Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Truyện Tích Phật Giáo


...... ... .

 

 

Những Câu Chuyện Về Nhân Quả

Thích Tâm Thuận Biên soạn

Mục lục

1. Vài lời đầu sách

2. Phật nói kinh Nhân Quả Ba Đời

3. Công đức trì giới

4. Pháp môn tịnh độ ( Niệm Phật cứu chủ khỏi đoạ)

5. Hiểu thuận là mẹ cái phước hoà bình của xã hội

6. Thí ít phước nhiều ( tích nàng Bạch Tịnh xuất gia)

7. Mụn ghẻ nói tiếng người

8. Một nàng con gái 13 tuổi ngộ đạo

9. Bán thân lấy tiền làm chay bố thí

10. Sám hối được sinh về Thiên đường

11. Phước báo của sự bảo vệ sinh linh

12. Nhờ vợ tu hành mà chồng khỏi hoạ

13. Sự quả báo của Vua Sài Đế

14. Tiền thân đức Địa Tạng Bồ Tát

15. Con tạo tượng đức Địa Tạng, cha mẹ được sinh về cõi trời

16. Tạo tượng đức Địa Tạng cầu siêu cho thân mẫu

17. Hại người trở lại hại mình

18. Vàng hay rắn

19. Cứu vật, vật trả ơn, cứu nhơn nhơn trả oán

20. Lòng hiếu của con chim Oanh Vũ

21. Mấy lời tâm huyết

 

 

VÀI LỜI ĐẦU SÁCH

 

Xã hội hôm nay đã phát triển khá nhiều về vật chất, đời sống tiện nghi của con người cũng ngày càng một nâng cao. Khoa học kỹ thuật tiến bộ không ngừng, luôn đổi mới, đi lên và càng tiến xa hơn về phía trước. Nhu cầu sinh hoạt đời sống của con người cũng theo đây mà thay đổi, cải thiện mà tiện lợi hơn nhiều.

Thêm vào đó, sự ra đời hàng loạt của các phương tiện máy móc hiện đại, các thiết bị hỗ trợ chuyên dùng trong mọi ngành nghề, đã phần nào làm biến đổi gần như hoàn toàn bộ mặt kinh tế, văn hoá của đời sống, góp phần tích kiệm thời gian cũng như nâng cao năng suất công việc. Sự phảt triển vượt bậc như vũ bão ấy của nền khoa học công nghiệp đã chính thức đưa con người bước sang một đời sống mới, mở ra một kỷ nguyên hứa hẹn nhiều điều tốt đẹp ở tương lai.

Nhưng nhìn lại, vật chất càng tiến bộ bao nhiêu thì dường như đời sống tinh thần của con người càng sa sút và suy thoái bấy nhiêu. Tư tưởng tư hữu, bảo thủ đã lớn mạnh dần, đâu đâu cũng tồn tại và nảy sinh bao điều riêng tư, vị kỷ. Con người mãi cứ bám víu vào vật dục, xem đó như một mục tiêu tối cao cần phải phấn đấu để đạt tới của đời mình. Và tất cả sự kiện ấy, như một hệ quả tất yếu, đã làm cho tình người bắt đầu chia cách, những thiện cảm nồng ấm ngày nào sẽ mau chóng trở thành lạnh nhạt, khô khan.

Hơn thế nữa, khi đã bị lệ thuộc vào vật chất, con người sẽ dễ sa ngã và đánh mất mình trước bao cám dỗ của vòng xoay xã hội. trong phút giây, họ sẽ biến mình thành tên nô lệ để phục vụ cho thị hiếu và đam mê. Rồi họ sẽ cuồng say trong hơi men của hưởng thụ, hát những bản tình ca của khát vọng nhỏ nhiệm, tầm thường. Cũng từ đây, sự xuất hiện của bao cuộc cạnh tranh để thủ đoạt, lấn lướt lẫn nhau là điều sẽ xảy ra và dễ thấy. Con người ngang đó sẽ dần dần tha hoá về nhân cách, trượt đà xuống hố thẳm của tội lỗi và bất lương. Nếu không nhanh chòng tìm ra giải pháp có tác dụng trị liệu kịp thời, các nhà đạo đức cho rằng, không bao lâu hành tinh của chúng ta sẽ trở thành một hành tinh chết, bởi khi đó, con người không còn thương yêu nhau nữa, trái tim của con người đã lạnh lẽo, giá băng.

Trước thảm trạng đau lòng này, các nhà hiền triết đại diện cho lập trường chính nghĩa luôn khắc khoải, suy tư, mong tìm ra một con đường có thể cứu vãn phần nào sự xuống cấp về nhân cách của con người trong hiện tại, phục hưng nền phong hoá cũng như củng cố lại giá trị đạo đức ban đầu. Thế nên, mọi nỗ lực liên tục được phát huy, mọi giải pháp hữu quan không ngừng được đề xuất. Song tất cả gần như bất lực bởi những gì thuộc về điều thiện, điều lành dường như mong manh quá, còn cái ác và điều xấu thì ngày một khuyếch trương và đầy dẫy giữa cuộc đời.

Đã có một thời, người ta hô hào chủ trương bác ái, ra sức thiết lập một nền hoà bình mà nơi đó, nghĩa tình huynh đệ được giữa hai bên được gắn chặt với nhau. Điều ấy quả thật có xảy ra, nhưng cũng chỉ có tác dụng tạm thời mà không trường viễn. Rốt cục thì tất cả vẫn không có gì có thể khẳng định dấu hiệu khả quan hơn được, mọi thứ còn y nguyên như thế. Cái ái tiếp tục mạnh lớn lên và từng bước khống chế đời sống của con người, còn điều lành thì mãi cô quạnh, lẻ loi như những sợi nắng rớt lại sau cuối cùng chiều đông hoang vắng.

Nếu đã vậy, thì giờ đây, con người không cần phải chờ đợi vào bất cứ một trợ lực nào từ phía bên ngoài, không cần phải phó thác đời mình cho trông mong hay mặc khải vào ân sủng. họ cần phải sáng suốt, khôn ngoan để định đoạt lấy đời sống của chính họ. Có lẽ, đã đến lúc con người cần phải đứng lên bằng con tim và khối óc, tạo dựng lên một thế giới hạnh phúc, an lành ngay giữa cõi trần gian.

Muốn có của cải giàu sang, con người cần phải siêng năng lao động. Muốn thoát ly cảnh đói nghèo lạc hậu, con người cần phải nỗ lực học tập, nghiên cứu, tìm tòi. Cũng vậy, nếu muốn hiện thời và những đời sau cuộc sống được hạnh phúc bình an, ngay hôm nay, chúng ta phải tỉnh táo xét đoán và cân nhắc kỹ càng những việc mình làm, những gì mình tạo. Bởi chính chúng ta mà không phải người nào khác chịu trách nhiệm về những hành vi lưu xuất từ thân, ngữ và ý của chúng ta. Hạnh phúc hay khổ đau không tựu thành từ một đấng thần quyền, ranh giới giữa hai phạm trừu này phải do chính chúng ta chọn lựa.

Kệ số 165 của Kinh Pháp Cú có ghi:

“Tự mình làm điều ác

Tự mình làm nhiễm ô

Tự mình không làm ác

Tự mình làm thanh tịnh.

Tịnh, không tịnh tự mình

Không ai thanh tịnh ai(1)

Nói cách khác; con người là chủ nhân ông của chính họ. Mọi thiện pháp hay bất thiện pháp phải do họ tự phấn đấu để vươn tới hay dứt khoát để đoạn lìa. “ Các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, nghiệp phân chia các loài hữu tình; nghĩa là có liệt, có ưu” (2)

Như vậy, theo lời dạy trên của Thế Tôn, các loài hữu tình nói riêng, là tác nhân chính trong việc quyết định đời sống của mình. Một khi nghiệp đã tác hành, tức thói quen có khả năng luân lưu tái diễn nhiều lần dưới sự chỉ đạo của ý, chúng ta phải hoàn toàn nhận lãnh tất cả mọi trách nhiệm. Không ai có thể thay thế cho ai.

Do vậy, sự tin hiểu và thấm thấu một cách trọn vẹn về luật nhân quả nghiệp báo sẽ đóng vai trò quan trọng, giúp con người tự nhìn nhận và đánh giá chuẩn xác về mọi tác tạo của mình. Luật nhân quả như chiếc gương trong, có thể phản hồi bất cứ ảnh tượng hay vạn pháp nào soi rọi vào nó. Nếu đối diện trước gương là bộ mặt của kẻ độc tài, vị kỷ, ảnh trong gương cũng sẽ lộ rõ ra những đường nét ma mãnh trên khuôn mặt của một tay bịp bợm, gian manh. Còn nếu hiện diện trước gương là ánh mắt của một trái tim nhân hậu, hiền hoà, ảnh phản hồi chắc chắn sẽ là dung nghi của một người vị tha, khiêm cung và từ ái.

Nhân quả, hiểu đơn giản, là nguyên nhân và kết quải. Như mây đen vần vũ là nhân, mưa rơi sấm chớp là quả; sự thiếu hiểu biết là nhân, lạc hậu, đói nghèo theo sau là quả. Nhân quả không vận hành theo bàn tay của một đấng tối cao đã bí mật an bày hay sắp đặt, mà sự lưu chuyển này phải dựa vào một yếu tố quan trọng khác là duyên. Thế nên, từ nhân đi đến quả buộc phải trải qua duyên.  Nhân quả, hiểu đủ là nhân duyên quả.

Nhân là nguyên nhân, là năng lực chính để khởi sinh vạn pháp; quả là kết quả, là sự hội thành từ các năng lực chính. Nhân quả là một quy luật tất nhiên, hai trạng thái này luôn tác động qua lại lần nhau để hiện hành tồn tại.

Hạt cam được người làm vườn gieo xuống đất là nhân. Các yếu tố phụ khác tác động như nước ánh sáng, phân bón, thuốc trừ sâu v.v… là duyên. Nhờ đó cây cam mới nẩy mầm, lớn lên, ra hoa và kết quả. Giai đoạn này là quả đã hình thành. Vậy khi hai thành tố nhân, duyên đã tác thành theo đúng tiến độ, quả là điều chắc chắn sẽ xảy ra.

Trong giáo nghĩa của Phật giáo, nhân quả là một lý luận cơ bản để giải, thuyết minh các vấn đề nhân sinh và vũ trụ. “ Trong sự hình thành của tất cả các pháp thì nhân là năng sinh, còn quả là sở sinh, tức pháp nào có khả năng sinh ra kết quả là nhân, còn pháp nào từ nhân sinh ra là quả” (3).

Tính chất diễn biến của nhân quả vô cùng phức tạp. Tương quan giữa chúng có các đặc tính cơ bản như: nhân nào quả ấy; một nhân không thể sinh ra quả; tuỳ thuộc vào sự sai khác của nhân, duyên mà kết quả thành hình nhanh hay chậm…

Phẩm Hạt Muối thuộc kinh Trung Bộ Tăng Chi 1, đức Phật dạy như sau: “Ở đây này các Tỳ-kheo, có người thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, hạn hẹp, tư ngã nhỏ nhen, sống chịu khổ ít ỏi. Người như vậy, này các Tỳ-kheo, làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ấy đưa người ấy vào địa ngục”.

“Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người thân được tu tập, giới được tu tập, tâm được tu tập, tuệ được tu tập, không có hạn hẹp, tư ngã to lớn, sống đời vô lượng. Người như vậy, này các tỳ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được ( trong đời sau), nói gì là nhiều” (4).

Như thế với người không tu tập giới, không tu tập tâm…sống đời hạn hẹp, tự ngã nhỏ nhen…Dù người ấy chỉ tạo nghiệp nhỏ, song chừng ấy nghiệp cũng đủ dẫn người ấy đi vào ác thú, đoạ xứ, địa ngục, luân hồi. Ngược lại với người có tu tập giới, có tu tập tâm…thì dù người ấy có tạo nghiệp nhỏ, nhưng sự chi phổi của nghiệp nhỏ ấy không đủ sức mạnh để đẩy người kia rơi vào cõi dữ, bởi người ấy có sự tu tập và chuyển hoá thân tâm, biết tạo tác nhân lành, biết quên mình để phụng sự và hy sinh cho tất cả.

Chỉ khi nào con người quán xuyến một cách tận tường về mọi vòng quay của bánh xe nhân quả, chừng ấy con người mới thôi làm điều bất thiện, sẽ tránh xa và từ bỏ con đường đưa đến đổ vỡ, sai lầm. Khi đó, các thiện pháp sẽ khởi sinh, con người sẽ an trú vào phạm hạnh, dõng mãnh, tinh tấn, kiên trì với cứu cánh phạm hạnh.

