Ý
Tình Thân
Thích Trí Siêu
Tùng Lâm Linh Sơn, Rancon, Pháp quốc, 2002
--- o0o ---
(Phần 9 - 12)
Con đường chuyển hóa
Tu hành có nhiều hình thức và trình độ, tựu chung
người ta thường phân chia ra hai loại: tu phước và tu huệ. Tu phước là
làm phước, bố thí cúng chùa, công quả, giúp đỡ tha nhân. Tu huệ là nghiên
cứu kinh điển, học hỏi giáo lý, thiền định và quán chiếu. Phước và huệ đều
cần thiết cho người tu nhưng chúng ta nên nhớ Đạo Phật là đạo cứu khổ, đức
Phật chỉ dạy về khổ và con đường diệt khổ. Do đó nếu tu đúng theo đạo Phật
thì phải hưởng được ít nhiều hương vị giải thoát, bớt khổ và hạnh phúc
hơn.
Muốn hết
khổ chúng ta cần phải nhận diện và hiểu rõ tiến trình của phiền não, của
Ý, Tình, Thân hay của vọng tưởng, vọng tình, vọng nghiệp, và tìm cách
chuyển hóa chúng.
Trong kinh Lăng Nghiêm có kể chuyện anh chàng Diễn
Nhã Đạt Đa, một hôm soi gương thấy mặt mình hiện trong gương, rồi bỗng suy
nghĩ cho là mình mất đầu (vọng tưởng), đâm ra hốt hoảng (vọng tình), chạy
khắp nơi đi tìm cái đầu (vọng nghiệp).
Anh Ba là người bạn thân của tôi hồi còn ở Trung
Học. Sau khi lập gia đình, chúng tôi ít có dịp gặp lại nhau. Một hôm rảnh
rang không đi làm, ngồi nhà suy nghĩ vẩn vơ, tôi chợt nhớ đến anh Ba
(tưởng), rồi tự nhiên bao nhiêu kỷ niệm vui buồn xa xưa trào lên (tình),
và tôi cảm thấy thèm gặp lại người bạn cũ hết sức, thế là tôi đứng dậy cầm
điện thoại gọi anh Ba tới chơi (nghiệp).
Tiến trình chuyển hóa
Trong quá trình hành đạo, tôi thấy nhiều phật tử
đến chùa kể lể nỗi khổ của mình và mong được thầy hay cô chỉ dạy cách tu.
Nhưng phần đông những câu trả lời đều tương tựa như sau :
-
ráng về
tụng kinh, niệm phật nhiều sẽ hết khổ.
-
chịu khó
nhẫn nhục chịu đựng để trả nghiệp.
-
tập ngồi
thiền hoặc trì chú thì sẽ bớt khổ.
-
nên đi
chùa công quả làm phước thì nghiệp mau hết.
-
v.v...
Và ít có ai để ý tới nguyên nhân của
khổ, ai cũng đầy thiện chí đưa ra một viên thuốc trị bá bệnh. Người phật
tử nghe lời làm theo nhưng không thấy thuyên giảm:
-
con niệm
Phật nhiều nhưng còn buồn giận hoài.
-
con siêng
năng tụng kinh nhưng sao cứ nhớ tới người chồng phụ bạc.
-
con ngồi
thiền đều đặn nhưng trong tâm vẫn nơm nớp lo sợ đủ thứ chuyện.
-
v.v...
Người tu
pháp môn Niệm Phật là để cầu về Cực Lạc chứ đâu nhằm mục đích chuyển hóa
buồn giận. Đức Phật A Di Đà đâu có nói niệm danh hiệu của ta thì sẽ hết
giận hết buồn mà ngài nói người nào chăm niệm danh hiệu của ngài thì lâm
chung ngài sẽ đến tiếp độ về Cực Lạc. Tụng kinh nhiều mà còn sân hận là vì
người này chỉ lo tu tụng chứ đâu có tu sửa, kinh Phật là để học để hiểu
rồi áp dụng tu tâm sửa tánh, thoát ly chấp trước sân hận. Ngồi thiền là
trở về tiếp xúc với thân tâm mình, thấy được niềm đau nỗi khổ để chuyển
hóa chứ không phải chạy trốn vào một cảnh giới khác.
