Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Truyện Phật Giáo


 

 

 

 

 

Những truyện cổ Việt Nam

mang màu sắc Phật Giáo

 

Lệ Như Thích Trung Hậu

Sưu tầm & giới thiệu

=============

Phần 2

26.HUYỀN THOẠI VỀ LỜI SẤM KÝ TRÊN THÂN CÂY GẠO

Tương truyền rằng: Vào cuối đời Tiền Lê, ở hương Diên Uẩn,châu Cổ Pháp[1],một đêm mưa to gió lớn,cây gạo ở đình làng bị sét đánh chẻ làm đôi.Sáng hôm sau, người làng ra xem, thấy trong thân cây gạo có những dòng chữ Nho chi chít dọc thân cây, bèn đưa đến cho sư Vạn Hạnh xem.Sư Vạn Hạnh xem đi xem lại rồi đọc thành một bài thơ như sau:

Thụ căn diễu diễu

Mộc biểu thanh thanh

Hòa Đao mộc lạc

Thập bát tử thành

Đông a nhập địa

Dị mộc tái sinh

Chấn cung kiến nhật

Đoài cung ẩn tinh

Lục thất nhân gian

Thiên hạ thái bình.

Mọi người nghe xong, nhìn nhau chẳng hiểu đầu đuôi điềm lạ ra sao,những vần vè đó nói lên cái gì.Sư Vạn Hạnh liền giảng giải rành rẽ:

-Câu “Thụ căn diễu diễu”, chữ “căn” có nghĩa là gốc, gốc tức là Vua.Chữ “yểu” đồng âm với chữ “diễu”,nên đọc là chữ “diễu”.Câu “Mộc biểu thanh thanh”,chữ “biểu” là ngọn,ngọn tức là bề tôi, chữ “thanh” cũng đồng âm với chữ “thanh”, có nghĩa là thịnh. “Hòa đao mộc”là chiết tự của chữ “Lê, ở đây chỉ họ Lê.“Thập bát tử là chiết tự của chữ “Lý”, ở đây chỉ họ Lý.“Đông a” là chiết tự của chữ “Trần”, ở đây chỉ họ Trần. “Nhập địa” là ám chỉ người phương Bắc sẽ vào cướp nước ta.Câu “Dị mộc tái sinh”, có nghĩa là họ Lê khác lại nổi dậy.Câu “Chấn cung kiến nhật” thì “chấn” là phương đông, “ kiến” là mọc ra, “nhật”là mặt trời, chỉ Thiên tử, tức là vua.Câu “Đoài cung ẩn tinh”, thì “đoài”là phương tây, “ẩn” có nghĩa là lặn, “tinh”là sao, chỉ thứ nhân.Mấy câu này ý nói: Vua thì non yếu, tôi thì cường thịnh, họ Lê mất thì họ lý nổi lên.Thiên Tử ở phương đông mọc ra, thì thứ nhân ở phương tây khắc lặn.Trải qua sáu ,bảy năm thì thiên hạ thái bình.

Giảng giải từng câu, từng chữ xong, sư Vạn Hạnh nói: Đây là một bài sấm ký,tức là lời thiên định, cả bài dịch nghĩa như sau:

Gốc cây thăm thẳm.

Ngọn cây xanh xanh.

Cây hoa đào rụng.

Mười tám hạt thành.

Cành đông xuống đất.

Cành khác lại sinh.

Đông, mặt trời mọc.

Tây, sao náu hình.

Độ sáu,bảy năm.

Thiên hạ Thái Bình.

Nghe sư Vạn Hạnh giảng giải xong lại dịch thành cả bài thơ sấm ký, mọi người nhìn nhau kinh ngạc nói:

-Muôn sự đều do trời định đoạt cả. Điềm trời đã báo tất linh ứng.Biết trước thiên cơ hàng trăm năm thì âu chỉ có trời chứ còn ai nữa.Lại loạn lạc to!

Rồi chẳng ai bảo ai, mọi người đều thuộc làu bài sấm ký.Họ thì thào to nhỏ, không ái dám nói chỗ đông người.Ấy vậy mà chỉ mươi ngày sau,chỗ nào cũng líu lo tiếng trẻ đọc lời sấm ngữ trên. Chúng dung dăng dung dẻ đọc bi bô ngay cả ở giữa kinh đô Hoa Lư.Thấy vậy, người dân kinh kỳ bảo nhau:

-Trời đã ứng khẩu vào thần đồng rồi, tất cả sẽ có chuyện đấy!

Vua Lê Ngọa Triều nghe bài sấm ký đó nổi giận lôi đình,thét quân sĩ đi lùng sục khắp nơi để bắt kẻ nào đã gieo rắc lời thơ nghịch biến đó.Nhưng đều vô ích.

Quả nhiên mọi việc sau này,hàng mấy trăm năm cũng diễn ra đúng như lời bài sấm ký đó.

(Truyền thuyết Đinh Lê-Trương Đình Tưởng,NXB.VH-DT,2003)

27.SỰ TÍCH CÔNG CHÚA LIỄU HẠNH

Ngày xưa, ở trên thiên đình, có cô con gái Ngọc hoàng tên là Liễu Hạnh.Tính tình cô phóng túng, ngang bướng, không chịu theo khuôn phép nhà trời.Ngọc hoàng hết lòng dạy dỗ nhưng vô ích. Cô chứng nào tất ấy.Giận vì trong nhà có con gái hư không thể làm gì cho muôn họ, Ngọc hoàng quyết trị tội để cho con tu tỉnh.Nhân một lần Liễu Hạnh phạm lỗi, Ngọc hoàng bèn đày nàng xuống trần trong ba năm.Sau khi xuống trần, Liễu hạnh hóa thân thành một cô gái đẹp, dựng một cái quán ở chân núi Đèo Ngang. Đây là nơi rừng núi vắng vẻ, nhưng cũng là nơi con đường thiên lý Bắc vào Nam vắt qua, nên hàng ngày không bao giờ ngớt khách bộ hành đi lại.Từ xưa đến nay, vì sợ giặc cướp và thú dữ, không một ai dám đến đó mở quán bán hàng.Vì vậy ngôi hàng độc nhất của Liễu Hạnh ngày nào cũng đông khách.Bất kỳ ai lên đèo xuống đèo, đã đi qua quán không thể nào không ghé lại nghỉ chân, huống hồ gì trong quán lại có cô gái tuyệt sắc.

Từ khi bị đày,Liễu hạnh vẫn chưa từ bỏ được nết cũ, khinh mạn và trêu chọc mọi người. Cho nên, hễ ai vào quán ăn bánh uống nước rồi tiếp tục ra đi thì không sao,nhưng hễ thấy chủ quán xinh đẹp mà giở thói cợt nhã, hoặc có ý cậy sức,cậy thế, cậy thần làm điều bất chính thì nàng quyết trị tội không tha:lúc trở về nếu không lăn ra chết cũng trở thành điên rồ ngây dại.

Hồi ấy thời vua Lê Thái Tổ trị vì thiên hạ.Tiếng đồn về cô gái đẹp, một mình mở quán ở Đèo Ngang không mấy chốc lan truyền rất rộng.khắp nơi bàn tán xôn xao.Người thì nói chủ quán là một cô gái võ nghệ hơn đời,mình nàng  địch nổi trăm người một lúc.Kẻ thì cho là một ả giang hồ thành thạo, không những giỏi quyến dỗ trai tơ mà còn làm nhiều nghề không lương thiện khác.Cũng có người cho cô là một nàng tiên xuống thử người phàm trần.Mỗi người nói một cách,không biết thế nào mà tin.Nhưng tiếng đồn xa gần về cô chủ quán Đèo Ngang cũng thu hút vô số chàng trai vô công rồi nghề từ làng quê đến kẻ chợ.Hoàng tử con vua Lề bấy giờ đang trẻ người non dạ, nghe tin ấy bụng cũng say mê.Hoàng tử muốn sai ngay quân lính đi bắt người con gái kia về, nhưng vốn biết tình vua cha rất nghiêm khắc, làm náo động cả một phương là chuyện không bao giờ nhà vua cho phép.Vả lại nghe nói, người con gái ấy đã giỏi võ nghệ lại có nhiều phép thuật nên cũng ngần ngại.

Sau cùng, không ngăn nổi lòng ao ước và trí tò mò, một hôm, Hoàng tử giấu vua cha và Hoàng hậu, sắm sửa cáng xá hành lý, đóng vai một nhà quý tộc trẻ tuổi dẫn đoàn thị vệ cải trang ra đi. Sau hơn mười mấy ngày đường, Hoàng tử vượt qua sông Lam, rồi núi Nam Giới và sắp bước chân lên dãy đèo cao nhất.

Từ trên Đèo Ngang, Liễu Hạnh đã biết có Hoàng tử đến tìm mình, lại cũng biết đó là một chàng trai tầm thương, không có bản lĩnh gì, nhưng lại kiêu căng dật lạc.Để ngăn cản, nàng hoá phép thành một cây đào tiên mọc ở vệ đường, chỗ Hoàng tử đang nghỉ chân, trên cây có một quả chín mọng rất đẹp mắt. Hoàng tử vừa chợt thấy quả đào đã thèm rỏ giãi, bèn không đợi sai lính hầu, vội trèo lên cây ngắt xuống toan ăn.Quả đào đang thơm ngát và ngon lành, bỗng đâu khi sắp bỏ vào miệng thì trở nên mềm nhũn trên tay Hoàng tử, rồi thu nhỏ, cuối cùng mất biến không còn tý gì nữa.

-Quả đào này có ma!

Bọn thị vệ kinh hãi la lên và khuyên Hoàng tử hãy cẩn thận.Hoàng tử cũng cảm thấy rờn rợn.Nhưng vì vẫn không thể hiểu được ý nghĩa răn đe kín đáo của Liễu Hạnh, nên một chốc sau chàng lại giục phu cáng tiếp tục đi nhanh đến chân đèo.

Khi giáp mặt Liễu Hạnh, quả nhiên cả thầy lẫn tớ ai nấy đều thoảng thốt sững sờ.Chưa bao giờ Hoàng tử lại mê mẫn đến như thế.Người con gái này quả có nhan sắc kiều diễm đúng như lời đồn, trong cung đình vua cha dễ không một người nào sánh kịp.Hoàng tử bèn kín đáo hạ lệnh cho cả đoàn dừng chân ở quán, lân la hết ăn đến uống, kéo dài đến tận chiều, rồi khi mặt trời gần lặn, bảo với chủ nhân:

-Đường xa trời tối.Chúng ta muốn nghỉ lại ở đây một đêm.Chẳng hay nữ chủ nhân có bằng lòng không?

Liễu Hạnh đã thừa rõ tâm tư của Hoàng tử, bèn, khước từ:

-Thưa Công tử, ở đây hàng quán chật chội, vả lại chỉ có mấy chị em là đàn bà con gái, Công tử và các vị ở lại sợ không tiện.Cách đây nửa dặm về phía Đông, có làng xóm.Các vị đến đó trú sẽ có sẵn nhà cửa và dân phu phục dịch.

-Chúng ta chỉ cần nghỉ ở đây thôi!Nữ chủ nhân đừng lo.Chỉ cần một chỗ trong quán để căng màn là đủ.Ngoài ra xin hứa là không làm gì phiền đến nữ chủ nhân cả.

-Nếu thế thì Công tử cứ tùy tiện.

Tối lại, mọi người ăn cơm xong sửa soạn đi ngủ.Những phu cáng và lính hầu trải chiếu nằm la liệt giữa sân.Riêng Hoàng tử đã có hai thị vệ căng màn trướng ở trong quán.Trời mùa hè mát mẻ, trăng gió hữu tình.Dưới ánh đèn dầu, Hoàng tử vẫn dựa cột trò chuyện với nữ chủ quán không rời.Liễu Hạnh vẫn chịu khó ngồi nán lại tiếp.Mỗi lời nói của nàng đều đẹp lòng khách, làm cho Hoàng tử càng thêm mê mẩn. Chàng quên mất lời hứa, đánh rơi cả vẻ đạo mạo lúc mới tới và bắt đầu lả lơi.Liễu Hạnh cự tuyệt và chạy vào buồng.Trong cơn si mê, Hoàng tử không cần gì thể diện nữa, bèn chạy theo vào.Có ngờ đâu, chỉ trong nháy mắt,Liễu Hạnh đã biến hình,phi thân lên núi,bắt một con khỉ cái về cho hóa thân thành một cô gái đẹp để đánh lừa Hoàng tử.Không thấy chủ quán đâu, nhưng thấy cô gái khác trong buồng.Hoàng tử liền cầm lấy tay dắt tới trước đèn.Nhìn thấy cô này cũng đẹp không kém gì cô chủ, Hoàng tử liền giở trò suồng sả.Nhưng bỗng chốc hắn rú lên một cách dễ sợ, làm cho bọn lính hầu đều tỉnh dậy.Trong tay Hoàng tử không phải là một cô gái nõn nà nữa mà là một con khỉ cái, lông lá đầy người.Bọn lính hầu xông lại.Vụt một cái, con khỉ lại biến thành một con rắn mang hoa, từ trên người Hoàng tử vươn lên kèo nhà, há miệng phun lửa phì phì, rồi biến mất.Khi bọn lính hầu thắp được đèn lên thì Hoàng tử đã ngã vật giữa quán, nằm mê an mặt cắt không được giọt máu.

