BÓNG NGUYỆT LÒNG SÔNG
Ni Trưởng Thích Nữ Trí Hải
1. BÓNG NGUYỆT LÒNG SÔNG
Không
và Có tương quan mật thiết với nhau như bóng với hình. Có bao nhiêu
cái có thì cũng có bấy nhiêu cái không. Nếu cái có vô cùng vô tận, thì cái
không cũng vô tận vô cùng. Có ở đâu, không ở đấy, và ngược lại, không ở
đâu, có ở đấy. Ta không thể nói một câu như: “Tôi không”. Không cái gì mới
được chứ. Cho nên phải thêm: tôi không tu hoặc tôi không biết, hoặc tôi
không tiền. Như vậy khi một người nói “Tôi không...” cái gì đó, thì ta
biết họ quan tâm tới cái ấy. Nghĩa là không phải là hoàn toàn không. Phải
chăng? Người ta không thể nói họ “không” một cái mà họ hoàn toàn không
dính đến.
Hãy nói cho tôi
nghe bạn không cái gì, tôi sẽ nói cho bạn biết bạn có cái gì. Một người
quan tâm tới tiền thì không tiền là mối băn khoăn của họ. Một người tha
thiết với hiểu biết thì không biết là điều họ quan tâm. Khi Albert
Einstein nói: “Tôi chỉ biết có một điều, là tôi không biết gì cả” thì ta
thấy ngay sự cưu mang lớn nhất, mối bận tâm lớn nhất của ông là sự hiểu
biết.
Cho nên mỗi người
có một cái không khác nhau tùy trình độ tâm hồn, tri thức của từng người.
Cái không của tôi khác cái không của anh và cũng không giống cái không của
nó. Cái không của người tại gia khác cái không của người xuất gia. Cái
không của phàm phu khác cái không của hiền thánh. Và những cái không của
các bực thánh hiền cũng khác nhau, nên kinh Kim cương dạy, nhất thiết
hiền thánh giai dĩ vô vi pháp nhi hữu sai biệt (pháp vô vi, - hay
không- tùy từng bực hiền thánh mà khác nhau). Chẳng hạn, cái không của
phàm phu là không giới định tuệ, không các pháp thượng nhân. Cái không của
một vị xuất gia là không những hệ lụy của tại gia (không vợ con, không gia
đình). Cái không của Tu đà hoàn là không ba kiết sử: thân kiến, nghi và
giới cấm thủ. Tiến lên những bậc Nhất lai, Bất hoàn, A la hán thì lại có
các không khác. Tất cả cái không ấy đều phải được vượt qua, xả bỏ, mới đi
đến giải thoát hoàn toàn. Bởi vì chúng vẫn còn tương quan với cái có, chưa
phải là Không tuyệt đối, chân không.
Khi kinh dạy, hết
thảy pháp đều không (chỗ ngồi của Như Lai là hết thảy pháp đều không- Kinh
Pháp Hoa) thì phải hiểu pháp ấy là cái chúng ta đang cưu mang cho là thật
có. Người chấp tài lợi thì pháp đó là tài lợi, chấp danh thì pháp đó là
danh, chấp thân thì pháp đó là thân, chấp tâm thì pháp đó là tâm, chấp
không thì pháp đó là không. Phàm phu chấp đủ thứ thì pháp đó là đủ thứ.
Bậc thánh nhị thừa tu quán vô ngã, thấy thân thể này chỉ là địa thủy hỏa
phong... là thấy được không ngã, nhưng vẫn còn có pháp: pháp ấy là địa
thủy hỏa phong... Vậy cái không ngã ấy cũng cần vượt qua để đi đến không
pháp.
Mà pháp đáng nói
nhất là cái chi? Là cái Không! Vậy không pháp là không luôn cả cái không
ấy. Những ai đang ôm một cái không và hãnh diện vì nó, sẽ giật mình: “Vậy
thì ta sống làm sao bây giờ, nếu phải bỏ luôn cả cái không đó?” Trần Nhân
Tông, sơ tổ phái thiền Trúc Lâm, khuyên ta khi cầm chén cơm lên ăn, nhớ
xem xét cái muỗng, cái thìa. Ngay trong những vật tầm thường nhật dụng:
chính đó, chỗ đặt chân đầu tiên và cuối cùng. Chính từ đó mà hạ thủ công
phu. Chính từ đó, mà tìm bất sanh bất diệt. Đi tìm cái không sinh diệt
ngay trong sinh diệt là như thế. Và cái không khi ấy lại trở về trong cái
có để thấy rằng:
Có, không: bóng
nguyệt lòng sông
Ai hay không có,
có không là gì?
2. PHÁT TÂM
Một trong những
danh từ giới chùa chiền ưa sử dụng là “phát tâm” hay “phát bồ đề tâm”, có
nghĩa tương tự danh từ “tình nguyện” hay “tự nguyện”.
Một việc làm tự
nguyện có những đặc tính sau. Thứ nhất, nó phát xuất từ tâm ta muốn làm,
không do áp lực của người hay hoàn cảnh thúc đẩy (vì nợ nần, tình duyên
trắc trở mà đi tu chẳng hạn, thì không gọi là “phát tâm” xuất gia được).
Thứ hai khi công việc đã tiến hành, ta không bị chi phối vì khen chê,
không vì khó khăn, mà lui bước. Thứ ba ta sẵn sàng đón nhận những hậu quả
dù hay hay dở, vinh hay nhục dưới mắt thiên hạ. Cuối cùng như một mũi tên
bắn ra, thế nào cũng trúng một chỗ, cái tâm tha thiết nguyện làm việc cũng
vậy, khi đã phát ra thì việc ấy sớm muộn sẽ hoàn tất, không ở đời này thì
đời sau, không đời sau thì a tăng kỳ kiếp.
Danh từ phát tâm
hiểu như vậy có nghĩa là “phát bồ đề tâm” rút gọn. Bồ đề tâm là tâm cầu
trí giác vô thượng của Phật, đầy đủ ba đức là trí đức, đoạn đức và ân đức.
Trí đức thì không còn mê lầm. Đoạn đức thì hết sạch phiền não. Ân đức thì
làm lợi lạc cho tất cả chúng sinh.
Muốn tâm bồ đề ấy
được phát sinh, phát triển phải làm như lời Phật dạy trong kinh Kim Cang:
“Dĩ vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả, tu nhất thiết thiện
pháp” (dùng cái tâm không bốn tướng mà làm các việc lành). Trở lại
những đặc tính nói trên để thấy: khi làm một việc mà không bị khen chê chi
phối, là không có tướng ngã (nếu có ngã, tự ái nổi lên thì bị chê
liền phẫn nộ, được khen liền tự kiêu). Đã không mừng vì tiếng khen, không
giận vì lời chê thì cũng không quan tâm phân biệt người khen với kẻ chê,
đó là không tướng nhân. Trước những bình phẩm đủ loại của tất cả
mọi người, tâm vẫn bất động là không tướng chúng sinh (khen chê
không phải một người, mà nhiều người, nhiều loại khen chê). Không kể thời
gian lâu xa bao nhiêu, vẫn im lặng tiến bước trên đường đã chọn, là không
tướng thọ giả.
Nói vắn tắt là “vô
trú”, như kinh dạy “ưng vô sở trú nhi sinh kỳ tâm” (hãy không trú,
không vướng, mà phát bồ đề tâm), một câu mà Ngài Huệ Năng vừa nghe qua đã
đốn ngộ. Có ba chỗ vướng mắc: ngã (từ đấy sinh ra ba tướng: nhân, chúng
sinh, thọ giả), pháp (chấp cảnh hay sáu trần là: sắc, thanh, hương, vị,
xúc, ý tưởng), và phi pháp (không). Bất cứ chấp trước hay vướng mắc chỗ
nào trong ba chỗ đều rơi vào bốn “tướng” nói trên. Ngã là cái tôi,
pháp bao gồm tất cả mọi sự, vật chất tinh thần. Phi pháp là cái
không, cái đối lại với pháp. Nếu “pháp” được hiểu là cái có,
thì “phi pháp” là cái không. Nếu pháp là “chánh pháp” thì phi pháp
là chuyện thế gian tà đạo. Nếu pháp là thiện thì phi pháp là bất thiện.
Nếu pháp là Niết bàn thì phi pháp là sinh tử. Đến đây có thể hiểu lời Phật
dạy “Pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp” (pháp còn nên bỏ huống
chi phi pháp) trong kinh Kim Cang như sau: Niết bàn còn nên bỏ huống chi
sinh tử. Vì vậy mà Phật không trụ (ở) sinh tử cũng không trú Niết bàn: trú
sinh tử thì có khác gì phàm phu, mà trú Niết bàn làm sao độ chúng sinh
được. Sở dĩ Ngài được tôn xưng là đấng “Lưỡng túc tôn” chính vì Ngài đứng
hai chân,
một chân trong sinh tử, một chân trong niết bàn. Là đấng giác ngộ (đại
trí) dĩ nhiên Ngài luôn luôn an lạc, luôn luôn niết bàn, nhưng tại sao
Phật không trú Niết bàn? Ấy chính là vì thương xót chúng ta, Ngài không nỡ
trú hẳn Niết bàn mà phải ấn một gót chân xuống cõi sinh tử đau buồn này:
đó là từ bi của Phật. Ở trong sinh tử Ngài không khổ như chúng ta vì Ngài
có đại trí, do đó cũng không thể gọi Ngài là trú sinh tử.
Phát tâm, hay phát
Bồ đề tâm, như vậy nghĩa là lập tâm nguyện rộng lớn thành tựu đại trí như
Phật (thượng cầu Phật đạo) và đại bi như Phật (hạ hóa chúng sinh). Tâm
nguyện rộng lớn ấy được thực hiện bằng cách theo lời Phật dạy “độ vô lượng
chúng sinh mà thật không có chúng sinh được độ”, quan trọng ở nơi
chữ thật: có thấy vô lượng chúng sinh kia đều là huyễn hóa, mới có
thể độ bao nhiêu, bao lâu cũng không ngán. Vừa khởi tâm thấy thật có ta độ
và chúng sinh được độ, thì chỉ “độ” vài ba đứa là đã thấm mệt, làm sao
tiếp tục nổi? Vừa thấy có mình độ (ngã tướng) thì liền thấy có chúng sinh
được độ (nhân tướng, chúng sinh tướng), có thời gian ta phải lận đận trong
cõi sinh tử để độ chúng sinh (thọ giả tướng) . Quả vậy, thời gian có là vì
ngã chấp, nếu không có cái nêu mốc là ngã, thì cũng không có quá
khứ, hiện tại, vị lai, lâu hay chóng.
Một niệm khởi là
một chúng sinh. Mỗi ngày, giờ, phút, ta móng lên không biết bao nhiêu vọng
niệm: đó, chúng sinh vô biên. Một ý nghĩ do si mê là loài noãn sinh (ở
trong vỏ cứng của vô minh), do tham dục là thai sinh, do tà kiến ác độc là
thấp sinh (vì khiến đọa vào cõi thấp), do vọng tưởng tiếp nối không ngừng
là hóa sinh (như loài biến hóa, tâm cũng biến ra nhiều chuyện thác loạn)
v.v.. Tất cả những “chúng sinh” này của tâm thức là nguồn gốc của vô tận
phiền não nếu không được diệt độ chận đứng kịp thời. Tâm đầy chật cả phiền
não thì không thể học một pháp môn nào của Phật để thành Phật được. Bởi
thế chỉ cần độ “vô biên chúng sinh” này, thì vô tận phiền não sẽ không có,
tâm rỗng rang vắng lặng sẽ dễ dàng thâm nhập vô lượng pháp môn để tựu
thành Phật đạo vô thượng.
