ
chức cộng đồng, nhóm chính trị, giữa các tôn giáo, chủng tộc cùng các quốc
gia với nhau vậy.
Trường hợp chính mình không may gặp phải cảnh nói trên, thì tốt hơn hết,
chúng ta nên lịch sự và thẳng thắng trả lời những người muốn ta thực hành
tang lễ theo nghi thức tôn giáo khác những gì mình đang tin tưởng là mình
không thể làm như thế được vì làm như thế là nguy hại cho đời sống tinh
thần của mình cùng những người trong gia đình. Người Hoa Kỳ chuộng sự
thẳng thắng và trả lời dứt khoát để họ hiểu. Nếu chúng ta sợ họ buồn mà
nói không rõ rệt ý muốn thật sự của mình thì có thể gây ra nhiều ngộ nhận
đưa đến những khó khăn khác.
Ðức Lục Tổ Huệ Năng dạy: “Thường biết lỗi mình, không xét lỗi người”. Do
đó, khi nói làm sao duy trì được sự hài hòa và cảm thông của đôi bên là
tốt đẹp hơn cả. Ðó là cách áp dụng tôn giáo vào trong đời sống hàng ngày,
giữ đưọc sự bình thản an vui trong mọi hoàn cảnh khó khăn như lời Ðức Phật
dạy: “Chiến thắng một vạn quân không bằng tự thắng mình”. Tự thắng mình
là sống an vui thoải mái trong mọi hoàn cảnh, nhất là trong nghịch cảnh
vậy.
VI. Ích Lợi Cho Kẻ
Qua Ðời
Những điều trình bày trên làm chúng ta có cảm tưởng các lễ cầu siêu và
cúng linh chỉ có mục đích giúp đở những người trong gia đình kẻ qua đời
chấp nhận sự thật là người mình thương yêu không còn nữa cùng nâng đỡ tinh
thần để họ chóng phục hồi. Trên thực tế, những nghi lễ trên đem lại lợi
lạc cho người sống cũng như kẻ quá cố rất nhiều. Chính qua lễ cầu siêu mà
hương linh của người quá cố hiểu rõ được sự chuyển tiếp từ giai đoạn sống
qua giai đoạn chết (trong đạo Phật, không có sự chết mà chỉ là sự tiếp
diễn liên tục của đời sống qua nhiều trạng thái khác nhau trong những hình
thái khác nhau). Trong trạng thái gọi là chết ấy, họ được khuyến khích
hãy buông xả mọi sự bám víu, mọi sự dính mắc để quay về với chân tâm, Phật
tánh, với nguồn năng lượng trong lành của tình thương yêu và sự hiểu biết
chân thật, để thực hành sự giải phóng mình ra khỏi mọi khổ đau và đạt đến
sự giải thoát an vui vĩnh cữu.
Những lời tụng kinh, những bài thần chú, những điều cầu nguyện chân thành
đều tác động cả người sống lẫn người qua đời và cùng mang đến lợi lạc cho
hai bên. Riêng đối với những người trong gia đình có thân nhân qua đời,
tiến trình thích nghi với đời sống thiếu vắng người thân của mình nhờ đó
được diễn ra nhanh chóng và tốt đẹp.
Ðó là sự mầu nhiệm của đạo Phật vậy.
Tài Liệu Tham Khảo
·
Comprehensive Textbook of Psychiatry/III, edited by Harold
I. Kaplan, M.D. et al., Williams & Wilkins, Baltimore, 1980
·
The Tibetan Book Of The Dead, W. Y. Evans-Wentz, Oxford
University Press, Newyork, 1960
·
Tibetan Yoga And Secret Doctrines, edited by W.Y.
Ewans-Wentz, Oxford University Press, New York, 1958
·
Washington Post, tháng hai năm 1990
·
Các tạp chí như Life, Newsweek, Time, V.V… nói về đề tài
liên hệ
·
Nghi thức cầu siêu trong Phật giáo cùng các bản kinh liên hệ
·
Các buổi thăm viếng người bệnh tại nhà thương, tại tư gia
Phật tử, những lễ cầu an cho Phật tử bị bệnh nặng, những lễ cầu siêu cho
người qua đời tại nhà quàng, chùa, tại tư gia Phật tử, tại nghĩa trang
cùng tham dự các tang lễ thuộc các tôn giáo bạn.
·
Các buổi nói chuyện và trao đổi ý kiến cùng quý vị tu sĩ tôn
giáo bạn tại các nhà thờ, trung tâm xã hội, hội y tá, v.v… tại các tiểu
bang
--- o0o ---
Mục Lục
|
Phần 1
|
Phần 2
| Phần 3
Phần 4
|
Phần 5
|
Phần 6
|
Phần 7
--- o0o ---
Vi tính:
Chân Diệu Lan
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật ngày:
01-05-2004