
Nhân hai bài thơ của Thiền sư Pháp Thuận,
nghĩ đến Hình ảnh Văn hóa và Văn hóa hình ảnh
(Tham
luận tại Ðại hội Văn hóa Phật giáo Việt Nam ở San Diego, 4.1.2003)
Võ Văn
Ái
Triển
lãm, thuyết trình, đại hội, thường khi giới thiệu cho chúng ta những
hình ảnh văn hóa trong quá khứ, hiện tại hay tương lai. Ðây hẳn
nhiên là thành tựu mà Ðại hội Văn hóa Phật giáo do Thượng tọa Thích Nguyên
Siêu, Tổng vụ trưởng Tổng vụ Văn hóa, trực thuộc Văn phòng II Viện Hóa
Ðạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, chủ trì và ra công tổ chức
hôm nay tại San Diego.
Ðược
Thượng tọa mời từ Paris đến tham gia góp ý về vai trò của Văn, Thi, Nghệ
sĩ Phật giáo trong đời sống Văn học hải ngoại. Tôi tự thấy không đủ thẩm
quyền, mà cũng không có thói quen, nói cho đúng là không muốn định nghĩa
« vai trò » của người làm văn học, là lĩnh vực mà sự tự do hầu như bất khả
xâm phạm. Thay vì làm cuộc định nghĩa, tôi xin đề cập đến hai bài thơ của
Thiền sư Pháp Thuận trước tác vào thời Tiền Lê, thế kỷ thứ X Tây lịch. Tự
thân hai bài thơ này thể hiện đặc sắc nền văn hóa hình ảnh,
qua đó nói lên thế đứng hiến dâng của con người Văn Thi Nghệ sĩ Phật giáo
trong xã hội loài người.
Năm
Ðinh Hợi (987) nhà Tống sai Lý Giác đến Việt Nam. Tới bến Sách giang, vua
Lê Ðại Hành nhờ thiền sư Pháp Thuận cải trang làm phu chèo đò đi đón sứ.
Thuyền vừa rời bến, Lý Giác trầm ngâm ngắm phong cảnh hữu tình. Chợt thấy
hai con ngỗng bơi trên dòng nước biếc, Lý Giác vụt miệng ngâm lớn :
Nga nga
lưỡng nga nga
Ngưỡng
diện hướng thiên nha
Nghĩa
là :
Ngỗng kia ngỗng một đôi
Ngưỡng cổ ngóng chân trời
Sư Pháp
Thuận khoan thai chèo đò, nghe thế liền đọc tiếp hai câu :
Bạch
mao phô lục thủy
Hồng
trạo bãi thanh ba
Nghĩa
là :
Nước xanh lông tuyết trải
Sóng
lục chân hồng bơi
Sứ Lý
Giác lấy làm kinh dị, như tự hỏi với chính mình : Lạ thật cho nước Nam
này, một kẻ chèo đò cô lậu thế kia mà chữ nghĩa chẳng thua gì giới nho sĩ
thượng lưu bên Trung quốc. Lý Giác thầm mang lòng kính trọng, nên khi về
đến sứ quán liền viết tặng bài thơ thất ngôn, mà câu thứ bảy tôn sùng vua
nước ta ngang đồng với vua Trung quốc : "Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn
chiếu" (Ngoài trời lại có trời soi rạng).
Thực ra
bài thơ này không do thiền sư Pháp Thuận trước tác, mà chỉ là trí nhớ và
kiến thức về học thuật thi văn Trung quốc đem ra đối đáp. Bài tứ tuyệt vừa
trích dẫn vốn là bài Vịnh Nga của Lạc Tân Vương sáng tác ba trăm
năm trước đó, nay được nhuận lại đôi chút. Nhưng vấn đề đặc sắc ở đây vừa
là cuộc đấu trí ngoại giao, vừa là một sáng tạo thù ứng mang tính văn học
trong một không gian mới và ở thời điểm có tính quyết định về vận mệnh của
một dân tộc.
Bài
Vịnh Nga của Lạc Tân Vương là một tuyệt phẩm được cổ nhân khen "Thi
trung hữu họa", trong thơ có họa, thơ vẽ nên một họa phẩm. Nhưng cùng hình
ảnh mỹ lệ ấy, qua cuộc đối đáp giữa một danh sĩ và một tăng sĩ, bài thơ
được nâng cấp thành "Thi trung hữu đạo", thi vị tân trang thành đạo vị.
