Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Truyện Phật Giáo


 

 

 

 

DƯỚI MÁI CHÙA HOANG

(tập truyện)

HT. Thích Quảng Độ

---o0o--- 

 

 

Dưới mái chùa hoang

Cạnh con đường mòn, ven sườn núi tại Ngọc Nam, có một ngôi chùa nhỏ hoang vắng, nằm im lìm giữa một nơi hẻo lánh và quạnh quẽ. Mùa xuân năm ấy, giặc dã và trộm cướp nổi lên, dân chúng miền phụ cận đã chạy tản mác đi nơi khác, vị trụ trì trong chùa cũng bỏ trốn, chỉ để một mình ông già “ tứ cố vô thân” ở lại đèn hương sớm tối.

Hết xuân sang hạ, khí trời trở nên mát mẻ, tối hôm ấy, như thường lệ, ông già dọn dẹp các nơi xong, đang định vào căn phòng nhỏ phía sau Phật điện nghỉ ngơi, bỗng nghe có tiếng gõ cửa nhè nhẹ vang lên ở phía ngoài, ông đi ra mở cửa thì thấy một vị sư áo quần lam lũ, râu ria xồm xoàm, tay cầm chiếc thuyền trượng (cái gậy), trên lưng đeo một cái đãy nhỏ đang đứng dưới thềm cửa trước chùa.

- Ngài cần việc gì? Ông già hỏi.

- Tôi đi vân du đến đây thì trời tối, không có chỗ trọ, định vào quý tự xin tá túc một đêm.

- Chùa đây không phải chốn tùng lâm, không tiện tá túc. Vả lại, sư cụ trụ trì đi vắng, tôi chỉ là người trông nom đèn hương trong chùa, xin sư cụ từ mẫn cho. Ông già uyển chuyển đáp khéo.

- Tôi cũng biết chùa đây không phải chốn tùng lâm. Vị khách tăng nói. Song đến đây không còn thấy nơi nào có thể ngủ trọ được. Giờ trời đã tối, xin lão vui lòng cho tôi nghỉ tạm một đêm.

Sau một lát ngần ngừ, ông già nói:

- Trong chùa vẫn còn một căn phòng nhỏ bỏ không, sư cụ có thể nghỉ tạm. Song chỉ hiềm là không có chiếu chăn gì cả, mà lương thực cũng eo hẹp lắm!

- Điều đó không ngại, tôi ngồi được rồi, không cần chiếu chăn. Còn thức ăn thì tôi đã có mang theo lương khô đây, không dám phiền bàn đến lão.

- Vậy thỉnh cụ vào, nhưng xin cụ cho biết pháp danh và cụ ở đâu tới?

- Tôi là Vân Không, từ Triết Giang đến.

Ông già đưa sư cụ Vân Không vào. Khi đi qua Phật điện, ông thắp ngọn đèn dầu trên bàn thờ lên, rồi dẫn sư cụ vào căn phòng phía sau đối diện với phòng của ông. Căn phòng bỏ không, nhưng ở góc phòng có một đống cỏ khô chất gần đến mái nhà, mùi cỏ khô tỏa ra khắp căn phòng.

Ông già vừa nhìn sư cụ vừa nói:

- Xin cụ lượng thứ, thỉnh cụ hãy tạm nghỉ ở đây!

- Ồ, không sao!Tôi đã sống qua nhiều ngày thế này rồi, ở đây tương đối còn khá lắm!

Sư cụ để chiếc gậy và cái đãy vào góc phòng, rồi nói với ông già:

- Thôi, mời lão đi nghỉ. Để mặc tôi, tôi còn lên lễ Phật.

Ông già đi về phòng riêng. Vừa mới ngồi xuống giường, đột nhiên lại thấy tiếng gõ cửa từ đằng trước vọng vào. Lần này, tiếng gõ cửa rất gấp và cứ thình thình. Ông thấy trong lòng run sợ, còn đang phân vân không biết có nên ra mở cửa hay không thì chợt thấy sư cụ Vân Không tiến đến cửa phòng.
 

- Có người gọi cửa phía ngoài.

- Tôi nghĩ không nên mở. Ông già nói. Họ gõ chán, không thấy mình ra, tất họ phải đi.

- Tại sao không mở? Sư cụ ngạc nhiên hỏi.

- Bạch cụ, cụ không biết, chứ ở vùng này lộn xộn lắm, trộm cướp vô khối. Tiếng gõ cửa liên hồi như thế, tôi chắc bên ngoài phải có nhiều người. Chả biết họ đến làm gì, tôi không dám cho họ vào đâu!

- Ông với tôi thì có gì đâu mà sợ họ cướp? Và chắc đâu đã phải là cướp? Cứ ra xem nào!

- Thảng hoặc họ là cướp thật và cái gì cũng muốn vơ vét. Tôi còn mấy chiếc quần áo và chút ít tiền, nếu họ lấy mất thì sao?

- Ông đem giấu tiền đi, còn quần áo thì họ sẽ không thấy đâu!Nếu thật là cướp thì còn có tôi đây, lão đừng sợ. Ví phỏng họ muốn ăn thì cho họ ăn, tôi còn lương khô đây, ăn hết sẽ hay!

Ông già do dự nói:

- Họ gõ cửa đã lâu mà mãi bây giờ mới ra mở. Giả sử họ là cướp, chắc chắn khi vào họ sẽ cho tôi một trận nên thân chứ chẳng chơi!

- Tôi đi với lão và để tôi mở cửa cho!

- Bạch cụ. Ông già nhíu mày nói. Nếu chỉ là một người khỏe mạnh, mình đối phó được còn khó thay!Huống hồ lại nhiều người, họ sẽ nuốt sống mình mất.

- Một người khỏe mạnh cũng không sợ, mà có bao nhiêu người cũng không sao, đã có tôi ở đây!

Sư cụ Vân Không đến bên ông già và cầm tay kéo ông đi:

- Đây là một nơi hoang vắng, chắc có người lỡ đường muốn vào chùa xin nghỉ trọ, nên cho họ vào, nếu họ đói thì cho họ ăn. Ở đời, việc nên làm thì làm, chứ đừng so đo cân nhắc nhiều quá!

Ông già bị sư cụ kéo đi, đành cũng phải theo người. Khi họ ra tới cửa thì tiếng gõ cũng vừa tắt. Sư cụ mở cửa ra, trời đã tối hẳn. Dưới ánh sáng lờ mờ của mấy vì sao lấp lánh rọi xuống, sư cụ thấy một người đang nằm gục trên bậc cửa.

Ông già vội đến trước hỏi:

- Giờ này, ông còn đến chùa làm gì?

- Tôi đi qua đây, không biết bị con gì cắn, xin cho tôi vào nghỉ nhờ một lát!
Nói xong, không đợi ông già đáp, người ấy tiến vào cửa, nhưng vừa khỏi cửa thì lại ngồi quỵ xuống. Ông già vội đỡ dậy, hỏi:

- Tại sao lại ngồi đây, mời ông vào chùa nghỉ.

- Bắp chân tôi đau quá, không đi được nữa!

- Tôi đỡ ông vào vậy!Ông già nói.

- Để tôi bế ông ấy vào!

Vừa nói, sư cụ Vân Không vừa gạt ông già ra, rồi đỡ người ấy dậy và cõng vào chùa.

Sư cụ nhìn chỗ người ấy bị cắn một lát, rồi nói vội:

- Chết chửa!Bị rắn độc cắn, vết thương tuy nhỏ song nọc rắn độc lắm. Ở đây, giờ không tìm được thuốc, làm thế nào?

Dứt lời, sư cụ cúi ngay xuống, rồi để mồm vào chỗ bị rắn cắn và dùng hết sức để nún; cứ nún đến đâu lại nhổ ra đến đấy; một lúc lâu mới đứng dậy đi vào phòng lấy ra một gói thuốc bột rắc vào chỗ vết thương.

- Xin đừng động đậy!Ông bị cắn lâu chưa?

- Cách đây độ một tiếng đồng hồ.

- Lâu quá như thế thì phương thuốc này vẫn chưa đủ. Không những chỉ rắc thuốc ở ngoài mà còn phải uống thuốc nữa mới được, nhưng trong đãy của tôi lại không có thứ thuốc ấy!

Nói xong, sư cụ Vân Không quay sang hỏi ông già:

- Có tiệm thuốc nào gần đây không?

- Mãi trên khu chợ mới có, cách đây ba cây số. Ông già đáp.

- Tiệm thuốc e rằng cũng không có thứ thuốc ấy. Sư cụ nói. Vả lại, đường xa thế, đi về sợ lâu quá!Phàm chỗ nào có rắn thì đều có thứ lá trị rắn độc, nhưng cần phải đi tìm mới được!

- Nhưng ai biết thứ lá đó? Ông già hỏi.

- Tôi biết. Sư cụ đáp.

Người bị rắn cắn đang nằm phục trên chiếc chiếu, cố ngẩng lên quay sang nói với sư cụ:

- Xin sư cụ cứu tôi!Ơn ấy, tôi xin ghi lòng tạc dạ.

- Ông cứ yên tâm, tôi sẽ đi tìm thuốc cho ông!

- Xin sư cụ cho biết quý danh.

- Tôi là Vân Không.

- Tôi muốn biết tên tục của sư cụ.

Sư cụ cười và đi ra cửa:

- Tôi họ Trần, ở cùng xóm với ông.

Rồi sư cụ ngoảnh lại nói với ông già:

- Bên ngoài tối quá, xin lão cho tôi một bó đuốc!

Ông già đi xuống bếp, một lát sau đưa lên một bó thanh nứa đã đốt sẵn, trao cho sư cụ rồi đưa sư cụ ra ngoài cửa, đoạn trở vào Phật điện nói chuyện với ông khách lạ.
- Xin ông cho biết quý danh.