Trong bài
sám Tịnh Độ của Nghi Thức Tụng Niệm có câu: "chúng con khổ, nguyền xin cứu
khổ, chúng con khổ, nguyền xin tự độ". Theo Tứ Diệu Đế thì ta phải biết
rõ về Khổ, rồi tìm nguyên nhân của Khổ, sau đó mới nói đến chuyện cứu khổ
hay diệt khổ.
Sau
đây là sáu giai đoạn chuyển hóa phiền não :
1)
Nhận diện
và ghi ra những tánh (xấu) thường gây cho mình khổ đau.
2)
Lựa ra
tánh (xấu) hay làm phiền mình nhất và quyết tâm sửa tánh (xấu) này trước.
3)
Truy tìm
vọng tưởng (ý nghĩ) nào đã đưa đến tánh xấu đó.
4)
Chuyển Ý:
thay thế tư tưởng sai lầm cũ (vọng tưởng), bằng tư tưởng mới.
5)
Chuyển
Tình: tập phát triển tình cảm, đức tính mới, ngược lại với tánh xấu cũ.
6)
Chuyển
Thân: thực hiện những lời nói, cử chỉ, hành động tương ưng với Ý tưởng
mới.
1)
Nhận diện và ghi ra những tánh xấu
Tánh xấu ở đây có nghĩa là những tư tưởng, vọng
tình, tập khí làm cho ta phiền não đau khổ. Muốn nhận diện được chúng thì
cần phải có chánh niệm. Chánh niệm là tỉnh giác ghi nhận
những gì đang xảy ra trong hiện tại, ngay nơi thân tâm mình, bây giờ và ở
đây. Chánh niệm (samma-sati) tương đương với Như thật kiến
(yathabhutadassana) tức sự vật như thế nào thì thấy đúng như thế nấy,
không phê phán hay thêm bớt, cách nói hiện đại theo Tây Phương là "thấy
sự vật như chúng là" (see things as they are, voir les choses comme
elles sont).
Thí dụ khi
thấy trời mưa thì ta nói trời mưa, đó là chánh niệm. Còn thấy trời mưa mà
nói là trời xấu thì không phải chánh niệm, vì có sự phân biệt tốt xấu xen
vào nên không còn là ghi nhận đúng như thật nữa.
Thí dụ khác: vào chùa tôi thấy anh Tư đang nói
chuyện lớn tiếng với bà con cô bác. Nếu ghi nhận anh Tư đang nói lớn
tiếng, đó là chánh niệm. Còn nếu ghi nhận anh Tư là người thô lỗ thì đó là
phê phán, không phải chánh niệm.
Có thấy rõ và ghi nhận những gì đang xảy ra nơi
thân tâm mình thì mới tu sửa được. Nói tu mà khi sân không biết mình sân,
buồn không biết mình buồn, kiêu mạn không biết mình kiêu mạn, v.v... thì
làm sao tu sửa được?
Nếu không có thời giờ tu tập thiền quán mỗi ngày,
ta có thể ghi ra giấy hoặc ghi vào một cuốn sổ tay, ghi như vậy để thấy rõ
hơn. Chúng ta lo ghi chép sổ sách tiền bạc, công việc làm ăn buôn bán,
v.v... nhưng việc trọng đại hạnh phúc của đời mình thì lại bỏ quên.
Trong ngày có rất nhiều tâm tưởng, tánh tình, tập
khí khởi lên không ngừng, cái này chưa đi thì cái kia đã tới. Vừa vui được
hai phút thì sau đó lại giận, hết giận đến buồn, hết buồn thì lo, hết lo
đến sợ, v.v... Mỗi khi có tâm trạng buồn phiền, khó chịu, ta phải tập nhận
diện ngay.
Ta không thể ghi chép hết những vọng tưởng và vọng
tình khởi lên trong ngày, nhưng có thể ghi lại những tư tưởng hay vọng
tình nào thường khởi lên và làm phiền ta nhiều nhất.
