TỔ ĐÌNH MINH ĐĂNG QUANG
PHẬT HỌC TỪ ĐIỂN
BUDDHIST DICTIONARY
VIETNAMESE-ENGLISH
THIỆN PHÚC
Bo
Bó Buộc: To bind—To
chain—To enfetter.
Bỏ: To abandon.
Bỏ Đạo: To abandon
one’s religion.
Bỏ Đạo Phật: To
abandon the Buddhist order.
Bỏ Ngoài Tai: To
pay no attention to.
Bỏ Nhà: To desert
one’s home.
Bỏ Phí Thì Giờ: To
waste one’s time.
Bỏ Quên: To leave
behind—To forget.
Bỏ Ra: To
eliminate.
Bỏ Rơi: To
abandon—To desert—To drop—To foresake.
Bỏ Sót: To omit—To
miss out—To leave out—To drop out.
Bỏ Tù: To
imprison—To incarcerate—To put someone in prison.
Bóc Lột: To
exploit—To take advantage of someone—To clean someone out
Bói Toán:
Divination—Fortune teller.
Bỏn Xẻn:
Avaricious—Stingy—Stinginess.
Đức
Phật dạy trong Kinh Pháp Cú: “Người tham lam bỏn xẻn không thể sanh lên
cõi trời, người ngu si không ưa tán dương việc bố thí, nhưng người trí
thấy bố thí lại tùy hỷ công đức và tương lai họ sẽ dự hưởng phần an
lạc.”—The Buddha taught in the Dharmapada Sutra, verse 177: “Misers cannot
go to the heaven, fools cannot indeed praise charity. A wise man rejoices
in alsmgiving and thus becomes happy thereafter.”
Bong Bóng: Bubble.
Bong Bóng Nước: A
water buble
Bóng: Abhasa
(skt)—Shadow.
Bóng Ảo Tưởng Của Vũ
Trụ: The bubble of the universe
Bóng Dáng: Abha or
Paribimba (skt)—Shadow—Reflected image.
Bóp Méo: To distort
Bố:
1) Vải:
Cloth.
2) Phân
bố: To spread.
3) Lo sợ:
Uttras or Santras (skt)—Fear—Afraid.
Bố Đại Hòa Thượng:
Vị Đại Tăng còn có hiệu là Trường Đinh Tử, với chiếc túi vải trên lưng
(vào thế kỷ thứ 10, vị hòa thượng có hình dáng đẩy đà chậm chạp, trán nhăn
bụng phệ, đi đâu lũ trẻ cũng thường hay bu theo chọc ghẹo Ngài)—Great
Reverend—Pu-Tai Ho-Shang—Cloth-bag monk, an erratic monk (in the tenth
century, usually depicted, scantily clad and surrounded by children).
Bố Đát Na: Putana
(skt)—Bố Đơn Na—Phú Đa—Đà Na—Đơn Na—Một loại quỷ cái làm hại trẻ, một loại
quỷ đói hôi hám, và thành công nhứt trong các loài quỷ—A female demon
poisoning or the cause of wasting in a child; interpreted as a stinking
hungry demon, and the most successful of demons.
Bố Đạt Lạp: Potala
(skt)—Phổ Đà La—Tu viện của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại thủ đô La Sa—The
monastery of the Dalai Lama in Lhasa.
Bố Đơn Na: Putana
(skt)—A female demon—See Bố Đát Na.
Bố Giáo: Truyền bá
giáo pháp ra ngoài—To publish—To spread abroad the doctrine.
Bố Lợi Ca: Purika
(skt)—Một loại bánh—A kind of cake.
Bố Lỗ Ba: See Bố Lỗ
Bà Bì Đề Ha.
Bố Lỗ Bà Bì Đề Ha:
Purva-Videha or Videha (skt)—Một trong những đại châu ở về phía đông núi
Tu Di—One of the great continents east of Sumeru.
Bố Lỗ Na Bạt Đà La:
Purnabhadra (skt)—Một trong tám tên tướng của Dạ Xoa—One of the eight
yaksa generals.
Bố Lộ Sa: Purusa
(skt)—Bố Lỗ Sa—Bổ Lô Sa—Người—Trượng phu—Sĩ phu—Man—Mankind—A Man—Man as
Narayana the soul and origin of the universe—The soul—Supreme being.
Bố Ma: Làm cho ma
quỷ sợ hãi, một từ dùng để gọi Tỳ Kheo—To terrorize the demons or
Scare-demon, a term used to call Bhiksu.
Bố Như Điểu Phạt Da:
Punyopaya (skt)—Na Đề—Nadi (skt)—Một vị sư miền Trung Ấn, được kể lại như
là vị đã mang sang Trung Hoa 1.500 kinh sách Đại và Tiểu Thừa vào khoảng
năm 655 sau Tây Lịch. Đến năm 656 ông được gửi sang đảo Côn Lôn trong biển
Nam Hải (có lẽ là Côn Sơn của Việt Nam) để tìm một loại thuốc lạ—A monk of
central India, said to have brought over 1,500 texts of the Mahayana and
Hinayana schools to China 655 AD. In 656 AD he was sent to Pulo Condore
Island in the China Sea for some strange medicine.
Bố Sứ: Pausa
(skt)—The tenth month in India.
** For more information,
please see Thập Nhị
Nguyệt.
Bố Tát:
Upavasatha—posadha—Uposana (skt)—Uposatha (p)—Bố Sa Tha—Bố Sái Tha—Bao Sa
Đà—Bố Tát Đà Bà—Ưu Bổ Đà Bà—Bát La Đế Đề Xá Da Mị (Pratidesaniya)—Tiếng
Hán dịch là Tịnh Trụ, Thiên Trúc hay Trưởng Dưỡng. Theo phép của người
xuất gia cứ nửa tháng một lần (vào ngày rằm, 29 hoặc 30), chúng Tăng Ni
tập hợp thuyết giới kinh, khiến cho mọi người đều trụ trong tịnh giới và
trưởng dưỡng thiện pháp. Trong khi đó người tại gia thì giữ tròn tám giới
trong sáu ngày chay để đoạn trừ ác nghiệp và trưởng dưỡng thiện
pháp—Fasting—A fast—The nurturing or renewal of vows by abiding in retreat
for spiritual refreshment. The Buddhist monks and nuns should meet at the
new, full moons, 29th and 30th to read the Pratimoksa Sutra for their
moral edification. Also disciples at home should observe the fast days
(1st, 15th, 29th, 30th ) and the eight commands.
Bố Tát Hộ: Từ ngữ
dùng gọi Bố tát Giới Trai cho người tu tại gia, vì ưu bà tắc và ưu bà di
tại gia giữ tám giới mà thành Bố Tát (tại tâm thì gọi là hộ, tại thân khẩu
thì gọi là giới)—A term for the lay observance of the first eight
commandments on fast days, and it is used as a name for those commands.
Bố Tát Nhựt: Những
ngày Bố Tát là những ngày rằm, 29 và 30 trong tháng—The fast days are the
15th, 29th, and 30th of the moon.
Bố Thí: Dana (skt).
(I) Nghĩa
của Bố Thí—The meanings of Dana:
1) Theo
từ Hán Việt, Bố có nghĩa là rộng lớn hay không có giới hạn, Thí có nghĩa
là cho. Bố Thí là cho một cách rộng lớn, cho không giới hạn—According to
Vietnamese-Chinese terms, Bố means wide or unlimited, Thí means giving. Bố
Thí means to give without any limits.
2) Đàn
Na—To give alms—Alms (money, food, clothes offered to the
poor)—Generosity—Charity—To bestow—Bố thí thực phẩm hay pháp giáo, đưa đến
lợi lạc cho đời nầy và đời sau trong kiếp lai sanh, xao lãng hay từ chối
không bố thí sẽ có hậu quả ngược lại. Đức Phật dạy: “Tham lam chính là đầu
mối của các sự khổ đau trong vòng luân hồi sanh tử. Vì hễ có tham là có
chấp giữ; có chấp giữ là còn bị trói buộc; còn bị trói buộc tức là chưa
giải thoát; chưa giải thoát tức là còn luân hồi sanh tử; còn luân hồi là
còn làm chúng sanh; còn làm chúng sanh là còn tiếp tục chịu các cảnh khổ
đau phiền não.” Vì thấy các mối nguy hại của tham lam, nên Đức Phật đã
nhấn mạnh với chúng sanh về pháp môn bố thí—Almsgiving of food or
doctrine, with resultant benefits now and also hereafter in the form of
reincarnation, as neglect or refusal will produce the opposite
consequences. The Buddha taught: “Greed is the origin of various pains and
sufferings in the cycle of births and deaths. For if there is greed, there
is attachment; if there is attachment, there is bondage; if there is
bondage, there is the cylcle of briths and deaths; if there is a cycle of
rebirths, one is still a sentient being; if one is still a sentient being,
there are still pains, sufferings, and afflictions.” Realizing the
calamities from greediness, the Buddha emphasized a dharma door of
generosity.
3) Trong
phần giảng giải Kinh Bát Đại Nhân Giác, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã giải
thích về “Bố Thí” như sau: Bố Thí là cho ra đồng đều, có nghĩa là làm san
bằng sự chênh lệnh giàu nghèo. Bất cứ hành động nào khiến cho tha nhân bớt
khổ và thực thi công bằng xã hội đều được xem là “Bố Thí.”—In the
explanation of the Sutra on The Eight Realizations of the Great Beings,
Zen Master Thích Nhất Hạnh explained “Practicing Generosity” as follow:
‘Practicing generosity means to act in a way that will help equalize the
difference between the wealthy and the impoverished. Whatever we do to
ease others’ suffering and create social justice can be considered
praticing generosity.
4) Một
trong lục Ba La Mật: One of the six paramitas—Bố Thí là hạnh tu đầu của
sáu phép Ba La Mật. Ba La Mật có nghĩa là đưa người sang bờ bên kia, tức
là bờ giải thoát; giải thoát khỏi bệnh tật, nghèo đói, vô minh, phiền não,
sanh tử—Practicing generosity is the first of the six paramitas. Paramita
means to help others reach the other shore, the shore of liberation from
sickness, poverty, hunger, ignorance, desires and passions, and birth and
death.
