TỔ ĐÌNH MINH ĐĂNG QUANG
PHẬT HỌC TỪ ĐIỂN
BUDDHIST DICTIONARY
VIETNAMESE-ENGLISH
THIỆN PHÚC
K
Kẻ Ăn Mày: Beggar.
Kẻ Cầu Nguyện: Those who pray
by dedicating of merit or by merit transference, or sharing one’s own
merits and virtues with others.
Kẻ Cướp: Robber .
Kẻ Đào Thoát: An escapist.
Kẻ Lừa Đảo: Swindler.
Kẻ Thù: Adversary—Enemy.
Kẻ Trộm: Burglar—Thief
Kẻ Vạch: To get someone into
trouble
Kẻ Xấu Xa: Demon—Devil—Mara.
Kẻ Yếu Hèn: The weak.
Kẽ Tóc Chân Tơ: In detail.
Kém: Less.
Kém Quan Trọng: Of less
importance.
Kén Ăn: To be fastidious about
one’s food.
Kén Chọn: To choose—To select.
Keo: Tên khác của chùa là Trần
Quang Tự, tọa lạc tại thôn Dũng Nhuệ, xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái
Bình. Chùa được xây dựng năm 1608 bên bờ sông Hồng Hà, nên bị nước xoáy
mòn dần. Năm 1930, Quận Công Nguyễn Quyên đã cúng dường đất để xây lại
ngôi chùa. Trong chùa có đại hồng chung được đúc vào thời nhà Lê—Another
name for Trần Quang Tự Temple, a famous ancient temple, located in Dũng
Nhuệ hamlet, Duy Nhất village, Vũ Thư district, Thái Bình province. It was
built in 1608 by the bank of the Red River, so it has gradually been
eroded. In 1930, Duke Nguyễn Quyên donated his own land for rebuilding the
temple. The great bell of the temple cast during the Lê dynasty.
Keo Kiệt: Stingy—Misery.
Kê:
1) Con
gà: Kukkuta (skt)—A cock—A fowl—Chicken—Hen.
2) Kê
cứu: To investigate.
3) Kê đầu
kỉnh lễ: To prostrate oneself.
Kê Cẩu Giới: Ngoại đạo vùng Bắc
Ấn, có loại trí thủ kê giới, cẩu giới, kê thì suốt ngày đứng một chân, cẩu
thì ăn phân nhơ bẩn—Heterodox sects in northern India follow cock or dog
discipline, e.g. standing on a leg all day, or eating ordure, like certain
ascetics.
Kê Dẫn Bộ: Gokulikas,
Kukkulikas, Kukkutikas, or Kaukkutikas (skt)—Một trong 20 bộ của Tiểu
Thừa, còn gọi là Khôi Sơn Trụ Bộ, Quật Cự Bộ, Cao Câu Lê Ca Bộ, một trong
20 bộ của Tiểu Thừa, thành lập khoảng 200 năm sau ngày Phật nhập diệt và
biến mất ngay sau đó—One of the twenty Hinayana branches, a branch of the
Mahasanghikas which established around 200 years after the Buddha’s
nirvana and early disappeared.
Kê Độc: Thân Độc—India—Hindu.
Kê Khai: To enumerate—To make a
list.
Kê Khương Na: Kikana (skt)—Theo
Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Kê Khương Na là một dân tộc ở A
Phú Hãn, trú ngụ khoảng giữa miền đông Kandhar và miền nam Ghazna, vào
khoảng những năm 630 sau Tây Lịch được cai trị bởi những vị lãnh chúa độc
lập, có lẽ theo niên kỷ của Ả Rập đây là dân tộc Kykanan—According to
Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Kikana is a
people in Afghanistan, east of Kandahar, south of Ghazna, ruled 630 A.D.
by independent chieftains, perhaps identical with the Kykanan of Arabic
chroniclers.
Kê Quý:
1) Người
Tây Trúc gọi nước Cao Ly là Câu Câu Tra-Y Thiết La (Câu Câu Tra là kê, Y
Thiết La là quý)—Indian people called Korea by Kukkutesvara.
2) Tôn
quý loài gà: Honouring or reverencing the cock.
Kê Tác La: Kesara (skt).
1) Tóc
hay lông: Hair.
2) Lông
bờm của sư tử: Mane of a lion.
3) Lông
quắn: Curly hair.
4) Tên
một loại bảo châu: Name of a gem.
Kê Thủ: Phủ phục—To make
obeisance by prostration.
Kê Túc Sơn: Kukkutapada (skt).
1) Núi
Chân Gà, nơi tôn giả Ca Diếp nhập diệt ở xứ Ma Kiệt Đà, nhưng người ta tin
ngài hãy còn sống: Cock’s foot mountain, in Magadha, on which Kasyapa
entered into nirvana, but where he is still supposed to be living.
2) Còn
gọi là núi Lang Tích (dấu chó sói): Also called the Wolf-Track.
3) Tôn
Túc Sơn: Gurupada (skt)—Buddha’s Foot Mountain.
Kê Viên: Kukkutarama (skt)—Theo
Tây Vực Ký, Kukkutarama còn gọi là Kê Đầu Ma Tự hay Kê Tước Tự, một ngôi
chùa trên núi Kê Đầu do vua A Dục xây (ở phía đông nam cổ thành có ngôi
già lam Quật Quật Tra A Lạm Ma mà đời Đường gọi là Kê Viên, do vua Vô Ưu
xây dựng. Vua Vô Ưu tín ngưỡng Phật pháp, kính cẩn dựng chùa, chăm làm
việc thiện, chiêu tập hàng ngàn Tăng chúng)—According to The Great T’ang
Chronicles of the Western World, Kukkutarama, a monastery on the Kukkuta
Mountain, built by Asoka.
Kế:
1) Búi
tóc: Topknot—Tuft—The hair coil on top.
2) Cỏ
gai: A thistle.
3) Kế
bên: Annex.
4) Kế
thừa: To inherit—To adopt.
5) Kế
tục: Tiếp tục hay tương tục—To continue.
6) Kế
toán: Accounting—To reckon.
Kế Bảo: Theo Kinh Pháp Hoa, “Kế
Bảo” là hạt ngọc báu quý nhất cài trên mái tóc của vị quốc vương (theo
Kinh Pháp Hoa thì có một người có công to, nhà vua bèn cởi viên minh châu
cài trên tóc ban cho, để ví với việc Đức Phật giảng thuyết Kinh Pháp Hoa
cho hạng người đã ra khỏi sinh tử phân đoạn, mà tinh tấn để lìa hẳn sinh
tử biến dịch)—According to The Lotus Sutra, this is the precious stone
worn in the coiled hair on top of the king’s head. It is the king’s most
prized possession.
Kế Châu: See Kế Bảo.
Kế Danh Tự Tướng: Theo Đại Thừa
Khởi Tín Luận, đây là sự y vào vọng chấp mà lập ra danh từ hư giả (chỉ sự
suy tính so đo giữa vật nầy với vật nọ)—According to The Awakening of
Faith, this is the stage of giving names (to seeming things, etc.).
Kế Đô: Ketu (skt).
1) Sao kế
đô, tên của hai chòm sao nằm bên trái và phải của chòm sao Aquila: A
comet, name of two constellations to the left and right of Aquila—See Cửu
Diệu.
2) Bất cứ
vẻ sáng rực nào: Any bright appearance.
Kế Độ: Tarka or Vitarka
(skt)—Tính toán—Phân biệt—To calculate—To differentiate—To reckon.
Kế Hoạch: Plan.
Kế Lợi Cát La: Kelikila
(skt)—Kế Lợi Tích La—Kế Lý Kế La—Tên của một vị Kim Cang Thủ Bồ Tát—The
attendant of a deva, one of the Vajrapanis.
Kế Lợi Da: Surya (skt).
1) Mặt
Trời: The sun.
2) Thần
mặt trời: The sun-god.
Kế Mẫu: Stepmother.
Kế Ngã Thực Hữu Tông: Kế Ngã
Luận—Một trong 16 tông phái ngoại đạo. Tông nầy vọng chấp vào ngã ly uẩn
và phi ngã phi ly uẩn (cho rằng cái ta là có thực, là thường nhất; do chấp
có ta nên chấp có cuộc sống, từ đó mà sanh ra 5 cơ quan cảm giác)—The sect
that reckons on, or advocates, the reality of personality, one of the
sixteen heterodox sects.
Kế Sinh Nhai: Means of living.
Kế Tát La: Kesara
(skt)—Tóc—Hair—Filament.
Kế Tân: Vương quốc cổ Kế Tân,
bây giờ là Kashmir, nằm về phía tây bắc Ấn Độ—Ancient Kashmir kingdom,
situated in the north-east of India—See Kashmir in
Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Kế Thừa: To inherit something
from someone.
Kế Tiếp: To succeed.
Kế Tục: To continue—To follow.
Kế Vị: To succeed to the
throne.
Keà: Close to—Near to.
Kể: To count—To mention—To
enumerate.
Kể Trên: Above-mentioned.
Kể Truyện: To tell story—To
relate.
Kệ: Gatha (skt)—Già Đà—Già
Tha—Phúng Tụng (gồm bốn câu với số chữ nhứt định trong mỗi
câu)—Chant—Metrical hymn or chant—Poem—Stanza—Verse.
Kệ Đà: Hymn—Chant—To hymn.
Kệ Huệ Năng: The verse of Hui
Neng.