Nhưng muốn độ vô
biên chúng sinh điều quan yếu là thấy được như thật rằng chúng sinh
ấy không thật, chỉ do giả huyễn sinh ra. Cũng như vọng tưởng, phiền não
khi phát sinh thì tựa hồ như có, khi qua rồi thì hoàn toàn không dấu vết.
Như vậy thì đâu thật có “chúng sinh được diệt độ”.
Phát tâm bồ đề tóm
lại, là tự nguyện làm mọi việc lành mà không chấp trước (vô trú), không
chấp không (nên mới làm việc) cũng không chấp có (nên không sợ khen chê
vinh nhục) không chán ghét sinh tử (vì có trí tuệ thấy được sinh tử như
huyễn) không tham luyến Niết bàn (vì lòng đại bi cứu độ chúng sinh).
3. CON NGƯỜI
MẠNH NHẤT
Trong kinh Tịnh
Danh, đức Phật dạy có hai hạng người có sức mạnh nhất: đó là người không
có tội, và thứ hai là người có tội mà biết hối cải – một sự hối cải rốt
ráo phát xuất từ tâm can, quyết chí đổi bỏ điều ác thực hành điều thiện.
Nói rõ hơn, con
người mạnh nhất là người không còn sợ hãi bất cứ gì, hoàn toàn vô úy.
Chúng ta sở dĩ sợ hãi trước hết là vì mình có tội, sợ bị trừng phạt, sợ
mất danh dự nếu người ta biết được, sợ mất lợi lộc, sợ mất vây cánh. Thứ
đến, chúng ta sợ hãi vì mong an toàn, sợ những đổi thay, bất trắc. Sự an
toàn ấy bao gồm nhiều phương diện. Một con người ngã chấp càng nặng nề thì
những điều kiện cho sự an toàn ấy càng phức tạp. Đối với một người biết đủ
thì được túp lều tranh che mưa nắng, có hai bữa cơm cháo hàng ngày, vài bộ
đồ mặc, đã tạm gọi là an toàn. Nhưng đối với nhiều người chừng ấy chưa đủ.
Thức ăn phải là cao lương mỹ vị, chỗ ở phải đầy đủ tiện nghi. Áo quần phải
sang trọng hợp thời trang. Và sống phải có danh vọng địa vị, có nhiều bạn
bè quyến thuộc vây cánh "cuộc vui đầy tháng, trận cười thâu đêm"
mới có sinh thú. Đối với những người như vậy, sự an toàn trở nên dễ dàng
bị đe dọa. Càng nhiều hàng rào phòng thủ quanh bản ngã, ta càng thấy cái
ngã dễ bị thương tổn, dễ mất an toàn. Vì nó đã được đồng hóa với nhà cửa,
bạn bè, của cải tài vật, danh tiếng, với đủ thứ mà ta xem là nhu cầu thiết
yếu cho sự sống. Khi cái ngã đã được bành trướng ra vô tận qua những nhu
cầu phức tạp, thì sự an toàn trở nên vô cùng mong manh, và nỗi sợ hãi càng
âm thầm tăng trưởng theo nhịp độ nhu cầu. Cần tiền ta sẽ sợ mất tiền, cần
tình sợ mất tình, cần danh sợ mất danh, cần tiện nghi vật chất sợ mất tiện
nghi vật chất, cần uy tín sợ mất uy tín, cần bạn bè sợ mất bạn bè. Và bởi
vì chúng ta cần quá nhiều thứ trên đời, nên nỗi sợ hãi có thiên hình vạn
trạng. Thông thường chúng ta không hoàn toàn ý thức nỗi sợ hãi bất an của
mình, không hoàn toàn ý thức nhu cầu thầm kín của mình cho đến khi một
trong những nhu cầu ấy bị trắc trở. Nghĩa là chúng ta chỉ ý thức được nhu
cầu mình ở mặt trái của nó: cái thương nhớ ấy là khi mất rồi! Mất
rồi mới biết à, té ra ta cần như vậy như vậy. Thành ra, thiên đường thực
sự không bao giờ ở tầm tay vói, mà chỉ ở một khoảng cách vô cực như những
vì sao. Emily Dickinson diễn tả ý đó trong những vần thơ đẹp:
My rose gays are
for captives
Dim, long
expectant eyes
Fingers denied
plucking
Patient till
paradise
(những hoa hồng
nhung của tôi chỉ dành cho những kẻ đang bị giam cầm đang ngước những đôi
mắt mỏi mòn chờ đợi - những ngón tay không bao giờ với tới, kiên nhẫn cho
đến ngày lên được thiên đàng)
Chúng ta cũng thế,
giống như những kẻ tù đày đang bị giam hãm chỉ biết ngước những đôi mắt
tuyệt vọng nhìn đóa hoa mình không bao giờ được hái. Có những nhu cầu thầm
kín mà ta chỉ ý thức được khi gặp điều trái lại làm cho ta bất mãn. Chẳng
hạn, thông thường có thể ta không biết mình có háo danh, ham tiếng khen
hay không. Nhưng khi bị chê ta mới biết té ra mình cũng thích được khen vì
bị chê thì đau khổ. Mọi nỗi sợ hãi khác đều chứng tỏ sự có mặt của nó bằng
cách tương tự, nghĩa là bằng mặt trái.
Cái ngã càng lớn
thì nhu cầu càng nhiều. Nhu cầu càng nhiều thì sợ hãi càng nhiều. Một con
người có nhiều sợ hãi, nhiều vòng đai phòng thủ không thể gọi là người
hùng mạnh.
Đức Bổn sư chúng
ta là người mạnh nhất trong những người mạnh, bởi vì Ngài đã triệt tiêu
bản ngã, bởi vì Ngài không còn một nhu cầu nào. Trong Kinh Sợ hãi khiếp
đảm (Trung Bộ I), Ngài đưa ra những lý do vì sao Ngài không còn sợ
hãi, để ai muốn đạt được đức tính vô úy, thì hãy sống như Ngài đã sống:
thân nghiệp thanh tịnh (nghĩa là không giết hại, trộm cắp, dâm dục), ngữ
nghiệp thanh tịnh (không nói dối, nói hai lưỡi, nói lời phù phiếm, lời độc
ác), ý nghiệp thanh tịnh (không tham, sân, si), mạng sống thanh tịnh
(không tự nuôi sống bằng những nghề nghiệp ác ôn), không có tham dục cường
liệt, không lười biếng, không ngủ gà ngủ gật, tâm không tán loạn (luôn
luôn thiền định), thân không lăng xăng giao động, không ham muốn lợi danh
và tiếng khen, không khen mình chê người, không nghi ngờ do dự, không ngu
độn si ám... Ngược lại, Ngài sống điều độ, tỉnh giác, tinh tấn, chánh
niệm, ít nhu cầu, sáu căn luôn luôn an hòa tịch tịnh, có trí tuệ sáng
suốt. Nhờ vậy, với Ngài, không bao giờ có nỗi sợ hãi và bất thiện khởi lên
khi sống một mình trong những trú xứ xa vắng ở rừng núi hoang vu: Đức Phật
quả là Đấng Chiến Thắng (Jina) trong loài người, Con Người mạnh nhất.
4. HẠNH ĐỘC
CƯ LÝ TƯỞNG
Kinh Theranàmo (Trưởng
Lão Danh) trong Tương Ưng Bộ (Samyutta Nikàya, II, 2827) kể chuyện một
vị tỷ kheo luôn luôn sống một mình và khuyên người khác nên sống như vậy.
Như nhan đề kinh, vị ấy được các tỷ kheo gọi là trưởng lão, chúng ta không
rõ vì họ tôn trọng ý muốn dấu tên của ngài hay nó có tính cách biếm xích
khi những bạn đồng tu của ngài có xã hội tính hơn. Chúng ta gần như có
được một bức hoạt họa về vị tỷ kheo ấy trong những câu sau đây trích từ
kinh văn:
“Bấy giờ có một vị
tỷ kheo được gọi là trưởng lão, vị ấy là một người độc cư, và tán thán
hạnh độc cư. Một mình vị ấy đi vào làng khất thực; một mình, vị ấy trở về;
một mình, vị ấy ngồi thiền; một mình, vị ấy kinh hành.
“Một số tỷ kheo
đồng học có lẽ thấy lối sống của ông ta hơi quái dị, nên đến bạch Phật.
Phật cho gọi trưởng lão ấy đến. Ông ta cũng xác nhận lời đồn đại về sự ưa
thích độc cư của ông. Khi Phật hỏi ông hiểu thế nào về độc cư và thực hành
nó như thế nào là đúng, ông giải thích cho Ngài nghe thói quen thường nhật
của ông như trên:
“- Bạch Thế Tôn,
một mình con vào làng khất thực, một mình con trở về, một mình con thiền
định và, một mình con kinh hành. Bạch Thế Tôn, như vậy con là một kẻ độc
cư và tán thán hạnh độc cư.”
Lời dạy của Phật
về thái độ ấy không hẳn là một lời lên án cũng không ca ngợi vô điều kiện.
Ngài dạy: “Này trưởng lão, quả có hình thức độc cư như vậy, Ta không phủ
nhận. Nhưng trưởng lão, Ta sẽ nói cho ông nghe cách thức độc cư hoàn hảo
nhất trong mọi chi tiết của nó. Hãy chú ý lắng nghe.” Rồi Ngài tiếp tục
giải thích như sau:
“- Trong sự độc cư
này, trưởng lão, cái gì đã qua được bỏ qua. Cái gì chưa đến được gạt bỏ.
Tham dục đối với những tâm sở hiện tại được chế ngự. Này trưởng lão, thế
gọi là lý tưởng độc cư được hoàn thành trong mọi chi tiết.”
Để nêu rõ rằng
người độc cư lý tưởng kiện toàn những điều kiện trên đây chính là bậc A la
hán, Phật tóm tắt lời dạy bằng bài kệ:
Vượt trên tất cả,
biết tất cả
Bậc thánh không
nhiễm ô đối với tất cả
Được giải thoát vì
từ bỏ mọi sự
Khi dục vọng không
còn
Người như thế Ta
sẵn sàng tuyên bố
Là một người độc
cư thật sự.
Lý tưởng độc cư
nêu trong Trưởng Lão Danh Kinh dường như được lập lại trong những
bài kệ tóm tắt kinh Bhaddekaratta. Ta có thể so sánh định nghĩa của
Phật về người độc cư toàn hảo trong kinh Trưởng Lão với những dòng sau đây
ở kinh Bhaddekaratta:
“Đừng theo dấu quá
khứ
Hay khát vọng
tương lai
Cái gì đã qua được
bỏ lại đàng sau
Và với cái hiện
tại
Dùng tuệ giác soi
chiếu.”
Trên đây ta thấy
kinh Trưởng Lão trình bày lý tưởng đích thực của độc cư trái hẳn với quan
niệm thông thường về độc cư: lý tưởng đích thực được mô tả là một sự “độc
cư” của tâm thức bằng cách bỏ hết mọi sự thuộc quá khứ và tương lai, và
chế ngự dục vọng đối với những tâm sở hiện tại. Những câu kệ kết luận cho
thấy rõ người độc cư lý tưởng không bị ô nhiễm đối với mọi hiện tượng và
được “giải thoát, vì từ bỏ tất cả”. Điều này nhắc ta nghĩ đến danh từ
upadhiviveka (sự giải thoát mọi sở hữu) ám chỉ Niết bàn, sự độc cư tâm
linh cao nhất (citta viveka), và mọi nỗ lực độc cư của thân xác
phải được gắn liền vào nó một cách thích hợp. Về sự độc cư thân xác, quan
niệm thông thường là ở một mình. Nó đem lại cho tâm thức nhà khổ hạnh cái
viễn tượng bình an vì xa lánh được đám đông điên cuồng. Dĩ nhiên sự độc cư
thân xác này thường được đức Phật đề cao xem như một điều kiện tiên quyết
để giải thoát. Bởi thế ở cuối một đoạn văn hùng hồn ca ngợi hình thức độc
cư này, Ngài thú thật với thị giả Nàgita một cách hồn nhiên rằng Ngài rất
thoải mái ngay cả khi đại tiểu tiện mà không thấy ai ở đằng trước hay sau
mình, hoàn toàn một mình: “Khi không thấy ai đằng trước hay đằng sau, Ta
hoàn toàn thoải mái khi ở một mình trong rừng núi.”
