TỔ ĐÌNH MINH ĐĂNG QUANG
PHẬT HỌC TỪ ĐIỂN
BUDDHIST DICTIONARY
VIETNAMESE-ENGLISH
THIỆN PHÚC
A
A:
1)
Vần bắt đầu của 12 mẫu vận trong Phạn
ngữ—The first letter of the 12 Sanskrit Siddham alphabets.
2)
Tất cả những Phạn ngữ khác đều phát
sinh từ mẫu tự “A”—All other Sanskrit letters are originated from it.
3)
“A” là tiếng khai khẩu đầu tiên của
nhân loại—It is the first sound uttered by the human mouth.
4)
Chữ “A” đứng đầu một chữ có nghĩa phủ
định—“A” is a negation if it stands in front of a word.
5)
Chữ “A” là biểu tượng—“A” symbolizes:
·
Vô sanh: Hết thảy các pháp không
sanh—The unproduced.
·
Vô thường: Impermanent.
·
Phi vật chất: Immaterial.
A Âu:
Một tán thán từ của ngoại đạo hay Bà La Môn có nghĩa là không và có (“A”
là “Không,” “Âu” là “Có”), đạo Phật lấy hai chữ “Như Thị” đặt ở đầu các
kinh—A heretic or brahmanical exclamation. The two letters “A” and “U”
fell from the corners of Brahma’s mouth when he gave the seventy-two
letters of Kharosthi, and they are said to be placed at the beginning of
the Brahmanical sacred books as divine letters, the Buddhists adopting
“Thus” instead.
A Ba Ba:
Ababa or Habava (skt)—Địa ngục thứ tư trong bát hàn địa ngục—The fourth of
the eight cold hells—See Địa Ngục (b) (4).
A Ba Đà Na:
Avadana (skt)—See Phược Đà.
A Ba La:
Abhasvara-vimana (skt)—Cõi trời Quang Âm Thiên—The sixth of the
Brahmalokas of light and sound (abhasvara) and its devas.
A Ba Ma La:
Apasmara (skt)—Nhân từ quỷ—Malevolent demons, epilepsy, and the demons who
cause it.
A Ba Na
Già Đê: Aparagati (skt)—Tam ác đạo, như súc sanh, ngạ quỷ, địa
ngục—The three evil paths, i.e. animal, hungry ghost, hell.
A Bà Lô
Cát Đê Xá Bà La: Avalokitesvara (skt)—Tên của Quán Thế Âm—Name
of Kuan-Yin.
A Bà Ma:
Anupama (skt)—Một danh hiệu của Đức Phật, được định nghĩa là “Vô Đẳng
Đẳng”—A title of the Buddha, defined as “Unequalled rank.”
A Bà Sa Ma
La: Apasmara (skt)—Quỷ động kinh—Epileptic demons, demons of
epilepsy.
A Bàn Đà
La: Avantara (skt)—Trung gian—Intermediate.
A Bát Lợi
Cụ Đà Ni: Aparagodana (skt)—See Tứ Châu (3).
A Bạt Da
Chỉ Ly: Abhayagiri (skt)—Núi Vô Úy ở A Nâu La Đà Bổ La, cố đô
(kinh đô cổ) của nước Tích Lan—Mount Fearless in Ceylon at Anuradhapura.
A Bạt Đa
La: Avatara (skt)—Vô thượng—Peerless.
A Bệ Bạt
Trí: Avaivartika or Avivartin, or Aparivartya (skt)—A Bề—A Duy
Việt Trí—A Tỳ Bạt Trí—Bất Thối Chuyển.
1)
Chữ A Bệ Bạt Trí, theo tiếng Bắc Phạn
là Avaivartika, có nghĩa là “Bất Thối Chuyển” hay chẳng lùi xuống. Có ba
nghĩa, áp dụng cho những chúng sanh nơi cõi Tịnh Độ—The Sanskrit word
“Avaivartika” means “not falling back.” There are three senses of “not
falling back” that apply to sentient beings in the Pure Land:
a)
Vị Bất Thoái: Do not fall back from
their position—Một khi đã dự vào địa vị Tứ Thánh rồi, chẳng còn bị xuống
địa vị Lục Phàm nữa—Having entered the holy stream or the four levels of
sagehood culminating in Ahratship, they do not fall back to the levels of
gods and men.
b)
Hạnh Bất Thoái: Do not fall back from
practice—Một khi đã tu hạnh Bồ Tát thường hóa độ chúng sanh, chẳng còn sa
đọa xuống hàng nhị thừa nữa—As followers of the Bodhisattva path they
continue to work for the salvation of all beings, and do not fall back to
the level of Lesser Vehicles with their concern limited to individual
salvation.
c)
Niệm Bất Thoái: Do not fall back from
their mindfulness—Giờ phút nào tâm niệm cũng như dòng nước chảy vào biển
“Nhất Thiết Trí”—From mind-moment to mind-moment, they flow into the ocean
of all knowledge.
2)
Bậc Bất Thối Chuyển: Vị chẳng bao giờ
rơi rớt lại những đường thấp hơn—One who never recedes. One who never
reverts to a lower condition.
3)
Bồ Tát Bất Thối Chuyển, trải qua quá
trình tu hành dài một đại a tăng kỳ kiếp mà thành tựu quả vị Phật, chưa hề
thối chuyển: A Bodhisattva who, in his progress towards Buddhahood, never
retrogrades to a lower state than that to which he has attained.
4)
Theo Kinh A Di Đà thì dù cho người
vãng sanh vào địa vị thấp nhất trong cõi Tịnh Độ, dù phải mang theo nghiệp
còn sót lại, nhưng vẫn không còn thoái chuyển nữa: According to The
Amitabha Sutra, even those who dwell in lowest level of the Pure Land, and
have been born there bringing along their karmic burdens, do not fall back
from their position, from their practice, or from their mindfulness.
A Bộ Đàm:
Át Phù Đà địa ngục—The Arbuda hell—See Địa Ngục (b) (1).
A Ca Sắc:
Agham or Akasa (skt)—Theo Giáo Sư Soothill trong Trung Anh Phật Học Từ
Điển, agham có hai nghĩa đối nghịch nhau, một là vật chất hữu hình, hai là
không giới vô hình—According to Professor Soothill in The Dictionary of
Chinese-English Buddhist Terms, Agham has two opposite interpretations,
substantial and unsubstantial.
A Ca Xa:
Akasa (skt)—Hư không—The sky space—Atmosphere—The air.
A Câu Lư
Xá: Akrosa (skt)—Mạ lỵ—Scolding—Abusing.
A Chế Đa:
A Dật Đa—See Ajita.
A Chiết La:
Acara (skt).
1)
Vị A La Hán trong Vương Quốc Andhra:
An arhat of the kingdom of Andhra.
2)
Người sáng lập tự viện A Chiết La:
Founder of the Acara monastery.
A Chu Đà:
Tên của Mục Kiền Liên khi còn là một vị Tiên—Name of Mahamaudgalyayana as
a rsi.
A Chu Đà
Na: See Arjuna in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
A Cưu La
Gia La: Akulakara (skt).
1)
Quấy rầy: Phiền hà—Disturbing,
upsetting.
2)
Tên của một thứ gió: Name of a wind.
A Dạ Kiện
Đa: Ayahkanda (skt)—Thiết tiễn (mũi tên sắt)—An iron arrow.
A Dật Đa
Bồ Tát:
1)
Vô Năng Thắng Bồ Tát—Ajita-Bodhisattva
(skt).
2)
Danh hiệu của Đức Phật Di Lặc: A title
of Maitreya Buddha.
** For more information, please see Ajita
in
Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
A Di Đà:
Amita, Amitabha, or Amitayus (skt).