Nửa đêm hôm đó,người ta cắt ngựa trạm đưa Hoàng tử về kinh.Về đến cung, Hoàng tử trở nên mất trí, ai hỏi cũng không trả lời, chỉ cười nói một mình.Hoàng hậu và Phi tần hết sức lo sợ. Một mặt, Hoàng hậu cho giấu kín chuyện “vi hành”khinh suất đó, mặt khác, cho mời các bậc ngự y và thầy thuốc giỏi khắp kinh thành.Tuy nhiên, các danh sư được đón vào chữa chạy cho Hoàng tử đều lắc đầu bó tay. Trong cung càng thêm bối rối, hoảng hốt.Sau cùng, có người nói, nên vào xứ Thanh, xin bùa phép ở tám vị Kim Cang họa may mới khỏi.

Lại kể chuyện một ngàn năm về trước, Phật Bà Quan Âm một hôm hiện ra ở biển Đông,hóa phép thành hai cái túi:một nổi lên ở giữa biển, còn một ở trên núi Ói, làng An Đông, xứ Thanh.Sau một thời kỳ lâu dài, hai cái túi nở ra hai đóa hoa, và từ trong mỗi đóa hoa, hiện ra bốn vị Tướng, có phép biến hóa cực kỳ huyền diệu.Theo lệnh của Phật Bà, tám vị Tướng thân chinh đi tám phương đáng dẹp tà ma quỷ quái đang hoành hành quấy nhiễu.Dẹp xong, Phật Bà gọi họ trở về ở lại chỗ cũ.Người ta quen gọi là Bát Bộ Kim Cang.

Lập tức bọn thị vệ được lệnh Vua, vào Thanh Hóa để xin bùa phép của tám vị Kim cang.Nhờ có bùa phép,Hoàng tử dần dần khỏi bệnh.Sau khi bình phục, Hoàng tử cúi đầu nhận tội với Vua cha, kể lại cho Vua nghe tất cả câu chuyện gặp gỡ giữa mình với nữ chủ quán ở Đèo Ngang.Vua Thái Tổ hết sức giận dữ, vì Hoàng tử đã dám khinh thường lệnh Vua, bỏ phủ đi chơi, hãm mình vào cảnh thân tàn ma dại, nên xuống chiếu cất ngôi Hoàng tử mà lập con thứ lên thay. Nhưng Vua còn hết sức giận dữ vì ở trên bờ cõi mình trị vì lại có một người con gái dám khinh nhờn phép nước.Vua bèn ban lệnh, hỏi quan Trấn thủ xứ Nghệ về lai lịch nữ chủ quán Đèo Ngang.Sau một thời gian cho người cất công dò la, quan Trấn thủ gởi sớ về Tây bày tỏ.Trong sớ nói, đó là một nữ yêu không biết từ đâu đến, hay bắt hồn đàn ông con trai, nếu không có phép cả tài cao thì khó lòng khuất phục.

Vua lại ra lệnh cho mời các pháp sư, phù thủy cao tay đi trừ yêu.Nhưng chẳng bao lâu, họ đã trở về triều xin chịu tội, vì chẳng những không trị nổi yêu mà mọi phép thuật giở ra đều bị Liễu Hạnh thu mất cả.Vua lại đành phải cầu cứu tám vị Kim Cang.Nhận lời Vua, tám vị Kim Cang phi thân vào Đèo Ngang. Được tin chẳng lành, Liễu Hạnh ra ứng chiến.Cuộc chiến đấu dần dần trở nên dữ dội.Mới đầu tám vị Kim Cang làm một trận bão lớn, mưa dồn gió giật khủng khiếp, cây đổ khắp nơi, tàn vào vây lấy Đèo Ngang.Liễu Hạnh cũng hóa phép chống lại.Nàng làm cho cây rừng đã đổ lại đứng lên cùng với đất đá bay rào rào vào kẻ thù.Thấy Liễu Hạnh pháp thuật cao cường, tám vị Kim Cang hóa phép làm cho thú dữ tập họp nhe nanh múa vuốt xông vào hàng đàn toan cắn xé.Nhưng Liễu Hạnh đã kịp thời bay lên không trung rồi dùng phép tiêu diệt hết bầy mãnh thú.

Trận đánh diễn ra ba ngày ba đêm.Đèo Ngàng trở thành một bãi chiến trường rung rợn,mọi phép thuật của hai bên lần lượt giở ra mà chưa phân thắng phụ.Về sau tám vị Kim Cang biết mình bất lực, bèn bay lên trời cầu khẫn Phật Bà.Phật Bà ném cho họ một cái túi.Quả nhiên cuối cùng Liễu Hạnh sa vào túi của Phật Bà.Tám vị Kim Cang mang túi về kinh báo tiệp.Vua lập tức ra sân diện tra hỏi:

-Ngươi là ai?

-Tâu Bệ hạ, là con Ngọc Hoàng bị đày xuống cõi trần,lấy vùng Đèo Ngang làm nơi trú ngụ.

-Là con Ngọc Hoàng sao lại dám phá phách dân sự và làm hại Hoàng tử con ta?

-Việc trừng trị bọn trai chòng ghẹo hi nữ, ăn hiếp người cô đơn là tuân theo phép nước,không phải là phạm phép nước.

Thấy Liễu Hạnh nói là con gái Ngọc Hoàng, lại thấy nàng đối đáp khôn ngoan, Vua đổi giận làm vui.Cho nên sau cuộc thẩm vấn, Vua hạ lệnh tha bỗng, chỉ khuyên nàng đừng gây náo động và tàn hại dân lành.

Ít lâu sau, Liễu Hạnh sinh một đứa con trai, mỗi bàn tay sáu ngón.Nàng mang con đến ngôi chùa trên núi Hồng Lĩnh gửi cho một nhà sư nuôi dạy và dặn nhà sư hãy giúp cho con mình được lừng danh trong nước.Rồi đó, đủ ba năm, Liễu Hạnh trở về trời.

Nhưng không bao lâu, Liễu Hạnh lại bị Ngọc Hoàng  đày xuống trần một lần nữa.Lần này liễu Hạnh đến đèo Ba Dội cũng là nơi vắng vẻ, rồi dựng lên ở đây một cái lầu ba tầng, bốn bên có thành bao bọc. Trong thành vườn, đủ các thứ hoa thơm cỏ lạ.Trong vườn tập hợp đủ các giống chim.Cạnh vườn có ao, thả đủ các giống cá.Hàng ngày nàng sai mở nghỉ chân và nhìn ngắm. Ở đây có quán xá, và cũng như lần trước, Liễu Hạnh thường hóa thành cô gái bán hoa quả, quà bánh, trầu nước và đồ chơi.Ai ăn uống mua bán rồi đi thì không sao, nếu giở chuyện trộm cướp trăng hoa, lập tức bị nàng trừng trị.

Ở được mấy năm, Liễu Hạnh lại sinh một con trai thứ hai.Đứa bé thiết mất ở mỗi bàn tay một ngón.Nàng đem con gửi cho một sư nữ ở chùa Bà Đỏ và bảo sư rằng:

-Ta hai lần xuống trần đẻ được hai đứa con, cũng định cho chúng trở thành vương giả nhưng không đạt, vì một đứa quá thừa, một đứa lại quá thiếu.Hãy làm cho nó được nổi tiếng, ít nhất cũng trở thành Trạng.

Rồi đó, hết hạn ở trần,Liễu Hạnh đốt tất cả lâu đài mà trở về trời.

Những đứa con của Liễu Hạnh về sau quả nhiên nổi tiếng, trong đó có một đứa tên là Trạng Quỳnh.Chổ di tích ngôi đền của Liễu Hạnh xây lên ở xứ Thanh và ở xứ Nghệ, người ta dựng thành đền thờ trên núi.Không một ai dám động đến một vật gì ở các ngôi đền này cả, vì sợ Liễu Hạnh báo thù.

Khảo dị:

Truyện Liễu Hạnh từ lâu đã được Nho sĩ cải biên thành một truyện đượm màu sắc tôn giáo và nho hóa khác với truyện dân gian.Mặc dầu cho đến nay truyện kể trong dân gian đã ít nhiều biến đổi về chủ đề:Các hình tượng và tình tiết cũng đã được cắt xén sàng lọc.

Theo Thính Văn Dị Lục và một số Thần tích thì Liễu hạnh là con gái Ngọc Hoàng, vì đánh vở chén ngọc nên bị giáng xuống trần, đầu thai ở nhà Lê Thái Công, xa Vân Cát (Nam Định), mang tên là Giáng Tiên.Lớn lên làm con nuôi một viên quan hưu họ Trần, được học hành nên có tài văn chương, giỏi đàn sáo.Năm mười tám tuổi lấy chồng là Đào Lan, con một viên quan ở làng. Được ba năm, hết hạn đày, nàng không bệnh mà chết, để lại cho chồng một trai một gái.

Nhưng vì “trần duyên chưa dứt”, Ngọc Hoàng lại cho nàng xuống trần,lần này với phép biến hóa huyền diệu.Nàng gặp lại bố mẹ và chồng con, nhưng sau đó lại bỏ đi, tính tình phóng túng, tung tích vô định:khi làm cô gái thổi sáo, khi hóa bà già chống gậy, ẩn hiện bất thường. Ở Lạng Sơn, nàng làm thơ ghẹo Nho sĩ, ở Hồ Tây làm cô hàng rượu, ngâm vịnh và dự tiệc với các ông Phùng Khắc Hoan, họ Ngô, họ Lý,v.v…Lại vào Nghệ An,kết duyên với một người học trò, thường ngày thơ ca xướng họa với chồng, sau sinh được một trai,rồi lại về trời.

Sau ba năm,nhớ cõi trần,Liễu Hạnh lại xin vua cha cho xuống trần một lần nữa.Lần này nàng đem theo hai người thị nữ.Họ trú ngụ ở phố Cát (Thanh Hóa),về sau được dân địa phương ở đây lập đền thờ.Triều đình sau một thời kỳ sai Thuật sĩ tiểu trừ mà không xong, đành thừa nhận và sắc phong là Mã Hoàng Công Chúa.

Sách vở của phái Nội Đạo tràng miêu tả cuộc chiến tranh giữa Tiền qua với Liễu Hạnh như sau:

Khi đày Liễu Hạnh xuống trần, Ngọc Hoàng thấy chân tả của con đi dón gót, biết là xuống dưới ấy sẽ thành yêu, liền sai Tiền quan giáng sinh luôn để kịp thời ngăn chặn.

Có thói tàn nhẫn, Liễu Hạnh đi đến đâu đều không vừa ý thì rat ay sát hại.Cho nên ở đâu nàng cũng làm cho người và vật tử thương,Thành hoàng phải “xuất ngoại”. Người ta sợ nàng đến nổi bỏ công ăn việc làm, ban ngày đóng cổng không dám lên tiếng hoặc phải bày đàn ở ven đường cúng lễ.

Về sau đến Sùng Sơn (Thanh Hóa), thấy cảnh đẹp, Liễu Hạnh báo mộng cho Hào trưởng vùng ấy phải lập cung miếu.Thấy họ còn dùng dằng, nàng làm cho trong năm ngày chết hơn một nửa số dân.Khi cung miếu dựng xong, nàng thường hóa thành gái đẹp bán hàng, hễ bọn trai trẻ trong và nho sĩ trêu ghẹo thì vật chết.Tất cả quỷ thần trong vùng đều phục tùng.Quan địa phương lo sợ, tâu về triều.Vua sai các vị Pháp sư nổi tiếng đến trị, nhưng họ không trở về được.Có lần chúa Trịnh vào Lam Sơn, Liễu Hạnh cùng bộ hạ đón đường quấy phá.Chúa trở về giận lắm, sai người mời tất cả Pháp sư,Phù thủy và hội tất cả Thành hoàng vào đánh nhưng họ chỉ chuốc lấy thất bại.