Thoạt
nghe bốn câu thơ, ta cảm nhận sự hữu tình của phong cảnh, mối thanh khiết
của đôi ngỗng. Nhưng đồng lúc nói lên quan điểm vũ trụ và nhân sinh của
đạo Phật. Quan điểm ấy là :
Vạn vật
nghìn sai muôn khác, nhưng vô thường, sinh rồi diệt, tồn tại rồi hủy phá.
Tuy nhiên trong muôn nghìn biến chuyển sinh diệt kia, vẫn có cái bất biến.
Như muôn nghìn lớp sóng xô đẩy, sinh thành rồi biến hoại không ngưng nghỉ
kia, nước vẫn thoát ly khỏi cuộc thành hoại của sóng, mà thuật ngữ Phật
giáo gọi là Chân Như. Chân Như không sinh, không diệt, Chân Như cũng chính
là vạn vật. Nhưng do vô minh che lấp làm cho chúng ta chỉ nhìn thấy hiện
tượng, tức vạn vật nghìn sai muôn khác, biến hiện vô thường, mà không nắm
bắt được bản thể Chân Như. Vô minh làm cho chúng ta phân biệt ra chủ thể
và đối tượng, chia thành tâm và cảnh, khiến chúng ta lặn ngụp trong sự
phân biệt nhị nguyên tranh chấp. Làm cho chúng ta không thấy được tâm và
cảnh chỉ là một (Tâm cảnh nhất như), nghìn sai muôn khác nhưng vẫn chung
cùng bản thể (Vạn hữu nhất thể).
Sứ Lý
Giác ngâm câu "Nga nga lưỡng nga nga", thì hai chữ Nga nga đầu tiên
nói lên bản thể hồn nhiên bất biến. Nhưng do tâm phân biệt qua chữ
"lưỡng" là hai, mà thành ra hai con ngỗng, tức hai chữ nga nga sau
cùng. Sự phân biệt này phát sinh ra hiện tượng nghìn sai muôn khác của vạn
vật. Càng trầm đắm vào đó ta càng lang thang đi lạc nơi chốn bụi hồng.
Chẳng sao nắm bắt được thể tính Chân Như. Ngoại trừ ta biết ngưởng cổ,
"quay đầu thấy bến", nhìn về Giác hải chân thường như đôi ngổng kia :
Ngưỡng
diện hướng thiên nha / Ngưởng cổ ngóng chân trời
Như vậy
thì hai câu Lý Giác đọc lên mang một ý nghĩa nhận thức về nhân sinh cũng
như vũ trụ của đạo Phật. Ðó là vạn vật biến sinh từ Diệu giác và đều quy
hồi Giác hải Chân Như.
Còn hai
câu đáp lại của Sư Pháp Thuận nói lên sự định vị giữa Cư sĩ và Tăng sĩ,
đồng thời làm cuộc phân công hợp tác để hóa đạo cứu đời :
Bạch
mao phô lục thủy
Hồng
trạo bãi thanh ba
Nghĩa
là :
Nước xanh lông tuyết trải
Sóng
lục chân hồng bơi
Chữ
Bạch mao, lông trắng tuyết, hàm ý sứ giả là một người Cư sĩ áo trắng (bạch
y cư sĩ) đang đem thân lo việc đời, việc nước, việc người, đang thi hành
hạnh bồ tát nơi nghìn trùng sóng nước sâu thẳm xanh um (Lục thủy). Lông
trắng thanh khiết của ngỗng trải trên mặt nước mà không bị nước làm cho
ướt đẫm, đắm chìm ; trái lại còn thắng lướt, thong dong hiện diện khắp
nơi. Còn chữ Hồng trạo, chân hồng, ám chỉ vị Hồng y tu sĩ, tức người Tăng
sĩ lắng sâu vào giới, định, tuệ, để khai mở chân tâm, hoằng truyền chánh
pháp. Ðôi chân cắm sâu vào dòng nước vô lượng, đạp bơi tự tại giữa muôn
trùng phiền não, dục vọng, tiến về bờ giác.