- Tôi là Đoàn Quốc Hùng.

- Hiện giờ, ông thấy trong người thế nào, có bớt đau không?

- Đau thì không đau lắm, chỉ buôn buốt, nhưng giờ đã đỡ nhiều rồi.

- Nếu không đau mà thấy buốt thì đúng là rắn độc cắn. Sư cụ Vân Không coi bộ thạo về môn này lắm!Thế là ông đã gặp được vị cứu tinh, nhưng mong sao Ngài tìm ra thuốc mới được.

Đoàn Quốc Hùng nói:

- Thưa lão, tôi đang băn khoăn suy nghĩ để biết xem sư cụ Vân Không đây trước khi xuất gia là người thế nào.

- Tôi cũng như ông, chẳng hiểu gì cả!Nhưng điều đó có gì quan hệ? Ông già lấy làm lạ, hỏi. Công việc trọng yếu của ông hiện giờ là phải điều trị nọc độc. Ông với sư cụ tình cờ gặp nhau như cánh bèo trên mặt nước. Sư cụ chữa khỏi vết thương cho ông rồi ngày mai lại trôi giạt mỗi người mỗi phương. Nếu ông muốn đền đáp ơn người thì cứ ghi nhớ tên người là Vân Không để sau này tìm cách báo đền. Còn như trước khi xuất gia, người làm gì hoặc tên tuổi của người là gì thì thiết tưởng điều đó ông không nên băn khoăn. Hay ông hoài nghi trước kia người không là thầy thuốc nên sẽ không dám uống thuốc của người? 

- Đây không phải là vấn đề thuốc thang, tôi còn mang nặng một tâm tư khác. Tôi và vị sư ấy không phải tình cờ gặp nhau. Tuy đã nhiều năm không thấy nhau, hai chúng tôi đều đã già. Vả lại, người mặc tấm áo nâu và râu ria bờm sờm che kín mặt, song tôi vẫn hơi nhận ra người, nhất là khi sư cụ cho tôi biết sư cụ họ Trần và theo lối nói thì hình như sư cụ cũng đã nhận ra tôi. Đúng sư cụ là Trần Phán!Giữa tôi và sư cụ có một mối oan cừu mà mười năm qua không lúc nào tôi ăn ngon ngủ yên.

- Thế việc đó ra sao? Ông già hỏi.

- Sư cụ và tôi là người cùng xóm. Trần Quốc Hùng hạ giọng nói. Lúc còn trẻ, ông ở sát cạnh nhà tôi. Ông làm nghề đi bán các trò chơi. Ông nuôi nào khỉ, nào chuột, nào rắn và luyện tập chúng biểu diễn các trò. Nhất là rắn, lớn bé hơn mươi con, cứ thay đổi luôn luôn. Do đó, người trong làng mới đặt cho ông tên là Trần Xà Nhân. Trần Xà Nhân chỉ có một người con gái còn nhỏ tuổi, thường theo cha đi biểu diễn các trò. Bấy giờ, tôi rất ghét ông ta ở cạnh nhà tôi, vì những con vật ông ta nuôi, sau khi luyện tập thành thục, ông ta cứ thả ra. Có lúc những con khỉ chạy sang vườn phá phách hoa quả của tôi, còn rắn thì lúc nào cũng nằm cuộn tròn trên cành cây trước nhà ông ta, những cành cây vươn ra sát đầu tường hoa nhà tôi. Tuy rắn không bò qua tường bao giờ, nhưng ở bên nhà tôi trông rất rõ và rất đáng sợ. Tôi đã từng cảnh cáo ông ta và cũng có khi ông ta bồi thường thiệt hại về hoa quả cho tôi, nhưng nghề nghiệp của ông ta bắt buộc phải làm bạn với khỉ và rắn, rốt cuộc là tôi không thể chịu đựng được nữa. Cuối cùng, tôi bảo ông ta phải dọn nhà đi nơi khác. Nhưng ông ta nói là nhà của ông bà để lại nên không dám bán, mà đi nơi khác mua cũng không dễ dàng gì!Bảo ông ta dọn nhà không có kết quả, tôi bèn thuê người đến sinh sự phá phách. Nhưng ông ta rất giỏi võ, những người tôi thuê đều bị ông ta đánh bại và bị thương. Tôi liền đi thưa quan huyện để vu khống ông ta là cố ý đả thương. Tôi là người giàu có và thuộc giòng dõi quý tộc rất có thế lực, nên quan huyện cũng nể và sai người về bắt Trần Xà Nhân giải lên huyện và bị tống giam. Còn mỗi đứa con gái ở nhà không đi biểu diễn được và cũng không đủ sức trông nom những con vật, nên sau khi ông ta bị bắt mấy hôm thì khỉ, rắn và chuột đều bỏ đi. Đứa con gái vào nhà giam báo cho ông ta biết. Ông ta đành phải chịu dọn đi nơi khác. Khi về tới nhà, thấy súc vật đã đi hết và đứa con gái tiều tụy sau hai tháng trời sống lây lất, Trần Xà Nhân liền bỏ nhà dẫn con ra đi. Sau khi ông ta đi khỏi, tôi liền sang chiếm cứ nhà ông ta. Phía sau, tôi cho người làm ở; còn phía trước thì làm chuồng trâu và chuồng ngựa. Như thế, qua nửa năm, bỗng một hôm, Trần Xà Nhân đưa con về. Ông ta thấy nhà mình hoàn toàn đổi khác, trong nhà đầy người ở. Sau khi biết tôi đã chiếm cứ, ông ta liền sang kêu van tôi trả lại nhà cho ông ta. Tôi không trả lời và bảo ông ta cứ đi thưa quan huyện. Ông ta đứng ngoài kêu nài mãi, nhưng tôi vẫn tảng lờ như không nghe thấy. Đột nhiên, ông ta trợn mắt nhìn tôi một cách dữ tợn và lẩm bẩm nói: “ Món nợ này sau sẽ thanh toán !”. Dứt lời, ông ta nhảy một cái qua tường hoa để về nhà bên kia. Tôi kinh ngạc, chạy vội ra cổng xem thì thấy Trần Xà Nhân đang ung dung dắt con đi. Từ đó, ông ta không trở về nữa. Cũng từ đấy, lòng tôi bắt đầu thấy sợ hãi không yên, nhất là ánh mắt dữ tợn của ông ta nhìn tôi trước khi ra đi đã để lại một ấn tượng sâu đậm trong lòng tôi. Bất cứ lúc nào tôi cũng thấy ánh mắt trừng trừng nhìn tôi và câu nói của ông ta trước khi ra đi lúc nào cũng văng vẳng bên tai tôi, nhất là trong đêm tối hoặc trong mộng mị, tôi vẫn cứ nghe câu nói ấy, giọng nặng nề và rùng rợn. Có khi tôi thấy trong góc nhà và bốn chung quanh tường, những ánh mắt đang nhìn tôi. Đó là ánh mắt của Trần Xà Nhân nhìn tôi lúc ra đi, nhưng lúc này còn dữ tợn hơn nữa.

Tôi sợ hãi như thế nên không lúc nào dám ngồi một mình trong nhà, cũng không dám lên giường ngủ. Tôi cần nhiều người đứng xung quanh và bắt họ la thét vang lên để trấn áp những lời chú thuật và che ánh mắt dữ tợn của Trần Xà Nhân. Tôi lại sợ Trần Xà Nhân nhảy qua tường hoa như hôm nào, nên sai người xây cao thêm lên. Song vô ích, vì từ khi Trần Phán đi rồi thì không ai còn thấy tung tích hay hình bóng ông ta đâu nữa!Ông ta không trở về để nhảy qua tường hoặc dùng bất cứ một phương pháp nào khác để vào nhà tôi. Chỉ có ánh mắt và lời nguyền rủa của ông ta luôn luôn theo sát tôi khiến tôi không có chỗ trốn tránh. Bản tính tôi vốn sợ rắn. Khi Trần Xà Nhân đi rồi, tôi cứ nghĩ đến rắn là lòng lại run lên. Nếu thấy con rắn nào thì tôi lại tưởng đó là rắn của Trần Xà Nhân nuôi và sai về để cắn tôi. Bởi thế, ngoài sự tưởng tượng đến ánh mắt và lời nguyền rủa của Trần Xà Nhân, tôi còn tưởng tượng cả rắn; đến nỗi thấy một vật gì dài, nhỏ và uốn khúc hoặc một cái bóng ngoằn ngoèo, tôi đều sợ hãi. Vì khổ sở như thế, nên tôi chỉ thích đến những nơi huyên náo đông người, thậm chí cả nơi cờ bạc để mong những tiếng ồn ào ấy sẽ đàn áp sự sợ sệt của tôi. Nhưng khi tan canh ra về thì lại ghê rợn vô cùng, tôi sợ gặp Trần Xà Nhân giữa đường hoặc gặp rắn của ông ta sai phục sẵn bên đường để chờ tôi. Bởi thế, bao nhiêu người đi theo hộ vệ tôi và la thét ầm ỉ. Vì thế, tôi đã đam mê cờ bạc, gia cảnh cũng dần dần suy sụp, thanh danh giảm bớt. Người ta không còn kêu tôi là “ thân sĩ ” hoặc “ trí thức ” mà họ gọi tôi là “ đồ cờ bạc ”. Sức khỏe mỗi ngày một kém, kết quả là mọi người đều cho tôi đã mắc chứng “ bệnh tinh thần ”.

