Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Truyện Phật Giáo


 

 

 

 

 

Những truyện cổ Việt Nam

mang màu sắc Phật Giáo

 

Lệ Như Thích Trung Hậu

Sưu tầm & giới thiệu

=============

Phần 1

1. SỰ TÍCH CHÙA MỘT CỘT

Ngày xưa, vào đời Lý, vua Lý Thái Tôn là một tín đồ nhiệt thành của đạo Phật, theo phái Vô Ngôn Thông.

Thuở bấy giờ, đạo Phật đang độ bành trướng, riêng triều đại này nhà vua truyền xây 95 ngôi chùa mới, trùng tu lại tất cả những tượng Phật và trong các dịp lễ lớn này đều ban tha thuế cho toàn dân.

Năm 1049, một hôm vua Thái Tôn nằm mộng thấy Phật Bà Quan Âm hiện ra, đưa nhà vua đến một tòa sen rạng ngời ánh sáng. Sau khi tỉnh dậy, Vua thuật lại câu chuyện chiêm bao cho quần thần hay. Thiền tăng Thuyền Lã, vị sư đã hướng dẫn nhà sư trên đường đạo hạnh, bàn cùng nhà vua nên dựng một ngôi chùa để nhớ ơn đức Quan Âm.

Chùa Diên Hựu được dựng lên theo hình hoa sen, ở trên một cái cột lớn độc nhất giữa một cái ao trồng toàn sen gần kinh đô. Ngôi chùa kiến trúc đặc biệt theo nghệ thuật Đại la đời nhà Lý, tục gọi là chùa Một Cột. Ngày nay vẫn còn ở đất cố đô Thăng Long, ghi lại cuộc gặp gỡ kỳ ảo giữa ông vua mộ đạo với Phật Bà Á đông[1].

Khảo dị:

Chùa một cột ở phía tây Thủ đô, thuộc thôn Ngọc Thanh, khu Ngoc Hà. Nơi đó nguyên có một cái hồ hình vuông, giữa hồ có một cột đá, cao chừng hai trượng, chu vi chín thước, đầu trụ đặt một tòa chùa ngói đỏ, hình như một đóa hoa sen dưới nước mọc lên, người ta gọi là chùa Nhất Trụ hay là chùa Một Cột. Chùa xây từ năm 1049, tức là năm đầu niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo vua Thái Tôn nhà Lý.

Tục truyền khi ấy vua Thái Tôn tuổi đã cao mà chưa có con trai, thường đến cầu tự ở các chùa. Một đêm nằm chiêm bao thấy đức Phật Quan Âm hiện trên đài hoa sen trong một cái hồ vuông ở phía tây thành, tay bế một đứa con trai đưa cho nhà vua.

Sau đó nhà vua quả sinh được con trai. Nhà vua liền sai lập chùa Một Cột để thờ Phật Quan Âm. Khi chùa làm xong, nhà vua triệu tập hàng ngàn Tăng Ni đứng chầu chung quanh, tụng kinh suốt bảy ngày đêm, và lập thêm một ngôi chùa lớn ở ngay bên cạnh để thờ chư Phật, gọi là chùa Diên Hựu.

Năm 1105, vua Nhân Tôn nhà Lý cho sửa lại chùa, dựng lên một cây tháp bằng đá trắng gọi là tháp Bạch Tuynh, cao 13 trượng ở trước chùa Diên Hựu. Từ tháp Bạch Tuynh vào chùa Một Cột, đi bằng một hành lang cầu vồng. Mỗi tháng hai ngày rằm, mùng một, nhà vua cùng các hậu phi,cung tần và cận thần tới chùa lễ Phật. Đặc biệt là hằng năm cứ đến ngày tám tháng tư là ngày Phật Đản, nhà vua lại ngự ra chùa trước một đêm, giữ mình chay tịnh, ngày hôm sau làm lễ tắm Phật. Rất đông Tăng Ni và nhân dân các nơi tới dự, làm nên ngày hội lớn hàng năm ở thủ đô. Ngày ấy, trước chùa lại có một lễ lớn gọi là Lễ Phóng sinh. Lễ tắm Phật xong rồi, nhà vua đứng lên đài cao, tay cầm một con chim thả cho bay đi, rồi các tăng Ni và các nam nữ thiện tín, đua nhau mỗi người thả một con, bóng bay rợp trời.

Năm 1922, trường Viễn Đông Bác Cổ có sửa chữa lại, giữ theo đúng như quy chế cũ.

Đêm ngày 11 thánh 9 năm 1954, tay sai của thực dân Pháp, trước khi phải giao trả thủ đô cho Chính phủ và nhân dân ta, đã cố ý đặt mìn để phá hoại chùa Một Cột. Ngày sau khi tiếp quản thủ đô, chính phủ ta đã cho chiếu theo đồ dạng cũ, sửa chữa lại ngay; tháng 4 năm 1955, chùa Một Cột lại được hoàn nguyên như cũ.

Từ đầu 1958, cây bồ đề của đất Phật Ấn Độ kính tặng Hồ Chủ tịch nhân dịp Người đi thăm Ấn Độ, được đem trồng trong chùa.

Nói đến chùa Một Cột này, có một việc cần phải nói rõ là : chúng ta đọc sử về đời Lý-Trần, vẫn thấy nói đến “ An Nam tứ khí” nghĩa là bốn thứ kiến trúc lớn ở nước Nam[2], mà quả chuông ở trước Chùa Một Cột là một.

Theo sử cũ chép : Cũng về đời vua Nhân Tôn nhà Lý, vào năm Long Phù thứ tám (1108), nhà vua cho xuất kho một vạn hai ngàn cân đồng để đúc một quả chuông lớn gọi là Giác Thế Chung ( quả chuông thức tỉnh người đời) để treo ở chùa Diên Hựu, định mỗi khi đánh một tiếng chuông, tiếng sẽ vang đi mấy dặm. Xây một tòa phương đình toàn bằng đá xanh, cao 8 trượng, trên nóc đình bắc những đóng sắt to để treo chuông. Xây đình và đúc chuông, hơn một năm mới xong, hàng ngày các nơi phải thay nhau đưa dân phu đến phục dịch. Thân hình quả chuông không biết to lớn thế nào, chỉ biết khi đúc xong không thể nào treo chuông lên được, đành cứ phải để chuông đứng sát mặt đất, nên đánh chuông không kêu. Rồi bao nhiều lần dồn ép hàng ngàn người xúm vào ra sức vần xoay, kết cục chỉ vật ngã được quả chuông lăn kềnh trên mặt ruộng. Lúc đầu người ta còn làm mái che chuông, lâu ngày chẳng ai đoái hoài, mặc cho chuông nằm phơi mưa gió. Nơi chuông nằm lại vốn là một ruộng nước, lòng chuông trở thành cái tổ êm ấm cho từng đàn rùa chui ra chui vào. Vì vậy chuông lại được mang cái tên là chuông ruộng rùa.

Chuông bị dải dầu như thế đến hơn ba trăm năm. Năm 1427, bọn phong kiến nhà Minh sang xâm chiếm nước ta đã hai mươi năm, bị quân dân ta do Bình Định Vương lãnh đạo kháng chiến anh dũng, phải rút về cố thủ ở thành Đông Quan ( tức Hà Nội), rồi bị quân ta vây hãm hơn hai tháng, lương thực bị thiếu thốn, khí giới đạn dược cũng hao mòn, chúng phải vơ vét hết các đồ đồng ở dân gian, rồi đến cả phần thân trên bằng đồng của tháp Báo Thiên và quả chuông ruộng rùa này để đúc sung đạn, nhưng kết cục chúng cũng phải đầu hàng quân ta, cuốn giác về nước.

Về sự tích chùa Một Cột này lại có một truyền thuyết nói rằng: Bà Linh Nhân Thái hậu, vợ vua Thái Tôn nhà Lý, không sinh đẻ, tính lại cả ghen, bà sai Thái giám bắt giam 72 cung nữ có nhan sắc, thường được chầu hầu nhà vua, giam vào phòng tối ở cung Thượng Dương; tới khi vua Thái Tôn mất, bà lại bắt 72 người ấy phải chịu chôn sống để chết theo vua.Sau bà hối hận, dựng 72 ngôi chùa để siêu độ các oan hồn. Chùa Một Cột này là một trong 72 ngôi chùa ấy.

(Cổ tích và Thắng cảnh Hà Nội, Doãn Kế Thiện, NXB Hà Nội 1999)

2.SỰ TÍCH DƯA HẤU

Ngày xưa, có một người trẻ tuổi tên là Mai An Tiêm. Chàng là người ở một nước đâu tận vùng biển phía Nam, bị bán làm nô lệ. Một hôm, chàng bị bọn lái buôn chở đến bán cho Hùng Vương. Mai An Tiêm học nói tiếng Việt rất chóng. Chàng nhớ nhiều chuyện, biết nhiều điều thường thức, lại lắm tài nghề. Càng ngày Vua càng yêu dấu,không lúc nào rời. Năm ba mươi lăm tuổi, chàng làm quan hầu cận, có một ngôi nhà riêng ở gần cung vua. Vợ Mai là con gái nuôi của Vua năm đó đã hạ sinh được một trai lên năm tuổi. Mai có đủ mọi người hầu hạ trong nhà, của ngon vật lạ không thiếu thứ gì. Tuy oai quyền không lớn lắm, nhưng chàng được mọi người sợ phục. Nhiều kẻ vẫn thường lui tới cầu cạnh. Nhưng thấy Mai có địa vị cao cũng không hiếm gì những kẻ đâm ra ghen ghét.

Một hôm, trong một bữa tiệc đãi quan khách, giữa lúc mọi người không ngớt xưng tụng mình, Mai An Tiêm nhún nhường bảo họ:

-Có gì đâu! Tất cả mọi thứ trong nhà này đều là vật tiền thân của tôi cả.

Mai nói rất tự nhiên. Bởi vì tôn giáo ở xứ chàng bảo rằng cái sướng cái khổ hiện tại là kết quả của sự ăn tốt ở xấu của tiền kiếp. Nhưng trong số những người dự tiệc có mấy viên quan hầu gần vua, vốn ghét chàng từ lâu. Chụp lấy câu nói mà họ cho là ngạo mạn đó, bèn vội vàng về tâu cho vua biết. Vua Hùng nghe nói vô cùng giận dữ. Vua gầm lên:

-Chà! Thằng láo! Hôm nay nó nói thế, ngày mai nó còn tuôn ra những lời bất kính đến đâu. Quân nộ lệ phản trắc. Giam cổ nó lại cho ta!

Buổi chiều hôm đó, Mai bị bắt bỏ vào ngục tối, bấy giờ chàng mới hiểu mình nói lỡ lời. Mai tự bảo: “ Nếu từ nay trở đi ta bị đày đọa là vì kiếp trước[3] đã cư xử không tốt”.

Trong khi đó thì ở triều, các quan họp bàn để xử án Mai. Nhiều người đề nghị xử tử Mai. Có người đề nghị cắt gót chân, Nhưng lời tâu của một ông quan già làm cho Vua Hùng chú ý:

-Hắn bị tội chết là đúng. Nhưng trước khi hắn chết, ta nên bắt hắn phải nhận một cách thấm thía rằng những của cải của hắn đấy là do ơn trời biển của bệ hạ chứ chẳng phải là vật tiền thân nào cả. Tôi nghe ngoài cửa Nga Sơn có một hòn đảo. Cho hắn ra đấy với một hai tháng lương để hắn ngồi ngẫm nghĩ về “vật tiền thân” của hắn trước khi tắt thở.

Vua Hùng gật đầu đồng ý. Nhưng sau khi ra lệnh , Vua Hùng còn dặn:

-Cho hắn lương vừa đủ dùng trong một mùa nghe không!

Hôm đi đày, tuy ai nấy hết lời can ngăn, nhưng vợ Mai An Tiêm cương quyết theo chồng ra hải đảo. Nàng bế cả con trai đi theo. Tất cả mọi người đều cho là việc rồ dại. Nàng thì tin ở lời chồng : “ Trời sinh voi trời sinh cỏ. Lo gì!”.