Cũng như sự độc cư
thể xác có nghĩa là sự thỏa thích vì không thấy người nào ở trước hay sau
mình, sự độc cư tâm linh cũng thế, được định nghĩa là sự vắng bóng ngoái
nhìn quá khứ hay trông ngóng tương lai trong tâm trạng lo âu. Vì đã từ bỏ
những gì thuộc vị lai, ta không còn lo nghĩ về tương lai. Quan niệm thời
gian về quá khứ và tương lai trong sự độc cư tâm linh tương ứng với không
gian trước và sau trong sự độc cư thể xác. Tuy nhiên sự giải thoát khỏi
hai yếu tố ấy tự nó không đem lại sự “thoải mái” vốn là lý tưởng của sự
độc cư, còn có một yếu tố thứ ba cần phải loại bỏ: ấy là ta phải “vôâ ưu
lự” dù trong sự độc cư thể chất hay tâm linh. Do đó bất cứ sự bám víu nào
đối với sở hữu của mình- thuộc vật chất hay tinh thần- chính là yếu tố thứ
ba làm hỏng sự độc cư. Khi đã điều phục hoàn toàn dục vọng đối với những
tâm sở hiện tại, với tuệ giác người ta biện biệt rõ ràng những pháp hiện
tại và thấy nó vô thường, khổ, vô ngã.
Hai kinh Trưởng
Lão Danh và Bhaddekaratta như vậy phối hợp để diễn tả một quan
điểm về một sự độc cư siêu việt xa hẳn ý nghĩa thông thường. Ngoài ra
những chỗ khác của tạng Pàli cũng nói ý ấy, ví dụ:
Không nhảy quá xa,
cũng không lùi lại
Đã siêu việt được
tâm thức tán loạn
Vị tỷ kheo xả bỏ
những pháp bên này bên kia
Như con rắn bỏ cái
vỏ đã khô cằn
(Sn.V,8)
Không có gì ở
trước mặt hay sau lưng
Cũng không có gì ở
trung gian gọi là của mình
Kẻ nào không sở
hữu gì, không bám víu gì
Kẻ ấy ta gọi là
một người thanh tịnh
(PC 421)
“Buông bỏ cái
gì đã qua- buông bỏ cái gì chưa tới- buông bỏ luôn tất cả cái trung gian-
siêu việt mọi hiện hữu, với một tâm thức giải thoát mọi sự như thế, ngươi
sẽ không bao giờ trở lại trong sanh tử.”
Một nghiên cứu tỉ
giáo về hai kinh nêu trên sẽ cho thấy rõ rằng cả hai kinh đề cập cùng một
vấn đề. Nhưng làm sao để giải thích đúng từ ngữ bí hiểm Bhaddekaratta?
Trong mạch lạc của sự thỏa luận vềø đề tài độc cư của chúng ta, yếu tố nổi
bật nhất của ẩn ngữ dường như là tiếng ở giữa “eka” (một, đơn độc).
Vì tính cách khá thông dụng của danh từ này mà ý nghĩa của nó thường bị
xem thường. Do đó có khuynh hướng xem từ Bhaddekaratta như một
khiếm từ (chưa đủ nghĩa). Từ đơn “eka” hầu như bị vài học giả xem
như một phiếu trắng, cần phải thêm vào những danh từ khác như “đêm” hay
“sự gắn bó với cô độc” để làm cho nó đủ nghĩa. Nhưng ta có thể chứng minh
rằng danh từ eka có một vị trí ưu thắng trong thuật ngữ kinh tạng
Pàli, nó là một biểu tượng có ý nghĩa lớn đối với những người có khuynh
hướng khổ hạnh. Đối với họ, nó không có gì là khó hiểu vì nó mang tất cả
những hàm ẩn gắn liền với ý tưởng độc cư của nhà khổ hạnh. Đối với họ, rõ
ràng không có gì lạ không có gì khó hiểu trong từ “eka”, và bởi thế chúng
ta tìm thấy từ này lập lại trong suốt kinh Khaggavisàna (Sn.vv.35-75)
trong điệp ngữ “eko care khaggavivànakappo” (lang thang một mình-
như một con tê giác?) Kinh Mâu Ni (Muni sutta) cũng sử dụng từ eka
trong ý nghĩa “đi một mình” ấy: “ekani carantami munimappamattam”
(bậc Thánh tinh tấn đi một mình- Sn v.213). Từ eka cũng được tìm
thấy đến 6 lần trong bài kệ của Trưởng lão Ekavihàriya (Trưởng Lão Kệ câu
537-546). Được “ở một mình không có người thứ hai” (ekàkiyo adutiyo-
câu 541) trong rừng sâu, đấy là niềm khát vọng của ngài, và do đó ngài đã
được đức Thế Tôn ca ngợi trong bài kệ sau:
Ekàsanam ekaseyyam
Eko caram atandito
Eko danayam
attànam
Vanamte ramito
siyà -
(Dhp.305)
Một chỗ ngồi đơn độc- một giường nằm đơn độc
Và đi một mình không mệt mỏi
Một mình tự
hàng phục, ông ấy có thể tìm thấy khoái lạc trong sự độc cư ở núi rừng.
(PC.305)
Những khó khăn về
từ nghĩa của tiếng "eka" như vậy đã được vượt qua, bây giờ ta có
thể bàn đến tương quan của nó với từ "ratta" tiếp sau đó. Từ "ekaratta"
đã được giải thích theo truyền thống là "một đêm" và ta đã thấy Nànamoli
và I.B. Horner chứng minh ở trên rằng lối giải thích ấy không ổn. Đại đức
Nànamoli đã gợi ý một cách chính xác rằng ratta có thể là một từ
phát xuất từ ngữ căn vranji (mong muốn, bám víu). Nhưng ông đã ngần
ngại không theo dõi hết những hàm ẩn của giả thuyết ông, có lẽ vì gặp phải
khó khăn ở danh từ "eka". Trên đây chúng ta đã lột được ý nghĩa của từ
này, nên có thể tiếp tục khai thác sự gợi ý của đại đức đến chỗ toàn vẹn.
Sự "yêu thích độc cư" (xem bài kệ trên) được xem như một loại "khát vọng
lợi lạc"- nếu ta có thể dùng từ ngữ này một cách dè dặt. Chẳng hạn, trong
kinh Nàlaka (Sn.) chúng ta tìm thấy một sự phê chuẩn rõ rệt đối với một
"bám víu" hay "thích thú" như vậy:
Esànassasikkhetha-
samanopàsanassa ca ekattam monamakkhàtam eko ce abhira-
missasi atha bhàsisi dasa disà.
Sutta Nipàta (Sn. 718-719)
"Hãy tập luyện ngồi một mình ở
nơi thích hợp cho một ẩn sĩ. Sự độc cư được gọi là thánh hạnh, và nếu
người nào vui thích trong hạnh độc cư, người ấy sẽ chiếu sáng cả mười
phương"
Hoặc chỗ khác trong kinh Xá Lợi
Phất, ta thấy từ ratta (thích thú, bám víu, khát khao) được sử dụng
trong nghĩa nêu trên, nói đến sự yêu thích độc cư của Phật và sự từ bỏ của
Ngài:
Sabbam - tamam-vinodetvà-elo'va
rati majjhagà
(Sn.v 956)
"Đã xua tan mọi bóng tối- Ngài
tìm thấy khoái thích trong hạnh độc cư."
Tất cả dẫn chứng trên đi đến
kết luận rằng ekaratto trong từ
Bhaddhekaratto
có nghĩa là "con người bám lấy
hạnh độc cư" hay “con người yêu thích độc cư". Bây giờ chúng ta coi lại
hình dung từ "Bhadda" (lành, tốt, cao cả). Như đã nói trong phần luận về
kinh Trưởng Lão Danh ở trên, sự ở một mình về phương diện thể xác mà thôi
cũng không phải là tất cả của hạnh độc cư mà Phật tán thán. Ta cũng nên
nhớ rằng Ngài rất dè dặt khi phẩm bình về lời của vị trưởng lão nói về
thói quen thường nhật của ông, và sau đó Ngài tiếp tục giảng dạy ông cách
thức độc cư toàn hảo trong mọi chi tiết là như thế nào. Về điểm này ta có
thể so sánh với kinh Migajàla (Tương Ưng bộ IV 357) trong đó Ngài định
nghĩa hai từ ekavihàri và sadutiyavihàri.
"Này Migajàla, có những hình
sắc do mắt nhận biết, thích thú, dễ chịu, đáng ưa, khoái lạc, liên hệ đến
khoái lạc giác quan và đầy cám dỗ. Nếu một tỷ kheo thích thú đối với
chúng, xác nhận và bám lấy chúng, thì khi ấy, vì ông thích thú, xác nhận
và bám víu chúng, sự thích thú phát sinh (nandi). Khi có sự thích
thú, vị ấy khát khao, và khi khát khao thì có sự trói buộc. Một người bị
trói buộc bởi xiềng xích của sự thích thú, hỡi Migajàla, thì ta gọi là
"một người ở với (kẻ) thứ hai" (sadutiyavihàri) (nghĩa là không còn
độc cư).
Sau khi giảng giải tương tự về
các đối tượng của các giác quan khác, Phật tóm tắt bằng những lời sau đây:
"Hỡi Migajàla, một tỷ kheo sống
như vậy, thì dù vị ấy có đi đến những nơi xa xôi nhất trong núi rừng nơi
không có tiếng động, không ồn ào, nơi vắng bặt bóng người, nơi không bị
người phiền nhiễu- những nơi thích hợp cho sự độc tọa tư duy- mặc dù vậy,
vị ấy vẫn được gọi là "người ở với một (pháp) thứ hai". Vì sao? Bởi vì dục
vọng là "kẻ thứ hai" (bạn) của vị ấy và vị ấy không bỏ được dục vọng. Do
đó, vị ấy được gọi là "Người ở với một kẻ thứ hai"
Người độc cư (ekavihàri)
khi ấy được định nghĩa là vị tỷ kheo không thích thú, không xác nhận hay
bám víu vào những đối tượng của sáu giác quan và như vậy giải thoát khỏi
trói buộc xiềng xích của sự thích thú. Sự tóm tắt của Phật trong trường
hợp này không kém phần hùng biện hơn nhận xét kết thúc của Ngài trong kinh
Nàgita- sự mâu thuẫn giữa chúng chỉ là bề mặt, nếu ta xét kỹ mạch văn.
"Này Migajala, một vị tỷ kheo
sống như vậy thì dù vị ấy có ở trong làng mạc, ở giữa các tăng ni, thiện
nam, tín nữ, vua chúa, đình thần, ở giữa những bậc thầy và đồ đệ các tôn
giáo khác, vị ấy vẫn được gọi là kẻ độc cư. Vì sao? Vì dục vọng là kẻ "thứ
hai" của vị ấy đã bị loại bỏ. Do đó, vị ấy được gọi là một người độc cư."
Loại độc cư lý tưởng được tán
dương trong hai kinh Trưởng Lão Danh và Migajàla cũng là đề tài của các
kinh Bhaddekaratta. Ở đấy phần tóm tắt và lược giải liên hệ đến vị
Bhaddekaratta mà bây giờ ta có thể dịch là "Người yêu sự độc cư lý tưởng"
sự phân biệt của Đức Phật giữa tình trạng độc cư thể xác và độc cư tâm
linh là bằng chứng dồi dào biện minh sự sử dụng tĩnh từ bhadda, và
câu kệ kết thúc, quả vậy, đã cho thấy lời tán dương ấy là của chính đức
Phật.