Để giải trừ nỗi oan cừu ấy, tôi đã đăng lời rao trên các báo chí tìm Trần Phán, nói rõ là xin bồi thường tất cả những sự tổn thất. Nhưng từ bấy đến nay, vẫn không một hồi âm. Vô pháp khả thi, tôi chỉ còn cách ra đi tìm kiếm, mong được gặp ông ta để tạ tội và xin bồi thường thiệt hại. Tôi tưởng rằng ông ta vẫn làm nghề cũ, nên không một đám biểu diễn trò chơi nào mà tôi không vào xem, nhưng tuyệt không thấy Trần Xà Nhân hay con gái ông ta trong đó. Trên đường tìm kiếm, hôm nay đến nơi hoang vắng quạnh quẽ này, không ngờ tôi lại bị rắn cắn!

Vị sư cụ vừa chữa vết thương cho tôi lúc nãy, thoạt nhìn đôi mắt, tôi đã nhận ra đó là cặp mắt của Trần Xà Nhân. Bởi thế, tôi mới hỏi tên tục của người, nhưng người chỉ cho tôi biết người họ Trần mà không nói tên. Song nghe đến họ Trần, tôi đã tin chắc đó là Trần Xà Nhân, nhất là người lại bảo ở cùng xóm với tôi. Vậy không phải “ ông ta ” thì còn là ai? Tôi cứ suy nghĩ mãi tự nãy đến giờ là nếu              “ ông ta ” nhận ra tôi thì tại sao “ ông ta ” lại chữa cho tôi? Tôi đang băn khoăn tự hỏi khi         “ ông ta ” đưa thuốc về thì tôi có nên uống hay không?

Nghe xong, ông già nói:

- Sư cụ này cũng mới vào đây xin tá túc trước khi ông đến chừng mấy phút thôi. Bởi thế, tôi cũng không hiểu biết gì về sư cụ hơn ông mấy!Nhưng nếu người tìm được thuốc thang về, làm sao ông có thể từ chối không uống? Không uống, tất không có hy vọng trừ hết nọc rắn độc. Theo tôi, khi sư cụ để mồm vào vết thương hút nọc độc ra chắc không phải có ý giả dối đâu!Trên đời này, không có ai đối với kẻ thù của mình bằng cử chỉ ấy. Còn họ Trần thì rất phổ thông, chắc trong số bạn bè của ông cũng có nhiều người mang họ Trần. Ông hãy cứ tưởng tượng sư cụ là một người họ Trần khác đi, chứ nhất định không phải Trần Xà Nhân. Ông cũng coi như là người không nhận ra ông. Nếu thật người đã nhận ra ông là kẻ oan gia đối đầu với người, chắc người đã khoanh tay đứng nhìn, chứ đâu lại khổ công lo chữa cho ông? Người đã chịu cực hút nọc rắn độc để cứu ông thì người đâu còn dùng thuốc độc để hại ông nữa!

Đoàn Quốc Hùng nghe ông già nói xong, gật gật đầu, nhưng vẫn cứ phân vân. Đúng lúc ấy, có tiếng gõ cửa bên ngoài, ông già liền đi ra mở cửa. Sư cụ Vân Không, một tay xách bó cỏ, tay kia cầm cây đuốc đã cháy gần hết, đang đứng trên bậc cửa. Ông già vội đỡ lấy bó cỏ từ tay sư cụ, rồi hai người cùng tiến vào Phật điện. Đoàn Quốc Hùng thấy sư cụ đã vào, cố gượng ngồi dậy, nhưng sư cụ cản lại:

- Ông đừng cử động!Người bị rắn cắn càng nằm yên càng tốt. Ông bị cắn lâu mới chữa, tuy tôi đã hút máu ra, song sợ chưa hút hết được nọc độc. Bởi thế, ông cần phải uống thuốc trong và rịt thuốc ngoài. Thuốc ngoài tôi đã rịt rồi, bây giờ tôi sắc cho ông uống!

Đoàn Quốc Hùng lại nằm xuống và duỗi thẳng hai chân ra. Sư cụ Vân Không đi vào phòng, cầm chiếc thuyền trượng ra, rồi để bên người; sau đó lấy một phần bó cỏ thuốc và rải ra mặt đất trên nền chùa.

Ông già đến trước hỏi:

- Bạch cụ, cụ định giã lá thuốc?

- Vâng, phải giã thật nát mới rịt được!

- Cụ để tôi giã đỡ!

Ông già đến cầm lấy chiếc thuyền trượng đặt trên chốc chiếu, lúc đó mới biết chiếc thuyền trượng làm bằng sắt. Ông già nhấc một tay không nổi, liền dùng cả hai tay cũng vẫn không nhấc bổng lên được. Ông đành lắc đầu, lè lưỡi.

- Ông đi sắc thuốc đi!Sư cụ Vân Không nói. Còn việc giã thuốc để đấy tôi làm cho!

Ông già vâng theo, đứng dậy cầm lấy nửa bó cỏ rồi đi xuống bếp. Sư cụ Vân Không nhấc chiếc thuyền trượng lên và nện xuống sàn chùa. Tiếng kêu côm côm vang lên trong Phật điện, long cả tai. Đoàn Quốc Hùng nhắm nghiền mắt lại, vùi đầu xuống chiếu. Sau khi giã nát thuốc, sư cụ lấy tay cầm đắp vào vết thương trên ống chân Đoàn Quốc Hùng, rồi xé một miếng áo của mình để buộc vết thương lại. Đang buộc, bỗng nhiên sư cụ hỏi:

- Ông thấy đau nhức hay sao mà run thế?

Đoàn Quốc Hùng ngóc đầu dậy, nhìn sư cụ Vân Không như muốn nói, nhưng hễ mở miệng ra lại thôi, lâu lắm mới hơi thốt lên những lời líu nhíu:

- Bạch cụ, tôi cảm ơn cụ lắm!Song thật cụ có nhận ra tôi là ai không?

- Tôi nhận ra. Sư cụ vừa nói vừa cười. Ông là Đoàn Quốc Hùng.

Đoàn Quốc Hùng ngồi nhỏm dậy, tỏ vẻ kinh hoảng và bi thương nhìn Vân Không:

- Thế ra sư cụ là Xà nhân Trần Phán?

- Đó là tên họ ngày xưa. Sư cụ mỉm cười.

- Bạch cụ. Đoàn Quốc Hùng lại nằm xuống và nước mắt trào ra. Trước đây mười năm, sư cụ muốn thanh toán tôi. Tôi còn nhớ mãi câu nói ấy!Bất cứ ở đâu và giờ phút nào, tôi cũng phảng phất như thấy ánh mắt sư cụ nhìn tôi trước khi bỏ đi. Đã mười năm qua, ánh mắt ấy cứ theo tôi như bóng với hình. Không một thời khắc nào mà tôi thấy lòng được bình yên và thanh thản!Lúc nào tôi cũng sống trong hồi hộp và lo sợ. Tôi muốn sám hối tội ác tôi đã gây nên nhưng chưa gặp cơ hội, ngày đêm tôi mong sư cụ về để trả thù tôi nhưng vẫn bặt tin. Tôi. Tôi đã đăng tin trên các báo chí để tìm sư cụ, nói rõ là tôi đã ăn năn và đau đớn. Song không được hồi âm của sư cụ, cuối cùng tôi đành bỏ nhà ra đi tìm sư cụ. Dù có bị sư cụ thanh toán, tôi cũng đỡ khổ. Hôm nay, ta gặp nhau ở đây, chính là dịp để sư cụ trả cho xong mối oan cừu năm xưa. Nhưng trái lại, sư cụ vẫn cứu tôi. Tôi cứ tưởng sư cụ đã quên tất!Đã biết tôi là Đoàn Quốc Hùng, tại sao sư cụ lại nhọc công cứu tôi? Thật tôi không hiểu dụng ý của sư cụ, hay chữa khỏi rồi mới trả thù?

- Món nợ ấy, tôi không còn tính nữa!Vân Không bình tĩnh nói. Lúc ông vừa vào cửa chùa, tôi đã nhận ra ông. Nếu tôi còn nghĩ đến thù oán, tôi cứ đứng khoanh tay nhìn ông đau đớn đến chết, chứ vạ gì tôi phải chịu bẩn thỉu để cứu ông? Giờ đây, tôi là Vân Không hòa thượng, chứ không phải Trần Xà Nhân. Xin ông cứ tin như thế!

Đúng lúc ấy, ông già từ dưới bếp đang bưng lên một tô thuốc vừa sắc xong. Ông từ từ tiến vào Phật điện, trao bát thuốc cho Đoàn Quốc Hùng. Hùng đỡ lấy để xuống chiếu, chờ cho thuốc nguội bớt. Một lúc sau, Hùng bưng bát thuốc lên uống một hơi, đoạn lại nằm xuống.

Sư cụ Vân Không nói:

- Lát nữa, nọc độc trong người ông sẽ tiêu hết!Ông đi tìm tôi và đã gặp tôi ở đây, song người hiện đang ngồi trước mặt ông là Vân Không hòa thượng chứ không phải Trần Xà Nhân. Ngày mai, ông cứ yên tâm trở về, đừng đi lang thang nữa!

- Bạch cụ, như vậy là cụ đã tha thứ cho tôi?

- Còn hơn cả tha thứ nữa!Sư cụ Vân Không nói. Lòng tôi đối với tội ác không còn sầu hận, chỉ có thương xót mà thôi!