5) Người
tu theo Phật phải nên biết hai chữ “Bố thí” và “Cúng dường” cũng đồng một
nghĩa—Buddhists should know that both concepts of “giving to charity” and
“making offerings” mean the same thing:
·
Ở nơi chúng sanh thì gọi là “Bố thí.”—With regard to
sentient beings, this act is called “Giving.”
·
Ở nơi cha mẹ, cùng các bậc thầy tổ và chư Thánh nhân thì gọi
là cúng dường—With regard to parents, religious teachers, Patriarchs, and
other enlightened beings, this act is called “Making offerings.”
(II) Chúng sanh Bố Thí—Sentient Beings Giving: Có hai loại chúng sanh bố
thí—There are two types:
1) Thí
Chủ Hay người cho—The benefactor: Người có tâm thanh tịnh, từ bi, đem của
cải, tiền bạc, vân vân, của mình ra mà phân phát cho các kẻ thọ lãnh—This
is an individual who has peace, purity, and compassion, and uses his or
her wealth of possessions and money to distribute and give to
beneficiaries.
2) Người
nhận—Receiver: Tức là người nhận của cải, tiền bạc từ nơi thí chủ—The
individual who receives the possessions or money from the benefactors.
(I) Các
loại Bố Thí—Categories of Dana:
1)
See Nhị Bố Thí.
2)
See Tam Bố Thí.
3)
See Tứ Bố Thí.
4)
See Ngũ Bố Thí.
5)
See Thất Bố Thí.
6)
See Bát Bố Thí.
7)
Đại Bố Thí: Great giving—Đại bố thí tức là sự bố thí mà thí
chủ sẽ có những phước báo lớn trong kiếp nầy hay kiếp tới. Có mười ba loại
đại bố thí—This is the giving that will bring the benefactors great
meritorious retributions in this life and next life. There are thirteen
kinds of great giving.
a) Bố thí
đúng thời đúng lúc. Nghĩa là kẻ thọ thí đang lúc rất cần khổ và quẩn bách
mà mình kịp thời giúp đở: Give at the right time and moment. This means to
give with perfect timing when someone is in desperate need.
b) Bố thí
cho người hành chánh đạo, hay những vị đang giảng dạy Phật pháp, các bậc
xuất gia tu hành chân chánh: Give to those who cultivate the proper path.
This means to give to those who are on the path of enlightenment in
Buddhism, which is to give to ordained Buddhists whose cultivated conducts
are true and consistent with the Buddha’s teaching.
c) Bố thí
cho người bệnh và người trị bệnh: Give to the ill and the healer.
d) Bố thí
cho người giảng thuyết chánh pháp của Phật, tức là những bậc tu hành giảng
giải kinh điển, hoằng dương Phật pháp: Give to those who speak and
elucidate the proper dharma of Buddhism, i.e., Dharma Masters who teach
the sutras and propagate the Buddha Dharma.
e) Bố thí
cho người sắp sửa đi xa: Give to those who are about to go on a long
journey.
f) Bố
thí cho quốc vương bị mất ngôi đang trên đường bôn tẩu và bị khổ ách của
kẻ thù: To give to a king who has lost the throne and is searching for
safety to evade the enemy.
g) Bố thí
cho gnười bị quan quyền bức bách, không có nơi nương tựa: Give to those
who are helpless against authority.
h) Bố thí
cho người tật bệnh, đau khổ, hành hạ thân xác: Give to those who are
handicapped, those enduring pain, suffering, and torture.
i) Bố
thí cho chư Tăng Ni đủ đầy giới đức, đúng lúc đúng thời: Give to Bhiksus
and Bhiksunis who maintain their virtuous precepts, at the right time and
moment.
j) Bố
thí cho người tu cầu trí huệ, như những vị tu hành nghèo khổ, thanh tịnh
nơi chốn núi rừng để cầu trí huệ giải thoát, chớ không phải những kẻ tu
hành giàu sang ở thành thị, có đầy đủ chùa tháp đồ sộ, kinh dinh: Give to
those who cultivate for wisdom, i.e., those who practice mendicant
conducts, having peace and purity in the isolated mountains and forests,
praying to attain wisdom of enlightenment. Thus, there are not people who
cultivate in luxury and wealth in great cities who enjoy all modern
conveniences.
k) Bố thí
cho các loài súc sanh, như loài chim, cá, vân vân: Give to various
animals, i.e., birds, fish, etc.
l)
Khuyên người khác bố thí, hoặc tùy hỷ nơi người bố thí cùng các việc bố
thí. Tức là tự mình vì nghèo khổ nên không thể bố thí, nhưng khi thấy
người khác làm việc bố thí thì mình vui mừng khen ngợi và tán đồng. Đức
Phật gọi đây là “Tùy Hỷ Công Đức.” Việc tùy hỷ nầy rất ư là quan trọng, vì
có lắm kẻ không bố thí, nhưng cảm thấy khó chịu khi thấy người khác bố
thí. Người Phật tử nên cẩn trọng tránh tánh tự kỷ nhỏ nhen nầy: Encourage
others to give or rejoice in seeing others give. This means if one is
unable to give because one has no means or ability to give, yet when
seeing others give, one is able to rejoice and be happy for the giver by
prasing that person. The Buddha called this “Rejoice in others virtues
and merits.” This is important because sometimes when people cannot give
but seeing others give makes them extremely uneasy. As Buddhists, it is
important to avoid this selfish nature.
m) Bỏ mạng
ra để thế mạng cho người: Sacrifice one’s life to save another person’s
life.
8)
Vô thượng Bố thí—Boundless Giving: Loại bố thí mà thí chủ có
được phước báo lớn lao không thể nghĩ bàn được. Có năm loại vô thượng bố
thí—This type of giving will bring the benefactors infinite and endless
meritorious retributions. There are five categories.
a) Bố thí
hay cúng dường ở nơi Đức Phật: Give to the Buddha.
b) Bố thí
hay cúng dường ở nơi chúng Tăng Ni: Give to the Sangha, or community of
ordained Buddhist monks or nuns.
c) Bố thí
ở nơi người thuyết giảng chánh pháp: Give to those who speak and eludicate
the Proper Dharma.
d) Bố thí
hay cúng dường ở nơi cha: Give to one’s father.
e) Bố thí
hay cúng dường ở nơi mẹ: Give to one’s mother.
9)
See Thập Nhị Chơn Thật Hảo Tâm Bố Thí Nhơn.
10)
See Ngũ Giả Danh Hảo Tâm Bố Thí Nhơn.
(II) Tại sao
chúng ta nên thực hành hạnh bố thí?—Why should we practice Giving?—Theo
Thượng Tọa Thích Hải Quang trong Thư Gửi Người Học Phật, có 14 điều khiến
chúng ta nên bố thí—According to Venerable Thích Hải Quang in Letters to
Buddhist Followers, there are fourteen reasons for us to practice
Giving.
1)
Của đem bố thí cho người rồi mới chính là của ta, chớ của còn ở
trong nhà chẳng phải là của ta. Vì quả báo tốt đẹp của sự bố thí nầy sẽ đi
theo mình đời đời kiếp kiếp, thế nên mới gọi là của mình. Còn của ở trong
nhà thì không phải là của mình, mà nó là của năm ông chủ sau đây—Giving
possessions are truly what is ours, but remaining possessions inside our
homes, really not belong to us. This is true because the wholesome
retributions of giving will be with us forever from life to life;
therefore, they are ours. In contrast, the possessions inside our homes
are not really ours, but they belong to the following five masters:
·
Nước lụt dâng lên cuốn trôi tất cả: Floodwater will rise to take away
everything.
·
Lửa
dữ thiêu rụi tất cả: Raging fire will burn down everything.
·
Thân quyến phung phí phá tán: Family and relatives waste and destroy.
·
Tham quan, giặc cướp và trộm cắp lấy đi tất cả: Corrupted officials,
bandits and thieves will take away everything.
·
Tiền thuốc men cho bệnh hoạn ốm đau: Spending for medications for
sicknesses.
2)
Của đã bố thí thì vững chắc, còn của chưa bố thí thì chẳng vững
chắc. Vì của đã bố thí rồi thì được quả báo đáp đền cho mình đời đời, chớ
không mất, đúng theo luật nhân quả, tất cả những gì mình làm đều phải có
đền trả, dù chúng ta có tái sanh bất cứ ở đâu và dưới bất cứ hình thức
nào. Còn của chưa bố thí cũng sẽ bị năm ông chủ trên (1) phá tán lúc nào
không hay: Given possessions are secured, but remaining possessions are
not secured. For possessions that have been given will have their own
appropriate retributions holding them for us for many lives to come
without being lost. No matter where we are born in whatever life, they
will always follow us, as stated in the Law of Karma, whatever you do, it
will find its way back to you. Whereas, possessions that have not been
given, may be taken by the above mentiond five masters in (1).
3)
Của đã bố thí thì vui ngày sau, còn của chưa thí thì vui hiện tại.
Nghĩa là kiếp nầy bố thí thì kiếp sau hay nhiều kiếp sau nữa, phước báo
bố thí sẽ theo mình hoài nên luôn được giàu sang sung túc. Còn của ở trong
nhà hay của chưa bố thí bất quá chỉ mang lại cho mình sự giàu sang đầy đủ
, vui vẻ trong kiếp hiện tại nầy mà thôi: Given possessions are the
happines of the future, but remaining possessions are only the hapines of
the present. This means if we give in this lie, then in the next life or
many future lives after, the meritorious retributions from giving will
follow us and we will always have wealth and luxury. Whereas the remaining
possessions, things that we have not given or we are not willing to give,
will bring us wealth, luxury, and hapiness in the present life.
4)
Của đã bố thí thì khỏi phải mất công giữ gìn còn của còn lại chúng
ta phải ra công giữ gìn. Nghĩa là của bố thí đã thuộc về người khác, nên
họ cần giữ gìn, chớ mình khỏi lo giữ gìn nữa. Còn của còn lại trong nhà
thì chúng ta phải luôn luôn giữ gìn vì sợ mất trộm: Given possessions do
not need to be safeguarded, but remaining possessions must be safeguarded.