Evamvihàrim àtàpim- ahorattam
atan ditam
Tam ve bhaddekarattoti-santo
àcikhate muni
"Một người
an trú như vậy một cách tinh tấn
Ngày đêm
không mệt mỏi
Người ấy
bậc tịnh thánh đã gọi là
"Kẻ yêu
thích sự độc cư lý tưởng"
Ýù tưởng của nhan đề tuy không
phải là điểm duy nhất đáng chú ý trong kinh Bhaddekaratta; cả hai phần tóm
tắt và luận giải mặc dù ngắn ngủi, có thể đại biểu cho cốt tủy của chánh
pháp trong tất cả chiều sâu và ý nghĩa của nó. Chẳng hạn trong phần tóm
tắt có hai từ ngữ khó "asamhiram-asamkuppam" có ý nghĩa riêng của
nó. Những điểm này sẽ được đề cập trong phần chú giải, vì tốt nhất nó phải
được thẩm định trong ánh sáng của chính bản kinh.
KINH ĐỘC CƯ LÝ TƯỞNG
Như thế này tôi đã nghe. Một
thời, đức Thế tôn ở nước Xá vệ trong vườn Kỳ thọ Cấp cô độc. Ở đấy, Ngài
bảo các vị tỷ kheo: “Này các tỷ kheo”- “Dạ, bạch đức Thế Tôn,” các vị tỷ
kheo trả lời Phật. Đức Thế Tôn dạy: “Các tỷ kheo, ta sẽ giảng cho các ông
tóm lược và luận giải về người yêu thích sự độc cư lý tưởng. Hãy lắng
nghe, ta sẽ nói.” - “Bạch Thế Tôn, chúng con xin nghe.” Các vị tỷ kheo trả
lời đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói bài kệ này:
“Đừng theo dõi dấu vết quá khứ
Hay khát vọng tương lai chưa
đến
Cái gì đã qua được bỏ lại đằng
sau
Cái chưa đến thì chưa đạt được
Nhưng cái gì thuộc hiện tại,
ngươi hãy quán sát
Bằng tuệ giác khi nó xảy đến
Bất động- không sân
Trong trạng thái ấy người trí
nên tăng trưởng
Ngay hôm nay hãy nỗ lực
Vì ngày mai cái chết có thể
đến- ai biết?
Chúng ta không thể nào điều
đình
Với cái chết đã thu hút vô số
người
Nhưng kẻ nào an trú như trên
một cách tinh tấn
Ngày đêm không mệt mỏi
Thì kẻ ấy bậc Thánh gọi là
“Người Yêu Thích Hạnh Độc Cư Lý
Tưởng.”
Lại nữa, này các tỷ kheo, người
theo dõi dấu vết quá khứ là như thế nào? Vị ấy nghĩ: “Tôi có sắc như vậy
trong quá khứ” và thích thú nghĩ về nó. Vị ấy nghĩ: “Tôi có thọ (cảm giác)
như vậy trong quá khứ” vị ấy thích thú nghĩ về nó. Vị ấy nghĩ: “Tôi có
tưởng (tri giác) như vậy trong quá khứ” và thích thú nghĩ về nó. Vị ấy
nghĩ: “Tôi có hành như vậy trong quá khứ” và thích thú nghĩ về nó. Vị ấy
nghĩ: “Tôi có thức như vậy trong quá khứ” và thích thú nghĩ về nó. Như
vậy, này các tỷ kheo, là người ấy theo dõi dấu vết quá khứ.
Và này các tỷ kheo, thế nào là
người không theo dõi dấu vết quá khứ? Vị ấy nghĩ: “Tôi có sắc như vậy
trong quá khứ” nhưng không thích thú về nó. Vị ấy nghĩ: “Tôi có thọ như
vậy... có tưởng như vậy... có hành như vậy... Vị ấy nghĩ, “Tôi có thức như
vậy trong quá khứ” nhưng không thích thú về nó. Ấy gọi là vị ấy không theo
dõi dấu vết quá khứ.
Và này các tỷ kheo, thế nào vị
ấy khát vọng tương lai? Vị ấy nghĩ: “Tôi có thể có sắc như vậy trong tương
lai” và thích thú về nó. Vị ấy nghĩ: “Tôi có thể có thọ... có tưởng... có
hành ... vị ấy nghĩ, “Tôi có thể có thức như vậy trong tương lai” và thích
thú về nó. Ấy gọi là vị ấy khát vọng tương lai.
Và này các tỷ kheo, thế nào là
vị ấy không khát vọng tương lai? Vị ấy nghĩ: “Tôi có thể có sắc như vậy
trong tương lai” nhưng không thích thú nghĩ về nó. Vị ấy nghĩ: “Tôi có thể
có thọ như vậy... tưởng như vậy... hành như vậy... Vị ấy nghĩ, “Tôi có thể
có thức như vậy trong tương lai” nhưng không thích thú về nó. Ấy gọi là vị
ấy không khát vọng tương lai.
Và thế nào gọi là bị lôi kéo
vào những pháp hiện tại? Ở đây, này các tỷ kheo, một người phàm phu không
được học hỏi, không gần gũi những bậc Thánh, không khéo giải pháp của bậc
Thánh, không luyện tập pháp của bậc Thánh, không gần gũi thiện nhân, không
khéo giải pháp của thiện nhân, không được tu tập pháp của thiện nhân, chấp
“sắc là ngã, ngã có sắc”, chấp “sắc ở trong ngã hay ngã ở trong sắc”.
Người ấy chấp thọ là ngã, thọ có ngã, chấp thọ ở trong ngã hay ngã ở trong
thọ. Người ấy chấp tưởng là ngã, tưởng có ngã, chấp tưởng ở trong ngã,
chấp ngã trong tưởng. Người ấy chấp hành là ngã, ngã có hành, chấp hành ở
trong ngã hay ngã ở trong hành. Người ấy chấp thức là ngã, chấp ngã có
thức, chấp thức ở trong ngã hay ngã ở trong thức. Ấy gọi là bị lôi kéo vào
những pháp hiện tại.
Và hỡi các tỷ kheo, thế nào một
người không bị lôi kéo vào những pháp hiện tại? Ở đây, hỡi các tỷ kheo,
một người môn đệ có học, theo lời dạy của bậc Thánh, khéo giải pháp của
bậc Thánh, luyện tập pháp của bậc Thánh, theo lời dạy của những thiện
nhân, khéo giải pháp thiện nhân, luyện tập pháp thiện nhân, nên không chấp
sắc là ngã hay ngã có sắc, không chấp sắc trong ngã hay ngã ở trong sắc.
Vị ấy không chấp thọ là ngã ... không chấp tưởng là ngã... không chấp hành
là ngã... không chấp thức là ngã, ngã có thức, thức trong ngã hay ngã
trong thức. Ấy gọi là không bị lôi kéo vào những pháp hiện tại.
Hãy đừng theo dõi dấu vết quá
khứ
....
Người ấy bậc Tịnh thánh đã gọi
là
Kẻ yêu thích hạnh độc cư lý
tưởng
Chính để ám chỉ điều này mà ta
nói: “Này các tỷ kheo, Ta sẽ giảng cho các ông tóm lược và luận giải về kẻ
yêu mến hạnh độc cư lý tưởng.”
Đức Thế Tôn nói như vậy, và các
vị tỷ kheo hoan hỉ tín thọ lời Ngài đã dạy.
5. VẤN ĐỀ KHỔ
VUI
Có những tôn giáo
ca tụng khổ đau như phương tiện duy nhất để đạt đến giải thoát, do đó mà
có những trường phái khổ hạnh ép xác, nằm gai nếm mật... trong nhiều tôn
giáo khác nhau. Bởi vì họ cho chính thân xác này là nguồn gốc của tội lỗi,
nên muốn chuộc tội thì phải hành phạt nó cho xứng đáng. Vàø tội lỗi đây là
tội đối với thần linh, đối với những nhân vật vô hình mà họ nghĩ có rất
nhiều quyền uy và cũng như con người, có thương có ghét, đầy đủ thất tình
lục dục, hăng say thưởng thiện phạt ác.
Khuynh hướng tôn
thờ đau khổ còn được tìm thấy trong một số triết gia, thi sĩ, văn sĩ lãng
mạn ở mọi thời, mọi xứ. Những người này cho đau khổ như nguồn thi hứng bất
tận giúp họ sáng tác, do đó họ đi tìm đau khổ, đào bới cho ra khổ đau, để
tìm trong đó một độ sống nồng nàn giữa cuộc đời nhạt phèo vô vị. Cái
khuynh hướng tầm cầu khổ đau ấy đã đẻ ra những văn nghệ sĩ than mây khóc
gió, “không ốm mà rên”.
Khuynh hướng ấy
theo phân tâm học ngày nay là một thứ tâm bệnh, bệnh “tự hành khổ”
(masochism). Như S. Freud mô tả, hạng này luôn luôn cho mình thấp kém, tội
lỗi, xấu xa, gán hết tất cả những gì tốt đẹp, thánh thiện, thanh cao cho
một đấng tối cao rồi quỳ lạy trước đấng ấy để van xin lại một chút ân
sủng, một chút ánh sáng (mà họ đã gán cho vị ấy). Freud đi đến kết luận
rằng, tôn giáo thần quyền là một hình thức tâm bệnh tập thể.
Đức Phật không chủ
trương rằng đau khổ đem lại giải thoát. Nếu khổ đưa đến giải thoát
thì chúng sinh ở địa ngục ngạ quỷ đáng lẽ được thành Phật trước hơn ai cả,
và trâu bò lừa ngựa sẽ giải thoát trước cả chúng ta, bởi vì chúng kéo cày
chở nặng suốt đời. Ngài cũng không tuyên bố rằng chỉ có vui mới đem
lại giải thoát. Nếu vui có thể đem lại giải thoát, thì chúng ta nên bỏ hết
thời giờ để theo đuổi các thú vui cho thỏa thích.
Trái lại, Phật
phân tích hai loại khổ, hai loại vui. Có cái khổ hiện tại đưa đến tương
lai cũng khổ, cái khổ ấy ta nên tránh. Đó là những khổ hạnh theo tà kiến,
như cẩu hạnh, ngưu hạnh (làm như trâu, làm như chó với hy vọng như thế sẽ
được sanh lên trời). Đó là những nghiệp bất thiện của thân, miệng, ý hiện
tại bị người có trí quở trách, tương lai bị sinh vào địa ngục. Nhưng có
loại khổ hiện tại mà đưa đến vui tương lai, cái khổ ấy ta không nên tránh
mà hãy vượt qua. Đó là nỗi khổ của người bình sinh có nhiều tham, sân, si,
khi biết đạo, bắt đầu tu tập, phải cố gắng nhiếp phục chúng. Nỗ lực nhiếp
phục những tánh xấu nơi mình cố nhiên là một nỗi khổ, nhưng cái khổ ấy ta
cần phải vượt qua. không thể vì khổ mà ta không cố gắng, để cho các thói
xấu tiếp tục làm chủ mình.
Vui cũng vậy, có
hai loại vui. Có cái vui hiện tại đưa đến khổ tương lai, vui ấy ta nên
tránh. Như cái vui của sự phóng túng không theo giới luật, cái vui của kẻ
làm ác mà vênh vang tự đắc (gọi là tà mạn hãnh diện về việc ác). Đó
là những cái vui của vô minh, sẽ đưa đến tương lai khổ, khi hành vi tội ác
bắt đầu kết quả. Nhưng ngược lại, có cái vui của hiện tại đưa đến tương
lai cũng vui, cái vui ấy ta nên thực hiện, và thực hiện nhiều lần. Đó là
niềm vui do các việc lành đem lại, do bố thí, trì giới, nhẫn nhục, do
không tham, không sân... đó là cái vui không còn bóng dáng đau khổ, gọi là
“hỷ lạc do ly dục sanh” ở cảnh giới sơ thiền sau khi gột sạch năm triền
cái, phát sanh năm thiền chi (tầm, tứ, hỉ, lạc, nhất tâm) cái vui ở cảnh
giới nhị thiền (hỷ lạc do định sanh), tam thiền (xả niệm lạc trú) và tứ
thiền (xả niệm thanh tịnh). Đó đều là những niềm vui của tịch diệt.