Bồ đề vốn không
cây,
Gương sáng cũng
chẳng đài,
Xưa nay không một
vật,
Chỗ nào dính bụi
bặm?
Originally Bodhi
has no tree,
The bright mirror
has no stand.
Originally there
is not a single thing,
Where can dust
alight?
Kệ Khai Kinh: Verse for opening
a Sutra.
·
Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp (Phật pháp rộng sâu rất
nhiệm mầu)
The
unsurpassed, deep, profound, subtle wonderful Dharma.
·
Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ (Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm
cầu)
In a
hundred thousand million eons, it is difficult to encounter.
·
Ngã kim kiến văn đắc thọ trì (Con nay nghe được xin trì
tụng)
Now that
I have come to receive and hold it, within my sight and hearing.
·
Nguyện giải Như Lai chân thiệt nghĩa (Nguyện rõ Như Lai
nghĩa nhiệm mầu)
I vow to
fathom the Thus Come One’s true and actual meaning.
Kệ Phá Địa Ngục: Stanza that
destroys hell:
Nhược
nhơn dục liễu tri.
If
people want to really know.
Tam thế
nhứt thiết Phật
All
Buddhas of all times.
Ưng quán
pháp giới tánh
They should contemplate the nature of the
cosmos.
Nhứt
thiết duy tâm tạo
All is
but mental construction
(Everything is made from mind).
Kệ Sám Hối: Verse of
Repentance:
Từ
vô thỉ con tạo bao nghiệp ác
From beginningless, I had done so
many vicious deeds
Do
bởi tham, sân, si,
Only because of Greed, Anger and
Stupidity,
Từ
thân, khẩu, ý mà sanh ra
They are coming from body, mouth
and mind
Nay
con xin thành tâm sám hối tất cả.
Now I sincerely
ask for forgiveness in my
repentance.
Kệ Tán: Dùng câu kệ tán thán
công đức của người khác—To sing in verse the praises of the object adored.
Kệ Tha: See Kệ.
Kệ Thần Tú: The verse of Shen
Hsiu.
Thân là cội Bồ đề,
Tâm như đài gương
sáng.
Luôn luôn phải lau
chùi,
Chớ để dính bụi
bặm.
The body is a
Bodhi tree,
The mind like a
bright mirror stand.
Time and again
brush it clean,
And let no dust
alight.
Kệ Tụng: Kệ đà—Hymn—Chant.
Kệ Tứ Liệu Giản Của Đại Sư Vĩnh Minh:
Four options or choices from Yung Ming Master:
Có Thiền có Tịnh, như cọp
mọc sừng, đời nầy làm thầy người, đời sau làm Phật.
To practice bothe Zen and
the Pure Land, one is like a tiger with horns, in the present life the
cultivator is a teacher of man, in the future he will be a Buddha or a
patriarch.
Có Thiền không Tịnh, mười
tu chín lạc đường
To practice Zen without
the Pure Land, nine out of ten seekers of the way will take the wrong
road.
Không Thiền có Tịnh, vạn
tu vạn chứng.
To practice the Pure Land
without the Zen, ten thousand practice, ten thousand will go to the right
way.
Kệ Tự Tánh Của Lục Tổ Huệ Năng:
The verse on the Self-Nature of the Sixth Patriarch Hui neng.
Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh,
Đâu ngờ tự tánh vốn không sanh diệt,
Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ,
Đâu ngờ tự tánh vốn không dao động,
Đâu ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp.
How unexpected!
The self-nature is pure in itself.
The
self-nature is orginally neither produced nor destroyed.
The self-nature is originally complete in itself.
The
self-nature is originally without movement,
The
self-nature can produce the ten thousand dharmas.
Kệ Vô Tướng Của Lục Tổ Huệ Năng:
No-Mark Stanza from Hui-Neng Patriarch—Lục tổ muốn nhắc nhở người tu không
nên tìm lỗi người, vì càng dùng thời gian để tìm lỗi người chúng ta càng
xa đạo—Patriarch Hui-neng wanted to remind the cultivators try not to see
anybody’s faults, but our own because the more time we spend to find other
people’s faults the farther we are away from the Path:
·
Nhược kiến tha nhơn phi (nếu là bậc chân tu, chúng ta không
bao giờ thấy lỗi đời)
He who
treads the path in earnest, see not the mistake of the world.
·
Tự phi khước thị tả (Nếu như thấy lỗi người, mình chê thì
mình cũng là kém dỡ)
If we
find faults with others, we ourselves are also in the wrong.
·
Tha phi ngã bất phi (Người quấy ta đừng quấy).
When
other people are in the wrong, we should ignore it.
·
Ngã phi tự hữu quá (Nếu chê là tự ta đã có lỗi).
For it
is wrong for us to find faults.
·
Đản tự khước phi tâm.
By
getting rid of the habit of fault-finding,
·
Đả trừ phiền não phá (Muốn phá tan phiền não).
We cut
of a source of defilement.
·
Tắng ái bất quan tâm (Thương ghét chẳng để lòng).
When
neither hatred nor love disturb our mind.
·
Trường thân lưỡng cước ngọa (Nằm thẳng đôi chân nghỉ).
Serenely
we sleep.
Kềm Chế: To refrain.
Kềnh Càng: Bulky.
Kết:
(A) Nghĩa
của “Kết”—The meanings of “Bond”
·
Trói buộc: To tie a knot—Bound—Tie—Knot—Settle—Wind up—To
form.
·
Trói buộc của luân hồi sanh tử: The bond of transmigration.
(B) Phân
loại “Kết”—Categories of “bonds”
1) Tam
Kết: Three bonds—See Tam Kết.
2) Ngũ
Kết: Five bonds to mortality—See Ngũ Kết.
3) Ngũ Hạ
Phần Kết: The five bonds in the lower desire-realms or the lower
fetters—See Ngũ Hạ Phần Kết.
4) Ngũ
Thượng Phần Kết: The five higher bonds of desire still exist in the upper
realms of form and formlessness—See Ngũ Thượng Phần Kết.
5) Cửu
Kết: The nine bonds that bind men to mortality—See Cửu Kết.
Kết Án: To condemn—To
sentence—To convict.
Kết Bạn: To make friends.
Kết Bệnh: Bệnh của sự trói buộc
vào dục vọng và sanh tử luân hồi—The disease of bondage to the passions
and reincarnation.
Kết Cuộc: The end.
Kết Duyên: Kết duyên (với Phật
Pháp) để được độ sau nầy. Căn bản 84.000 kiếp qua mà Đức Đại Thông Trí
Thắng Như Lai đã dạy trong Kinh Pháp Hoa cho 16 vị đệ tử để trở thành 16
vị Phật, mà Phật Thích Ca là lần tái sanh thứ 16—To form a cause or basis,
to form a connection, e.g. for future salvation. The basis or condition
laid 84,000 kalpas ago by Mahabhijna-jnanabhibhu in his teaching of the
Lotus Sutra to 16 disciples who became incarnate as 16 Buddhas, for the
subsequent teaching of the Lotus scriptures by Sakyamuni, the last of the
16 incarnations, to his disciples.
Kết Duyên Chúng: Một trong Tứ
Chúng, do duyên kiếp trước còn nông cạn, chưa được độ nên kết nhân duyên
đắc đạo sau nầy, với hy vọng cải thiện nghiệp chướng trong tương lai—The
company or multitude of those who noe become Budhists in the hope of
improved karma in the future, one of the four groups of disciples.
** For more information,
please see Tứ Chúng
(B) (4).
Kết Giải:
1) Trói
buộc và giải thoát: Bị phiền não trói buộc và giải thoát tự tại—Bondage
and release.
2) Giải
thoát khỏi sự trói buộc: Giác ngộ được lý mà giải thoát—Release from
bondage.
Kết Giảng: Kết thúc một bài
thuyết trình trong buổi bế mạc (kỳ an cư kiết hạ hay buổi nhóm họp chư
Tăng Ni)—Concluding an address, or the address, i.e. the final day of an
assembly.
Kết Giao: Làm bạn với ai—To
form a friendship with someone.
Kết Giới: See Kiết Giới.
Kết Hà: Dòng sông trói buộc của
khổ đau hay phiền não—The river of bondage, i.e. of suffering or illusion.
Kết Hạ: See Kiết Hạ.
Kết Hợp: To associate—To
unite—To combine.
Kết Kinh: See Kiết Kinh.
Kết Lậu: Kết và lậu là tên gọi
khác của phiền não. Trói buộc và luân hồi sanh tử là do bởi dục
vọng—Bondage and reincarnation because of the passions.
Kết Liên: To League—To unite—To
ally.
Kết Liễu: To finish—To
conclude—To close—To end.
Kết Luận: To end—To conclude—To
come to a conclusion (an end)—Conclusion.
Kết Nạp: To admit.
Kết Nghĩa: To make friends—To
be friends with someone.
Kết Nghiệp: Sự trói buộc của
nghiệp, hay nghiệp là kết quả của sự trói buộc của dục vọng—The bond of
karma, the karma resulting from the bondage to passions or delusions.
Kết Nguyện:
1) Kết
thúc hay hoàn thành lời nguyện: To conclude a vow.
2) Ngày
bế mạc đại hội an cư kiết hạ: The last day of an assembly (of a summer
retreat).
Kết Oán: To create enemies.
Kết Phược: Tên khác của phiền
não, dục vọng hay phiền não trói buộc thân tâm—To tie and knot, i.e. in
the bondage of the passions, or delusion.