- Việc này phải nhìn theo hai khía cạnh để giải quyết. Giọng Trần Quốc Hùng bi thảm. Tâm sư cụ tuy không còn cừu hận, song lòng tôi vẫn ăn năn sợ hãi. Mười năm qua, tôi đã luôn luôn sống trong tâm trạng ấy. Nhiều khi tôi có một hy vọng kỳ quặc là hy vọng sư cụ về để thanh toán tôi cho hết mối cừu hận, cho lòng tôi được yên ổn. Nhưng tôi vẫn không thấy hình bóng của sư cụ xuất hiện. Bởi thế, tôi mới quyết định đi tìm sư cụ và sẵn sàng bồi thường thiệt hại cho sư cụ cả về vật chất lẫn tinh thần. Xin sư cụ về Thượng Hải với tôi có được không?

- Về Thượng Hải làm gì? Vân Không ngạc nhiên hỏi.

- Trước khi ra đi, tôi đã sắp sẵn một số tiền để bồi thường cho sư cụ. Nhưng vì đường xa, đi một mình nên tôi không dám mang theo, tôi phải gửi số tiền ấy ở ngân hàng tại Thượng Hải. Sư cụ đòi bao nhiêu, tôi xin trả bấy nhiêu! Nhưng sư cụ không ở đâu nhất định, ngày mai chia tay rồi sẽ khó gặp lại sư cụ. Bởi thế, tôi muốn mời sư cụ về Thượng Hải để tôi trả cho xong món nợ đó!

- Ý ông muốn trả tiền tôi? Tôi lấy tiền làm gì? Tôi không cần tiền.

- Tôi cũng biết món nợ đó không phải hoàn toàn trả bằng tiền mà xong, nhưng vẫn còn nợ tinh thần nữa. Chẳng hạn tôi đã vu khống sư cụ đến nỗi sư cụ phải bị tù đày một cách oan uổng trong hai tháng trời.

- Ô, điều đó đối với tôi có một tác dụng luyện tập!Tôi không cho đó là “tai vạ tù đày”.

- Không những thế, sau khi sư cụ bị giam cầm, những rắn, khỉ và chuột của sư cụ đã bỏ đi hết!

- Khỉ, rắn và chuột đều bị tôi bắt buộc đi theo biểu diễn, chứ tự chúng không muốn. Khỉ luôn luôn nhớ rừng, rắn muốn trở về bụi rậm và chuột mong được về hang tổ của chúng. Sau khi tôi bị giam, chúng đều được tự do và giải thoát. Như thế càng tốt chứ sao?

- Còn con gái của sư cụ?

- Nó đã lập gia đình cách đây năm năm, nghe nói đời sống cũng dễ chịu.

- Vì tôi ức hiếp mà sư cụ đi tu?

- Điều đó chính tôi phải cảm ơn ông!Sư cụ vừa cười vừa nói. Tôi bây giờ cũng tự do và giải thoát như những khỉ, rắn và chuột của tôi vậy!

- Còn nhà của sư cụ mà tôi đã chiếm đoạt để làm chuồng trâu, chuồng ngựa?

- Nhà cửa đều là không. Giả sử ông trả nhà lại hay bồi thường cho tôi thì đó chỉ là lụy cho tôi.

- Vậy thì biết làm thế nào? Giọng Đoàn Quốc Hùng khổ sở. Một người mang nợ muốn trả cho hết nợ mà chủ nợ lại không nhận mình là chủ nợ, lại còn phủ nhận cả nửa cuộc đời trước của mình. Tâm sư cụ lâng lâng và thanh thoát, nhưng lòng tôi thì một cái “ nút ” trói buộc suốt đời tôi.

- Nút gì? Trói buộc ở chỗ nào? Sư cụ hỏi

- Tội nghiệt là “ nút ” trói buộc tâm tôi!

- Ông đưa cái “ nút ” và cái “ tâm ” bị trói buộc ra đây cho tôi xem để tôi cởi trói cho ông.

- Tội nghiệt và tâm đều không phải thực chất, làm thế nào tôi có thể nắm lấy mà đưa ra được?

- Như thế là hết trói buộc rồi!Sư cụ Vân Không phá lên cười.

- Bạch cụ, cụ cho là hết trói buộc, chứ tôi vẫn thấy còn bị buộc.

- Tôi cũng biết thế!Sư cụ nói. Xin hỏi ông ngoài việc đó ra, ông còn thắc mắc điều gì không?

- Dĩ nhiên là còn và còn nhiều hơn nữa!
- Nếu bình sinh ông gây tội nghiệt cho tôi và coi đó là một món “ nợ tinh thần ”, một cái “ nút ”, ông tìm đến chủ nợ để thanh toán. Như thế là hết nợ rồi!Giả sử ông mắc nhiều nợ tinh thần mà chủ nợ không phải chỉ có một người, trường hợp đó thì ông tính sao?

- Tôi sẽ lần lượt trả hết, nhưng phải tìm đến người chủ nợ thứ nhất cho xong đã.

- Ông tìm được tôi rồi, nhưng con người tôi đã đổi khác!Từ Trần Phán đổi thành Vân Không, cho đến cái tâm cũng đổi khác. Nhưng hãy cứ tưởng tượng rằng ông đi tìm mà không gặp chủ nợ thì ông làm thế nào? Sư cụ hỏi. Nói thí dụ: Chủ nợ đã chết?

- Tôi tìm con cái của người ấy.

- Nếu họ không có con thì ông tìm ai? Thí dụ ông mang nợ một con rắn mà con rắn đó đã chết, ông biết con rắn nào là con cái của nó để mà trả?

Đoàn Quốc Hùng khổ sở không biết nói sao!

- Ông nên biết!Sư cụ nói tiếp. Ông mang nợ oan nghiệt nhiều hay ít, xét đến ngọn nguồn thì đó đều là việc của ông. Chủ nợ không nhất định sẽ đến đòi ông, mà cũng không cần chủ nợ phải đến đòi, chỉ cái “ nợ ” ấy trói buộc ông thôi!Song cái nợ đó vốn không có thực chất, đúng như lúc nãy ông nói “ tội nghiệt ” trói buộc cái tâm của ông không phải là một vật có thực chất, mà cái “ tâm ” bị trói buộc cũng không phải cái cục thịt trong người ông. Ông không thể nắm bắt được!Trong khi ông thấy rõ như thế thì cũng như ông vừa tỉnh mộng, nợ cũng không còn là nợ nữa!

- Những lời đó cao siêu mầu nhiệm quá, tôi không hiểu nổi!Xin sư cụ giảng giải tường tận một chút nữa.

Sư cụ Vân Không cầm một sợi dây buộc bó cỏ thuốc lúc nãy, thắt lại thành cái nút, rồi giơ ra trước, hỏi Quốc Hùng:
- Đây là cái gì?

- Cái nút

- Nút là cái gì?

- Nút là nút chứ còn là cái gì bây giờ? Quốc Hùng cười.

- Ngoài sợi dây ra, còn có cái “ nút ” tồn tại không?

- Ngoài dây thì dĩ nhiên không có “ nút ” tồn tại riêng biệt.
- Như vậy nút là cái gì? Vân Không hỏi dồn.

Đoàn Quốc Hùng chịu không đáp được. Sau đó, Vân Không chỉ vào cái nút, nói:

- Nút là do nhiều vòng dây thắt lại mà thành, nhưng những vòng dây không có thực thể, chỉ là giả tướng mà thôi!Nhiều vòng dây tập hợp lại mà thành nút, lúc chưa thành thì không có nút và khi cởi ra rồi thì nút cũng không còn. Sư cụ vừa nói vừa cởi cái nút ra.

- Hiện giờ còn nút không?

Đoàn Quốc Hùng lắc đầu nói:

- Sư cụ nhìn sự vật như mộng ảo. Nếu tất cả đều là giả tướng thì còn có gì gọi là nhân quả? Sư cụ định tạm dùng những lời huyền diệu ấy để mở rộng lòng cho kẻ tội ác này chăng?

- Trong cái rỗng không, có gì ngăn lại nhân quả? Vân Không đáp. Chẳng hạn cái nút này do nhiều vòng dây thắt lại mà thành, nhưng vòng dây không có tự tính, cho nên nút cũng không có tự tính. Bây giờ, cởi nút ra làm cho vòng dây thẳng lại thì cái thẳng đó cũng không có tự tính. Nói đến rốt ráo thì chính sợi dây này cũng không thật có, dây là do các thứ cỏ bện thành. Khi cỏ chưa sinh thì không có cỏ và dĩ nhiên cũng không có dây, lúc cỏ chưa được bện lại thì cũng không thành dây, nếu đem đốt dây đi thì cuối cùng còn gì? Song ông tưởng trong cái rỗng không ấy không có nhân quả? Nếu tôi đem sợi dây không có thực thể thắt chặt vào cổ hư giả của ông, ông sẽ thấy đau đớn khó chịu. Nhưng sự đau đớn ấy cũng chỉ là ảo giác, cũng như dây và cổ đều không có tự tính. Vậy cứ gì trong cái chân thật mới có nhân quả?

- Tuy sư cụ chỉ dạy cho như thế, nhưng tôi vẫn không thể lĩnh hội được, biết làm thế nào? Giọng Quốc Hùng bi ai.

- Tôi không trông mong ông lĩnh hội một cách triệt để. Đối với người còn trong mộng, không có cách nào làm cho họ hiểu được cảnh giới lúc thức; trong cảnh mộng tuy giả dối không thực nhưng không có gì ngăn trở người ta làm ác, chịu báo, sám hối hoặc làm thiện; nhưng khi người ta tỉnh dậy thì mới biết tất cả việc làm lúc trước đều là chiêm bao; đã thoát ly được cảnh mộng, trở về cảnh giác thì hết thảy đều rỗng rang và thanh tịnh; lúc đó thì thiện còn chẳng làm, huống chi là ác!