Nói tóm, Đức Phật
không chủ trương nên vui hay nên khổ trên phương diện cảm thọ, nghĩa là
vui khổ trong vòng sống chết. Đúng hơn, Ngài khuyên chúng ta hãy tránh
những khổ vui nào đưa chúng ta càng ngày càng xa sự giải thoát, và đừng
tránh những khổ vui nào đưa ta tới gần giải thoát, niết bàn, là cái vui
tối thượng một cảm thọ siêu thoát ngoài khổ vui thế gian.
6. CHÂN LÝ
CĂN BẢN
Chân lý căn bản đệ
nhất nghĩa, theo lời Phật dạy trong kinh Thắng Man chính là Diệt đế: sự
tiêu diệt khổ một cách triệt để, hay niết bàn- một cảnh giới không còn
bóng dáng tăm hơi của khổ. Nhưng muốn tiêu diệt hoàn toàn cái khổ thì phải
thấy được cái khổ ấy một cách toàn diện đầy đủ mọi khía cạnh, chi tiết.
Như nhổ cỏ phải nhổ tận gốc, diệt khổ cũng vậy, phải biết rõ tất cả gốc rễ
mầm mống hình trạng của nó, mới có thể diệt trừ được nó một cách toàn vẹn,
triệt để. Chỉ có đức Phật mới thấy được toàn diện Khổ đế (chân lý
về khổ) do đó mới biết được toàn diện Tập (nguyên nhân của khổ) tức
sự tích tụ, tập họp những nhận thức mê lầm (hoặc) và những hành
động của thân miệng ý (nghiệp). Nhờ sự biết rõ Tập này một cách
toàn diện mà Ngài mới tu Đạo diệt khổ toàn diện và chứng Diệt
đế toàn diện, Niết bàn thực sự. Thành thử tất cả tùy thuộc vào
trình độ của cái thấy chân lý về khổ có toàn diện hay không. Nếu cái thấy
khổ chỉ ở trình độ lưng chừng, thì cũng chỉ có thể biết Tập một cách cạn
cợt, tu Đạo lai rai, chứng Diệt phiên phiến, nghĩa là chỉ tạm gọi là diệt
mà chưa thực sự là Niết bàn tối hậu Phật đã chứng. Do đó mà có niết bàn
của Thanh văn, niết bàn Duyên giác, khác với niết bàn của Phật. Trên
phương diện tuyệt đối chỉ có một niết bàn, nhưng khi đã nói có ba hạng
niết bàn cũng có thể nói có vô lượng niết bàn trên danh từ tùy theo trình
độ người chứng mà không phải niết bàn thực chất nghĩa là sự tiêu diệt hoàn
toàn cái khổ.
Tại sao như vậy?
Tại vì như đã nói,
chúng ta không thấy được cái khổ toàn diện mà chỉ thấy nó một cách phiến
diện, “phiến diện” ở đây mang nhiều hình thức, tạm phân tích như sau:
1. Khi nghe nói
ĐỜI LÀ KHỔ ta chỉ hiểu đó là những nỗi khổ rõ rệt như tai nạn bệnh tật,
chết chóc nghèo đói. Lối suy nghĩ như thế cũng cạn cợt không khác gì nghe
nói tới “mê sắc” thì chỉ nghĩ sắc phụ nữ. Triết gia Schopenhauer còn cay
cú cho rằng chỉ có người ngu mới gọi đàn bà là phái đẹp. Ông ta ngược lại
bảo nên gọi họ là phái “thiếu thẩm mỹ” (xin lỗi các bà). Từ sự diễn dịch
sai lầm ấy đi đến quan niệm cho rằng nghèo mới khổ, giàu không khổ, bệnh
mới khổ, lành mạnh thì không, chết mới khổ, sống không. Có biết đâu rằng
nghèo khổ một cách, giàu khổ cách khác, bệnh khổ một cách, nhưng không
bệnh khổ cách khác... đó là lối nhìn phiến diện thứ nhất đưa đến sự thiếu
khoan hồng, lòng ganh ghét đố kỵ với những người, hoàn cảnh mình cho là
sướng hơn mình.
2. Ta có thể công
nhận đời khổ, nhưng lại chống chế rằng đời ở chỗ này mới khổ, chỗ kia đâu
có khổ. Do đó mà muốn bồng bế nhau xuống ghe tàu dời chỗ ở, đi đến chỗ
khác mà họ nghĩ là không khổ. Đó là lối nhìn phiến diện thứ hai, chỉ thấy
chỗ này khổ mà không thấy KHẮP NƠI ĐỀU KHỔ.
3. Ta có thể nghĩ
rằng lúc này khổ, lúc khác hết khổ, sẽ sung sướng hơn. Do đó mà ta hy
vọng, đợi chờ, trông ngóng về tương lai, hy sinh hiện tại cho tương lai.
Quan niệm này đưa đến hai thái độ sống đều nguy hiểm như nhau. Một là sống
buông lung trụy lạc vì chán chường hiện tại, xem nó như một cái cầu, một
đoạn đường phải vượt qua càng nhanh càng tốt, một chén thuốc đắng phải
nuốt ực cho xong. Hai là sống ép xác khổ hạnh khó nhọc nai lưng làm lụng
tích tụ tài sản vật chất tinh thần để ngày sau, kiếp sau tọa hưởng. Đó là
vì không thấy toàn diện cái khổ ở vị lai.
4. Ta có thể nghĩ
rằng ĐỜI KHỔ thật đó, nhưng cũng có lúc vui đấy chứ. Như ăn ớt cay, uống
cà phê đắng, mà ta vẫn ưa thích mùi vị đắng cay. Ân ái là ràng buộc mà đa
số vẫn khoái thích hệ lụy cho dù nhiều lúc phải khổ trầy vi tróc vẩy vì
nó. Vì tham tiếc năm giọt mật ngũ dục ta đành chịu lao mình vào vực thẳm
sinh tử luân hồi. Vì ta chưa thấy khổ một cách toàn diện, chưa thấy rõ năm
giọt mật cũng nằm trong khổ (ta tách rời chúng ra), vì ta thấy “trong khổ
cũng có vui” do đó mà ta cứ phải mãi mãi chịu khổ, không bao giờ dứt khoát
được.
5. Ta có thể lý
luận rằng biết cách sống thì không đến nỗi khổ. Sống cách này khổ, cách
khác thì không, hoặc đỡ khổ hơn. Như một viên thuốc đắng nếu biết bọc một
lớp đường ra ngoài thì nuốt cũng được, không tới nỗi khó chịu. Vì lý luận
như vậy mà ta không quyết định thoát khổ với bất cứ giá nào, không thể can
đảm chấm dứt với toàn diện nỗi khổ, sợ rằng sẽ phải đối diện với hư vô.
Như một cái mũi đã quen ngửi mùi xú uế, chỉ biết chọn giữa cái thối nhiều
với thối ít, mà không dám lìa bỏ tất cả vì không biết khi ấy sẽ như thế
nào! Con người cũng vậy, rất sợ hãi một tình trạng mình không biết đến, đó
là cái KHÔNG, bởi vì nó đã quen bị vây phủ bởi những cái có, dù là những
cái CÓ đau khổ, khốn nạn, chẳng ra gì.
Như phẩn uế thối
tha thì dù một chút xíu cũng vẫn thối, KHỔ cũng vậy, phải tiêu diệt toàn
diện, tận cùng, mới được gọi là niết bàn hoàn toàn thanh tịnh. Muốn tiêu
diệt khổ một cách toàn diện, thì ta phải thấy rõ mặt thật của nó ẩn nấp
dưới thiên hình vạn trạng. Ta không được tự đánh lừa bằng những lý luận để
trì hoãn, mà phải can đảm đơn đao trực nhập “một nhảy vào liền đất Như
Lai”.
7. NHẤT ĐẾ
Chân lý chỉ có một, làm gì có
tới bốn? Mà không có bốn thì “một” cũng không cần nói, cho nên danh từ
thích hợp nhất để chỉ Phật pháp là Pháp “không hai”. Vậy mà thông thường,
ta vẫn quen gọi “tứ diệu đế” là “bốn chân lý vi diệu” với chân lý thứ nhất
là KHỔ, chân lý thứ hai là TẬP, v.v.. Có lẽ danh từ Anh ngữ “The Fourfold
Truth” ít gây hiểu lầm hơn; có nghĩa là chân lý có bốn tầng lớp, bốn yếu
tố, bốn giai đoạn thể nghiệm hay bốn gì gì đó cũng được tùy ý, miễn không
phải là bốn chân lý. Nói rõ hơn, tứ diệu đế có nghĩa là bốn giai đoạïn để
đi đến cái chân lý vi diệu cứu cánh, tức niết bàn. Đây là một phương
pháp đức Phật Thích Ca Mâu Ni của chúng ta đã khám phá để thể nghiệm
chân lý tối hậu, Niết bàn, sự dập tắt hoàn toàn cái KHỔ. Phương pháp này
có thể so sánh với phương pháp y học gồm bốn giai đoạn mà mục tiêu tối hậu
là tình trạng vô bệnh, hết hẳn bệnh tật, lành mạnh hoàn toàn. Bốn giai
đoạn ấy là:
· Chẩn đoán bệnh trạng qua
những triệu chứng
· Tìm nguyên nhân của bệnh
· Cách chữa trị
· Sự phục hồi hoàn toàn sức khỏe, sự hết bệnh.
Trong y học, sự chẩn bệnh cho
đúng là điều quan trọng bậc nhất. Định đúng bệnh trạng là đã đi quá nửa
con đường chữa trị, do đó sự chẩn bệnh đứng hàng đầu. Cũng thế, muốn diệt
khổ, đạt tới Niết bàn (tức DIỆT, đứng hàng thứ 3 trong Tứ diệu đế) thì cốt
nhất phải biết rõ cái KHỔ, như muốn hết bệnh thì trước tiên phải biết bệnh
đó là bệnh gì. KHỔ như vậy tương ứng với giai đoạn một trong y học. Tập,
nguyên nhân của khổ là giai đoạn hai. Đạo, con đường đưa đến diệt khổ là
giai đoạn ba. Diệt (hay Niết bàn), sự hết khổ, là giai đoạn cuối cùng, mục
đích tối hậu, vì mục đích này mà có ra ba giai đoạn trước, hệt như trong y
học, sở dĩ phải tìm căn bệnh (1), nguyên nhân (2), cách chữa trị (3), là
vì muốn phục hồi sức khỏe cho con bệnh, đạt đến tình trạng hoàn toàn không
bệnh.
Như vậy trong “bốn diệu đế” có
một sự nhất quán triệt để, cả bốn giai đoạn tương quan mật thiết không thể
tách rời. Sự tách rời ra làm “bốn chân lý” đưa đến những sai lầm trọng đại
trong việc lý giải (hiểu) và hành trì (làm) Phật pháp. Trong kinh Thắng
Man, đức Phật nói rõ chỉ một đế chân thật duy nhất là Diệt đế (thứ ba
trong bốn diệu đế), ba đế kia đều là giả lập, vì Diệt đế mà có ra. So sánh
với y học như trên thì thấy rất rõ.