Kết Quả Của Nghiệp: Karmic
results—The natural reward or retribution for a deed, brought about by the
law of karma.
Kết Sanh: Sự trói buộc vào tái
sanh hay thân trung hữu chết đi để thác sanh vào thai mẹ (theo Câu Xá
Luận: “lúc lâm chung thì trung hữu đối với hai tâm niệm trái ngược nhau là
yêu và ghét sẽ hiện khởi, đến khi nhập thai thì đẩy bỏ cái tâm ghét chỉ
chừa lại cái tâm yêu, bảo đây là của mình, rồi từ đó sinh vui mừng, nên
các uẩn lớn thêm lên, thân trung hữu liền mất đi và sinh hữu hay kết sanh
đã thành)—The bond of rebirth.
Kết Sử: See Kiết Sử.
Kết Tặc: Những kẻ trói buộc hay
những tên giặc, ý nói dục vọng và phiền não—Binders and robbers, the
passions, or delusion.
Kết Tập Kinh Điển: Đức Phật đã
nhập diệt, nhưng giáo lý của Ngài vẫn còn lưu truyền đến ngày nay một cách
trọn vẹn. Mặc dù giáo huấn của Đức Thế Tôn không được ghi chép ngay thời
Ngài còn tại thế, các đệ tử của Ngài luôn luôn nhuần nhã nằm lòng và
truyền khẩu từ thế hệ nầy sang thế hệ khác. Vào thời Đức Phật còn tại thế,
biết chữ là đặc quyền của giới thượng lưu ở Ấn Độ, vì thế truyền khẩu giáo
lý là một dấu hiệu cho thấy dân chủ được coi trọng trong truyền thống Phật
giáo đến mức cách trình bày giáo pháp bằng văn chương đã bị bỏ quên. Nhiều
người không biết chữ, cho nên truyền khẩu là phương tiện phổ thông và hữu
hiệu nhứt để gìn giữ và phổ biến giáo pháp. Vì có nhiều khuynh hướng sai
lạc về giáo pháp nên ba tháng sau ngày Đức Thế Tôn nhập diệt, các đệ tử
của Ngài đã triệu tập Đại Hội Kết Tập Kinh Điển Phật Giáo để đọc lại di
ngôn của Phật. Lịch sử phát triển Phật giáo có nhiều Hội Nghị kết tập kinh
điển với những hoàn cảnh vẫn có phần chưa rõ. Lúc đầu các hội nghị nầy có
thể là những hội nghị địa phương chỉ tập hợp vài cộng đồng tu sĩ. Sau đó
mới có những nghị hội chung—The Buddha has passed away, but His sublime
teaching still exists in its complete form. Although the Buddha’s
Teachings were not recorded during His time, his disciples preserved them,
by committing to memory and transmitted them orally from generation to
generation. At the time of the Buddha, literacy was a privilege of the
elite in India, and this another indication of the premium placed on
democracy within the Buddhist tradition that literary formulation of the
teaching was neglected for so long. Many people were not literate, so word
of mouth was the universal medium for preservation and dissemination of
the Dharma. Three months after the Buddha’s Parinirvana, there were some
tendencies to misinterpret or attempts were being made to pollute His Pure
Teaching; therefore, his disciples convened Councils for gathering
Buddha’s sutras, or the collection and fixing of the Buddhist canon. In
the development of Buddhism, several councils are known, the history of
which remains partially obscure. These Councils were originally probably
localassemblies of individual monastic communities that were later
reported by tradition as general councils.
(I) Hội
Nghị Kết Tập Lần Thứ Nhất—The First Council: Ba tháng sau ngày Đức Phật
nhập diệt (vào khoảng năm 543 trước Tây Lịch), do nhận thấy có khuynh
hướng diễn dịch sai lạc và xu hướng suy yếu về giới luật trong nội bộ Tăng
Già sau khi Phật nhập diệt, nên Đại Hội kết tập kinh điển lần thứ nhất
được vua A Xà Thế tổ chức tại hang Pippala, có sách lại ghi là hang
Saptaparni, trong thành Vương Xá thuộc xứ Ma Kiệt Đà. Dù vị trí và tên của
hang vẫn chưa được xác định rõ ràng, nhưng không có gì nghi ngờ là Hội
Nghị thứ nhất đã diễn ra tại thành Vương Xá. Các học giả đều thừa nhận
rằng Hội Nghị Kết Tập lần thứ nhất nầy chỉ bàn về Kinh Tạng (Dharma) và
Luật Tạng (Vinaya), phần Luận Tạng không được nói đến ở đây. Trong hội
Nghị nầy có 500 vị Tỳ Kheo tham dự, trong đó có ngài Đại Ca Diếp, người
được trọng vọng nhất và là bậc trưởng lão, và hai nhân vật quan trọng
chuyên về hai lãnh vực khác nhau là Pháp và Luật là ngài A Nan và Ưu Ba Li
đều có mặt. Chỉ hai phần Pháp và Luật là được trùng tụng lại tại Đại Hội
lần thứ nhất. Tuy không có nhiều ý kiến dị biệt về Pháp, có một số thảo
luận về Luật. Trước khi Đức Phật nhập diệt, Ngài có nói với ngài A Nan
rằng nếu Tăng Đoàn muốn tu chính hay thay đổi một số luật thứ yếu cho hợp
thời, họ có thể làm được. Tuy nhiên, vào lúc đó ngài A Nan vì quá lo lắng
cho Đức Phật nên quên không hỏi những luật thứ yếu là những luật nào. Vì
các thành viên trong Hội Nghị không đi đến thỏa thuận về những luật nào
thuộc về thứ yếu nên ngài Ma Ha Ca Diếp quyết định không có luật lệ nào đã
được đặt ra bởi Đức Phật có thể được thay đổi, và cũng không có luật lệ
mới nào được đưa ra. Ngài Đại Ca Diếp nói: “Nếu ta thay đổi luật, người ta
sẽ nói đệ tử của Đức Cồ Đàm thay đổi luật lệ trước khi ngọn lửa thiêu Ngài
chưa tắt.” Trong Hội Nghị nầy, Pháp được chia làm hai phần và mỗi phần
được trao cho một vị trưởng lão cùng với đệ tử của vị ấy ghi nhớ. Pháp
được truyền khẩu từ thầy đến trò. Pháp được tụng niệm hằng ngày bởi một
nhóm Tỳ Kheo và thường được phối kiểm lẫn nhau để bảo đảm không có sự
thiếu sót cũng như không có gì thêm vào. Các sử gia đều đồng ý truyền
thống truyền khẩu đáng tin cậy hơn văn bản của một người viết lại theo trí
nhớ của mình vài năm sau hội nghị. Nhiều người nghi ngờ hiện thực lịch sử
của Hội Nghị Kết Tập Kinh Điển lần đầu nầy, nhưng có thể là việc biên soạn
những văn bản Kinh Luật thiêng liêng đầu tiên diễn ra tương đối sớm. Vào
lúc Đại Hội sắp kết thúc, có vị Tăng tên là Purana được những người tổ
chức mời tham gia vào giai đoạn bế mạc của Đại Hội, Purana đã khước từ và
nói rằng ông chỉ thích nhớ lại những lời dạy của Đức Phật như ông đã từng
nghe từ chính kim khẩu của Đức Phật. Sự kiện nầy cho thấy tự do tư tưởng
đã hiện hữu từ thời khai mở của cộng đồng Phật giáo—Three months after the
passing of the Buddha (in about 543 B.C.), detecting tendencies within the
Sangha toward loss of discipline, as well as misinterpreting His Pure
Teaching, the First Council was organized by King Ajatasatru, and held at
the Pippala cave, some said near the Saptaparni cave, at Rajagriha in
Magadha. Even though the site and name of the cave have not yet been
definitely identified. Nonetheless, there is no dispute about the fact
that it is at Rajagrha that the First Council met. It is accepted by
critical scholars that the First Council settled the Dharma and the
Vinaya, and there is no ground for the view that Abhidharma formed part of
the canon adopted at the First Council. In this Council, there were 500
Bhiksus, among them Maha-Kasyapa was the most respected and elderly monk,
and two very important persons who specialized in the two different areas
which are sutras and vinaya were present. One was Ananda and the other was
Upali. Only these two sections, the Dharma and the Vinaya, were recited at
the First Council. Though there were no differences of opinion on the
Dharma, there was some discussion about the Vinaya rules. Before the
Buddha’s Parinirvana, he had told Ananda that if the Sangha wished to
amend or modify some minor rules, they could do so. However, on that
occasion Ananda was so overpowered with grief because the Buddha was about
to pass away, he forgot to ask the Master what the minor rules were. As
the members of the Council were unable to agree as to what constituted
the minor rules, Maha-Kasyapa finally ruled that no disciplinary rule laid
down by the Buddha should be changed, and no new ones should be
introduced. Maha-Kasyapa said: “If we changed the rules, people will say
that the Buddha’s disciples changed the rules even before his funeral fire
has ceased burning.” At the Council, the Dharma was divided into various
parts and each part was assigned to an Elder and his pupils to commit to
memory. The Dharma was then passed on from teacher to pupil orally. The
Dharma was recited daily by groups of people who often cross check with
each other to ensure that no omissions or additions were made. Historians
agree that the oral tradition is more reliable that a report written by
one person from his memory several years after the event. The historicity
of this Council is doubted by many. Nevertheless, it is likely that the
first collection of writings took place relatively early. At the end of
the First Council, a monk named Purana was invited by the organizers to
participate in the closing phases of the council, but he declined, saying
that he would prefer to remember the teachings of the Buddha as he had
heard it from the Buddha himself. This fact indicates the freedom of
thought existed at the time of the beginning of Buddhist community.
a) Ngài
Đại Ca Diếp, người được mọi người trọng vọng nhất mà cũng là bậc trưởng
lão, là chủ tịch Hội Nghị—Maha Kasyapa, the most respected and elderly
monk, presided at the First Council.
b) Kế đó,
ngài Đại Đức Ưu Ba Li/Upali trùng tụng lại những giới luật của Phật bao
gồm luật cho cả Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni. Ngài Ưu Ba Li đã tụng đọc 80 lần
các văn luật trong 90 ngày mới hoàn tất nên còn gọi là “80 tụng luật.” Đây
cũng là giới luật căn bản cho Phật giáo về sau nầy bao gồm những văn bản
sau đây—Then, Venerable Upali remembered and recited all the rules set
forth by the Buddha (rules of the Order), including all rules for monks
and nuns. Venerable Upali recited eighty times all these rules in 90 days.