Thí dụ những tánh xấu sau đây thường khởi lên trong
tôi:
Tham lam, giận hờn, ganh tị, kiêu căng, khinh
người, thích chê bai kẻ khác, khoe khoang, ích kỷ, cố chấp, lười biếng,
độc tài, nói nhiều, nhút nhát, cứng đầu, hay lo, nóng nảy, hay khóc, tủi
thân, đa nghi, mặc cảm, v.v...
Bài tập
:
-
Tìm và ghi
ra 5 tánh xấu nơi mình. Nếu tìm không ra thì có thể nhờ người quen (như
anh em, bạn bè) chỉ giúp.
-
Tìm và ghi
ra 5 tánh tốt nơi mình. Cái này tập cho ta tìm lại chủng tử tốt sẵn có của
mình để phát triển sau này.
-
Ghi ra 5
tánh xấu mà mình ghét nhất nơi kẻ khác. Ghi ra như vậy để tránh đừng phạm
vào những lỗi đó chứ không phải để chỉ trích hoặc tăng lòng thù ghét.
-
Ghi ra 5
tánh tốt mà mình thích nhất nơi kẻ khác. Cái này tập cho ta nhìn thấy điều
tốt nơi kẻ khác. Và nếu những tánh tốt này mình chưa có thì tập phát triển
chúng.
2)
Lựa ra một tánh xấu để sửa
Trong những tánh xấu nêu ở trên, thí dụ cái tánh
hay nóng giận làm tôi khó chịu, khổ sở nhất nên tôi muốn sửa nó trước. Vì
nó mà tôi ăn không ngon, ngủ không yên, trong lòng bức rức, không thích
giao thiệp với ai, vì hễ ai mà nói trái ý là tôi nổi giận liền. Thấy mặt
ai cũng khó ưa và nghi ngờ người ta nói xấu tôi, lường gạt tôi, hãm hại
tôi, v.v...
Thông thường chúng ta có nhiều tánh xấu, nhưng tất
cả đều liên quan với nhau vì thế nếu sửa một tánh xấu (cầm đầu, mạnh nhất)
thì những tánh xấu kia sẽ tự nhiên tiêu giảm. Sau khi biết cách chuyển hóa
một tánh rồi thì sẽ dễ tu sửa những tánh khác.
Tu sửa không có nghĩa là đè nén (refouler, repress)
như đa số thường làm một cách vô ý thức, họ cho rằng tu thì không được như
thế này, không được như thế kia. Khi tôi nổi giận, bạn bảo tôi đừng giận
nữa! Người tu không nên nổi giận. Nghe như thế tôi bèn nén giận, dằn
xuống và nuốt vào bên trong. Mỗi khi nổi giận, tôi không cho cơn giận hiện
ra mặt để bạn khỏi thấy, nhưng cái giận đó vẫn còn và nằm ngay nơi cổ họng
làm tôi nghẹn ngào nói không ra lời, hoặc nằm trong lồng ngực làm tôi khó
thở. Cứ thế mỗi lần nổi giận là tôi lại nuốt nó vào trong và bên ngoài thì
giả bộ mỉm cười tỉnh bơ, lâu ngày cái giận đóng thành một cục bên trong
gọi là nội kết. Người Pháp mỗi khi bực mình chuyện gì mà
phải nén lại thì họ thường nói: tôi có những cục nghẹn (j'ai les boules).
Nghe buồn cười nhưng rất chính xác!
Tu hành hay tu sửa không phải là đè nén, che đậy,
nuốt vào những giận hờn, lo âu, buồn phiền, v.v... để nó đóng thành cục
bên trong lâu ngày sinh bệnh, mà là làm sao cho cái giận đó tan biến đi và
trong tương lai không còn nổi giận nữa hoặc nếu có thì giận vừa khởi liền
tan biến tức khắc.
Trong tất cả phiền não, nóng giận (sân) là tánh xấu
nguy hại nhất, nó thiêu đốt thân tâm và thiêu đốt luôn bao nhiêu công đức.