Nghe đến đây, Đoàn Quốc Hùng phủ phục xuống lạy sư cụ. Ông già đứng bên cạnh, coi bộ cũng hiểu được phần nào. Đoàn Quốc Hùng nói với sư cụ Vân Không:

- Tôi không muốn trở về nữa, xin cho tôi theo sư cụ xuất gia.

- Nếu trong lòng ông thật đã giác ngộ thì hà tất cứ phải xuất gia như tôi!Bỏ mộng, trở về giác đều có nhân duyên. Không nên câu chấp hình thức!

Dứt lời, sư cụ Vân Không trở vào phòng riêng. Đoàn Quốc Hùng không dám theo vào, nằm trên chiếc chiếu và trằn trọc mãi quá nửa đêm cũng không thể ngủ được. Đến khi nghe tiếng gà gáy, trời đã sắp sáng, Hùng mới đứng dậy đi vào phòng định bày tỏ thêm nỗi lòng mình với sư cụ, nhưng khi tới nơi thì thấy căn phòng vắng lạnh. Vân Không hòa thượng đã bỏ đi tự lúc nào mà không ai biết!


 

Tuyết Lan 

 

Một ngày mùa đông năm Dân quốc thứ 25, trên tòa giảng trong chùa Cổ Lâm tại Nam Kinh, Hòa thượng Tuệ Học đang giảng kinh “Bát Đại Nhân Giác”. Ngôi giảng đường chìm ngập trong bầu không khí yên lặng hoàn toàn. Người ta chỉ còn nghe thấy pháp âm của vị Hòa thượng như một tiếng hồng chung ngân nga, tràn lan rồi vang dội vào lòng thính chúng.

Sau khi tan buổi giảng, mọi người chen lấn nhau để vào lễ tạ Hòa thượng. Tuyết Lan nghĩ thầm: “Vạ gì mà phải chen lấn thế kia cho khổ thân, hãy vào thư viện đọc sách một lát, chờ cho họ về hết thì mình vào lễ tạ Hòa thượng cũng được ”. Bởi thế, nàng tiến vào thư viện. Tòa thư viện được xây hai tầng: Tầng trên tàng trữ ba Tạng kinh điển và chỉ dành riêng cho các sư, còn tầng dưới bày đủ các loại sách dành cho công chúng vào xem.

Tuyết Lan vô ý đẩy cửa đánh rầm một cái, làm cho Đức đang vùi đầu vào quyển sách ở bàn bên kia phải giật mình. Chàng ngẩng lên nhìn nàng, Tuyết Lan cảm thấy hơi thẹn vì cử chỉ thô bạo của mình nên cặp má nàng ửng hồng. Nàng khẽ cúi đầu bẽn lẽn, nói câu “xin lỗi “rồi lướt qua mặt Đức, đến ngồi ở một chiếc bàn gần đấy. Nhưng lòng nàng cứ rạo rực, hình ảnh của Đức đang ngồi ở bàn bên kia cứ quay cuồng trong đầu óc nàng, nên tuy đọc sách, song tâm nàng lại nghĩ vẩn vơ và tự hỏi: “Lạ thật! Sao từ trước đến giờ, mình không thấy anh ta? Hay lần này anh ta mới đến lần một?”.

Rồi thỉnh thoảng nàng lại liếc trộm Đức. Diện mạo của Đức khôi ngô tuấn tú, cặp lông mày đen và dài, vầng trán cao rộng và chiếc mũi thẳng tỏ ra là một thanh niên thông minh, trầm mặc và ít nói. Tuyết Lan thấy ngồi đọc sách không yên.

Mọi người lũ lượt kéo nhau ra về. Tuyết Lan thấy có thể vào bái kiến Hòa thượng được rồi, nên nàng lại lướt qua mặt Đức và mở cửa bước ra. Song Đức vẫn cứ cặm cụi đọc sách, chàng đọc như say mê và không hề để ý đến Tuyết Lan khi nàng đi qua.

Lúc đến trước Hòa thượng, Tuyết Lan vái ba vái, Hòa thượng vừa vẫy tay vừa mỉm cười nói:

- Thế nào, con nghe có hiểu không?

Tuyết Lan đứng bên cạnh, nhìn Hòa thượng và đáp:

- Bạch Hòa thượng, Hòa thượng giảng dễ hiểu lắm. Theo con, tất cả mọi người đều nên đọc tụng kinh “Bát Đại Nhân Giác”.

Tuyết Lan vừa dứt lời, lúc đó Đức bỗng đi vào. Chàng cung kính vái Hòa thượng rồi đứng sang một bên. Thấy hai người có vẻ lúng túng, Hòa thượng tươi cười nói:

- Ơ kìa! Các con không quen nhau à?

Thế rồi Hòa thượng giới thiệu họ với nhau:

- Đây là Tuyết Lan, vừa thi vào Đại học Trung ương. Còn đây là Chu Đức, sinh viên năm thứ ba Đại học Trung ương. Các con sẽ cùng học một trường. Từ nay, các con hãy coi nhau như anh em, phải giúp đỡ và khích lệ nhau cả về phương diện học vấn lẫn đạo đức.

Hòa thượng nói xong, Chu Đức hơi cúi đầu chào Tuyết Lan. Cặp mắt sáng quắc của chàng làm cho Tuyết Lan ngây ngất. Nàng khẽ hỏi Hòa thượng Tuệ Học:

- Bạch Hòa thượng, anh ấy quy y đã lâu chưa ạ?

- Lâu rồi, chừng mười năm nay. Sức học Phật pháp của anh ấy khá lắm, lòng tin cũng vững chắc và lại chịu khó tu niệm. Người rất có chí.

Tuyết Lan nhìn Chu Đức, nói:

- Sau này, xin anh chỉ dẫn cho em.

- Không dám! Không dám!

Trước mặt con gái, xưa nay Đức vốn nói năng vụng về, cho nên hiện giờ đứng trước Tuyết Lan, người thiếu nữ vừa mỹ lệ vừa hoạt bát, chàng lại càng cảm thấy bối rối, cứ lúng túng như thợ vụng mất kim, chỉ biết khiêm tốn vâng vâng dạ dạ và gật đầu lia lịa. Hòa thượng Tuệ Học bảo họ ở lại dùng cơm trưa. Mãi xế chiều, họ mới cáo biệt Hòa thượng ra về.

Từ đó, ngày nghỉ nào, họ cũng gặp nhau ở thư viện. Đôi khi có nhiều điểm về Phật học, Tuyết Lan không hiểu, lại đem hỏi Đức, mà Đức thì rất giỏi về Phật học. Chàng giảng thao thao bất tuyệt, hình như ngoài việc giảng về Phật học, chàng không biết nói chuyện gì khác. Cứ như thế, họ gần gũi nhau, nên dần dần họ đã hiểu nhau và cảm tình giữa họ càng tăng thêm. Mỗi ngày nghỉ học, họ cùng đến chùa thăm Hòa thượng, rồi dắt nhau vào thư viện. Sau khi đọc sách xong, họ lại cùng đưa nhau về.

Thời gian đi như bay, thấm thoắt đã hết đông sang xuân. Một hôm, Tuyết Lan hỏi thử Đức:

- Anh Đức ạ, có người nói mùa xuân là mùa đọc sách. Theo anh, câu nói ấy có đúng không?

- Rất đúng! Theo tôi, đời người quá ngắn ngủi. Không những chỉ đọc sách trong mùa xuân mà mùa nào cũng cần phải đọc cả!

Cái học của Đức đã ảnh hưởng sâu xa đến tính tình của chàng. Về phương diện ái tình, chàng rất vụng về. Thời gian qua, tuy chàng mến Tuyết Lan và chàng cũng biết Tuyết Lan thật mến chàng, song chàng cứ thản nhiên và vô tình như không biết gì cả! Có lẽ nào chàng không hiểu ý nghĩa thầm kín trong câu hỏi của Tuyết Lan? Thế nhưng, chàng vẫn trả lời một cách đứng đắn đàng hoàng.

- Thật anh chịu khó ghê! Anh muốn trở thành một vị lão tăng hay sao đấy? Em tưởng ngày nào chúng ta cũng cứ vùi đầu vào sách vở, không học bài nhà trường thì lại học Phật, toàn những thứ khô khan thế này thì đến mụ người đi mất! Em đề nghị tuần tới, chúng ta phải đi chơi một hôm. Anh có bằng lòng không nào?

Vừa hỏi, nàng vừa nhìn Đức với ánh mắt khẩn cầu.

- Tôi xin chìu lòng Tuyết Lan, nhưng chúng ta sẽ đi đâu?

- Lên núi Ngũ Đài. Tuyết Lan mỉm cười. Người ta bảo mùa xuân thì vùng ấy toàn là hoa, đi đến đâu cũng chỉ thấy hoa, đủ mầu sắc; hơn nữa trên núi còn có ngôi chùa rất cổ kính và trang nghiêm. Vậy chúng ta vừa đi xem cảnh vừa được lễ Phật.

- Thế thì chúng ta nhất định đi!

Đức không nói gì thêm, chàng lại bắt đầu nhìn vào quyển sách. Còn Tuyết Lan thì sung sướng và thầm mong chóng đến ngày nghỉ tuần tới như một đứa trẻ mong chóng đến Tết để được mặc áo mới.

Khi lên đến núi Ngũ Đài, họ vào chùa lễ Phật, rồi đi vòng ra phía sau chùa, tới một dòng suối nhỏ, nước trong vắt và chảy róc rách. Tuyết Lan hớn hở nói:

-Thôi, đừng đi nữa anh ạ! Hãy ngồi đây nghỉ chân một lúc!

Vừa nói, nàng vừa trải tấm dạ ra, rồi ngồi xuống. Nàng đưa mắt nhìn trời một lát và nói:

- Chỗ này đẹp quá, anh nhỉ? Trời mây thăm thẳm, non nước một mầu, phong cảnh thật nên thơ, thanh thoát đúng như thế giới Cực Lạc vậy!