Lại nói chuyện vị Tiền qua được giáng sinh làm con trai thứ ba một vị Thượng sư-là tổ sư phái Nội Đạo tràng-cả ba anh em đều được Phật tổ truyền cho phép thuật.Hai anh là Tả quan và Hữu quan tu tại Côn Sơn, còn Tiền quan thì ở ngay tại làng quê, tức là làng Từ Minh( Thánh Hóa) luyện đạo và truyền đạo cho học trò.Sau lần thất bại của các Pháp sư, Phù thủy, nhà vua sai sứ đi triệu Tiền quan về kinh phong làm Thượng tướng, cầm ba vạn quân đi đánh Liễu Hạnh.

Đến Tam Điệp, Tiền qua sai đóng quân lại, còn mình thì cải trang làm dân thường cưỡi ngựa trắng tìm đến Sùng Sơn.Gặp Liễu Hạnh,Tiền quan làm bộ thân mật:

-Ta báo cho biết sắp sửa có nạn lớn vì nàng đã trêu chọc vua chúa.Họ sắp cứ đến đây một pháp sư cao cường.E rằng nàng không địch nổi, nên ta đến xem nàng có nhũng phép gì, nếu thiếu, ta sẽ dạy cho.

Liễu Hạnh không ngờ gì cả, giở tất cả ba ngàn phép cho khách xem.Tiền quan hết lòng ca ngợi nói:

-Như thế này thì không cần phải học gì nữa.

Khi Tiền quan về rồi,Liễu Hạnh mới biết là mình mắc mưu, nhưng đã muộn.

Cuộc giao chiến bắt đầu.Bên Liễu Hạnh có các Thần bộ hạ đến giúp.Bên phía Tiền quan có hai ông anh cùng với Bát Bộ Kim Cang tiên phong; hai bên tả hữu có Hắc hổ, Bạch xà; trung tâm có Lục đinh lục Giáp.Sau ba ngày ba đêm chiến đấu, trời nổi mưa to gió lớn, bụi cát mù mịt, sấm sét đùng đùng, cây cối nhà cửa tả tơi, người vật chết khắp nơi, nước sông đỏ như máu.Cuối cùng quân của Liễu Hạnh thất bại.Quỳnh Hoa, Quế Hoa bỏ chạy.Tiền quan ngồi trên voi chín ngà giục thần tướng đem lưới sắt vây bọc.Liễu Hạnh hóa làm một đứa trẻ, nhưng bị đuổi kíp quá, lại hóa làm con rồng trốn trong một cái giếng.Tiền quan bắt được, trói bằng dây đồng, giải về kinh đô.Vua chúa đang ngồi trong điện, bỗng thấy một đám mây đen đầu rồng đuôi lân, rơi xuống văng lên ba lần ở sân điện, biết là Tiền qua đã thắng trận.

Nhưng Phật Tổ không muốn để con gái Ngọc Hoàng chịu sự trừng phạt của người trần,nên đã kịp thời xuống gặp ba anh em, bảo họ giao cho mình để mình làm cho nàng cải tà quy chánh.

Có người kể thêm đoạn kết như sau:

Khi Liễu Hạnh bị bắt thì Phật Tổ hiện ra giải cứu.Ngọc sư (tức Tiền quan) vâng lời Phật Tổ cho nàng một bộ áo Cà-sa, một cái mũ ni cô để quy Phật.Vì vậy, ngày nay ở nhiều chùa có dựng thêm điện ở phía say để thờ Liễu Hạnh.

Ở vùng Hà Tĩnh, Quảng Bình trước đây, dân gian thường lưu truyền nhiều mẫu truyện về một cô gái thỉnh thoảng hiện hình trêu ghẹo những khách bộ hành đàn ông, nhất là các thầy Khóa, thầy Cử đi lại trên đường quốc lộ.Ví dụ truyện Cô Doạt ( Hà Tĩnh), Nàng Ba ( Quảng Bình).Có người nói những mẫu chuyện ấy vốn xuất phát từ”Sự tích Công chúa Liễu Hạnh” mà phát triển ra. Lưu Trọng Lư đã từng viết một truyện lãng mạn nhan đề là “ Người nữ tỳ của bà Chúa Liễu”. Có lẽ cũng hư cấu từ những mẫu truyện loại ấy.

Ở vùng Hà Đông cũng có lưu truyền nhiều mẫu truyện về Liễu Hạnh, ví dụ một mẫu sau đây:

Liễu Hạnh bị một Pháp sư bắt được bỏ vào một  cái lọ nút kín, phía ngoài dán bùa rồi treo lên cây đa ở rừng vắng trên đường đi Vạn Phúc.Có hai vợ chồng đi bán dâu qua đó, nghe tiếng nói văng vẳng phát ra:

-Các con lên đây cứu mẹ, mẹ sẽ hậu tạ.

Hai vợ chồng trước sợ hãi, nhưng sau đánh bạo trèo lên cây, đưa lọ xuống.Kho đập vỡ lọ thì thấy một con bướm trắng bay ra, tự xưng là Liễu Hạnh, rồi biến mất.

Ở nhà mình, Pháp sư do tính hiệu riêng, biết giờ chết đã đến vì Liễu Hạnh đã trốn thoát và sẽ báo thù.Bèn sai con đem tro sàng khắp nền nhà, đoạn tắm rửa sạch sẽ rồi lên giường nằm đóng cửa lại, dặn vợ con đến giờ ngọ hãy mở ra. Khi vợ con mở cửa thì thấy Pháp sư đã chết, trên nền nhà có dấu bàn chân đi lại chi chít.v.v…[2]

28.PHẠM NHĨ HAY LÀ SỰ TÍCH ÔNG BA MƯƠI

Đã từ lâu, trên cõi Trời, có một người có sức khỏe lạ lùng, những việc dời núi lấp biển, đội đá bẻ cây…không một ai bì kịp.Nói về tài phép, ông cũng thần thông biến hóa vượt xa nhiều vị trên thiên đình. Đặc biệt ông có hai vành tai dài và rách, vì lúc nhỏ ông thường dùng hai tai cho nhiều người móc vào mà đu, rồi xoay họ như chong chóng. Cũng vì thế người ta quen gọi ông là Phạm Nhĩ.Vốn tinh nghịch và hung hăng, quen thói từ hồi trẻ, Phạm Nhĩ không mấy khi ngồi yên.Ông thường hay gây sự đánh nhau với những kẻ mà ông thù ghét.Nhưng người ta đều tránh né ông, chẳng mấy ai dám đọ sức, vì đã từng có bao nhiêu anh hùng hảo hán không chịu nổi dù chỉ một cú đấm, cái gạt của ông.

Thấy mọi người đều thua tài, Phạm Nhĩ ngày một tỏ ra kiêu căng tự phụ.Ông cho rằng các vị thần xung quanh Ngọc Hoàng chẳng qua chỉ là đồ bị thịt, tài nghệ và sức khỏe không có tý gì.Và ông lấy làm bực mình vì sao bấy lâu danh tiếng mình nổi như cồn mà vẫn không được Ngọc Hoàng mời vào để trao cho một chức vị xứng đáng. Mỗi ngày lòng kiêu căng tự phụ của ông một lớn thêm mãi.Cho đến lúc Phạm Nhĩ đâm khinh nhờn cả Ngọc Hoàng, tự nghĩ rằng có sức mạnh và tài phép như mình thì nên làm vua nhà Trời mới phải.Thế rồi chẳng bao lâu ông đã tụ tập xung quanh mình một số bộ hạ cũng có sức khỏe và tài phép hơn người,thành một đội quân bất trị. Đội quân này ngày một đông, đã từng gây náo loạn ở Thiên đình mà vỉ sợ oai Phạm Nhĩ cầm đầu đội quân tiến lên Thiên cung, đòi hạ bệ Ngọc Hoàng để cho mình trị vì thiên hạ.

Nghe tin chẳng lành, Ngọc Hoàng Thượng đế vội vàng sai các bậc tướng lĩnh đem quân nhà Trời ra ngăn chặn.Có đến mười tám vị tướng, vị nào cũng lục trí thần thông, miệng hét ra lửa, tay bẻ gãy cổ thụ, chân đạp đổ núi, nhưng không vị nào đối địch với Phạm Nhĩ được lâu.Không đầy mười ngày chỉ còn ba vị sống sót chạy về.

Ngọc Hoàng lại sai năm mươi lực sĩ hầu cận, người nào cũng tài ba và sức khỏe, ra chống chọi với Phạm Nhĩ.Nhưng cũng chẳng mấy chốc ông đã làm cho bọn này nếm mùi thất bại chua cay.Quân đội nhà Trời vốn đông như kiến cỏ, không ngờ kéo ra bao nhiêu bị diệt bấy nhiêu, cuối cùng bỏ chạy tán loạn như ong vỡ tổ.Thừa thắng,Phạm Nhĩ thúc quân tiến lên vây chặt Thiên cung.

Thấy thế, Ngọc Hoàng Thượng đế hết sức lo lắng.Theo lời bàn của các triều thần, Ngọc Hoàng vội sai Bắc Đẩu cứu đức Phật.Nghe tin cáo cấp, đức Phật sai Chuẩn Đề tài phép cao cường là thế, lại bị ăn đòn nặng nề của Phạm Nhĩ đến nỗi lê lết chạy về, xiêm giáp tả tơi.

Sau rốt, đức Phật đành phải tự thân ra đi.Trong lúc Phạm Nhĩ đương hung hăng múa may chửi bới Ngọc Hoàng và bọn triều thần bất tài bất lực,thì đức Phật đã xuất hiện giữa không trung.Phạm Nhĩ vội xông lên toan dùng sức đánh, không ngờ sa ngay vào túi thần của đức Phật, toàn thân co rúm không cất chân động tay được nữa.Thế là ông bị bắt.Bọn bộ hạ mất tướng như rắn mất đầu, không ai bảo ai tẩu tán khắp nơi.

Trước khi về, đức Phật giao lại tên tù cho Ngọc Hoàng xử trí, nhưng cũng dặn làm sao cho y hối lỗi chứ đừng giết hại.Ngọc Hoàng bèn quyết định đày Phạm Nhĩ xuống cõi trần làm kiếp vật.Nhưng trước hết Ngọc Hoàng sai cắt bỏ đôi cánh của ông để tước bớt sức mạnh, e rằng bất thần ông lại bay trở về Trời thì rất nguy hiểm.Hơn nữa, Ngọc Hoàng còn lo Phạm Nhĩ vốn mang cốt tướng nhà Trời, có thể nghe hết mọi chuyện bốn phương ngay trong giấc ngủ, mặc dù cách xa hàng ngàn dặm.Bởi vậy để làm giảm bớt trí nhớ của ông, Ngọc Hoàng hóa phép bắt lỗ tai ông mỗi khi tỉnh giấc thì khép kín lại.Tuy nhiên, thể theo lời dặn của đức Phật, Ngọc Hoàng cũng phong cho Phạm Nhĩ làm Chúa tể sơn lâm để an ủi đôi phần.

Từ khi xuống trần, tài phép của Phạm Nhĩ giảm sút đi nhiều vì không còn có cánh mà bay.Mặc dầu vậy, ông vẫn còn giữ được một sức khỏe tuyệt trần, khiến mọi thú vật khiếp sợ, xứng với danh hiệu Chúa tể mà Ngọc Hoàng phong cho.Cho đến sau này, dòng dõi nhà ông vẫn nối nhau làm Chúa sơn lâm.Ngay loài người cũng phải kiêng ông, không dám gọi cái tên “hổ”,mà chỉ gọi tránh là “ông Ba mươi”.Tại sao lại gọi là “ông ba mươi”?- Đó là vì khi có người nào săn được hổ thì nhà vua có lệ thưởng cho ba mươi quan tiền vì đã trừ được cho loài người một con thú hung ác.Nhưng vua cũng bắt người đó phải chịu ba mươi hèo cho vong hồn Phạm Nhĩ được thỏa mà không tác quái nữa.

Ngày nay còn có câu:

Trời sinh ra hùm có vây,

Hùm mà có cánh, hùm bay lên trời.

để nhớ cuộc náo động Thiên cung của Phạm Nhĩ xưa kia.[3]

29.SỰ TÍCH VỀ CHÙA THIÊN TƯỢNG

Một cụ đồ dạy học, một hôm sai học trò vỡ đám đất hoang để dựng nhà học.Cũng như truyện trên, cụ đồ mộng thấy một mẹ dắt năm đứa con nhỏ xin khoan khoan cho mình vài ba bữa.Cụ đồ sáng hôm sau dậy muộn, khi ra đến nơi vỡ đất thì học trò đã giết chết mấy con rắn con và làm bị thương con rắn mẹ. Đêm hôm ấy con rắn cũng nhỏ máu vào sách cụ đồ đang đọc xuống đúng chữ “tộc” thấm đến ba tờ.