(A)
Đức Phật A Di Đà—Amitabha Buddha—See
Kinh A Di Dà in Appendix A (1):
a)
Có nhiều tên gọi Phật A Di Đà, tuy
nhiên, Amitabha là tên thường được dùng nhất để gọi Phật Vô Lượng Quang và
Vô Lượng Thọ. A Di Đà là một vị Phật phi lịch sử, trước thời Phật Thích
Ca, được tôn kính bởi các trường phái Đại Thừa. A Di Đà Phật đang chủ trì
Tây Phương Tịnh Độ, nơi mà chúng sanh được vãng sanh nhờ thành tâm trì
niệm hồng danh của Ngài, nhứt là vào lúc lâm chung. A Di Đà là vị Phật
được tôn kính rộng rãi nhất trong các vị Phật phi lịch sử. Kỳ thật, trong
các tông phái Tịnh Độ, Ngài che mờ cả Phật Tỳ Lô Giá Na và Đức Phật Lịch
Sử Thích Ca Mâu Ni. Ngài còn nhiều tên khác như Amitabha Buddha—Amitayus
(skt)—Amida—Amita (p)—There are several names for “A Di Đà Phật” in
several other languages; however, Amitabha is the most commonly used name
for the Buddha of Infinite Light and Infinite Life. A transhistorical
Buddha venerated by most Mahayana schools. He presides over the Western
Pure Land where anyone can be reborn through utterly sincere recitation of
His Name, particularly at the time of death. Amitabha is the most widely
venerated of the non-historical or Dhyani-Buddhas. Indeed, in the Pure
Land sects, he overshadows both Vairocana and the historic Buddha
Sakyamuni.
b)
Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong
Cương Yếu Triết Học Phật Giáo—According to Prof. Junjiro Takakusu in The
Essentials of Buddhist Philosophy:
·
Tín ngưỡng Di Đà tiêu biểu bởi Tịnh Độ
Tông của ngài Pháp Nhiên, Chân tông của Thân Loan, và Thời Tông của Nhất
Biến cho thấy một sắc thái độc đáo của Phật giáo. Trong lúc tất cả các
tông phái khác của Đại Thừa chuyên chú về tự giác, thì các tông phái Tịnh
Độ lại dạy y chỉ nơi Phật lực: Amita-peitism, as represented by the Pure
Land School of Fa-Ran, the Shingon of Shin-Ran, and Shih-Tsung of I-Bien
shows a unique aspect of Buddhism. While all other schools of Mahayana
insist on self-enlightenment, these schools teach sole reliance on the
Buddha’s power.
·
Đức Phật của những tông phái Phật giáo
khác là Đức Thích Ca Mâu Ni, trong lúc Đức Phật của Tịnh Độ tông là A Di
Đà hay Vô Lượng Quang hay Vô Lượng Thọ: The Buddha of all other exoteric
schools is Sakyamuni, while the Buddha of these schools is Amita, or
Amitabha, or Amitayus.
·
Quốc độ của Đức Phật A Di Đà là Tây
Phương Cực Lạc: The Land of Bliss of Amitabha Buddha is laid in the
Western Quarter.
·
Phán giáo theo quan điểm của Pháp
Nhiên là chia thành hai thuyết Thánh đạo và Tịnh Độ, nguyên lai do Đạo
Xước đề xướng ở Trung Hoa vào khoảng năm 645 sau Tây Lịch. Học thuyết đầu
là “Nan Hành Đạo,” trong lúc học thuyết sau là “Dị Hành Đạo” được Long Thọ
xác định: The critical division of the Buddha’s teaching adopted by Fa-Ran
was into the two doctrines of the Holy Path and the Pure Land, originally
proposed by T’ao-Ch’o of China in 645 A.D. The former is the difficult way
to traverse while the latter is the easy way to travel defined by
Nagarjuna.
·
Còn một lối phân chia khác do ngài Thế
Thân đề xướng, và Đạo Xước minh giải, đó là con đường tự lực và tha lực.
Tha lực ở đây có nghĩa là năng lực của Đức Phật A Di Đà, chớ không phải
của bất cứ ai khác. Ai đi theo Thánh đạo có thể thành Phật quả trong thế
gian nầy nếu họ có đầy đủ căn cơ, trong lúc có những người chỉ khát vọng
vãng sanh Tịnh Độ và thành Phật tại đó: There is another division which
was proposed by Vasubandhu and elucidated by T’ao-Ch’o, that is, the ways
of self-power and another’s power. Another’s power here means the power of
Amitabha Buddha, not any other’s power. Those who pursue the Holy Path can
attain Buddhahood in this world, if they are qualified, while other just
want to seek rebirth in the Pure Land and attain the Buddhahood there.
·
See Vô Lượng Thọ.
(B)
Những tên gọi khác nhau của Đức Phật A
Di Đà—Amitabha Buddha also has several other titles:
1)
Vô Lượng Quang Phật: Buddha of
Boundless Light.
2)
Vô Biên Quang Phật: Buddha of
Unlimited Light.
3)
Vô Ngại Quang Phật: Buddha of
Irresistable Light.
4)
Vô Đối Quang Phật: Buddha of
Incomparable Light.
5)
Diệm Vương Quang Phật: Buddha of Yama
or Flame-King Light.
6)
Thanh Tịnh Quang Phật: Buddha of Pure
Light.
7)
Hoan Hỷ Quang Phật: Buddha of Joyous
Light.
8)
Trí Huệ Quang Phật: Buddha of Wisdom
Light.
9)
Bất Đoạn Quang Phật: Buddha of
Unending Light.
10)
Nan Tư Quang Phật: Buddha of
Inconceivable Light.
11)
Vô Xưng Quang Phật: Buddha of
Indescribable Light.
12)
Siêu Nhựt Nguyệt Quang Phật: Buddha of
Light Surpassing that of Sun and Moon.
13)
Vô Lượng Thọ Phật: Buddha of Boundless
Age (Life).
14)
Vô Lượng Cam Lộ Vương Như Lai: Buddha
of Infinite King of Sweet-Dew—Sweet-Dew King
** For more information, please see
Amita inSanskrit/Pali-Vietnamese
Section, and Amitabha in English-
Vietnamese Section.
A Di Đà Bà:
Amitabha Buddha—See A Di Đà.
A Di Đà
Bổn Nguyện: Những lời cầu nguyện căn bản của Đức A Di Đà. Những
lời nguyện căn bản trong tứ thập bát nguyện của Ngài—The original vows of
Amitabha Buddha—The basic essential vows in his forty-eight vows:
1)
Trong cõi Tịnh Độ sẽ không có một điều
kiện tái sanh vào cõi thấp kém hay ác đạo: In the Pure Land, there will be
no inferior modes or evil path of existence.
2)
Trên cõi Tịnh Độ sẽ không có người nữ,
người nữ nào được vãng sanh Tịnh độ đều biến thành nam giới: In the Pure
Land, there will be no women, as all women who are reborn there will
transform at the moment of death into men.
3)
Không có sự khác biệt bề ngoài với
những chúng sanh Tịnh độ, mọi người đều có 32 tướng hảo: There will be no
differences in appearance there, every being is to have 32 marks of
perfection.
4)
Mỗi chúng sanh Tịnh độ đều có một nhận
thức hoàn hảo về tiền kiếp của mình: Every being in the Pure Land posseses
perfect knowledge of all past existences.
5)
Mọi người đều có Thiên nhãn thông:
Every being possesses a Divine eye—See Thiên Nhãn Thông.
6)
Mọi người đều có Thiên Nhĩ thông:
Every being possesses a Divine Ear—See Thiên Nhĩ Thông.
7)
Mọi người đều có Thần túc thông: Every
being possesses the ability to move about by supernatural means—See Thần
Túc Thông.