Nhưng khi bước chân lên bãi cát hoang vu mịt mù thì người thiếu phụ đó cũng không ngăn nổi cảm giác tủi thân, nức nở gục vào vai chồng:

-Chúng ta đành chết mất ở đây thôi.

Mai ôm con, bảo vợ:

-Trời luôn luôn có con mắt. Cứ phấn chấn lên. Đừng lo!

Hơn một tháng đầu, đời sống của vợ chồng đã tạm ổn.Nhà ở thì chiu trong hốc đá đã được đan phên che sương gió. Nước uồng thì đã có suối. Muối không có thì đã có nước biển.Nhưng còn việc kéo dài sự sống? Hai vợ chồng nhìn vào bồ gạo đã vơi:

-“Nếu như chúng ta có một nắm hạt giống thì quyết không lo ngại gì cả”.

Tự nhiên, một hôm có một đàn chim lớn bay từ phương Tây lại, đậu đen ngòm cả một bãi cát. Rồi chúng bay đến trước hai vợ chồng kêu váng cả lên, thả xuống năm sáu hạt. Ít lâu sau từ những hạt ấy mọc ra một loại cây dây bò lan xanh um cả bãi. Dây bò đến đâu những quả xanh non mơn mởn nhú ra đến đấy. Ít lâu sau nữa, vợ chồng ra xem thì quả nào quá nấy đã lớn  lên như thổi, da xanh mượt, tròn to bằng đầu người.Mai trẩy một quả, bổ ra thấy ruột đỏ hồng, hạt đen nhánh. Vợ chồng con cái cùng nếm thấy vị thanh thanh dịu ngọt. Càng ăn càng mát đến ruột gan. Mai reo lên:

-Ồ, đây là thứ dưa lạ, chưa từng thấy bao giờ. Hãy gọi nó là dưa Tây, vì thứ này được bầy chim đưa từ phương Tây lại, từ đất liền ra cho chúng ta. Trời nuôi sống chúng ta rồi!

Từ hôm đó hai vợ chồng cố trồng cho thật nhiều dưa. Họ trù tính ăn dưa thay cơm để đỡ phải dùng số gạo đã gần kiệt.

Một hôm vợ chồng Mai bắt gặp một chiếc thuyền đánh cá đi lạc ra đảo. Sau khi giúp họ sửa buồm lái để về đất liền, Mai còn đưa biếu một số dưa để họ đưa về cho mọi người nếm thử. Mai bảo họ chở gạo ra đổi lấy dưa. Chỉ cách mấy ngày, con thuyền thứ nhất đã đến cắm neo ở bến, chở ra cho hai vợ chồng khá nhiều gạo. Hai bên y ước: Một bên nhận lấy số gạo còn một bên xếp dưa xuống thuyền.

Từ đó trở đi, bữa ăn của họ đã khác trước. Ngồi bên nồi cơm trắng, hơi bay lên nghi ngút, vợ Mai ôm lấy con lẩm bẩm: “ Trời nuôi sống chúng ta thực!”. Cũng từ hôm đó, vợ chồng trồng thêm nhiều dưa nữa. Kết quả là thuyền buôn có, thuyền chài có, lũ lượt ra đỗ ở hải đảo đưa gạo, áo quần, gà lợn, dao búa,lại có cả các thứ hạt giống khác, để đổi dưa. Những người trong thuyền nói với Mai:

-Thật quả từ xưa đến giờ chưa hề có hạt dưa nào quý đến thế. Ở vùng chúng tôi ai cũng ao ước được nếm một miếng thứ “ dưa hấu” này dù phải đổi lấy bao nhiêu gạo cũng không tiếc.

Ngày ấy người ta tranh nhau mua dưa lấy giống, cho nên chỉ trong vài ba năm, giống dưa lan tràn khắp nơi.Tên tuổi vợ chồng Mai An Tiêm được truyền đi xa rộng. Dân gọi tôn là “ Bố cái dưa Tây”.

Lại nói chuyện vua Hùng, một hôm la rầy viên quan hầu vì dốt nát để thợ dựng hỏng một ngôi nhà. Vua buộc miệng than thở:

-“Phải chi có Mai An Tiêm thì đâu đến nỗi”.

Ngày hôm đó vua nhắc mãi đến chàng. Đã hai lần vua cho hỏi Lạc hầu xem hiện giờ Mai đang làm gì, ở đâu. Lạc hầu đáp liều:

-“Chắc hắn không còn nữa!”.

Nhưng vua không tin. Vua sai ngay một tên nô lệ khác cấp cho thức ăn và thuyền để hắn vào châu Ái tìm Mai An Tiêm. Một tháng sau, hắn ta mang về cho vua một thuyền đầy dưa Tây và nói:

-Đây là lễ vật của ông bà Mai dâng Bệ hạ.

Hắn kể cho Vua biết rõ những ngày tân khổ và tình trạng hiện nay của hai vợ chồng Mai. Rồi hắn tâu tiếp:

-Bây giờ ông bà Mai có nhà cửa ở ngoài ấy khá đẹp, có đến hơn mười người hầu hạ, có bãi dưa, có ruộng lúa, rất nhiều gà, lợn…

Vua Hùng càng nghe càng sửng sốt…Vua chắt lưỡi bảo mấy viên quan hầu cận ngày nọ đã tố cáo Mai:

-Hắn bảo là vật tiền thân của hắn, thật đúng chứ không sai!

Vua bèn sai một đoàn lính hầu đi đón hai vợ chồng Mai về, cho Mai trở lại chức cũ. Vua lại ban cho hai người con gái hầu để an ủi chàng.

Bấy giờ chỗ hải đảo, người ta còn gọi là bãi An Tiêm.Những người kế tiếp công việc của hai vợ chồng Mai trên đảo vẫn còn dòng dõi đông đúc. Họ lập thành làng gọi là làng Mai An. Ở ngôi nhà cũ của Mai thì họ lập đền thờ hai vợ chồng chàng. Nhân dân gọi là “Ông bà Tổ dưa Tây (hay dưa hấu)”.[4]

3.SỰ TÍCH TRÁI SẦU RIÊNG

Ngày ấy, vào thời Tây Sơn, có một chàng trẻ tuổi người vùng Đồng Nai. Chàng là người tài kiêm văn võ, vừa vung gươm hưởng ứng cái bất bình của mọi người. Chàng từng cầm quân mấy lần làm cho tớ thầy chúa Nguyễn chạy dài.

Nhà Tây Sơn mất, chàng lui về quê nhà mượn nghề gõ đầu trẻ để náu hình ẩn tích. Đột nhiên có tin dữ truyền đến làm cho mọi người xao xuyến. Gia Long vừa thắng thế trên đất nước Việt Nam thì cũng bắt đầu giết hại những người từng làm quan cho nhà Tây Sơn, Nhà vua cứ dựa vào chức tước lớn hay nhỏ của họ mà gia hình: Tư mã, Quận công thì lăng trì, tùng xẻo; Vệ úy, Phân suốt thì đánh gậy, phạt roi…

Dân trong xóm sẵn lòng quí mến, khuyên chàng trốn đi thật xa. Họ giúp tiền gạo và mọi thứ cần dùng, trong đó có cả một chiếc thuyền nhỏ mui lồng để tiện đi lại.

Vì không muốn để rơi vào tay quân địch, chàng ra đi.Ngược dòng sông Cửu Long, chàng tiến sâu vào nước Chân Lạp.

Một hôm chàng cắm sào lên bộ mua sắm thức ăn. Chàng bước vào một cái quán bên đường.Trong quán có một bà mẹ ngồi ủ rũ bên cạnh một cô gái nằm mê man bất tỉnh. Đó là hai mẹ con đi dâng hương trên núi Tà Lơn, về đến đây thì con bị ốm nặng. Vốn có biệt tài về nghề thuốc, chàng hết sức chạy chữa, cuối cùng cũng giúp cô gái lấy lại sức khỏe. Và sẵn có thuyền riêng, chàng chở họ về tận nhà.

Nàng là con gái chưa chồng, đã đến chỗ quay xa đạp cửi. Nàng có vẻ đẹp thùy mị.Tự nhiên anh chàng trai người Việt ở tận đâu xa xôi đến trú ngụ tại nhà làm cho nàng quyến luyến.

Sau một tuần chay tạ ơn Trời Phật, mẹ nàng cho biết là Phật đã báo mộng cho hai người lấy nhau. Chàng vui vẻ nhận lấy cuộc sống mới cho qua ngày. Từ đây, chàng có chỗ ở nhất định. Nhà nàng là nhà làm ruộng, nuôi tằm. Những việc đó chàng đều làm được cả.

Mười năm thoảng qua như một giấc mộng. Hai vợ chồng quấn quit với nhau như đôi chim câu. Trong vườn nhà vợ có một cây ăn quả gọi là cây “tu rên” mà ở xứ sở chồng không có. Lần ấy gặp kỳ quả chín đầu mùa, vợ trèo lên cây trẩy xuống một quả, xẻ đưa cho chồng ăn. Quả “tu rên” vốn có mùi hôi đặc biệt. Thấy chồng nhăn mặt, vợ bảo:

-Anh cứ ăn sẽ biết nó đậm đà như lòng em đây.

Không ngờ một năm kia, vợ chàng đi dâng hương Đế Thiên Đế Thích về thì ngộ cảm. Chồng cố công chạy chữa nhưng không sao cứu kịp.Cái chết chia rẽ vợ chồng một cách đột ngột. Không thể nói hết cảnh tượng đau khổ của người chồng. Nhưng hai người vẫn gặp nhau trong mộng. Chồng hứa trọn đời sẽ không lấy một ai nữa. Còn hồn vợ thì hứa trọn đời sẽ không nào xa rời chồng.

Nghe tin Gia Long đã thôi truy nã những người thù cũ, bà con ở quê chàng nhắn tin lên bảo về. Những người trong xóm cũng khuyên chàng tạm đi đâu cho khuây khỏa. Chàng đành từ giã quê hương thứ hai của mình. Trước ngày lên đường, vợ báo mộng cho chồng biết là sẽ theo cho đến sơn cùng thủy tận. Năm ấy cây “tu rên” tự nhiên chỉ hiện ra có mỗi một quả. Và quả “tu rên” đó tự nhiên rơi ngày vào vạt áo giữa lúc chàng ra thăm cây kỷ niệm của vợ. Chàng mừng rỡ quyết đưa nó cùng mình về xứ sở.

Chàng trai trở về nghề cũ. Nhưng nỗi riêng canh cánh không bao giờ nguôi. Chàng đã ương hạt “tu rên” thành cây đem trồng trong vườn ngoài ngõ. Từ đây, ngoài công việc dạy học còn có công việc chăm nom cây quý.

Những cây “tu rên” của chàng ngày một lớn khỏe. Lại mười năm nữa sắp trôi qua. Chàng trai ngày xưa bây giờ tóc đã đốm bạc. Nhưng ông già ấy lòng bỗng trẻ lại khi thấy những hàng cây mà mình bấy lâu chăm sóc đã bắt đầu khai hoa kết quả. Ông sung sướng mời họ hành làng xóm tới dự đám giỗ của vợ và nhân thể thưởng thức một thứ quả lạ đầu tiên có ở trong vùng.

Khi những quả “tu rên” bưng ra đặt trên bàn, mọi người thoáng ngửi thấy một mùi khó chịu. Nhưng chủ nhân biết ý đã nói đón:

-…Nó xấu xí, nó hôi, nhưng chính những múi của nó ở trong lòng lại đẹp dẽ thơm tho như mối tình đậm đà của đôi vợ chồng son trẻ…

Ông ta vừa nói vừa xẻ những quả “tu rên” chia từng múi cho mọi người cùng nếm. Múi “ tu rên” muốt vào đến cổ quả có một vị ngon ngọt lạ thường. Đoạn, ông kể hết đoạn tình duyên xưa mà từ lúc về đến nay ông đã cố ý dấu kín trong lòng. Ông kể mãi, kể mãi. Và khi kể xong, ở khóe mắt con người chung tình ấy long lanh hai giọt lệ nhỏ đúng vào múi “tu rên” đang cầm ở tay. Tự nhiên hai giọt nước mắt ấy sôi lên sùng sục trên múi “tu rên” như vôi gặp nước và cuối cùng thấm vào múi như giọt nước thấm vào lòng gạch.