For possessions that are given will now belong to others and it is up to
them to safeguard their possessions, we do not have to worry about
safeguarding those possessions any longer. Whereas, remaining possessions
in our homes must be carefully watched because if we don’t, we fear they
will be taken away from us.
5)
Của đã bố thí thì chúng ta khỏi phải bị tham ái trói buộc; trong
khi của còn lại thì càng thêm tham ái. Nghĩa là khi đã bố thí rồi thì dứt
được tham ái nơi tiền của. Của còn lại thì cứ làm cho mình càng tăng thêm
tâm tham lam, luyến ái nơi chúng: Given possessions will no longer be
bound by greedy desires; whereas remaining possessions will increase
greed. This means if we are able to give, then we will be able to
eliminate our greedy desires toward money and possessions. However, the
remaining possessions will increase our greed and attachment to them.
6)
Của đã thí giúp ta chẳng còn bận lòng; trong khi của còn lại sẽ làm
chúng ta thêm bận lòng. Nghĩa là của đã bố thí rồi thì khỏi cần phải bận
tâm lo nghĩ chi nữa, chớ của còn lại thì chúng ta cứ nghĩ nhớ tới hoài vì
sợ ngày nào đó chúng ta sẽ mất chúng: Given possessions are no longer
worrisome, but remaining possessions are worrisome. If possessions that
are given away, it is no longer necessary for us to worry or think about
them, but if they remain, here will be constant worrying that someday they
will be taken way from us.
7)
Của đã bố thí thì chẳng lo sợ, còn của còn lại chúng ta sẽ phải lo
sợ mãi. Của đã bố thí thì chúng ta không còn lo sợ năm ông chủ cướp đọat,
chớ của còn lại thì chúng ta cứ hồi hộp lo sợ chúng sẽ bị năm ông chủ ra
tay cướp đoạt không biết lúc nào: Given possessions are no longer feared,
but remaining posessions must be feared. If possessions are given, then
there is no fear that the “five masters” will steal from us, but if they
remain, they will make us fearful and anxious that the “five masters” can
come and steal them away at any moment.
8)
Của đã thí là cột trụ Chánh đạo, còn của còn lại là cột trụ của ma.
Nghĩa là đã bố thí rồi thì sau nầy sẽ đạt được bố thí Ba La Mật, thành một
vị Bồ Tát; trong khi của còn lại vì lòng keo kiết bỏn xẻn, thì kiếp sau
nầy chúng ta sẽ thành ra con ma đói: Given possessions are the pillars of
the Proper Path, but remaining posessions are the pillars of the devil. If
we give, then one day we will attain the Giving Paramita and become a
Maha-Bodhisattva; while remaining possessions due to stinginess and
frugality wull result in being a hungry ghost in the next life.
9)
Của đã bố thí thì vô tận, còn của còn lại thì hữu hạn. Nghĩa là khi
đã bố thí rồi thì đời đời kiếp kiếp được phước điền vô tận, chớ của còn
lại chỉ là hữu hạn, tức là bất quá chỉ có ở trong kiếp nầy rồi thôi, chớ
kiếp sau không còn nữa: Given possessions are boundless, but remaining
possessions are limited. This means possessions that are given will be the
meritorious retributions for many reincarnations to come, but remaining
possessions are limited and will only be available in this life, but will
not be there in the next.
10)
Của đã bố thí thì vui, chớ của còn thì khổ bởi phải lo giữ gìn:
Given possessions will bring hapines, but remaining possessions will cause
suferings because they must be safeguarded.
11)
Của đã bố thí giúp chúng ta lìa gút trói, chớ của còn lại khiến ta
càng thêm trói buộc. Nghĩa là khi đã đem của đi bố thí rồi thì chúng ta
khỏi bị tâm tham lam trói buộc, chớ của còn lại thì mình cứ luôn luôn bị
lòng tham lam của cải trói buộc hoài, đi đâu cũng đều bận tâm lo lắng:
Given possessions will lead to greater freedom, but remaining possessions
will lead to greater imprisonment. If we are able to give, then, though we
are still bound, we have freedom to some degree, but remaining possessions
will entrap us even more, so no matter where we go, we are always worrying
about them.
12)
Của đã thí là lộc, chớ của còn lại chẳng phải là lộc. Nghĩa là của
đã bố thí là phước lộc ở kiếp nầy, qua đến kiếp sau sẽ cành được tốt đẹp
hơn; chớ của còn lại không phải là phước lộc vì một ngày nào đó chúng ta
sẽ tiêu sạch: Given possessions are meritorious, but remaining possessions
are not meritorious because someday we will spend them all.
13)
Của bố thí là sự nghiệp của bậc đại trượng phu, chớ của còn lại
chẳng phải là sự nghiệp của bậc đại trượng phu. Nghĩa là người chân thật
đại trượng phu mới biết bố thí, chớ kẻ ngụy đại trượng phu thì không bao
giờ biết bố thí, mà trái lại cứ bo bo giữ của: Given possessions are the
practices of a great gentleman, but remaining possessions are not the
practices of a great gentleman. Only a person who is truly a great
gentleman will know to give. While a pretender will never know to give,
but will maintain and hold on to everything he or she owns.
14)
Của bố thí được Phật khen ngợi, trong khi của còn lại thì được phàm
phu khen ngợi. Nghĩa là người biết bố thí vì hợp được với tâm từ bi vô
lượng của Phật, Bồ Tát nên được Phật và Bồ Tát khen. Còn kẻ keo kiết thì
hợp với tâm phàm phu nên chỉ có phàm phu khen ngợi, chớ Phật và Bồ Tát thì
chê: Given possessions are praised by the Buddha, but remaining
possessions are praised by ordinary people. This means those who give
accord with the minds of the Buddhas of infinite compassion, so these
people are praised by the Buddhas and Bodhisattvas. Those who are selfish
and stingy accord with the minds of ordinary people and will be praised by
ordinary people. They wil not be praised the Budhas and Bodhisattvas.
(III)
Những ý tưởng khởi sanh khi có người đến cầu bố thí—Thoughts arise
when there are people coming to ask for charity: Cũng theo Thượng Tọa
Thích Hải Quang trong Thư Gởi Người Học Phật, Đức Phật dạy hàng Phật tử Bồ
Tát tại gia thực hành hạnh bố thí. Khi thấy người đến xin thí thì phải
luôn phát khởi lên trong tâm những ý tưởng sau đây để tránh các sự buồn
tiếc, hối hận, tức tối, hoặc khởi sanh các niệm tham sân si đối với người
xin thí, mà làm giảm bớt hoặc mất đi các công đức bố thí của mình—Also
according to Venerable Thích Hải Quang in the Letters to Buddhists
Followers, the Buddha taught that lay Buddhists Bodhisattvas should
practice the “Conduct of Giving.” When someone comes to ask for
assistance, it is important to give rise to the following thoughts in
order to avoid having regrets, sadness, anger, or giving rise to various
thoughts of greed, hatred, and ignorance toward the receiver of charity,
only to decrease or lose the virtues and merits they would have obtained
from the acts of practicing charity.
1)
Vì thuận theo lời Phật dạy—Following the teachings of the Buddha:
Khi thấy người đến xin thí ở nơi ta, thì ta phải dụng tâm chơn chánh mà
tưởng nghĩ rằng tất cả chư Phật mười phương ba đời do nơi thành tựu được
Bố Thí Ba La Mật mà chứng đắc được đạo quả Bồ Đề Vô Thượng. Nay ta là con
của Phật, nếu muốn được giải thoát hay được thành Phật, ắt phải hành theo
lời Phật dạy là phải siêng năng tu tập hạnh bố thí để diệt trừ các tâm
tham lam, keo kiết, vân vân, và như thế thì các việc bố thí mà ta thực
hành ngày hôm nay đây chính là thuận theo lời Phật dạy—When someone needs
assistance, we should use the sincere mind to think that all the Buddhas
in the ten directions across the three time-spans of past, present, and
future are able to attain the Ultimate Enlightenment because of their
ability to fully realize the “Giving Paramita.” Now that we are Buddha’s
children, if we wish to attain enlightenment or to become Buddha, it is
absolutely essential for us to follow the Buddha’s teachings. We should
practice His Teachings. We must diligently cultivate the conduct of giving
in order to eliminate various mind states of greed, selfishness, and
stinginess. In this way, our practice of giving of today demonstrate we
are following the teachings of the Buddhas.
2)
Khởi sanh ý tưởng thiện hữu tri thức—Giving rise to the thought
that asking person is a good knowledgeable advisor: Khi thấy người đến cầu
xin bố thí ở nơi mình thì mình phải tưởng nghĩ—When someone comes and asks
for assistance, we should think:
a)
Từ nhiều kiếp trong quá khứ cho đến ngày nay, ta vì tham lam, keo
kiết, nên chỉ biết thâu góp, tích chứa cho thật nhiều, chớ không chịu xả
thí. Nếu có xả thí thì lại sanh lòng hối tiếc, sầu buồn, hoặc bố thí mà
trong tâm không được hoan hỷ, thanh tịnh. Vì thế mà chúng ta cứ mãi làm
một bạt địa phàm phu sanh tử, nổi trôi trong sáu nẻo luân hồi. Kiếp nầy ta
như vậy, biết rồi đây kiếp kế sẽ ra sao? Của cải kiếp trước của ta bây giờ
ở đâu? Còn của cải trong kiếp nầy cũng thế, bởi vì khi ta chết đi rồi thì
tất cả đều bỏ lại hết chớ chẳng mang theo được thứ gì. May mắn thay, kiếp
nầy nhờ ta biết đạo, biết rõ những lời Phật dạy về hạnh bố thí, vậy thì
tại sao nay ta không chịu dõng mãnh thực hành để trừ bỏ cái tánh keo kiết
kinh niên cố hữu nầy đi?: From many lives in the past until now, we have
been unbelievably greedy and stingy; thus, gathering and accumulating as
much as possible are the only things we have known, while we refuse to
give and let go of anything. Or even when we did give, we still feel
regrets and sadness later, or we may have given but our minds were not
peaceful and joyous while giving. Therefore, we continue to remain as
unenlightened mortals drifting and drowning in the six realms of the cycle
of rebirths. If we are like this in this life, who knows what we will be
like in the nex life! Where are all of our possessions from the former
lives? It will be the same way with the possessions of this life because
once we die, we must leave behind everything, as we will not be able to
bring anything along with us. Fortunately, in this life, we are
knowledgeable of Buddhism, we know clearly the Buddha’s teachings with
regard to the conducts of giving. So why should we not courageously
practice what we know in order to eliminate our old selfish greedy
habits?
b)
Nay ta vừa phát tâm muốn thực hành hạnh bố thí thì liền có người
đến xin thí. Quả là điều may mắn cho ta lắm. Vì nhờ có người nầy mà: Now
immediately after we have just developed our minds to carry out the
conduct of giving, someone comes to ask for assistance. It is truly a good
opportunity. Because owing to this person:
·
Chúng ta mới bỏ được lòng tham lam keo kiết đã theo ta từ quá khứ kiếp cho
đến hôm nay: We are able to abandon the greed and selfishness that have
followed us from the infinite past to the present.