Vợ cụ đồ sau đó có mang đẻ được một cô gái xinh đẹp.Lớn lên cô gái kết duyên với quan huyện, học trò cũ của cụ đồ.Lấy được ít lâu cô gái giết chết người vợ cả quan huyện rồi trốn đi.Cả nhà cụ đồ vì cớ ấy mà bị kết án tử hình.Còn cô gái trốn lên chùa dan díu với một chú tiểu, chẳng bao lâu chết cả hai.

Quan huyện cũng ngã bệnh nguy kịch, bao nhiêu danh sư đều bó tay. Nge đồn một sư già ở chùa Thiên Tượng giỏi bùa phép, người nhà quan đến cầu xin, sư cho một đạo bùa bảo về cất mồ người vợ lẽ và chú tiểu đi nơi khác.Khi đào lên không thấy xương cốt, chỉ thấy hai con rắn to lớn lạ thường, bèn xúm lại đánh chết.Bệnh dần dần lành.[4]

30.SỰ TÍCH CHUÔNG,TRỐNG VÀ MÕ

Một nho sĩ đi chơi cứu một con lươn lạ khỏi tay bọn chăn trâu.Thấy lươn xin tha, nho sĩ đem thả sông.Sau đó ít hôm, hỏng thi, anh trở về làng, dọc đường phải qua một con đò ngang.Người ta cản không cho anh đi, nói rằng gần đây xuất hiện một con mãng xà khổng lồ, hay làm đắm tàu để ăn thịt người.Anh đoán đó là con lươn lạ mà mình đã thả dạo nọ, nhưng anh cả tin nó sẽ nể mình là người cứu nó, bèn tình nguyện một mình đi qua sông.Mãng xà nổi lên đòi ăn thịt.Anh kể lại công ơn mình cứu nó ngày nào nhưng mãng xà nhất định không tha.Chàng nho sĩ đòi tìm trọng tài.Mãng xà cũng ưng thuận.Lần đầu gặp trâu, trâu bảo ăn thịt là phải.Lần thứ hai gặp cá gáy cũng thế.Sau cùng gặp một cụ già, kỳ thực đó là đức Phật hiện hình.Phật cho gọi cả những con vật làm trọng tài vừa rồi lại mắng sự vô ơn bạc nghĩa của mãng xà rồi biến mãng xà thành cái chuông, con trâu thành cái trống, cá gáy thành cái mõ.[5]

31.SỰ TÍCH VỀ THIỀN SƯ CẢM THÀNH

Chùa Kiến Sơ, đời thứ 2.Người Tiên Du, họ Thị.Ban đầu Sư xuất gia, tên đạo là Lập Đức, ở tại núi Tiên Du của quận mình.Sư lấy việc đọc kinh làm sự nghiệp.Có hương hào họ Nguyễn mến Sư đức hạnh cao cả, muốn đổi nhà làm chùa mời Sư tới ở, bèn đến lấy tình mời Sư, Sư chẳng chịu nhận.

Ban đêm mộng thấy Thần nhân mách: “Nếu theo ý của Nguyễn, thì chẳng mấy năm sẽ được điều lành lớn “,bèn đáp lại lời mời.[6]

Chẳng bao lâu thì Thiền sư Vô Ngôn Thông đến.Sư biết Thông là người phi thường, sớm hôm phục dịch,chưa từng biếng nhác.Thông cảm động trước lòng thành của Sư, bèn đặt tên là Cảm Thành.Một hôm, Thông gọi Sư đến dạy: “ Xưa đức Thế Tôn vì một nhân duyên lớn mà xuất hiện ở đời, hóa duyên xong xuôi, Ngài vào Niết bàn.Chân tâm vi diệu như thế gọi là Chánh pháp nhãn tạng, thật tướng vô tướng, tam muội pháp môn, chính Ngài tự thân trao cho đệ tử là Tôn giả Ma-ha Ca Diếp làm Sư Tổ, đời đời truyền nhau, đến Đại sư Đạt Ma từ Ấn Độ sang, trải bao hiểm nguy để truyền pháp này cho đến Lục Tổ Tào Khê, đắc pháp với Ngũ Tổ.Khi Đạt Ma mới đến,vì người đời chưa biết tin nên lấy sự truyền y để làm rõ việc đắc pháp.Nay đức tin đã chín mùi thì y bát là đầu mối của tranh chấp, phải dừng lại ở nơi ông, không nên truyền nữa.Từ đó, lấy tâm truyền tâm,không truyền y bát.Bấy giờ Nam Nhạc Nhượng đầu tiên được tâm truyền, rồi Nhượng trao cho Mã Tổ Nhất, Nhất lại trao cho Bách Trượng Hải.Ta nhờ ở Bách Trượng mà được tâm pháp đó.Lâu nghe phương này, hâm mộ Đại thừa cũng nhiều, nên ta xuôi Nam để tìm thiện tri thức.Nay gặp được ngươi, ấy bởi duyên xưa.Hãy lắng nghe ta nói kệ:

“Các nơi đồn đãi

Dối tự rao truyền

Rằng thủy Tổ ta

Gốc tự Tây thiên

Truyền pháp Nhãn tạng

Gọi đấy là Thiền

Một hoa năm lá

Hạt giống liên miên

Ngầm hợp mật ngữ

Muôn ngày có duyên

Tâm tông đều gọi

Thanh tịnh bản nhiên

Tây thiên cõi này

Cõi này Tây thiên

Xưa nay nhật nguyệt

Xưa nay sơn xuyên

Đụng đầu cũng vướng

Phật tổ thành oan

Sai một mảy may

Đi mất trăm ngàn

Ngươi khéo quan sát

Chớ lừa cháu con

Dẫu có hỏi ta

Ta vốn Vô Ngôn”.

Nghe xong lời đó,Sư liền tỉnh ngộ.

Một lần có vị Tăng đến hỏi: “Thế nào là Phật?”

Sư đáp: “Khắp hết mọi nơi”.

Lại hỏi: “ Thế nào là tâm Phật?”

Sư đáp: “Chẳng từng che giấu”.

Lại thưa: “Người học không hiểu”.

Sư bảo: “Đi quá xa rồi”.

Về sau,Sư không bệnh mà mất.Bấy giờ là năm Canh Thìn Đường Hàm Thông thứ nhất (860).

(Thiền Uyển Tập Anh-Lê Mạnh Thát dịch-NXB.TPHCM 1999)

32.SỰ TÍCH ĐỀN CÒN

Ngày xưa có một ông vua một nước láng giềng tên là Đế Bính.Vua lên ngôi giữa lúc có giặc ngoài đột nhập bờ cõi.Quân giặc rất đông và rất mạnh.Quân đội nhà vua chống chọi không nổi đành chịu thất bại.Vì thế chúng tiến rất nhanh, đi đến đâu cũng như vào chỗ không người.Chẳng bao lâu chúng đã chiếm lấy kinh thành và ruổi về phương Nam.Vua tôi Đế Bính chỉ còn đem nhau chạy dài.Trong cơn nguy ngập, một người trung thần đưa Vua và Hoàng hậu lên thuyền kéo buồm chạy trốn ra biển khơi.Không ngờ đoàn thuyền đi được ba ngày, thì một trận bão nổi lên đánh đắm tất cả. Những người trên thuyền đều không tránh khỏi tai nạn, trong đó có cả Đế Bính.Chỉ còn Hoàng hậu và hai người con gái bíu được vào một mảnh ván dành để mặc cho nước trôi sóng dạt.

Hồi ấy ở vùng cửa Cờn xứ Nghệ có một ngôi chùa cổ dựng trên một hòn đảo.Trong chùa có một sư trụ trì, là người quyết chí tu hành, nên sư ta tìm đến ngôi chùa hẻo lánh này để rũ sạch bụi trần, bạn cùng kinh kệ.Hôm ấy, trời về chiều, sư đang đi tản bộ quanh chùa, miệng lẩm nhẩm đọc kinh, tay lần tràng hạt.Thốt nhiên khi nhìn ra ngoài khơi,sư trông thấy thấp thoáng có một vật gì bấp bênh trên mặt sóng.Sư cố nhìn mãi để đoán xem nó là cái gì:

-Có thể là người đi biển bị nạn.Sau trận bão vừa qua có biết bao nhiêu là ván và đồ đạc trôi vào bờ.Ta phải chèo thuyền ra xem,may ra cứu được một mạng người nào thì thật là “phúc đẳng hà sa”.

Nghĩ vậy, sư vội vàng xuống bãi, cởi dây buộc thuyền rồi chèo ra khơi.Chỉ một chốc sau, sư đã đến gần vậy lạ.Thì ra đó là ba người đàn bà đang bám vào một mảnh ván.Lập tức, sư đỡ từng người một lên thuyền của mình.Nhìn cách ăn mặc, sư đoán họ là những người thuộc dòng quyền quý.

Khi thuyền chèo về đảo, một mình sư lần lượt vực ba người bị nạn lên chùa rồi đốt lửa cho họ sưởi, lại nấu cháo cạy miệng đổ vào.Sự chữa chạy tận tình của nhà sư không uổng công.Khoảng độ canh năm, cả ba người đàn bà đều đã ngồi dậy được.họ cho biết mình là ba mẹ con, đi thuyền không may bị bão.Tuy giấu kín tung tích nhưng họ không giấu được vẻ xinh xắn và lịch sự.Khi biết rõ ai là ân nhân của mình, ba người đàn bá bèn cúi rạp xuống lạy tỏ ý cảm ơn.Nhà sư vui vẻ nhường cho họ chỗ nằm trong Tăng phòng, rồi lui ra ngoài nghỉ cho lại sức.

Ba ngày sau, sư vẫn hết lòng chăm sóc ba người bị nạn.Họ đã dần dần đi lại được và ăn trả bữa.Có bao nhiêu lộc chùa, sư đều lấy ra khoản đãi.Sư còn chèo thuyền vào đất liền để tìm những thức ăn mà nhà chùa không có.

Mười lăm ngày trôi qua.Giờ đây sức khỏe của họ đã trở lại bình thường.Họ chỉ hàng ngày ngồi than khóc.Nhưng về phía nhà sư thì trong lòng không được bình thản như trước.Chưa bao giờ sư được nhìn thấy những người đàn bà mày ngài mắt phượng xinh đẹp đến thế, lại đã từng gần gũi đụng chạm nên sư đâm ra thẫn thờ. Đã nhiều lần sư đọc kinh cầu nguyện suốt buổi,cố tránh sự cám dỗ, nhưng công trình hơn ba mươi năm tu luyện cũng không thể kìm giữ được lòng ham muốn.Vì vậy việc trả họ vào đất liền để trao cho quan sở tại là việc dễ làm nhưng sư vẫn dùng dằng không quyết.Giữa một ngôi chùa trơ trọi,xung quanh là trời với nước bên cạnh lại có ba người đàn bà yếu đuối và cô đơn,sư cho đó là một cơ hội hiếm có.Rồi một đêm kia,nhân lúc hai cô gái ngủ say, sư bèn đến bên cạnh người thiếu phụ…Nhưng người đàn bà đã nghiêm nét mặt lại:

-Ôi!Sao lại thế?Anh là người cứu sống mẹ con chúng tôi, mẹ con chúng tôi suốt đời không quên công ơn to lớn đó.Nhưng còn việc đồi bại thì đừng hòng!Tôi là gái có chồng và cũng biết nhân luân đạo lý.Còn anh là một kẻ ăn chay niệm Phật, lẽ nào nói đến chuyện sắc dục mà không thẹn miệng.

Nghe lời đầy lẽ phải, sư ta lủi thủi đi ra.Nhưng đến khuya, sư lại mò vào,tay cầm một con dao nhọn:

-Nếu nàng không chịu, ta sẽ giết chết cả ba mẹ con rồi vứt xác xuống biển.

Lời dọa của sư vẫn không làm cho người thiếu phụ sợ hãi.Nàng đánh thức hai con gái dậy và nói to:

-Nếu anh cứ cố tình phạm vào người mẹ con chúng tôi thì sẽ phải hối hận.Mẹ con chúng tôi thà chết chứ không chịu nhục!

Thấy ba người đàn bà quyết tâm kháng cự và toan đập đầu vào cột chùa, nhà sư đâm ra hối hận.Sư bèn ngăn họ lại rồi nói:

-Đừng làm thế! Đừng làm thế!Chính ta mới là kẻ đáng chết.Chao ôi!Ta có ba tội đáng chết. Đi tu mà mà chẳng trót đời: đó là một. Ép nài người đàn bà sa cơ lỡ vận: đó là hai. Ép nài không được lại toan hành hung: đó là ba!Ba tội như thế, ta chết là đáng lắm!