Vì không tự chủ và điều khiển được nóng giận mà người ta chửi mắng nhau,
thù ghét nhau rồi chém giết nhau. Bao nhiêu đau khổ chiến tranh trên đời
này đều bắt nguồn từ cái giận. Vì thế người tu phải cố gắng sửa và chuyển
hóa cái giận.
3) Đi tìm
vọng tưởng
Xin bạn đọc chú ý,
chữ vọng tưởng được dùng ở đây không phải là những ý nghĩ khởi lên loạn xạ
trong lúc ngồi thiền như Thiền tông hay nói tới, mà là sự tin tưởng sai
lầm.
Đây là giai đoạn
quan trọng nhất trong tiến trình tu sửa phiền não. Một (hay nhiều) tánh
xấu không thể tự nhiên mà có. Nó có là vì những cái tưởng (croyances,
belief systems) như thành kiến, quan niệm, tập quán, v.v... đúc kết thành
một lề lối suy nghĩ khiến ta khởi ra tình cảm, tánh tình
như vậy, đây chính là vọng tưởng mà tôi đã định nghĩa ở phần trước. Tìm và
nhận ra vọng tưởng (croyance erronée, wrong belief) này không phải dễ, vì
nếu dễ thì ta đã không khổ sở phiền não từ bấy lâu nay. Ngồi thiền nhìn ý
tưởng, ý niệm khởi lên lăng xăng không ngừng tuy vậy mà còn dễ hơn đi tìm
cái vọng tưởng (kiên cố) đã cho ra cái tánh xấu (vọng tình) kia. Xưa nay
ta thường quen sống với những cái tưởng của mình và tin theo nó. Ta đã để
nó nhập vào và trở thành tập khí, ta là nó, nó là ta, khi nó nghĩ thì ta
tưởng mình nghĩ, khi nó suy tư thì ta tưởng mình suy tư, vì thế nên rất
khó nhận ra nó! Mỗi khi có chuyện buồn phiền, ngồi xuống xét lại ta chỉ
thấy mình đúng và kẻ khác sai. Ta quá quen thuộc với đường lối suy tư (ngã
kiến, kiến thủ) đó nên dù suốt ngày suy nghĩ, cuối cùng ta cũng vẫn thấy
mình đúng.
Ở đây cần nói
thêm về tâm lý phức tạp của con người. Những ý nghĩ hay ý tưởng khởi lên
trong tâm mà ta có thể biết được, đó chỉ là một phần nhỏ của tâm thức. Tâm
thức của ta có thể ví như một tảng băng nổi (iceberg), phần nhỏ lú trên
mặt biển là những vọng tưởng thô kệch hiện trên mặt ý thức, còn phần to
tướng nằm ngầm phía dưới là những tập khí vọng tưởng kiên cố. Cái phần
trôi ngầm ở dưới vượt ngoài tầm của Ý Thức (conscience). Tâm lý học hiện
đại gọi phần ngầm ở dưới là Vô Thức (l'Inconscient). Cái vô thức này chứa
đựng tất cả những thứ mà ta vô tình tích lũy như: vọng tưởng, quan niệm,
thành kiến, tập quán, chương trình, nội kết, v.v... nói chung là nghiệp.
Ý
thức
Vô thức
Trong đời sống
hàng ngày chúng ta tưởng mình làm chủ được suy nghĩ, tình cảm và hành động
của mình nhưng phần nhiều chúng ta bị Vô thức điều khiển mà không hay.
Trong lúc ngồi thiền, có thể ta không có một ý tưởng (hay vọng tưởng) nào
khởi lên, nhưng đó mới chỉ là trên mặt ý thức, những nội kết ngủ ngầm ở
dưới vẫn còn nguyên chưa được chuyển hóa. Bởi thế có người tu thiền lâu
năm, ngồi yên nhập định không suy nghĩ được một ngày đến vài ngày, nhưng
tánh tình không thay đổi, vẫn kiêu căng, ngã mạn, sân, si, ái, ố, v.v...