·
Chúng ta mới thành tựu được tâm “Xả Bỏ” và hạnh “Bố Thí” của Thánh nhân:
We are able to accomplish the mind of “Letting Go” and the giving conduct
of a saintly being.
·
Chúng ta sẽ thành tựu được các quả vị giải thoát xuất thế trong tương lai:
We will be able to accomplish the various fruits of enlightenment and
liberation in the future.
·
Người đến xin thí nầy đích thực là thiện tri thức của ta, là ân nhân của
ta, và cũng là nhơn giải thoát cho ta vậy: The person who has asked us is
truly our good knowledgeable advisor, our benefactor, as well as our cause
for enlightenment.
·
Do
khởi sanh ra các ý tưởng đúng theo chánh pháp như vậy, cho nên chúng ta
rất vui lòng và hân hạnh thực hành việc bố thí mà không có chút do dự hay
ngại ngùng chi cả: If one is able to give rise to and hold on to these
thoughts, that good charitable person will feel happy and honored from
giving without having the slightest worries and regrets.
3)
Khởi sanh ý tưởng đời khác giàu sang hay được phước báo của cõi Dục
Giới—Giving rise to the thought of wealth and luxury in another life or
attaining the meritorious retributions in the Desire World: Khi thấy có
người đến xin thí ở nơi ta, thì ta phải tưởng nghĩ như vầy—When seeing the
needy person approaching us, we should hold the following thought:
a)
Y theo lời Phật dạy thì tất cả các hạnh bố thí đều được quả báo tốt
đẹp, hoặc ở nơi cõi người làm kẻ giàu sang hưởng phước; hoặc là sanh lên
cõi trời làm thiên tử với đầy đủ thiên phước vi diệu. Nói về công đức của
sự bố thí, cho dù trong tâm ta không hề khởi sanh ý tưởng là muốn cầu giàu
sang sung sướng về sau nơi cõi trời người, nhưng phước báo của sự bố thí
ấy nó sẽ tự nhiên đến với chúng ta: Just as the Buddha taught, all
conducts of giving will result in wholesome retributions. This means one
will be a wealthy person reaping merits in the human realm or will be born
in Heaven to be a Heavenly Being with complete supreme blessings of the
Heaven. Talking about the merits and virtues of the conduct of giving, if
we practice conduct of giving, even if our minds do not give rise to the
wish of being rich and wealthy in the future in Heaven or Human realms,
those meritorious retributions from giving will come to us naturally.
b)
Kiếp hiện tại đây ta được giàu sang, bạc tiền sung túc, lên xe
xuống ngựa, vân vân, đó là nhờ ở nơi kiếp trước ta đã có thực hành hạnh bố
thí rồi, cho nên kiếp nầy mới được hưởng phước báo tốt đẹp như vậy: In the
present life, we are wealthy, having extra money to spend on nice cars,
homes, etc. because in the former life, we practiced giving. Thus, in this
life we are able to reap the wholesome karmic retribution in this way.
c)
Nay ta cứ phóng mắt nhìn ra bên ngoài xã hội và chung quanh ta,
thấy còn có rất nhiều người sống đời nghèo nàn, thiếu hụt hoặc vất vả nhọc
nhằn trong kiếp tôi đòi, hèn hạ, vân vân. Ấy là vì kiếp trước họ nặng lòng
xan tham, keo kiết, không bao giờ biết mở lòng bố thí, cho nên kiếp nầy
mới phải bị quả báo nghèo thiếu, nhọc nhằn như vậy: If we just look to the
outside world and our surrounding, it will be obvious how many people live
in poverty, not having enough of anything, but must struggle to make it
from day to day. It is because in their former lives, these people were
consumed with greed, stinginess, and never opened their hearts to give to
anyone. Consequently, in this life, they must suffer and struggle in
povery as their karmic retributions.
d)
Chúng ta may mắn nhờ phước báo tốt đẹp nên kiếp nầy được cao sang
trọng vọng, vậy thì ta càng phải nên bố thí nhiều hơn nữa, để cho—We are
fortunate to be able to rely on the wholesome karma of the past enabling
us to live luxurious lives; therefore, we should give more so that:
·
Phước lành của chúng ta ngày càng thêm tăng trưởng: The wholesome merits
of the present will increase with each passing day.
·
Trong các kiếp vị lai về sau ta sẽ tránh thoát được các quả báo thiếu
thốn, nghèo cùng: An in the future lives, we will avoid the karmic
consequences of not having enoungh.
·
Do
vì khởi sanh ra được các ý tưởng đúng pháp như vậy cho nên người thiện
nhân ấy rất vui lòng và hân hạnh hành việc bố thí mà không chút do dự ngại
ngùng: If one is able to hold these thoughts that are true to the Proper
Dharma, the good person will feel happy and honored to give without having
sadness, regrets, and resentments.
4)
Vì hàng phục ma quân—In order to conquer evil: Khi có người đến xin
thí ở nơi ta, thì ta phải tưởng nghĩ rằng bố thí để tiêu diệt hai cái
tánh Tham và Xan—When someone asks us for assistance, we should think that
practicing the conduct of giving will help us eliminate the two evil
characteristics of greed and stinginess.
5)
Với người đến xin có ý thưởng thân thuộc—Look upon those who ask
for charity as family and friends: Khi có người đến xin thí ở nơi ta, thì
ta phải có ý tưởng rằng từ quá khứ kiếp đến nay, trong sáu nẻo luân hồi,
chúng sanh cứ theo hành nghiệp bản hữu mà lăn lên, lộn xuống, hằng luôn
thay mặt đổi hình, có khi làm quyến thuộc lẫn nhau, nhưng đến kiếp nầy vì
chuyển đời, cách ấm, bị vô minh che lấp, nên không nhận ra nhau mà thôi.
Ngày hôm nay ta phát tâm bố thí đây và người đến xin thí nầy, biết đâu quá
khứ họ là thân thuộc của ta, hoặc trong kiếp tương lai họ sẽ trở thành kẻ
trong vòng lục thân của ta cũng không chừng. Vì nghĩ tưởng như vậy nên
chúng ta vui lòng mà bố thí kgông có chút lòng hối hận, hay nuối ciếc chi
cả. Đây gọi là vì tưởng thân thuộc mà bố thí: When someone asks for
assistance, we should think that from infinite past till now, in the six
realms in the cycle of rebirths, sentient beings continue to follow their
karmic actions to go up and down constantly, changing their appearances;
sometimes they are relatives and friends, but once they pass on to another
life, covered by ignorance, they are no longer able to recognize one
another. Today we develop the mind to give because those asking for
assistance can very well be our family and friends of the past or, who
knows, it is possible, in the future lives they will become a part of our
immediate or extended family. Having these thoughts we should be happy to
give without the slightest regrets or feel we have given in vain.
6)
Với vô biên chúng sanh có ý tưởng xuất ly—In the process of endless
births gives rise to the thought of liberation: Khi có người đến xin thí
thì ta nghĩ rằng chư Phật hoặc chư Bồ Tát cùng với các bậc giải thoát đại
thánh nhân khác sở dĩ chứng đắc được đạo quả Bồ Đề, giải thoát ra khỏi
vòng sanh tử là do nơi thành tựu được hạnh Bố Thí Ba La Mật. Nhờ chứng
đắc được Bố Thí Ba La Mật mà quý ngài không còn sanh tử luân hồi nữa, còn
chúng ta thì nay bỏ thân nầy, rồi sanh ra nơi kiếp khác, mang thân khác,
cứ như thế mà xoay chuyển trong sáu nẻo luân hồi, hết tử rồi sanh, hết
sanh rồi tử, từ vô lượng vô biên kiếp xa xưa cho đến hôm nay mà vẫn không
sao thoát ra được. Cho nên hôm nay chúng ta phải quyết tâm và phát nguyện
sẽ hành hạnh bố thí nầy không thối chuyển; các người đến xin thí nầy đều
thật là ân nhân của ta, đều là nhơn duyên lớn làm cho ta thành tựu được Bố
Thí Ba La Mật về sau nầy vậy. Có như thế thì ta mới được xuất ly, được
giải thoát ra khỏi vòng vô lượng vô biên kiếp đời sanh tử trong tương lai:
When someone asks us for assistance, we should think that all Buddhas and
Bodhisattvas, as well as other greatly enlightened sages were able to
attain the Bodhi Mind and are liberated from the cycle of rebirths because
they were able to attain the conduct of Giving Paramita. Owing to the fact
that they have achieved the Giving Paramita, these greatly enlightened
beings are able to eliminate the cycle of reincarnations. As for us,
sentient beings, in the near future we will abandon this body and then we
will be born with another body in another life and will continue to go up
and down in the six realms of the cycle of rebirths. In this way, from
infinite and endless aeons ago to the present, we have lived and died,
died and lived, and yet we are still unable to free ouselves from this
vicious cycle of birth and death. Therefore, in this life, we must be
determined to develop the vow to practice the conduct of giving without
regression. All sentient beings who come to us for assistance are our
benefactors and are great opportunities for us to attain the Giving
Paramita in the future. Only practicing this we will be able to attain
enlightenment and find liberation from infinite and endless lives of
births and deaths in the future.