Nhưng khi chưa có khả năng để đạt tới những điều như vậy, chỉ cần mỗi người trong tất cả chúng ta có một cách nhìn căn bản về tiến trình nhân quả, cũng như hình thành những khái niệm hiểu biết cụ thể về chúng, thì thiết nghĩ, chúng ta sẽ tìm ra một phương hướng sống mới tích cực hơn, nhân bản hơn và có ý nghĩa thiết thực hơn cho chúng ta cũng như cho bao người xung quanh chúng ta nữa.

Hiểu về ý nghĩa nhân quả ở một mức độ nhất định, đủ làm hành trang quan yếu cho những ai muốn xây dựng và tái tạo một đời sống thiện phúc, an hoà, chúng ta tin tưởng với nhau, rồi đây, con người sẽ sống xứng đáng và tốt đẹp hơn những gì trước đó. Chỉ cần mọi người hội đủ một vài kiến thức cơ bản nhưng thiết thực của đường đi nhân quả, chắc chắn họ sẽ sáng suốt và minh mẫn nhiều hơn trong công việc quyết định đời sống của chính mình.

Xuất phát từ những suy nghĩ trên đây, chúng tôi có tham vọng muốn chia sẻ, giãi bày một vài hiểu biết nhỏ nhiệm của mình với mọi người về phạm trù nhân quả. Bằng những nhận định thô sơ, cạn cợt chúng tôi biết, nếu đem nhân quả ra phân tích, chia sẻ, thẩm xét…sẽ không thể đạt tới đỉnh điểm cuối cùng. Điều này phải đợi chờ vào những bậc thầy uyên thâm, thức giả.

Tuy nhiên, trong một chừng mực cho phép, chúng tôi cũng muốn nói lên những điều này thông qua tập sách những câu chuyện về nhân quả nhỏ bé của chúng tôi. Hẳn rằng người đọc cũng rất ngạc nhiên vì đây chỉ là quyển sách tập hợp một vài câu chuyện, mà không phải là một tập luật trình bày về đề tài nhân quả hay những điều khác có liên quan. Song dù những câu chuyện nhỏ thôi, nhưng nội dung bên trong lại bao hàm nhiều ngữ nghĩa vô cùng sâu sắc, làm cho người đọc một khi đã xem qua, phải lắng lòng chiêm nghiệm, suy tư và thẩm thấu được nhiều điều. Dĩ nhiên điều mong mỏi lớn nhất của chúng tôi, là quyển sách có thể tải tới người xem một thông điệp quan trọng, rằng gieo nhân xấu sẽ bị quả xấu, làm điều lành sẽ hưởng quả lành.

Quyển sách là một tập hợp, gom góp nhiểu câu chuyện nhỏ rải rác ở các nơi trong các ấn phảm văn hoá và phật giáo, các tạp chí văn hoá Phật học, các sử chuyện, những câu chuyện cổ, những mẩu chuyện dạy về phương châm sống, cách tu dưỡng thân tâm, nghệ thuật đối nhân xử thế cũng như các sách dạy làm người v.v…và chúng tôi có chắt chiu, cân phân, sàng lọc thật kỹ lưỡng. Sự tập hợp, sắp xếp một cách trật tự và logic ấy hi vọng người xem khi đọc qua, sẽ từng bước nắm vững các yếu điểm quan trọng trong từng câu chuyện cũng như ghi nhớ kỹ càng mọi tình huống diễn biến của nhân vật, đối tượng chính có tác dụng như chất xúc tác, làm cho ta nhìn lại chính mình.

Ấn loạt được quyển này, chúng tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc nhất của chúng tôi đến Thượng toạ Thích Chân Tính, viện chủ chùa Hoằng Pháp, Hoóc Môn, Thành Phố Hồ Chí Minh vì những khích lệ khả quan và tấm lòng từ kính của Thầy. Dù đã sống gần Thầy nhiều năm, song cho đến bay giờ, chúng tôi vẫn không thể cảm nghiệm hết được những chân tình mà Thầy luôn ưu ái, quan tâm dành cho chúng tôi, cũng như dành cho đại chúng.

Chúng tôi cũng xin ghi ơn một cố vấn đắc lực của ban văn hoá chùa Hoằng Pháp về các khâu tra cứu hay sưu lục những câu chuyện về nhân quả trong sách. Với chúng tôi sự trợ giúp này, quả thật vô cùng ý nghĩa.

Cuối cùng, chúng tôi xin tri ân tác giả của nhiều câu chuyện mà chúng tôi đã tìm tập, bởi đó là nền tảng đầu tiên dẫn đến sự ra đời của quyển sách này.

Chùa Hoằng Pháp,

Một đêm mưa tháng Tư

Thích Tâm Thuận kính bút

 

PHẬT NÓI KINH NHÂN QUẢ BA ĐỜI

 

Một hôm, Tôn giả A Nan Đà, ở trên hội Linh Sơn cùng với một ngàn hai trăm năm mươi đại Tỳ Kheo câu hội.

Khi ấy A Nan Đà Tôn giả, chắp tay đảnh lễ Phật, nhiễu quanh ba vòng, rồi quỳ xuống thưa thỉnh đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn rằng:

 “Bạch Thế Tôn! Đến thời mạt pháp, tất cả chúng sinh ở cõi Nam Diêm Phù Đề, nhiều kẻ sinh niệm chẳng lành, không kính Tam Bảo, không trọng cha mẹ, không có tam cang. Năm giềng rối loạn, nghèo khó, thấp hèn, sáu căn chẳng đủ, trọn ngày sát sinh hại mạng cho đến nghèo giàu sang hèn không đồng nhau. Do nhân duyên qủa báo gì khiến nên như thế?

Cúi xin đức Thế Tôn từ bi, vì chúng con giải thích mọi sự việc. Phật bảo A Nan cùng các đại đệ tử:! Lành thay! Lành thay! Các ông hãy lắng nghe! Ta sẽ vì các ông mà giải thích rành rẽ".

Tất cả nam nữ ở thế gian giàu sang hay nghèo hèn, chịu khổ vô cùng hoặc hưởng phước vô lượng đều do nhân duyên từ đời trước mà cảm qủa báo.

Cho nên tất cả chúng sinh, trước phải hiếu kính cha mẹ, kế đó phải tin trọng ngôi Tam Bảo, thứ ba nên bỏ giới sát mà phóng sinh, và thứ tư cần ăn chay bố thí mới có thể gieo giống ruộng phước về sau.

Phật liền nói bài kệ nhân qủa rằng:

Giàu sang đều bởi mạng
Đời trước có tu nhân
Ai thọ trì kinh nầy,
Đời đời hưởng phước lộc.
Thiện nam, tín nữ nghe ta nói:
Suy nhớ kinh Nhân Qủa ba đời
Nhân qủa ba đời việc chẳng nhỏ,
Phật nói lời Phật chớ chê khinh.


1. Đời nay làm quan do nhân gì?
Kiếp trước vàng ròng thếp tượng Phật
Đời nay hưởng phước bởi nhân xưa
Đai vàng, áo tía, cầu nơi Phật.
Vàng trang nghiêm Phật, trang nghiêm mình.
Làm đẹp Như Lai, đẹp từ thân.
Đừng bảo làm quan là chuyện dễ,
Không tu phước ấy đến từ đâu?


2. Cưỡi ngựa, ngồi kiệu do nhân gì?
Kiếp trước làm cầu, bồi đắp lộ.


3. Do nhân duyên gì mặc gấm vóc?
Đời trước thí áo giúp Tăng Ni.


4. Có ăn, có mặc do nhân gì?
Xưa giúp kẻ nghèo cho ăn uống.


5. Ăn mặc thiếu thốn bởi nhân chi?
Kiếp trước một nửa không xả thí.


6. Lầu cao nhà lớn do nhân gì?
Xưa lên chùa am cúng thí gạo.


7. Phước lộc đầy đủ cho nhân gì?
Xưa lập chùa am cất nhà mát (5)

 

8. Tướng mạo xinh đẹp do nhân gì?
Đời trước hoa tươi cúng dường Phật.


9. Thông minh trí tuệ do nhân gì?
Kiếp trước ăn chay, thường niệm Phật.


10. Người thấy vui mừng do nhân gì?
Xưa kết duyên lành cùng đại chúng.


11. Chồng vợ bền lâu do nhân gì?
Đời trước tràng phan nghiêm cúng Phật


12. Cha mẹ song toàn do nhân gì?
Đời trước kính trọng người cô độc.


13. Không cha mất mẹ do nhân gì?
Kiếp trước là người đánh bẫy chim.


14. Con cháu đông nhiều do nhân gì?
Đời trước mở lồng thả chim thú.


15. Nuôi con không được do nhân gì?
Xưa sinh con gái dìm cho chết? (6)


16. Đời nay không con do nhân gì?
Kiếp trước bẻ gãy hại trăm hoa.


17. Đời nay sống lâu do nhân gì?
Kiếp trước mua vật phóng sinh nhiều.


18. Đời nay mạng yểu do nhân gì?
Kiếp trước xẻ thịt giết chúng sinh.


19. Đời nay không vợ do nhân gì?
Kiếp trước tham mưu gian vợ người.


20. Đời nay ở góa do nhân gì?
Kiếp trước buông lung khinh rẻ chồng.


21. Làm thân tôi đòi do nhân gì?
Kiếp trước quên ơn cùng phụ nghĩa.


22. Đời nay mắt sáng do nhân gì?
Kiếp trước cúng dầu đốt đèn Phật.


23. Đời nay đui mù do nhân gì?
Kiếp trước chỉ đường chẳng phân minh.


24. Môi miệng sứt thiếu do nhân gì?
Kiếp trước thổi tắt đèn cúng Phật.


25. Đời nay câm điếc do nhân gì?
Xưa từng ác khẩu mắng cha mẹ.


26. Đời nay lưng gù cho nhân gì?
Kiếp trước chê cười người lễ Phật.


27. Tay bị cong quẹo do nhân gì?
Đời trước đều là người tạo nghiệp.


28. Chân bị co rút do nhân gì?
Kiếp trước ngăn đường đánh cướp người.


29. Làm thân trâu ngựa do nhân gì?
Xưa thiếu nợ người không chịu trả.


30. Đọa làm heo chó do nhân gì?
Kiếp trước lừa gạt phỉnh hại người.


31. Đời nay nhiều bệnh do nhân gì?
Xưa đem rượu thịt bày cúng Phật.


32. Đời nay không bệnh do nhân gì?
Xưa thí thuốc men cứu bệnh nhân.


33. Hằng bị lao tù do nhân gì?
Kiếp trước làm ác chẳng nhượng người.


34. Đời nay chết đói do nhân gì?
Kiếp trước thường lấp hang rắn chuột


35. Bị thuốc độc chết do nhân gì?
Kiếp trước đăng lưới giết hại cá.


36. Nổi trôi cơ khổ do nhân gì?
Ác tâm lấn hiếp mưu hại người.


37. Đời nay lùn bé do nhân gì?
Kiếp trước xem kinh để dưới đất. (7)


38. Nay thường thổ huyết do nhân gì?
Xưa ăn thịt rồi đi tụng kinh.


39. Đời nay ngu điếc do nhân gì?
Kiếp trước tụng kinh chẳng lắng nghe.


40. Ghẻ lác phong điên do nhân gì?
Xông hơi thịt cá trước bàn Phật.


41. Thân có mùi hôi do nhân gì?
Xưa bán hương thơm trọn dối gian.


42. Đời nay chết treo do nhân gì?
Kiếp trước đem dây săn bẫy thú.


43. Quan, qủa, cô độc do nhân gì?
Xưa thường ganh ghét hiềm mắng người.


44. Sét đánh lửa thiêu do nhân gì?
Cân non, già, thiếu lòng gian xảo.


45. Rắn cắn cọp ăn do nhân gì?
Kiếp trước gây oan tạo đối đầu.
Muôn việc mình làm lại mình chịu
Thọ khổ địa ngục oán trách ai?
Đừng nói nhân qủa người không thấy.
Xa trả con cháu, gần trả mình.