Sau đó đám giỗ ba ngày, người đàn ông ấy bỗng không bệnh mà tự nhiên chết. Từ đấy, mỗi lần dân làng ăn thứ quả đó đều nhớ đến người gây giống, nhớ đến chuyện người đàn ông chung tình. Họ gọi “tu rên” bằng hai tiếng “ sầu riêng” để nhớ đến mối tình chung thủy của chàng và nàng. Người ta lại còn nói những cây sầu riêng nào thuộc dòng dõi loại hạt có hai giọt nước mắt của anh chàng nhỏ vào thì mới là thứ sầu riêng có quả ngon hơn các thứ khác.[5]

4.SỰ TÍCH CÂY HUYẾT DỤ

Ngày xưa, có một bác đồ tể chuyên mua lợn về giết thịt để mang bán ở chợ. Nhà bác ta ở bên cạnh một ngôi chùa làng. Hàng ngày, vào lúc mờ sáng là lúc sư cụ bên chùa theo lệ thường thức dậy tụng kinh. Và cũng theo lệ thường, sư cụ thúc chú tiểu dậy, gõ một hồi chuông mai. Bấy giờ cũng là lúc bác đồ tể sửa soạn giết lợn, cho nên bác ta quen lấy tiếng chuông chùa làm chừng thức dậy làm việc hàng ngày. Cứ như thế, ngày nào cũng như ngày ấy không bao giờ sai lạc.

Một đêm nọ, sư cụ nằm mộng thấy một người đàn bà dắt năm đứa con nhỏ đến trước mặt mình rồi vái lấy vái để, miệng nói: “ Xin cứu mạng! Xin cứu mạng!” rối rít. Sư cụ hỏi người đàn bà:

-A Di Đà Phật! cứu mạng là cứu thế nào? Bần Tăng phải làm gì đây?

Người mẹ có bộ điệu hãi hùng ấy trả lời:

-Ngày mai xin Hòa thượng hãy cho đánh chuông chậm lại, như vậy mẹ con chúng tôi rất đội ơn.

Nhà sư tỉnh dậy không hiểu thế nào cả. Nhưng tờ mờ sáng hôm đó, vâng theo lời báo mộng, sư cụ chỉ lâm râm đọc kinh cầu nguyện mà không thức chú tiểu dậy thỉnh chuông.

Lại nói chuyện hôm ấy, bác đồ tể ngủ một giấc li bì. Mãi đến lúc mặt trời lên chừng một cây sào, tiếng chuông chùa mới bắt đầu vang rền làm cho bác giật mình choàng dậy. Thấy trời đã quá trưa, bác không dám giết lợn như thường lệ, vì nếu làm thịt thi khi đưa ra đến chợ, chợ đã vắng người rồi. Tức mình vì lỡ mất buổi chợ, bác ta lật đật sang chùa trách sư cụ. Sư cụ cho biết câu chuyện nằm mộng đêm qua để phân trần với ông hàng xóm, không phải lỗi tại mình.

Nhưng lúc bước chân về chuồng lợn của nhà mình thì  bác đồ tể ngạc nhiên thấy con lợn cái trong chuồng mua ngày hôm qua toan giết thịt sáng đó đã đẻ được năm con lợn con. Vừa mừng vừa sợ, bác ta kể cho mọi người biết sự việc lạ lùng:

-Đúng là linh hồn người đàn bà ẩn trong con lợn cái đã tìm cách cứu bầy con của mình khỏi chết.

Tự nhiên bác đồ tể đâm ra suy nghĩ. Bác thấy bàn tay của mình đã từng vấy máu biết bao nhiêu là sinh mạng. Trong một lúc hối hận đến cực điểm, bác ta cầm cả con dao bầu chạy sanh chùa bộc bạch nỗi lòng với sư cụ. Bác ta quả quyết cắm con dao của mình trước sân chùa, thề trước Phật đài từ nay xin giải nghệ.

Không rõ bác đồ tể rồi sau đó thế nào, nhưng con dao của bác tự nhiên hóa thành một loại cây có lá đỏ như máu và nhọn như lưỡi dao bầu, người ta vẫn gọi là cây huyết dụ.[6]

Khảo dị

Truyện trên chắc chịu ảnh hưởng của Phật thoại, nó được nhân dân lưu truyền khá  rộng. Có thể so sánh với truyện “ Rắn báo oán” ( số 157, tập 4).

Trong Bản quốc dị văn lục có kể truyện trên và cho rằng sư cụ chính là bố của Nguyễn Xí, người làng Lê Xá, huyện Chân Phúc ( tức Nghi Lộc), Nghệ An, tên là Trị. Cuối đời Trần thi không đỗ, ông bỏ đi tu, tu trì ở chùa làng, lấy tên là Hòa Nam thiền sư. Sau khi nghỉ đánh chuông để cứu người đàn bà trong mộng ( tức mẹ con con lợn), sư bèn bỏ tiền mua lấy đàn lợn ấy của bác đồ tể rồi đem thả chúng vào rừng. Về sau sư bị hổ giết, mối đùn thành mộ, nhưng con cháu nhà sư thì từ đó trở đi điạ vị rất cao ở triều đình nhà Lê. Người chép truyện có ý nói đó là nhờ mẹ con con lợn báo ơn một cách huyền bí mới được như thế.

Một truyền thuyết về Nguyễn Nghiễm cũng có một nội dung tương tự:

Nguyễn Nghiễm-là cha của thi hào Nguyễn Du-một lần về chơi quê nhà, một đêm mộng thấy một người đàn bà đến cầu cứu mình:

-Xin cụ làm ơn cứu mạng, Con đang có thai được mẹ tròn con vuông là nhờ ơn cụ.

Tỉnh dậy, ông không hiểu thế nào cả. Nhưng sau đó bỗng thấy có người đến biếu một con cá chép rất to vừa đánh lưới được. Trông thấy con cá có chửa, ông nhớ đến giấc mộng hôm qua, liền sai người nhà đem thả xuống sông. Đêm hôm ấy, lại mộng thất người đàn bà nọ đến cảm ơn mình[7]. Từ đấy họ Tiên Điền có tục kiêng ăn cá chép.[8]

5.SỰ TÍCH KHUÔNG VIỆT ĐẠI SƯ

Thiền Uyển Tập Anh kể rằng: Sư ở chùa Phật Đà, làng Cát Lợi, Thường Lạc[9]. Người Cát Lợi, họ Ngô, thuộc dòng dõi Ngô Thuận Đế. Sư tướng mạo khôi ngô, tính phóng khoáng , nhỏ theo học Nho, lớn lên quy y Phật. Sư cùng bạn học Trụ Trì đến Thiền sư Vân Phong chùa Khai Quốc, thọ giới Cụ Túc. Từ đó, Sư đọc khắp sách Phật, tìm hiểu yếu chỉ của Thiền. Năm bốn mươi tuổi, danh sư vang tới triều đình. Vua Đinh Tiên Hoàng mời đến, Sư đối đáp hiệp chỉ, bèn phong làm Tăng Thống. Năm Thái Bình thứ hai (971), vua ban hiệu Khuông Việt Đại sư.

Hoàng đế Lê Đại Hành càng kính trọng Sư hơn, phàm việc quân, việc nước ở triều đình, Sư đều dự vào.

Một lần Sư đi chơi núi Vệ Linh ở quận Bình Lỗ, thích phong cảnh vắng đẹp, bèn muốn lập am để ở. Đêm tới nằm mộng thấy một vị thần, mình mặc áo giáp vàng, tay trái cầm thương vàng, tay phải đỡ bảo tháp, hơn mười người theo hầu, hình tướng dễ sợ, đến nói rằng: “ Ta là Tỳ Sa Môn Thiên Vương, những người theo ta là Dạ Xoa. Thiên Đế có sắc sai ta đến nước này để giữ gìn biên giới, khiến cho Phật pháp thịnh hành. Ta có duyên với ngươi, nên đến đây báo cho ngươi biết”. Sư kinh hãi thức dậy, nghe trong núi có tiếng kêu là ầm ĩ, lòng rất lấy làm lạ. Đến sáng Sư vào núi, thấy một cây to, cao khoảng mười trượng, cành lá sum suê, bên trên lại có mây xanh bao phủ, nhân đó sai thợ đến chặt, đem về, khắc tượng như đã thấy trong mộng để thờ.

Năm Thiên Phúc thứ I (981), binh Tống đến quấy nước ta.Vua biết rõ việc đó, liền sai Sư đến bàn thờ cầu đảo. Quân giặc kinh hãi, rút về giữ sông Hữu Ninh, lại thấy sóng gió nổi lên, giao long nhảy nhót, giặc bèn tan vỡ.

Năm Thiên Phúc thứ 7 (986), người Tống là Nguyễn Giác sang sứ nước ta.Bấy giờ Pháp sư Đỗ Thuận cũng có tiếng tăm lừng lẫy. Vua sai Pháp sư cải trang làm người lái đò để nghinh đón Giác ở Giang Khúc. Giác thấy Pháp sư giỏi bàn văn chương, bèn đem thơ tặng, có câu: “ Ngoài trời lại có trời soi rạng”. Vua đưa hỏi Sư, Sư thưa rằng: “Đây nó muốn tôn kính Bệ hạ cùng với Chúa nó không khác”. Khi Giác trở về, Sư làm một bài từ nhan đề Vương Lang qui để tiễn đưa. Bài từ như sau:

Trời lành gió thuận, gấm buồm giương

Thần tiên về đế hương

Muôn trùng vạn dặm biển mênh mang

Trời xanh xa dặm trường

Tình ray rứt chén lên đường

Bịn rịn sứ tinh lang

Nguyện đem thâm ý vì Nam bang

Phân minh tâu Thượng hoàng.

Sau, Sư lấy cớ già yếu, xin từ quan về núi Du Hí ở quận mình, lập chùa Trụ trì; người học tìm tới đông đảo. Một hôm, đệ tử nhập thất là Đa Bảo hỏi: “Thế nào là chung thủy của sự học đạo?”

Sư đáp:

“Thủy chung không vật, diệu hư không

Hiểu được chân như, thể tự đồng”.

Bảo tiếp: “ Làm sao đảm bảo được?”

Sư đáp: “ Không có chỗ cho người xuống tay”.

Bảo nói: “ Hòa thượng nói xong rồi”.

Sư lại hỏi: “ Ngươi hiểu gì?”

Bảo bèn hét lên.

Ngày 15 tháng 2 năm Thuận Thiên thứ 2 (1011) triều Lý, khi sắp cáo tịch, Sư dạy Đa Bảo kệ rằng:

Trong cây vốn có lửa

Có lửa, lửa mới bừng

Nếu bảo cây không lửa

Cọ xát do đâu bùng.”

Nói kệ xong, Sư ngồi kiết già mà mất, thọ 82 tuổi[10](933-1011).

( Thiền Uyển Tập Anh, Lê Mạnh Thát dịch,NXB.TPHCM-1999).