These rules include:
·
Luật Thập Tụng: Sarvastivada-Vinaya.
·
Luật Tăng Kỳ: Samghika-Vinaya.
·
Luật Tứ Phần: Dharmagupta-Vinaya.
·
Luật Ngũ Phần: Mahissasaka-Vinaya.
c) Kế đó
nữa là ngài A Nan, người đệ tử thân cận nhất của Phật trong suốt 25 năm,
thiên phú với một trí nhớ xuất sắc. Lúc đầu đã không được xếp vào thành
viên Hội Nghị. Theo Kinh Tiểu Phẩm, sau đó vì có sự phản đối của các Tỳ
Kheo quyết liệt bênh vực cho A Nan, mặc dù ông nầy chưa đắc quả A La Hán,
bởi vì ông có phẩm chất đạo đức cao và cũng vì ông đã được học kinh tạng
và luật tạng từ chính Đức Bổn Sư. Sau cùng A Nan đã được Đại Ca Diếp chấp
nhận vào Hội Nghị. A Nan đã trùng tụng lại tất cả những gì mà Đức Phật
nói, gồm những bộ kinh sau đây—Then, Venerable Ananda, the closest
disciple and the attendant of the Buddha for 25 years. He was endowed with
a remarkable memory. First Ananda was not admitted to the First Council.
According to the Cullavagga, later other Bhikhus objected the decision.
They strongly interceded for Ananda, though he had not attained Arhathood,
because of the high moral standard he had reached and also because he had
learnt the Dharma and vinaya from the Buddha himself. Ananda was
eventually accepted by Mahakasyapa into the Council, and was able to
recite what was spoken by the Buddha (sutras and doctrines), including the
following sutras:
d) Năm bộ
kinh A Hàm, còn gọi là A Kiệt Ma—Five Agamas.
·
Trường A Hàm: Dirghagama Sutra (skt)—Ghi lại những bài pháp
dài—Collection of Long Discourses.
·
Trung A Hàm: Madhyamaga Sutra (skt)—Ghi lại những bài pháp
dài bậc trung—Collection of Middle-Length Discourses.
·
Tăng Nhất A Hàm: Anguttara-agama Sutra (skt)—Ghi lại những
bài pháp sắp xếp theo số—Collection of Gradual Sayings.
·
Tạp A Hàm: Samyuktagama Sutra (skt)—Ghi lại những câu kinh
tương tự nhau—Collection of Kindred Sayings.
·
Tiểu A Hàm: Khuddaka-agama (skt)—Ghi lại những câu kệ
ngắn—Smaller Collection.
*** For more information, please see A Nan
Đà in Vietnamese-English Section.
(II) Đại Hội
Kết Tập Lần Hai—The Second Council:
(A) Đại hội
kết tập kinh điển lần thứ hai được tổ chức tại thành Xá Vệ (Tỳ Xá Ly), 100
năm sau ngày Phật nhập diệt. Đại Hội nầy được tổ chức để bàn luận về một
số giới luật (có sự không thống nhứt về giới luật). Không cần thiết phải
thay đổi những giới luật ba tháng sau ngày Đức Phật nhập diệt vì lẽ không
có gì thay đổi nhiều về chính trị, kinh tế và xã hội trong khoảng thời
gian ngắn ngủi nầy. Nhưng 100 năm sau, một số chư Tăng (theo giáo lý
nguyên thủy) nhận thấy cần phải có sự thay đổi một số giới luật thứ yếu.
Các nhà sư thuộc phái Vaisali đã chấp nhận vàng và bạc của thí chủ cúng
dường. Yasha, một môn đồ của A Nan, còn đưa ra chín điều trách cứ đối với
các thành viên của cộng đồng Vaisali, nhứt là việc ăn uống vào những thời
điểm bị cấm, về việc dùng rượu, về việc các nhà sư cùng một cộng đồng lại
làm lễ Bố Tát một cách phân tán, vân vân. Hội Nghị lần thứ hai được mô tả
cụ thể hơn nhiều trong các văn bản, nói chung được thừa nhận vững chắc về
mặt lịch sử—The Second Council was held at Vaisali 100 years after the
passing of the Buddha. This Council was held to discuss some Vinaya rules
(there was some disunity concerning matter of discipline). There was no
need to change the rules three months after the Buddha’s Parinirvana
because little or no political, economic or social changes took place
during that short interval. But 100 years later, some monks saw the need
to change certain minor rules One hundred years after the First Council,
the Second Council was held to discuss some Vinaya rules. There was no
need to change the rules three months after the Parinirvana of the Buddha
bcause little or no political, economic or social changes took place
during that short interval. But 100 years later, some monks saw the need
to change certain minor rules. The Second Council is considerably better
documented in the texts that the first and is generally recognized as a
historical event. The Vaisali monks had accepted gold and silver from lay
adherents in violation of the Vinaya rules. Moreover, they were accused by
Yasha, a student of Ananda’s, of nine further violations, including taking
food at the wrong time, separate observance of the Uposatha by monks of a
community, and drinking alcoholic beverages.
(B) Những nhà
sư chính thống cho rằng không có gì nên thay đổi, trong khi những vị khác
thuộc phái Bạt Kỳ ở Tỳ Xá Ly (Vaisali) đã khai trừ trưởng lão Da Xá
(Yasha) ra khỏi cộng đồng với nhiều lời buộc tội ngài. Họ đã đề nghị mười
điểm thay đổi như sau—The orthodox monks said that nothing should be
changed, while the monks of the Vajji from Vaisali expelled Yasha from the
community because of his accusations. They insisted on modifying some
rules as follows:
1) Cho
phép đựng muối trong sừng trâu hay các đồ chứa bằng sừng: Singilonakappa
(p)—Gián tiếp cho phép sát sanh để lấy sừng, trong khi phái chính thống
cho rằng việc mang muối đựng trong cái sừng rỗng bị coi như phạm giới cấm
Ba Dật Đề thứ 38, về việc cấm tồn trữ thực phẩm và giới sát sanh—Allowing
monks and nuns to store salt in buffalo’s horns, while the orthodox monks
considered carrying salt in a hollowed horn. This practice is contrary to
Pacittiya 38, which prohibits (forbids) the storage of food and killing.
2) Buổi
trưa khi mặt trời đã qua bóng hai ngón tay vẫn ăn được: Dvangulakappa
(p)—Vẫn được phép ăn sau giờ ngọ. Việc nầy coi như bị cấm trong Ba Dật Đề
thứ 37 về giới không được ăn sau giờ ngọ—Allowing monks and nuns to eat in
the afternoon: The practice of taking meals when the shadow is two fingers
broad. This practice against Pacittiya 37 which forbids the taking of food
after midday.
3) Được
đi qua một làng khác ăn lần thứ hai: Gamantarakappa (p)—Sau khi ăn rồi,
đi đến nơi khác vẫn ăn lại được trong cùng một ngày. Việc làm nầy coi như
bị cấm trong Ba Dật Đề thứ 35 về giới cấm ăn quá nhiều—Allowing monks and
nuns to eat the second time in a day: The practice of going to another
village and taking the second meal there on the same day. This practice
forbids in Pacittiya 35 which forbids over-eating.
4) Cho Bố
tát ở riêng trong một khu: Avasakappa (p & skt)—Thực hiện nghi thức Bố Tát
(Uposatha) tại nhiều nơi trong cùng một giáo khu. Điều nầy trái với các
giới luật Mahavagga về sự cư trú trong một giáo khu—Allow retreats for
spiritual refreshment in a private place: The observance of the Uposatha
ceremonies in various places in the same parish. This practice contravenes
the Mahavagga rules of residence in a parish (sima).
5) Được
phép hội nghị với thiểu số: Anumatikappa (p).
a) Dù
không đủ số quy định như tam sư thất chứng, hội nghị vẫn có hiệu lực như
thường—Allowing ordination to proceed even though there are not enough
three superior monks and seven witnesses (see Tam Sư Thất Chứng).
b) Được
phép yêu cầu chấp nhận một hành động sau khi đã làm. Đây là vi phạm kỹ
luật—Obtaining sanction for a deed after it is done. This also amounts to
a breach of monastic discipline.
6) Cho
làm theo các tập quán trước: Acinakappa (p)—Đây cũng là vi phạm kỹ
luật—Allowing monks and nuns to follow their customs and habits (customary
practices and precedents): This is also opposed to the rules.