* Thí dụ: mỗi khi
bạn bè họp mặt nói chuyện vui là tôi cứ nhè anh Ba mà phê bình chỉ trích,
dù anh không bao giờ nói một câu đả động xúc phạm đến tôi. Thái độ vô lý
của tôi đã được bạn bè khuyên nhắc và mỗi lần ra về tôi đều công nhận là
tôi vô lý vì anh Ba không có lỗi và chính tôi cũng không thù ghét gì anh
ấy. Tôi đã ăn năn hối hận và tự nhủ lần sau cẩn thận không gây sự với anh
Ba nữa. Nhưng sao kỳ quá, mỗi lần thấy anh tôi không kềm chế nổi, miệng cứ
vọt ra lời chỉ trích!!! Suy nghĩ mãi mà không hiểu tại sao! Ý thức
thấy rõ là không có lý do gì để chống báng chỉ trích anh Ba, nhưng tôi
biết có một cái gì không ổn nằm ở dưới đáy tâm thức đã sai khiến tôi làm
chuyện đó, để rồi về đến nhà thì lại ăn năn! Sau khi lắng tâm truy tìm
tôi nhận ra là tôi đã có thành kiến xấu đối với anh Ba vì anh làm nghề lái
buôn và tôi tin rằng người lái buôn là hạng lưu manh, xảo trá.
* Thí dụ khác: Cô
Hai là người giàu sang, hiền hậu, duyên dáng, có học thức, được chồng con
yêu mến, bạn bè kính nể. Cô có đầy đủ vật chất tiện nghi và tình cảm nhưng
trong tận đáy lòng cô vẫn cảm thấy buồn, một nỗi buồn man mác vô duyên cớ.
Có nhiều người mơ ước thèm được như cô là họ sung sướng lắm, nhưng tại sao
chính cô lại cảm thấy không hạnh phúc? Ý thức biết rõ không có lý do gì
để buồn khổ, nhưng cô có một niềm u uẩn nào đó nằm sâu trong tiềm thức
thường theo ám ảnh mà cô không hay biết.
Ở giai đoạn này
người tu rất cần sự trợ lực bên ngoài, đó là thầy lành, bạn tốt. Người ta
thường nói: "việc người thì sáng, việc mình thì quáng". Thầy bạn là những
người ngoài cuộc, có thể đưa ý kiến giúp ta vượt thoát đường lối suy tư
lẩn quẩn của mình.
Thí dụ về cái giận
Ai nấy trong chúng
ta đều biết thế nào là cái giận. Bình thường khi mọi việc êm xuôi thì
không ai nổi giận. Chúng ta nổi giận khi bị xúc phạm, trái ý hoặc gặp việc
gì không vừa lòng. Như vậy nguyên nhân đưa đến cái giận chính là sự
trái ý.
Khi ta giận một
người nào đó thì có hai trường hợp:
1)
người kia cố ý chọc tức, gây sự hoặc mắng chửi ta.
2)
người kia vô tình, không cố ý chọc tức gây sự mà ta tức giận, bởi
vì ta không chấp nhận hoặc không hài lòng điều gì đó nơi người kia.
Trường hợp thứ
nhất, nếu người kia cố ý gây sự mà ta nổi giận thì ta lỗi 50%. Tại sao lại
50%, đúng ra phải là 0% chứ? Theo quan niệm ngoài đời, khi bị người khác
gây sự kiếm chuyện thì ta có quyền nổi giận, đó là điều đương nhiên. Nhưng
theo đạo thì người kia gây sự nhưng giận hay không là do ta, ta làm chủ,
nếu ta nổi giận tức là ta đã dính mắc, chấp trước rồi, tôi cho lỗi 50% là
còn khoan dung. Vì theo luật nhân quả thì ta đã làm gì để khiến người kia
gây sự với ta? Không thể vô duyên vô cớ mà gây sự được.