46. Chỉ nhìn trước mắt người hưởng phước.
Sẽ tin bố thí với trì trai.
Kiếp trước tu nhân nay hưởng qủa.
Đời nầy tu tích để về sau.
Nếu ai hủy báng kinh Nhân Qủa
Kiếp sau đọa lạc mất thân người.
Kẻ nào thọ trì kinh Nhân Qủa.
Chư Phật, Bồ Tát đều chứng minh.
Kẻ nào biên chép kinh Nhân Qủa,
Truyền đời tu học đạo nhà hưng.
Ai mà mang đội kinh Nhân Qủa,
Tai hung hoạnh họa chẳng vào thân.
Nếu người giản nói kinh nhân qủa
Đời đời kiếp kiếp được thông minh
Kẻ nào đề xướng kinh Nhân Qủa
Đời sau người thấy sinh cung kính.
Người nào ấn tống kinh Nhân Qủa.
Kiếp sau sẽ được thân Đế Vương.
Theo Kinh Nhân Qủa hỏi đời trước.
Chính sự thọ hưởng của đời nay.
Theo Kinh Nhân Qủa hỏi đời sau.
Chính sự gây nhân của kiếp này,
Nếu như nhân qủa không cảm ứng,
Do đâu Mục Liên cứu được mẹ?
Người nào tin sâu kinh Nhân Qủa.
Đồng sinh Tây phương cõi Cực Lạc.
Nhân qủa ba đời nói không hết.
Thiên long chẳng bỏ ý người lành.
Nên ngôi Tam Bảo ruộng phước lớn,
Nhân tu tuy một, hưởng muôn ngàn.
Gởi kho bền chắc không hư mất,(8)
Nhiều đời thọ dụng phước vô cùng.
Muốn biết nhân đời trước,
Xem sự hưởng đời nay,
Muốn biết qủa đời sau,
Xem việc làm kiếp này.

 

CÔNG ĐỨC TRÌ GIỚI

 

Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện mà nhân dân đều quy y Tam Bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sinh, người uống rượu nấu rượu cũng không có.

Trong huyện, có một người con nhà dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi cha mẹ dặn cặn cẽ rằng:” Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn năm giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu mà phạm đến trọng giới của Phật”.

Người con vui vẻ ra đi, khi qua tới xứ khác vừa gặp người bạn đồng học, cùng nhau chuyện trò tâm đắc vui vẻ lắm. Bạn mời về nhà, đem rượu Bồ đào ra đãi. Người ấy tự cười nói rằng:” Nước tôi toàn giữ năm giới cấm của Phật, không một ai dám uống rượu, vì nếu uống rượu thì đời sau phải ngu si đần độn không thấy được Phật, không một ai dám uống rượu. Bây giờ tôi phạm giới cấm, thời trái mệnh lệnh của cha mẹ, tội ấy chẳng gì lớn bằng. Chúng ta là bạn tâm giao lâu ngày, được gặp nhau không gì mừng rỡ hơn nữa. Nhưng bạn chớ làm tôi phạm giới cấm của Phật và trái lời dạy của song thân tôi!”

Người bạn tiếp lời:” Chúng ta là bạn đồng học một thầy, coi như anh em ruột, cha mẹ tôi cũng như cha mẹ anh. Với cha mẹ. chúng ta có bổn phận kính thờ, không được trái mệnh. Nếu ở bên nhà anh thì phải tuân theo ý muốn của cha mẹ anh, nhưng nay anh ở nhà tôi nên tuỳ thuận theo ý của cha mẹ tôi mới phải!”.

Trước sự khẩn khoản của bạn, anh phải uống rượu, uống xong anh ta say luôn trong ba ngày không biết gì, khi tỉnh anh ta ăn năn và lo sợ vô cùng

Công việc xong, người ấy trở về nhà trình lỗi của mình cho cha mẹ rõ. Cha mẹ tức giận mắng rằng:” Ngươi trái lời ta, phạm cấm giới, thật là loạn pháp, không phải đứa con thảo”. Tự làm gương trước cho mọi người trong xứ, cha mẹ bèn thâu hết đồ đạc của đứa con, rồi đuổi ra khỏi nhà. Người con bị đuổi bèn đi qua nước khác, xin ở đậu trong một nhà. Chủ nhà ấy là người thờ phụng quỷ thần, thứ quỷ rất khôn ngoan, hay hiện ra thân người, ăn uống nói chuyện, chủ nhà hết lòng tin tưởng nó. Vì phải thờ phụng lâu năm mệt nhọc, của tiền hết sạch, trong nhà người đau chết xảy ra luôn, quỷ thần không cứu gì cả. Quỷ thần hiểu ý chủ nhà, liền bảo với nhau:” Nhà này của tiền hết sạch cũng chính vì ta. Đã lâu ta chưa làm được lợi ích gì cho chủ, nên chủ chán nản là phải lắm. Bây giờ chúng ta phải kiếm đồ trân bảo đem biếu chủ, để chủ vui lòng”. Nói rồi, cùng nhau đi lấy trộm vàng bạc, trong kho của nhà vua của nước khác, đem về giấu ở trong vườn rồi bảo rằng:” Ngươi có công nhọc, nay ta muốn ban phước cho ngươi được giàu có. Sau vườn nhà ngươi có một tráp vàng bạc, ta cho ngươi đó!”. Chủ nhà ra vườn tìm thấy tráp vàng, sung sướng lắm, sáng sớm thiết tiệc thật long trọng mời thần tạ ân.

Thần vừa đến cửa, thấy trong nhà có bóng người nước Xá Vệ, liền tránh không đi vào. Chủ nhà chạy theo cố mời lại. Thần trả lời:” trong nhà ngươi có vị tôn khách ta đâu dám vào”. Nói xong tỏ vẻ sợ hãi rồi bỏ chạy. Chủ nhà nghĩ trong nhà chỉ có một mình người khách này thôi, liền kính cẩn đến thưa rằng:” Xin mời ngài đến dự tiệc với chúng tôi cho vui”. Ăn uống xong chủ nhà hỏi vị tôn khách rằng:” Ngài có công đức mà vị thần của tôi thờ phụng sợ hãi Ngài mà phải trách đi?”.

Vị tôn khách trả lời:” Tôi chỉ có công đức thọ trì năm giới và mười điều thiện của đức Phật. Tôi vì phạm một giới uống rượu, bị cha mẹ đuổi qua trọ ở đây. Nhưng còn giữ được bốn giới nên thiên thần ủng hộ, còn thần của ngươi thờ phụng là thứ tà thần ác quỷ làm sao sánh kịp!”.

Chủ nhà thưa rằng:” Tôi thờ các vị thần đã lâu, không có ích lợi gì nên tôi chán qúa, mong Ngài hoan hỷ dạy cho!”. Nói rồi bèn theo vị tôn khách thọ trì Tam quy ngũ giới và pháp thập thiện. Thọ xong một lòng tinh tấn siêng năng phụng trì không hề huỷ phạm. Một hôm hỏi vị tôn khách rằng:” Đức Phật hiện nay ở đâu? Có thể đến yết kiến Ngài được không?”. Tôn khách trả lời:” Đức Phật hiện nay ở nước Xá Vệ trong vườn Cấp Cô Độc, qua đó sẽ yết kiến được Ngài”.

Nghe vậy, người chủ nhà rất sung sướng, quyết qua Xá Vệ để yết kiến Phật. Giữa đường trời tối ghé lại xin trọ một nhà thiếu nữ xinh đẹp. Thiếu nữ ấy chính là vợ của một con quỷ ăn thịt người. Thiếu nữ liền can rằng: “Ông chớ ở lại đây nên đi gấp tốt hơn”. Người ấy hỏi có gì nguy hiểm chăng? Thiếu nữ tỏ ý không bằng lòng nói rằng: “Tôi đã nói với ông như vậy, ông còn hỏi làm gì nữa”. Người kia tự nghĩ: “Người ở nước Xá Vệ chỉ giữ 4 giới của Phật còn khiến cho quỹ thần sợ hãi thay, huống chi ta đã thọ trì chắc chắn pháp Tam quy Ngũ giới và Thập thiện của Phật”. Nghĩ vậy, nhất định ở lại không chịu đi. Ðêm ấy con quỷ ăn thịt người về nhà thấy có khách oai thần và công đức trì giới nên phải lẩn quẫn ngoài hè, rồi đi trọ một đêm nơi nhà hàng xóm cách xa tới bốn mươi dặm. Sớm mai người ấy lên đường để qua Xá Vệ. Ra khỏi cửa ngỏ, thấy thây chết xương máu đầy đường, do quỷ ăn thịt người đã ăn xả.

Cảnh tượng ấy khiến người kia quá sợ hãi và hối hận rằng: “Nước ta sẵn đủ áo mặc, cơm ăn, nhà ở, không thiếu món chi ở trong nhà chẳng sướng hơn sao? Ta tưởng đến được yết kiến Phật và coi sự kỳ diệu của Ngài, ngờ đâu lại gặp hài cốt rùng rợn như vậy”. Nghĩ xong chàng sanh ác ý, trở về khuyên người thiếu nữ kia theo mình trở về nước, cùng nhau chung sống trăm năm. Khi về ngay nhà thiếu nữ xin ở lại. Thiếu phụ hỏi: “Sao ông phải trở lui vậy?”. Người kia đáp: “Hành kế không thành nên tôi phải trở lui, mong thiếu nữ cho tôi ở tạm một đêm”. Thiếu nữ nói: “Ông ở đây chắc chắn phải chết vì chồng tôi. Chồng tôi là quỷ ăn thịt người và sắp về đến. Ông nên đi gấp tốt hơn”. Người ấy không tin, năn nỉ xin ở lại cho được và trước sắp đẹp của thiếu nữ, người ấy khởi nhiều ý niệm không tốt đẹp, không còn tin pháp Tam quy Ngũ giới và thập thiện của Phật. Vị thiện thần hộ giới liền bỏ đi không ủng hộ cho người ấy nữa.

Quỷ ăn thịt người được dịp thuận tiện trở về. Thiếu phụ sợ chồng ăn thịt người kia tội nghiệp nên đem lòng thương hại, giấu người kia trong một cái lu. Quỉ bắt hơi người bảo vợ: “Mình có kiếm được thịt người phải không? Bây giờ ta thèm lắm”. Vợ trả lời: “Tôi không đi đâu cả làm chi có thịt, sao hôm qua không thấy anh về?”. Con quỷ nói: “Hôm qua trong nhà có vị Tôn khách nên ta phải đi tránh”. Người ở trong lu nghe vậy càng thêm sợ hãi, đến nỗi không nhớ gì đến pháp Tam qui Ngũ giới của mình thọ. Người vợ hỏi tiếp: “Vì lẽ gì anh không kiếm được thịt?”. Quỷ trả lời: “Vì trong nhà có đệ tử của Phật ở lại, nên thiên thần đuổi ta đi xa ngoài bốn mươi dặm, phải ngủ trống giữa trời một đêm rất là sợ hãi, đến bây giờ vẫn chưa hoàn hồn, cho nên không kiếm thịt được”. Người vợ nghe vậy rất mừng thầm, mới hỏi chồng làm thế nào được nghe và phụng trì giới cấm của Phật?”. Quỷ trả lời: “Bây giờ ta đói lắm, lấy thịt cho ta ăn đã, không nên hỏi việc ấy vội. Giới là pháp vô thượng chân chánh của Ðức Như Lai, ta đâu dám nói đến”. Người vợ cố năn nỉ: “Anh hãy vì tôi nói đi, tôi sẽ lấy thịt anh ăn”. Giống quỷ tham ăn đã sẵn, thèm ăn lắm, lại thêm vợ cố hỏi, buộc phải nói Tam quy Ngũ giới cho vợ nghe.

 

Pháp Tam quy là:

1/ Quy y Phật

2/ Quy y Pháp

3/ Quy y Tăng

Ngũ giới là:

1/ Không sát sinh

2/ Không trộm cắp

3/ Không tà dâm

4/ Không nói dối

5/ Không uống rượu.

Khi quỷ vừa nói giới đầu, người vợ nghe liền định tâm lĩnh thọ, lần lượt nói hết 5 giới, thì vợ quỷ rất sung sướng nhất tâm chấp trì, và miệng đọc tụng không nghỉ. Người dấu ở trong lu nghe lại được pháp Tam quy Ngũ giới rất lấy làm hổ thẹn và vui mừng, tự tâm lãnh thọ trở lại.

Thiên Ðế Thích biết hai người này đã phát tâm quy y Phật, thọ trì 5 giới, bèn lựa 50 vị thiên thần đến ủng hộ hai người ấy. Quỷ ăn thịt người sợ hãi phải trốn đi nơi khác.

Ðến sáng, vợ quỷ hỏi người dấu ở trong lu: “Những chuyện vừa qua ông có sợ không?”. Người kia trả lời: “Sợ lắm, nhưng được cái may là nhờ ơn ân giả, mà tôi ngày nay được hiểu biết oai thần và công đức giới pháp của Phật!”.

Vợ hỏi quỷ tiếp: “Hôm qua ông trở lui làm gì vậy?”.