8)
Mọi người đều có Tha Tâm thông để có
thể đọc thấy ý nghĩ của người khác: Every being possesses the ability to
know the thoughts of others.
9)
Mọi chúng sanh trong mười phương nghe
danh hiệu Ngài đều phát bồ đề tâm và nguyện vãng sanh Tây phương Tịnh Độ:
All beings of the worlds in all ten directions, upon hearing the name of
Amitabha, will arouse Bodhicitta and vow to be reborn in the Western Pure
Land after death.
10)
Phật A Di Đà cùng Thánh chúng sẽ xuất
hiện tiếp dẫn vào lúc lâm chung, những ai đã phát tâm Bồ đề sau khi nghe
được hồng danh của Ngài (đây là lời nguyện quan trọng nhất): Amitabha and
all saints will appear at the moment of their death to all beings who have
aroused Bodhicitta through hearing his name (this is the most important
vow).
11)
Ngài nguyện sẽ làm cho tất cả những ai
khi nghe đến tên Ngài, hướng ý nghĩ của mình về đất Tịnh Độ và tích lũy
thiện nghiệp để vãng sanh về cõi Tây phương Cực Lạc: All beings who
through hearing his name have directed their minds toward rebirth in his
Pure Land and have accumulated wholesome karmic merits will be reborn in
the Western Paradise.
12)
Sau khi vãng sanh Tịnh Độ, chúng sanh
chỉ còn một lần tái sanh duy nhất trước khi lên hẳn Niết Bàn, chúng sanh ở
đây không còn rơi vào cõi thấp nữa: After rebirth in the Pure Land, only
one further rebirth will be necessary before entry into Nirvana, no more
falling back into lower paths.
A Di Đà
Bổn Nguyện và Quang Minh Lực: The power of Amitabha Buddha’s
original vow and his power of light.
A Di Đà
Đàn Na: Amrtodana (skt)—Cam Lộ Vương, vua xứ Ma Kiệt Đà, cha
của A Nậu Lâu Đà, chú của Phật Thích Ca—A king of Magadha, father of
Anuruddha and Bhadrika, uncle of Sakyamuni.
A Di Đà
Phật: Amitabha Buddha—See A Di Đà.
A Di Đà
Sưu Tư: Amitayus—See A Di Đà.
A Diễm Để
Ha La: Tên của một loài quỷ bị cháy rụi vì lửa nó ăn vào—Name
of a demon burnt up by the fire it eats.
A Do:
Ayurveda (skt)—Một trong các bộ kinh Vệ Đà, nói về khoa học và trường
thọ—One of the Vedas, the science of life or longevity.
A Do Đa:
See Ayuta in Sanskrit/Pali-Vietenamese Section.
A Du Đồ:
Ayodhya (skt)—A Du Đà—A Thâu Đồ—Kinh đô của xứ Kosala, tổng hành dinh của
Phật giáo thời cổ, bây giờ là Oudh—The capital of Kosala, headquarters of
ancient Buddhism, the present Oudh.
A Du Già:
Asoka (skt)—See A Dục Vương in Vietnamese-English Section and Asoka in
Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
A Dục
Vương: Vị vua thời cổ Ấn Độ, thái tổ của triều đại Maurya. Một
quân vương Phật tử, đã cải sang đạo Phật từ Ấn Độ giáo sau một cuộc trường
chinh—Emperor of Ancient India, founder of Maurya Dynasty. A great
Buddhist ruler, who was converted to Buddhism from Hinduism after a long
period of war and conquest.
A Dục
Vương Sơn: Núi vua A Dục bên Tàu—Asoka Mountain in China.
A Dục
Vương Thạch Trụ: Trụ đá do vua A Dục của Ấn Độ dựng lên năm 250
trước Tây Lịch trong vườn Lâm Tỳ Ni của xứ Nepal, ghi dấu nơi Đức Phật đản
sanh năm 624 trước Tây Lịch—Asoka Marble Pillar, a pillar erected by
Indian king of Asoka in 250 B.C. in Lumbini garden in present-day Nepal,
to show that the Buddha was born here in 624 B.C.
A Dục
Vương Tháp: Ngôi tháp Vua A Dục hay tháp Đại Giác do vua A Dục
xây dựng vào thế kỷ thứ ba trước Tây Lịch ở Bồ Đề Đạo Tràng, nơi Đức Phật
chứng đạo Vô Thượng Bồ Đề cách nay hơn 2.500 năm tại miền bắc Ấn Độ, bây
giờ là một phần của Nepal. Phía sau Tháp Đại Giác, có một tháp nhỏ bằng
đá, nằm trong khuôn viên của Bồ Đề Đạo Tràng, với những hình tượng nổi—The
stupa of King Asoka or the Maha Bodhi Temple erected by king Asoka in the
third century B.C. at Buddha Gaya where the Buddha attained enlightenment
over 2,500 years ago in northern India, present-day part of Nepal. Behind
the Maha Bodhi Temple at Buddha-Gaya, there is a small stupa, made of
stone with the carved images of Buddhas.
A Dục
Vương Truyện: Stories of King Asoka.
A Duy La
Đề: Abhirati (skt)—A Tỳ La Đề—Cõi Tịnh Độ phương Đông của Đức
Phật A Súc (Vô Nộ hay Diệu Lạc Phật)—The eastern Pure Land of Aksobhya.
A Đa Đa:
Atata (skt)—See Át Triết Tra and Bát Hàn Địa Ngục.
A Đà:
Agada (skt)—See A Già Đà.
A Đà La:
Adara (skt)—Chấp tay chào—To salute with folded hands, palms together.
A Đà Na:
Adana (skt).
1)
Chấp Trì: Chấp thủ hay duy trì—Holding
on to, maintaining.
2)
Chấp thủ hay duy trì—Holding together:
·
Nghiệp nhân thiện ác: Maintaining the
karma, good or evil.
·
Thân thể của loại hữu tình:
Maintaining the sentient organism.
·
Chủng tử hay hạt của cây cối:
Maintaining the germ in the seed or plant.
3)
Tên khác của A Lại Da Thức: A Đà Na
Thức—Another name for Alaya-vijnana. It is known as Adanavijnana—See A Lại
Da Thức.
A Đề Mục
Đa: See A Đề Mục Già.
A Đề Mục
Già: Adhimukti or Atimukti (skt).
1)
Tâm giải thoát, được diễn dịch là
“Thiện Tư Duy”—Entire freedom of mind, confidence, interpreted as “pious
thoughtfulness,” good propensity.
2)
A Đề Mục Già là tên của một loại cây
có hoa đỏ, lá màu xanh đậm, hạt ép ra dầu thơm—Atimuktaka, a plant like
the “dragon-lick,” suggestive of hemp, with red flowers and bluish-green
leaves; its seeds produce fragrant oil, sesame.
A Đề Phật
Đà: Adi-buddha (skt)—Đây là vị Phật bản sơ của Lạt Ma giáo—The
primal Buddha of ancient Lamaism.
1)
Theo cựu phái, ngài là Pháp Thân Phổ
Hiền—By the older school he is associated with P’u-Hsien born of Vairocana
(Dharmakaya-Samantabhadra).
2)
Theo tân phái, ngài là Kim Cương Tát
Đỏa siêu việt, vĩnh hằng, khởi sanh chư pháp—By the later school with
Vajradhara, or vajrasattva, who are considered as identical, eternal,
infinite, uncaused, and causing all things.
A Để Lý:
Atri (skt).
1)
Kẻ nuốt sống: A devourer.
2)
Một trong những ngôi sao trong nhóm
Đại Hùng: One of the stars in Ursa Major.
3)
Một trong những thị giả của Thần Hỏa
trong Thai Tạng Giới: One of the assistants of Agni shown in the
Garbhadhatu.
4)
Một vị cổ Tiên: An ancient rsi.