7) Cho
uống các loại sữa sau bữa ăn: Amathitakappa (p)—Cho phép uống các loại sữa
dù chưa được lọc. Điều nầy trái với Ba Dật Đề thứ 35 về luật ăn uống quá
độ—Allowing monks and nuns to drink unrefined milk after the meal. This
practice is in contravention of Pacittiya 35 which prohibits over-eating.
8) Được
uống rượu mạnh hòa với đường và nước nóng: Jalogim-patum (p)—Việc làm nầy
trái với Ba Dật Đề thứ 51, cấm uống các chất độc hại—Allow monks and nuns
to drink the drinking of toddy. This practice is opposed to Pacittiya 51
which forbids the drinking of intoxicants.
9) Được
ngồi tự do khắp nơi: Adasakam-nisidanam (p)
a) Được
phép ngồi các chỗ rộng lớn, không cần phải theo quy định ngày trước của
Đức Phật—Allowing monks and nuns to sit down wherever they like to, not to
follow rules set forth by the Buddha before.
b) Được
dùng tọa cụ không có viền tua. Việc nầy trái với Ba Dật Đề thứ 89, cấm
dùng tọa cụ không có viền—Allow using a rug which has no fringe. This is
contrary to Pacittiya 89 which prohibits the use of borderless sheets.
10) Được giữ
vàng bạc: Jataruparajatam (p)—Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni được phép cất giữ vàng
bạc, cũng như được nhận vàng bạc từ đàn na tín thí. Điều nầy trái với giới
luật thứ 18 trong Nissaggiya-pacittiya—Allowing monks and nuns to store
gold and silver, and they are allowed to accept gold and silver. This
practice is forbidden by rule 18 of the Nissaggiya-pacittiya.
(C)
Đại Đức Da Xá công khai tuyên bố những việc làm nầy là phi pháp.
Sau khi nghe phái Bạt Kỳ phán xử khai trừ mình ra khỏi Tăng Đoàn, Da Xá
(Yasha) liền đi đến Kausambi để tìm kiếm sự bảo hộ của các nhà sư có thế
lực trong các vùng mà Phật giáo bắt đầu phát triển (Avanti ở phía tây và ở
miền nam). Da Xá mời họ họp lại và quyết định để ngăn chận sự bành trướng
của việc chà đạp đạo giáo và bảo đảm việc duy trì luật tạng. Sau đó Da Xá
đi đến núi A Phù, nơi trưởng lão Tam Phù Đà đang sống để trình lên trưởng
lão mười điều đề xướng của các tu sĩ Bạt Kỳ. Da Xá yêu cầu trưởng lão Tam
Phù Đà xem xét tánh cách nghiêm trọng của vấn đề. Trong khoảng thời gian
nầy có sáu mươi vị A La Hán từ phương Tây đến và họp lại tại núi A Phù,
cũng như tám mươi tám vị khác từ Avanti và miền Nam cũng gia nhập với họ.
Các vị nầy tuyên bố đây là vấn đề khó khăn và tế nhị. Họ cũng nghĩ đến
trưởng lão Ly Bà Đa ở Soreyya, vốn là người nổi tiếng uyên bác và từ tâm.
Nên họ quyết định cùng nhau đến gặp trưởng lão để xin sự hỗ trợ của
ngài—The Venerable Yasha openly declared these practice to be unlawful.
After the sentence of excommunication had been passed on him, he then went
to Kausambi to seek support from influential monks in all areas to which
Buddhism had spread (the western country of Avanti and of the southern
country). He invited them to assemble and decide the question in order to
stop the growth of irreligion and ensure the preservation of the Vinaya.
Next, he proceeded to Mount Ahoganga where Sambhuta Sanavasi dwelt to show
him the ten thesis advocated by the Vajjian monks. He asked the venerable
to examine the question in earnest. About the same time, some sixty Arhats
from the Western Country and eighty-eight from Avanti and the Southern
Country came to assemble on Mount Ahoganga. These monks declared the
question to be hard and subtle. They thought of the Venerable Revata who
was at Soreyya and was celebrated for his learning and piety. So they
proposed to met him and enlist his support. After a good deal of
travelling they met the Venerable Revata at Sahajati. On the advice of
Venerable Sambuta Sanavasi, Yasha approached the Venerable Revata and
explained the issue to him. One by one, Bhikshu Yasha brought up the ten
points and asked for his opinion. Each one of them was declared to be
invalid by the Venerable Revata.
(D)
Trong khi đó, các tu sĩ Bạt Kỳ cũng chẳng ngồi yên. Họ cũng đến Câu
Xá Di để xin được trưởng lão Ly Bà Đa ủng hộ. Họ dâng cho ông nhiều lễ vật
hậu hỷ nhưng đều bị ông từ chối. Họ lại dụ dỗ được đệ tử của ông là Đạt Ma
thỉnh cầu dùm họ, nhưng trưởng lão vẫn một mực chối từ. Trưởng lão Ly Bà
Đa khuyên họ nên trở về Tỳ Xá Ly là nơi xuất phát vấn đề để mở ra cuộc
tranh luận: Meanwhile, the Vajjian monks were not idle. They also went to
Sahajati in order to enlist the support of the Venerable Revata. They
offered him a lot of presents, but he refused with thanks. They also
induced his disciple, Uttara, to take up their cause, but he failed. At
the suggestion of Revata, the monks proceeded to Vaisali in order to
settle the dispute at the place of its origin.
(E)
Cuối cùng, nghị hội Vaisali tập hợp 700 nhà sư, tất cả đều là A La
Hán, còn gọi là hội nghị các trưởng lão. Tỳ Kheo A Dật Đa được chỉ định
làm người tổ chức. Trưởng lão Sabbakhami được bầu làm chủ tịch ủy ban.
Từng điểm một của mười điều cho phép của phái Bạt Kỳ được xem xét kỹ càng.
Vì thấy 10 điều thay đổi trên hoàn toàn vô lý nên một phán quyết của hội
nghị đồng thanh tuyên bố việc làm của các nhà sư Bạt Kỳ là phi pháp. Kết
quả là các nhà sư Bạt kỳ ở Tỳ Xá Ly (Vaisali) đã bị một ủy ban gồm bốn nhà
sư thuộc cộng đồng phương tây và bốn vị thuộc cộng đồng phương đông coi
là có tội. Họ đều chấp nhận sự phán quyết mà không phản kháng. Những thầy
tu vi phạm giới luật coi như đã không tôn trọng luật chính thống và đã bị
khiển trách tùy theo lỗi lầm. Do đó giới luật trong lần kết tập nầy hầu
như không thay đổi. Trong văn bản tiếng Pali và Sanskrit của Luật Tạng đều
có kể lại hội nghị nầy: Finally a council composed of 700 monks, all
arhats, also called the Council of the Theras. Bhikshu Ajita was appointed
the seatregulator. The Venerable Sabbakami was elected president. The ten
points were examined carefully one by one. After seeing these above ten
changes were so unreasonable. The unanimous verdict of the assembly
declared the conduct of the Vajjian monks to be unlawful. As a result,
they (Vajjian monks of Vaisali) were found guilty by a committee composed
of four monks from eastern and four from western regions, respectively.
The Vaisali monks accepted this judgment without any opposition. The
erring monks were declared in violation of the orthodox code of discipline
and censured accordingly. Thus, in this council, rules of monastic
discipline have remained virtually unchanged. Records of this council are
found in both the Pali and Sanskrit versions of the Vinaya-Pitaka.
(F)
Nghị Hội lần thứ hai đánh dấu sự phân phái giữa phe bảo thủ và phe
tự do. Người ta kể lại, nhóm sư Bạt Kỳ đã triệu tập một Hội Nghị khác có
mười ngàn tu sĩ tham dự với tên là Đại Chúng Bộ. Vào thời đó, dù được gọi
là Đại Chúng Bộ, nhưng chưa được biết là Đại Thừa: The Second Council
marked a division between the conservative and the liberal. It is said
that Vajjian monks of Vaisali held another Council which was attended by
ten thousand monks. It was called The Great Council (Mahasangiti). Even
though it was called Mahasanghika, it was not yet known as Mahayana at
that time).
(III)
Đại Hội Kết Tập Kinh Điển Lần Thứ Ba—The Third Council: Hội nghị
thứ ba được tổ chức tại thành Hoa Thị dưới sự bảo trợ của vua A Dục, một
Phật tử tại gia nổi tiếng—The Third Council was held at Pataliputra,
sponsored by King Asoka, a celebrated Buddhist layman.