- Vì tôi thấy hài cốt đầy đường nên quá sợ hãi phải trở lui.

Vợ quỷ mới nói rằng: “Hài cốt đó chính tôi bỏ đấy”. Tôi đây vốn con nhà lương thiện, không may bị quỷ bắt đem về làm vợ, tôi buồn khổ vô cùng, nhưng chẳng biết tỏ cùng ai. Nhờ ơn nhân giả tôi được thọ năm giới cấm của Phật và được xa lánh con quỷ ác độc này thật là hạnh phúc cho tôi. Bây giờ nhân giả còn đi đâu nữa?

- Tôi cần qua nước Xá Vệ đế yết kiến Phật. Thiếu nữ nghe lấy rất làm sung sướng khen rằng: “Hay lắm thay! Tôi sẽ về nhà đem cha mẹ tôi theo nhân giả đi yết kiến Phật”. Nói xong, cùng nhau lên đường. Ði được nữa đường thì gặp một đoàn 498 người ở bên nước Xá Vệ đi về. Người kia và thiếu nữ mới hỏi: “Các hiền giả đi đâu đông thế?”.

- Chúng tôi đi yết kiến Phật về đây.

- Chúng tôi sắp qua nước Xá Vệ, chúng tôi nhờ thọ trì Tam quy Ngũ giới và mười điều thiện của Phật nên mới thoát khỏi nạn quỷ ăn thịt. Nay chúng tôi muốn qua yết kiến để tạ ơn và nghe thuyết pháp. Các hiền giả được thấy Phật rồi còn đi đâu làm gì nữa?

- “Phật thuyết pháp suốt ngày, nhưng chúng tôi ngu độn chưa hiểu được rõ. Nay trở về nước được gặp hai hiền giả và được nghe hai hiền giả cho biết công đức của người trì giới pháp của Phật. Chúng tôi xin theo hai hiền giả trở lui một lần nữa để yết kiến Phật”.

Phật ở xa trông thấy đoàn người kéo đến liền mĩm cười chói tỏa hào quang năm sắc, tôn giả A-Nan liền bước ra quì sát đất, trong tâm nghĩ ngợi, chắc Phật sắp dạy điều gì đây.

Phật bảo A-Nan: “Ngươi có hiểu không, ngươi có thấy 498 người khi nãy trở về đây không?”.

A Nan thưa: “Bạch Ðức Thế Tôn, con có thấy”.

Ðức Phật thuật lại tất cả việc xảy ra và bảo: “498 người đó ngày nay đã gặp được thầy và đã được thấy Phật, rồi đây họ sẽ đắc đạo không lâu”.

Cả 500 người đến trước Phật đảnh lễ một cách rất thành kính và nhất tâm thính Pháp, mọi người đều được tâm ý thông suốt thành các bậc Sa môn và chứng được đạo quả A La Hán.

Phật dạy A-Nan và chúng hội rằng: “Các người nên biết người phạm giới kia với thiếu nữ vợ con quỷ ăn thịt người là anh em trong nhiều đời vậy. Hai người này đời trước chính là thầy của 498 người kia đó, chớ không phải ai xa lạ”.

Người đời phát tâm tu hành cầu đạo, thọ trì giới pháp, cần gặp được thầy hiền bạn tốt sự tu hành mới mong kết quả.

Phật dạy đến đây, các vị Tỳ kheo, 500 người ấy; và tất cả chúng hội đều sung sướng vui mừng, đảnh lễ Phật, và nguyện nhất tâm giữ gìn tịnh giới.

 

PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ NIỆM PHẬT CỨU CHỦ KHỎI ĐOẠ

(Trích trong Tục Tạng Kinh)

Thuở xưa, tại quận Ninh Ba có tên Trương Mân, cha mẹ khuất sớm, côi cút một mình, nương náu với bà con cho qua ngày tháng, sau đến làm mướn với người phú hộ ở cách làng, chuyên nghề bện dép lác.

Thường bữa sớm mai, chàng gánh giỏ đi cắt lác, hay đi ngang qua trước một cảnh chùa, nghe các sãi công phu, chuông trống inh ỏi. Lần nào chàng cũng để giỏ trước cửa chùa, vào xem một lát rồi mới đi.

Hòa thượng thường thấy như vậy, nên một bữa nọ,Ngài kêu chàng mà hỏi rằng: "Nhà ngươi muốn tu hay sao mà ngày nào cũng thấy đến đây?"

Trương Mân nghe Hòa thượng hỏi mấy lời, liền chấp tay thưa rằng: "Bạch thầy! Con muốn lắm, nhưng con là đứa ở đợ với người, không biết tính làm sao mà tu cho được".

Hòa thượng nói: "Hễ muốn là được, sự tu hành chẳng luận là chủ hay đầy tớ, và cũng chẳng cần người ở am tự hay kẻ tại gia , hễ có lòng thành thì gặp cảnh ngộ nào cũng tu được cả. Như nay ngươi đang ở đầy tớ cho người, nếu ngươi có chí muốn tu thì ta dạy một cách rất dễ dàng, miễn ngươi chí thành thì có hiệu nghiệm".

Trương Mân nghe nói rất mừng, liền quỳ xuống đảnh lễ mà thưa rằng: "Xin nhờ ơn thầy chỉ giáo dùm cho đề tử!".

Hòa thượng nói:"Ngươi cứ về tập ăn chay lần lần, trước ăn chay kỳ, sau sẽ ăn trường và giữ năm điều cấm cho tinh nghiêm , rồi cứ thường ngày niệm sáu chữ "Nam Mô A Di Đà Phật". Mỗi khi niệm Phật phải chuyên tâm chú ý, đừng cho xao lãng lúc nào, thì cả đời ngươi sẽ được bình yên, mà đến lúc lâm chung lại được siêu sinh về Tịnh độ nữa".

Trương Mân nghe sư ông dạy bảo mấy điều thì hết sức vui mừng, bèn bái tạ thầy rồi về nhà cứ y theo lời dạy, thành tâm phát nguyện ăn chay trường và mỗi bửa thường niệm Phật.

Chàng lại đan một cái giỏ bằng tre để trước mặt, mỗi khi niệm Phật một biến, thì ngắt một cọng lác bỏ vào giỏ ấy, như lần một hột chuỗi bồ đề vậy.

Mỗi khi cọng lác đầy giỏ, chàng liền xách đến chùa bạch cùng Hòa thượng, rồi đem ra trước bàn Địa Tạng vái đốt, cứ chi tâm làm như vậy được mười năm.

Một bữa nọ, ông chủ của Trương Mân bị đau chứng ung thư phát thối, người nhà đi tìm rước đủ lương y cứu chữa, nhưng bệnh đã không thuyên giảm chút nào mà càng ngày lại càng nặng.

Một hôm, ông nằm chiêm bao thấy quỷ sứ đến bắt ông dẫn về nơi Minh phủ, bị vua Diêm La quảo trách và kể hết những tội ác của ông khi ở trên dương thế.
Ông phú hộ nghe Diêm chúa tỏ hết tội của mình, không sót một khoảng nào, thì liền sợ hãi ,lạy lục và khóc lóc xin tha thứ cho về dương thế lo tu phước, hòng chuộc tội đã lỡ lầm.

Diêm chú thấy ông đã ăn năn tự hối và nghĩ đến Trương Mân mỗi khi niệm Phật có cầu nguyện cho ông, nên phán rằng: "Ngươi khi ở trên dương thế đã làm nhiều điều ác đức , cho vay đặt nợ một vốn năm bảy lời, lập mưu này bày kế nọ mà lo chứa tiền của cho nhiều , chẳng thương kẻ khó, lại làm nhiều sự ức hiếp cho người nghèo. Nếu chiếu theo luật Diêm đình mà phán xử, thì phải bỏ nhà người vào rừng kiếm non đao thì mới đáng. Nhưng vì ngươi có một đầy tớ tên là Trương Mân, rất trung tín không ai bì, thường bửa hay niệm Phật, lại có lòng cầu nguyện cho ngươi, nhờ vậy mà ngươi được giảm bớt tội. Nay ngươi nên đền ơn cho nó một ngàn nén bạc, để nó làm những điều từ thiện thì mới được tiêu tội và thêm phước cho ngươi!".

Ông phú hộ nghe vua Diêm la phán dạy như vậy thì mừng rỡ vô cùng, liền giật mình thức dậy . Ông bèn kêu tất cả vợ con đến và thuật lại điềm chiêm bao ấy thì cả nhà nghe nói đều lấy làm kỳ.

Ông bèn kêu Trương Mân nói rằng : "Con đến ở cùng ông đã lâu , không dè con có lòng chí thành , biết ăn chay niệm Phật đến nỗi cảm kích đến Diêm đình, lại thành tâm cầu nguyện cho cả nhà ông được thêm phước thọ. Nay ông còn sống trên dương thế cũng nhờ công đức của con, vậy ông cho con một ngàn nén bạc, tự ý con liệu việc gì làm có phước thiện, thì con lấy bạc ấy dùng !".

Trương Mân nói: "Thưa ông! Con vì nghèo cực, đến ở mướn cùng ông, manh áo bát cơm cũng nhờ ông bảo dưỡng. Con có chút công đức thì đâu xứng đáng cái ơn ấy mà ông cho bạc nhiều như thế! Con thưa thiệt cùng ông! Cách nay 10 năm, con có đến chùa gặp ngài Hòa thượng thương con, dạy cách ăn chay niệm Phật, nên con thành tâm tu niệm lâu ngày và thường cầu nguyện cho ông được phước thọ tăng long, để đền đáp lại ơn cao dày trong muôn một. Đó cũng là bổn phận của con phải làm.

Nếu ngày nay ông vâng lời Diêm vương cho tiền bạc, thì con biết để làm gì. Cha mẹ đã mất, vợ con cũng không nên con không dám nhận. Vậy con xin thưa lại cho ông rõ điều này: Nguyên ngày trước, con vào chùa thường nghe Hòa thượng giảng về sự tu phước và nói rằng việc lập chùa, đúc tượng Phật, bố thí cho kẻ nghèo đói và bắc cầu đắp lộ cho người đi, thì được nhiều phước đức. Con nghe nói cũng muốn làm, nhưng ngặc vì không tiền, nên không thể đạt kỳ sở nguyện. Thôi ngày nay số tiền ông hứa cho con đó, xin để lại lập một cảnh chùa, còn dư bao nhiêu thì ông bố thí cho dân nghèo trong làng và làm một cái cầu bắc ngang sông này cho hành khách qua lại để khỏi bị cái họa đắm đuối, thì con rất vui lòng !".

Ông phú hộ nghe mấy lời của Trương Mân xin, bèn thỉnh Hòa thượng đến chứng minh cho ông phát nguyện ở giữa Phật đài, rồi cách ít lâu bệnh ông lành như cũ.

Khi vừa mạnh, ông liền kêu thợ đến cất một cảnh chùa gần bên nhà ông , để cho Trương Mân ở tu hành, còn dư tiền bao nhiêu thì đem ra bố thí cho kẻ nghèo và bắt cầu đắp lộ, y như lời của ông đã nguyện .

 

Xét như chuyện niệm Phật của Trương Mân cứu chủ đã nói trên đó , thì biết pháp môn Tịnh độ dễ tu và dễ đặng, lợi cho mình và lợi cho người, thật là một pháp đứng đầu trong Phật pháp.

Nói về phần dễ tu dễ chứng, chẳng những người thượng trí tu được mà thôi, lại hạng người ngu cũng tu được nữa - chẳng những người giàu sang tu được mà thôi, lại hạng người nghèo hèn cũng tu được nữa - chẳng những người thông thả tu được mà thôi , lại hạng người bận việc cũng tu được nữa - chẳng những nhiều người xuất gia tu được mà thôi, lại hang người tu tại gia cũng tu được nữa .

Nếu đã tu được thì chắc rõ cái hiệu quả "Hiện tiền phước thọ, một hậu vãng sinh"quyết không sai chạy một mảy, dẫu cho người nào mỗi bữa niệm Phật mà tán tâm hay vọng tưởng đi nữa thì đời sau cũng được hưởng sự an lạc nơi cõi nhân thiên, chớ không bao giờ bị đọa.

Còn nói về phần lợi mình và lợi người, thì chẳng mình tự tu tự độ lấy mình mà thôi, đến khi người biết thể theo cái bi nguyện của Phật, Bồ tát, mỗi bữa sau khi niệm Phật, nếu chú nguyện cho cha mẹ, ông bà, họ hàng quyến thuộc đang hiện tại hay đã quá vãng rồi, thì phần mấy người đó sẽ được nhờ cái ảnh hưởng ấy, nếu sống thì thêm phước thêm duyên, nếu chết rồi thì cũng đặng siêu sinh về Phật quốc, Thiên đường là khác.