Nói đoạn sư cầm ngược lưỡi dao đâm thẳng lên cổ.

Thấy cái chết của ân nhân diễn ra quá đột ngột, người đàn bà tỏ ra hết sức hối hận.Nàng gục xuống bên cái thây mà than khóc:

-Ôi!Ta nhờ có anh mà sống.Thế mà anh lại vì ta mà chết.Vậy ta còn mặt mũi nào mà sống lấy một mình nữa.

Trong cơn xúc động đến cực điểm,bà liền chạy ra khỏi chùa rồi nhảy xuống biển tự vẫn.

Thấy mẹ chết,hai cô gái than khóc thảm thiết rồi cũng nhảy xuống biển chết theo.

Mấy ngày sau, những người dân chài ở cửa Cờn vớt được xác ba người đàn bà.Nhìn kiểu ăn mặc và nhờ những tin tức nhận được, các quan chức cũng đoán ra đó là ba mẹ con bà Hoàng hậu Đế Bính.Cũng vào lúc ấy,những người dân địa phương còn tìm thấy xác sư ông tự tử trong ngôi chùa trên đảo.Quan sở tại sau khi mở cuộc điều tra, dần dần cũng vén được tấm màn bí mật bao phủ lấy câu chuyện éo le trong ngôi chùa cổ.Về sau, để kỷ niệm những người đàn bà tiết liệt, dân chúng đã tạc tượng ba mẹ con, lập đền thờ gọi là đền Cờn.Trong đền cũng có cả tượng nhà sư để nhắc đến một kẻ vừa là ân nhân vừa là nạn nhân của họ.[7]

33.SỰ TÍCH BÃI ÔNG NAM

Ngày ấy, những người dân chài vùng biển Nam trong khi ra khơi làm ăn thường bị tai nạn bão tố.Mỗi lần bão tố thình lình xảy ra, nếu trên đất liền chỉ đổ cửa đổ nhà thì trên mặt biển khơi có thể chết hàng trăm hàng ngàn mạng người.Không những thế, nó chôn vùi xuống đáy biển biết bao nhiêu là chài lưới, thuyền mảng, những của cải mồ hôi nước mắt tích góp không phải chỉ một ngày.Vì vậy, những dân chài vùng biển Nam luôn luôn kêu gào oán trời trách đất độc ác phũ phàng, làm cho con mất cha, vợ lìa chồng,tán gia bại sản.Cuối cùng lời kêu gào của họ cũng động đến tòa sen.

Một hôm, đức Bồ-tát ngự trên tòa sen nghe tiếng than khóc,bèn cúi nhìn xuống toàn cõi biển Nam.Nhận thấy muôn ngàn sinh linh bỏ mạng đều là những con người nghèo khổ, lương thiện, chất phác, thì động lòng thương, bèn cởi ngay chiếc pháp y mình đang mặc, xé thành từng mảnh hóa thành một con vật để chúng làm công việc cứu giúp dân chài.Vừa xuất hiện ở Nam Hải, những con vật ấy bèn bơi lội khắp nơi, cố gắng làm những việc được giao,nhưng tiếc thay,thân tuy dài, nhưng không lớn mấy, không thể chống chọi với những cơn bão tố, chẳng đủ sức che chở cho ghe thuyền, nên cuối cùng kết quả không có bao lăm.Bởi vậy, một hôm, chúng họp nhau lại trình lên tòa sen để Bồ-tát biết sự bất lực của chúng.

Thấy vậy, Bồ-tát bèn lại mượn mấy bộ xương voi ném xuống biển, biến những con vật bé nhỏ trước thành những con vật vừa dài vừa có vọc dạc khổng lồ.Bồ-tát dặn:

-Ta đã làm cho thân thể các ngươi đủ sức đương đầu với bão tố.Từ nay ta giao cho các ngươi chuyên giữ phận sự cứu nguy trên vùng Nam Hải.Các ngươi hãy cố gắng làm tròn bổn phận. Để giúp đỡ các ngươi, ta sẽ cho một số quân đi theo hầu hạ, đồng thời nhắc nhở các ngươi không được lơ là với công việc.

Nghe lời truyền phán, những con vật mới vui lòng chia nhau bơi đi các nơi làm chức trách của mình.Bọn quân hầu cũng chi nhau đi theo hết lòng giúp rập.

Nhưng Bồ-tát vẫn chưa vừa ý.Nhận thấy mấy con vật mới sáng tạo vì quá to xác nên không được hoạt bát nhanh nhẹn, Bồ-tát lại ban cho chúng phép thần thông để có thể sớm phát hiện ra tiếng kêu cứu xa hàng nghìn dặm. Đối với bọn quân hầu của chúng, Bồ-tát cũng cho một tên dùng mực để chỉ đường vạch lối cho chủ chúng đi được nhanh, một tên thì cầm một ngọn đao luôn luôn hô vệ tả hữu.Như vậy Bồ-tát đã tạo nên cá Voi, cá Mực và cá Đao.

Nhờ thế, dân chài vùng biển Nam cũng được an ủi đôi phần.Từ đó họ gọi cá voi bằng cái tên Ông Nam hay cá Ông.[8]

Bấy giờ ở một cửa biển Nam có một vàm sông[9]quen gọi là vàm Ông Đốc, có một cá Ông làm trấn thủ tại đây.Cá Ông làm việc tận tụy, ít khi xa rời vùng mình cai quản.Nhưng một hôm nó có ý muốn được ngao du một chuyến ra khỏi cõi bờ để ngắm xem cho thỏa thích.Bèn tỏ ý ấy với những kẻ tùy tòng.Cá Mực và cá Đao đều trả lời:

-Hiện nay chưa phải là mùa dông bão, ngài có đi xa cũng chẳng sao.Chỉ mong ngài phải nhớ trở về sớm, đừng có la cà mà hối không kịp.Hơn nữa cũng cần phải bảo vệ tấm thân vì ngài đang kỳ thai nghén.

Được lời,cá Ông bèn quyết chí xuất hành cùng với cá Mập và cá Đao.Chương trình đã định là sẽ vòng theo mũi biển, cứ như bây giờ gọi khác, ở đó sẽ gặp một số bạn bè và người thân thuộc, cuối cùng lại vòng theo mũi biển trở về chỗ cũ.Nhằm một buổi tối trời, cả đoàn kéo nhau ra đi.Vừa qua khỏi mũi đất, họ tiến vào vàm sông Bồ Đề. Đối với cá Ông, cuộc ngao du trở nên ngày một thú vị khi được gặp lại những người quen thuộc và được thấy những cảnh đẹp ở vùng biển Đông.Cho nên cả đoàn lưu lại nhiều ngày ở vàm sông Bồ-đề để xem cho thỏa thích trước khi rời lên phía Bắc.

Nhưng một đêm nọ, bỗng nhiên khí lạnh làm rởn da mọi người, báo hiệu một cơn sóng gió hãi hùng sắp nổ ra.Không ngờ bão tố lại xuất hiện bất thường như vậy, cả đoàn hết sức hoảng hốt.

-Trời nổi bão rồi!Chúng ta phải mau mau trở về đi thôi, vì thế nào cũng có người bị nạn.

Tiếng chủ tướng kêu lên.Và nó ra lệnh cả đoàn tập hợp đông đủ để chuẩn bị trở về.

Nhưng khi quay về, vì có phép thần nên cá Ông đã biết tin có một chiếc ghe đang vô tình vượt ra khơi thuộc vàm sông Ông Đốc.Cá Ông than thở:

-Ối!Vẫn còn có một chiếc ghe vật vờ ngoài vàm.Bây giờ mà trở về vùng ấy nhanh nhất cũng phải mất một ngày.Biết làm sao bây giờ?

Thấy cá Đao thỉnh thoảng lại húc bên hông,cá Ông hết sức lo lắng:

-Bây giờ đi về hướng biển thì e không kịp vì phải đi quanh.Chỉ có cách là chúng ta chịu liều đi tắt vào vàm sông Bồ-đề, tuy có nguy hiểm nhưng may ra có thể cứu kịp.

Bèn nói sao làm vậy, cả đoàn lại tiến phát.Nhưng khi lọt vào vàm thì bão đã nổi lên mỗi lúc một mạnh.Hơn nữa, sông Bồ-đề thì nước cạn mà thân của Ông Nam lại quá vĩ đại.Tuy vậy, theo dấu cá mực, nó vẫn cố trườn, có lúc phải trườn trên bãi đầy cây tràm và cây đước,xây xát cả mình mẩy.Hồi này nó đang mang thai.Vì phải cố gắng dùng hết sức lực nên cái thai bị sảo.Cá bé ra đời đáng lý có thể sống được, nhưng vì nước cạn nên chẳng mấy chốc thì tắt thở.Tuy lòng đau như cắt và mệt hết sức, Ông Nam vẫn không bịn rịn, vẫn cố xuyên qua dòng nước để về cho kịp vàm sông Ông Đốc, nơi mình có trách nhiệm với dân chài.

Chẳng mấy chốc cả đoàn về được đến nơi.Bão khi ấy đang tung hoành dữ dội hết mức.Cá Ông vùng ngay ra khơi, chỉ một nhoáng nó đã đội chiếc ghe sắp bị chìm lên lưng đưa vào bờ.Dọc đường nó còn cứu được  năm chiếc ghe khác đang vật vờ trong sóng biển.

Vì đuối sức,nên chuyến ấy Ông Nam bị đau đến mấy tuần.Biết được mọi việc xảy ra, Bồ-tát cũng vui lòng xá cho đoàn đệ tử tội tự ý rong chơi mà không bẩm báo.

Từ đó,dân chài vàm sông Bồ-đề lập miếu thờ đứa con vô tội của cá Ông đẻ rơi trong khi làm phận sự.

Hiện nay cái miếu ấy vẫn còn, người ta quan gọi là miễu Ông Nam.Cả cái dòng nước mà ông vượt qua ngày nay đã bồi thành bãi,người ta cũng gọi là bãi Ông Nam.[10]

34.SỰ TÍCH ĐÈO PHẬT TỬ

Ngày xưa có bốn người đêm ngày đọc kinh niệm Phật, quyết tu cho thành đạo.Bốn người có bốn họ khác nhau: Hoàng, Trần,Lý, Lắm.Ba người đàn ông, riêng họ Lắm là con gái.

Sau hàng chục năm tụng kinh niệm Phật, ăn chay tu chí trong chùa, họ đều trở thành những Tăng Ni đắc đạo.Chọn được ngày lành tháng tốt,họ liền cùng nhau tìm đường lên núi Thiên Sơn để hóa Phật. Đường đi Thiên Sơn xa lắc xa lơ,thành thử họ phải đi ròng rã mấy năm trời mới tới nơi. Đến chân núi Thiên Sơn, cả bốn người đều mệt nhọc không sao tả xiết.Nhưng ai cũng nghĩ đã tu thân quyết chí đến được đây mà bỏ cuộc thì uổng quá!Nên dù trời đã gần tối, họ vẫn theo đường mòn để leo lên đỉnh núi.Khi tới đỉnh đèo, đêm đã khuya lắm, trời tối đen như mực,bụng đói cồn cào,họ đã kiệt sức, không đi tiếp được nữa.

Cái đói và mệt nhọc buộc họ phải dừng lại nghỉ,nhưng không ai chợp mắt nổi.Bỗng một người trong bọn họ lên tiếng:

-Bây giờ nếu có một cây gậy ước thì các bậc đàn anh muốn ăn gì nào?

Mọi người đã quá đói và mệt,nên họ không còn giữ gìn nữa, ai thích thứ gì dù những thứ người tu hành phải kiêng, nay cũng nói toạc ra.

Thoạt tiên người họ Trần nói:

-Tôi ước được chén một bữa thịt chó, có đủ gia vị, cúc tần, riềng lát, rau mùi, húng chó…

Người họ Trần đang kể lể thì người họ Hoàng ngắt lời:

-Tôi mơ ước một bữa thịt trâu.Trâu càng già càng dai, nhai càng đã răng.

Người họ lý nói tiếp lời luôn:

-Tôi chỉ muốn bữa thịt gà luộc có lá chanh.

Sau cùng Ni cô họ Lắm nói:

-Tôi chỉ thích một nữa rau luộc cho mát, và húp cho đỡ khát thôi.