A Để Sa:
Dipankara-Srijnana (skt).
(I)
Tiểu sử của A Để Sa—Atisa’s biography:
Theo Giáo Sư Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, tên tuổi của
luận sư Dipankara-Srijnana được xếp hàng đầu trong số những người Ấn Độ đã
hoạt động nhiệt tình để tạo cho Tây Tạng và Ấn Độ gần gủi nhau hơn về mặt
văn hóa. Tại Tây Tạng, danh tiếng ông chỉ đứng sau danh tiếng của Đức Phật
và ngài Liên Hoa Sinh (Padmasambhava). Trong số tất cả các học giả Ấn Độ
đến Tây Tạng, luận sư A Để Sa là một học giả có công lớn lao trong việc
dịch những tác phẩm vô giá từ tiếng Phạn ra tiếng Tây Tạng. Thân phụ của
ngài là vua Kalyana Sri và thân mẫu là Sri Prabhavati. Ông sinh năm 982
tại Sahor, miền đông Ấn Độ. Không xa nơi Dipankara chào đời (cung điện
Kalyana Sri) là tu viện Vikrama, nơi mà song thân của ngài rất gắn bó. Tu
viện nầy rất nổi tiếng vào thời đó. Năm 12 tuổi, ngài xuất gia. Song thân
muốn ngài tu tại tu viện Vikramasila, nhưng sau lời khuyên của luận sư
Jitari, ngài xin phép song thân để đi đến Na Lan Đà. Tại đây ngài được
thầy của trưởng tu viện là Avadhutipada nhận làm đệ tử. Thế là cậu bé
Dipankara mười hai tuổi ở lại với Avadhutipada cho đến năm 18 tuổi. Trong
thời gian nầy cậu đã nghiên cứu kỹ các kinh sách Phật giáo. Sau đó ngài
trở về Vikramasila và hoàn tất việc học hành Phật pháp tại đây, nhưng sự
khao khát về kiến thức của ngài vẫn chưa nguôi, nên ngài đi đến tu viện
Mati ở Vajrasana và trở thành đệ tử của Mahavinayadhara Silaraksita, một
nhà nghiên cứu sâu về luật tạng. Dipankara học về luật tạng trong hai năm.
Do đó lúc 31 tuổi, Dipankara đã trở thành nhà tinh hông về Tam Tạng và Mật
tông, và trở thành một học giả toàn diện. Tại Vikramasila, Dipankara đã
gặp gỡ các học giả nổi tiếng, và có lẽ đã học được nhiều điều từ các môn
đệ của ngài Hộ Pháp. Tuy nhiên, nỗi khao khát chu du của ông vẫn chưa thỏa
mãn. Từ Bồ Đề Đạo Tràng, ngài đi đến vùng duyên hải, có lẽ là đến
Tamralipti, nay là Tamluk, trong quận Midnapur miền tây Bengal. Ngoài ra,
ngài còn đi đến Lộc Uyển (Sarnath), Xá Vệ (Sravasti), Câu Thi Na
(Kusinara) cùng các thánh địa khác trước khi dong buồm đi Sumatra. Lúc
Dipankara du hành sang Sumatra là thời vua Vijayapala đang cai trị xứ Ma
Kiệt Đà và Mahmud Ghaznavi đang xâm chiếm Ấn Độ (có lẽ vào năm 1023).
Dipankara đi suốt 14 tháng, trong thời gian nầy, có thể ngài đã ghé thăm
cả Miến Điện và Mã Lai. Ngày nay, không còn một dấu tích Phật giáo nào tại
Sumatra ngoại trừ những đống gạch đổ nát của một vài tu viện cổ. Nhưng khi
Dipankara đến đây thì nơi nầy đã nổi tiếng về kiến thức Phật giáo. Các tu
sĩ Phật giáo nước ngoài trên đường đến Ấn Độ thường lưu lại Sumatra một
thời gian để trau dồi tiếng Phạn. Người ta được biết điều nầy qua các bản
tường thuật mà các nhà hành hương Trung Hoa từ bốn thế kỷ trước còn để
lại. Năm 44 tuổi ngài rời khỏi Sumatra và quay trở về Vikramasila. Do có
kiên thức và năng lực xuất chúng, ngài đã trở thành người đứng đầu nhóm 51
học giả và lãnh đạo 108 đền chùa tại đại tu viện Vikramasila—According to
Prof. Bapat in the Twenty-Five Hundred Years of Buddhism, Acarya
Dipankara-Srijnana’s name stands foremost among the Indians who had worked
selflessly to bring Tibet and India closer together culturally. In Tibet,
his fame is only next to that of the Buddha and Padmasambhava.
Undoubtedly, of all the Indian scholars who went to Tibet from India,
Acarya Dipankara-Srijnana was one of the greatest. He made available
priceless Sanskrit works in Tibetan. Acarya Dipankara-Srijnana’s father
was king Kalyana Sri and his mother Sri Prabhavati. He was born in 982
A.D. in eastern India. Not far from the Kalyana Sri palace where Dipankara
was born, was the Vikrama-vihara, which was also caled Vikramasila Vihara.
The parents of Dipankara were intimately connected with the Vikramasila
Vihara which was widely known throughout the Buddhist world in those days.
He left home at the age of twelve. His parents wanted him to stay at
Vikramasila-Vihara, but after the advice from Acarya Jitari, he wanted to
go to Nalanda. He reported himself to Bodhibhadra, head of at
Nalanda-vihara. Later, Avadhutipada, the Guru (Bodhibhadra’s master),
accepted him as a disciple. Dipankara stayed with him until he was
eighteen. In this period, he made a thorough study of the scriptures.
Later, he returned to Vikramasila Vihara to complete his study, but his
thirst for knowledge was not quenched, so he went to the Mati Vihara in
Vajrasana and became the disciple of Mahavinayadhara Silaraksita, the
great Vinaya-pitaka scholar. He studied Vinaya-pitaka with him for two
years. Thus, by the time he reached the age of 31, Dipankara Srijnana had
already become a master of the three Pitakas and the Tantras, and an
all-round scholar. At Vikramasila, Dipankara had met and learned a lot
from the disciples of Acarya Dharmapala. However, his wander lust was not
satisfied. From Bodh-Gaya he went to the sea coast, perhaps to Tamralipti,
the present Tamluk in the Midnapur district of West Bengal. Besides,
Dipankara must have visited Sarnath (Rsipatan), Sravasti, Kusinara and
other holy places before he set sail for Sumatra. Dipankara travelled to
Sumatra while Vijayapala was the king of Magadha and Mahmud Ghaznavi
invaded India (1023). Dipankara travelled for fourteen months and during
this period he might have visited Burma and Malaysia also. No vestige of
the Buddhist religion is left in Sumatra now except for the ruins of some
old viharas, but when Dipankara went there, it was famous for Buddhist
learning. It was usual for foreign monks on their way to India to stay in
Sumatra for some time to acquire proficiency in Sanskrit. This is known
from the account left by Chinese pilgrims four centuries earlier. At the
age of forty-four, Dipankara Srijnana left Sumatra and returned to
Vikramasila. By virtue of his extraordinary learning and ability, he
became the chief among the 51 scholars and the leader of 108 temples in
the Vikramasila Vihara.