(A) Nguyên
nhân đưa đến Hội Nghị—Reasons for the Third Concil:
a) Một
nhà sư thuộc thành Hoa Thị tên là Đại Thiên đưa ra luận điểm cho rằng một
vị A La Hán có thể để cho mình bị cám dỗ, nghĩa là có những sự xuất tinh
ban đêm và không trừ bỏ được sự ngu si cũng như những nghi ngờ về giáo
thuyết. Cuối cùng A La Hán có thể tiến bước theo con đường giải thoát,
theo Đại Thiên, nhờ ở một sự giúp đở bên ngoài và nhờ gia tăng khả năng
tập trung, do đó những cơ may cứu rỗi của người đó là nhờ ở việc lặp đi
lặp lai một số âm thanh. Những ý kiến khác nhau về những luận điểm ấy dẫn
tới sự phân chia các sư thành hai phe: A monk from Pataliputra, Mahadeva,
put forward the following position: An arhat is still subject to
temptation, that is, he can have nocturnal emissions. He is not yet free
from ignorance. In addition, he is still subject to doubts concerning the
teaching. Moreover, according to according to Mahadeva’s view, an arhat
can make progress on the path to enlightenment through the helpof others
and, through the utterance of certain sounds, he can further his
concentration and thus advance on the path. Differing views on these
points led to division of the monks into two camps.
b) Tự cho
mình đông hơn, những người bảo vệ những luận điểm của Đại Thiên tự gọi
mình bằng cái tên Mahasanghika hay cộng đồng lớn, còn những đối thủ của
họ, do những người “Cũ” đại diện, đó là những vị nổi bậc về đại trí và đại
đức, thì tự gọi mình là “Sthavira”: Those who affirmed these points of
Mahadeva’s, and who believed themselves to be in the majority, called
themselves Mahasanghika or Great Community. Their opponents, represented
by the “elders,” who were distinguished by outstanding wisdom and virtue,
called themselves Sthavira.
c) Với
việc vua A Dục đi theo đạo Phật, nhiều tu viện nhanh chóng phát triển về
mặt vật chất và các tu sĩ có một đời sống đầy đủ dễ chịu hơn. Nhiều nhóm
dị giáo đã bị mất nguồn thu nhập nên ngã theo Phật giáo. Tuy nhiên, dù
theo đạo Phật, nhưng họ vẫn giữ tín ngưỡng, cách hành trì, cũng như thuyết
giảng giáo lý của họ thay vì giáo lý đạo Phật. Điều nầy khiến cho trưởng
lão Mục Kiền Liên Tư Đế Tu đau buồn vô cùng, nên ông lui về ở ẩn một nơi
hẻo lánh trong núi A Phù suốt bảy năm. Số người dị giáo và tu sĩ giả hiệu
ngày một đông hơn những tín đồ chân chánh. Kết quả là trong suốt bảy năm
chẳng có một tự viện nào tổ chức lễ Bố Tát hay tự tứ. Cộng đồng tu sĩ sùng
đạo từ chối không chịu làm lễ nầy với những người dị giáo. Vua A Dục rất
lo lắng về sự xao lãng nầy của Tăng chúng nên phải ra lệnh thực hiện lễ Bố
Tát. Tuy nhiên, vị đại thần được nhà vua giao phó nhiệm vụ nầy đã gây ra
một vụ thảm sát đau lòng. Ông ta hiểu sai mệnh lệnh nhà vua nên đã chặt
đầu những tu sĩ không chịu thực hiện lệnh vua. Hay tin nầy, vua rất đau
lòng. Ngài đã cho thỉnh trưởng lão Mục Kiền Liên Tư Đế Tu về để tổ chức
hội nghị: With the conversion of King Asoka, the material prosperity of
the monasteries grew by leaps and bounds and the monks lived in ease and
comfort. The heretics who had lost their income were attracted by these
prospects to enter the Buddhist Order. They continued, however, to adhere
to their old faiths and practices and preached their doctrines instead of
the doctrines of the Buddha. This caused extreme distress to Thera
Moggaliputta-Tissa who retired to a secluded retreat on Mount Ahoganga and
stayed there for seven years. The number of heretics and false monks
became far larger than that of the true believers. The result was that for
seven years no Uposatha or retreat (Pavarana) ceremony was held in any of
the monasteries. The community of the faithful monks refused to observed
these festivals with the heretics. King Asoka was filled with distress at
this failure of the Sangha and sent commands for the observance of the
Uposatha. However, a grievous blunder was committed by the Minister who
was entrusted with this task. His misunderstood the command and beheaded
several monks for their refusal to carry out the King’s order. When this
sad news reported to Asoka, he was seized with grief and apologized for
this misdeed. He then invited Maggaliputta Tissa to hold the Third
Council.
d) Do đó
mà Hội Nghị thứ ba được tiến hành với nhu cầu thanh khiết hóa Phật pháp
đang lâm nguy do sự xuất hiện của nhiều hệ phái khác nhau với những luận
điệu, giáo lý và cách hành trì đối nghịch nhau: Thus the Third Council was
held by the need to establish the purity of the Canon which had been
imperilled by the rise of different sects and their rival claims,
teachings and practices.
(B) Thấy thế
vua A Dục cho tổ chức Đại Hội kết tập kinh điển lần thứ ba tại thành Ba
Tra Lợi Phất (Hoa Thị Thành, thủ đô cổ của Tích Lan), khoảng vào thế kỷ
thứ ba trước Tây Lịch. Vua A Dục đã đích thân chọn 60.000 vị Tỳ Kheo tham
dự Hội Nghị. Trong khi đó trưởng lão Mục Kiền Liên Tư Đế Tu đã phụng mệnh
vua A Dục chọn ra một ngàn vị Tăng tinh thông tam tạng kinh điển kết tập
chánh pháp. Hội nghị đã bàn thảo trong chín tháng về những ý kiến dị biệt
giữa những Tỳ Kheo của nhiều phái khác nhau. Tại Đại Hội nầy, sự khác biệt
không chỉ hạn hẹp trong Giới Luật, mà cũng liên quan đến Giáo Pháp nữa.
Đây không phải là một hội nghị toàn thể mà chỉ là một cuộc nhóm họp nhỏ
thôi. Lúc kết thúc Hội Nghị, ngài Mục Kiền Liên Tư Đế Tu (see Mục Kiền
Liên Tư Đế Tu), đã tổng hợp vào một cuốn sách gọi là Thuyết Sự Luận
(Kathavatthupakarana), bác bỏ những quan điểm và lý thuyết dị giáo cũng
như những sai lầm của một số giáo phái. Giáo lý được phê chuẩn và chấp
thuận bởi Đại Hội được biết là Theravada hay Nguyên Thủy. Vi Diệu Pháp
được bao gồm trong Đại Hội nầy—Seeing this division, King Asoka organized
the Third Council (in the Third Century B.C.) at Pataliputra, the old
capital of Ceylon. King Asoka himself assigned 60,000 monks to participate
in this Council. To obey the order of king Asoka, Thera Tissa thereafter
elected a thousand monks who were well versed in the three Pitakas to make
a compilation of the true doctrine. The Council lasted for nine months to
discuss the different opinion among the Bhiksus of different sects. At
this Council the differences were not confined to the Vinaya but also
connected with the Dharma. This was not a general Council, but rather a
party meeting. At the end of this Council, the President of the Council,
Moggaliputtra-Tissa, compiled a book called the Kathavatthu refuting the
heretical, false views and theories held by some sects. The teaching
approved and accepted by this Council was known as Theravada. The
Abhidharma Pitaka was included at this Council.
·
Bố Tát Thuyết Giới: Upavasatha-Sila.
·
Kết Tập Tam Tạng Kinh, Luật, Luận: Tripitaka, Sutra, Vinaya,
and Abhidharma.
(C) Một trong
những thành quả quan trọng của Hội Nghị lần thứ ba là nhiều phái đoàn
truyền giáo đã được gởi đi khắp các xứ để hoằng dương Phật pháp. Sau Đại
Hội kết tập lần thứ ba, người con của Vua A Dục, ngài Hòa Thượng
Mahinda,và người con gái tên Tăng Già Mật Đa, đã mang Tam Tạng Kinh Điển
đến Sri-Lanka, cùng với những lời bình luận của Hội Nghị nầy. Họ đã đạt
được thành công rực rỡ tại đảo quốc nầy. Những kinh điển được mang về
Sri-Lanka vẫn được giữ gìn cho đến ngày nay không mất một trang nào. Những
kinh điển nầy được viết bằng chữ Pali, căn cứ vào ngôn ngữ của xứ Ma Kiệt
Đà là ngôn ngữ của Đức Phật. Chưa có gì gọi là Đại Thừa vào thời bấy giờ.
Ngoài ra, qua những chỉ dụ của vua A Dục, chúng ta được biết thêm về những
phái đoàn truyền giáo Phật giáo được nhà vua cử đi đến các nước xa xôi ở Á
Châu, Phi Châu và Âu Châu. Phật giáo đã trở thành một tôn giáo quan trọng
của nhân loại phần lớn là nhờ ở các hoạt động của phái đoàn nầy—One of
the important results of thei Council was the dispatch of missionaries to
different countries of the world for the propagation of Buddhism. After
the Third Council, Asoka’s son, Venerable Mahinda, and the king’s
daughter, Sanghamitta, brought the Tripitaka to Sri-Lanka, along with the
commentaries that were recited at the Third Council. They were
extraordinarily successful in this island. The texts brought to Sri-Lanka
were preserved until today without losing a page. The text were written in
Pali which was based on the Magadhi language spoken by the Buddha. There
was nothing known as Mahayana at that time. Besides, from the edicts of
king Asoka, we know of various Buddhist missions he sent to far-off
countries in Asia, Afirca, and Europe. It is to a large extent due to
these missionary activities that Buddhism became one of the most important
religions of mankind.