Sáng dậy, khi mỗi người đang chuẩn bị xuống đèo đi tiếp, thì có một ông già râu tóc bạc phơ chống gậy từ chân dốc đilên, vẻ mệt nhọc, nhưng cất giọng sang sảng nói:

-Các ngươi ở đâu đến đây?

-Thưa cụ!Bầy Tăng chúng tôi đi tìm đường lên núi Thiên Sơn để hóa Phật đấy ạ.Dám mong cụ chỉ đường giúp cho.

Nghe xong câu trả lời, ông già nói:

Được,ta sẽ đưa các ngươi đến núi Thiên Sơn nhưng bây giờ các ngươi hãy nhổ nước bọt xuống lá xây xem đã.

Nói xong, ông già rút ra từ trong túi ra bốn cái lá Bồ-đề to như nhau, rồi đặt trước mặt cho từng người nhổ vào đấy.Bốn người nhổ xong, đều cảm thấy lợm giọng, ruột gan nao nao buồn nôn.Trong nháy mắt cả bốn người đều nôn tống nôn tháo.Quái lạ là đêm hôm qua ai ước ăn gì đều nôn ra thứ đó.Thấy ba người nào là thịt gà,thịt trâu, thịt chó, duy chỉ có Ni cô họ Lắm là nôn ra rau xanh. Ông già bèn nói:

-Chính đây là núi Thiên Sơn, các ngươi đã đến cõi Phật rồi.Nhưng nôn ra toàn là thứ kiêng kỵ, thì sao gọi là chân tu được.Các ngươi không thể hóa Phật được đâu.

Rồi ông già ngoảnh lại chỉ vào Ni cô họ Lắm nói:

-Người này cứ theo đỉnh chớp mà đi lên, chớ đi xuống, sắp tới nơi rồi.

Ni cô họ Lắm theo đường mà lên, rồi hóa thành Phật Bà Quan Âm.Phật Bà có nhiều phép lạ để trị bọn âm binh quấy nhiễu, giữ gìn phúc lành cho muôn dân.Ngày nay họ Lắm thờ Phật Quan Âm trong nhà và mỗi khi Tết đến cúng Phật Bà đều phải có một cái bát canh rau.

Còn ba người kia xấu hổ vì không được hóa Phật lại mất bao công sức tu thân, nên buồn rầu mà chết ở giữa đỉnh đèo.Họ chết ở nơi hoang vắng đó, chẳng ai hay mà chôn cất, nên sau này người đời truyền nhau khi đi qua đèo đều phải mang theo nắm đất hay hòn đá ném vào chỗ đó để đắp thành mộ.Chỗ đất ấy người ta gọi là mô “Phật”.Từ đó mô “Phật”ngày một cao lên và tên đèo được đổi thành đèo Phật Tử.[11]

35.SỰ TÍCH CON CHIM BÌM BỊP

Thuở ấy có một ông thầy đã bốn mươi năm ròng rã ăn chay niệm Phật nơi cửa chùa mà vẫn chưa thành chính quả.Ông ta bèn quyết chí khăn gói ra đi để hỏi Tiên Phật xem tại sao lại như vậy. Ông ta đi mãi, ròng rã đã sáu tháng trời.Một đêm nọ, đang ở trên một ngọn núi cao nhìn xuống chân núi, ông thấy có ánh đèn le lói bèn lần theo ánh đèn tới nơi, thì ra đó là một ngôi nhà lẻ loi giữa rừng.Nhà tu hành xin vào nghỉ trọ.Một người đàn bà ra mở cửa và nói chồng đi vắng không dám cho đàn ông lạ mặt ngủ trọ.

Vào lúc đó, ông chồng của bà ta về, trông mặt mũi vô cùng hung ác.Hắn một mực đổ oan cho kẻ lạ mặt có ý sàm sỡ với vợ mình và đòi giết cho bằng được nhà tu hành.Nhà tu hành chắp tay kêu oan mà kể lể sự tình cùng gã đàn ông nọ.Nghe xong, gã đàn ông dịu sắc mặt,hỏi người tu hành:

-Ta đây giết đến bốn mươi mạng người rồi, đã sát hại nhiều sinh linh quá, không biết còn tu hành chính quả được nữa không?

Nhà tu hành liền an ủi:

-Con người ta tu cốt ở tấm lòng, nếu thực lòng hối cải thì tất là đấng thiêng liêng sẽ biết tới.

Không ngờ vừa nói xong, gã kẻ cướp bèn phanh ngực áo lấy dao moi tim mình đưa cho thầy tu, và nhờ ông ta chuyển tới Tiên Phật, nói xong liền tắt thở.Nhà sư đọc kinh siêu thoát cho gã đàn ông nọ, rồi lại khăn gói lên đường, mang theo quả tim của người vừa chết.

Nhà tu hành rời căn nhà lẻ loi ấy ra đi.Lúc này đang là mùa nóng.Trời nắng như thiêu như đốt.Ngày thứ nhất quả tim của người xấu số bắt đầu nặng mùi, nhà tu hành vẫn cứ gói kỹ lại mang đi.Ngày thứ hai, quả tim sinh giòi bọ, nhà tu hành vẫn kiên nhẫn mang đi. Đến ngày thứ ba thì mùi hôi thối nồng nặc, ruồi nhặng bay theo đen kịt.Không thể chịu được nữa, nhà tu hành bèn nghĩ bụng:-“Tu cái gì thằng kẻ cướp ấy, thôi ta quẳng nó vào bụi cây cạnh đường rồi đi tiếp”. Đi được một đoạn nhà tu hành gặp một ông cụ râu tóc bạc phơ nhưng mặt mày lại phương phi, hồng hào.Nhà tu hành bèn quỳ sụp xuống lạy rồi kể lể bao nhiêu công lao tu hành và đoạn đường vất vả, cùng ý định tới đây của mình.Cụ già đỡ nhà tu hành dậy và hỏi:

-Dọc đường có ai gửi gì không?

Lúc này nhà tu hành mới tỉnh ngộ, bèn quay lại tìm quả tim mình đã vứt đi.Tiếc cho phận mình sắp thành chính quả, nghe theo lời ông già,nhà tu hành trở lại loanh quanh tìm hết từ bụi này sang bụi khác và ngày này qua ngày kia mà chẳng thấy quả tim đâu.Cứ thế một ngày nọ ông ta chết ở bụi rậm và biến thành chim bìm bịp.Màu lông của chim nửa nâu nửa đen giống như chiếc áo của nhà tu hành ngày xưa vậy.

Người ta cho rằng sở dĩ chim bìm bịp cứ bay hay rúc hết bụi cây này sang bụi cây khác là để tìm lại quả tim nọ.[12]

36.TRUYỀN THUYẾT VỀ TỔ SƯ HUYỀN QUANG

Vào thời nhà Trần, có một người học trò trẻ tuổi ở xứ Bắc tên là Huyền Quang.Nhà chàng không đất cắm dùi, nhưng cha mẹ chàng thì cố công cố sức làm thuê làm mướn các nơi để nuôi con ăn học.Khi Huyền Quang đến tuổi lấy vợ, cha mẹ dạm cho một cô gái, con một nhà khá giả trong vùng.

Trải mấy năm trời, chàng đã từng sêu tết và đi làm rể bên nhà vợ khá là vất vả.Cho đến ngày gia đình sắm sanh lễ vật xin cưới thì đột nhiên bên nhà gái trở mặt, trả lễ lại và từ hôn.Huyền Quang lấy làm buồn lòng vì thói đời tráo trở, chàng càng đau lòng hơn khi thấy cô gái ấy thuận lấy người cháu họ một viên An phủ sứ.

Sau đó,cha mẹ chàng lại tìm cho con một đám khác, nhưng cuộc nhân duyên lần này cũng dở dang, chỉ vì nhà gái chê nhà trai không có mả làm nên, không phải là nơi nương tựa.Vì vậy cho đến năm hai mươi tuổi, Huyền Quang vẫn một thân một mình.

Từ khi thất vọng về đường tình duyên, Huyền Quang lại càng bấm chí về đường kinh sử.Năm hai mươi hai tuổi, chàng thi đậu ở trường thi quê nhà, rồi vào thi Đình đậu luôn Trạng nguyên.

Nghe tin Huyền Quang đậu Trạng, có mấy tay phú hộ ở quanh vùng bắn tin có con gái đến tuổi lấy chồng kèm theo cả một tư cơ đồ sộ.Một ông quan lớn ở kinh kỳ cũng mời quan tân khoa về thái ấp mình để xem mặt cô con gái yêu tuổi vừa đôi tám.Tiếp đó, ngày chàng vào kinh bái mạng để nhận chức, một viên Nội giám đến gặp riêng chàng và rỉ tai:

-Hoàng hậu đang kén phò mã cho Công chúa đấy.Nếu quan Trạng muốn, thì việc tốt đẹp nhất định phải thành.

Thấy tình đời như vậy, Huyền Quang than:

Khó khăn thì chẳng ai nhìn,

Đến khi đỗTrạng tám nghìn nhân duyên.

Than đoạn, chàng nguyện suốt đời sẽ không lấy vợ.Thế rồi người ta thất chàng nhất quyết từ chối mọi hứa hẹn tốt đẹp.Nhưng cuộc đời danh vọng của Huyền Quang cũng không làm cho chàng vui lòng.Nhìn thấy những cảnh tượng xấu xa trong đám quan trường, chàng lại càng ghê tởm.Từ đấy Huyền Quang tỏ ra chán đời.Làm quan chưa được bao lâu, chàng đã đệ đơn lên vua xin từ chức để đi tu.Bấy giờ cha mẹ nàng đã nối gót nhau qua đời.

Vua không thể nào bắt ép chí của chàng được.Huyền Quang tu hành rất chăm chỉ.Chẳng bao lâu, chàng đã thông thuộc tất cả kho tàng kinh sách của nhà Phật.Rồi đó, nhờ có học vấn không ai bì kịp,Huyền Quang được nhà vua ban cho danh hiệu Quốc sư.Vua còn cho chàng trông nom viện Trúc Lâm và cho Trụ trì ở một ngôi chùa lớn cai quản hàng mấy nghìn Tăng Ni.còn ít tuổi như chàng được trở thành một bậc Giáo chủ, người đời bấy giờ coi là việc hiếm có.

Hồi bấy giờ vua Anh Tông mới lên ngai vàng.Thấy vị Tổ Trúc Lâm là một người cón ít tuổi,Vua không tin là có thể chịu đựng nổi sự diệt dục khổ hạnh. “ Cứ đưa đến một cô gái đẹp, nhất định thế nào thầy cũng sa ngã”.Nghĩ vậy,Vua có ý định thử xem đạo đức của vị trẻ tuổi này như thế nào.Nhân mấy ngày Hoàng hậu se mình, Vua cho triệu Tổ về kinh làm lễ cầu siêu.Sau mấy đêm ngày công việc cầu siêu đã xong, trước khi chàng trở về chùa, Vua sai ban cho 10 lạng vàng để đền công khó nhọc.Huyền Quang không tiện chối từ, đành phải cầm lấy, nhưng chàng đâu có ngờ rằng cái bẫy đã bắt đầu giương ra để đợi người nhẹ dạ.

Thế rồi sau đó ít lâu,Vua cho một cung nữ nhan sắc xinh đẹp, tên là Điểm Bích, tìm cách đến chùa, nơi Huyền Quang trụ trì, bảo phải quyến rũ cho bằng được.Vua còn dặn Điểm Bích phải làm sao lấy ở sư thầy ít nhất là một lạng vàng đưa về làm tang chứng.

Lại nói chuyện Huyền Quang,hôm ấy nghỉ tại một thiền trai cất trên một ngọn đồi, cách viện Trúc Lâm chừng vài dặm. Đây là một gian nhà nhỏ, rất tĩnh mịch mà Vua sai xây cho chàng để nghỉ ngơi sau những ngày giảng kinh mệt nhọc.Vào khoảng tắt mặt trời, chú tiểu đưa vào một cô gái vẻ mặt hốt hoảng nhợt nhạt, áo xống tơi tả.

-Bạch thầy, người này bị cướp đuổi vừa gọi cửa kêu cứu.

Đó là Điểm Bích, lúc này đã cải trang thành một cô gái quê mùa.Nàng khóc sướt mướt, một hai xin nhà chùa cho ở trọ đêm nay.Nàng bịa ra câu chuyện bị côn đồ đuổi và phải chạy trốn vất vả như thế nào làm cho Huyền Quang không thể từ chối được.Cuối cùng theo lệnh của chàng, chú tiểu sắp xếp cho Điểm Bích một chỗ nghỉ ở phía ngoài thiền trai.