Những ngộ nhận vì tách rời “bốn
chân lý” rất tai hại không thể nói xiết, trở thành bóp méo xuyên tạc Pháp
Phật. Thông thường nhất là sự lên án: “Phật pháp bi quan yếm thế vì cho
đời là khổ. Thì đấy: Chân lý thứ nhất là Khổ.” Những người lên án như vậy
sẽ nghĩ sao khi đọc kinh Thắng Man về Nhất đế, theo đó chỉ có “chân lý thứ
3”, tức Niết bàn (an vui tuyệt đối) là thật, là cứu cánh?
Nhưng đó chỉ là ngộ nhận của
người ngoại cuộc, không đáng nói làm chi. Đến như Phật tử, có người nghe
nói đến Tập là nguyên nhân của khổ, vội dừng lại ở đây và kết luận: “À,
thì ra mọi cái khổ mình chịu đều do tập quán từ đời trước, do cái “nghiệp”
mình đã gây ra, thì chỉ còn nước rán chịu.” Vì nghĩ như vậy mà mọi sự đều
đổ thừa cho nghiệp, không muốn làm gì để chuyển đổi. Đó là tai hại gây nên
bởi sự hiểu bốn diệu đế một cách phiến diện rời rạc, trong trường hợp này
người ta chỉ chú trọng đến Tập, tách rời nó ra khỏi giáo lý nhất quán của
Thế Tôn, trong đó Tập được nêu lên là cốt chỉ cho ta thấy có con đường
đoạn diệt Tập, nghĩa là đoạn diệt cái nhân của khổ để chấm dứt khổ.
Khi hiểu được Tập và muốn đoạn
diệt nó, có người bước sang giai đoạn tu đạo (Đạo đế) nhưng lại mắc kẹt ở
đây vì chấp vào Đạo đế. Khi tu hành, có người chấp vào giới luật, cho đó
là cứu cánh, không còn gì hơn. Đó là trường hợp những người tu nhờ giữ gìn
giới luật nên được tôn trọng cúng dường, rồi nhân đấy lấy làm tự mãn, nên
không tiến lên được. Có khi người ấy vượt qua được sự tự mãn về giới,
siêng tu thiền định, nhờ giới mà đắc định, do đắc định nên khởi tâm tự
mãn: người này bị kẹt ở định, quên mất cứu cánh của mình là để thoát khổ
chứ không phải để đắc định hay có thần thông. Lại có người vượt qua được
sự tự mãn về định, nhờ không tự mãn nên tu thiền định được rốt ráo, rồi
nhờ thiền định mà phát sinh trí tuệ: ở giai đoạn này họ cũng vẫn có thể bị
kẹt không tiến đến giải thoát, khi khởi tâm cho rằng ta đây có trí, hơn
người, ta biết, kẻ khác không biết. Do đó, người ấy cũng không đạt được
Niết bàn. Trong Kinh Trạm Xe (TBK II), tôn giả Phú Lâu Na giảng cho
tôn giả Xá Lợi Phất nghe bảy giai đoạn đến Niết bàn như bảy trạm xe, không
có giai đoạn nào là tuyệt đối mà chỉ là phương tiện để đến cùng đích là
Niết bàn:
- (1) Giới thanh tịnh là để
được (2) tâm thanh tịnh hay định
- Tâm thanh tịnh là để được (3) đoạn nghi thanh tịnh (hết nghi)
- Đoạn nghi thanh tịnh là để được (4) Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh
(biết phân biệt chính tà).
- Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh là để được (5) Đạo tri kiến thanh tịnh
(biết đường tu, tức 37 pháp trợ đạo)
- Đạo tri kiến thanh tịnh là để đạt đến giai đoạn (6) Tri kiến thanh tịnh
(thấy rõ tứ đế)û . Tri kiến thanh tịnh để đạt (7)Vô thủ trước Niết bàn
(giải thoát hoàn toàn)
Như vậy, giới không phải là
Niết bàn, vì nếu giới là Niết bàn tức là Niết bàn có thủ trước (chấp vào
giới). Tâm thanh tịnh, đạo tri kiến, v.v.. cũng thế, đều không phải Niết
bàn, mà chỉ là những giai đoạn đến Niết bàn. Nói tóm, giới, định và cả tuệ
nữa đều là những giai đoạn, là những phương tiện để đi đến cùng đích là
Niết bàn. Cho nên không thể đắm trước bất cứ giai đoạn nào, dù là tuệ.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm cũng dạy: “Tri kiến lập tri tức vô minh bổn”.
Tự dưng khởi lên cái thấy biết cho rằng ta hay, ta giỏi, ta biết, đó là
cội gốc vô minh.
Trên đây đều là những tệ hại
phát sinh do không quán triệt lý Nhất đế trong Tứ đế, do căn bệnh trầm kha
của con người là ưa chia năm chẻ bảy những gì mà họ tưởng có thể chẻ,
chia, nắm bắt.
Xin lặp lại, đức Phật chỉ dạy
một chân lý duy nhất là Diệt đế, sự diệt khổ, chứng Niết bàn, thành Phật,
như trong Kinh Pháp Hoa Ngài đã dạy: “Ta chỉ vì một đại sự nhân duyên
mà xuất hiện ra đời, đó là chỉ cho chúng sinh tri kiến Phật để ngộ nhập.”
“Tri kiến Phật” đó là thấy rõ chỉ có một cái duy nhất chân thật là Niết
bàn, ngoài ra đều là giả dối hư huyễn. Chứng diệt đế, Niết bàn có nghĩa là
thấy rõ Khổ (phần thứ nhất của Tứ diệu đế). Thấy rõ đây là thấy rõ nó
không thật, chỉ hiện hữu một cách huyễn hóa, giai đoạn. Vì khổ không
thật có nên mới có thể đoạn trừ dễ dàng, nếu khổ là thật thì đoạn cũng
uổng công vô ích mà thôi. khổ không thật có, nhưng ta vẫn thấy rõ ràng có
khổ là vì sao? Tìm nguyên nhân, ta được biết cái sai lầm căn để là do ở
lối nhìn của ta về thân tâm vũ trụ, một lối nhìn lệch lạc bệnh hoạn đã
thành tập quán nhiều đời kiếp. Vậy chỉ cần sửa cái nhìn lại cho đúng, cũng
như hư không vốn không có hoa đốm mà người tự thấy ra có hoa đốm là vì mắt
bị bệnh. Tập đế (phần thứ hai trong Tứ diệu đế)- nguyên nhân của khổ- là
nói về lối nhìn sai lạc ấy, căn để là thấy thật có cái tôi (do đó
có sân), sở hữu của tôi (do đó có tham), thấy có một tự ngã
tiếp tục (do đó có si, chấp chặt cái ngã không nỡ rời). Muốn đoạn trừ lối
nhìn sai lạc ấy cần chữa cái bệnh của con mắt, theo một phương pháp của
Phật dạy là Bát chánh đạo, đó là phần thứ tư trong Tứ diệu đế. Vì
lối nhìn quan trọng như thế nên đứng đầu Bát chánh đạo là chánh kiến:
thấy cho đúng như thật. Thấy đúng như thật thì Niết bàn chân thật được
hiển lộ, Khổ, Tập tự tiêu tan, như khi mắt đã được chữa lành lặn bình
thường thì bệnh mắt (Tập) hết, mắt hết bệnh thì không còn thấy hoa đốm
lăng xăng (khổ) giữa hư không.
Nhưng, Niết bàn, Diệt đế không
phải là kết quả của một cái gì, không phải là một mục đích nằm cuối một
con đường tu đạo cam go đầy gian khổ, mặc dù thông thường ta đều có ảo
tưởng như vậy, và sự trình bày Tứ diệu đế cũng cho ta cái cảm tưởng như
vậy. Niết bàn vẫn ở ngay trước mắt ta, sở dĩ ta không thấy là vì mắt ta
bệnh. Khi mắt ta hết bệnh thì tự nhiên thấy được hình sắc và hư không.
Nhưng không thể nói hư không hình sắc ấy là mục đích, là kết quả
của cái nhìn, vì tự bao giờ cũng như bây giờ chúng vẫn ở đấy, không vì mắt
ta bệnh mà hình sắc biến mất, mắt khỏi bệnh mà hình sắc hiện
lên. Cái thấy có biến, có hiện ấy hoàn toàn là cái thấy chủ quan bệnh
hoạn của con mắt, không dính gì tới hư không và hình sắc. Cũng như Niết
bàn vẫn luôn luôn tại đây: dù ta có biết khổ, đoạn Tập, tu Đạo thì Niết
bàn vẫn ở đó, mà ta không biết Khổ, không đoạn Tập, không tu đạo thì Niết
bàn cũng vẫn ở đó không hề xê dịch biến hiện, không vì không tu mà nó bẩn
đi hay vì có tu mà nó sạch thêm, như lời thâm thúy sau đây của Nam Nhạc
Thiền sư, được Lục Tổ ấn chứng cho là đã ngộ nhập: “Tu chứng tức bất
vô, nhiễm ô tức bất đắc”. Tu chứng thì vẫn phải tu chứng, nhưng nhiễm
ô vốn không có thật. (Điều này tối kỵ để lọt lỗ tai một kẻ ngu, cho nên
các thiền sư thường chọn cách truyền đạt bằng gậy gộc và tiếng quát hơn là
ngôn ngữ dễ gây ngộ nhận.)
Diệt đế, Niết bàn, nói tóm lại
là chân lý duy nhất Phật muốn truyền đạt cho ta chứng nhập, nhưng khốn
nỗi, không có danh từ nào để mô tả Niết bàn, nên thường thường Phật ưa
dùng những từ ngữ phủ định để ám chỉ, khiến người nghe dễ hiểu lầm Niết
bàn là cái gì tiêu cực, thụ động, phi thực: diệt, vô vi, vô tác, vô thủ
trước v.v.. Chúng ta ưa thắc mắc về Niết bàn, muốn biết “nó ra làm sao”
trước khi khởi công tu tập, muốn biết thành Phật thì sẽ “như thế nào”,
nhưng đức Thế Tôn hoàn toàn im lặng về điểm ấy. Thiên kinh vạn quyển ghi
lại 49 năm thuyết pháp của Ngài đều chỉ đề cập đến vô số pháp môn nghĩa là
những cái “cửa” để đi vào Pháp, vào Niết bàn, mà không Kinh nào, lời dạy
nào mô tả Niết bàn là thế nào cả, bởi vì như Kinh Thắng Man dạy: “Niết
bàn siêu việt mọi tư duy mô tả”. Cái đáng nói nhất, cái ta ưa nghe
nhất thì khổ thay, Phật lại không thể nói cho ta được, có lẽ vì vậy mà đức
Thế Tôn dạy “Trong 49 năm thuyết pháp, ta không nói lời nào”. Vì
những gì Ngài dạy chỉ là những cái thuộc “vòng ngoài”, những phương tiện,
những con đường, những pháp môn giúp ta nương theo để tự tu tự chứng. Theo
đúng những đường lối của Phật đã chỉ, ta sẽ chứng được Niết bàn và khi ấy
sẽ biết được “nó ra làm sao”, như ai uống nước ngọt thì chỉ riêng kẻ ấy
biết mùi vị, một người chưa uống thì dù có nghe nói nước ngọt thế này hay
thế nọ cũng không sao biết được, huống chi đối với Niết bàn là cái vượt
ngoài tư duy mô tả?