(D) Sự xuất
hiện của Đại Thừa—Coming of Mahayana: Giữa thế kỷ thứ nhất trước Tây Lịch
và thế kỷ thứ hai sau Tây Lịch, hai từ Đại Thừa và Tiểu Thừa xuất hiện
trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Vào thế kỷ thứ hai sau Tây Lịch, Đại Thừa
được định nghĩa rõ ràng. Ngài Long Thọ triển khai triết học “Tánh Không”
của Đại Thừa và chứng minh tất cả mọi thứ đều là “Không” trong một bộ luận
ngắn gọi là Trung Quán Luận. Vào khoảng thế kỷ thứ tư sau Tây Lịch, hai
ngài Vô Trước và Thế Thân viết nhiều tác phẩm về Đại Thừa. Sau thế kỷ thứ
nhất sau Tây Lịch, những nhà Phật giáo Đại Thừa giữ vững lập trường rõ
ràng nầy, từ đó hai từ Đại Thừa và Tiểu Thừa được nói đến. Chúng ta không
nên lẫn lộn Tiểu Thừa với Nguyên Thủy, vì hai từ nầy hoàn toàn khác nhau.
Nguyên Thủy Phật Giáo nhập vào Sri-Lanka vào thế kỷ thứ ba trước Tây Lịch,
lúc chưa có Đại Thừa xuất hiện. Phái Tiểu Thừa xuất hiện tại Ấn Độ, có một
bộ phận độc lập với dạng thức Phật Giáo tại Sri-Lanka—Between the First
Century B.C. to the First Century A.D., the two terms Mahayna and Hinayana
appeared in the Saddharma Pundarika Sutra or the Sutra of the Lotus of
Good Law. About the Second Century A.D. Mahayana became clearly defined.
Nagajuna developed the Mahayana philosophy of Sunyata and proved that
everything is void in a small text called Madhyamika-karika. About the
Fourth Century, there were Asanga and Vasubandhu who wrote enormous amount
of works on Mahayana. After the First Century A.D., the Mahayanists took a
definite stand and only then the terms of Mahayana and Hinayana were
introduced. We must not confuse Hinayana with Theravada because the terms
are not synonymous. Theravada Buddhism went to Sri-Lanka during the Third
Century B.C. when there was no Mahayana at all. Hinayana sects developed
in India and had an existent independent from the form of Buddhism
existing in Sri-Lanka.
(IV)
Hội Nghị lần thứ tư—The Fourth Council:
(A)
Hội nghị nầy dường như chỉ là hội nghị của một phái, phái
Sarvastivadin, hơn là một hội nghị chung thật sự—The fourth council seems
also to have been the synod of a particular school, the Sarvastivadins,
more than a general council.
(B)
Đại hội kết tập kinh điển lần thứ tư được tổ chức tại thành Ca Thấp
Di La (Kashmir) khoảng năm 70 trước Tây Lịch, dưới sự tổ chức của Vua Ca
Nị Sắc Ca (Kanishka), nhưng lần nầy chỉ có sự tham dự bởi phái Nhất Thiết
Hữu Bộ, chứ không được phái Nguyên Thủy thừa nhận (Sau thời vua A Dục
khoảng 300 năm tức là vào khoảng năm 70 trước Tây Lịch, miền tây bắc Ấn Độ
có vua Ca Nị Sắc Ca (Kanishka), rất kính tin Phật pháp, thường thỉnh chư
Tăng vào triều thuyết pháp. Vì thấy pháp không đồng và luật lệ của nhóm
nầy khác với nhóm kia, nên vua bèn chọn 500 Tăng sĩ kiến thức uyên bác, và
triệu thỉnh ngài Hiếp Tôn Giả (Parsvika) tổ chức hội nghị kết tập kinh
điển lần thứ tư. Hội nghị đề cử Thượng Tọa Thế Hữu (Vasumitra) làm chủ
tọa, còn ngài Mã Minh được mời từ Saketa đến để soạn thảo Luận Thư
(commentaries) đồng thời là Phó chủ tọa, địa điểm là tịnh xá Kỳ Hoàn ở Ca
Thấp Di La (Kashmir). Mục đích kỳ kết tập nầy là giải thích rõ ràng ba
tạng kinh điển, gồm 300.000 bài tụng. Sau đó chế ra bản đồng, đúc chữ in
lại tất cả, cho xây bửu tháp để tàng trử kinh điển. Không phải như ba lần
kết tập trước, lần nầy nghĩa lý kinh điển được giải thích rõ ràng. Tuy
nhiên, ngài Hiếp Tôn Giả Parsvika) là một vị đại học giả về Hữu Bộ, vua Ca
Nị Sắc Ca (Kanishka) cũng tin theo Hữu Bộ, nên sự giải thích trong lần kết
tập nầy đều y cứ vào “Nhất Thế Hữu Bộ (Sarvastivadah).” Chủ đích của Hội
Nghị là phân tích lại một phần Vi Diệu Pháp nhằm ngăn ngừa một số khuynh
hướng cải cách bên trong cộng đồng. Nhiều nguồn tin cho biết có sự tham dự
của 500 vị A La Hán và 600 vị Bồ Tát tại hội nghị nầy. Nghị Hội được triệu
tập theo sự đề xuất của một cao tăng uyên thâm Phật pháp là Hiếp Tôn Giả.
Ngài Thế Hữu (Vasumitra) làm chủ tịch Hội Nghị, trong khi ngài Mã Minh
được mời đến từ Saketa, làm Phó chủ tọa, và cũng là người lo biên soạn
quyển Mahavibhasa, một quyển bình giải về Vi Diệu Pháp. Hội Nghị nầy chỉ
giới hạn trong việc kết tập những lời bình. Có vẻ như là chủ thuyết nào
tranh thủ được sự đồng ý rộng rãi nhất thì được chú ý nhất. Mà dường như
các tu sĩ của trường phái Nhất Thiết Hữu Bộ chiếm đa số. Và rất có thể là
các chi nhánh quan trọng của trường phái Sarvastivada gồm những hệ phái
không chính thống cũng đã tham dự với số lượng khá đông. Không có chứng cớ
là Phật giáo Đại Thừa và Nguyên Thủy đã tham dự. Tuy nhiên, do sự bành
trướng quan trọng sau đó của phong trào Sarvastivadin, người ta thừa nhận
hội nghị nầy có tầm quan trọng chung như một Đại Hội Kết Tập Kinh Điển
Phật Giáo—The fourth Great Council was held around 70 B.C. in Kashmir
under the patronage of King Kanishka, but as the doctrine promulgated were
exclusively Sarvastivada school. It is not recognized by the Theravada.
The Council was held to discuss new interpretation of part of the
Abhidharma that was intended to forestall reformatory tendencies.
According to various sources, this Council was attended by 500 arhats as
well as 600 Bodhisattvas. King Kanishka summoned this Council at the
instigation of an old and learned monk named Parsva. The principal role is
ascribed to Vasumitra, while Asvaghosa, who was invited from Saketa to
help supervised the writing of the Mahavibhasa, a commentary on the
Abhidharma. There is no evidence that Mahayana Buddhism was represented in
this Council. However, because of the great importance later attained by
the Sarvastivadins, this synod came to be evaluated as a Council having
general authority.
·
Mười muôn (100.000) bài tụng để giải thích Kinh Tạng: Sutra
Pitaka.
·
Mười muôn bài tụng để giải thích Luật Tạng: Vinaya Pitaka.
·
Mười muôn bài tụng để giải thích Luận Tạng: Hiện nay vẫn còn
200 quyển A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận do Ngài Huyền Trang
dịch—Abhidharma Pitaka.
·
See Ca Ni Sắc Ca in Vietnamese-English Section.
(V) Đại hội
kết tập kinh điển lần thứ năm được vua Mindon của Miến Điện tổ chức năm
1871 (Buddhist year 2414). Người ta nói có khoảng 2.400 tu sĩ có học vấn
cùng các giáo sư tham dự. Các trưởng lão Jagarabhivamsa, Nirindabhidhaja
và Sumangala Sami luân phiên chủ trì hội nghị. Công việc kết tập và ghi
lại Tam Tạng kép dài trên năm tháng trong hoàng cung và kinh điển được
khắc vào 729 bản đá cẩm thạch và lưu trữ tại Mandalay. Điều đáng chú ý là
nhiều ấn bản khác nhau đã được xử dụng để đối chiếu trong hội nghị nầy:
The fifth council was held in 1871 at the instance of King Mindon of
Burma. It is said that about 2,400 learned monks and teachers participated
in the Council. The elders Jagarabhivamsa, Narindabhidhaja and Sumangala
Sami presided in turn. The recitation and recording of the Tripitaka on
marble continued for about five months in the royal palce and the Tipitika
was carved on 729 marble slabs and preserved at Mandalay. It should be
noted that various available editions of the Tripitaka were used for
comparison and references in this Council.
(VI)
Đại hội kết tập kinh điển lần thứ sáu được tổ chức tại Ngưỡng Quang, thủ
đô của Miến Điện vào năm 1954. Có khoảng 2500 Tỳ Kheo uyên bác trên khắp
thế giới (từ Ấn Độ, Miến Điện, Tích Lan, Népal, Cam Bốt, Thái Lan, Lào, và
Pakistan) tham dự, trong đó có khoảng năm trăm Tỳ Kheo Miến Điện, uyên
thâm trong việc nghiên cứu và hành trì giáo lý của Đức Phật, được mời đảm
nhận việc kiểm lại văn bản tam tạng kinh điển Pali. Hội nghị khai mạc năm
1954, và hoạt động liên tục đến ngày trăng tròn Vaisakha năm 1956, nghĩa
là trong dịp kỷ niệm 2.500 năm ngày Đức Phật nhập Niết Bàn: The sixth
Great Council was held in Rangoon in 1954. About 2,500 learned bhikkhus of
the various countries of the world (from India, Burma, Ceylon, Nepal,
Cambodia, Thailand, Laos, and Pakistan), among which 500 bhikshus from
Burma, who were well versed in the study and practice of the teachings of
the Buddha, were invited to take the responsibility for re-examining the
text of the entire Pali canon. The Great Council was inaugurated in 1954,
was to go on till the completion of its task at the full moon of Vaiskha
in 1956, that is, 2,500th anniversary of the Buddha’s mahaparinirvana.