Trường hợp thứ
nhì, người kia không cố ý chọc tức, gây sự mà ta nổi giận thì đó là ta lỗi
100%. Vì do tập khí, phiền não đã khiến ta không chấp nhận và bực mình
người kia, vậy thì ta phải quay trở vào tâm mình mà sửa. Tâm bình thì thế
giới bình.
* Hai vợ chồng anh
Bảy đều theo đạo Phật, nhưng anh Bảy thích tu Thiền còn chị Bảy thích Tịnh
Độ. Anh Bảy tánh tình dễ dãi ai tu cái gì cũng được, miễn có tu là tốt
rồi. Nhưng vợ anh lại muốn anh tu Tịnh Độ vì chị tin rằng thời nay là đời
mạt pháp, chỉ có Tịnh Độ mới là con đường duy nhất để giải thoát. Mỗi khi
nói chuyện đạo mà anh Bảy nhắc đến các kinh như Đại Niệm Xứ (Maha
Satipatthana) trong đó Đức Phật nói hành thiền Tứ Niệm Xứ là con đường duy
nhất dẫn đến giải thoát thì vợ anh lại nổi giận khó chịu. Cả hai đều tu
theo Phật mà tại sao phiền não hục hặc nhau hoài? Vấn đề ở chỗ nào?
Vấn đề nằm ở chỗ
tin và chấp vào một điều cho là đúng, là tốt rồi muốn người
khác cũng phải tin theo mình. Đây là một vọng tưởng (fausse croyance,
wrong belief), nguyên nhân dẫn đến tranh luận và bất hòa.
Đúng lý ra anh/chị
phải làm như thế này mới đúng. Nếu anh/chị không làm như
vậy là sai, tôi không chấp nhận được nên tôi nổi giận.
Ta có quyền tin
những gì mình tưởng là đúng, nhưng nếu muốn người khác phải tin theo ta
thì đó là một loại tin sai lầm (vọng tưởng). Tệ hơn nữa là cuồng tín, cho
rằng giận là phải nếu người khác không làm theo ý của ta.
* Tôi đến thăm chị
Ba, thấy chị đang giận dữ quát tháo thằng Tí:
-
Tôi giận
quá là giận!
-
Tại sao
vậy?
-
Vì tôi nói
nó không nghe lời.
-
Chị nói nó
không nghe lời thì sao?
-
Thì đó là
chọc giận tôi chứ sao!
Ở đây chị Ba tin tưởng hai điều :
1)
những gì
chị nói là đúng.
2)
việc chị
giận thằng con cũng đúng luôn.
Vì thấy giận như thế là đúng nên chị nổi giận đều
đều, giận thường xuyên. Ban đầu giận thằng con không nghe lời mẹ, sau tới
giận chồng không nghe lời vợ, kế đến giận bà con bạn bè không nghe lời
chị, v.v...
Niềm tin sai lầm (vọng tưởng) của chị Ba là: tất cả
những gì chị nghĩ, nói, làm đều là đúng. Hễ ai trái ý chị là chị phải
giận, có quyền giận, và giận như vậy là đúng.
Thông thường điều làm cho ta dễ nổi giận là
cố chấp cho mình đúng và đòi hỏi người khác phải thuận theo mình,
không được chống trái lại mình, đạo Phật gọi đó là ngã kiến hay ngã kiến
thủ.
Thí dụ về
cái sợ
Tâm trạng sợ (bị chỉ trích phê bình) của chị Ba đối
với đạo Phật trên lý thuyết không có gì hại và không nằm trong 10 phiền
não chính, nhưng thật ra nó là một phiền não. Vì phiền não có nghĩa là não
hại và làm mình buồn phiền.