Sự định
vị trên đây còn là cuộc phân công hợp tác trong dòng Văn hóa Giác ngộ của
Phật giáo : Người Cư sĩ sống giữa đời giữ gìn tam nghiệp thanh tịnh
(thân, khẩu, ý) để trước là đền đáp Tứ trọng ân (ân quốc
gia-xã hội, ân Tam bảo, ân cha mẹ, và ân Thầy-bạn) , sau diệt Tam
đồ khổ (là 3 cõi dữ của ngạ quỹ, súc sinh, địa ngục, mà trần gian
Việt Nam ngày nay đang hiện hình 3 cõi lầm than, khổ lụy ấy). Người
Tăng sĩ thì chiến thắng phiền não và dục vọng, như đôi chân hồng đạp lội
giữa muôn đợt sóng phiền não, khiến cho phiền não là bồ đề, viên thành
chánh quả để dẫn dắc quần sinh lên ngôi vị Bồ tát, chứ không xa lánh phiền
não để đi tìm giác ngộ giữa hư vô tịch mịch cho sự vui thú riêng mình.
Trên
đây là bài thơ thứ nhất mang ý nghĩa chủ đạo của nền văn hóa hình
ảnh mà tôi muốn đề cập. Nó khác xa với nền văn học như một chi lưu
của cuộc sống trầm luân, khổ lụy. Nay xin nhắc thêm một bài tứ tuyệt nữa
để kiện toàn sự suy nghĩ của tôi.
Bài này
trước tác vào thời điểm nguy kịch của nước ta vào cuối thế kỷ thứ X. Trong
nước thì nạn đảng tranh, bè phái tranh giành, tham quan ô lại, mặc dân đen
thống khổ. Hoàn cảnh giống y như ngày nay. Bên ngoài thì triều nhà Tống
dòm ngó lăm le xâm lược nước ta ; ở biên giới phía nam, Chiêm Thành gây
sự. Do đó trong cơn lo âu, vua Lê Ðại Hành ưu tư hỏi ý kiến thiền sư Pháp
Thuận về vận nước và vận mạng của triều đình. Sư đáp bằng một bài thơ tứ
tuyệt:
Quốc tộ
như đằng lạc
Nam
thiên lý thái bình
Vô vi
cư điện các
Xứ xứ
tức đao binh
Nghĩa
là :
Vận nước như mây cuốn
Trời Nam mở thái bình
Vô vi trên điện các
Xứ
xứ hết đao binh
Trong
Giai phẩm Quê Mẹ Xuân Ðinh Mão, 1987, tôi đã nói lên ý nghĩa và bình gỉang
bài thơ này và gọi bốn câu thơ ấy như bản Tuyên ngôn Dựng nước, bản Tuyên
ngôn Hòa bình. Ðúng là một Di chúc chính trị để lại cho người làm chính
trị hôm nay.
Bài thơ
với những lời bình dị song vũ bão như sấm chẻ. Những câu đơn sơ nhưng chan
chứa lý sống qua hành động ngút ngàn.
Quốc tộ
như đằng lạc (Vận nước như mây cuốn). Quốc tộ là Vận nước mà vua Lê
Ðại Hành thao thức trông chờ, có gì khác hơn sự quấn quýt của những sợi
dây mây ? Sự kết hợp hòa hài giữa nhân dân và vua, tức người làm việc nước
trong ngôn ngữ ngày nay. Vận nước chỉ dài lâu, thịnh trị, khi biết kết hợp
lòng người, để thoát ly số phận, định mệnh nằm ngoài tầm tay con người,
hoặc sự áp đặt nô lệ của nước ngoài xẩy ra trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa,
xã hội, tư tưởng. Lòng mọi người, ngưỡng vọng mỗi con người, như dây mây
leo quấn, hướng cao lên ánh mặt trời tìm chỗ đứng thích hợp, huy hoàng.
Dây mây mỏng manh nhưng bền vững, lại biết tương thân tương ái cộng sinh.
Khác với cây, dù là cây đại thụ, mọc nơi cố định và biệt lập đứng riêng
một mình một cõi, mất khả năng di động, biến hóa. Khi tương sinh, dây mây
có thể trói cả rừng già hay ôm choàng mọi sức sống xanh.