Bởi vậy, cho nên Trương Mân niệm Phật mà người chủ được tha tội hoàn hồn, thì đủ biết cái thần lực diệu dụng của Phật pháp thật là vô lượng vô biên.

Vậy xin ai là người đã có lòng tín ngưỡng theo pháp môn Tịnh độ, không nên lấy chỗ chưa nghe chưa thấy của mình mà cho là hoang đường, rồi khinh thị hai chữ "Niệm Phật" thì uổng lắm.

 

HIẾU THUẬN LÀ MẸ CÁI PHƯỚC HÒA BÌNH CỦA XÃ HỘI


(Trích diễn trong Tục Tạng Kinh)

"Hiếu vi bách hạnh chi tiên, vạn thiện chi bổn". Nghĩa là muôn lành trăm nết lấy hiếu làm đầu. Sách Phật, sách Nho cũng đều nói như vậy.

Từ xưa, vua như ông Đế Thuấn tạo nên đức nghiệp trùng ba, ông Hạ Võ lập thành công danh trị thủy, còn tôi như ông Dĩnh Khảo Thúc thức tỉnh lòng vua, vuông tròn con mẹ, ông Địch Nhân Kiệt văn hồi nghiệp chúa, phân biệt cháu cô. Hiệu quả của các ông ấy to tát biết mấy!

Song xét lại, nguyên nhân sở dĩ được hiệu quả to tác đó, là chẳng gốc cũng từ nơi chữ "Hiếu" sinh ra mới được như vậy.

Tức cha như ông Cô Tẩu thật đại ác, mà ông Thuấn nhờ hết lòng. Ông Cổn thật đại nghịch mà ông Võ chuộc được tội. Ông Khảo Thúc vì mẹ mà xin canh của vua. Ông Nhân Kiệt nhớ cha mà khóc mấy đầu núi.

Bởi mấy ông ấy có tính nết đại hiền như thế, nên đương thời một nhà vui vẻ, chín họ đề huề, ngoài thì bốn biển hoan nghinh, muôn dân ca tụng. Huống chẳng những vậy mà thôi, lại cảm tới trời đất quỷ thần là khác nữa, mây trinh năm vẻ, hoa trổ bốn mùa, non sông tỏ sắc hoan nghinh, mưa gió thuận chừng khí hậu, nhân dân mạnh khoẻ, tiền túc dinh cư, khoái lạc biết bao, hạnh phúc vô lượng.

Than ôi! Đương cái cơ hội hiểm nguy, thời gian khẩn khốn ngày nay, phải chi mà ai ai cũng dẹp bỏ cái lý thuyết "tự do bội nghịch" mà đào tạo môn phong thiện mỹ, thì thành tựu được tính cách thuần lương.

Hễ một người xướng tất có mười người họa theo, mười người xướng tất có trăm người họa theo, cho đến đa sso người xướng lên, thì tất cả cũng có vô lượng đa số người họa theo cả. Nếu phần xướng đã đông, phần hoạ đã nhiều, ai nấy chắc cũng biết thương cha mẹ, thương tộc đảng, thương bà con, châu truyền nơi lối gia môn, kính thuận trong hàng quyến thuộc. Nếu cơ quan lương mỹ trong gia đình đã vậy, thì có lẽ nào lại chẳng do đó mà phát sinh ra các vấn đề bảo chưởng, vận động các tư tưởng hoàn toàn kia.

Nếu đã vận động các tư tưởng hoàn hảo kia thì có lẽ nào lại chẳng sinh lòng bác ái, rộng lượng từ bi, giúp nước giúp dân mở mang trí hóa.

Nếu đã mở mang trí hóa thì đoàn thể nào chẳng thành lập, vận hội nào chẳng phát vinh, quốc độ nào lại chẳng có vẻ trang nghiêm tốt đẹp, cảnh phái hoạt phong quang, người người no đủ, xứ xứ an lành. Vì vậy nên ngu giả nói hiếu thuận là mẹ cái phước hòa bình xã hội.

Xưa nay, lý trong thế gian hễ có cảm thì có ứng, thiện cảm thì ứng những phước tường, ác cảm thì ứng những tai ương. Một nhà cảm thì ứng tại một nhà, một nước cảm thì ứng tại một nước. Cảm đâu ứng đó, quyết định không sai. Lẽ ấy rành rành ở trước mắt con người, nhưng tại người không xét mà thành không biết đó thôi!

Nay ngu giả dẫn một tích cổ nhân thuật lại như dưới đây cho đạo lưu rõ, trước là giải phiền trong lúc khủng hoảng này và sau cũng được ích lợi cho thân gia một ít.

Hồi đời nhà Minh ở quận Linh Lăng, làng Phú Mỹ, có một bà góa, người thường kêu là bà Mã Ổn, gia tư thường thường vừa đủ ăn mặc, có hai người con trai tên là Mã Văn và Mã Võ, bà đều cho ăn học. Ma văn sáng tánh, mau thông, khi mười hai tuổi đã đặng danh nơi làng uyển, còn Mã Võ tính bề học chậm, lui về lo việc làm ăn.

Một bữa kia, bà Mã Ổn bảo con là Mã Văn rằng: "Con ơi! Nay con đã lớn được mười bảy tuổi rồi, còn mẹ thì đã già yếu, vậy con hãy nghĩ học ít bữa, đặng ở nhà mà mẹ tính lo bề vợ cho con!"

Mã Văn nghe mẹ bảo vậy, bèn chấp tay quỳ gối khép nép mà thưa rằng: "Thưa mẹ! Mẹ dạy thì con đâu dám cãi lời, song con nghĩ phần con có ba điều chưa nên cưới vợ.

Một là dâu hiền khó kiếm, duyên nợ biết đâu, nếu may gặp phải duyên lành chẳng nói gì, còn như chẳng may mà gặp phải chẳng lành, bất hiếu bất thuận, lỗi đạo trái nghì, thì con e chỉ thêm những điều phiền não cho mẹ chăng ?

Hai là ơn đức của mẹ chẳng khác trời cao đất rộng, thẳm thẳm vơi vơi, khi còn còn ở trong lòng thì mẹ mang nặng đẻ đau, khi ra khỏi lòng thì ẵm bồng, cho ăn cho bú, chịu nhơ chịu nhớp, cam cực đủ bề. Lại từ khi con lớn đến nay, phần lo cơm lo áo cho con ăn học, phần lo ơn thầy nghĩa bạn cho con, nỗi khổ của mẹ đã không biết bao nhiêu, thế mà nay lại còn tính bề gia thất cho con nữa.

Mẹ ơi! Con xét bổn phận con hiếu thảo chưa đền, hổ thẹn đã không biết mấy, còn mẹ ngày thêm già yếu, con nỡ nào đề cho mẹ hao tổn tinh thần, chăm lo cho phần con như vậy.

Ba là con đã sinh là nam nhi, đứng làm phận râu mày, thì cũng phải lo làm sao cho được rạng danh đối với giang san, dệt hoa thêu gấm, dậy gió phun mưa, làm nước nhà được thái bình treo gương cho nhân quần, xã hội. Vậy mới khỏi phụ cái chí anh hung, để lại danh thơm cho cha mẹ trong muôn thuở.

Đó là điều cần yếu thứ nhất, chớ như việc cưới vợ đâu có gấp gì, tưởng sau khi công thành danh toại rồi, cưới cũng không muộn chi, xin mẹ khoan lo vợ cho con đã!"

Bà Mã Ổn nghe nói nổi giận, đỏ mày trợn mắt, la quở om xòm, kêu Mã Văn nói rằng: "Văn! Nay mẹ đã già rồi, mẹ biểu con chi con phải nghe theo, chớ nên cãi. Mẹ hỏi con nay mẹ đã gần đất xa trời, con và em con là thằng Võ, hai đứa đã to ầm lớn đại rồi , mà không lo cưới vợ cho con và em con, để về giúp công chuyện nhà thay tay đỡ việc cho mẹ. Chắc là con ưng để cho mẹ cứ giữ lo trong ngoài, giã gạo, xay lúa, lo xách nước, nấu cơm, quét nhà, hốt bếp hoài hay sao, hả Văn? Còn đến khi mẹ đau ốm, ai giặt quần giặt áo, ai miếng mặn miếng lạt cho mẹ? Chảng lẽ con ra làm đặng mấy chuyện đó, vậy có phải là con hại mẹ hay không, hỡi Văn?"

Mã Văn nghe mẹ rầy, sợ khóc kể, lạy cố mạng mà thưa rằng: "Lạy mẹ, xin mẹ bớt giận, để con thưa lại cho mẹ nghe  Trong ý con thấy nhà mình nghèo, tiền gạo không có, sợ mẹ lo hóa ra đau ốm , nên con thưa như vậy, chớ con đâu dám cãi mẹ. Xin mẹ tha lỗi cho con một phen, từ rày về sau , mẹ bảo sao thì con vâng theo vậy, chớ con không dám cãi nữa !"

Ma Văn thưa thốt một hồi lâu, nên bà mới hết giận, rồi liền bảo Mã Văn rằng: "Các thầy bói, thầy quẻ nói mẹ có số nhờ Phật , bảo mẹ thường niệm Quán Âm Bồ Tát sẽ được phò hộ, nên mẹ cứ niệm vái Phật Quán Thế Âm Bồ Tát hoài, cầu cho mẹ gặp con dâu hiền vừa ý ."

Quả nhiên hôm trước đây mẹ nằm chiêm bao thấy có một Bà hình dung nghiêm nghị, đầu đội hoa quang , mình mặc áo vàng, chân đứng trên bông sen, kêu mẹ mà dạy rằng:"Có một đứa con gái nay mười lăm tuổi, con nhà họ Đào, tên San Hô, ở làng Phước Khê cách đây mười hai dặm. Con ấy có duyên với đôi lứa với cháu Mã Văn, vậy con phải qua mau mà cưới nó".

Mới nghe tới đó thì mẹ liền giật mình thức dậy, mẹ biết chắc rằng Phật Quán Âm mách bảo cho mẹ

.Mẹ đã mượn mai dong qua làng Phước Khê hỏi thăm, thì quả có Đảo San Hô, phong tư yểu điệu, công hạnh vẹn toàn. Nhà ấy cũng lễ nghĩa, mẹ đã tương lễ cầu hôn rồi, định ngày mùng chín tháng này nạp lễ thân nghinh, nay còn cách đó năm này nữa thì tới rồi, con phải sửa soạn đặng đặng lo đi làm rể!"

 Mã Văn nghe mẹ hối thúc liền đứng dậy lui ra, dọn sửa nhà cửa, sắp đặt các việc tử tế. Đến ngày mùng chín, chàng phụng sính nghi qua nhà họ Đào, điện thành thân, rồi rước thẳng về nhà yết kiến ông bà, sau ra mắt mẹ và tiếp làm lễ hiệp cẩn luôn trong ngày ấy.

Đẹp đẽ thay! Lạ lùng thay! Trai tài gái sắc, trời đất khéo xây, cung quế non hồng, thần tiên cũng thế! Từ khi hai bên hiệp mặt, đẹp phận xướng tùy, một chữ đồng tâm, thề cùng non nước.

Thiên hạ thấy vậy, ai chẳng tưởng rằng vợ chồng của Mã Văn trăm năm tơ tóc, gắn chặt keo sơn, dè đâu con tạo trớ trêu, chia loan rẽ phụng , hoan cuộc thành ra bi cuộc, thiện duyên đổi lại ác duyên, dâu biển đa đoan, khiến người bực tức, mà buồn bực cho cái cảnh huống sau đây .

Nhắc lại từ khi San Hô về làm dâu, trong một năm đầu, mẹ con hòa nhã, vợ chồng vui vầy, như cá nước duyên ưa, rồng mây hội hiệp. Đó là thuận cảnh phải rồi.

Kế đến năm sau, chẳng biết duyên cớ làm sao mà bà Mã Ổn khởi lòng ác cảm, ghét nàng dâu như ghét người thù, thấy nàng bận áo quần lành lẽ, thì mắng là đồ bán hình bán dạng, thấy nàng bận quần áo rách rưới, thì mắng là đồ mọi làm sự trêu người.

Cơm của nàng nấu, dầu chín bà cũng cho là sống, canh của nàng nêm, dù ngon bà cũng cho là dở, nhà cửa nàng quét, dầu sạch bà cũng cho là dơ, nín thì bà rầy là câm, nói thì bà cũng quở là lẳng, đi đứng cũng bắt lỗi, khóc cười cũng có tội , thậm chí thấy bóng hay nghe tiếng của nàng cũng ghét, không có một chuyện gì là không ghét .