(II)
Cuộc sống và công việc của tôn giả A
Để Sa tại Tây Tạng—The life and work of Atisa in Tibet: Cuộc sống và công
việc của ngài A Để Sa tại Tây Tạng rất quan trọng cho sự phát triển Phật
giáo tại nước nầy. Từ khi ông đến Tây Tạng thì Phật giáo nước nầy đã phát
triển thành nhiều trường phái bản địa khác nhau. trong số nầy hình thức
Phật giáo hỗn tạp và chưa cải cách ban đầu được gọi là Rnin-ma-pa hay là
trường phái Cũ với bốn tiểu phái chính. Các tín đồ của trường phái nầy thờ
cúng Padmasambhava, xem đây là người sáng lập và là đạo sư của họ, họ tin
tưởng vào sự ứng nghiệm của thần linh ma quỷ, họ thường được nhận biết qua
chiếc mũ màu đỏ. Các giáo lý cải cách của A Để Sa, dựa trên truyền thống
Du Già do Di Lặc và Vô trước sáng lập, dẫn đến sự hình thành của trường
phái Bkah-gdams-pa bởi người đệ tử người Tây Tạng của ông là Hbrom-ston.
Trường phái nầy có quan điểm tổng hợp của cả Tiểu Thừa lẫn Đại Thừa, buộc
các tu sĩ phải sống độc thân và không khuyến chuyện phù phép. Chính trên
cơ sở của giáo lý nầy mà nhà cải cách vĩ đại của Tây Tạng là Tông Khách
Ba vào thế kỷ thứ 14, đã lập nên trường phái Dge-lugs-pa, qua sự gạn lọc
những nghi thức cầu kỳ của Bkah-gdams-pa và đang chiếm ưu thế trong Phật
giáo Tây Tạng ngày nay cả về thế tục lẫn tâm linh, qua sự kế vị của các vị
Đạt Lai Lạt Ma (Dalai Lamas): The life and work of Atisa in Tibet are very
important for the development of Tibetan Buddhism. From the time he came
to Tibet, Tibetan Buddhism developed into different indigenous schools. In
relation to these, the earlier heterogenous and unreformed type of
Buddhism came to be called Rnin-ma-pa or the old school with four main
sub-sects. The followers of this schol worship Padmasambhava as their
founder and Guru, believe in the fulfilment of both the divine and the
demoniacal, and are generally recognized as such by their red caps.
Atisa’s reformed teachings, based upon the Yogacara traditions founded by
Maitreya and Asanga, led to the establishment of the Bkah-gdams-pa school
by his Tibetan disciple, Hbrom-ston. It took a synthetic view of the
teachings of both Hinayana and Mahayana, enforced celibacy upon the monks
and discouraged magic practices. It was on the authoritative basis of this
doctrine that the great Tibetan reformer, Tson-kha-pa, founded in the 14th
century A.D. the Dge-lugs-pa sect, which purified the Bkah-gdams-pa of
much of its elaborate ritualism and today dominates Tibetan Buddhism both
temporarily and spiritually, through the religious succession of the Dalai
Lamas, of whom the fourteenth is now the head of this theocracy.
A Địa Mục
Đắc Ca: Atimuktata (skt)—Acacia flowers.
A Điên Để
Ca: Atyamika (skt)—Tất Cánh—Không có cứu cánh để thành
Phật—Endless—At the end there is no mind for attaining Buddhahood.
A Già:
1)
Nước: Arhya or Argha (skt)—Water.
2)
Nghi thức dâng nước thơm trong các
buổi lễ: Ceremonial water, e.g. offerings of scented water, or water
containing fragrant flowers in ceremonies.
A Già Đà:
Agada (skt)—A Yết Đà—Một thứ thuốc phòng ngừa và trị mọi thứ bệnh, mọi thứ
độc—Free from disease, an antidote, a medicine that entirely rids of
disease, elixir of life, universal remedy (phổ khử).
A Già Đàm:
Aghana (skt)—Không rắn, không đặc—Not solid, not dense.
A Già La
Già: Angaraka (skt)—Hỏa tinh—The planet Mars; a star of ill
omen; a representation in the Garbhadhatu.
A Già Lâu:
Aguru or Agaru (skt).
1)
Một loại trầm hương: Fragrant
aloe-wood; the incense that sinks in water.
2)
Tên của một ngọn núi: Name of a
mountain.
A Già Lợi
Da: Acarya (skt)—A Xà Lê—Giáo Thọ—Spiritual
teacher—Master—Preceptor.
** For more information, please see
Acarya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section and Ngũ Chủng A Xà Lê in
Vietnamese-English Section.
A Già Ma:
Agama (skt)—See A Hàm Kinh.
A Già Phôi:
Cái bình hay cái bát—The vase or bowl.
A Ha Ha:
Ahaha (skt)—Âm thanh của tiếng cười—Sound of laughter.
A Hàm:
Agama (skt)—A Cấp Ma—A Hàm Mộ.
(A)
Tên gọi chung của Kinh Tiểu Thừa—A
collection of doctrines, general name for the Hinayana scriptures.
(B)
Nghĩa của A Hàm—The meanings of Agama:
1)
Pháp Quy: Muôn pháp đều quy về nơi đây
mà không sót—The home or collecting-place of the Law or Truth.
2)
Vô Tỷ Pháp: Diệu pháp không gì sánh
bằng—Peerless Law.
3)
Thú Vô: Ý chỉ được nói ra cuối cùng
không theo về đâu cả—Ultimate or absolute truth.
A Hàm Bộ:
See Hinayana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
A Hàm Kinh:
Gồm bốn bộ—Agama (skt) sutras. There are four Agama sutras:
1)
Trường A Hàm: Dirghagama (skt)—Tập hợp
những kinh văn dài, 22 quyểnLong Treatises on cosmogony, 22 books.
2)
Trung A Hàm: Madhya-agama (skt)—Tập
hợp các kinh văn không dài không ngắn, 60 quyển—Middle treatises on
metaphysics, 60 books.
3)
Tạp A Hàm: Samyuktagama (skt)—Hổn hợp
của 3 loại A Hàm kia, 50 quyển—Miscellaneous treatises on abstract
contemplation, 50 books.
4)
Tăng Nhứt A Hàm: Ekottaragama
(skt)—Sưu tập số của Pháp Môn, 51 quyển—Numerical treatises subjects
treated numerically, 51 books.
** For more information, please see Tứ A
Hàm in Vietnamese-English Section, and Agama
in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
A Hàm Thời:
Một trong năm thời thuyết pháp của Đức Phật. Thời Đức Thế Tôn nói về kinh
A Hàm (Lộc Uyển Thời) trong khoảng 12 năm tại vườn Lâm Tỳ Ni—One of the
five periods, the period when the Buddha taught Hinayana doctrine in the
Lumbini garden during the first twelve years of his ministry.
A Hô:
Ahu (skt)—Tán thán từ—Aho! An interjection.
A Hô Địa
Ngục: The hell of groaning—See Địa Ngục (4).
A Hồng:
Ahum (skt)—Hai âm “A” và “Hum” là căn bản của hết thảy mọi âm thanh và chữ
viết (muôn đức như cát sông Hằng đều bao quát trong hai âm nầy). “A” là sự
bắt đầu phát ra âm thanh, “Hum” là sự chấm hết của hơi thở hít vào. Chữ
“A” là Đức Tỳ Lô Giá Na, “Hum” là Đức Kim Cang Tát Đỏa, chữ “A” là Bồ Đề
Tâm, “Hum” là Niết Bàn, “A” là tuyệt đối hay chân đế, “Hum” là hiện tượng
hay thế tục—The supposed foundation of all sounds and writing, “A” being
the open and “hum” the closed sound. “A” is the seed of Vairocana, “hum”
that of Vajrasattva, “A” being the bodhicitta and “hum” the nirvana, and
both have other indications. “A” represents the absolute, “hum” the
particular, or phenomenal.
A Kiệt Đa:
Agastya (skt).
1)
Vòm Sao Canopus: The star Canopus
2)
Tiếng Sét: Lightning.