6.HUYỀN THOẠI THIÊN MỤ

Theo “ Nam Triều Công nghiệp diễn chí” của Nguyễn Khoa Chiêm kể thì:

“Một hôm chúa Nam nhân nhàn hạ đi du ngoạn các nơi núi non sông biển, chẳng đâu không khắp. Khi đến xã Hà Khê, huyện Hương Trà, thấy giữa chốn đồng bằng động khởi một gò đồi cao dáng tựa như chiếc đầu rồng đang ngoái nhìn về phía núi mẹ. Đoan Vương Nguyễn Hoàng trong bụng lấy làm ưa thích, bèn trèo lên đồi cao nhắm nhìn xung quanh, chợt thấy một đoạn hào đào cắt ngang dưới chân núi. Nguyễn Hoàng thầm nghĩ lấy làm đáng tiếc, chưa biết nguyên do ra sao. Sau đó Đoan Vương tìm người địa phương hỏi thăm ngọn đồi kia tên gọi là gì. Người địa phương thưa rằng:

-Chúng tôi là dân mọn, chỉ nghe lời truyền của các cụ ngày xưa rằng: Núi này rất linh thiêng, khoảng đời nhà Đường có viên Đại tướng tên là Cao Biền từng đi khắp các nơi núi non sông biển nước ta xem những nơi nào có vượng khí linh thiêng thì tìm cách cắt yểm đi, ý là muốn cướp đoạt nước Nam ta. Cao Biền thấy trên núi này có khí thiêng bàn đào phía sau chân núi để cắt mạch đi khiến cho linh thiêng về sau không cư tụ được. Đêm hôm ấy bỗng có một người đàn bà thể sắc trông thì còn trẻ, nhưng mày tóc bạc phơ, mình vận áo đỏ quần xanh ngồi dưới chân núi kêu gào than vãn, rồi cất tiếng nói to: “Đời sau nếu có bậc Quốc chủ muốn bồi đắp mạch núi để làm mạch cho Nam triều, thì nên lập chùa thờ Phật, cầu thỉnh linh khí trở về nơi núi này để phúc dân giúp nước, tất không thì phải lo”. Người đàn bà ấy nói xong liền biến mất. Dân trong vùng ghi nhớ lấy hình dáng bà ấy đặt tên là núi Thiên Mụ. Ấy là sự tích người xưa truyền lại như thế, đúng sai ra sao, bọn dân chúng tôi không biết rõ, mong tôn ông minh xét.

Nguyền Hoàng nghe nói cả mừng bảo rằng:

-Ấy là bà lão bảo ta mở nền định đất, biến nhà thành nước để nên nghiệp lớn.

Nói đoạn, sai người cất dựng chùa Phật, viết biển đề chữ “ Thiên Mụ Tự”. Từ đó dân chúng tới cầu khẩn đều thấy linh thiêng ứng nghiệm”.

(Chùa Thiên Mụ của Hà Xuân Liên, NXB.TH,2000)

7.SỰ TÍCH CHIM TU HÚ

Ngày xưa có hai nhà sư, Năng Nhẫn và Bất Nhẫn. Hai người cùng cạo đầu xuất gia từ khi còn trẻ và cùng tu ở một ngôi chùa hẻo lánh. Sau một thời gian dài tu luyện thì bỗng một hôm Năng Nhẫn được đức Phật độ cho thành chính quả.

Bất Nhẫn thấy mình không kém gì bạn mà không được hưởng cái may mắn sớm như bạn thì rất buồn bực. Chàng đến trước tòa sen hết sức kêu nài với đức Phật, bày tỏ lòng chân thành tu đạo cùng mọi sự khổ hạnh đã trải qua của mình. Đức Phật bảo chàng:

-Nhà ngươi chuyên tâm cầu đạo, lại là người trong sạch, thật đáng khen ngợi. Nhưng tính tình nhà người vẫn như con trâu chưa thuần, chưa thể đắc đạo được. Vậy hãy cố gắng tỏ rõ tấm lòng nhẫn nhục trong một cuộc khổ hạnh trường kỳ rồi sẽ theo bạn cũng chưa muộn.

Bất Nhẫn nghe lời, bèn lên núi chọn một gốc cây, bắt chước người xưa, ngồi xếp bằng tu theo lối trường định. Chàng cương quyết ngồi im lặng như thế mãi trong ba năm dù có phải thế nào cũng không chịu dậy.

Và từ hôm đó, Bất Nhẫn như một vật vô tri vô giác. Những con sâu, con kiến bò khắp mình chàng. Những con thú cà vào thân chàng. Những con chim ỉa phẹt lên đầu chàng. Chàng đều không hề bận tâm. Chàng chỉ một mực tâm tâm niệm niệm những nghĩa lý cao thâm của đạo Phật.

Cứ như thế, trải qua hai mùa hè và sắp sửa qua một mùa hè thứ ba là kết liễu cuộc tu luyện. Tự dưng một hôm, có hai vợ chồng con chim chích ở đâu đến làm tổ ngay trong vành tai của Bất Nhẫn. Chàng cứ để yên, mặc chúng muốn làm gì thì làm, Chúng đi về tha rác lên đầu, lên mặt.Rồi chim mái đẻ trứng.Rồi cả một thời kỳ hai vợ chồng thay phiên nhau ấp. Cho đến lúc trứng nở, những con chim non kêu léo nhéo suốt ngày. Nhưng Bất Nhẫn không lấy thế làm khó chịu.

Một hôm, lúc ấy chỉ còn mười ngày nữa thì Bất Nhẫn hết hạn ngồi dưới gốc cây. Hôm đó, đến lượt con chim vợ đi tìm thức ăn cho con. Suốt cả một buổi chiều nó vẫn không kiếm được chút gì. Mãi đến gần tối, lúc lượn qua một cái hồ, chim vợ mối thấy một con nhện đang giăng tơ trong một đóa sen. Nhện nhác thấy chim liền ẩn mình vào giữa những cánh hoa làm cho chim mất công tìm mãi. Không ngờ hoa sen vừa tắt ánh mặt trời đã cụp ngay những cánh lại, nhốt chim vào trong. Chim cố công tìm lối chui ra nhưng những cánh hoa vây bọc dày quá đành chịu nằm lại đó.

Ở nhà, chim chồng hết bay đi kiếm vợ lại trở về. Đàn con đói mồi nháo nhác suốt đêm. Mãi đến sáng mai, chờ lúc hoa sen nở, chim vợ mới thoát được bay về tổ. Một cuộc cải lộn nổ ra bên tai Bất Nhẫn. Ghen vợ, chim chồng mắc nhiếc vợ hết lời. Nhưng chim vợ vẫn hết sức bày tỏ nỗi lòng trinh bạch của mình. Cuộc đấu khẩu kéo dài hết cả một buổi sáng và có cơ chưa chấm dứt. Bất Nhẫn rất khó chịu. Thêm vào đó, đàn con khóc đói chíu chít điếc cả tai. Nhè lúc vợ chồng chim cãi vả đến chỗ găng nhất, Bất Nhẫn bỏ tay lên tai giật cái tổ chim vứt mạnh xuống đất và nói:

-Đồ khốn! Chỉ có mỗi một chuyện đó mà chúng mày làm điếc cả tai ông từ sáng đến giờ.

Thế là công sức tu luyện của Bất Nhẫn sắp hoàn thành thốt nhiên vứt bỏ trong chốc lát.

Nhưng Bất Nhẫn vẫn không nản chí. Trước tòa sen, chàng hứa sẽ kiếm cách tỏ rõ sự hối lỗi của mình. Chàng tìm đến một khúc sông nước chảy xiết, tình nguyện làm người chèo đò đưa khách bộ hành quá giang mà không lấy tiền. Chàng quyết chở cho đến người thứ một trăm mới chịu nghỉ tay.

Lần này Bất Nhẫn tỏ ra là người rất nhẫn nại. Tuy bến sông thường vắng khách, chàng vẫn không chịu bỏ dở công việc. Luôn trong hai năm chàng chở được chín mươi tám người mà không xảy ra việc gì.

Một hôm vào khoảng giữa thu, nước sống tự nhiên tràn về chảy xiết hơn mọi ngày. Trời bỗng đổ một trận mưa lớn. Giữa lúc đó có một người đàn bà dắt một em bé đòi qua sông. Hắn có vẻ là vợ một viên quan sở tại, chưa bước xuống thuyền đã dọa Bất Nhẫn:

-Chú nhớ chèo cho vững nghe không. Che mui cho kín.Nếu để chúng ta mà ướt thì liệu chừng kẻo roi quắn đít đó.

Nghe nói thế Bất Nhẫn đã hơi bực, nhưng chàng nín được và vẫn giữ vẻ mặt tươi cười đáp:

-Bà và cậu đừng sợ gì cả.Tôi xin cố sức.

Rồi chàng vận dụng hết tay nghề để đưa hai mẹ con nhà nọ qua bên kia sông được vô sự. Lúc sắp lên bờ, người đàn bà bỗng kêu lên:

-Ta quên khuấy đi mất. Có một gói hành lý bỏ quên ở cái quán bên kia. Vậy nhà ngươi chịu khó chèo sang lấy hộ.

Bất Nhẫn nín lặng cắm cổ chèo qua sông giữa sóng gió. Mãi đến gần tối, chật vật lắm chàng mới đưa được gói hành lý sang cho người đàn bà. Nhưng khi soát lại gói, người đàn bà nọ kêu lên:

-Thôi rồi! Còn một đôi giày của thằng bé bỏ ở gầm giường. Thế nào nhà ngươi cũng phải gắng sang lấy cho ta một lần nữa.

Người đàn bà nói chưa dứt lời thì Bất Nhẫn đã giơ tay chỉ vào mặt:

-Cút đi đồ chó ghẻ! Tao có phải sinh ra để hầu hạ mẹ con nhà mày mãi đâu.

Nhưng người đàn bà ấy vốn là đức Phật Quan Âm hiện hình xuống thử lòng người đệ tử khổ tu đó, bây giờ lại hiện nguyên hình và cất tiếng bảo chàng:

-Nhà ngươi vẫn chưa thực tâm nhẫn nhục, như thế thì tu gì mà tu, có mà tu hú!

Bất Nhẫn thẹn quá đành cúi đầu nhận lỗi.

Phật Quan Âm sau đó bắt Bất Nhẫn hóa thành một giống chim mà người đời sau quen gọi là chim tu hú. Họ bảo thứ chim đó vào khoảng cuối hè sang thu hay xuất hiện, đúng vào lúc xảy ra câu chuyện giữa Bất Nhẫn với Phật bà Quan Âm.[11]

Khảo dị

Truyện này có thể bắt nguồn từ một Phật thoại hay một ngụ ngôn nhà chùa.Nhưng nó đã được nhân dân thêm thắt và truyền tụng khá phổ biến. thi sĩ Trần Kế Xương đã diễn tả đoạn đầu theo điệu lục bát thành truyện thơ nhan đề là “ Năng Nhẫn Bất Năng Nhẫn hành”.[12] Trong ca dao Việt Nam có một bài kể nỗi oan của con chim chích mái, cũng rút từ truyện cổ tích trên.

Ông Tô Tử lên chơi trên đỉnh núi,

Thấy hai vợ chồng con chim chích,

Chín tháng mười ngày đủ cánh mọc lông,

Vợ để con cho chồng, bay đi kiếm chác;

Lạ thung thổ, mồi thời không được,

Bước chân ra về thấy nhện chăng tơ.

Mãi vui chơi bắt nhện nào ngờ,

Khi âm tối, hoa sen cụp lại.

Chồng thì mong, con thì bỏ đói,

Hết dỗ đứng dỗ ngồi, ra ngõ liền trông.

-Kìa kìa gái năm con chửa hết lòng chồng,

Còn say đắm về bên hoa nguyệt.

-Tôi thề có trời xanh nước biết,

Núi non thề với nước non,

Nào ai phụ rẫy chồng con, đã trời?[13]

Xem thêm các truyện “ Sự tích con nhái” số 10, “ Sự tích Cá he” số 13 và “ Sự tích ông Bình vôi” số 22, đều ít nhiều có tính chất Phật thoại và tương tự phần nào với truyện này về mặt chủ đề.

8.SỰ TÍCH CON NHÁI

Ngày xưa có một vị Hòa thượng trẻ tuổi nội tiếng chân tu. Mọi “thị dục” của bản thân, Hòa thượng đều cương quyết cắt đứt, chỉ một lòng chuyên chú vào lẽ hư vô của đạo Thiền. Nhà vua nghe tiếng, vô cùng kính trọng, mời về kinh đô, ban chức Quốc sư và sai tu bổ một ngôi chùa ở phía Nam kinh thành để sư tu trì. Nhưng hòa thượng từ tạ vua, chỉ xin phép đi xem chùa chiền, cảnh đẹp trong thiên hạ.

Một hôm, Hòa thượng một mình tìm đến một ngôi chùa xa ở vùng Bắc. Ở đó có một vị sư bạn trụ trì mà Hòa thượng lâu ngày chưa gặp.