Ðó là ý
nghĩa đoàn kết dân tộc, kết hợp toàn dân, trong câu thơ đầu, mà cũng là
trách nhiệm ưu tiên của những người cầm quyền. Nhờ sự kết hợp bất phân
nguồn gốc, giới tính, chính kiến ấy, ý thức tự chủ dân tộc mới được hình
thành, mở ra một nước Việt thái bình và hùng cường dưới cõi trời Nam :
Nam
thiên lý thái bình / Trời Nam mở thái bình
Chấm
dứt tranh chấp, chấm dứt củi đậu nấu đậu, chấm dứt thảm trạng gà một nhà
bôi mặt đá nhau.
Hai chữ
đệ nhất quan trọng của bài Quốc tộ nói trên là hai chữ Vô vi trong
câu thơ thứ ba. Thông thường nói đến vô vi, nhiều người quan niệm là không
làm gì cả, theo điệu "Xử thế nhược đại mộng, Hồ vi lao kỳ sinh"
(Ðời như giấc mộng lớn, chuyện chi lo lắng dấn thân cho mệt ?!). Thế nhưng
các Ðại sư Phật giáo đem thân cứu độ sinh linh, trần thế, với quá trình
Dựng Văn, Mở Nước, rồi Giữ Nước từ thời Hai Bà Trưng trải tới triều đại
nhất thống cơ đồ Ðinh, Lê, lẽ nào các Ðại sư lại chủ trương sự tụ thủ bàng
quan, dửng dưng sống chết mặc dân, vô vi như thế ? Huống chi quan điểm
Phật giáo không hề chủ trương vô vi theo nghĩa đen không làm gì cả.
Cần có nhãn thức của Kinh Kim Cang thì mới nắm bắt dược nội dung của Vô
Vi.
Theo
Lục độ tập kinh, bản kinh Phật giáo bằng tiếng Việt đầu tiên và xuất hiện
vào thế kỷ II – III Tây lịch, thì "các niệm lắng diệt đó là vô vi". Làm
sao lắng diệt các niệm ? Ðại để được gỉai thích trong truyện 81 của Lục
độ tập kinh : Giữ lòng cẩn trọng, đừng kiêu ngạo, đừng lấm bụi bặm của sáu
tình, lòng thanh thản không một dấu vết các ái nhỏ dù như tơ tóc, thì các
niệm lắng diệt, đó là vô vi".
Lão Tử
định nghĩa Vô Vi ở chương 3 Ðạo Ðức Kinh là "làm cái không làm tức chẳng
điều gì mà không sửa sang" (Vi vô vi tác vô bất trị), hoặc ở chương
37 : "Ðạo thường vốn không làm gì nhưng chẳng việc gì là Nó không làm. Nếu
bậc Hầu vương nào giữ được Ðạo như thế, muôn loài sẽ tự biến hóa đổi thay"
(Ðạo thường vô vi nhi vô bất vi. Hầu vương nhược năng thủ chi, vạn vật
tương tự hóa).
Ðối với
Nho giáo, Vô vi được giải thích trong Luận ngữ như sự "nghiêm túc với
chính mình" theo lối "vô vi nhi trị" của Vua Thuấn. Ngoài sự nghiêm
túc với chính mình, còn phải có Trí, có Ðức lớn để lãnh đạo nhân dân.
Xem
thế, thì ý nghĩa Vô vi trong "Vô vi trên điện các" của bài Vận
nước, biểu hiện con đường hành động trong truyền thống phương Ðông, đề
xuất một mẫu người lý tưởng lắng diệt các niệm (tức vứt bỏ cố chấp, thiên
kiến, nhị biên), có trí và đức để lãnh đạo đất nước, thì mới chấm dứt
tranh chấp, chiến tranh, mở ra kỷ nguyên thái bình, thịnh trị. Bài học này
không riêng việc mở ra con đường chính trị cho đất nước ta ở thế kỷ thứ X,
mà vẫn còn giá trị tư tưởng và hành động cho Việt Nam ngày nay.
Vì vậy,
bài thơ Vận nước trên đây, ngoài sáng tạo văn chương còn hàm chứa một lý
sống của tư tưởng. Tạo thành nền văn hóa hình ảnh, chủ đạo
cho mọi biểu tượng và ngôn ngữ. Tôi phân biệt hình ảnh văn hóa với
văn hóa hình ảnh do sự bị động hay chủ đạo sáng tạo của văn hóa.