Sự  việc vừa xảy ra làm cho Huyền Quang thấy trong lòng không được yên tĩnh.Chàng để cho chú tiểu đi nghỉ, rồi giở quyển kinh ra tụng niệm mãi tới khuya.Sắp sửa đặt lưng xuống giường, chàng bỗng nghe tiếng rên rỉ của người đàn bà.Chàng lại phải đánh thức chú tiểu dậy xem thử thế nào.Khi nghe nói người đàn bà muốn xin được vào nằm phía trong thiền trai, vì ở ngoài không ngăn được sự sợ hãi, Huyền Quang lấy làm bối rối.Nhà thì hẹp, chỉ có ba gian, nhân thân chỉ có hai thầy trò, các tăng chúng đều ở xa không tiện gọi.

Suy nghĩ giây lát, Huyền Quang bất đắc dĩ cho người đàn bà vào ở chỗ tiếp khách, còn mình thì lui vào trai phòng khóa cửa lại.Nhưng vừa chợp mắt đi được một lúc, đã lại nghe tiếng rên rỉ ở phía bên ngoài.Chàng lại ngồi dậy, cầm lấy tràng hạt và quyển kinh. Nhưng khi bước ra khỏi trai phòng, qua ánh đèn dầu le lói, chàng đã thấy người đàn bà nằm lõa lồ trên bộ ván.Chàng bước vội trở vào và quyết định ngồi trên giường tụng niệm cho tới sáng để tránh sự cám dỗ.Không ngờ giữa lúc những tiếng tụng niệm vừa cất lên thì Điểm Bích ở đâu đã sán lại ngồi bên cạnh chàng, nói những câu cảm ơn nhưng lại xen vào nhiều lời khêu gợi.

Biết người đàn bà này đến đây có mục đích không lương thiện, Huyền Quang liền nghiêm nét mặt lại:

-A-di-đà-Phật.Nàng là ai? Tại sao tìm đường vào đây để quấy rối những người tu hành?Nếu không mau mau cải tà quy chính, ta sẽ hô hoán lên cho mọi người đến cầm lá dắt ra khỏi tu viện.

Thấy Huyền Quang không phải là hạng người dễ quyến rũ, Điểm Bích đành phải thay đổi thái độ.Nàng chuyển sang bộ mặt rầu rĩ và bịa ra câu chuyện để gợi lòng trắc ẩn.

-Thiếp vốn là con nhà thế phiệt.Bố thiếp làm quan một huyện ở vùng biển.Mùa tháng năm vừa rồi, nhân đi thu thuế được ba nghìn quan, cho dân phi đài tải về kinh.Không ngờ bị bọn cướp đường đón lấy mất cả.Quan trên thương tình cho khất đến cuối năm.Hiện nay bố thiếp thu góp tư trang mới được chừng một nữa.Bởi vậy thiếp phải đi khắp đó đây xin các nhà từ thiện, kẻ ít người nhiều để bù vào số thiếu.Hôm nay đánh bạo đến đây xin Hòa thượng rũ lòng thương xót, quyên cấp cho ít nhiều.Nhưng thấy cảnh chùa tôn nghiêm, nếu nói thật chưa chắc đã được, vì vậy phải dùng mẹo nhỏ để gặp Hòa thượng, sau đó mới tỏ bày mục đích.Dám xin Hòa thượng mở lượng hải hà cứu vớt lấy bố thiếp và cả nhà thiếp.Thiếp nguyện đưa thân nữ tỳ hầu hạ suốt đời.

Nghe nàng sụt sùi kể lể, Huyền Quang không ngăn được cảm động.Chàng vội trả lời:

-Nàng đừng có lo lắng gì cả.Ngày mai ta sẽ tiến triều,tâu với Vua xin tha tội cho cha nàng.

Sợ Huyền Quang về triều thì việc của mình không đạt, Điểm Bích lại nói:

-Bạch Hòa thượng, việc của bố thiếp còn may là chưa đến tai Thánh thượng.Hòa thượng về tâu giúp cho thật là công đức vô biên, nhưng thiếp không muốn vì việc nhà thiếp làm phiền Hòa thượng phải xuống núi nhọc sức.

Huyền Quang sực nhớ tới mười nén vàng của Vua còn bày ở trai phòng.Chàng vội lấy ra đưa cho người đàn bà mà rằng:

-Ta biếu nàng tất cả,nàng đưa về mà chuộc tội cho cha!

Lại nói chuyện khi trở về cung,Điểm Bích liền nộp mười nén vàng và tâu dối với vua rằng mình đã cám dỗ được con mồi. Để vua tin, nàng còn đọc lên một bài thơ yêu đương nói là của Huyền Quang đã ngâm tặng mình trước khi phá giới:

Vằng vặc trăng mai ánh nước,

Hiu hiu gió trúc ngâm sinh.

Người vừa tươi tốt, cảnh vừa lạ,

Mâu Thích Ca nào chẳng hữu tình.

Nghe xong câu chuyện và nhìn thấy mấy nén vàng, nhà vua thở dài hối hận:

-Chao ôi! Bậy quá!Ta đã làm hại một vị tu hành trẻ tuổi.Tự dưng vô cớ đi gài bẫy, nhất định con chim khó thể tránh được.Biết làm thế nào bây giờ?

Nghe nói thế, một viên quan ghé vào tai Vua hiến kế:

-Tâu Bệ hạ,xin Bệ hạ cho thiết lập một lễ cúng Phật, dọn toàn cỗ mặn rồi mời Thầy về làm lễ.Nếu quả là Thầy còn trong sạch thì chư Phật sẽ độ cho cỗ mặn hóa ra chay, nhược bằng đã hư hỏng rồi thì chẳng bao giờ được độ.

Vua cho là phải, bèn hạ lệnh cho gọi Huyền Quang về triều để chàng làm một lễ chay trọng thể vào dịp rằm thánh bảy sắp tới.Vua còn bắt quân hầu dựng một đàn tràng nguy nga, các rạp đều trần thiết toàn bằng lụa hoàng quyến.Trái hẳn với tục lệ nhà chùa, hôm bước vào chính lễ,Vua ra lệnh cho giết bò và lợn, dọn toàn cỗ mặn.

Khi sắp bước vào rạp, Huyền Quang biết nhà vua cố ý làm nhục mình.Các mâm cỗ mặn tanh tưởi bày trên đàn kia, nếu không phải là một sự xỉ vả thì còn gì nữa.Lụa hoàng quyến nói lái lại rõ ràng ám chỉ hai tiếng “Huyền Quang”.Chàng bèn ngửa mặt lên trời lớn tiếng khấn:

-Kẻ đệ tử này nếu có điều gì bất chính,xin chư Phật cho đày xuống A-tì địa ngục,còn nếu không thì xin cho những cỗ mặn kia hóa thành chay tất cả!

Tự nhiên một trận gió mạnh nổi lên, cát bụi mù mịt, trời đất tối sầm cả lại.Một chốc gió tan,mọi người nhìn lên đàn tràng,lạ thay,tất cả các mâm cỗ mặn đều biến thành cỗ chay tinh khiết thơm thơ,mọi mùi tanh tưởi đều đã bị quét sạch từ bao giờ.Huyền Quang thủng thỉnh bước lên đàn tràng giữa tiếng reo hò của Chúng Tăng và mọi người.Vua Anh Tông được tin ,lập tức ra lệnh bắt Điểm Bích bỏ ngục để chờ ngày phán xử,rồi xa giá tới gặp Huyền Quang tạ lỗi.Câu nói đầu tiên của Huyền Quang là xin vua tha tội cho Điểm Bích.[13]

Khảo dị 1:

Theo lời kể của một số người Bắc Ninh khác thì phần sau câu chuyện có khác với truyện vừa kể:

Hồi ấy nhà vua ngự giá đi chơi có tặng Huyền Quang hai mươi lạng vàng.Việc nhận vàng làm cho nhà vua nghi ngờ tấm lòng cao thượng của Huyền Quang.Lúc về cung Vua cho gọi các phi tần, cung nữ xem ai có thể nhận nhiệm vụ thử thách vị tổ trẻ tuổi.Không một ai chịu đi cả.Sau cùng có Công chúa thứ ba-một cô gái học giỏi-nhận lời.Cũng như truyện trên,Công chúa cải trang tìm đến chùa,bịa ra câu chuyện cướp đuổi,xin trọ.Huyền Quang cho ở phía ngoài.Sự khiêu khích lần đầu của Công chúa không có hiệu quả.Trong chùa,Huyền Quang tụng hết quyển kinh này sang quyển kinh khác.Ngoài này, Công chúa dùng bút giấy ghi chép tất cả.Sáng hôm sau,Huyền Quang lục thúng khảo của Công chúa thấy những bản ghi chép không xót câu nào thì ngạc nhiên tưởng là tiên,bèn xiêu lòng.Sau đó Công chúa xin về,trong thúng có hai mươi lạng vàng của Huyền Quang tặng.

Vua có đủ chứng cớ, cho đòi Huyền Quang về bắt làm tờ tự thú.Có câu:

Tụng ba mươi sáu quyển kinh,

Bụi trần chưa sạch,tơ tình còn vương.

Nay nhờ ơn lệnh quân vương,

Rộng dung ân xá đội ơn nghìn trùng.

Các quan đều quỳ lạy xin tha  cho Huyền Quang.Một người hiến kế cho vua như trên đã kể.Nhưng phép của sư còn thiêng,bao nhiêu cỗ mặn đều hóa chay cả.Vua tha cho, nhưng Huyền Quang cũng không được thành Phật.Có câu ngạn:”Từ Thức tu không thành tiên, Huyền Quang tu không nên Phật”.[14]

Trong sách “Huyền Quang Hành”[15]có kể truyện Huy Huyền Quang,nội dung tương tự với lời kể trên Đại thể là:

Sư Huyền Quang nổi tiếng chân tu, được vua Trần Minh Tông kính trọng,ban mười lạnh vàng.Nhưng sau đó Vua sai Nguyễn Thị Bích đi thử,dặn lấy cho được vàng làm tin.Lúc đầu Sư cự tuyệt không cho vào,nhưng vì nàng dùng lời nói khéo khẩn cầu, nên Sư cho ở phía ngoài Tăng phòng. Đêm khuya gió mát, trăng sáng như ban ngày.Sư ngủ không được,bèn đi tản bộ quanh chùa, thấy khách hơi lõa lồ,bèn bỏ đi.Nhưng rồi Sư lại trở lại, không giữ được lòng nữa,bèn làm thơ tỏ tình. Đến lượt cô gái cự tuyệt,khiến Sư phải cho vàng mới xong.Thấy vàng, Vua bèn gọi Sư về bày đàn thuyết pháp.Trông thấy bức màn bằng lụa quyến nhuộm vàng,Sư nói: “Hoàng quyến nhuộm sắc tức là ta”. Đoạn sau, không có chuyện cỗ mặn hóa thành chay.[16]Còn có câu ca truyền lại:

Dù mà cạn nước Bình Than,

Rửa làm sao sạch tiếng oan cho thầy.[17]

Về nàng Điễm Bích, cũng có truyện riêng:

Tương truyền nàng là con một người đàn bà ăn xin ở huyện Đường Hào (Hải Dương).Sinh ra không có cha, người mẹ đem nàng cho một nhà giàu làm con nuôi,mang tên là Tam Nương (nàng Ba) và được theo đòi bút nghiêng.Dần dần học rộng, giỏi thơ văn, được vua Trần Anh Tông kén làm cung nữ, có lúc Vua vì trọng tài gọi nàng là “gái thần đồng”.Vì vu oan cho Huyền Quang, Điểm Bích sau đó bị giáng làm nữ tỳ hầu ở chùa trong cung Cảnh Linh.[18]Trong “Vũ Trung tùy bút”, Phạm Đình Hổ có nói rằng, hồi còn bé ông có được nghe kể chuyện về Điểm Bích và người ta còn đào được mộ nàng.

Khảo dị 2:

Truyện kể về vị Tổ thứ ba của chi phái Trúc Lâm là nhà sư Huyền Quang (tên thực là Lý Đạo Tái),có đoạn kể lại việc vua Trần thử thách sự trì giới của nhà sư như sau:

“Khi ấy Sư sáu mươi tuổi.Một hôm nhà vua bảo thị thần và Tăng đạo rằng:

-Người ta sống ở trong trời đất, mang khí âm, ôm khí dương, ăn thì thích vị ngon, mặc thì thích màu đẹp, ai nấy đều có tình dục.Bọn chúng ta mà ngăn hãm cái mặt ham muốn ấy chính là có thể dốc lòng phụng đạo, như thế đã đành đi một lẽ vậy.Cớ sao vị Lão tăng Huyền Quang từ trước đến nay, chỉ có một lẽ sắc sắc không không, như nước chẳng gợn sóng, như gương chẳng bụi mờ. Đó là vì ngăn hãm tình dục chăng?Hay là vì không có tình dục chăng?