A Kiệt Đa
Tiên: Agastya-rsi (skt)—Theo Kinh Niết Bàn, A Kiệt Đa là một vị
Tiên có sức thần thông dừng nước sông Hằng trong 12 năm, bằng cách cho
dòng nước ấy chảy vào một trong hai lổ tai của ông—According to the
Nirvana sutra, agastya was one of the genii, who stopped the flow of the
Ganges for twelve years by allowing it run into one of his ears.
A Kỳ Đa:
See Ajita in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
A Kỳ Nễ:
Agni (skt)—A Kỳ Ni.
1)
Lửa: Fire.
2)
Thần Lửa: Vị Thần tối cao trong các vị
thần trong thần thoại Ấn Độ—The fire-deva.
A Kỳ Ni:
Agni (skt)—See Ác Ký Ni, and A Kỳ Nễ.
A La Ca:
Arka (skt)—A Ca—A Già—Hoa trắng—White flower.
A La Già:
Raga (skt).
·
Tham muốn: Desire.
·
Cảm thọ: Feeling.
·
Xan tham: Greed.
·
Giận dữ: Anger.
A La Ha:
Arahant (p)—Arhat (skt)—Ứng Cúng, một trong những danh hiệu của Đức
Phật—One of the titles of Buddha, the arhan who has overcome mortality—See
A La Hán.
A La Hán:
Arhat (skt)—Arahat (p)—Arahant (p)—The perfect one—The worthy one—The
perfect understanding one—A saintly man.
(I)
Nghĩa của A La Hán—The meanings of
Arhat:
1)
Một trong những quả vị trên bước đường
tu tập—One of the fruitions of the path of cultivation—See A La Hán Quả in
Vietnamese-English Section.
2)
Vô Học (Bất Học): No longer learning.
3)
Theo Thượng Bộ, A La Hán là một bậc
hoàn thiện hoàn mỹ; nhưng theo Đại Chúng Bộ, A La Hán chưa phải là bậc
hoàn mỹ, họ vẫn còn bị những nghi hoặc quấy nhiễu và vẫn còn rất nhiều
điều chưa được liễu giải. Chính vì thế mà Phật Giáo Đại Thừa khuyên Phật
tử không nên đề cao lý tưởng A La Hán. Thay vì vậy, nên noi gương những
bậc đã hiến trọn đời mình, đã hy sinh tự ngã và không ngừng cố gắng nhằm
đạt đến mục đích cứu độ chúng sanh cũng như cảnh giới của chư
Phật—According to the Sthaviras, Arhats are perfect beings; but according
to the Mahasanghikas, Arhats are not perfect, they are still troubled by
doubts and are ignorant of many things. Thus, Mahayana Buddhism advises
Buddhists not to hold up Arhats as ideals. Rather those should be emulated
as ideals who during aeons of self-sacrifice and continuous struggle to
save sentient beings and to attain Buddhahood.
4)
A-la-hán còn có ba nghĩa—Arhat still
has three meanings:
a.
Ứng Cúng: Người xứng đáng được cúng
dường—Worthy of offerings—Worthy of worship, or respect.
b.
Bố Ma: Sát Tặc—Phá si—Người đã tiêu
diệt hết ma chướng não phiền—Killer of the demons of ignorance—Slayer of
the enemy.
c.
Vô sanh: Không còn tái sanh vì đã diệt
hết nghiệp luân hồi sanh tử—Without birth—Not to be reborn, having
destroyed the karma of reincarnation.
(II)
Những lời Phật dạy về A La Hán trong
kinh Pháp Cú—The Buddha’s teachings on Arhat in the Dharmapada Sutra:
1)
Người đã giải thoát hết thảy, đã dứt
hết thảy buộc ràng, là người đi đường đã đến đích—There is no more
suffering for him who has completed the journey; he who is sorrowless and
wholly free from everything; who has destroyed all fetters (Dharmapada
90).
2)
Kẻ dũng mãnh chánh niệm, tâm không ưa
thích tại gia, ví như con ngỗng khi ra khỏi ao, chúng bỏ lại cái nhà ao hồ
của chúng không chút nhớ tiếc—The mindful exert themselves, they do not
enjoy in an abode; like swans who have left their pools without any regret
(Dharmapada 91).
3)
Những vị A-la-hán không chất chứa tài
sản, biết rõ mục đích sự ăn uống, tự tại đi trong cảnh giới “không, vô
tướng, giải thoát” như chim bay giữa hư không—Arhats for whom there is no
accumulation, who reflect well over their food, who have perceived void,
signless and deliverance, and their path is like that of birds in the air
which cannot be traced (Dharmapada 92).
4)
Những vị A-la-hán, dứt sạch các hoặc
lậu, không tham đắm uống ăn, tự tại đi trong cảnh giới “không, vô tướng,
giải thoát” như chim bay giữa hư không—Arhats whose afflictions are
destroyed, who are not attached to food, who have perceived void, signless
and deliverance, and their path is like that of birds in the air which
cannot be traced (Dharmapada 93).
5)
Những vị A-la-hán đã tịch tịnh được
các căn, như tên kỵ mã đã điều luyện được ngựa lành, nên không còn phiền
não ngã mạn và được các hàng nhơn thiên kính mộ—The gods even pay homage
to Arhats whose senses are subdued, like steeds well-trained by a
charioteer, those whose pride and afflictions are destroyed (Dharmapada
94).
6)
Những vị A-la-hán đã bỏ hết lòng sân
hận, tâm như cõi đất bằng, lại chí thành kiên cố như nhân đà yết la, như
ao báu không bùn, nên chẳng còn bị luân hồi xoay chuyển—Like the earth,
Arhats who are balanced and well-disciplined, resent not. He is like a
pool without mud; no new births are in store for him (Dharmapada 95).
7)
Những vị A-la-hán ý nghiệp thường vắng
lặng, ngữ nghiệp hành nghiệp thường vắng lặng, lại có chánh trí giải
thoát, nên được an ổn luôn—Those Arhats whose mind is calm, whose speech
and deed are calm. They have also obtained right knowing, they have thus
become quiet men (Dharmapada 96).
8)
Những vị A-la-hán chẳng còn phải tin
ai, đã thấu hiểu đạo vô vi, dứt trừ vĩnh viễn nguyên nhân, cùng quả báo
ràng buộc, lòng tham dục cũng xa lìa. Chính đó là bậc Vô thượng sĩ—The man
who is not credulous, but knows the uncreated, who has cut off all links
and retributions, and renounces all desires. He is indeed a supreme man
(Dharmapada 97).
9)
Dù ở xóm làng, dù ở rừng núi, dù ở đất
bằng, dù ở gò trủng, dù ở biển cả hay đất khô, dù ở bất cứ chốn nào mà có
vị A-la-hán, thì ở đó đầy dẫy cảnh tượng yên vui—In a village or in a
forest, in a valley or on the hills, on the sea or on the dry land,
wherever Arhats dwell, that place is delightful (Dharmapada 98).
10)
Lâm dã là cảnh rất vui đối với vị
A-la-hán, nhưng người đời chẳng ưa thích, trái lại dục lạc là cảnh ưa
thích đối với người đời, vị A-la-hán lại lánh xa—For Arhats, delightful
are the forests, where common people find no delight. There the
passionless will rejoice, for they seek no desires nor sensual pleasures
(Dharmapada 99).
A La Hán
Ha: Arhat (skt)—See A La Ha and A La Hán.
A La Hán
Hướng: Một trong bốn hướng. Bậc Thánh của Bất Hoàn tiến lên cắt
đứt mọi tàn dư phiền não mà hướng đến quả A La Hán—The direction leading
to arhatship, by cutting off all illusion in the realms of form and beyond
form.
** For more information, please see Tứ Thánh
Quả.