Hình ảnh văn hóa là nếp sống văn minh, tiến bộ đã thành và đang được
suy luận, đánh giá, giới thiệu. Tuy vài khi chỉ còn là cái bóng mờ, khô
chết của một nền văn hóa vàng son nhưng đã thành quá khứ, được gọi kêu để
thoa vuốt sự tự hào, tự mãn vô vọng hay yếu hèn. Mất sinh lực sáng tạo,
văn hóa chỉ là những hình ảnh quá thời. Trái lại, văn hóa hình ảnh
là nền văn hóa đang chuyển hóa nhân sinh, hóa thân qua biểu tượng và ngôn
ngữ sinh động, thần kỳ, để vượt thoát sự vong tính, hóa thạch, nơi các xã
hội sống theo chủ nghĩa hư vô.
Văn học
nước ta sáu mươi năm qua có khi diễm lệ, lãng mạn, khi yểu điệu hay hùng
tráng, khi thì bạo lực, giết người... Nhưng nền văn học ấy còn trong dạng
thức ra đi. Ra đi nhưng chưa Lên Ðường. Ra đi trong mơ ước cách mạng mơ hồ
của Dũng trong Ðoạn tuyệt, ra đi thui thủi như Thâm Tâm trong "Ly
khách, ly khách, con đường nhỏ, Chí lớn không về bàn tay không". Hay
ra đi với quyết tâm làm cuộc cách mạng đổ máu của Tố Hữu và các đồng chí
của ông :
Ta đã đi là ta quyết đi !
Ðạp bằng trở lực vượt gian nguy
Ngực còn thoi thóp tim còn đập
Còn
nghiến răng giương thẳng nghĩa kỳ !
Thế
nhưng tất cả những cuộc ra đi ấy, dù bằng hư cấu, bằng ước vọng, hoặc bằng
thực thể dấn thân, đều không đưa tới đích nào cho kẻ ra đi, hay quần chúng
đông đảo mà họ đòi dẫn dắc ra đi. Vì mọi cuộc ra đi ấy đều không có đích
thăng hoa, không phương hướng dân tộc, phi văn hóa và phủ định con người.
Nhất là những cuộc ra đi này nằm trong chi lưu của nền văn hóa Mác Lê. Một
nền văn hóa chủ xúy đấu tranh giai cấp, chia rõ bạn thù, mà trận tuyến
giăng ra yêu sách phải có kẻ thắng người thua. Kẻ thắng đóng vai đồ tể,
người thua xếp hàng đi vào lò sát sinh. Nền văn hóa Mác Lê đang nô dịch
hóa Việt Nam, vì chỉ lo nhào nặn tri thức ngoại lai, nhưng xao lãng, nếu
không là tiêu diệt, tinh thần dân tộc và sự thanh cao của con người văn
hóa Việt.
Trong
khi ấy, bằng « những thiện ngữ vi diệu ở thế gian » (xem kinh Tăng nhất A
hàm) nền văn hóa Phật giáo vừa khai mở trí tuệ vừa un đúc tình nghĩa dân
tộc và bảo vệ Con Người. Ðích thị là nền văn hóa Giác ngộ, một nền văn hóa
không đòi hỏi kẻ thắng người thua, mà tiêu đích nhắm hiển bày Chân lý Giác
ngộ cho mình và mọi người.
Hai bài
thơ của thiền sư Pháp Thuận đề cập trên đây không kêu gọi sự ra đi phiêu
bạt như trong nền văn học Việt 60 năm qua. Thơ ở đây hiển lộ sự sống, nắm
bắt sự sống, thương yêu, bảo vệ và hòa đồng con người, đất nước, vũ trụ.
Thơ là sự Lên Ðường Giác ngộ.
Ở thời
đại thảm sát ngày nay, chỉ còn lại người Thi sĩ như một khả năng vô biên
cho sự quy hồi sử tính và tác tạo sự thơ mộng nơi trần gian diễm lệ.
Võ Văn Ái
---
o0o
---
|
Tủ
sách Phật học
|
--- o0o ---
Cập nhật ngày:
01-01-2003