8. SỐNG TRONG
HIỆN TẠI
Con người đau khổ là vì hoài
niệm quá khứ và mơ tưởng đến tương lai, không bao giờ sống trọn vẹn với
hiện tại. Một kỷ niệm, nếu là chuyện vui đã làm ta vô cùng thích thú, thì
ta ưa làm cho nó sống lại bằng trí tưởng tượng. Chẳng hạn ta hồi
tưởng một cuộc đi chơi núi với những người bạn thân. Ta nhớ đến lúc chuẩn
bị cuộc hành trình, những người tham dự, nhớ đến cảnh đẹp trên những con
đường đã đi qua, nhớ tới khi lên đến đỉnh núi, nhìn thấy cảnh trí đẹp như
thế nào, nhớ những lời nói, động tác của những người bạn trong lúc đó. Dĩ
vãng trở về trong vòm trời tâm thức ta như một khúc phim sống động làm ta
say mê, đắm chìm trong đó, không còn biết gì tới hiện tại với những tiếng
động chát chúa khó ưa: tiếng ồn của xe cộ, của người, của vật, của ống loa
phóng thanh, của toàn những thứ "oan gia tụ hội"! Đó quả thực là một cách
trốn chạy hữu hiệu không khác gì một liều thuốc an thần, một cuộc rượu,
một ván bài, một trò giải trí, hay một thời tham thiền nhập định, nếu
thiền định đây chỉ là "làm trống không cái tâm, không nhớ nghĩ". Bởi vì
chung quy đó đều là những phương tiện tạm thời giúp ta chạy trốn thực tại
trong chốc lát, cái thực tại đau khổ mà ta muốn thoát ly.
Nhưng dù ta có thể làm sống lại
quá khứ linh động đến bao nhiêu, nó thực sự vẫn là một cái xác chết. Không
thể tránh được cái lúc ta phải trở về với thực tại trước mặt, một sự thực
cay đắng. Càng vui với hoài niệm bao nhiêu, ta càng khổ khi bừng tỉnh
trước thực tại bấy nhiêu, khi mà:
"Bừng con mắt dậy thấy mình tay
không"
Con người càng sống với hoài
niệm nhiều bao nhiêu thì càng dễ điên loạn bấy nhiêu. Quá khứ dần dần đối
với họ biến thành một ám ảnh, họ sống trong một cảnh mà danh từ duy thức
gọi là "Độc ảnh cảnh", cái cảnh chỉ có một mình họ thấy bằng tưởng tượng
thêu dệt.
"Khi mơ những tiếc khi tàn!"
mộng càng đẹp bao nhiêu, càng làm ta khoái ý bao nhiêu, thì khi tỉnh mộng
ta càng ngẩn ngơ, tiếc rẻ đau khổ bấy nhiêu trước cảnh thực phũ phàng.
Không có một cuộc tỉnh mộng nào mà không đem lại đau khổ, dù mộng ấy là
mộng đẹp hay ác mộng. Những người "mơ mộng giữa ban ngày" nghĩa là ưa làm
sống lại một hoài niệm hạnh phúc, sẽ phải đau khổ thốt lời than như
Chateauriand:
Revenez, revenez, ô mes
tristes pensées
Je veux rêver et non pleurer
(Hãy trở về hiện tại, hỡi những hoài niệm u buồn
Tôi chỉ muốn mộng mơ, mà không muốn khóc)
Nhưng đã mơ mộng với quá khứ
thì đương nhiên phải khóc với hiện tại, đó là chuyện không thể tránh. Bởi
vì khi mộng tưởng như vậy, con người thường đắm mình trong sự say sưa. Đó
là một thái độ bám víu, ghì giữ lấy quá khứ, làm sống lại nó để quên đi
thực tại.
Nghĩ tưởng về tương lai với
niềm hy vọng, khát khao cũng là một thái độ trốn chạy thực tại không khác
hoài niệm quá khứ. Khi một viễn tượng tương lai làm ta khoái thích, ta
hình dung nó trong trí với tất cả những chi tiết, đến một độ ta hoàn toàn
quên bẵng hiện tại. Đó là thái độ của cô bé Pérette trong truyện ngụ ngôn
của Lafontaine. Cô bé đội một bình sữa đi bán, giữa đường cô nghĩ tới lúc
bán được tiền sẽ mua một con lợn về nuôi. Lợn sẽ lớn nhanh, béo mập, khi
lợn đẻ ra một bầy lợn con thì sẽ đem bán được một món tiền to. Với món
tiền ấy cô sẽ mua một con bò, còn thừa tiền mua một thêm một con bê xinh
xắn. Con bê sẽ nhảy tung tăng khắp nhà, thật đáng yêu biết mấy. Nghĩ tới
đây cô khoái trá nhảy lên như con bê trong trí tưởng. Bình sữa đội trên
đầu rớt xuống vỡ tan tành. Thế là vốn liếng đi đời nhà ma! Đó là hậu quả
dành sẵn cho người nào quá mơ mộng về tương lai, làm cho hiện tại của mình
phải hỏng bét như bình sữa vỡ tan tành.
Như vậy hoài niệm quá khứ, mơ
tưởng vị lai đều là hai thái độ nguy hiểm. Chỉ còn cách an vui là sống với
hiện tại hiện tiền. Nhưng làm sao để sống hoàn toàn trong hiện tại? Điều
này dường như bất khả, vì cái tâm con người luôn luôn hoạt động dù trong
giấc ngủ. Mà nó đã hoạt động thì không nghĩ về tương lai cũng đoái tưởng
quá khứ. Ký ức là một phần tất yếu của tâm thức con người, không thể nào
phủ nhận. Có người, vì ký ức dĩ vãng làm họ đau khổ, thường tìm cách để
quên. Nhưng càng cố quên, nó lại càng hiện rõ. Cố quên một hoài niệm khổ
cũng là thái độ điên đảo không khác gì làm sống lại một hoài niệm vui: hai
hạng người này đều có mặt tại dưỡng trí viện. Có những người điên, đúng
giờ ngày tháng đó trong năm, thì nổi cơn điên loạn. Đó là do họ đã tự ức
chế, không muốn nhớ lại một hoài niệm đau buồn vào ngày, tháng, giờ đó.
Chính sự đè nén đó đã ăn sâu vào tiềm thức, làm họ trở thành điên loạn.
Như thế thì chúng ta rơi vào
ngõ bí không thể thoát chăng? Bởi vì nhớ cũng không được mà quên cũng
không xong. Vậy thì ta phải sống làm sao với cái "của nợ ký ức" này? Vả
lại ta làm sao chối bỏ hoàn toàn quá khứ! Kinh nghiệm cũng là do ký ức quá
khứ, nếu không có ký ức thì không luôn cả cái kinh nghiệm đang giúp ta
sống trong hiện tại. Khi đó, có lẽ chúng ta không khác gì trâu bò, chúng
cũng sống không có hoài niệm dự tưởng gì ráo. Dự tưởng về tương lai cũng
vậy, làm sao ta có thể sống trong hiện tại nếu không có một ít bảo đảm tối
thiểu về tương lai? Một đời sống mà không nhớ gì đã qua, không tự tính
việc gì chưa đến, thì có lẽ không khác gì cỏ cây, ngói đá, súc vật cả. Có
phải đạo Phật khuyên ta trở về với một lối sống như vậy không ?
Trái lại, thiền định của Phật
giáo có năng lực phát triển trí nhớ (niệm lực) đến mức độ triệt để, làm
cho người ta có thể nhớ tới không những tuổi thơ của mình đời này mà còn
có thể nhớ đến nhiều đời trước với đầy đủ các chi tiết: chủng tộc, quê
hương, cha mẹ, đồ ăn, tuổi thọ v.v.. Không những có thể nhớ đến vô số kiếp
quá khứ của mình, túc mạng minh, mà còn có thể nhớ quá khứ của
người khác gọi là thiên nhãn hay sinh tử trí, những thần
thông mà Phật có được khi đắc quả.
Như vậy, có thể nói tu là phát
triển toàn bộ tâm thức, trong đó có trí nhớ, chứ không phải cố quên. Cố
quên hay cố nhớ, do vui hay buồn, do tư dục thúc đẩy, do sự trốn chạy thực
tế thúc đẩy, mới là tâm bệnh. Bởi vậy, chính thái độ khoái thích đắm say,
hay thái độ xua đuổi tránh né mới là điểm đáng phàn nàn trong lúc nhớ về
dĩ vãng hay dự phóng tương lai. Một vị A la hán cũng có thể diễn tả một
hoài niệm quá khứ hay một dự phóng tương lai, nhưng vị ấy không thích thú,
không có thái độ bám víu hay xua đuổi của người thường đối với hoài niệm,
dự phóng ấy. Chính nhờ thái độ vô dục, giải thoát đối với hoài niệm, mà
Phật có thể bình thản nhớ lại vô số tiền kiếp của mình: "Tại chỗ kia,
Ta đã sinh ra, dòng họ như vậy, màu da như vậy, ăn đồ ăn như vậy, thọ khổ
lạc như vậy... Ta nhớ đến một đời, hai đời... Cho đến trăm ngàn đời...."
(kinh Trung Bộ I) Nếu chúng ta có thể gợi lại một kinh nghiệm khổ vui của
mình trong quá khứ với một thái độ vô dục như Phật nhớ các tiền kiếp của
ngài, không xen lẫn vui buồn, không bám bíu, không thích thú, tức là ta đã
giải thoát khỏi những ràng buộc của dĩ vãng và vị lai. Sống trong hiện tại
có nghĩa là làm chủ được tâm thức mình, rõ biết những khởi tâm động niệm
của mình trong giây phút hiện tại, không để bị lôi kéo về dĩ vãng hay
tương lai ngoài sự kiểm soát của mình, nghĩa là một cách vô thức. Cái gì
lôi kéo tâm trí ta trở về quá khứ hay khát vọng tương lai? Chính là
chấp thủ, sự bám víu.
9. THÁNH ĐẠO
Thánh đạo là con đường của bậc
Thánh, lối sống của con người đã sạch hết nhiễm ô. Nó còn có nghĩa là con
đường mà phàm phu chúng ta phải đi theo nếu muốn từ bỏ địa vị phàm phu,
trở nên một Con người như bậc Thánh. Con đường ấy gồm có tám cái (chánh)
mà thuật ngữ Phật học gọi là Bát chánh đạo đối với một vị hữu học, và đối
với bậc vô học A la hán thì còn thêm hai “chánh” nữa là chánh trí và chánh
giải thoát.
Kinh Đại tứ thập thuộc
trung bộ kinh III rọi nhiều ánh sáng mới mẻ về con đường tám chánh mà ta
sẽ bàn đến trong bài này qua ba điểm dưới đây:
I. Liên hệ nhân quả trong Bát chánh đạo
Trong con đường tám chánh, có một liên hệ nhân quả mật thiết như
sau:
1. Chánh kiến đưa đến
hậu quả là chánh tư duy. Do thấy chánh mà suy nghĩ được chánh. Muốn
suy nghĩ đúng thì cần phải thấy cho đúng.
2. Chánh tư duy đưa đến
chánh ngữ. Do suy nghĩ chân chánh mà nói ra lời cũng chân chánh. Nếu
nghĩ bậy thì không thể nói đúng. Lời nói như vậy là thước đo của tư tưởng.
Phát ngôn bừa bãi là do suy nghĩ lộn xộn, nếu “chánh” lại được cái nghĩ,
thì sẽ tránh được sự nói bậy.
3. Chánh ngữ đưa đến
chánh nghiệp. Nghiệp đây là hành động, việc làm thường ngày của chúng
ta. Do lời nói chánh, ta sẽ có những hành động chân chánh. Nếu nói chánh
mà làm bậy, thì sự nói chánh đó không thực là chánh, chỉ như vẹt nói, máy
nói, vì không phát xuất từ tư duy chân chánh. Như vậy thân nghiệp thanh
tịnh là do ý nghiệp và ngữ nghiệp được thanh tịnh. Việc làm chánh đáng là
do bởi đã nghĩ chánh và nói chánh.