Một năm mười hai tháng, một thánh ba mươi ngày, một ngày mười hai giờ, không có thời gian nào cho khỏi bà đánh bà chửi, bà rủa bà kêu bà réo: "Ba hồn chín vía , hồn khôn vía dại, hồn dài vía ngắn, San Hô hỡi, San Hô ơi! "Đó là phần mẹ chồng khắc bạc nàng dâu.

Còn chồng của nàng là Mã Văn, tuy không có lòng ghét nàng, nhưng thấy mẹ không thương, thì chàng cũng không dám tưởng đến.

Vợ chồng ở chung một nhà, mà vợ không dám ngó chồng, chồng không dám nhìn vợ, không khi nào dám ngồi chung một chiếu, giao ngôn một lời. Vậy mà bà những còn mắng nhiếc Mã Văn cưng vợ, một cũng bảo bỏ đi , hai cũng bảo bỏ đi , cứ hối Mã Văn viết tờ ly thân hoài.

 Chàng không biết liệu làm sao, nếu thuận theo ý mẹ mà để nàng San Hô, thì nàng vẫn vô tội, lấy cớ gì mà để. Còn nếu chẳng đuổi nàng, thì trái ý mẹ, sợ mang tiếng bất hiếu. Chàng nghĩ đi nghĩ lại, chẳng biết tính làm sao, bèn liều mạng lạy mẹ mà thưa rằng: "Thưa mẹ, con San Hô nó dại, nó ở không vừa ý mẹ, nên mẹ biểu con đuổi nó vẫn đành, song còn nghĩ nếu đuổi nó, thì mẹ lại lo cưới đứa khác cho con, thành ra mẹ khổ nữa, vì mẹ cứ lo hoài .

Huống chi cưới đứa khác mà rủi nó cũng dại như con San Hô nữa, thì mới tính làm sao? Nếu đuổi nữa thì mang tiếng với đời, còn không đuổi thì cực lòng mẹ. Vậy xin mẹ lượng lại, chớ ý con muốn mẹ bỏ bỏ hắt nó đi, coi nó cũng như đứa đầy tớ, đừng tưởng nó là dâu là con chi nữa, để nó ở vòng ngoài, sai nó dọn dẹp chuyện này chuyện kia đặng cho mẹ thong thả cũng được. Vậy con không biết mẹ có bằng lòng hay không?"

Bà nói: "Ờ thằng này nó tiếc con vợ nó! Nó cãi tao, nó không chịu để!Văn mày có tiếc con vợ của mày thì mày giết tao đi, rồi mày sẽ ở với nó, mày thờ nó làm mẹ mày, nghe không Văn!"

Mã Văn nghe nói bấy nhiêu lời như búa đánh trên đầu, dao găm vào dạ, lập tức viết tờ ly dị để liền, rồi biểu nàng San Hô ký tên.

Thảm thay! Nàng thật là một người nữ lưu đúng đắn, phụ đạo hoàn toàn, trong sự làm dâu của nàng gặp cái hoàn cảnh mẹ ghẻ chồng xa nhưng nàng vẫn giữ phận làm dâu, không có chút gì hờn giận. Mẹ rầy nhà trên, thì nàng xuống nhà dưới, mẹ la trước cửa, thì nàng bước cửa sau, mỗi bữa gà gáy lo thức dậy trước, dâng nước thau , nước bát cho mẹ, sáng ra lo quét nhà , nấu cơm , chịu đủ trăm bề khổ cực, chiều theo ý mẹ chồng .

Phần thì lo chấp gai dệt bả, phần thì lo đơm ông quảy bả, phần thì lo phụng dưỡng mẹ già, phần thì lo sự chồng ăn học, thân gầy tợ hạc, xương ốm như mai, thế mà không biết vì sao mà mẹ nỡ không thương cho đành, làm cho nàng tủi phận liễu bồ, buồn duyên tơ tóc, đêm năm canh trằn trọc, lụy ứa thâm bâu, ngày sáu khắc ưu phiền, ruột đau từ đoạn.

Có một đôi khi, chị em gái thấy vậy tức tối mà bày cho nàng rằng: "Chị ơi, chị không nghe lời tục của người ta nói như vầy hay sao: Thương chồng phải lụy mụ già, gẫm tôi với mụ không bà con chi. Nay chị đã hết sức chiều lụy, vậy cũng đủ tỏ cái ý thương chồng rồi, mà người không biết thương, tay đánh miệng chửi, hành hạ quá tôi tớ như vậy, thì còn tình nghĩa gì mà chị không tính ra khỏi cửa thứ mười cho rồi, để một mai lâm cơn nguy hiểm thế nào, có phải là thiệt thân hay không".

Bạn gái của nàng bày như vậy mà nàng đáp lại rằng: "chị em ơi , con gái mười hai bến nước, gặp sao phải chịu vậy, trốn sao khỏi lưới trời! Huống chi chỉ mẹ tôi mà không thương tôi là cũng tại tôi ngu dại, không biết phận làm con, ở không vừa lòng mẹ, đến nỗi mẹ mệt ý giận hờn, chồng xót cơn phiền não, tội tôi lớn không biết mấy, đâu dám trách mẹ và chồng tôi.

Đến như tôi hết lòng chiều luỵ theo mẹ và chồng, giữ đạo cang thường cho trọn bề hiếu thuận. Tôi nguyện làm sao tròn nghĩa vụ đối cùng trời đất quỷ thần, không một chút gì hổ thẹn thì tôi mới ưng. Vì dầu gặp cơn sấm sét, thịt nát xương tan, thì tôi cũng tưởng là vậy mới đủ chuộc cái lỗi dại dột của tôi, chớ dám đâu ngậm oán cưu hờn mà toan làm sự trái bề luân lý! Nay chị em thương mà dạy làm như vậy, tôi cám ơn nhưng thiệt không dám vâng lời !"

Đoạn này nhắc lại, trong khi Mã Văn đuổi nàng San Hô, vừa ra khỏi cửa thì nàng sửng sốt như đứa mất hồn, chết xỉu một hồi rồi mới tỉnh lại, khóc và lạy như cần cối đạp, xin làm thân tôi tớ, hầu mẹ hầu chồng, trước là nhờ cái bóng trường tùng trăm thước che đậy tấm thân, sau nữa gởi tấm xương thịt mồ côi cho được mồ phần ấm cúng mà thôi, chớ không dám hy vọng những điều chi khác cả.

Thương hại thay cái tình cảnh ấy, cái thảm trạng ấy, dầu cho trời đất cũng phải động tâm , gan sắt dạ đồng cũng phải rơi lụy. Thế mà nàng khóc chi thì khóc, nói chi thì nói, bà Mã Ổn cũng nằng nặc quyết đuổi mà thôi.

Đến nước đó nàng không biết làm sao, bất dĩ phải cuối đầu bái biệt, lạy tạ mẹ chồng, ráng ôm cái gan ruột nát bầm, một bước một đau, lần hồi có hơn một giờ mới ra khỏi ngõ, thì bà hối Mã Văn đóng cửa liền, không cho trở lại .

Khi ấy nàng tự nghĩ rằng:"Bây giờ mình biết đi đâu đây, nếu về quê cha mẹ thì một là cha mẹ phiền lòng, hai là anh em khinh bạc, và ba là bất miễn ép gả lấy chồng khác.

Nếu lấy chồng thì thất tiết, sao gọi là liệt nữ trinh thê. Thôi thời chết cho rồi, chết tại đây là quê kiểng của chồng, chẳng hơn bỏ thây nơi xứ khác hay sao ? Lại huống chi tiện bề khuya sớm vãng lai, đem hồn vía mà bảo hộ cho mẹ và chồng mình, đặng mạnh giỏi là khác nữa".

Nàng nghĩ như vậy, rồi lấy cái dao nhỏ mà tự vận liền. Khi nàng tự vận rồi thì hồn của nàng đương phiêu phiêu lạc lạc, chợt đâu thấy có một Bà đứng trên mây, sen vàng đỡ gót, lọng bào che đầu, tư cách yêu kiều dường như Tiên phi Thánh nữ , bèn kêu nàng mà bảo rằng: "San Hô con ơi , con vội gì mà hủy thân như vậy, bởi con không biết cái nợ nần túc thế của con, nên để Bà thuật lại cho con nghe .

Nguyên kiếp trước, con làm một người danh sĩ, tên là Phan Đức Tuấn, phong lưu sung sướng đủ bề, có kết duyên cùng một gái thanh xuân tên là Kiều Phi Nga, hẹn non thề nước, tính đã năm năm, sau con bị lãng chơi theo miền tuyết nguyệt phong ba , mà quên phứt cái lời giao ước ngày xưa, đành để cho hoa sầu trăng tủi, đã hẹn lâu mới đặng đoàn viên như cũ, mà chung hưởng cái phước tồn vinh. Đó là một kiếp.

Còn một kiếp nữa thân con là gái, tên là Phạm Ngọc Hà, cũng hơn trai tài gái sắc, cũng đủ sức giàu sang, nô bộc tuy đông mà chỉ có một con nữ tỳ là ruột và yêu mến. Vì con ấy đã khôn lại giỏi, nên chi thương nó có phần hơn hết, thầy trò tương đắc được hơn một mùa thu, phúc đâu con tớ ấy bị đau hơn nửa năm, mê man tràn tịch, hơi hám thúi hôi, nàng Ngọc Hà khởi lòng bất lương, đã gớm lại ghét, đuổi quyết một bề. Con tớ ấy lạy khóc thế nào cũng không nuôi nữa. Đến sau, con tớ ấy may được lành mạnh, trở lại xin ở với Ngọc Hà, thì Ngọc Hà mới thương lại như cũ.

Con ơi, cái nhân duyên ấy con có nhớ được hay không?

Trước kia Bà nói một gái thanh xuân Kiều Phị Nga đó tức là Mã Văn, chồng của con ngày nay, và đứa tớ gái đau mà bị đuổi đó tức là mẹ chồng của con ngày nay. Còn Phan Đức Tuấn và Phạm Ngọc Hà tức là ngày nay thân của con đó. Bởi kiếp xa xưa con có nợ nần như vậy, nên kiếp này con phải chịu đền bù.

Con ơi, đó là túc trái tiền khiên của con, nhưng nay con trả cũng gần xong rồi, huống chi cái lòng hiếu thuận của con cảm tới Trời Phật quỷ thần, thế nào sau này chắc cũng có ngày tái hiệp, mẹ con hòa thuận, chồng vợ sum vầy, cái vẻ lạc quan còn hơn trước nhiều nữa .

Thôi, bây giờ Bà cho con hườn hồn nhập xác, kiếm chỗ mà thuê thân, để chờ ngày bỉ cực thới lai, rồi bà sẽ giúp gió giùm duyên cho con nữa".

 Khi nàng nghe mấy lời thì nàng biết là Đức Phật mách bảo, bèn cất đầu ngửa mặt lên khoảng hư không bái tạ, mà thưa rằng: "Bẩm Bà! Như cái thân con ngày nay linh đinh cô khổ, biết đâu mà gởi gió bèo mây, vậy xin Bà mở lượng từ bi, chì giùm chỗ thuê thác cho con, thì con mới biết đường tấn thối, khỏi sa sụp vào chốn hiểm nguy. Nếu Bà chẳng chỉ thì thôi, xin đừng hoàn hồn cho con làm chi mà khổ cái thân con nữa tội nghiệp!"

 Nàng thưa như vậy rồi, liền nghe lời đáp lại rằng: "Con ơi! Chồng của con có một người dì tên là Châu Thị, ở làng Cẩm Xuyên, cách đây ước chừng tám dặm ngoài. Bà ấy vẫn là người hiền, con nên đến đó mà nương náu cho qua ngày, đợi trong một vài năm sẽ có cơ hội. Còn nhà mẹ chồng của con rồi đây sẽ gặp một nợ oan gia làm hại rất nguy hiểm. Thôi con mau tỉnh lại đi !"

Lời dặn của Đức Phật vừa dứt thì nàng lần lần tỉnh lại, ngồi dậy định thần một đỗi mới biết là mình hoàn hồn. Nàng thấy máu vấy cùng mình, lấy tay rờ vào chỗ tự vận nơi yết hầu thì đã lành như cũ, bèn như lời dặn trong lúc ly hồn, hỏi thăm làng Cẩm Xuyên lần dời bước.