7)
Dùng sự bố thí với ý tưởng như là phương tiện để nhiếp thọ hết
thảy chúng sanh: Using the conduct of giving as a means of assistance to
all sentient beings.
8)
Khởi sanh ý tưởng chứng đạo Bồ Đề—Giving rise to the thought of
attaining the path of enlightenment: Khi thấy có người đến xin thí ở nơi
ta, thì ta phải khởi tâm nghĩ tưởng như vầy—When we see a needy person
approaching us, we want to hold the following thoughts:
a)
Trong lục độ Ba La Mật của chư đại Bồ Tát và chư Phật đã chứng đắc
thì Bố Thí Ba La Mật là độ đứng đầu hết thảy. Sở dĩ quý ngài thành tựu
được Bố Thí Độ nầy là nhờ quý ngài đã từng hành hạnh bố thí với tâm bất
thối chuyển trong vô lượng vô biên kiếp đời quá khứ mà không bao giờ biết
mỏi mệt, chán nản và ngưng nghỉ. Vì thế nên quý ngài mới huân tập được vô
lượng vô biên phước báo thù thắng không thể nghĩ bàn, các phước báo ấy nếu
như đem bố thí cho mười hai loại chúng sanh khắp mười phương thế giới
trong vô lượng vô biên kiếp cũng không bao giờ cùng tận cả vì phước báo
của quý ngài vốn là vô tận: Among the Six Paramita Practices attained by
Maha-Bodhisattvas and the Buddhas, the giving paramitas is first. These
Virtuous Beings are able to attain the Giving Paramita because they have
often carried out the conducts of giving with a non-retrogression mind in
infinite and innumerable kalpas in the past, but are never tired, bored,
nor will they rest and stop such practices. Therefore, they are to
accumulate infinite, endless, and unimaginably supreme meritorious
retributions. If those who meritorious retributions were used to give to
all the sentient beings in the ten directions of infinite universes for
infinite and innumerable kalpas they would still have some left the
meritorious blessing of the Maha-Bodhisattvas are inherently limitless.
b)
Vả lại, hiện nay quý ngài đã chứng đắc được các giai vị Bồ Tát
trong hàng thập Thánh hay Thập Địa Bồ Tát, và đang trên đường đi đến sự
thành tựu được quả vị vô thượng Bồ Đề của Phật trong tương lai, đó là nhờ
quý ngài biết đem công đức của các việc bố thí kia mà hồi hướng cho chúng
sanh và cầu đắc thành được Bồ Đề Phật quả: Furthermore, at the present
time, they have attained the various enlighten stages of
Maha-Bodidattvahood, and are on their way to the realization of the
Ultimate Enlightenment.
c)
Nay ta là Phật tử Bồ Tát tại gia thì ta cũng nên học y như hạnh của
quý ngài. Nghĩa là ta cũng nên tùy theo khả năng của mình mà thực hành
hạnh bố thí. Các hạnh bố thí như thế, nếu như có gây tạo nên công đức
hoặc phước lành chi chúng ta sẽ không nguyện cầu sanh về cõi Trời người để
hưởng phước báo, bởi vì dù cho có hưởng phước báo tốt đẹp thế mấy nơi cõi
nhơn thiên đi nữa, rốt lại cũng không thể nào thoát ra khỏi vòng luân hồi
sanh tử được. Ngược lại, chúng ta sẽ hồi hướng các phước báo đó để trang
nghiêm cho đạo quả Bồ Đề vô thượng của ta trong tương lai. Chúng ta sẽ bố
thí không ngừng nghỉ: As lay Buddhists, cultivating for Bodhisattvahooc,
we should also follow these enlightened beings’ virtuous paths. This means
we should work within our means and limitations to practice the conduct of
giving. If our conducts of giving result in any wholesome virtuous or
meritorious consequences, then we should not vow or pray to be reborn in
the Heaven or Human realms in order to reap those meritorious
retributions. This is because no matter how much pleasure we may enjoy
from those wholesome meritorious retributions in the heaven and human
realms, in the end, we will be able to escape and free ourselves from the
cycle of birth death. In contrast, we should be determined to dedicate all
those merits and virtues to adorn our future state of Ultimate
Enlightenment. We continue to give without resting.
(IV)
Những lời Phật dạy về “Bố Thí” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha’s teachings
on “Giving” in the Dharmapada Sutra:
1) Vì có
tín tâm hoan hỷ nên người ta mới bố thí, trái lại kẻ có tâm ganh ghét
người khác được ăn, thì ngày hoặc đêm kẻ kia không thể nào định tâm
được—Some people give according to their faith, or according to their
pleasure. He who is envious of others’ food and drink, will not attain
tranquility by day or by night (Dharmapada 249).
2) Nhưng
kẻ nào đã cắt được, nhổ được, diệt được tâm tưởng ấy, thì ngày hoặc đêm,
kẻ kia đều được định tâm—He who fully cut off, uprooted and destroyed such
feeling, gain peace by day and by night (Dharmapada 250).
3) Trong
các cách bố thí, pháp thí là hơn cả; trong các chất vị, pháp vị là hơn cả;
trong các hỷ lạc, pháp hỷ là hơn cả; người nào trừ hết mọi ái dục là vượt
trên mọi đau khổ—No gift is better than the gift of Truth (Dharma). No
taste is sweeter than the taste of truth. No joy is better than the joy
of Truth. No conquest is better than the conquest of craving; it
overcomes all suffering (Dharmapada 354).
4) Cỏ làm
hại rất nhiều ruộng vườn, tham dục làm hại rất nhiều thế nhân. Vậy nên bố
thí cho người lìa tham, sẽ được quả báo lớn—Human beings are damaged by
lust just as weeds damage the fields. Therefore, what is given to those
who are lustless, yields great reward (Dharmapada 356).
5) Cỏ làm
hại rất nhiều ruộng vườn, sân nhuế làm hại rất nhiều thế nhân. Vậy nên bố
thí cho người lìa sân, sẽ được quả báo lớn—Human beings are damaged by
hatred in just the same manner as weeds damage the fields. Therefore, to
give to those who are free from hatred, yields great reward (Dharmapada
357).
6) Cỏ làm
hại rất nhiều ruộng vườn, ngu si làm hại rất nhiều thế nhân. Vậy nên bố
thí cho người lìa si, sẽ được quả báo lớn—Human beings are damaged by
delusion just like weeds damage the fields. Therefore, to give to those
who are free from delusion, yields great reward (Dharmapada 358).
7) Cỏ làm
hại rất nhiều ruộng vườn, ái dục làm hại rất nhiều thế nhân. Vậy nên bố
thí cho người lìa dục, sẽ được quả báo lớn—Human beings are damaged by
craving just like weeds damage the fields. Therefore, to give to those who
rid of craving, yields great reward (Dharmapada 359).
Bố Thí Ba La Mật:
Charitable Giving-Paramita.
·
See Bố Thí.
·
Chúng ta phải bằng mọi cách giúp đở lẫn nhau. Khi bố thí,
không nên ấp ủ ý tưởng đây là người cho kia là kẻ được cho, cho cái gì và
cho bao nhiêu, được như vậy thì kiêu mạn và tự phụ sẽ không sanh khởi
trong ta. Đây là cách bố thí vô điều kiện hay bi tâm dựa trên căn bản bình
đẳng. Bố thí Ba la mật còn là cửa ngõ đi vào hào quang chư pháp, vì nhờ đó
mà trong từng giây phút, chúng ta làm cho chúng sanh hoan hỷ cũng như làm
trang nghiêm cõi Phật; nhờ Bố thí Ba la mật mà chúng ta chỉ dạy và hướng
dẫn chúng sanh lìa bỏ tánh tham lam bỏn xẻn—Paramita-charitable giving—One
should help other people, as best as one can, to satisfy their needs. When
giving charity, one does not cherish the thought that he is the giver, and
sentient beings are the receivers, what is given and how much is given,
thus, in one’s mind no arrogance and self-conceit would arise. This is an
unconditioned alms-giving or compassion on equlity basis—Dana paramita is
also a gate of Dharma-illumination; for with it, in every instance, we
cause creatures to be pleasant, we adorn the Buddhist land, and we teach
and guide stingy and greedy living beings.
·
Có người cho rằng rằng mình chỉ có thể bố thí khi mình có
nhiều tiền bạc. Điều nầy không đúng. Vài người có nhiều tiền bạc đôi khi
ít chịu bố thí, hoặc giả nếu có bố thí cũng chỉ để mua danh mua lợi hay
lấy lòng người xung quanh. Những người có lòng thương người lại ít khi
giàu có. Tại vì sao? Trước nhất, vì họ hay có lòng chia xẻ với người những
gì họ có. Thứ nhì, họ không có ý định làm giàu trên sự nghèo khó khốn cùng
của kẻ khác. Chính vì vậy mà Đức Phật nhắc nhở chúng ta về pháp bố thí Ba
La Mật. Bố thí Ba La Mật là cho một cách bình đẳng, không phân biệt thân
sơ, bạn thù—Some people think that they can only practice generosity if
they are wealthy. This is not true. Some people who are wealthy seldom
practice generosity. If they do, they do with the aim of gaining fame,
merit, profiting, or pleasing others. Generous and compassion people are
seldom rich. Why? First of all, because they always share whatever they
have with others, secondly because they are not willing to enrich their
lives financially at the cost of others’ poverty. Thus, the Buddha
reminded us on the “Generosity-Paramita.” Generosity-Paramita means to we
should consider everyone equally when we practice charitable giving, not
discriminating agaisnt anyone, i.e. to give alms to relatives, and not to
give alms to enemies, etc.
** For more information,
please see Lục Độ
Ba La Mật in
Vietnamese-English Section.
Bố Thí Pháp: To
preach Buddha-dharma—Nhận biết sự hiểm nguy của sanh tử nên nhắc cho người
khác biết những lời Phật dạy với hy vọng cuối cùng họ sẽ hiểu và vượt
thoát khỏi luân hồi sanh tử—Realizing mortal danger so to preach others
about Buddha’s teachings with the hope that they will eventually
understand and be able to escape the cycle of births and deaths.