Từ lâu Phật Bà Quan Âm đã nghe tiếng đồn về Hòa thượng này. Lần này nhân cuộc đi chơi của Hòa thượng, Phật bà định bụng thử xem con người đó như thế nào. Nếu quả đúng là chân tu thì Phật Bà sẽ đưa về Tây Trúc độ cho thành Phật.

Lúc Hòa thượng sắp qua một con sông rộng, Phật Bà hóa thành một cô gái rất trẻ đẹp chống đò cập bến chờ khách quá giang. Hôm ấy cũng theo phép mầu nhiệm của Phật Bà, khúc sông đó trở nên vắng vẻ, người và thuyền bè qua lại rất ít. Khi Hòa thượng chui vào trong khoang đò thì cô gái nhổ sào chèo ra giữa sông. Đoạn nàng bẻ lái cho thuyền tiến đến một bãi cát vắng đậu lại. Hòa thượng lấy làm lạ, hỏi cô gái vì sao không đi thẳng qua bờ bến kia? Cô gái chỉ đợi có câu hỏi ấy là buông chèo, cười một nụ cười rất tình tứ rồi cũng chui vào khoang trả lời một cách cợt nhã là thấy sư quá đẹp trai nên cắm sào lại đây cầu xin được ân ái. Hòa thượng vốn nghe nói con gái ở vùng này có nhiều người đáo để nên nghiêm nét mặt lại:

-A Di Đà Phật! Mong người trần giới buông tha cho kẻ tu hành này.

Nhưng cô lái đò đâu có buông tha, cô sán lại gần gợi tình. Hòa thượng không nói gì, lẳng lặng mở gói lấy cuốn kinh Kim Cương tam muội ra tụng. Tiếng đọc của Sư mỗi lúc một lớn, át cả tiếng nói của cô lái đò. Nhưng cô lái đò vẫn cười nói không thôi. Rồi cô che tay lên quyển kinh. Hòa thượng ngoái cổ nhìn ra ngoài đò rồi nghiêm khắc cảnh cáo:

-A Di Đà Phật! Trong người bần Tăng hiện có một tờ lệnh chỉ của Hoàng đế. Trong đó Hoàng đế đã ra lệnh là hễ người nào phạm vào người bần Tăng sẽ bị án trảm quyết. Vậy bần tăng mong người đứng phạm vào phép của thiên tử.

Lời dọa của nhà sư không làm cho cô gái nhụt một chút nào. Cô nói:

-Em đang muốn chết đây! Em chỉ mong chàng đoái thương một tí rồi chết cũng thỏa.

Nhưng hồi lâu, thấy lòng nhà sư không chuyển, cô lái đò lại thi hành một mưu khác, cố quyến rũ cho bằng được. Cô bắt đầu cởi áo ra. Khi chiếc yếm cổ đuôi nhạn bỏ xuống thì Hòa thượng nhắm mắt lại. Hòa thượng quay về phía cái gói lấy chiếc áo của mình khoác vào người nàng. Trong khoang đò chật chội, tay Hòa thượng vẫn lần tràng hạt, miệng vẫn lẩm nhẩm đọc kinh. Trong khi đó những tiếng của cô gái như mật rót vào tai:

-Chàng thương em một tý….Chàng nhìn ra ngoài xem, không có một ai cả…

Nhưng vô hiệu.

Phật Bà Quan Âm rất cảm động. Những người con Phật như thế này rất xứng đáng chiếm một chỗ ngồi trên Nát-bàn. Nhưng đã thử thì phải thử cho trót. Lần tấn công thứ chín, cô lái vẫn bị cự tuyệt. Hơi thở của cô con gái trẻ và đẹp phảng phất ở trên má, nhưng nét mặt của Hòa thượng vẫn không thay đổi.

Nhưng đến lần thứ mười, cô gái không ngờ thành lũy tưởng kiến cố lại bị hạ một cách quá bất ngờ. Bàn tay Hòa thượng tự nhiên run rẩy bỏ lên mình nàng. Thôi thế là chỉ trong một phút, vứt hết hơn hai mười năm tu luyện.

Thế là chuyến đó Phật Bà Quan Âm không được hài lòng. Giận vì Hòa thượng đã thiếu kiên trì trước sự cám dỗ của “thị dục”, mà đã như thế thì thanh danh cũ không còn đáng đếm xỉa nữa, nên Phật bà đã nắm lấy cổ Hòa thượng vứt ngay xuống  sông như người ta vứt một cái rác. Như thế mà Phật bà vẫn chưa cho là đáng tội, nên còn bắt hóa thành loài nhái, là một loài động vật hạ đẳng. Cũng vì thế mà người ta nói rằng ngày nay dòng dõi loài nhái cũng còn giữ cái thói quen của tổ tiên, ví dụ khi chúng bị chặt đầu, chúng vẫn chắp hai chân trước lại với nhau như người đang vái[14]

Khảo dị

Người miền Bắc có truyện “Sự tích con ếch” có tính chất tiếu lâm:

Xưa có nhà sư xuất gia từ khi còn tấm bé. Sư nổi tiếng chân tu lại học rộng, mọi phép sát quỷ trừ tà đều thông cả. Một hôm Phật báo mộng cho sư biết rằng sư sẽ đắc đạo sau khi dự một cuộc thi ở Thiên đình.

Tỉnh dậy sư rất mừng, từ đó ngày đêm quyết ôn luyện kinh kệ và ấn quyết cho được tinh thục. Một hôm, sư chợt nghĩ: “ Mình lục trí thần thông đều đủ cả, duy chỉ có một việc chưa từng biết là cơ thể đàn bà. Nếu lúc lên trên kia, người ta hỏi đến thì không biết đường nào mà trả lời”.

Nhưng muốn biết việc đó không phải dễ.  Sau cùng sư đánh liều nhờ thủ tự bí mật giúp cho. Thủ tự đi tìm từ đầu làng đến cuối chợ chả được ai cả, đành về dỗ vợ, ngọt nhạt mãi vợ mới chịu.

Tìm hiểu được cơ thể đàn bà rồi, nhà sư rất thỏa mãn.

Nhưng từ đó sư đâm ra ngớ ngẩn, kinh kệ và cúng đàng chả thiết chi cả. Việc phù phép cũng mất linh nghiệm. Phật biết chuyện đó, nổi giận bèn cho sét đánh chết. Như thế mà Phật vẫn không hết giận, còn bắt sư hóa làm ếch. Khi thủ tự mở áo quan để nhặt hài cốt thì chỉ thấy có một con ếch nhảy ra. Vì thế mà có câu tục ngữ:

Đi tu mà chẳng trọn đời,

Sinh ra con ếch cho người lột da.[15]

9.SỰ TÍCH CON MUỖI

Có hai vợ chồng nhà nọ yêu nhau rất mực. Ngày mới lấy nhau, họ đã từng ăn thề hẹn không bỏ nhau. Nếu không may một trong hai người chết đi thì người kia sẽ chết theo để xuống âm ty cho có bạn.

Sau đó không bao lâu, người vợ trẻ tự nhiên bị cái chết mang đi một cách đột ngột. Người ta không thể tả cái cảnh đau thương của người chống. Anh chàng đã mấy lần toan tự tử, nhưng bị người nhà ngăn trở và canh phòng ráo riết. Hôm sắp sửa cất đám, bỗng có một đạo sĩ đến bày cho chàng phép cải tử hoàn sinh mà theo lời ông ta đã từng có nhiều người dùng rất ứng nghiệm.Phép của ông ta rất giản dị, chỉ cần người sống gan dạ và kiên trì một chút là được. Nghĩa là người sống một ngày ba lần ôm ấp và truyền hơi ấm của mình vào cho tử thi. Làm luôn như thế không nghỉ ngày nào thì chỉ trong khoảng ba tháng mười ngày là người chết sống lại.

Người chống cám ơn đạo sĩ và làm đúng như lời dặn, hy vọng đưa người yêu trở lại cõi thế. Hắn ngày ngày ôm ấp vợ, truyền sức nóng, hơi thở của mình vào cái xác đã lạnh toát.

Nhưng sau đó ba ngày, mùi hôi của tử thi bay ra khắp xóm làm cho mọi người không chịu được. Họ kéo nhau đến nhà bắt hắn phải chôn lập tức.

Bất đắc dĩ người chống phải nhờ xóm giềng chặt nứa làm giúp một cái bè để mình đưa xác vợ đi một nơi khác. Nhiều người vui lòng giúp anh chàng trong việc này. Chỉ trong nửa ngày, hắn đã chở xác người yêu đi biệt.

Chiếc bè theo dòng nước trôi mãi. Người chồng vẫn ngày ngày ấp ủ vợ không thôi.Cái tử thi đó trông vẫn như người nằm ngủ. Lòng anh chàng tràn trề hy vọng. Đến một nơi kia, hắn cắm bè lại kề một bãi cỏ rộng, lên bộ nấu ăn.

Tình cờ trong khi đi nhặt củi anh ta gặp một ông cũ già. Nhìn thấy ông cụ chống gậy đi một mình giữa cảnh trời nước hoang vu, lại râu tóc trắng xóa, hình dung không có gì là lam lũ, chàng trẻ tuổi lấy làm ngạc nhiên. Hắn đang suy nghĩ thì thoáng một cái ông cụ đã đứng trước mặt. Hiểu ngay đó là bậc Tiên Phật, hắn vội phục xuống chân cụ già rồi kể lể sự tình, cuối cùng không quên cầu khẩn ông cụ sinh phúc giúp cho vợ mình sống lại. Thấy hắn nài nỉ hết sức, đức Phật-vì chính ông cụ đó là đức Phật-bèn thương tình theo xuống bè, bảo hắn chích máu ngón tay lấy ba giọt giọt vào miệng vợ. Tự nhiên người đàn bà mấp máy môi rồi từ từ ngồi dậy như vừa tình một giấc mơ. Đức Phật, trước khi ra về có hỏi người vợ:

-Anh chàng này cho vay ba giọt máu để ngươi được hồi sinh. Vậy nhà ngươi có yêu anh ta chăng?

-Con rất yêu chồng con, thề trọn đời trọn kiếp không thay lòng đổi dạ.

Trước câu thề bồi chắc nịch của người đàn bà, đức Phật bảo:

-Không can gì. Nếu không yêu nữa thì chỉ có việc trả lại ba giọt máu cho anh ta là đủ.

Thấy bọn họ nóng lòng muốn trở về quê hương, đức Phật gọi một con cá sấu khổng lồ từ dưới vực sâu lên bảo chở họ đi.

Cá sấu vượt sông được nửa ngày đường thì bụng đã đói. Nó bảo hai vợ chồng lên bộ nghỉ ngơi để cho nó đi tìm cái gì ăn. Hai vợ chồng dắt nhau vào quán cơm. Trong quán hôm đó có người khách thương sang trọng. Hắn ta thấy nhan sắc người vợ diễm lệ ít có ai sánh tày thì bỗng nảy tà dâm, mưu toan chiếm đoạt. Hắn lân la lại gần, đưa các mẫu hàng tơ lụa và đồ trang sức ra vờ chào khách nhưng kỳ thực là để tán tỉnh người đàn bà đẹp. Hắn nói trong thuyền hắn đậu gần đấy còn có nhiều món hàng nữa rất quý và rất rẻ, muốn mời họ xuống xem.

Nhưng người chồng thì chẳng thiết một tí nào. Cơm nước xong, chồng bỏ mặc người khách thương, dắt vợ ra bến vắng, ở chổ hẹn với cá sấu, ngồi đợi. Họ ngồi dưới bóng cây trò chuyện một lúc rồi vì mệt quá, ngủ quên lúc nào không biết. Họ cũng chẳng ngờ rằng, sau lưng họ người khách thương kia vẫn theo sát không rời. Khi thấy hai người nằm ngủ, hắn đi nhẹ đến thức riêng người vợ dậy, mời nàng xuống thuyền đậu kế đó để hắn biếu một món trang sức rất đẹp:

-Thuyền của tôi chỉ cách đây mười bước. Bà không phải đợi lâu đâu!

Nghe nói thế, lòng người đàn bà bỗng lay chuyển. Nàng đứng lân, đi theo người khách thương xuống thuyền. Chỉ trong nháy mắt, theo ám hiệu của chủ, bọn thủy thủ nhổ neo và dong buồm cho thuyền chạy mất.