4. Chánh nghiệp đưa đến
chánh mạng. Mạng đây là nghề nghiệp nuôi sống bản thân, cách duy trì
mạng sống của mình. Hành động chân chánh hay việc làm chân chánh đưa đến
nghề nghiệp chân chánh, nghĩa là sự nuôi sống một cách chánh đáng. Điểm
này rất ý nghĩa. Một người suốt đời chỉ biết đan giỏ thì cũng sẽ sinh sống
bằng nghề đan giỏ, không thể làm việc gì khác, cũng không ai mướn anh ta
làm việc khác, vì biết có giao cho anh ta làm việc gì khác, anh ta sẽ làm
không xong. Như vậy, nếu ta có bị cưỡng bức làm môït điều gì thì chính vì
ở trong con người của ta còn có cái khả năng làm việc đó mặc dù
chưa hề thi thố. Một người đã diệt hết tiềm năng giết hại- nghĩa là một
bậc A la hán- thì không thể nào cầm đến gươm đao súng ống, mà cũng không
ai bắt buộc được vị ấy phải giết người, dù người đó đã giết cha mình đi
nữa. Điều đơn giản là vị ấy không thể sát hại chỉ có thế mà
thôi. Không có lý luận đắn đo suy nghĩ dông dài như sát hại là xấu ác,
không sát hại là cao thượng, trường hợp này nên trả thù, không nên trả thù
v.v.. Hành động không trả thù của vị A la hán, hay đúng hơn sự vô hành
của vị ấy cũng tự nhiên như hít thở không khí, không còn bóng dáng của tư
tưởng, cân nhắc như trường hợp người thường. Người thế gian thường phải
cân nhắc, là vì có hai trường hợp chọn lựa, hoặc giết hoặc không giết. Vì
còn khả năng giết hại, nên ở trong trường hợp này, một người thế tục phải
đắn đo đến cả bạc tóc (như đắn đo có nên giết kẻ thù đã hại cha mình
không), và dù họ quyết định giết hay không, họ vẫn bị mối xung đột nội tâm
dằn vặt: nếu giết thì sẽ hối hận hành vi tàn bạo tiểu nhân của mình, không
giết thì sẽ ăn năn đã bỏ lỡ một dịp báo thù, đã không làm tròn chữ hiếu.
Một bậc A la hán đã dứt sạch nghiệp sát thì không bao giờ phải sống trong
nỗi xung đột ấy, vì nơi vị này chỉ còn một con đường, không có chọn lựa.
Vị ấy đã dứt sạch nghiệp sát giống như một người đã cụt hai chân không còn
đi được nữa, hay như ví dụ Phật dạy về ngọn cây ta la đã bị chặt đứt thì
không thể mọc lại. Bởi thế ta không thể trách cứ vị ấy bất hiếu vì đã
không báo thù, cũng như không thể trách một người cụt chân sao không chạy
cứu người chết đuối. Không ai có thể trách cứ vị ấy, mà chính thân tâm vị
ấy cũng không còn sự cắn rứt dằn vặt giữa hai con đường, như trường hợp
một người thường tình. Bởi vì vị ấy chỉ có một con đường độc nhất là không
giết hại.
Đặt ngược lại vấn đề, ta có thể
suy ra rằng, nếu chúng ta phải sống trong hoàn cảnh bị buộc làm nghề ác
(mạng sống không chánh), là chính vì chúng ta có khả năng làm ác. Vậy muốn
chánh mạng, có nghề sinh nhai chân chánh- ta phải chánh nghiệp, nghĩa là
không làm những việc hại mình hại người. Nói theo Duy thức, đây là "hiện
hành sinh chủng tử", hành động phát sinh tiềm năng.
5. Chánh mạng đưa đến
chánh tinh tiến. Khi làm một việc gì suốt cả đời, sống bằng việc đó
thì sẽ tinh vi trong công việc, như một người chơi đàn ngày nào cũng chơi
thì ngón đàn hàng ngày càng điêu luyện. Đây là "chủng tử sinh hiện hành"
trong duy thức: do nghề nghiệp của một người là gảy đàn mà vị ấy siêng gảy
đàn và dễ tiến bộ về đàn.
6. Chánh tinh tiến đưa
đến chánh niệm. Do siêng năng thường làm một công việc, mà tâm ta
luôn luôn nhớ nghĩ đến công việc ấy, không nghĩ việc gì khác. Đây là "hiện
hành huân tập chủng tử", nghĩa là do hành động thường xuyên đưa đến sự nhớ
nghĩ thường xuyên về hành động ấy.
7. Chánh niệm đưa đến
chánh cuối cùng là
8. Chánh định. Do thường
nhớ nghĩ chân chánh mà sự tập trung tâm ý cũng chân chánh, dễ tập trung
vào điều chánh. Như một người thường nhớ nghĩ về lòng từ mỗi lúc đi đứng
nằm ngồi, thì khi thiền định, quán về tâm từ sẽ mau đắc định. Những pháp
tu khác cũng vậy, cho nên muốn dễ tập trung tâm ý trong khi ngồi thiền,
thì bình thường lúc đi đứng nằm ngồi ta cần phải chánh niệm. Phương pháp
Phật dạy liên quan đến việc này là "thân hành niệm": muốn dễ đạt định
trong lúc ngồi thiền, vị tỷ kheo suốt ngày trong bốn uy nghi đi đứng nằm
ngồi cần luôn tỉnh giác. Nhờ thường sống trong sự tỉnh giác, vị tỷ kheo dễ
dàng đạt định khi tọa thiền, dễ thành tựu các phép quán.
II. Ba "chánh" nòng
cốt
Lại nữa, theo lời Phật dạy
trong kinh Đại tứ thập, trong bát chánh đạo có ba cái chánh nòng
cốt đi kèm theo, xoay quanh mỗi chánh còn lại. Nói khác đi, muốn thành tựu
một chánh nào trong tám chánh, đều phải có ba cái chánh khác kèm theo, đó
là: chánh kiến, chánh niệm và chánh tinh tấn.
Ví dụ, chánh tư duy là suy nghĩ
chân chánh, thì trước hết phải có chánh kiến để biết rõ thế
nào là suy nghĩ chánh, thế nào là suy nghĩ tà, mới có thể chọn lựa ý nghĩ
chánh, loại bỏ tư tưởng tà. Nhưng biết phân biệt chánh tư duy và tà tư duy
cũng chưa đủ để tạo thành chánh tư duy trong ta nếu ta không luôn luôn nhớ
nghĩ như vậy. Mặc dù biết rõ nghĩ thế này là tà, thế kia là chánh, những
tư tưởng tà vẫn có thể khởi lên những lúc bất giác, thường biểu hiện qua
mộng mị. Có người lúc tỉnh thức không bao giờ nổi sân, nhưng chiêm bao
thấy mình dang tay đánh người. Đó là thường ngày chánh niệm đôi lúc tuột
khỏi tâm vị ấy, khiến tà niệm -và tà nghiệp kèm theo- tìm cách bộc phát
trong khi vị ấy không kiểm soát được tâm mình. Vậy muốn chánh tư duy được
thành tựu, cần phải có thêm một yếu tố ngoài chánh kiến, là chánh
niệm nghĩa là luôn luôn nhớ nghĩ đến thế nào là chánh tư duy, thế
nào là tà tư duy. Rồi cần một cái chánh thứ ba nữa để hỗ trợ cho việc
thành tựu chánh tư duy, đó là chánh tinh tiến. Khi đã biết
rõ và nhớ nghĩ đến chánh tư duy, vị ấy còn phải siêng năng loại trừ những
tư tưởng xấu và phát triển những tư tưởng tốt.
Các ngành khác trong bát chánh
đạo cũng vậy. Như muốn chánh ngữ thì phải có chánh kiến để
phân biệt chánh ngữ và tà ngữ, phải có chánh niệm để luôn
luôn nhớ thế nào là chánh ngữ, thế nào là tà ngữ, và có chánh tinh tiến để
siêng năng loại trừ tà ngữ, thực hành chánh ngữ. Chánh nghiệp
bao gồm chánh kiến để phân biệt tà nghiệp và chánh nghiệp, chánh
niệm để nhớ nghĩ thường xuyên đến chánh nghiệp, và chánh
tinh tiến để siêng năng từ bỏ tà nghiệp thực hành chánh nghiệp
v.v..
III. Chánh thế gian và chánh xuất thế
Trong kinh Đại tứ thập, đức Phật còn phân biệt hai loại chánh trong
bất cứ ngành nào của Bát chánh đạo, đó là chánh thế gian và chánh xuất thế
gian. Chánh thế gian là cái chánh thuộc quả báo hữu lậu, đem lại quả
phước, còn chánh xuất thế gian thuộc vô lậu, thuộc trí tuệ, là sở hành của
bậc thánh. Ví dụ chánh kiến có hai thứ: chánh kiến thế gian và chánh kiến
xuất thế gian. Chánh kiến thế gian là thấy rõ nhân quả: sát sanh, trộm
cắp, dâm dục, vọng ngữ... cộng chung mười bất thiện nghiệp là ác pháp, đưa
đến cõi dữ, địa ngục. Do chánh kiến ấy mà từ bỏ mười bất thiện nghiệp để
hưởng thụ phước báo cõi trời người. Còn chánh kiến xuất thế gian là cái
thấy thuộc đạo đế, vượt trên lý nhân quả. Nói rõ hơn, chánh kiến xuất thế
là cái thấy của trí Bát nhã soi rõ cái một, rằng 10 bất thiện nghiệp là
chuyện không thể làm, không phải vì sợ làm như vậy sẽ bị chê, bị tù, bị
đọa địa ngục v.v.. như ví dụ người cụt hai chân đã nói trên. Chánh kiến
xuất thế gian thuộc đạo đế cũng vậy, như ngọn đèn pha rực sáng ban đêm
chiếu rõ từng kẽ tóc chân tơ mọi sự vật, nên không còn lý luận dài dòng
theo hệ thống nhân quả.
Chánh tư duy thuộc thế gian là
tư duy vô sân vô hại đưa đến phước báo cõi trời người, chánh tư duy thuộc
xuất thế gian là tư duy đã thuần thục trong sự viễn ly dục tâm, sân tâm,
hại tâm.
Tất cả sáu chánh kia cũng đều
như vậy, được phân biệt ra chánh thế gian và chánh xuất thế gian như trên.
Chánh thế gian tóm lại là cái chánh tương đối, thuộc phước báo, còn cái
chánh xuất thế gian là chánh tuyệt đối, thuộc trí tuệ, nghĩ là cái chánh
siêu việt đối đãi, không còn phải chọn lựa, không còn nỗ lực cố gắng,
thuộc vô lậu thiện, thuộc thánh tâm. Cái chánh này không gây ra xung đột
mâu thuẫn nội tâm như trường hợp chánh thế gian. Như trên đã nói, một bậc
Thánh sở dĩ không sát hại, nói dối, tà hạnh, không phải là vì sợ rằng
những nghiệp này đưa đến quả báo xấu, mà chỉ vì vị ấy không thể nào làm
những việc như vậy, trên thực tế cũng như trong tiềm năng. Có thể nói,
chánh thế gian và chánh xuất thế là hai cái chánh khác nhau về cường độ
chứ không phải về bộ loại. Không thể có chuyện bỏ chánh thế gian mà chỉ
theo chánh xuất thế, vì chánh xuất thế bao gồm cả chánh thế gian. Nhưng
ngược lại thì không đúng, nghĩa là chánh thế gian không bao gồm được chánh
xuất thế. Không thể không từ bỏ sát đạo dâm mà có thể đạt đến những cái
chánh xuất thế, nhưng từ bỏ sát đạo dâm chưa chắc đã đưa đến xuất thế,
nghĩa là vẫn còn trong sinh tử, chỉ được sinh vào những cõi tốt hơn mà
thôi.
Một điểm cuối cùng đáng lưu ý
là, chúng ta là những người con Phật, đấng Phước Trí vẹn toàn, thì không
thể lơ là khía
cạnh nào trong hai khía cạnh
Phước và Trí, mà phải đào luyện song song cả hai mặt để kiện toàn sự giác
ngộ. muốn thế, ta ph