Vả chăng cái nẻo lộ Cẩm xuyên tuy gần, song vì suối rừng cách trở, nhiều chặng gay go, còn nàng phần đói, phần thì rầu , nhớ mẹ thương chồng, đau lòng ly biệt, tinh thần bải hoải, xương thịt rã rời, muốn đi mà không đi nổi, muốn nghỉ mà nghỉ không nơi. Đường tối quanh co, tiếng hùm vang dậy, chồi sương lợt đợt, bóng nguyệt mơ màng, canh khuya thân gái một mình, chân dò đá, tay vịn cây, lần mò trong hố thẳm rừng sâu, không biết là bao nhiêu gian nan thống khổ. Nàng đi từ xế bữa trước đến chiều ngày sau, mới tời nhà người dì chồng là bà Châu Thị. Khi nàng bước vào cửa thì bà quên, bèn hỏi nàng ở đâu tới có việc gì.

Nàng thưa rằng: "Con tên là San Hô, vợ của Mã Văn và dâu của bà Mã Ổn".

Bà Châu Thị liền nói: "Ờ, con tên là San Hô, vợ của cháu Mã Văn. Vậy dì tưởng ai đâu lạ chớ . Tại sao con nay ốm lắm vậy. Chớ con qua đây có việc gì không mà đi coi khổ cực lắm thế !"

Nàng bèn quỳ xuống lạy bà Châu Thị mà thưa trần rằng: "Thưa dì! Hôm nay con phải bước lưu ly như thế này là tự tại tánh nết bình sinh của con vụng về dại dột, đã kém nghĩ hiếu nghĩa và lại thiếu hạnh tảo tần, vì vậy cho nên mẹ và chồng của con phải y theo trong "lễ bảy điều xuất" mà đuổi con.

Dì ôi! Như thân con ngày nay bị đuổi đã đành rồi, con đâu dám than trời trách đất, nhưng ngặt vì tông tích của con chẳng còn một người nào, không khác như bèo trên mặt biển, trôi nổi dòng sông, minh minh trời rộng đất dài, nhà cửa và xứ sở cxung không, chẳng biết nương dựa vào đâu đặng tạm gởi cái thân tấc bóng phù du trong một lúc.

Bởi vậy nên con bất đắc dĩ phải trèo non lội nước qua đến đây, lạy dì xin cho tá túc một đôi năm, sống thác cũng nhờ dì,dẫu kết cỏ ngậm vành, con cũng nguyền báo đáp ơn của dì che chở cho. Nhưng không biết dì có bằng lòng dung nạp được hay không?"

Bà Châu Thị nghe rồi bèn nói rằng: "Con ơi! Cơ sự đó dì nghe qua thì đủ biết mẹ chồng của con tâm tánh không được từ hòa, dầu cho con có khôn giỏi cách nào, chắc cũng không ở được. Thôi, con đừng sợ, cứ an tâm ở đây với dì, không sao mà ngại".

Từ lúc nàng San Hô ở yên tại nhà bà Châu Thị , làm thuê làm mướn , ăn bữa đói bữa no, may thay bà Châu Thị thương nàng cũng như con ruột, trót hai năm trường không có tiếng gì quở trách đến nàng cả.

Đọa này nói qua chuyện bà Mã Ổn , từ khi đuổi nàng San Hô đi rồi, liền sắm lễ vật đi cưới vợ cho Mã Võ là em của Mã Văn .

Nguyên vợ của Mã Võ là con nhà họ Lâm tên là Túy Hoa, ở làng Đông Hồ , hình dung xấu xa , đã mập lại lùn , đã rỗ lại đen , bộ tịch dị kỳ như con quỷ dạ xoa , gia đình tánh tình hung ác , ngỗ nghịch không biết nể ai.

Từ ngày về làm dâu bà Mã Ổn, trong một vài tháng đầu thì còn khá, qua đến mấy tháng sau thì nàng đã tỏ lần cái thủ đoạn cao cường của nàng ra, muốn đánh chồng chừng nào thì đánh, muốn mắng mẹ hồi nào thì mắng, vui thì cho ăn chơi, buồn thì nàng tự ăn một mình, không cho ai ăn hết. Nhiều khi bà bà Mã Ổn và Mã Văn, Mã Võ cứ bị nàng bỏ đói hoài.

Lại thường nàng để cho mẹ chồng hay là anh chồng nấu cơm, quét nhà, xay lúa, giã gạo, làm đủ mọi sự nhọc nhằn. Còn nàng thì ăn chơi, nhỏng nhẻo, nằm xuống nằm lên, không làm việc chi hết, mà hễ có ai nói động tới nàng một tiếng thì nàng đã xách dao đòi giết hết cả nhà, kêu chồng nàng bằng thằng nọ thằng kia, kêu mẹ bằng con nọ con kia, ngang ngược phi thường, ví như ai dựng đầu xuống đất chổng cẳng lên trời tàn bạo thế nào cũng phải hỏi thăm Túy Hoa mà học thêm cái dữ của nó một chút nữa mới đúng.

Thương hại cho bà Mã Ổn! Không biết cái oai phong của bà khi trước đối với nàng San Hô oanh oanh liệt liệt đó mà nay cất vào chỗ nào, không thấy đem ra đối với con Túy Hoa , thi hành lấy một chút xíu gì thử coi, để đến nỗi bầm đầu trít tai mà lòn cuối dưới cái quyền la chửi của nó.

Thảm thay Quần áo rách lang thang mà không có tấm giẻ vá, nước miếng nhiễu lợt đợt mà không có một vật ăn!

Mẹ con cứ lén nói trộm khóc thầm, cấp kỳ nghe nó tằng hắng hay là ho, thì đã lật đật lau chùi nước mắt, ngậm miệng nín khe, lo ra mà giữ làm công chuyện, cũng nước thau nước bát, cũng giặt áo giặt quần, nó sai việc gì cũng phải tuân theo, chớ không dám trái lệnh .

Than ôi! Sự đời hễ có vai thì có trả, quả báo rõ ràng như vậy, thiệt nên gớm ghê!

Đoạn này nhắc lại nàng San Hô, từ khi qua ở nơi nhà bà Châu Thị, may thuê dệt mướn, ăn nhín nhịn thèm, góp góp có dư được đồng nào, thì mua thịt cá hay là bánh trái chi đó, cậy bà Châu Thị gởi giùm cho mẹ chồng , mỗi tháng có ít cũng vài ba lần , mà mỗi một lần gởi thì thì nàng thưa với bà Châu Thị rằng: "Nếu mẹ con có hỏi, thì xin dì dặn người đem đồ ăn đó nói của dâu dì gởi cho, chớ đừng nói của con, sợ mẹ con giận mà không ăn".

Bà Mã Ổn bị cái nạn con Túy Hoa khắc bạc làm cho thèm khác lâu ngày, nên mỗi lần được ăn đồ ăn bên người chik đem qua, thì vừa mừng vừa khóc, mẹ con bưng giấu, chờ tới đêm khuya mới dám ăn, vì sợ nó thấy nó đánh. Bởi vậy nên ba mẹ con hằng ngày cứ khen trộm dâu của bà Châu Thị ở thiệt có đức, và lại cám ơn hoài hoài.

Có một bửa Mã Văn qua làng Cẩm Xuyên mà thăm dì và mượn ít tiền về hộ thân, không ngờ đến đó, dì cháu trò chuyện và cớm nước xong rồi, thì Mã Văn thưa về. Mới vừa bước ra khỏi cửa thì nàng San Hô đón lại, ôm chàng ngang bụng, khóc tấm tức tấm tưởi mà hỏi rằng: "Em tội gì, mà mẹ đuổi xua, mình đành khiến cho em lưu ly thất sở như vầy, xin mình tỏ thiệt một lời cho em biết!"

Mã Văn nghẹn miệng không ngỏ ra lời, túng nước phải xô mạnh nàng ra, rồi chạy tuốt một hơi về đến nhà, nhưng cũng giấu luôn, chớ không dám hở môi cho mẹ biết.

Kể từ ngày nhà họ Mã gặp tai áp chế đến nay gần được hai năm, bất ngờ bà Mã Ổn lâm bệnh, bà Châu Thị hay tin qua thăm.

Trong lúc chuyện trò, bà Châu Thị hỏi rằng: "Dì mới đau mà tại ốm hung như vậy?"

Bà Mã Ổn thút thít một hồi, rồi nói nhỏ rằng: "Hai năm nay em đói quá chị ơi!"

Bà Châu Thị nghe nói như vậy lấy làm lạ, bèn hỏi rằng: "Sao dì lại đến nỗi đó?"

Bà Mã Ổn lấy tay khoát khoát, rồi chỉ xuống nhà dưới mà không dám nói cả.

Bà Châu Thị lại hỏi nữa rằng: "Vậy chớ con vợ của thằng Văn đi đâu, không nuôi dì để cho dì khổ như thế ?"

- Con San Hô đã bị đuổi từ hồi năm kia rồi, còn ở đây đâu nữa mà hỏi!

- Tôi nghe con San Hô đã giỏi mà lại có tài đức, sao dì để nó đi?

- Tại duyên vợ chồng nó trắc trở làm sao tôi đâu có biết! Chị thiệt có phước, gặp được dâu quý báu quá, con San Hô làm sao bì kịp!

- Sao dì biết con dâu của tôi quý báu?

- Từ năm ngoái đến năm nay, nó cứ gởi đồ ăn cho tôi hoài. Chị nghĩ thử coi, tôi đây mà nó còn thương tưởng như vậy, huống chi chị là mẹ nó, thì nó nuôi kỹ đến bực nào! Phải chi tôi kiếm đặng một con dâu như nó thì dầu sống thác tôi cũng vui lòng.

- Dì đã coi được đứa nào nữa mà cưới cho thằng Văn chưa?

- Chưa! Vậy chị có biết nơi nào chỉ dùm cho cháu.

- Tôi có một đứa cháu nếu dì ưng cưới cho thằng Văn thì tôi gả cho.

- Con ai vậy chị?

- Con nhà họ Đào tên là San Hô!

- Ủa sao lại trùng tên họ với con dâu trước của tôi!

- Ừ! Con trước con sau cũng là một tên San Hô, chớ ai vô đó mà không trùng!

- Ủa, vậy chẳng là con San Hô lâu nay nó ở bên chị hay sao?

- Nếu nó không ở bên tôi thì ai gởi đồ ăn cho dì mầy đó!

- Ủa, sao chị nói dâu chị gởi cho!

- Dâu của tôi nó làm đâu ăn đó, chưa đủ trút miệng mo, có đâu cho bò dài! Dì khéo lầm!

- Vậy chớ tiền ở đâu mà con San Hô mua đồ ăn cho tôi như vậy, hỡi chị?

- Tiền của nó dệt thêu may mướn, chớ tiền ở đâu! Dì thiệt lù mù quá, không biết chi hết, tôi coi thiên hạ không có con dâu nào mà chí hiếu như con San Hô vậy! Thế thường dâu con người ta gặp cái cảnh mẹ chồng khắc bạc như dì, thì nó bỏ ra đi, phải đợi dì đuổi, nhưng gan dạ của con San Hô không phải như vậy! Hết nghĩa thờ chồng, hết lòng thương mẹ, khi dì đuổi nó thì nó ra khỏi ngõ, nó tự vận liền.

May nhờ có Đức Quán Âm Bồ Tát cứu hoàn hồn cho nó sống lại, nó không biết làm sao, nên nó phải qua bên tôi xin ở nhờ , ngày thì làm thuê làm mướn, tối lại chấp bả chấp gai , kiếm được đồng tiền nào, thì cột vào trong lưng mà giữ cắt ca cắt củm, không dám tiêu xài tới , mỗi ngày chỉ ăn hai bữa cháo lỏng và một dĩa rau đồng mà thôi . Nó liệu chừng dư đặng khá khá, thì nó mua sắm đồ ăn, mượn tôi gởi qua cho dì. Vậy mà nó còn sợ dì ghét nó mà không ăn, nên nó dặn nói trớ rằng dâu của tôi gởi cho dì đó.

Từ khi nó nghe được tin con vợ của thằng Võ ngược đãi mẹ con dì thì nó khóc lên khóc xuống , kêu đất kêu trời , ăn không ngon , ngủ không yên , vàng vọt xanh xao , ai thấy cũng héo ruột héo gan. Tội nghiệp không biết bao nhiêu mà nói.

Thật không ai như dì, được một con dâu quý hóa như vậy mà không biết thương tưởng, lại còn để bỏ là khác nữa. Dì ăn ở độc ác quá chừng nên nay phải bị hành trả quả. Vậy dì đừng có than trách làm chi mà người ta thêm ghét.