Lại nói chuyện cá sấu, lúc ngoi lên chỗ hẹn thì thấy chỉ có một mình người chồng,bấy giờ vẫn đang ngủ say. Cá sấu thức hắn dậy hỏi chuyện. Anh ta ngơ ngác không hiểu thế nào. Một mất mười ngờ, hắn đổ tội cho cá sấu đã ăn mất vợ. Để giải mối ngờ, cá sấu mới bảo hắn kiếm cây luồn qua miệng mình, khua trong dạ dày xem thử cho biết. Anh chàng làm theo, chỉ thấy trong bụng cá sấu toàn xương cá và đá cuội, mới biết mình ngờ sai. Tìm khắp mọi nơi chẳng thấy vợ,hắn trở về bến, ôm đầu kêu khóc thảm thiết. Cá sấu thương tình bèn bảo hắn cởi lên lưng để nó chở đi đuổi theo những chiếc thuyền vừa qua lại ngang đây dò tìm tung tích vợ. Sau mấy lần dò hỏi, người ta cho biết một chiếc thuyền buôn vừa đi qua, trong đó có một người đàn bà trẻ đẹp. Họ tả nét mặt và hình dạng thì đúng là vợ chàng. Cá sấu bèn cố công đuổi riết.

Khi nhìn thấy vợ ngồi trong thuyền khách thương, người chồng nói với vào:

-Nàng cứ nhảy ra đây…Tôi không thể sống xa nàng được…Tôi sẽ làm cho nàng sung sướng…

Nhưng người vợ bảo chồng:

-Chàng về đi! Em đành phụ chàng. Chàng tha thứ cho em vậy.

Rồi đưa ra cho chồng một gói vàng:

-Chàng hãy nhận lấy vật này và coi như em đã chết từ hôm nào rồi.

Vừa bực tức vừa thất vọng, chồng ném gói vàng xuống nước rồi nhờ cá sấu đưa về tìm đức Phật. Khi đức Phật gặp bọn họ, liền giục cá sấu hối hả rượt theo chiếc thuyền của khách thương để cho anh chàng thất tình đòi lại ba giọt máu của mình.

Lại nói chuyện người đàn bà, sau khi chích máu ở tay để lấy ra ba giọt trả nợ cho chồng thì ngã vật xuống chết ngay. Người khách thương hết sức cứu chữa nhưng vô hiệu. Rồi sau đó hắn ném xác nàng xuống biển. Nhưng do phép mầu nhiệm của đức Phật, người đàn bà ấy hóa thành con muỗi. Vì thiếu máu, nên lúc nào muỗi cũng lén lút chích trộm của mỗi người một tí để sống.[16]

Khảo dị

Việt Nam còn có truyện Lương Nhân có lẽ cũng từ truyện “ Sự tích con muỗi” phát triển ra.

Lương Nhân quê ở Vĩnh Yên, lấy vợ tên Thị Xuân. Vợ chết, Lương Nhân quá thương, cõng xác vợ theo mình không rời, Phật thương tình hiện lên phun ba ngụm nước cho Thị Xuân sống lại. Một hôm vợ chồng có việc đi xa, ngủ nhờ ở thuyền. Trong lúc Lương Nhân ngủ say thì vợ chồng theo ông chủ thuyền. Lương Nhân gặp lại đức Phật. Đức Phật bảo đến đòi ba ngụm nước, Thị Xuân phun xong ngã lăn ra chết.

Sau đó Lương Nhân gặp Hán Chân. Hai người lấy nhau, kiếm ăn rất chật vật. Một hôm Lương Nhân đi vắng, một người khác lại thấy Hán Chân có sắc đẹp liền ve vãn nhưng bị nàng cự tuyệt. Để mua chuộc, người khách xin hai miếng trầu và đưa cho nàng hai trăm lạng bạc. Hán Chân nhận và khi chồng về nàng kể lại sự thật. Lương Nhân ngờ vợ và định giết vợ. Vợ trốn đi, cải trang làm con trai vào học ở một ngôi chủa ở Sơn Tây. Đã đẹp lại học giỏi nên sư nữ Thị Vân đâm mê Hán Chân, hẹn hò làm vợ chồng.

Được mấy năm, Hán Chân đổi tên Lương Nhân đi thi đỗ Trạng, được vua gả Công chúa. Hán Chân xin phép về quê mở hội làm chay. Lương Nhân bấy giờ làm nghề nông, nghe có hội, đem rau đến bán. Vợ chồng gặp nhau. Phật hóa phép cho Lương Nhân thành một chàng trai đẹp đẽ thông thái. Hán Chân đưa chồng về triều tâu rõ sự việc. Vua gả Công chúa cho Lương Nhân làm vợ hai. Thị Vân cũng được đón về làm vợ ba.[17]

10.SỰ TÍCH CON KHỈ

Ngày xưa có một người con gái đi ở với một nhà trưởng giả. Nàng phải làm việc quần quật suốt ngày, lại bị chủ đối đãi rất tệ. Cái ăn cái mặc đã chả có gì mà thỉnh thoảng còn bị đánh đập chửi mắng. Vì thế, cô gái tuổi mới đôi mươi mà người cứ quắt lại, trông xấu xí bệ rạc hết chỗ nói.

Một hôm nhà trưởng giả có giỗ, cỗ bàn bày linh đình, họ hàng đến ăn uống đông đúc. Trong khi đó thì cô gái phải đi gánh nước luôn vai không nghỉ.

Lần gánh nước thứ mười, cô gái mỏi mệt quá ngồi lại ở bờ giếng. Tự nhiên cô thấy tủi thân, ôm mặt khóc. Lúc đó đức Phật bỗng hiện ra với trạng mạo một ông cụ già. Ông cụ có vẻ đâu từ xa lại, dang điệu mệt nhọc, đến xin nước uống. Nàng vội quảy gánh xuống giếng vục nước lên cho ông già giải khát. Ông cụ uống xong lại đòi ăn. Cô gái nhớ tới phần cơm của mình chưa ăn, bèn bảo ông cụ ngồi chờ rồi quảy gánh nước về.

Lần sau ra giếng, cô lấy cơm trong thùng đưa cho ông già và nói:

-Họ dành phần cho con toàn cơm cháy cả, cụ ăn một bát này cho đỡ đói.

Ăn xong, ông cụ bảo nàng:

-Hồi nãy con làm sao mà khóc?

Cô gái ngập ngừng, cúi mặt xuống không trả lời.

-Ta là đức Phật, ông cụ nói tiếp, ta thấy con có lòng tốt. Nếu con muốn gì, Ta sẽ làm cho con vui lòng.

Cô gái ngạc nhiên mừng rỡ, kể nỗi lòng với đức Phật. Thấy điều ước muốn của người con gái đáng thương chỉ là làm sao cho bớt xấu xí. Ông cụ bảo nàng lội xuống giếng, hễ thấy bông hoa nào đẹp, múc lấy thì sẽ được toại nguyện. Khi xuống giếng, cô gái chỉ múc lấy bông hoa trắng. Tự nhiên lúc lên bờ, nàng trở nên trắng trẻ xinh xắn, đồng thời quần áo cũng biến thành những thứ tốt đẹp.

Khi cô gái quảy gánh nước trở về, cả họ nhà trưởng giả vô cùng kinh ngạc. Nàng xinh đẹp đến nỗi họ không nhận ra. Nghe cô gái kể chuyện, ai nấy cũng muốn cầu may một ít. Họ lập tức đổ xô cả ra bờ giếng mong gặp lại đức Phật để được trẻ lại và đẹp ra. Thấy ông cụ già vẫn còn ngồi ở chỗ cũ, họ sung sướng như người được của. Họ đưa xôi thịt ra mời rối rít:

-Này cụ xơi đi! Cụ xơi đi. Rồi cụ làm phúc giúp cho chúng tôi với.

Đức Phật bảo họ lội xuống giếng và dặn họ y như dặn cô gái lần trước.

Dưới giếng lúc đó đầy hoa đỏ và hoa trắng. Ai nấy đều cho màu đỏ là đẹp nên lội xuống giếng đều tìm hoa đỏ múc lấy múc để. Nhưng không ngờ lúc lên bờ, họ không phải trẻ lại mà già thêm; mặt mũi nhăn nheo, người trông quắt lại, lông lá mọc đầy người, đằng sau lưng là cả một cái đuôi. Những người đi gánh nước thấy vậy hoảng hồn; -“ Kìa trông con quỉ, nó cắn bà con ôi!”. Nhưng lại có những  tiếng khác: -“Đánh cho chết chúng nó đi! Sợ gì!”.

Lập tức mọi người cầm đòn gánh xông lại.Cả họ nhà trưởng giả kinh hoảng bỏ chạy một mạch lên rừng. Từ đó, cô gái cùng với một số người nghèo hầu hạ trưởng giả được thừa hưởng gia tài của họ.

Lại nói chuyện trưởng giả và họ hàng nhà hắn đành phải ẩn náu trong rừng sâu, ngày ngày kiếm quả cây nuôi thân. Chúng đi lom khom, áo quần rách nát trông rất thiễu não. Nhưng chúng vẫn tiếc của, cho nên thỉnh thoảng ban đêm chúng lại mò về, hoặc gõ cửa, hoặc ngồi trước nhà lêu léo nhéo suốt đêm, gần sáng trở lại về rừng.

Thấy vậy cô gái và mọi người sợ quá. Đêm đêm đóng cửa rất chặt. Họ bàn nhau tìm cách đuổi chúng.Họ bôi mắm tôm vào các song cửa, lại nung nóng rất nhiều lưỡi cày đặt rải rác ở cổng các nhà.

Quả nhiên, một đêm nọ chúng lại mò về. Theo lệ thường, chúng đánh đu vào song cửa kêu rít lên. Nhưng lần này chúng vừa mò đến đã bị mắm tôm vấy đầy tay, rồi từ tay vấy khắp cả người, hôi hám không thể nói hết. Chúng kinh sợ dắt nhau ra ngồi trước cổng quen như thói cũ. Nhưng vừa đặt đít xuống các lưỡi cày thì chúng đã kêu oái oái , rồi ba chân bốn cẳng bỏ chạy lên rừng. Từ đó chúng kệch không dám về nữa.

Những khi lên rừng hái củi, người ta vẫn thỉnh thoảng gặp chúng. Thấy bóng người từ đàng xa, chúng liền chuyền theo nhành cây, lủi nhanh thoăn thoắt. Người ta gọi chúng là những con khỉ. Ngày nay vẫn có nhiều người cho khỉ thuộc nòi trưởng giả. Còn những con khỉ đỏ đít là vì chúng chịu di truyền dấy vết bỏng của tổ tiên.[18]

11.SỰ TÍCH CHÙA NGỌC HỒ

Chùa này dù có tiếng là một cổ tích, nhưng nền nếp kiến trúc cổ sau bao cơn loạn lạc, đều lần lượt bị tàn phá hết, mãi đến năm Ất Hợi ( 1935) mới sửa chữa lại như quang cảnh ngày nay.

Chùa này xưa kia làm nền trên một cái gò, giữa gò cao vót lên như hình một cái hồ rượu, nên gọi là chùa Ngọc Hồ. Bên trong hồ có đáy sâu xuống chừng ba bốn thước, có nước rất trong và lúc nào cũng đầy. Sau khi sửa lại chùa, Ngọc Hồ ở vào ngay cửa giữa tam quan, có làm nắp đậy, để lấy lối đi lại lên trên.

Chùa dựng lên từ năm Kiến Gia thứ tám (1218) đời vua Huệ Tôn nhà lý. Đến đời Trần, đổi gọi là chùa Tiên Phúc, vì theo tục truyền thường có nàng tiên hiện thân đi tha thướt ở trước chùa này là chùa Ba Ngô, truyền rằng về đời nhà Mạc ( 1527-1529) một người đàn bà ta lấy một nhà buôn Hoa kiều, nhà rất giàu, tự bỏ của riêng đứng ra làm chùa( Ngô mà danh từ xưa kia vẫn dùng để chỉ các người Hoa kiều sang làm ăn buôn bán  ở xứ ta).