A La Hán
Quả: Ariyaphalam (p)—Arahattvaphala (skt)—Người đã đạt được
Thánh quả vị thứ tư, không còn tái sanh. Sau khi chết người ấy vào Niết
bàn. Đây là quả vị cao nhất cho các hàng Thanh văn. A La Hán là một vị
Thánh đã giải thoát khỏi luân hồi sanh tử, bằng cách sống đời tịnh hạnh
đúng theo lời Phật dạy. Đây là mục tiêu tối thượng của trường phái
Theravada, đối lại với quả vị Bồ Tát trong trường phái Đại
thừa—Arahanthood—The fruition of arahantship—The fruit of Arhat
discipline—Who attains the fourth stage of Sainthood, and is no more
reborn anywhere. After his death he attains Parinirvana. The highest rank
attained by Sravakas. An Arhat is a Buddhist saint who has attained
liberation from the cycle of Birth and Death, generally through living a
monastic life in accordance with the Buddha’s teachings. This is the
supreme goal of Theravada practice, as contrasted with Bodhisattvahood in
Mahayana practice.
A La La:
Arada-kalama (skt)—Alara-kalama (p)—A La La là tên vị đạo sĩ mà thái tử Sĩ
Đạt Đa đã đến hỏi đạo giải thoát ngay sau khi Ngài rời hoàng cung xuất gia
để trở thành nhà tu khổ hạnh. Người ta nói đạo sĩ A La La là một triết gia
theo phái Số Luận và sống gần thành Tỳ Xá Ly, nay là thành phố Besarh
trong quận Muzzaffapur, tiểu bang Bihar, vùng đông bắc Ấn Độ—The name of
the hermit to whom Prince Siddhartha visited and asked about the
enlightenment immediately after he left his royal palace and became an
ascetic. Arada-kalama is said to have been a Samkhya philosopher and to
have lived near the Vesali city, modern Besarh in the Muzzaffapur district
of Bihar state in the northeast India.
A Lại Da:
Alaya-vijnana (skt)—See A Lại Da Thức.
A Lại Da
Ngoại Đạo: Một trong 30 loại ngoại đạo, xem A Lại Da là một
chất liệu truờng tồn, sáng tạo và chứa đựng tất cả. Khi được xem như là
hiện tượng, thì A Lại Da bao trùm khắp vũ trụ—The alaya heresy, one of the
thirty heretical sects which considered the alaya is a sort of eternal
substance or matter, creatives and containing all forms; when considered
“unrolled,” or phenomenal, it fills the universe. It seems to be of the
nature of materialism as opposed to the idealistic conception of the
Alaya-vijnana.
A Lại Da
Thức: Alaya-vijnana (skt)—A Lợi Da—A Lê Da—A Lạt Da.
(I)
Theo Keith trong Trung Anh Phật Học Từ
Điển của Giáo Sư Soothill, A Lại Da Thức được diễn dịch như sau—According
to Keith in The Dictionary of Chinese-English Buddhist terms composed by
Professor Soothill, Alaya-vijnana is interpreted as:
1)
A Đàn Na Thức: Adana-vijnana—See Chấp
Trì Thức.
2)
Bản Thức: Gốc rễ của chư pháp—Original
mind, because it is the root of all things.
3)
Chấp Trì Thức: Nó giữ lấy tất cả các
nhân thiện ác và giữ cho thân thể của hữu tình chúng luôn luân lưu trong
luân hồi sanh tử—It holds together, or is the seed of another rebirth, or
phenomena, the causal nexus.
4)
Dị Thục Thức: Gọi là Dị Thục Thức vì
nó chứa đựng và làm chín mùi những thiện ác nghiệp, từ đó có thể dẫn đến
luân hồi sanh tử—It contains good and bad karma which in turns produces
the rounds of mortality.
5)
Đệ Bát Thức: Thức cuối cùng trong tám
thức—It is the last of the eight vijnanas.
6)
Đệ Nhất Thức: Đệ nhất thức từ gốc trở
về ngọn (tầm quan trọng đệ nhất của A Lại Da Thức)—The prime or supreme
mind or consciousness.
7)
Hiện Thức: Chư pháp đều hiển hiện trên
bản thức—Manifested mind, because all things are revealed in or by it.
8)
Hữu Tình Căn Bản Chi Tâm Thức: Tâm
thức căn bản của loài hữu tình—The fundamental mind-consciousness of
conscious beings, which lay hold of all the experiences of the individual
life.
9)
Chủng Tử Thức: Chủng tử thứ cơ bản vì
từ đó mà phát sanh ra mọi pháp, mọi vật; giống như từ hạt giống nầy mà
sanh ra cây cối hoa quả—Seeds mind, because from it spring all
individualities, or particulars.
10)
Sở Tri Y Thức: Gọi là Sở Tri Y thức vì
nó là cơ sở cho mọi pháp thiện ác dựa vào—Alaya-vijnana is the basis of
all knowledge.
11)
Tàng thức—Store Consciousness:
a)
Tiềm thức hay tạng thức, thức thứ tám
hay Nghiệp thức. Tất cả nghiệp được thành lập trong hiện đời và quá khứ
đều được tàng trữ trong A Lại Da thức—A Lại Da thức hành xử như nơi tồn
chứa tất cả những dữ kiện được Mạt Na thức thâu thập. Khi một sinh vật
chết thì bảy thức kia sẽ chết theo, nhưng A-Lại-Da thức vẫn tiếp tục. Nó
là quyết định tối hậu cho cho sự đầu thai trong lục đạo—Alaya
consciousness—Eighth consciousness—The storehouse consciousness—Karma
respiratory—The all-conserving mind—All karma created in the present and
previous lifetime is stored in the Alaya Consciousness—This is like a
storage space receiving all information collected in the Mana
consciousness. When a sentient being dies, the first seven consciousnesses
die with it, but the Alaya-Consciousness carries on. It is the supreme
ruler of one existence which ultimately determines where one will gain
rebirth in the six realms of existence.
b)
Tàng thức là nơi tích lũy—The
storehouse-consciousness is a place where stores:
·
Tất cả những ấn tượng: All
impressions.
·
Tất cả những hạt giống ký ức: All
memory-seeds.
·
Tất cả những hạt giống nghiệp: All
karmic seeds.
12)
Tâm Thức: Tâm là tên khác của a Lại Da
Thức vì cả hai đều tích tụ các hạt giống của chư pháp và làm cho chúng
khởi lên—Mind is another name for Alaya-vijnana, as they both store and
give rise to all seeds of phenomena and knowledge.
13)
Trạch Thức: Là nhà ở của các hạt
giống—Abode of consciousness.
14)
Vô Cấu Thức: Cực thanh tịnh thức ở bậc
“Như Lai Địa,” nơi nương tựa của các pháp vô lậu—Unsullied consciousness
when considered in the absolute, i.e. the Tathagata.
15)
Vô Một Thức: Tất cả các chủng tử không
bị mất mát (không mất, không tan)—Inexhaustible mind, because none of its
seeds, or products is lost (non-disappearing, perhaps non-melting).
16)
Như Lai Tạng: Tathagata-garbha
(skt)—See Như Lai Tạng.
(II)
Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong
Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, khi vạn vật phản chiếu trong tâm trí ta,
thì thế lực phân biệt hay tưởng tượng của tâm ta sẽ sẳn sàng hoạt động
ngay. Đây gọi là “thức” (vijnana). Chính vì thức kết hợp với tất cả yếu tố
phản chiếu, tàng chứa chúng, nên được gọi là A Lại Da Thức hay “thức
tạng.” Tạng thức chính nó là sự hiện hữu của tập hợp nhân quả và những tâm
sở thanh tịnh hoặc nhiễm ô, được tập hợp hay lẫn lộn với chúng theo tương
quan nhân quả. Khi tạng thức bắt đầu hoạt động và bước xuống thế giới
thường nhật nầy, thì chúng ta có hiện hữu đa dạng vốn chỉ là thế giới
tưởng tượng. Tạng thức, vốn là chủng tử thức, là trung tâm ý thức; và thế
giới do thức biểu hiện là môi trường của nó. Chỉ có ở nơi sự giác ngộ viên
mãn của Phật, thức thanh tịnh mới bừng chiếu lên. Tịnh thức nầy có thể tẩy
sạch phần ô nhiễm của tạng thức và còn khai triển thế lực trí tuệ của nó.