Bà Mã Ổn nghe đủ đầu đuôi, bèn khóc òa một đỗi, rồi than rằng: "Trời ơi! Bấy lâu tôi tưởng con San Hô đã cải giá tha phu rồi, ai dè nó qua ở bên chị lo làm ăn và nuôi mẹ con tôi. Vậy thì mẹ con tôi đều ở trong cái lượng của nó bao dung, mà không tự biết là trời cao biển rộng. Thiệt tôi phụ cái lòng của dâu tôi không biết bao nhiêu!

Khi nó còn ở với tôi, thì chẳng biết ma quỷ ám tôi mà bắt tôi điên khùng ngu dại, khiến cho tôi không biết cái giỏi và cái khôn của nó như vậy.

Từ khi nó đi rồi thì tôi vừa kế gặp cơn gia biến hiểm nghèo , "tự thử chí tư" , tôi cũng có ăn năn , tôi nghĩ lại thương nó , song vì công chuyện đã lỡ lâu rồi , không biết tính làm sao cho đặng .

Bữa nay tôi nghe chị nói mới rõ được sự tình rằng tại tôi bỏ nó chớ nào phải nó bỏ tôi.

Chị ơi! Bây giờ phải liệu làm sao cho nó hết giận, mà đem nó trở về, hả chị ?"

- Nó đâu có giận, tôi đã nói nó là một con dâu hiếu nghĩa thứ nhất, tại dì mày không nói tới nó, chớ dì mày kêu thì nó về liền. Nó có phải làm bộ núng nẩy để cầu kiểu cách như mấy con dâu của người ta đâu mà dì mày sợ!

- Bây giờ tôi đau, trong mình yếu lắm, đi không nổi. Vậy tôi bảo thằng Văn qua nhà chị mà đem nó về, chừng đó đặng không hả chị!

- Tôi chắc đặng liền! Nhưng tôi xin dì mày đừng có khắc bạc nó nữa mà ông Trời sẽ hành mạt kiếp, chớ chẳng chơi đâu! Thôi! Thôi đi về! Vậy sẵn dịp dì mày biểu thằng Văn đi theo tôi luôn thể, đặng hai vợ chồng nó giáp mặt với nhau mà phân trần giây lát, luôn dịp rước về, kẻo tối".

Bà Mã Ổn nghe bà Châu Thị nói như vậy, lập tức sai Mã Văn theo chân đi liền.

Khi qua tới nơi, thì vợ chồng gặp nhau, mừng tủi , nhiều nỗi bi hoan, tình tự một hồi rồi dắt nhau ra lạy bà Châu Thị đèn ơn và từ tạ ra về. Khi hai vợ chồng về đến gần nhà thì thấy bà Mã Ổn đã ra đứng giữa đường đón rước. Nàng San Hô thấy mẹ, liền khóc tấm tức tấm tưởi, cúi đầu lạy ba lạy, rồi đứng dậy lấy tay vuốt ve nơi mình mẹ, mà hỏi đau làm sao đến nỗi ốm gầy như thế!

Bà Mã Ổn phần thì mừng dâu, phần thì nghe hỏi mấy lời, liền động tới cái mối khổ tâm khổ cảnh, cũng khóc òa lên và vuốt ngực nàng mà an ủi rằng: "Mẹ vuốt hờn của con, mẹ đã biết lỗi của mẹ, nếu con thương mẹ, đừng cố chấp mẹ. Con ơi! Gia đình của mẹ ngày nay bối rối lắm con! Để con về rồi con sẽ biết, bây giờ mẹ có nói cũng không hết chuyện. Thôi đi về ở với mẹ đi con!"

Đoạn này nói đến con Túy Hoa trong khi nó thấy bà Châu Thị qua thăm bà Mã Ổn là mẹ chồng nó, làm tốn nước tốn cơm, thì ý nó đã ghét rồi, lại thấy bà Châu với bà Mã cứ xầm xì to nhỏ ới nhau, mà nó rình nghe không được , nên nó càng ghét thêm nữa.

Khi nó thấy nàng San Hô về, thì nó mới định chắc là hai bà mưu toan về sự ấy, nên nó liền phừng gan đỏ mặt, đổ dữ hành hung, xỉ trong mặt nàng San Hô mà mắng rằng: "Mày là con bị chồng đuổi, mà còn mang mặt nào tới đây làm chi nữa! Nếu mày muốn ở đầy tớ, ăn nhờ cơm thừa canh cặn , thì mày phải lạy tao đây, đặng tao nuôi cho, chớ sao mày cứ làm thinh mà mày chui đầu vô là mày ở với ai? Nhà này là nhà của tao, mày không thưa với tao, phải đi ra khỏi nhà này cho mau, đừng ở đó mà chết..."

Nàng San Hô thấy con Túy Hoa rất hung dữ, tính bề không xuôi, xử biến tùng quyền , bất đắc dĩ nàng phải dùng lời lẽ êm dịu thưa với nó mà xin ở, nó sai làm gì thì nàng cứ làm như ấy, chớ không dám cãi lẫy, miễn cho trong nhà được an ổn, khỏi sự kình địch mà thôi .

Cách nửa tháng, con Túy Hoa bảo cất nhà riêng cho nó ở, rồi bà Mã Ổn có được bao nhiêu tiền gạo thì đến trút đem về nhà nó hết .

Nàng San Hô thấy vậy, bèn khuyên lơn bà Mã Ổn rằng: "Thưa mẹ! Của ở nơi Trời, xin mẹ đừng buồn làm chi, tùy ý thím lấy chi thì lấy, để con làm mà nuôi mẹ và chồng con, thế nào con không để mẹ đói rách đâu mà sợ!"

Bà Mã Ổn nghe nàng khuyên lơn như vậy bớt buồn, rồi mẹ con hủ hỉ lây lất qua ngày, lần hồi khí sắc trong nhà dường như đã có màu vui vẻ trở lại. Tuy tiền gạo kém thiếu, mà nhờ nàng San Hô có nghề nghiệp, mượn vốn làm ăn, mua bông kéo vải, nuôi heo để tằm, mỗi ngày ăn uống tiêu xài rồi, cũng còn dư lại được chút ít.

Cho hay hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhân! Xưa nay những người hiền lành, Trời nào có phụ! Lời thế tục lại thường nói: "Có đức không sức mà ăn".

Như nàng San Hô nghèo vẫn thiệt nghèo, song vì cái lòng hiếu nghĩa giữ vẹn thủy chung, nên giá trị của nàng mỗi lúc mỗi cao, thời vận của nàng càng ngày càng phát, cái hạnh phúc ấy nào có phải tại nàng hy vọng mà được đâu! Chẳng qua tích thiện phùng thiện, làm lành gặp lành, cái gương nhân quả treo giữa nhân quần, từ xưa đến nay ai ai lại chẳng thấy!

Nguyên lai lịch của nhà họ Mã, gốc là một nhà giàu xưa, tuy gia thế tiêu điều mà vườn tược mà vườn tược cũng còn rộng rãi như cũ.

Một bữa nọ, nàng San Hô thấy trong vườn cỏ cây mọc loạn, sầm uất um tùm, không có chỗ trồng được rau mà ăn. Nàng bèn ra tay cuốc giẫy, không ngờ nàng phát dọn nơi góc vườn, thấy có một đống đá, nàng bèn ráng sức bưng dẹp nơi khác , lại thấy lớp dưới lục cục , tinh là vàng ròng . Nàng lật đật chay vô nhà cho mẹ chồng hay và cũng qua nhà con Túy Hoa mà cho vợ chồng nó biết nữa, rồi rủ hết ra coi.

Con Túy Hoa nghe nói, hối chồng xách thúng chạy theo, ra tới góc vườn quả thấy vàng khối thiệt nhiều. Hai vợ chồng có ý tham, cứ lựa mấy cục to mà lượm cố, còn nàng San Hô thì chậm rãi lượm sau.

Ngờ đâu "Thiên bất dung gian", trời không dung chứa kẻ gian, nàng Túy Hoa hối bưng những cục vàng ấy về, rồi đem tới mấy nhà giàu mà bán. Khi họ kêu thợ vàng đến thử, mới biết cục nào cũng là thau, nên cáo giác tới quan làm án dạy giam cả hai vợ chồng , bị cầm ngục hành hạ khổ sở gần chết .

Nàng San Hô thấy em bị nạn thì khóc lóc buồn rầu, năn nỉ với mẹ và chồng, xin tìm phương giải cứu.

Bà Mã Ổn không chịu và nói rằng: "Cái quân đó cũng nên để nó chết cho rồi, con muốn cứu nó về đặng cho nó chửi mẹ mắng con nữa hay sao?"

Nàng năn nỉ nhiều phen mà thấy mẹ không chịu, buồn rầu và phát đau, làm cho bà Mã Ổn có ý sợ.

Mã Văn thừa dịp mẹ sợ, mới thưa rằng: "Vợ chồng con Túy Hoa dại thì vẫn dại rồi, song về cái đạo gia đình, thì nó là con của mẹ và em của con. Thiên hạ người ta thường nói: Chém nhau bằng sống, chứ không ai chém nhau bằng lưỡi.

Nếu nay vợ chồng nó bị tù tội mà không cứu nó, thì mẹ đã chém chữ "Từ" nghĩa là "Lành", còn con lại mất chữ "Bi" nghĩa là "Thương", e có khi mang tiếng lắm chăng! Huống cho con San Hô là một đứa quá thương em, sợ nó rầu nó chết, nên con xin mẹ nghĩ lại".

Mã Văn khuyên giải nhiều phen, bà mới chịu đi cứu. Nàng nghe mẹ hứa lời, thì mừng quá hết đau, liền dậy mà bàn tính với mẹ, xin đem vàng đi bán lấy tiền về chuộc tội cho em.

May thay cho hai vợ chồng con Túy Hoa! Tội vẫn nặng mà phước vẫn lớn, một là nhờ có nàng San Hô lo liệu, hai là nhờ bán vàng có số tiền nhiều và ba là nhờ Mã Văn học giỏi có tiếng, nên quan có lòng thương, thành thử công việc chuộc tội cho vợ chồng con Túy Hoa có phần dễ dàng hơn kẻ khác.

Đoạn này nói tới chuyện Túy Hoa, từ khi trải bao phen thất bại, một là đi tới đâu ai thấy cũng ghét, hai là vàng trở thành thau, ba là bị tội ở khám, đêm ngày suy xét, hổ thẹn trăm bề, mới tự tỉnh ngộ mà ăn năn cái lỗi của mình tạo ác.

Đã vậy mà nàng San Hô đức lớn lượng rộng, chẳng những không giận không ghét mình mà thôi, lại nghĩ đến tình chị em thương và cứu ra khỏi tù tội nữa, nên nàng ăn năn sám hối, mỗi ngày thăm viếng , thảo mẹ thờ chồng , thương anh kính chị, trở về ở chung lại với mẹ một nhà như cũ, thay tay đỡ việc cho mẹ và chị, hết thảy chuyện nhà nàng không để cho bà Mã Ổn và nàng San Hô nhọc lòng lo liệu như trước nữa.

Nàng lại hằng ngày lạy Phật Trời, lạy mẹ, chồng, lạy anh chị, năn nỉ ỉ ôi, xin sám hối lỗi xưa và đoái thương chút phận ngu si, lệ nhỏ như mưa, lời mềm tựa bún. Đó là sự đối đãi của nàng Túy Hoa ở với gia đình sau khi đền tội ác đã làm.

Từ khi nàng Túy Hoa hồi tâm cải hóa vừa đặng nửa năm thì bà Mã Ổn lâm bịnh rồi chết. Khi ấy vợ chồng Mã Văn và Mã Võ chung lo phần mai táng cho mẹ long trọng.

Nhưng đó cũng là việc thường sự chẳng nói chi, chỉ đau đớn thay cho phần nàng Túy Hoa, đập mình đập mẩy, lăn nhào vô bên quan tài kêu mẹ hỡi mẹ ơi, khóc kể một cách rất thê thảm.

Nàng lại kêu Trời vang xiết rằng: "Trời ơi! Ghét bỏ chi tôi, không để cho mẹ tôi sống được trăm tuổi, đặng tôi nuôi tôi dưỡng, tôi đền ơn trả thảo cho mẹ, và tôi chuộc cái tội ngỗ nghịch bất hiếu của tôi ngày xưa".

Nàng khóc kể như rất bi thảm luôn ngày đêm, bỏ uống ăn, kẻ thấy người nghe, ai nấy cũng động lòng rơi lệ.

Than ôi! Người đời ai lại không lỗi lầm, song có lỗi mà biết ăn năn sám hối như nàng Túy Hoa tưởng cũng ít có vậy, đã đáng thương đáng trọng chưa! Đủ làm gương cho tr