Trong chùa hiện chia làm ba phần, phần giữa để thờ đức Phật; bên tả là nhà hậu, thờ những người có công đức với chùa; phần bên hữu thờ chư vị, vị chính là bà Liễu hạnh Công chúa, ở cửa ngoài có một câu đối quốc văn , tả về thân thích bà:

Chẳng thiêng cũng bụt chùa nhà; gái Thanh Hóa nữ thần có một.[19]

Đẹp nhất là tiên hạ giới, cõi Nam thiên bất tử hòa tư.[20]

Về phần bên hữu này, ngoài cùng thờ tượng Lê Thánh Tôn. Theo tục truyền, Lê Thánh Tôn là người đã từng có nhân duyên quả kiếp với chùa. Có một hôm, nhà vua ngự kiệu đi vãn cảnh danh lam, khi tới gần chùa Ngọc Hồ, nhác thấy một người con gái đẹp đang đứng trên gác chuông ngắm cảnh và cất tiếng ngâm câu:

Ở đây mến cảnh mến thầy,

Tuy vui đạo Phật chưa khuây lòng người.

Vào tới chùa, nhà vua đi thẳng lên gác chuông hỏi người con gái:

-Vừa nghe mấy lời châu ngọc, biết nàng quả có văn tài, duyên tao phùng dễ có mấy khi, để ghi nhớ phút kỳ ngộ này, xin tài nữ hãy cùng trẫm chia vần xướng họa, nên chăng?

Người con gái nhận lời, và xin nhà vua xướng trước. Vua xin nàng cho biết đầu đề, nàng lấy ngay câu thơ vừa ngâm lúc nãy làm đầu đề. Vua ứng khẩu đọc ngay:

Ngẫm sự trần duyên khéo nực cười,

Tuy vui đạo Phật chửa khuây người.

Chầy kinh mấy khắc tan niềm tục,

Hồn bướm ba canh lẫn sự đời.

Bể thảm muôn tầm mong tát cạn,

Sông ân ngàn trượng dễ khơi vơi.

Nào nào Cực lạc là đâu tá?

Cực lạc là đây chín rõ mười.

Vua đọc xong, xin nàng cho biết ý kiến.Nàng xin cho được đổi mấy chữ: Chày kinh mấy khắc đổi là gió xuân dưa kệ, ba canh đổi là mơ tiên, thảm đổi là khổ, sông đổi là nguồn. Nhà vua rất thán phục và xin nàng họa lại. Nàng nói:

-Ý thiếp đã đủ cả trong câu mệnh đề, không còn nói gì hơn nữa, vả chăng đứng trước ngọn Thái Sơn, gò đống cũng khó nói được là cao lớn. Nay xin tạm miễn, còn nhiều hội ngộ về sau.

Nhà vua cười, rồi mời nàng cùng lên kiệu về cung. Không chối từ, nàng trèo lên kiệu cùng đi,nhưng khi kiệu vừa về đến bên ngoài cửa Đại Hưng (một cửa ở ngoài phía nam hoàng thành) thì nàng biến mất. Nhà vua biết là tiên, cho lập một lầu cao ngay ở đó, gọi là Vọng Tiên lâu, để đôi khi trèo lên trông ngóng, may chăng còn gặp bóng hồng. Lầu này ở vào chỗ quán Vọng Tiên, phố Hàng Bông ngày nay.

Vì chùa Ngọc Hồ có tên là chùa Tiên Phúc, nên có nhiều người lầm với chùa Tiên Tích ở phố Hàng Cỏ. Chùa Tiên Tích vốn là một danh lam ở thủ đô, cuối đời Lê, chúa Trịnh Sâm cho sửa sang lại, bên cạnh dựng tòa ly cung để đôi khi mang cận thần và phi tần ra đó nghỉ mát. Trong chùa có hồ rộng mười mẫu, có tháp cao chín tầng và có nhiều hình giống vật bằng đá của nước Chiêm Thành, do chúa Trịnh Tráng vào đánh chúa Nguyễn ở miền Nam lấy được đem về. Chẳng bao lâu gặp loạn, chùa bị phá hết không còn gì, về sau người ta chỉ lập nên một tòa chùa nhỏ. Đến nay, chùa ấy chỉ còn là một gian nhà thường chật hẹp, mang biển số nhà 110 ở đường Lê Duẫn ngày nay.

(Cổ tích và Thắng cảnh Hà Nội, Doãn Kế Thiện NXB Hà Nội 1999)

12-SỰ TÍCH CÁ HE [21]

Ngày xưa có một nhà sư trẻ tuổi rất ngoan đạo. Sau hơn ba mươi năm khổ công tu luyện, sư thuộc lòng tất cả các kinh kệ nhà Phật, lại giỏi thuyết pháp. Vậy mà lâu rồi vẫn chưa được thành chánh quả. Sư bụng bảo dạ:-“ Phải đến đất Phật một phen mới có hy vọng thành Phật”. Nghĩ vậy, sư ta mới quyết chí tìm đường sang Tây Trúc.

Đường đi từ nước nhà sang Tây Trúc ngày đó thật muôn phần vất vả. Việc giao thông hầu hết là bằng đường bộ, mà đi bộ trên con đường mịt mùng thăm thẳm thì mỗi bước là một hiểm nguy. Nhưng nhà sư trẻ tuổi vẫn quả quyết nhắm hướng Tây tiến bước.

Cuộc hành trình đã được năm mươi ngày. Nhà sư đã nhiều ngày lạc đường và mấy lần mê man vì sốt, nhưng nhờ được sự giúp đỡ nên đều qua khỏi và chàng vẫn tiếp tục cuộc đi thăm đất Phật.

Một hôm,sư đến một khu rừng thì trời đã chiều. Sư cố bước dồn hòng tìm một nơi an nghỉ vì trong người đã thấy ớn rét May sao giữa rừng sâu, sư bỗng gặp một ngôi nhà.Nghe tiếng gọi cửa, một bà cụ già bước xuống sàn.Sư tỏ ngay ý định của mình là xin ngủ nhờ một đêm. Nhưng bà cụ vừa thấy khách đã xua tay rối rít:

-Đi mau lên! Mau lên! Con ta mà về thì không còn tính mạng đâu.

Sư đáp:

-Tôi bây giờ thiệt là kiệt sức, không thể nào bước được nữa.Nếu không cho nghỉ thì cũng đành nằm liều trước cửa đây thôi.

Bà cụ bảo:

-Chao ôi! Con ta vốn là Ác Lai hay ăn thịt người.Cố đi nhanh lên, nó sắp về rồi đó.

Nhưng sư đã chắp tay nải, nằm vật xuống đất, hai đầu gối va vào nhau chan chát. Bà cụ không biết nói thế nào nữa, đành nắm tay y lôi đến một cái hầm đá lớn.Sau khi đẩy vào, bà cụ bảo y phải cố giữ cho thật im lặng, để tránh một cái chết thê thảm. Đoạn bà cụ chất củi,phủ lá rất kín đáo.

Trời tối hẳn thì Ác Lai về đến nhà, tay xách một con mang.Hắn dừng lại ở chân thang và khịt mũi mãi. Hắn nói:

-Có mùi thịt mẹ ạ!

Mẹ hắn đáp:

-Thì chả là thịt của mày mang về đấy là gì?

-Không phải.Thịt người. Con biết lắm.Có thịt người.

Bà cụ chưa kịp cản thì hắn đã quẳng con mang lên sàn rồi chạy đi tìm.Chẳng mấy chốc, hắn đã lôi được nhà sư bất tỉnh nhân sự từ dưới hầm về nhà mình.

Khi sư tỉnh dậy thì đã thấy Ác Lai đang cầm một mũi mác lăm lăm ở tay. Hắn quát:

-Mày đi đâu?

Sư nhìn kỹ thấy hắn cũng không khác gì người thường bèn tỉnh táo đáp:

-Tôi đi tìm Phật.

-Tìm để làm gì?

Sư bấy giờ mới rõ mục đích của mình, rồi luôn miệng, sưgiảng giải đạo từ bi cho hắn. Sư nói mãi, nói mãi, kể lại bao nhiêu nỗi gian khổ của mình dọc đường và niềm mong muốn cuối cùng là làm sao được nhìn mặt đức Phật để Phật độ cho thành chánh quả. Sư nói khéo quá, đến nỗi mẹ con Ác Lai đều cảm động đến rơi nước mắt. Thấy họ thành thật hối lỗi, sư cho biết là họ cũng sẽ trở nên “ vô sinh vô diệt”, sẽ sống một đời sống vô cùng sung sướng trên Niết-bàn, nếu họ kiên quyết bỏ ác làm thiện. Tự nhiên mũi mác ở tay Ác Lai rơi xuống sàn. Những đường nhăn hung ác bấy giờ đã dịu lại.

Sáng hôm sau, khi sư sắp sửa lên đường thì mẹ con Ác Lai vui vẻ sắp sẵn lương thực cho chàng. Họ tiễn đưa sư sang tận bên kia một ngọn núi đá. Khi sắp từ biệt, Ác Lai hỏi:

-Tôi biết lấy gì mà dâng Phật đây?

Sư đáp:

-“Tâm tức thị Phật, Phật tức thị tâm”. Chỉ dâng tấm lòng mình là đủ.

Sư không ngờ Ác Lai đã rút mũi mác, nhanh như cắt tự rạch bụng mình lôi ra cả mớ ruột gan đưa cho sư và nói:

-Nhờ Hòa thượng dâng hộ đưa lên đức Phật.

Sư lấy làm bối rối quá. Chỉ vì Ác Lai hiểu nhầm lời nói của mình. Bây giờ còn biết làm thế nào đây. Cuối cùng sư ta đành nhìn vào cặp mắt của Ác Lai, gật đầu nhận lời, rồi gói bộ lòng của con người đáng thương đó lại và quảy lên vai, cất bước lên đường.

Sư vừa đi được mấy ngày thì khu rừng rậm chấm dứt, hiển lộ ra trước mặt mình mênh mông bát ngát. Nước trời một vẻ trông rất vui mắt, nhưng trong bụng sư thì chẳng vui tí nào. Món lễ vật của đức Phật đè nặng trên vai.Nếu chỉ có thế thì không có gì đáng ngại cholắm. Khổ một nỗi là mùi thối từ bộ lòng kia xông ra khó tả. Sư đã bọc nó ba tầng bốn lớp mà mùi thối vẫn nồng nặc. Sư lẩm bẩm:-“ Như thế này thì các nhà quán dọc đường còn ai dám chứa mình?”.Qua ngày hôm sau, không thể chịu nỗi nữa, sư bèn vứt bộ lòng Ác Lai xuống biển.

Nhà sư đi mãi rồi cũng đến Tây Trúc. Nhưng khi phủ phục trước Phật đài nói lên nỗi thắc mắc của mình vì sao chưa được đắc đạo thì bỗng nhiên trên điện cao có tiếng vọng xuống bảo rằng:

-Còn thiếu một vật nữa mới thành chính quả.

Sư rất đỗi kinh ngạc,cố ngước mặt lên nhìn một tí. Trên cao vòi vọi, sư thấy đức Phật ngự giữa tòa sen trắng sáng ngời, sau lưng có bóng dáng hai người tựa hồ như hai mẹ con Ác Lai.Sư bỗng hiểu hết. Đức Phật đã rõ sư thiếu thành thực, thiếu tận tâm của mình rồi; còn mẹ con Ác Lai nay đã thành chính quả chỉ là nhờ sự ngộ đạo đột ngột và chân thành trong phút chốc. Sư nằm phục vị hồi lâu, trong lòng thẹn thùng vô kể.

Nhà sư trẻ sau đó lại trở về chốn cũ để tìm lại bộ lòng. Tuy  biển mênh mông sâu thẳm, nhưng sư cũng cố lặn hụp để mong thấy lại món quà dâng Phật mà Ác Lai đã gửi cho mình và hy vọng gần gũi tòa sen đức Phật. sư bơi lên lặn  xuống mãi. Sau đó sư hóa làm loài cá mà người ta vẫn gọi là cá he,[22],cũng gọi là cá nược, hay có nơi cũng gọi là cá ông sư. Vì cho đến ngày nay dòng dõi loài cá đó con nào con nấy cũng có cái đầu trọc như đầu ông sư và vẫn làm việc của nhà sư, nghĩa là chúng đi hàng đàn, cứ lặn xuống nổi lên luôn không chịu nghỉ.