- Thế giới Cực Lạc, đất toàn bằng vàng. Còn ở đây hiện giờ, tôi ngồi trên phiến đá và em ngồi trên tấm dạ. Khác xa lắm chứ!

Hai người cùng cười, nụ cười bí ẩn biểu lộ sự giao cảm giữa hai tâm hồn. Không hiểu tại sao ánh mắt của họ chạm nhau như một luồng điện và ánh mắt ấy khó che giấu được tâm tư thầm kín của họ! Họ đều cảm thấy một khích động khác lạ trong lòng. Tuyết Lan sung sướng, nhưng cảm giác sung sướng ấy tiêu tan ngay khi nàng nhận thấy trước mặt nàng chỉ là một thanh niên có thái độ uy nghiêm, đạo mạo và rất vụng về trước việc tán tỉnh. Một nụ cười đâu có thể diễn tả được hết tâm trạng của chàng! Gió xuân đưa đến cho người ta bao tình nồng đượm và gợi lên bao niềm mơ ước trong lòng người. Làm sao Đức có thể tránh khỏi những rạo rực và ham muốn của tuổi trẻ? Song chàng đủ năng lực kềm chế tình cảm và tự chủ lòng mình. Chàng không muốn dùng lời nói khéo để chinh phục lòng người. Nói chuyện với một thiếu nữ ngây thơ, thật thà và hiền hậu mà dùng những lời phù phiếm thì đó chỉ là tội ác. Bầu không khí yên lặng bao quanh họ. Một hồi lâu, Đức mới chậm rãi nói:

- Con đường đời chỗ nào cũng đầy chông gai và sỏi đá. Bởi thế, nhân loại mới khổ sở và bất an. Mục đích tin Phật của chúng ta là mong làm thế nào để biến cải thế giới đầy hầm hố hiểm nguy này thành một cảnh giới yên vui và phẳng lặng, trong đó con người không còn tham sân si, chém giết, giành giật và cướp bóc lẫn nhau.

- Vâng, đại nguyện của các bậc Bồ tát bao giờ cũng thế! Các Ngài cứu độ chúng sinh, hóa cõi đời nhơ nhớp thành một nơi trong sạch và vĩnh viễn xa lìa mọi phiền muộn.

- Tôi nguyện noi gương của các Ngài, học theo hạnh từ bi và trí tuệ của các Ngài.

- Anh đã học được cái phong độ uy nghiêm trang trọng của một vị lão Hòa thượng rồi! Chỉ cần tiến thêm một bước nữa là anh có thể trở thành gỗ đá.

Nghe xong, Đức hơi nhếch mép cười và khẽ nói:

- Đúng rồi! Em nói phải lắm! Tôi là một vị lão tăng ngây ngô như gỗ đá.
Một cảm giác buồn rầu dâng lên trong lòng Tuyết Lan. Tại sao Đức lại không hiểu câu so sánh đầy tình tứ và âu yếm của nàng? Có lẽ chàng không yêu nàng! Rồi nàng lại thấy Đức phóng tầm mắt ra xa và lẩm bẩm như nói một mình:

- Trong lúc tâm hồn chan hòa với thiên nhiên, một cảnh giới lâng lâng siêu thoát cũng phát hiện và đó mới là sự thụ hưởng vi diệu nhất của con người. Nhưng sự thụ hưởng ấy chỉ có thể tự mình cảm lãnh, chứ không thể dùng lời nói để miêu tả hoặc truyền cảm cho người khác.

Tuyết Lan vờ như không nghe thấy. Nàng cúi đầu yên lặng, đưa tay ngắt mấy ngọn cỏ bên cạnh tấm dạ. Một lát sau, nàng ngẩng đầu nhìn Đức, thấy chàng vẫn đăm chiêu vời vợi như đang thả hồn đến một thế giới cao siêu mầu nhiệm nào với dáng điệu vô cùng thanh thoát. Bất giác, nàng cảm thấy hổ thẹn vì đã có một ý nghĩ không được thanh cao lắm đối với một tâm hồn hoàn toàn trong trắng.

*****

Những trận mưa thu rả rích liên miên mấy ngày đêm không ngớt. Tuyết Lan đứng trong cửa sổ nhìn ra, phía ngoài trời vẫn mưa lất phất, thỉnh thoảng một trận gió lùa qua các cây, mấy chiếc lá vàng quay cuồng trong không khí rồi lả tả rơi xuống đất. Một người đàn ông cao lớn, mặc áo mưa, đang lù lù tiến đến và Tuyết Lan, như một cái máy, chạy vội ra mở cửa.

- Ô, anh Trung! Sao anh lại về vào giờ này? Vào mau, không ướt hết bây giờ! Trung cởi chiếc áo mưa, mắc ngoài cửa rồi đi vào phòng khách. Chàng hỏi vội:

- Má có nhà không?

- Không, đi khỏi rồi!

Thấy Trung về bất thần, Tuyết Lan tỏ vẻ lo ngại:

- Anh, sao anh lại về vào giờ này? Nàng nhắc lại câu hỏi lúc nãy.

- Tình hình càng ngày càng trầm trọng. Lư Câu Kiều đã thất thủ, Thượng Hải cũng rất nguy cấp vì quân Nhật đang tiến tới. Sinh viên trường anh có người xin đầu quân, có người về quê. Bởi thế, anh mới về thăm em, thăm sư phụ và các bạn hữu vì kỳ nghỉ hè vừa rồi anh đã không về.

Dứt lời, Trung cố nở một nụ cười gượng gạo. Trung là bạn chí thân của Tuyết Lan. Từ khi còn thơ ấu, họ đã nô đùa với nhau và luôn luôn gần gũi nhau, đồng thời lại cùng quy y Hòa thượng Tuệ Học, nên họ coi nhau như anh em. Trung vốn xấu trai, vóc người chàng cao lỏng khỏng, cặp mắt ti hí, chiếc mũi hếch, đôi môi dày và cái mồm rộng hoác. Tuy chàng yêu Tuyết Lan tha thiết, song tự biết mình xấu xí, nên không dám hé răng mở miệng để bày tỏ nỗi niềm. Hiện giờ, nụ cười gượng lại càng làm cho bộ mặt của chàng khó coi hơn!

- Thế có nghĩa là anh sẽ không trở về trường nữa?

- Có về cũng không thể yên tâm và cũng không đủ số để học, vì lớp của anh giải tán gần hết, cả giáo sư cũng có mấy vị nghỉ.

- Chao ôi! Sắp mạt kiếp rồi sao đây? Con người cứ chém giết nhau hoài.

Tuyết Lan than thở, rồi cả hai người đều ngồi yên lặng. Ngoài hiên, những giọt mưa rơi tí tách nhịp nhàng, trong lòng họ có bao ý nghĩ thầm kín muốn bộc lộ, nhưng họ không dám nói lên.

Qua mấy phút trầm mặc, Trung nói:

- Thế nào, mọi sự đều như ý cả chứ em? Em có năng lên thăm sư phụ không?

- Cảm ơn anh, em vẫn thường. Sư phụ nhắc đến anh luôn đấy!

- Ồ, hôm nay trời mưa lớn, chắc không đi được! Hơn một năm rồi, chùa Cổ Lâm chắc cũng có thêm nhiều giáo hữu. Mai chúng ta cùng lên thăm sư phụ, em nhé?

- Vâng, nhưng …

Tuyết Lan định nói lại thôi. Nàng muốn đem chuyện của nàng và Đức nói cho Trung nghe, nhưng lại không biết nên bắt đầu từ đâu. Bởi thế, nàng cúi gằm mặt xuống và hai bàn tay cứ mân mê tà áo.

Điều đó khiến Trung hoài nghi tâm sự của nàng, mới gần một năm không gặp mà Tuyết Lan đã thay đổi rồi! Tính ngây thơ của nàng trước kia giờ đã biến thành tính e lệ, chứa đựng một ý nghĩa khó hiểu. Mới mấy tháng trời mà trông Tuyết Lan lớn hẳn lên và cũng đẹp hơn trước. Chàng hạ giọng nói:

- Tuyết Lan, có điều gì em cứ nói. Chúng ta lớn khôn cả rồi và như là anh em, có gì đáng ngại?

Tuyết Lan bẽn lẽn, cặp má hồng hồng và đôi môi khẽ rung rung:

- Em nói, anh đừng cười em cơ!

- Không, anh không cười, nói đi!

- Em biết anh rất thương mến em nên xưa nay có điều gì buồn lòng, em đều nói với anh. Anh thường an ủi và khích lệ em, song hiện giờ em có một tâm sự thấy khó nói quá!

- Tâm sự gì thì cứ nói mau lên!

- Từ khi gặp chàng ở chùa Cổ Lâm, em đã đem lòng yêu chàng.

- Chàng là ai kia chứ? Nói rõ xem nào! Đừng ngại, anh có phải người xa lạ đâu!

- Chàng là Đức, chàng quy y đã lâu hơn chúng ta nhiều, chàng đang học năm thứ ba tại Đại học Trung ương. Chàng đứng đắn lắm, ít cười nói. Phật pháp đã đào tạo cho chàng một tính tình nghiêm khắc. Chàng chẳng hiểu gì về phương diện ái tình cả, rất dè dặt và thường nói yêu là nguồn gốc của mọi khổ não. Chàng đối với em thường tỏ vẻ thờ ơ. Do đó, em thấy buồn khổ. Giờ anh đã về, mong anh giúp em! Nếu sau này lập gia đình, em không lấy được chàng thanh niên ấy thì em quyết ở vậy, chứ nhất định sẽ không lấy ai!