Có một viên quan từ bên cạnh tâu rằng:

-Vẽ hổ chỉ vẽ được da, khó vẽ được xương.Biết người chỉ biết được mặt, khó biết được lòng.Xin hãy thử để xem như thế nào là đúng.

Nhà vua nhìn xem ai, thì đó là một học sĩ trẻ, Lưỡng quốc Trạng nguyên, họ Mạc tên là Đĩnh Chi.Nhà vua cho ý kiến là phải.Bèn im ắng không hề động đạc, không lộ góc cạnh, ngầm có ý chọn lấy trong đám cung nữ một người dưới hai mươi tuổi, có cái nõn nà như Phi Yến[19],có cái đẹp khéo như Điêu Thuyền[20].Có một cung nhân tên là Điểm Bích, hiệu là Tam Nương…Nhan sắc rất đẹp,tính lại ham học,cửu lưu tam giáo không có cái gì là chẳng thông hiểu…Điểm Bích khi tuổi mới lên 9, đã được tuyển vào trong cung làm nữ cung nhân…Thơ trường thiên ngũ ngôn cứ mở miệng là thành chương, thơ quốc ngữ lại càng giỏi…Nhà vua khen rằng đó là nữ thần đồng…Khi ấy nhà vua triệu vào nội điện,ban cho bút trát và bảo rằng:

-Ông sư ấy vốn không có sắc dục, tính nết cương phương, giới hạnh rất cao.Nàng có nhan sắc, giỏi ngôn từ,lại thông kinh sử.Nàng hãy đến thử thách ông sư ấy, nếu thấy động tình quyến luyến thì dỗ dành xin được vàng mang về đây làm chứng cớ.Nếu dối trá thì có tội đấy.Nàng phải kính cẩn mà làm theo ý chỉ này của trẫm.

Thị Bích nhận lệnh chỉ của vua ra đi, đem theo một nữ tỳ. Đến (chùa) Vân Yên, vào gặp một bà vãi già,khai quê hương và căn cước, xin xuất gia tu hành học đạo, nhờ gửi lời lên Quốc sư (Huyền Quang).Bà vãi già thường sai Thị Bích sớm chiều dâng nước chè lên Quốc sư.Sư thấy con người này khi động khi dừng,có cái vẻ Hằng Nga trên mặt trăng lả lơi với gió,không phải là hạng Phật tử cầu đạo, bèn sai Tăng Ni chuyển lời trách bà vãi già,truyền bảo nàng Thị Bích quay về nhà đi lấy chồng, lập sinh nghiệp, đợi khi về già thì sẽ lại cho đến học đạo.

Thị Bích thấy Sư nghiêm túc,khó chuyển lay, bèn nói với Tăng Ni rằng mình vốn con nhà quan,cha thu thuế đem về kinh nộp bị mất trộm hết cả tiền, đương lo phải tội nàng phải đi khuyến giáo lấy tiền cứu cha.Nay xin vâng lời ra về,nhưng mong được giúp đỡ.Tăng Ni thưa với Huyền Quang.Sư bèn cho nàng một dật vàng để góp vào số tiền mà nàng cần có để giúp cha đền vào công quỹ.Và Thị Bích được vàng,bái biệt để về.

Về đến kinh, vào gặp vua, quỳ tâu rằng:

-Thiếp vâng ý chỉ của Bệ hạ đi thử Quốc sư Huyền Quang. Đến chùa Vân Yên, ở nhờ một bà vãi già, tự xưng là con gái nhà dân, xin được học đạo tôn sư.Bà vãi già sai thiếp dâng nước chè lên cho Sư. Được hơn một tháng,Sư không hề nhìn, liếc,hỏi han gì cả.Một hôm vào buổi tranh tối, tranh sáng,Sư lên tụng kinh, đến canh ba,Sư và Tăng Ni ai nấy về phòng mình để ngủ.Thiếp bèn đến cạnh phòng của Quốc sư để nghe xem động tĩnh, thì thấy Quốc sư ngâm bài lệ rằng:

“Vằng vặc giăng mai ánh nước,

Hiu hiu gió trúc ngâm sênh.

Người hòa tươi tốt, cảnh hòa lạ,

Mâu Thích Ca nào thửa hữu tình”.

Ngâm đi, ngâm lại mãi.Thiếp bèn vào tăng phòng, từ biệt Sư để về nhà thăm cha mẹ, hẹn sang năm sẽ quay lại học đạo.Sư bèn giữ lại ngủ một đêm,rồi cho thiếp một dật vàng.

Nhà vua nghe lời tâu thì bực bội, không vui mà nói rằng:

-Việc này nếu quả có thực thì đó là vì ta giăng mắc lưới vây ở cửa tổ chim mà bắt chim vậy.Nếu việc không có thực thì Quốc sư khó tránh khỏi phải chịu đựng mối ngờ đối với người sửa dép vườn dưa vậy.

Bèn mở hội Vô Già ở phía tây kinh thành, cho mời Sư đến,giao cho giữ ngôi mật án pháp trong lễ hội ấy.Cà-sa,y bát,pháp khí, tất cả đều đem ra dùng; đồi mồi, vàng bạc, châu báu la liệt đem ra trang hoàng.Sư thấy vua mời, bèn về kinh thành yết kiến.Hôm sau, sáng sớm, Sư đến đàn làm lễ.Bốn đàn lễ đều căng lụa quyến vàng,tạp vật thuộc các loại, đèn hương của sáu lễ cúng đều bày biện đầy đủ cả.Sư đã biết bữa trước bị nhà vua sai cung nữ đến thử mình,ngẩng mặt lên trời than thở, lên đàn ba lần, đứng trống trải giữa đàn,vọng bái hiền thánh mười phương, tay trái cầm bình ngọc trắng, tay phải cầm cành liễu xanh, miệng thầm niệm chú,rưới nước phép từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, khắp đàn làm lễ.Bỗng thấy một đám mây đen từ phương tốn hiện lên,bụi cát bay che mù mịt cả bầu trời, chỉ một lát lại tan hết.Tất cả các tạp vật trên đàn làm lễ đều bay đi mất sạch,chỉ đèn hương của sáu phép cúng là còn lại mà thôi.Các đạo tràng và tất cả mọi người xem hội đều kinh sợ, thất sắc.Vua thấy phép của Quốc sư thông cảm đến cả trời và đất,bèn rời chiếu lễ, đến lạy tạ lỗi trước Quốc sư.Vua giáng Thị Bích làm phu quét rửa chùa Cảnh Linh ở trong cung.Từ đó càng thêm tôn kính nhà sư, gọi là Tự Pháp,nghĩa là người nối dõi Phật Pháp”.

(Văn học VN-Đinh Gia Khánh chủ biên-NXB.GDXH-2001)

Khảo dị 3:

Sau đây là thêm một số truyền thuyết về Tổ Huyền Quang.

A.Câu chuyện nàng Điểm Bích với Sư Huyền Quang chỉ là dã sử lưu truyền…

Theo chuyện kể của Đỗ Đình Thọ thì đây là: “Nghi án văn chương về một thiên tình sử”.

Về sự thật của mối tình ấy, không ai kết luận được.Có điều lạ là có người đời vẫn không quên nàng.Nhà thơ Phạm Đình Hổ kể rằng:Vào thời Cảnh Hưng (1970), mộ nàng  Điểm Bích ở làng Hoạch Trạch (huyện Cẩm Bình),khi đào lên thấy áo quan vẫn còn sơn son y nguyên.Mở ra xem, trong quan đầy nước trong veo,hương thơm ngát mũi, liền đậy lại.Nên có nhiều nhà thơ ca ngợi nàng…Trong đó có bài của Nhữ Công Chân:

Tăng hương tiêu phòng,khoa yểu điệu

Khước lai sơn tự,bạn không thiền.

Nghĩa là:

Phòng khuê thuở trước từng khoe đẹp

Chùa núi sau này, tựa cảnh không…

Về sau Binh bộ Thượng thư Ninh Tốn khi qua Yên Tử đã để lại vần thơ viếng nàng, đầy lòng thương cảm…

Bích nương từ buổi biệt sơn môn,

Muôn thuở còn ghi, nỗi tủi hờn.

Muốn mượn xạ lan,xông cửa Phật.

Đâu ngờ cây đá,khóa thiền quan.

Giai nhân không sức, gây nền Pháp,

Nước tịnh hiềm chi, giả sắc oan

Du khách bồi hồi, tìm dấu cũ

Giã từ chẳng giữ, chút hương tàn…

Vậy còn mối tình của nàng với Huyền Quang với chủ mưu là tìm cách tỏ tình với Huyền Quang,nhưng luôn bị Huyền Quang lảng tránh.

Một hôm thấy Điểm Bích đang trầm tư ngồi thêu bên cửa sổ, Huyền Quang tức cảnh sinh tình làm bài thơ:

Giai nhân tức sự,

Nhị bát giai nhân, thích tú trì

Tử Kinh hoa hạ, chuyển hoàng ly

Khả liên vô hạn, thương xuân ý

Tân tại đình châm,bất ngữ thi.

Dịch thơ:

Mười sáu giai nhân, bỗng ngập ngừng

Đôi oanh thỏ thẻ, gốc hồng nhung,

Chạnh niềm tâm sự, thương xuân quá…

Mũi chỉ đường kim, khoảng khắc dừng…

Đọc thơ của Huyền Quang, Điểm Bích sung sướng thấy ông là vị sư có tâm hồn phóng khoáng, nhập thế, yêu đời thương người…nên nàng lại tìm cách tỏ tình, nhưng Huyền Quang vẫn cứ im lặng.Nàng bực mình làm một bài thơ tỏ vẻ khiêu khích…(đã dẫn ở trên).

Xem thơ Điểm Bích, Huyền Quang gật gù tỏ ý khen…Điểm Bích lại tiếp tục tỏ tình, để tỏ tài chinh phục.Nhưng rồi Huyền Quang vẫn cứ mô Phật, lặng im.Tức quá, nàng bèn nghĩ kế đánh lừa (như truyện đã nêu).

Như vậy thực hư thế nào…chỉ có Huyền Quang và Điểm Bích mới biết.

Theo xu hướng bảo vệ danh dự cho Đệ tam Tổ Trúc Lâm, nhân dân thời đó đã đặt ca dao để minh oan cho Ngài:

Dù cho tát cạn Bình Than,

Cũng không rửa được nỗi oan cho thầy.

B.Sự tích về Huyền Quang

Cũng tại nơi đây, năm Quý Sửu (1313),khi ông Trụ trì tại chùa Vân Yên, đã để lại một sự tích.

Một hôm,vua Anh Tông bảo quần thần và Tăng nhân rằng: “ Người ta sinh ra ở đời ăn của ngon, yêu sắc đẹp, người nào cũng có lòng dục.Chúng ta vì dốc lòng học đạo, mà phải ức chế, nhưng cũng chỉ được một phần mà thôi.Nay xét Lão tăng Huyền Quang, theo lẽ sắc sắc, không không, yên lặng như nước không sóng, trong sáng như gương không bụi, như thế là sự ức chế được lòng dục, hay không có lòng dục?”Học sĩ Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đỉnh Chi tâu: “Hoạ hổ họa bì,nan họa cốt.Tri nhân tri diện,bất tri tâm (Nghĩa là:vẽ hổ, vẽ da,khó vẽ được xương.Biết người ,biết mặt, không biết được lòng dạ thế nào.)Hãy cho thử xem,thì mới biết hay dở.”Vua nghe theo.

Bấy giờ trong triều có một cung nữ đang tuổi thanh xuân, tài sắc hơn người.Quê nàng ở huyện Đường An,mẹ nàng góa chồng từ khi còn trẻ.Bà đến chùa Quỳnh Lâm lễ Phật, đêm ngủ lại chốn Thiền môn, có người đàn ông không quen biết, đến gian díu.Sau đấy bà có thai, sinh con gái,dân gian gọi là em bé Quỳnh Lâm.Em lớn lên, ngày càng xinh đẹp, thông minh và ham học.Chín tuổi được tuyển làm cung nữ, vua khen là nữ thần đồng, đặc biệt có tài thơ Nôm.Người đó là Điểm Bích.Vua chọn Điểm Bích là người kiểm nhiệm sự chân tu của Huyền Quang.Trước lúc nàng ra đi, Vua dặn: “Phải lấy được thỏi vàng của Huyền Quang, nếu Lão tăng còn tình dục”.