Thế giới của tưởng tượng và thế giới hỗ tương liên hệ được đưa đến chân lý
chân thật, tức Viên Thành Thật tánh (parinispanna). Sau khi đạt đến đó,
chủng tử tạng, tức là thức, sẽ biến mất và cuối cùng đưa đến trạng thái
nơi mà chủ thể và đối tượng không còn phân biệt. Đấy là vô phân biệt trí
(avikalpa-vijnana). Trạng thái tối hậu là Vô Trụ Niết Bàn
(apratisthita-nirvana) nghĩa là sự thành tựu tự do hoàn toàn, không còn bị
ràng buộc ở nơi nào nữa—According to Prof. Junjiro Takakusu in The
Essentials of Buddhist Philosophy, when all things are reflected on our
mind, our discriminating or imaginating power is already at work. This
called our consciousness (vijnana). Since the consciousness co-ordinating
all reflected elements stores them, it is called the store-consciousness
or ideation-store. The ideation-store itself is an existence of causal
combination, and in it the pure and tainted elements are causally combined
or intermingled. When the ideation-store begins to move and descend to the
everyday world, then we have the manifold existence that is only an
imagined world. The ideation-store, which is the seed-consciousness, is
the conscious center and the world manifested by ideation is its
environment. It is only from the Buddha’s Perfect Enlightenment that pure
ideation flashed out. This pure ideation can purify the tainted portion of
the ideation-store and further develop its power of understanding. The
world of imagination and the world of interdependence will be brought to
the real truth (parinispanna). This having been attained, the seed-store,
as consciousness, will disappear altogether and ultimately will reach the
state where there is no distinction between subject and object. The
knowledge so gained has no discrimination (Avikalpa-vijnana). This
ultimate state is the Nirvana of No Abode (apratisthita-nirvana), that is
to say, the attainment of perfect freedom, not being bound to one place.
(III)
Theo Bồ Tát Mã Minh trong Đại Thừa
Khởi Tín Luận và Nhiếp Luận Tông, A Lại Da thức là nơi hòa hợp chân vọng.
Khi nó trở nên thanh tịnh và không còn ô nhiễm, nó chính là “Chân
Như.”—According to Asvaghosa Bodhisattva in the Awakening of Faith and the
Samparigraha, the Alaya or store id the consciousness in which the true
and the false unite. When Alaya Consciousness becomes pure and taintless,
it is Tathata (Thusness).
A Lại Da
Thức Tam Chủng Cảnh: The three categories of the Alayavijnana.
1)
Chủng tử: Sinh ra hạt giống của tất cả
hiện hành pháp hữu lậu và vô lậu—The seed, or cause, of all phenomena—See
Chủng Tử.
2)
Ngũ Căn: The five organs of
sensation—See Ngũ Căn.
3)
Khí Giới: Quả báo của tất cả chúng
sanh (núi, sông, cây, cỏ, khí cụ, ăn uống, vân vân)—The material
environmenton which they depend.
A Lê Da:
Arya (skt)—A Li Da—A Li Dã—A Lược—A Di—Thánh giả, Thánh nhân hay tôn giả
(người đã ra khỏi cảnh khổ)—Loyal, honourable, noble—A man who has thought
on the four chief principles of Buddhism and lives according to them.
a)
Thánh: Sage—Sacred—Saintly.
b)
Tôn: Honourable.
A Lê Da Đà
Sa: Aryadasa (skt)—Một vị sư của trường phái Đại Chúng Bộ—A
monk of the Mahasanghikah.
A Lê Da
Phạt Ma: Aryavarman (skt)—Một vị sư nổi tiếng của phái Đại
Chúng Bộ, tác giả của bộ A Tỳ Đạt Ma Luận Giải hay Vi Diệu Pháp Luận
Giải—A famous monk of the Sarvastivadin school, author of a work on the
Vaibhasika philosophy.
A Lê Da Tư
Na: Aryasena (skt)—Một vị sư nổi tiếng của trường phái Đại
Chúng Bộ—A famous monk of the Mahasanghikah.
A Lê Nghi:
Alingi (skt).
1)
Ôm ấp: To embrace.
2)
Cái trống nhỏ: A small drum.
3)
Một loại thiền Mật giáo: A kind of
esoteric meditation.
A Lê Thụ:
Arjaka (skt)—Một loại cây có hoa thơm—A tree with white scented flowers,
said to fall in seven parts, like an epidendrum.
A Lợi Da:
Alaya (skt)—See A Lại Da Thức.
A Lợi Da
Đa La: Arya-tara or Aryavalokitesvara (skt)—Một trong những
danh hiệu của Đức Quán Âm—One of the titles of Kuan-Yin.
A Lợi Ni:
Alni or Arni (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Arni là
một phần của vương quốc cổ Tukhara, tọa lạc nơi nguồn của dòng
Oxus—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist
Terms, Arni was a kingdom which formed part of ancient Tukhara, situated
near to the source of the Oxus.
A Lợi Sa:
Arca (skt)—Có liên hệ đến Tiên nhân hay Thánh nhân; đặc biệt chân ngôn
thành tựu của các bậc cổ tiên được ghi lại bằng kệ—Connected with the rsi,
or holy men; especially their religious utterences in verse.
A Lợi Sa
Kệ:
1)
Chân ngôn thành tựu của các bậc cổ
tiên Thánh hiền: The utterances of the rsi or holy ment written in verse.
2)
Danh hiệu của Đức Phật: A title of a
Buddha.
A Lợi Sa
Trụ Xứ: Trụ xứ hay thành tựu cao nhất—Perfection or the highest
position of achievement.
A Lộ Ba:
Rupya (skt)—Bạc—Silver.
A Lộc Lộc
Địa: Nơi mà tất cả mọi thứ đều diễn biến tốt đẹp theo như ý
muốn—A land where all goes smoothly along at will.
A-Luyện-Nhã Tỳ Kheo: Aranya-bhiksu (skt)—Lâm Tăng hay Sơn Tăng,
vị Tỳ Kheo sống độc cư trong rừng—A forest Bhiksu—A monk who lives a
solitary life in the forest.
A Lư Na:
Aruna (skt)—A Lưu Na.
1)
Màu đỏ ửng: Ruddy.
2)
Màu ửng hồng của rạng đông:
Dawn-colour.
3)
Lửa: Fire.
4)
Hỏa tinh: Mars.
5)
Hướng nam: South.
A Lư Na
Bạt Để: Loại nhang có màu đỏ—A red-coloured incense.
A Lư Na
Hoa: Aruna-kamala (skt)—Bông sen đỏ—The red lotus.
A Ma:
Amba (skt)—Mẹ, một danh hiệu tôn kính—Mother, a title of respect.
A Ma Đa Đa:
Mẹ cha—Mother and father.
A Ma La:
Amala (skt).
1)
Vô cấu: Unstained—Spotless.
2)
Thanh Tịnh: Pure.
3)
Thường Hằng: Không thay đổi—Permanent
and unchanging.
A Mạt La:
Amala (skt)—See Am Ma La.
A Mật Lý
Đa: Amrta (skt)—Mật Hoa—Nectar—Ambrosia.
A Mật Lý
Đa Quân Trà Lợi: Một trong ngũ Minh Vương—One of the five
rajas.
A Mục Khư:
Amogha (skt)—See A Mục Khư Bạt Chiết La.