Trung thất vọng, người mà chàng thầm yêu trộm nhớ mấy năm nay giờ đã yêu người khác. Chàng tự biết mình xấu xí nên bấy lâu vẫn không dám thổ lộ tâm tình. Những lời của Tuyết Lan vừa nói như một tiếng sét giáng vào đầu chàng, nhưng nhờ được bồi bổ theo tinh thần Phật giáo nên Trung nghĩ thầm: “Yêu cũng có nhiều thứ khác nhau: Có người yêu hoa lại ngắt hoa, người yêu chim đem nhốt chim trong lồng. Cũng có kẻ muốn hủy hoại vật mình yêu, nhưng tình yêu cao cả nhất là tình yêu không biên giới và không ích kỷ. Con người cao quý bởi nhân cách, đạo đức và tư tưởng. Tuy người mình yêu đã yêu người khác, song mình phải khoan thứ, rộng lượng, yêu tất cả, đã yêu Tuyết Lan thì phải yêu cả người tình của nàng ”.

Tuyết Lan đưa đôi mắt trong sáng nhìn chàng, chờ đợi và hy vọng. Trung suy nghĩ một lát rồi mạnh dạn nói:

- Được, anh sẽ cố gắng giúp em, làm cho em sung sướng. Nhưng em muốn anh giúp em bằng cách nào?

Tuyết Lan cảm ơn chàng, rồi bày phương pháp cho chàng. Nghe xong, Trung cương quyết gật đầu.

Từ đấy, Đức và Trung trở thành đôi bạn thâm giao, vì họ cùng một tín ngưỡng và cùng một tư tưởng nên họ rất chóng hiểu nhau. Họ và Tuyết Lan thường đến chùa Cổ Lâm tụng kinh, đọc sách, có lúc họ vào xin Hòa thượng chỉ dạy cho những điều họ không hiểu. Cứ như thế, họ sống qua những ngày tháng êm đềm và thích thú.

Một hôm, chỉ có Đức và Trung ngồi với nhau, không biết vô tình hay hữu ý, Trung bỗng hỏi Đức:

- Anh Đức này, tôi xem ý Tuyết Lan đối với anh tốt lắm. Hơn nữa, nó là người có nhân phẩm, có học thức. Sao anh không ngỏ lời đính ước với nó? Có lẽ anh cho là nó không xứng đáng?

Đức suy nghĩ một lát rồi thản nhiên đáp:

- Tuyết Lan là người thiếu nữ ngoan ngoãn ít có. Tôi rất mến nàng.

Trung phá lên cười và thôi thúc:

- Thế thì anh hãy bạo dạn lên một chút nữa. Tôi cứ tưởng anh có ý định xuất gia nên mới thờ ơ. Nếu đã vậy thì từ nay anh phải tỏ ra hoạt bát, linh động và nói những lời tình tứ thắm thiết với nó; chứ đừng nên có thái độ “bát phong xuy bất động “mãi như thế!

- Anh Trung, anh không hiểu nỗi khổ tâm của tôi. Theo tôi, tình bè bạn có thể tùy thời mình cho hay lấy lại được; chứ tình yêu thì không thế! Nói đến tình yêu tất phải có trách nhiệm. Vả lại, chúng ta là Phật tử, cần phải nhận chân rằng sự sinh tử là việc hệ trọng; ái tình ràng buộc con người và là nguyên nhân của khổ não; người có trí nếu chưa xa lìa hẳn được thì cũng phải dập tắt dần dần, chứ không nên đắm đuối quá!

- Anh nói đúng! Song Đức Phật cũng cho phép những đệ tử tại gia sống cuộc đời yêu đương chính đáng, chứ Ngài không bắt buộc ai cũng phải xuất gia diệt dục. Tôi xem Tuyết Lan thương yêu anh lắm, chỉ còn đợi anh thổ lộ tâm tư mà thôi. Có lẽ nào tim anh không biết rung cảm?

- Tôi rất thâm cảm tấm chân tình của Tuyết Lan đối với tôi, nhưng anh nên biết rằng ở đời không có gì bền vững, con người hợp để mà tan, bông hoa tươi thắm rồi cũng có lúc tàn tạ, hạnh phúc ở đời bao giờ cũng kèm theo đau khổ, tình yêu của thế gian là do động cơ nhục dục và tự tư thúc đẩy. Bởi thế, tình cảm của tôi đối với Tuyết Lan từ trước đến nay là một tình bạn cao quý và thanh khiết.

Trung gật gật đầu, lòng chàng thầm phục và càng kính trọng Đức. Thảo nào mà sư phụ thường khen sức học Phật của Đức. Trung nhìn chàng đăm đăm, cảm thấy thái độ của chàng thật nhu mì và đạo đức khiến cho ai thấy cũng phải kính mến chàng.

- Nếu vì hạnh phúc của Tuyết Lan, sau này giả sử anh không xuất gia thì anh có săn sóc nó không?

Đức mỉm cười:

- Dĩ nhiên! Tôi đã chả nói là tôi mến nàng lắm là gì?

Đức ngừng một lát rồi chậm rãi nói tiếp:

- Song tất cả đều do nhân duyên định đoạt. Chúng ta không thể nói trước.

- Thế thì tôi yên lòng rồi! Tôi hy vọng lúc nào anh cũng lưu tâm đến Tuyết Lan.

- Anh nói gì kỳ vậy? Chúng ta là Phật tử mà lại sợ không có người lưu tâm săn sóc? Ví phỏng sau này cả anh và tôi đều không thể săn sóc Tuyết Lan thì vẫn có Đức Phật che chở nàng kia mà! Song điều tôi mong muốn nhất là tất cả chúng ta đều có thể thoát ly vòng ân ái để xuất gia học đạo. Đó là lý tưởng cao đẹp hơn cả!

- Tôi thì có hy vọng xuất gia được lắm, vì tướng mạo tôi xấu xí, người con gái nào thèm để ý đến tôi? Xấu người lại càng dễ tu! Sau này chỉ một chiếc bát đi vân du khắp đó đây, há không siêu thoát lắm ru?

Hai người nhìn nhau cùng cười, tiếp đó Đức nói:

- Anh nói coi bộ dễ quá, chưa biết đâu anh lại “quẵm “một cô, rồi vài năm sau là con cái quấn quít ngay đấy mà!

- A Di Đà Phật! Trung chắp hai tay đặt lên chiếc mũi hếch của chàng. Quẵm ai?

- Quẵm Tuyết Lan! Đức thẳng thắn nói. Tôi nhận thấy anh là người chồng tương lai mà Tuyết Lan có thể tin cậy suốt đời. Còn tôi, tôi không hiểu tâm lý đàn bà. Hơn nữa, tâm hồn tôi lại mơ ước một cảnh giới cao siêu khác, một ngôi chùa tịch mịch thanh u để …

- Nói nhảm. Trung cắt ngang câu nói của Đức. Cư sĩ tại gia cũng tu hành được chứ sao? Như ông Duy Ma và bà Thắng Mạn đều là đệ tử tại gia của Đức Phật, nhưng họ cũng thành tựu được hạnh nguyện cao cả của Bồ tát đó thôi!

Đến đây, Trung hạ thấp giọng và nói chậm hơn:

- Vì tôi xấu xí nên Tuyết Lan chỉ coi tôi như anh ruột của nó, còn đối với anh thì lại khác!

- Sao anh lại bắt chước thói đời, chỉ nhận xét và phán đoán con người theo hình thức bề ngoài? Riêng tôi, tôi nhận thấy anh là người thanh niên có khí phách, lòng anh cao đẹp lắm và đó mới là vẻ đẹp chân chính. Tôi chắc Tuyết Lan phải hiểu điều ấy.

- Buồn cười chưa! Tôi đến khuyên anh, song lại bị anh khuyên. Nhưng, như anh đã nói, tất cả đều do nhân duyên.

Hôm ấy, Đức và Trung cùng đưa Tuyết Lan lên lễ Phật trên núi Ngũ Đài. Sau khi lễ xong, sắp sửa ra về thì Đức đưa mắt nháy Trung, ý muốn bảo Trung đem quyết định của hai người nói cho Tuyết Lan biết. Trung hiểu ý, nên lúc họ vừa bước ra khỏi cửa chùa, Trung nói với Tuyết Lan:

- Hãy còn sớm, chúng ta đi ra phía sau chùa, ngồi trên bờ suối nghỉ chân và ngắm cảnh một lúc đi!

- Ý kiến anh Đức thế nào? Tuyết Lan hỏi.

Đức gật đầu:

- Cũng được! Anh Trung còn có chuyện muốn nói với em.

Khi tới bờ suối, ba người cùng ngồi trên một phiến đá lớn. Trung bắt đầu:

- Tuyết Lan à, Bình Tân thất thủ, em có thấy chiến sự ở Thượng Hải trở nên khẩn trương lắm không?

- Có, em có đọc tin tức trên báo.

- Trong lúc quốc gia lâm nguy như thế, là thanh niên, các anh phải làm gì?

Tuyết Lan đã linh cảm trước, nên hỏi lại:

- Thế các anh tính sao?

- Các anh đã quyết định mai lên đường tòng quân.

- Thật à? Tuyết Lan vội hỏi Đức.

Đức gật đầu. Tuyết Lan kinh ngạc. Ba người cùng yên lặng. Bầu không khí nặng nề như muốn nghẹt thở. Cuối cùng, Tuyết Lan hỏi qua giọng u uất:

- Sao các anh không cho em biết sớm?

- Sợ em bịn rịn. Đức đáp.

- Em sẽ không ích kỷ, em sẽ không ngăn cản chí nguyện cứu quốc của các anh.