Bố Thí Vô Sở Trụ:
No Attachment in acts of charity—Theo Kinh Kim Cang, Đức Phật nhắc nhở Tu
Bồ Đề về Bố Thí Vô Sở Trụ như sau—According to the Diamond Sutra, the
Buddha reminded Sibhuti about “acts of charity without attachment” as
follows:
·
Ông Tu Bồ Đề! Bồ Tát thực hành phép bố thí phải nên “Vô sở
trụ.” Nghĩa là không nên trụ vào sắc mà làm bố thí, không nên trụ vào
thanh, hương, vị, xúc, pháp mà làm bố thí. Ông Tu Bồ Đề! Tại sao mà Bồ Tát
không nên trụ vào sắc tướng mà bố thí như thế? Vì nếu Bồ Tát không trụ vào
hình sắc mà bố thí, thì phúc đức đó không thể suy lường được—Subhuti !
Bodhisattvas in truth have no attachment in cts of charity. One should not
attach to sight while giving. One should not attach to sound, smell,
taste, touch, or conciousness in giving. Subhuti ! Bodhisattvas should
give without attachment. Why ? If they do, the merits and virtues are
immeasurable.
·
Lại
nữa, ông Tu Bồ Đề! Bồ Tát không trụ vào hình tướng mà bố thí, thì phúc đức
đó cũng nhiều như thế, không thể suy lường được—Also, Subhuti!
Bodhisattvas who give without attachment have equal amounts of merit and
virtue. It is incomprehensible and immeasurable.
·
Ông
Tu Bồ Đề! Nếu tâm của Bồ Tát còn trụ vào pháp sự tướng mà làm hạnh bố
thí, thì cũng ví như người ở chỗ tối tăm, không thể trông thấy gì hết, còn
nếu Bồ Tát làm hạnh bố thí mà tâm không trụ trược vào sự tướng, thì như
người có con mắt sáng, lại được ánh sáng của mặt trời, trông thấy rõ cả
hình sắc sự vật—Subhuti! If Bodhisattvas give with attchments, they are
walking in darkness and see nothing. If Bodhisattvas give witohout
attachments, they are walking under the sunand everything is clear.
Bố Tự Quán: Phép
quán các mẫu tự Phạn của tông phái Chân Ngôn, bằng cách viết chữ “a” hoặc
các chữ khác lên thân thể hành giả—A Shingon meditation on the Sanskrit
letter “a” and others, wrtten on the devotee’s own body.
Bố Úy Thí: Bố thí
bằng cách giúp người trút bỏ nỗi lo âu sợ hãi—Almsgiving to remove one’s
fear.
Bồ: Cỏ bồ—A kind of
fragant grass.
Bồ câu:
Pigeon—Dove.
Bồ Câu Đi Thơ:
Carrier-pigeon.
Bồ Câu Mái:
Hen-pigeon.
Bồ Câu Trống:
Cock-pigeon.
Bồ Công Anh:
Dandelion.
Bồ Đào: Wine.
Bồ Đào Nha:
Portugal.
Bồ Đề: Bodhi
(skt)—Awakening—Enlightenment.
(A) Nghĩa
của Bồ Đề—The meanings of Bodhi:
1) Đạo
(dịch theo cũ): Marga (skt)—The way.
2) Giác
(dịch theo mới): Sambodhi (skt)—To be aware, or to perceive.
3) Toàn
trí: Perfect wisdom.
4) Tâm
giác ngộ: The state of bodhi, illuminated or enlightened mind.
5) Theo
Kinh Hoa Nghiêm, Bồ đề thuộc về chúng sanh; nếu không có chúng sanh thì
chư Bồ tát sẽ không bao giờ đạt được chánh đẳng chánh giác: According to
the Avatamsaka Sutra, Bodhi (enlightenment) belongs to living beings.
Without living beings, no Bodhisattva could achieve Supreme, Perfect
Enlightenment.
(B) Phân
loại Bồ Đề—Categories of Bodhi:
1) Tam Bồ
Đề: Three kinds of Bodhi—See Tam Chủng Bồ Đề.
2) Ngũ
Chủng Bồ Đề: Five stages of enlightenment—See Ngũ Bồ Đề.
3) Tam
Phật Bồ Đề: Three Bodhi or wisdom of each of the Trikaya—See Tam Phật Bồ
Đề.
4) Tam
Thần Bồ Đề: See Tam Phật Bồ Đề.
Bồ Đề Đa La:
Bodhitara (skt)—See Bồ Đề Đạt Ma.
Bồ Đề Đạo: See Xuất
Thế Gian Đạo.
Bồ Đề Đạo Tràng:Bodhimanda
(skt)—Bồ đề đạo tràng, gần bên bờ Ni Liên Thiền thuộc bang Bihar trung Ấn,
còn gọi là Giác Thành vì đây là nơi Đức Phật đã đạt thành chánh quả. Bồ đề
đạo tràng tọa lạc gần thành phố Gaya. Người ta nói nó là trung tâm địa
cầu; chư Bồ Tát trước khi thành Phật đều phải ngồi tại chỗ nầy. Riêng đối
với Phật tử thuần thành, thì không có nơi nào đáng chú ý và thiêng liêng
hơn nơi Đức Phật thành đạo: Bồ Đề Đạo Tràng. Nhiều lăng tẩm và đền đài
nguy nga đã được dựng lên khắp nơi quanh đây. Tập ký sự của nhà hành hương
Phật Giáo trung Hoa là Huyền Trang đã cho chúng ta một cái nhìn bao quát
về sự huy hoàng của thánh địa nầy trong thời quá khứ. Theo Giáo Sư P.V.
Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, Huyền Trang cho rằng ngôi đền
Bồ Đề (Bodhi) ban đầu là do vua A Dục dựng lên. Theo một trong những bia
ký, sau khi lên ngôi được mười năm, vua A Dục đã đến chiêm bái nơi nầy mà
tên gọi trong bia là Sambodhi, và rất có nhiều khả năng là nhà vua đã cho
dựng lên ngôi đền trên thánh địa nầy. Tuy nhiên, ngày nay không thể tìm ra
một dấu tích nào của ngôi đền nầy nữa. Ngôi đền nầy đã được hồi phục và
tân tạo nhiều lần. Qua sự mô tả của Huyền Trang thì ngôi đền, chủ yếu là
qua hình dạng và dáng vẻ bề ngoài hiện nay của nó, đã có từ thế kỷ thứ 17.
Đền Đại Bồ Đề ở Miến Điện là một nguyên mẫu của ngôi đền lớn nầy. Theo như
chúng ta thấy hiện nay thì đền Mahabodhi ở Bodh-Gaya cao gần 50 mét và gồm
một thân thẳng hình kim tự tháp. Đền có nhiều tầng khác nhau. Đền có một
tượng Phật mạ vàng, chạm vào mặt đất để tượng trưng cho sự thành đạo
thiêng liêng. Xung quanh ngôi đền nầy hiện nay còn vô số di tích mà trong
đó quan trọng nhất là những đoạn lan can bằng đá đại diện cho hai thời kỳ
xây dựng khác nhau, thời kỳ đầu vào khoảng thế kỷ thứ hai trước Tây lịch,
và thời kỳ sau vào đầu triều đại Gupta. Trong vùng kế cận có bảy thánh địa
khác mà theo truyền thuyết là những nơi Đức Thế Tôn đã trải qua bốn mươi
chín ngày tĩnh tịch sau khi chứng đắc Phật quả—Bodhi Gaya—Buddha-Gaya—A
place near the bank of Nairanjana River in Central India (Bihar), also
called the Citadel of Enlightenment because it was where the Buddha
attained enlightenment or supreme wisdom (bodhi). Bodhi-Gaya is located
near the town of Gaya. It is said to be diamond-like, the navel or centre
of the earth; every bodhisattva sits down on such a seat before becoming
Buddha. To the devout Buddhists, there is no place of greater interest or
sanctity than the holy spot of the Buddha’s enlightenment: Bodh-Gaya.
Sacred shrines and stately monuments were raised all around and the
account of the Chinese pilgrim, Hsuan-Tsang, gives us a glimpse of the
past splendor of this sanctified place. According to Prof. P.V. Bapat in
The Twenty-Five Hundred Years of Buddhism, Hsuan-Tsang ascribes the
erection of the original Bodhi shrine to Emperor Asoka. According to one
of his rock edits, Asoka visited this place, which is called Sambodhi in
the inscription, when he had been consecrated ten years, and it is more
than probable that the great emperor constructed a shrine on this holy
spot. However, no vestiges os such a shrine can be found at present. This
shrine has been restored and renovated many times. From the description of
Hsuan-Tsang, it appears that the shrine, essentially in its present shape
and appearance, existed already in the seventh century A.D. The Mahabodhi
temple in Burma is a prototype of this grand temple. As it now stands, the
Mahabodhi shrine at Bodh-Gaya is approximately 160 feet high and consists
of a straight pyramidal tower with many storeys. The shrine enshrines a
great gilded figure of the Buddha touching the earth which symbolizes the
supreme event of enlightenment. Around the shrine lie innumerable remains
of which the most important are portions of the stone railing which
represent two different periods of construction, the earlier going back to
about the second century B.C., and the latter to the early Gupta period.
In the immediate vicinity are situated seven sacred sites, which,
according to tradition, were identical with those where the Buddha is said
to have passed seven tranquil weeks in the enjoyment of his Buddhahood.
Bồ Đề Đạt Ma:
Bodhidharma (skt)—Bồ Đề Đa La—Bồ Đề Đạt Ma vốn là thái tử thứ ba của vua
Kancipura Nam Ấn. Ông là một Tăng sĩ học giả uyên thâm người Ấn, thần huệ
sáng thông, nghe đâu ngộ đó. Ngài vâng lời Thầy là Bát Nhã Đa La
(Prajnatara) đến triều đình Trung quốc vào khoảng năm 520 sau Tây lịch,
với mục đích phổ biến hệ thống triết học của ông—Bodhidharma was the third
son of the King of Kancipura, South India. He was a deeply learned Indian
Buddhist monk at that time. He was a man of wonderful intelligence, bright
and far reaching; he thoroughly understood everything that he ever
learned. He obeyed the instruction of his teacher, Prajnatara, Bodhidharma
started for the East in China in 520 A.D., with the special purpose of
propagating his system of philosophy.