Những người đánh cá còn nói loài cá he rất nghét những ai trêu chọc mình. Ai trêu chọc nghĩa là gợi lại chuyện của tổ tiên chúng nó, chúng nó sẽ làm cho thuyền đắm, rách lưới. Trái lại, ai khen ngợi reo hò thì chúng nó sẽ lặn xuống nổi lên nhiều lần cho mà xem[23].

Khảo dị

Truyện kể trên lưu hành ở miền Nam. Nhân dân miền Bắc kể chuyện này cũng một nội dung nhưng khác tên gọi. Đó là Sự tích chim bìm bịp:

Một sư nữ chân tu, ăn chay niệm Phật bao nhiêu năm ròng nhưng chưa đắc đạo. Một hôm, sư quyết định sang Tây Trúc để hỏi Phật duyên cớ vì sao.

Sau mấy tháng trời ngày đi đêm nghỉ, một ngày kia sư đến một khu rừng thẳm. Trời đã xế chiều, sức đã kiệt thì may sao, sư trông thấy một cái nhà bên đường. Nghe tiếng gõ cửa, một người đàn bà bước ra vội vã xua tay rối rít, bảo khách đi nhanh lên kẻo con mình là yêu, hễ bắt được người nào là ăn thịt.Nhưng thấy sư nữ năn nỉ quá , chủ nhân lấy cơm cho ăn rồi bảo chui vào trong một cái vại đậy lại cẩn thận.

Yêu con về đánh hơi thấy mùi thịt người, cố tìm cho kỳ được. Yêu mẹ thấy con sắp sửa ăn thịt sư nữ thì hết lời khuyên can:

-Đó là một nhà tu hành. Nếu con ăn thịt người ấy, Phật sẽ không dung thứ.

Nghe nói, yêu con dần dần tỉnh ngộ, bày tỏ sự hối hận của mình cho sư biết. Hắn đã ăn thịt rất nhiều người và bây giờ hắn mong muốn chuộc tội. Cuối cùng ,yêu con hỏi sư nữ:

-Tôi muốn sửa lỗi để theo Phật. Chẳng hay sẽ dùng cái gì để ra mắt?

Sư đáp:

-Phật chỉ cần tấm lòng mà thôi!

Thế là yêu con rút dao rạch bụng lôi cả ruột gan ra và nói:

-Nhờ chuyển giúp cho tôi vật này làm lễ dâng Phật.

Sư nữ không ngờ hắn lại hiểu nhầm như vậy, đành nhận lời, quảy bộ lòng lên đường. Nhưng được mấy ngày bộ ruột nặng mùi quá, không sao chịu được, sư nữ quên cả lời hứa, quẳng vào bụi rậm và tiếp tục đi nữa.

Đến Tây Trúc, khi nhà sư vào lễ Phật thì đức Phật ở trên toà sen bảo:

-Còn thiếu một nữa mới thành chánh quả.

Sư nữ hiểu ra, òa khóc, nói mình đã kiệt sức, không biết làm thế nào mà tìm được. Phật cho nàng hai chiếc cánh để đi cho chóng và bắt tìm cho ra.

Nhưng còn biết đâu mà tìm. Sư nữ khóc liên miên , ngày đêm chui rúc từ hết bụi mày đến bụi khác, thỉnh thoảng lại lên tiếng thở than, phảng phất như tiếng “ bìm bịp”. Tìm không được, nhưng sư cứ phải tìm mãi. Rồi sau đó sư hóa thành loài chim đầu đen, mình nâu, mắt đỏ như máu, người ta gọi là chim bìm bịp. Đó là hình dạng của sư nữ đầu chít khăn đen, mình mặc áo vải nâu già. Còn mắt đỏ là vì khóc nhiều mà sinh ra thế[24].

Tóm lại, ba cốt truyện trên có lẽ xuất phát từ một Phật thoại và đã được sửa chữa tô điểm thành truyện cổ tích dân gian.

Theo Mỹ Ấn tùy bút thì mẹ Ác lai được Phật độ cho làm Mụ Thiện. Ác Lai trở thành hai vị Hộ pháp được Phật cho giữ chùa mà ta thường gọi là ông Thiện ông Ác. Tại sao một người lại hóa thành hai? Đó là vì tuy là một nhân vật nhưng kể từ khi rạch bụng cúng Phật đã tách thành hai con người khác hẳn. Ông Thiện là hiện thân của quãng đời sau của Ác Lai ( thời kỳ ngộ đạo), ông Ác là hiện thân của quãng đời trước ( chưa ngộ đạo).

Trong Kinh Tam Tạng có truyện tương tự:

Ngày xưa con gái Long Vương đi chơi trên trần bị một người chăn bò trói đánh. Vua nước ấy bắt gặp, sai cởi trói thả về. Về nhà, Long Vương hỏi con gái tại sao lại khóc. Cô gái vu cho vua trên trần đánh.Long Vương bèn hóa thành rắn tìm lên trần, nấp dưới giường vua, bỗng nghe vua nói với vợ:

-Hôm nay ta đi chơi gặp một cô gái bị đứa chăn bò đánh, được ta giải thoát cho.

Ngày hôm sau, dưới lốt người, Long Vương đến gặp vua trần nói:

-Ông đã làm một việc tốt là cứu con gái tôi. Nay ông muốn gì tôi sẽ cho nấy.

Vua nói:

-Vật quý tôi đã có nhiều. Tôi chỉ muốn hiểu tiếng loài vật.

-Ông cứ trai giới trong 7 ngày sẽ được như ý. Nhưng phải giữ kín đừng cho ai biết.

Từ đấy, vua Trần quả nghe hiểu được tiếng muôn loài.

Một hôm đang ăn với hoàng hậu, vua bỗng thấy bướm cái bảo bướm đực kiếm cho nó thức ăn. Bướm đực trả lời ai kiếm nấy ăn. Bướm cái nói bụng nó không muốn thế. Vua cười một mình. Hoàng hậu hỏi, vua nín lặng. Một lần khác, vua ngồi với hoàng hậu thấy hai con bướm gặp nhau, cãi nhau và cả hai đánh nhau rơi xuống đất. Vua lại cười. Hoàng hậu hỏi đến ba lần, vua đều không nói. Nhưng khi hoàng hậu doạ sẽ tự vẫn, thì vua đành bảo chờ mình đi dạo một lát rồi sẽ cho biết vì sao mà cười.

Để cảnh tỉnh vua trần, Long Vương hóa thành một bầy dê lội sông. Một con dê cái gọi chồng trở lại đưa mình đi.Dê chồng nói không thể đưa được. Dê vợ cũng đòi tự tử và nói:

-Anh không biết có ông vua nước kia sắp chết vì vợ mình đó ư?

Dê chồng đáp:

-Ông vua ấy chết cho vợ là vì hắn ngốc.Mày cứ chết đi, ta không thiếu gì dê cái.

Vua Trần nghe nói thế, tự nghĩ mình thua sự sáng suốt của con dê đực. Lúc trở về hoàng hậu lại vật vã đòi tự tử. Vua đáp:

-Cứ chết đi, trong cung ta thiếu gì cung phi, cần gì một thứ mày.[25]

13. SỰ TÍCH CÁI CHÂN SAU CON CHÓ

Ngày xưa có một người đàn bà tên là Thanh Đề rất sùng đạo Phật.Bà ta sùng Phật đến nỗi cho rằng những cơm bánh do lúa gạo người ta trồng ra ở đồng ruộng thì không thể nào được tinh khiết, mà đã thế thì không thể đem cúng Phật. Vì thế, hằng năm bà ta trồng lúa nếp trong những cái gáo dừa đựng đất sạch. Luôn luôn bà treo cái gáo đó lên một chỗ cao vì sợ có người bước qua. Khi lúa chín, bà thận trộng rứt từng hạt một, giã nó bằng một con dao mới tinh, rồi mới đưa nắm gạo đó đựng vào bát thờ mà dâng lên chùa.

Một hôm, ở một ngôi chùa lớn trong vùng có mở hội đón tiếp khách thập phương. Vị Hòa thượng chùa ấy cắt đặt một số sư tiếp nhận những lễ vật của thiện nam tín nữ đem đến cúng Phật.Bà nghe tin không quản đường xa, vội đưa nắm nếp tinh khiết của mình tìm đến dâng cúng ở chùa đó. Không ngờ mấy vị sư kia chỉ chú ý đến lễ vật hậu hỉ của những người khác, mà chả ai nghĩ đến bà và nắm gạo của bà. Chờ suốt một ngày không thấy ai nhận, người đàn bà nọ tức mình, ném nắm gạo xuống đất rồi bỏ về.

Ít lâu sau, bà ta sắm sửa một lễ cúng Phật tại nhà mình rồi mời Hòa thượng và các sư ở chùa đó đến tụng kinh. Theo lệ thường, trước khi ra về, chủ nhân phải làm bánh tặng họ ăn đường. Để làm nhục bọn sư bất lương, bà ta giết một con chó, lấy thịt băm nhỏ với các thứ rau thơm làm nhân bánh. Sau bữa cơm chay, bà ta đem bánh đó tặng mỗi người một chiếc. Đoán được âm mưu của người đàn bà, vị Hòa thượng dặn các nhà sư cầm bánh về chứ đừng ăn. Họ đều vâng lời, duy chỉ có một nhà sư quên mất. Dọc đường thấy bánh thơm ngon, sư ta bèn bóc ăn kỳ hết. Những người khác khi đưa bánh về biết là nhân thịt chó đều quăng cả vào gốc cây Bồ Đề ở trước chùa.

Tất cả những việc đó đều thấu tai đức Phật. Trước hết, đức Phật trị tội bọn sư tham lam và bất lương. Bọn họ bị bắt xuống địa ngục. Con chó chết oan được sống lại. Nhưng vì nó đã bị nhà sư ăn mất một chân nên lúc trở về cõi thế chỉ còn có ba chân. Đức Phật thấy thế chắp cho nó một chân giả khác để tiện đi lại.[26].Những thứ rau thơm làm nhân bánh bị vứt dưới gốc Bồ -đề cũng nhờ phép Phật mọc lại xanh tốt. Đó là ba cây rau om, hành và sả. Vì những cây ấy bị nhà chùa coi là đã bị uế tạp cho nên sau này những người xuất gia đều kiêng không dùng. Về phần người đàn bà cũng bị tôi nặng: Phật bắt bà ta bỏ vào tầng ngục thứ mười. Có người bảo đó là mẹ ông Mục Liên, sau này ông từng xuống đó thăm mẹ.

14.SỰ TÍCH ÔNG ĐẦU RAU [27]

Ngày xưa, có hai vợ chồng son nghèo. Họ đều sinh nhai bằng nghề làm thuê làm mướn. Tuy nghèo nhưng họ rất yêu nhau. Thường buổi tối sau khi đi làm về, hai vợ chồng ngồi bên bếp lửa hay dưới ánh trăng kể cho nhau những chuyện xa gần mới nghe được, hay hát những câu tình duyên, có khi vui vẻ quên cả cơm nước.

Một năm trời làm mất mùa, hạt gạo kiếm ăn rất khó khăn. Tình trạng đói kém diễn ra khắp mọi miền.Hai vợ chồng theo lệ cũ đi tìm việc ở các nhà giàu nhưng chả mấy ai thuê nữa. Người vay công lĩnh nợ thì đông mà gạo rất khan hiếm nên khó chen vào lọt. Hơn nữa, cổng mấy lão trọc phú lại thường đóng chặt vì chúng không muốn cho ai quấy nhiễu.

Túng thế hai vợ chồng phải đi mò cua bắt ốc, hoặc đào củ, hái rau về ăn. Tuy có đỡ phần nào nhưng tình thế vẫn không mảy may sáng sủa. Cái chết luôn luôn đe dọa họ vì