Những giọt lệ tràn ra mí mắt và lăn xuống hai gò má của nàng.

- Thế thì em giỏi lắm! Trung nói. Mong em ở nhà hãy giữ gìn sức khỏe. Khi nào thắng lợi, các anh trở về. Lúc đó, chúng ta sẽ lại gặp nhau.

- Biết bao giờ mới được tái ngộ?

Đức nói an ủi nàng:

- Luật nhân quả của Phật đã dạy: “Kẻ tàn bạo không bền ”. Em cứ yên tâm, quân phiệt Nhật không thể dày xéo đất nước này lâu được!

- Mong các anh sẽ về sớm!

Khi thốt ra những lời ấy, Tuyết Lan đặc biệt nhìn Đức. Đức gật đầu.

Tuyết Lan lau nước mắt rồi theo Đức và Trung đi xuống núi. Khi họ về tới Nam Kinh, mọi nhà đều đã thắp đèn.

Ngay tối hôm ấy, Tuyết Lan tìm đến nhà Đức. Nàng mang theo một bức tượng Đức Quan Âm bằng vàng, trao cho Đức và nói:

- Đây là bức tượng Đức Quan Âm mà em thường mang ở cổ. Em tặng anh để anh mang theo trong người, vừa để cầu Ngài phù hộ cho anh, đồng thời cũng để kỷ niệm nữa.

- Cảm ơn em, anh nhìn thấy hình tượng Bồ tát Quan Âm cũng như nhìn thấy em vậy!

Nói xong, Đức và Tuyết Lan lại đến Trung để cùng lên chùa Cổ Lâm bái biệt Hòa thượng Tuệ Học. Sau khi biết ý định của họ, Hòa thượng nói:

Các con là thanh niên, lúc quốc gia lâm nguy mà biết lập chí cứu nước như thế, thầy cũng khen cho chí nguyện của các con. Dù các con có vì nước mà hy sinh thì đó là sự quang vinh của người thanh niên vậy!

Được Hòa thượng khuyến khích mấy câu, họ lại kiên quyết và tin tưởng hơn. Sau đó, vì đêm đã khuya nên họ bái biệt Hòa thượng rồi kéo nhau ra về.

Sáng hôm sau, Đức và Trung lên đường. Giờ phút chia ly mới ai oán làm sao! Tuyết Lan thấy lòng quặn đau và không thể nào ngăn được dòng lệ thảm.

******

Đúng vào lúc Đức và Trung tham chiến trên các mặt trận thì địch quân cũng mở các cuộc tấn công dồn dập và mãnh liệt để chiếm các căn cứ trọng yếu. Tiếng liên thanh, đại bác nổ vang rền; lửa từ mũi súng lóe lên như những lằn chớp giật, đạn bay như mưa, khói đen mù trời. Quân đội hai bên lần lượt xung phong và tiếp nhau ngã gục trước những ngọn súng đang nhả từng loạt đạn. Chiến tranh diễn tiến một cách vô cùng khốc liệt.

Tiếng súng thưa dần và cuối cùng chiến trường đã trở lại bình tĩnh. Từ cạnh một mô đất nhỏ, Trung lóp ngóp bò dậy, toàn thân lấm láp như người vừa dưới nấm mồ chui lên. Quân đội đã rút hết, chàng đưa mắt nhìn tứ phía, nhưng không thấy bóng quốc kỳ tung bay. Chàng thất vọng và biết chắc rằng lát nữa đây thế nào địch quân cũng sẽ đến quan sát và lục soát. Chàng sờ vào mình, bỗng chàng có cảm giác như người vừa tỉnh mộng. Đức, đồng bạn của chàng đâu? Trước mặt chàng như có những bóng đen lờ mờ đang lướt tới. Chàng không thể chạy được, chàng phải đi tìm Đức trong những xác chết nằm ngổn ngang trên mặt đất. Người thì gãy tay đứt chân, kẻ thì vỡ sọ, thủng bụng, máu me lênh láng như một dòng suối đỏ ngầu. Bầu không khí chết chóc bao trùm trên trận địa hoang lương thê thảm. Trung đang vội vàng tìm Đức, bỗng chàng nghe có tiếng rên rỉ ở đâu vang lên. Trung lắng hết sức để nghe, cuối cùng chàng nhận ra tiếng than thở văng vẳng từ một đống thây ma gần đấy. Lập tức, Trung chạy lại và dùng hết sức lực để bới đống xác người chồng chất lên nhau thì thấy một bộ mặt nhợt nhạt bị vùi ở dưới.

- Ô, còn sống, may quá! Trung sung sướng nói một mình. Chỉ bị thương ở đùi thôi, không nguy hiểm đến tính mạng, nhưng máu ra nhiều quá!

Vừa nói, Trung vừa xé một mảnh áo của chàng, rồi buộc vết thương lại để máu khỏi chảy. Lâu lắm, Đức mới hé cặp mắt lờ đờ nhìn Trung, mắt chàng mở to dần và khi chàng nhận ra Trung thì một cảm giác sung sướng tràn ngập lòng chàng. Nhưng chàng cố nói một cách yếu ớt và thương thảm:

- Tôi không có hy vọng sống được đâu, hãy chạy mau đi!

- Không! Hễ về được trạm cứu thương là anh sẽ sống.

- Thôi, xin anh đừng bận bịu vì tôi, mang theo một người bị thương vượt qua khu vực của địch là một việc vô cùng khó khăn. Sư phụ đã nói đem thân đền nợ nước là một vinh quang của chúng ta. Hiện giờ, tôi còn sống để được nhìn anh lần cuối cùng, thế là tôi thỏa mãn lắm rồi!

- Không! Tôi không thể bỏ anh.

- Đi đi! Anh chạy mau đi. Nếu không, chúng ta sẽ chết cả! Đức quả cảm nói. Xin anh về báo cho cha mẹ tôi, báo cho sư phụ và Tuyết Lan, nói là tôi đã đi theo chư Phật. Xin đừng thương xót và đau buồn.

Mấy giọt lệ anh dũng tràn ra mí mắt Đức và chàng nghẹn ngào thổn thức nói:

- Mong anh hãy săn sóc Tuyết Lan, đem bức tượng Đức Quan Âm này trả lại nàng.

- Không! Anh không đi thì tôi cũng không đi. Chúng ta cùng chết với nhau!

Trung lại thúc giục và khuyên giải thêm:

- Nếu ở lại đây, chúng ta sẽ bị quân địch bắt làm tù binh, như thế thì càng tủi nhục hơn! Nào, đứng lên! Tôi cõng anh đi.

Đức cúi đầu yên lặng. Trung bế chàng dậy. Một cảm giác đau đớn nhức nhối chạy khắp người chàng, toàn thân chàng như tan rã. Bám trên lưng Trung, chàng khổ sở nói:

- Anh Trung, xin anh để tôi ở lại đây! Tôi không thể đi được. Hơn nữa, đi như thế này thì nguy hiểm cho anh lắm!

- Thôi, anh đừng nói nhiều.

Trung cặm cụi cõng Đức đi. Khi họ tới bờ sông, trời đã nhá nhem tối. Trung đặt Đức ngồi nghỉ một lát trên bờ sông và để quan sát địa thế. Con sông nhỏ hẹp không sâu lắm và cây cối um tùm hai bên bờ, tạo thành một hàng rào phòng ngự thiên nhiên. Bên kia sông, chắc là ít quân địch.

Trung tìm một khúc nông và hẹp, rồi cõng Đức qua sông. Họ vừa mới lóp ngóp lên được bờ sông bên kia thì bỗng một tràng liên thanh vang lên từ phía bên này sông. Hai người vội nằm sát xuống đất, nín thở để nghe ngóng và họ yên lặng trong một hồi lâu.

Màn đêm đã phủ kín, gió lạnh, sương mờ, bốn bề tịch mịch hoang lương, lòng họ luôn luôn thầm niệm danh hiệu Phật.

- Anh Trung ơi! Địch quân đã biết mục tiêu của ta rồi. Anh hãy bỏ tôi đây, một mình anh chạy mau đi!

-Chỉ cần qua được giai đoạn khó khăn tối hậu này là chúng ta nhất định trở về đến đồng đội.

-Bây giờ, ta đi về phía tay mặt; qua ba cánh đồng thì sẽ tới một hào lũy và qua hào lũy ấy là đến dinh trại, thế là an toàn rồi!

Đường đất gập ghềnh khó đi. Trung cõng Đức mò từng bước trong đêm tối. Thực sự, chàng thấy mệt mỏi vô cùng. Khi họ gần tới hào lũy, lại một loạt liên thanh vang lên, rồi tiếp sau đó là một ngọn đèn pha xanh lè từ một đồn bót nào gần đấy phóng ra, như một ngọn chổi, ánh sáng quét trên cánh đồng rồi dừng lại trên thân hình Đức và Trung. Một nhân viên từ đồn bót chiếu kính viễn vọng theo ánh đèn và thấy hai người mặc y phục quốc quân, liền ra lệnh cho mấy binh sĩ tiến đến để dò xét. Khi họ tới nơi thì phát giác Đức và Trung đang nằm bất tỉnh. Lập tức, họ đưa hai người về dinh trại cứu cấp.

Nhưng liền sau đó, Đức đã tỉnh. Chàng mở mắt tìm Trung thì thấy Trung đang nằm bên cạnh. Mặt Trung tái mét, máu thấm đầy ngực áo. Một cảm giác đau thương đã xâm chiếm cõi lòng Đức, toàn thân chàng run rẩy, nước mắt trào ra, chàng khẽ lay lay người Trung và gọi “Anh Trung! Anh Trung! ”, nhưng không thấy Trung trả lời. Đức ôm lấy