·
Vua Lương Võ Đế vời Tổ đến Nam Kinh để triều kiến. Vua hỏi:
“Từ khi tức vị đến nay, trẫm đã cho tạo chùa, sao chép kinh điển và độ
Tăng rất nhiều. Công đức như vậy lớn như thế nào?” “Không có công đức gì
cả,” là câu trả lời. Tổ lại nói tiếp: “Tất cả những công việc ấy chỉ là
những quả báo nhỏ của một cái thân hữu lậu, như bóng theo hình, tuy có mà
không phải thật.” Võ Đế hỏi: “Vậy đúng nghĩa thế nào là công đức?” Bồ Đề
Đạt Ma đáp: “Đó là sự thanh tịnh, giác ngộ, sự hoàn mãn, và thâm thúy.
Công đức như thế không xây dựng bằng phương tiện thế gian.” Võ Đế lại hỏi:
“Thế nào là Thánh Đế đệ nhất nghĩa? “Tổ trả lời: “Rỗng tuếch, không có
Thánh Đế gì hết.” Vua lại hỏi tiếp: “Vậy ai đang diện kiến trẫm đây?” Tổ
nói: “Không biết.” Võ Đế không hiểu Tổ muốn nói gì. Sau cuộc nói chuyện
nổi tiếng với vua Hán Vũ Đế, Tổ đã vượt dòng Dương Tử và đến Lạc Dương,
kinh đô của Bắc Ngụy. Sau một thời gian ở đây, Tổ đến Ngũ Đài Sơn và trú
tại Thiếu Lâm Tự, nơi đây ngài diện bích (ngồi xoay mặt vào tường) trong 9
năm trường—The Emperor Wu-Ti invited him to Nanking for an audience. The
Emperor said: “Since my enthronement, I have built many monasteries,
copied many holy writings and invested many priests and nuns. How great
is the merit due to me?” “No merit at all,” was the answer. Bodhidharma
added: “All these things are merely insignificant effects of an imperfect
cause. It is the shadow following the substance and is without real
entity.” The emperor asked: “Then , what is merit in the true sense of the
word?” Bodhidharma replied: “It consists in purity and enlightenment,
completeness and depth. Merit as such cannot be accumulated by worldly
means.” The emperor asked again: “What is the Noble Truth in its highest
sense?” Bodhidharma replied: “It is empty, no nobility whatever.” The
emperor asked: “Who is it then that facing me?” Bodhidharma replied: “I do
not know, Sire.” The Emperor could not understand him. Bodhidharma was
famous for his interview with Emperor Han Wu Ti. But after that,
Bodhidharma went away. He crossed the Yangtze River and reached the
capital, Lo-Yang, of Northern Wei. After a sojourn there he went to Mount
Wu-T’ai-Shan and resided in the Shao-Lin Temple where he meditated (facing
the wall) for nine years in silence and departed.
·
Qua cuộc đối thoại với Võ Đế, ta thấy rõ rằng cốt lõi chủ
thuyết của Tổ Bồ Đề Đạt Ma là triết lý “Không Tánh” (sunyata), mà cái
không thì không thể nào chứng minh được. Do đó, Bồ Đề Đạt Ma cũng đã đối
đáp dưới hình thức phủ định. Khi nói về ảnh hưởng của đạo Phật trên đời
sống và nền văn hóa của người Trung Hoa, chúng ta không thể không nói đến
khuynh hướng bí hiểm nầy của triết lý Bồ Đề Đạt Ma, vì rõ ràng là khuynh
hướng nầy đã tác động nhiều trên sự hình thành tinh thần Phật giáo Trung
Hoa, và từ đó xuất hiện Phật giáo Thiền tông—As is clear from the dialogue
between the emperor and Bodhidharma, the essential core of Bodhidharma’s
doctrine is the philosophy of emptiness (sunyata), and sunyata is beyond
demonstration of any kind. Therefore, Bodhidharma also replied in the
negative form. When we speak of the Buddhistinfluence on the life and
literature of the Chinese people, we should keep this mystic trend of
Bodhidharma’s philosophy in mind, for there is no doubt that it has had a
great deal to do with the moulding of the spirit of Chinese Zen
Buddhism.
·
Theo các sử gia thì Bồ Đề Đạt Ma bác bỏ việc đọc tụng kinh
điển. Do đó hệ thống triết học của ông khiến cho các tu viện ít chú trọng
về kiến thức mà thiên về trầm tư thiền định nhiều hơn. Theo Bồ Đề Đạt Ma,
Phật tử nên để ý đến thiền, vì chỉ cần hành thiền là có thể đạt đến giác
ngộ. Do đó ông chỉ dịch có mỗi quyển Đại Bát Niết Bàn Kinh Luận
(Mahaparinirvana-sutra-sastra). Ông là vị tổ thứ 28 của dòng Thiền Ấn Độ
và là sơ tổ của dòng Thiền Trung Quốc. Các học giả vẫn còn không đồng ý
với nhau về việc Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Hoa từ lúc nào, ở lại đó bao lâu,
và mất vào lúc nào, nhưng nói chung giới Phật tử nhà Thiền chấp nhận rằng
Bồ Đề Đạt Ma đến Nam Trung Hoa bằng thuyền vào khoảng năm 520 sau Tây
Lịch, sau một nổ lực không kết quả để thiết lập giáo thuyết của mình tại
đây, ông đã đến Lạc Dương thuộc miền bắc Trung Hoa, và cuối cùng ông định
cư tại chùa Thiếu Lâm. Ngài đã mang sang Trung Quốc một thông điệp thù
thắng, được tóm gọn trong mười sáu chữ Hán sau đây, dù rằng người ta chỉ
nhắc đến thông điệp nầy về sau thời Mã Tổ—According to historians,
Bodhidharma denied canon reading, and his system therefore made the
Buddhist monasteries much less intellectual and much more meditative than
they were ever before. According to Bodhidharma, Buddhists should stress
on meditation, because by which alone enlightenment can be attained.
Bodhidharma was the 28th Indian (in line from the Buddha) and first Zen
Patriarch in China. Scholars still disagree as to when Bodhidharma came to
China from India, how long he stayed there, and when he died, but it is
generally accepted by Zen Buddhists that he came by boat from India to
southern China about the year 520 A.D., and after a short, fruitless
attempt to establish his teaching there he went to Lo-Yang in northern
China and finally settled in Shao-Lin Temple. Bodhidharma came to Chine
with a special message which is summed in sixteen Chinese words, even
though Zen masters only mentioned about this message after Ma-Tsu:
Bất
lập văn tự
Giáo
ngoại biệt truyền
Trực chỉ
nhân tâm
Kiến tánh
thành Phật.
“A special
tranmission outside the
scriptures;
No
dependence upon words and letters
Direct pointing at the soul of man;
Seeing into one’s nature and the
attainment og Buddhahood.”
·
Tổ Bồ Đề Đạt Ma và môn đệ của ông, Huệ Khả, người mà tổ đã
truyền pháp, luôn là đề tài của công án Thiền Vô Môn cũng như bức tranh
nổi tiếng của Sesshu, một họa sĩ lừng danh của Nhật Bản. Huệ Khả, một học
giả nổi tiếng thời bấy giờ, tìm đến Bồ Đề Đạt Ma lúc ông đang tọa thiền,
phàn nàn với ông rằng mình không an tâm và làm thế nào để tâm được an. Bồ
Đề Đạt Ma đuổi Huệ Khả đi, bảo rằng muốn đạt được an tâm phải tu lâu và
khó nhọc không tự phụ và nản lòng. Sau khi đứng hàng giờ dưới tuyết, Huệ
Khả bèn chặt đứt bàn tay trái của mình để dâng lên Bồ Đề Đạt Ma. Bấy giờ
tin chắc vào lòng chân thành và quyết tâm của Huệ Khả, Bồ Đề Đạt Ma nhận
Huệ Khả làm môn đệ—Bodhidharma and Hui-K’e, his disciple to whom he had
transmitted the Dharma, are always the subject of koan in the “No Gate
Zen” as well as of a famous painting by Sesshu, Japan’s greatest painter.
Hui-K’e, a scholar of some repute, complains to Bodhidharma, who is
silently doing meditation, that he has no peace of mind and asks how he
can acquire it. Bodhidhrma turns him away, saying that the attainment of
inward peace involves long and hard disciple and is not for the conceited
and fainthearted. Hui-K’e, who has been standing outside in the snow for
hours, implores Bodhidharma to help him. Again he is rebuffed. In
desperation he cuts off his left hand and offers it to Bodhidharma. Now
convinced of his sincerity and determination, Bodhidharma accepts him as a
disciple.
·
Câu chuyện trên đây nhấn mạnh đến tầm quan trọng mà các
thiền sư buộc vào kẻ khao khát sự an tâm vào việc tọa thiền, vào lòng chân
thành và khiêm tốn, sự kiên nhẫn và nghị lực như là những tiên đề trong sự
đạt thành đạo vô thượng. Vì thương kẻ tinh thành nên Tổ bèn chỉ cho chân
đạo: “Bích quán là phép an tâm (see Bích Quán) , tứ hạnh là phép phát hạnh
(see Tứ Hạnh), phòng ngừa sự chê hiềm là phép thuận vật, và đừng chấp
trước là phương tiện tu hành cũng như cứu độ chúng sanh.”—This story
emphasizes the importance which Zen masters attach to the hunger for
self-realization, to meditation, and to sincerity and humility,
perserverance and fortitude as prerequisites to the attainment of the
highest truth. He was moved by the spirit of sincerity of Hui-K’o, so he
instructed him: “Meditating facing the wall is the way to obtain peace of
mind, the four acts are the ways to behave in the world, the protection
from slander and ill-disposition is the way to live harmoniously with the
surroundings, and detachment is the upaya to cultivate and to save
sentient beings.”