** Nhiều người cho rằng Đại Hội Kết Tập lần
thứ năm và sáu là không cần thiết vì Kinh Điển đã hoàn chỉnh mỹ mãn sau
lần kết tập thứ tư. Ngoài ra, còn có nhiều Hội Nghị khác ở Thái Lan và
Tích Lan, nhưng không được coi như là Nghị Hội đúng nghĩa—Many people
believed that the fifth and the sixth councils were not necessary because
after the Fourth Council, all Tripitaka scriptures were collected
satisfactorily. Besides, there were many other Councils in Thailand and
Ceylon, but they were not considered Councils in the true sense of the
term.
·
Hội nghị được triệu tập dưới triều vua Devanampiya Tissa
(247-207 trước Tây Lịch). Hội nghị được chủ tọa bởi tôn giả Arittha. Hội
nghị nầy được tổ chức sau khi phái đoàn truyền giáo của Hòa Thượng Ma Thẩn
Đà, con vua A Dục, đến Tích Lan. Theo lời kể thì có sáu vạn A La Hán tham
dự. Thượng Tọa Arittha (người Tích Lan, đại đệ tử của Ma Thẩn Đà thuộc
dòng Thera Simhala) tuyên đọc Pháp điển: A Council was held during the
reign of King Devanampiya Tissa (247-207 B.C.) under the presidentship of
Venerable Arittha Thera. This Council was held after the arrival in the
island of Buddhist missionaries, headed by Thera Mahinda, a son of Emperor
Ashoka. According to tradition, sixty thousand Arhats took part in the
assembly. Venerable Thera Arittha, a Simhalese Bhikshu, a great disciple
of Thera Mahinda in the line of Simhalese Theras, recited the Canon.
·
Theo Sangitisamva thì một Hội Nghị được triệu tập dưới triều
vua Mahanama vào năm 516 Phật Lịch. Trong hội nghị nầy chỉ có các bài luận
giải được dịch từ tiếng Simhala (Tích Lan) ra tiếng Ma Kiệt Đà (pali) bởi
tôn giả Bhadhanta Busshaghosa: As mentioned in the Sangitivamsa, another
Council was held during the reign of King Mahanama in 516 Buddhist
calendar in which only the commentaries were translated from Sinhalese
into Magadhi (Pali) by Bhadanta Buddhaghosa.
·
Một hội nghị khác diễn ra tại Sri-Lanka vào năm Phật Lịch
1587 dưới triều vua Parakramabahu. Hội nghị nầy diễn ra trong hoàng cung
và kéo dài một năm. Các đại trưởng lão tuyên tụng lại luận tạng của các
Đại Trưởng Lão dưới sự chủ trì của tôn giả Đại Ca Diếp: Another Council
was held in 1587 Buddhist Calendar in the reign of King Parakramabahu. The
conference took place in the royal palce and lasted for one year. The
Council was presided by Venerable Mahakapsyapa, and it is said to have
revised only the commentaries of the tripitaka of the Mahatheras.
·
Một Hội Nghị khác đã diễn ra tại Thái Lan trong khoảng những
năm 2000 hay 2026 Phật Lịch, và kéo dài một năm. Nhằm xây dựng Phật giáo
trên một nền tảng vững chắc, vua Sridharmacakravarti Tilaka Rajadhiraja,
vị vua trị vì miền Bắc Thái Lan, đã triệu tập hội nghị nầy tại Chieng-Mai,
lúc đó là kinh đô nước này: Another Council took place in Thailand either
in 2,000 or in 2,026 Buddhist Calendar, and it lasted for one year. In
order to establish Buddhism on a firm basis, King Sridharmacakravarti
Tilaka Rajadhiraja, the ruler of Northern Thailand called this Council in
Chieng-Mai, his capital.
·
Một hội nghị khác ở Thái Lan, diễn ra vào năm 2331 Phật
Lịch, sau một cuộc chiến tranh giữa Thái Lan và một nước láng giềng. Kinh
đô cũ của Thái là Ayuthia bị thiêu rụi và nhiều bộ sách cùng tam tạng cũng
ra tro. Lại thêm Tăng chúng bị rối loạn và đạo đức sa sút vì tình trạng
thù địch kéo dài. Thế nên vua Rama I cùng hoàng đệ của ông triệu tập hội
nghị để lấy lại niềm tin của mọi người. Dưới sự bảo trợ của vương triều,
có 218 trưởng lão và 32 học giả cư sĩ họp lại làm việc liên tục trong một
năm để kết tập bộ tam tạng: Another Council was held in Thailand in 2331
Buddhist Calendar. After a war with its neighboring country, the old
capital Ayuthia was destroyed by fire and many books and manuscripts of
the Tripitaka were reduced to ashes. Moreover, the Sangha was disorganized
and morally weakened by reason of prolonged hostility. Thus, King Rama I
and his brother called for a Buddhist Council to restore the faith from
everyone. Under the royal patronage, 218 elders and 32 lay scholars
assembled together and continued the recitation of the Tripitaka for about
a year.
Kết Thán: Tán thán phần kết của
bài kinh hay đoạn kinh—A sigh of praise at the close of a passage of a
sutra.
Kết Thân: To join by marriage.
Kết Thúc: See Kết luận.
Kết Tóc Xe Tơ: To get married.
Kết Trụ: Làm dấu kim cang ái
trụ, như dấu hiệu của Đức Tỳ Lô Giá Na để kiểm soát quỷ thần—Đây là một
phương pháp của Mật Tông—To make the sign of the Vajra armour and helmet,
i.e. of Vairocana, in order to control the spirits—A method of the
esoteric sects.
Kêu Án: To convict—To
sentence—To condemn.
Kêu Ca: To complain.
Kêu Cứu: To call (cry) for
help.
Kêu La: To yell—To shout.
Kêu Na: To beseech.
Kêu Oan: To claim one’s
innocence.
Kêu Rêu: To backbite.
Kêu Van: See Kêu nài.
Kích Bác: To criticize—To find
fault with.
Kiêm: Cả hai—Both—Also.
Kiêm Đản Đối Đới: Bốn thời kỳ
đầu của giáo thuyết Phật Đà được tông Thiên Thai định nghĩa là Kim Đản Đối
Đới (bốn thời kỳ nầy đều nói về tướng)—The first four of the five periods
of Buddha’s teaching defined by the T’ien-T’ai sect.
1) Kim:
Thời Hoa Nghiêm nói về Viên Giáo và Biệt Giáo—Combined teaching, including
the complete and differentiating doctrines, the period of Avatamsaka
Sutra.
2) Đản:
Thời A Hàm chỉ nói về Tạng Giáo Tiểu Thừa—Sole, i.e. Hinayana only, that
of Agamas.
3) Đối:
Thời Phương Đẳng, bốn giáo Tạng Thông Biệt Viên được thuyết giảng đối
chiếu với nhau—Comparative, all four forms of doctrines being compared,
the period of the Vaipulya Sutras.
4) Đới:
Thời Bát Nhã Viên giáo được hé mở để hoàn thiện những giáo thuyết ở Tạng
Thông Biệt—Inclusive, that of the Prajna, when the perfect teaching was
revealed as the fulfilment of the rest.
Kiêm Lợi: Cả hai cùng có lợi
(cả mình lẫn người đều được lợi lạc)—Mutual benefit; to benefit self and
others.
Kiếm:
1) Lưỡi
Kiếm: A sword (a two-edged sword).
2) Tìm
kiếm: To search for—To look for.
Kiếm Ba: Kampa or Bhukampa
(skt)—Chấn Địa Thiên—Deva of earthquakes.
Kiếm Chác: To make profit
Kiếm Chuyện: To find fault
with—To seek/pick a quarrel with.
Kiếm Lâm Địa Ngục: Asipattra
(skt)—Một trong mười sáu tiểu địa ngục, địa ngục rùng kiếm—One of the
sixteen small hells, the hell of the forest of swords, or sword-leaf
trees.
Kiếm Luân Pháp: Một hệ thống
kiếm xoay để hàng phục ma quân—A system of revolving swords for subduing
demons.
Kiếm Ma Xá Đề: Kiếm Ma Xá Đế.
1) Ma
quân: A spirit or demon.
2) Con đẻ
của dục vọng không kềm chế được: The ungovernable, son of Kama (Love and
Lust).
Kiếm Sơn: Kiếm Lâm Địa Ngục,
and Địa Ngục in Vietnamese-English Section.
Kiếm Thụ Địa Ngục: See Kiếm Lâm
Địa Ngục.
Kiềm Chế: To subdue—To master
one’s passions—To overcome.
Kiềm Chế Dục Vọng: To dominate
one’s passions.
Kiềm Hãm: To check—To control.
Kiềm Tỏa: To restrain—To bind.
Kiểm: To check—To revise.
Kiểm Duyệt: To
censor—Censorship.
Kiểm Soát: Samyama or Sannama
(p)—Control—Restraint—Self-control.
Kiểm Soát Các Căn:
Samyatendriyah (p)—Control of senses.