·
Khi ở chùa Thiếu Lâm, Tổ thường dạy nhị tổ bằng bài kệ
sau—When he lived at Shao-Lin temple, he always taught the second
patriarch with this verse:
Ngoài dứt chư duyên
Trong không toan tính
Tâm
như tường vách
Mới
là nhập đạo
(Externally keep you away from all relationships, and, internaly, have no
hankerings in your heart; when your mind is like unto a straight-standing
wall you may enter into the Path).
·
Sau chín năm ở Thiếu Lâm, Tổ muốn trở về Thiên Trúc, bèn
gọi môn nhân đến bảo: “Ngày ta lên đường sắp đến, các ngươi thử trình xem
chỗ sở đắc của mỗi người về Đạo Thiền.” Bấy giờ ông Đạo Phó bạch: “Theo
chỗ thấy của tôi, chẳng chấp văn tự, chẳng lìa văn tự, đó là chỗ sở dụng
của đạo.” Tổ nói: “Ông được phần da của ta.” Ni Tổng Trì bạch: “Chỗ hiểu
của tôi nay như Khánh Hỷ (A Nan) nhìn vào nước Phật A Súc (Bất Động Như
Lai), thấy một lần không thấy lại được.” Tổ nói: “Bà được phần thịt của
tôi.” Đạo Dục bạch: “Bố đại vốn không, năm ấm chẳng thật, chỗ thấy của tôi
là không có gì sở đắc hết.” Tổ nói: “Ông được phần xương của tôi.” Sau
cùng, Huệ Khả đến đảnh lễ Tổ, xong cứ thế mà đứng thẳng, chứ không nói gì.
Tổ nói: “Ông được phần tủy của tôi.” Những ngày cuối cùng của Tổ Bồ Đề Đạt
Ma ở Trung Quốc không ai biết rõ, sư đi đâu và thị tịch hồi nào. Có người
nói sư băng qua sa mạc trở về Ấn Độ, cũng có người nói sư qua Nhật—After
nine years at Shao-Lin temple, the Patriarch wished to return to India. He
called in all his disciples before him, and said: “The time is come for me
to depart, and I want to see what your attainments are.” Tao-Fu said:
“According to my view, the truth is above affirmation and negation, for
this is the way it moved.” The Patriarch said: “You have got my skin.”
Then Nun Tsung-Ch’ih said: “As I understand it, it is like Ananda’s
viewing the Buddhaland of Akshobhya Buddha: it is seen once and never
again.” The Patriarch said: “You have got my flesh.” Tao-Yu said: “Empty
are the four elements and non-existent the five skandhas. According to my
view, there is not a thing to be grasped as real.” The Patriarch said:
“You have got my bone.” Finally, Hui-K’o reverently bowed to the master,
then kept standing in his place and said nothing. The Patriarch said: “You
have my marrow.” Nobody knows his whereabout and when he passed away. Some
people say that he crossed the desert and went to India, and others say
that he crossed the sea to go to Japan.
Bồ Đề Lưu Chi:
Bodhiruci (skt).
(I) Bồ Đề
Lưu Chi thứ nhất—The first Bodhiruci: Bồ Đề Cốt Lộ Chi—Đạo Hy—Một vị sư
người Bắc Ấn Độ, đến Lạc Dương khoảng năm 508 sau Tây Lịch, dưới thời nhà
Ngụy. Ông đã phiên dịch 30 bộ kinh. Theo lịch sử Phật Giáo Trung Quốc, thì
vị Bồ Đề Lưu Chi nầy đã lập ra Thập Địa Tông (Dasabhumika school)—A monk
from northern India who arrived at Lo-Yang in 508 A.D., under the Wei
dynasty. He translated 30 works.
(II) Bồ Đề
Lưu Chi thứ hai—The second Bodhiruci: Giác Ái (571-727)—Một vị Tăng thuộc
miền Nam Ấn vào thế kỷ thứ bảy. Vào thời gian đầu triều đại nhà Đường,
nhiều tu sĩ Phật giáo nổi danh từ Tích Lan và Ấn Độ đến Trung Hoa. Bồ Đề
Lưu Chi thuộc số tu sĩ Phật giáo ngoại quốc đến ở lâu dài tại Trung Hoa.
Tên Ngài là Đạt Ma Lưu Chi (Dharmaruci), được Vũ Hậu cho đổi thành Bồ Đề
Lưu Chí. Ông đã dịch 53 bộ kinh vào những năm 693-713 sau Tây Lịch—A monk
from Southern India in the seventh century. During the days of the early
T’ang dynasty, many renowned Buddhist monks came to China from Ceylon and
India. Bodhiruci was among those foreign Buddhists who came to settle
permanently in China. His original name was Dharmaruci. His name was
changed to Bodhiruci by the order of the Empress Wu. He translated 53
works in 693-713 A.D. He passed away in 727, at the age of 156.
Bồ Đề Mạn Đà La:
Bodhi Seat—Bồ Đề Đạo Tràng, nơi Đức Phật đã đạt được đại giác—Truth Plot,
holy site, place of Enlightenment—The place where the Buddha attained
Enlightenment.
Bồ Đề Môn: Cửa giác
ngộ; cửa đông trong bốn cửa của nghĩa địa—The gate of enlightenment; east
gate of the four gates of a cemetery.
Bồ Đề Ngữ: Speaking
bodhi—Words of the truth.
Bồ Đề Ni: Bhojaniya
(skt)—Còn gọi là Bồ Thiện Ni, là những thức ăn chính của Tăng Ni—To be
eaten, edible; what is suitable as the fare of monks and nuns, proper
food.
Bồ Đề Phần:
Bodhyanga (skt)—The seven branches of bodhi-illumination—See Thất Giác
Chi.
Bồ Đề Phần Pháp:
See Thất Giác Chi.
Bồ Đề Sở: See Bồ Đề
Tự.
Bồ Đề Tát Đỏa: See
Bồ Tát.
Bồ Đề Tâm:
Bodhicitta (skt).
(A) Nghĩa của
Bồ Đề Tâm—The meanings of Bodhi-mind:
1) Theo
Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật đã dạy: “Nầy thiện nam tử! Bậc Bồ Tát phát lòng
Vô Thượng Bồ Đề là ‘khởi lòng đại bi cứu độ tất cả chúng sanh. Khởi lòng
cúng dường chư Phật, cứu cánh thừa sự. Khởi lòng khắp cầu chánh pháp, tất
cả không sẻn tiếc. Khởi lòng thú hướng rộng lớn, cầu nhứt thiết trí. Khởi
lòng đại bi vô lượng, khắp nhiếp tất cả chúng sanh. Khởi lòng không bỏ rơi
các loài hữu tình, mặc áo giáp kiên thệ để cầu Bát Nhã Ba La Mật. Khởi
lòng không siểm dối, vì cầu được trí như thật. Kởi lòng thực hành y như
lời nói, để tu đạo Bồ Tát. Khởi lòng không dối với chư Phật, vì gìn giữ
thệ nguyện lớn của tất cả Như Lai. Khởi lòng nguyện cầu nhứt thiết trí,
cùng tận kiếp vị lai giáo hóa chúng sanh không dừng nghỉ. Bồ Tát dùng
những công đức Bồ Đề Tâm nhiều như số bụi nhỏ của cõi Phật như thế, nên
được sanh vào nhà Như Lai. Nầy thiện nam tử! Như người học bắn, trước phải
tập thế đứng, sau mới học đến cách bắn. Cũng thế, Bồ Tát muốn học đạo nhứt
thiết trí của Như Lai, trước phải an trụ nơi Bồ Đề Tâm, rồi sau mới tu
hành tất cả Phật pháp. Thiện nam tử! Ví như vương tử tuy hãy còn thơ ấu,
song tất cả đại thần đều phải kính lễ. Cũng thế, Bồ Tát tuy mới phát Bồ Đề
tâm tu Bồ Tát hạnh, song tất cả bậc kỳ cựu hàng nhị thừa đều phải kính
trọng nể vì. Thiện nam tử! Như thái tử tuy đối với quần thần chưa được tự
tại, song đã đủ tướng trạng của vua, các bầy tôi không thể sánh bằng, bởi
nhờ chỗ xuất sanh tôn quý. Cũng thế Bồ Tát tuy đối với tất cả nghiệp phiền
não chưa được tự tại, song đã đầy đủ tướng trạng Bồ Đề, hàng nhị thừa
không thể sánh bằng, bởi nhờ chủng tánh đứng vào bậc nhứt. Thiện Nam Tử !
Như người máy bằng gỗ, nếu không có mấu chốt thì các thân phần rời rạc
chẳng thể hoạt động. Cũng thế, Bồ Tát nếu thiếu Bồ Đề tâm, thì các hạnh
đều phân tán, không thể thành tựu tất cả Phật pháp. Thiện nam tử ! Như
chất kim cương tất cả vật không thể phá hoại, trái lại nó có thể phá hoại
tất cả vật, song thể tánh của nó vẫn không tổn giảm. Bồ Đề tâm của Bồ Tát
cũng thế, khắp ba đời trong vô số kiếp, giáo hóa chúng sanh, tu các khổ
hạnh, việc mà hàng nhị thừa không thể muốn làm đều làm được, song kết cuộc
vẫn chẳng chán mõi giảm hư.”—According to the Avatamsaka Sutra, the Buddha
taught: “Good Buddhists! In Bodhisattvas arise the Bodhi-mind, the mind of
great compassion, for the salvation of all beings; the mind of great
kindness, for the unity with all beings; the mind of happiness, to stop
the mass misery of all beings; the altruistic mind, to repulse all that is
not good; the mind of mercy, to protect from all fears; the unobstructed
mind, to get rid of all obstacles; the broad mind, to pervade all
universes; the infinite mind, to pervade all spaces; the undefiled mind,
to manifest the vision of all Buddhas; the purified mind, to penetrate all
knowledge of past, present and future; the mind of knowledge, to remove
all obstructive knowledge and enter the ocean of all-knowing knowledge.
Just as someone in water is in no danger from fire, the Bodhisattva who is
soaked in the virtue of the aspiration for enlightenment or Bodhi mind, is
in no danger from the fire of knowledge of individu