Chị Ba có đến gặp tôi và bày tỏ nỗi sợ "vô duyên"
của chị. Tôi dẫn giải cho chị hiểu cái làm cho chị hay sợ không phải là sự
chau mày, nhíu mắt, mỉm cười, nhếch môi, của những người kia, mà là cái
ý nghĩ : "Tôi không muốn bị phê bình chỉ trích! Nếu họ chau
mày, nhíu mắt, đùa giỡn tức là họ khinh thường tôi, coi tôi
không ra gì và sẽ đi nói xấu tôi với người khác." Chị Ba đã đóng khung
cái ý nghĩ này và ghi khắc nó vào trong tâm. Từ đó ý nghĩ này trở thành
một sự thật đối với chị, nhưng chị quên mất đâu phải ai chau mày, nhíu mắt
đều có nghĩa là khinh chị hay chống báng chị, nhiều khi họ bị nắng chói
phải chau mày, nhíu mắt, hoặc bị bụi bám vào mắt, v.v... Khi chị nói mà họ
mỉm cười có thể là họ đồng ý, hoặc gợi cho họ một chuyện vui nào đó chứ
đâu phải chế nhạo chị.
Trên đây chỉ là một thí dụ về cái sợ. Sợ là một tâm
sở, người nào cũng có sợ, không sợ nhiều thì sợ ít, không sợ cái này thì
sợ cái kia. Đối tượng của sợ có nhiều loại: sợ ma, sợ chuột, sợ rắn, sợ
mèo, sợ bóng đêm, sợ ăn trộm, sợ xe đụng, sợ tai nạn, sợ thất nghiệp, sợ
vợ hay chồng bỏ, sợ bệnh, sợ chết, sợ cô đơn, sợ đám đông, sợ cảnh sát, sợ
chiến tranh, sợ thiên tai bão lụt, v.v...
Trong những cái sợ nêu trên, ta có thể chia ra hai
loại: cái sợ hữu lý và cái sợ vô lý. Cái sợ hữu lý là cái sợ cần thiết cho
cuộc sống, được mọi người công nhận như: sợ ăn trộm, sợ xe đụng, sợ tai
nạn, sợ thất nghiệp, sợ cảnh sát, sợ thiên tai. Vì sợ xe đụng nên ta không
dám băng qua đường ẩu, nhờ vậy bảo toàn tánh mạng cho mình và kẻ khác. Vì
sợ ăn trộm nên mỗi khi đi vắng ta khóa cửa nhà cẩn thận. Vì sợ thất nghiệp
nên ta cố gắng đi làm đúng giờ, làm việc đàng hoàng không cẩu thả. Vì sợ
cảnh sát nên ta không dám vi phạm luật lệ, nhờ vậy mà xã hội được an ninh.
Sợ bão lụt nên ta đắp đê đào mương, v.v...
Cái sợ vô
lý là cái sợ bắt nguồn từ sự khủng hoảng tinh thần (trauma), yếu bóng vía,
và đối tượng của cái sợ không gây nguy hiểm đến tánh mạng như: sợ ma, sợ
chuột, sợ bóng đêm. Ma không thể bóp cổ hay giết người được, từ xưa tới
nay không hề thấy có chuyện ma giết người mà chỉ có người mới giết người
được. Con chuột hình thù ghê tởm nhưng nó không thể ăn thịt ta được. Bóng
đêm dù bao phủ lên người cũng không thể làm hại ta được.
Cái sợ dù vô lý hay hữu lý, nếu nó làm phiền và ảnh
hưởng quá nhiều đến đời sống hàng ngày thì ta cần phải tu tập để chuyển
hóa.
Thí dụ
về cái lo
Chị Hai có tật hay lo. Mỗi khi anh Hai hoặc hai đứa con trai
đi đâu về trễ, ở nhà chị rất lo, đi ra đi vào đứng ngồi không yên, đầu óc
suy nghĩ, tưởng tượng đủ chuyện không may bất trắc xảy ra cho chồng và
con. Đến khi chồng con về thì chị mới yên tâm nhưng lại buồn bực, la mắng,
trách móc tại sao đi đâu về trễ mà không báo cho chị hay. Nguyên nhân lo
của chị là cái tưởng : "đi đâu về trễ tức là bị tai nạn".
Chị không thể nào nghĩ khác hơn là tai nạn. Vì nghĩ và tin là tai nạn nên
chị đâm lo.
Tóm lại
trong đời sống hàng ngày, mỗi khi cảm thấy buồn phiền, bực tức, khó chịu,
bất an, lo âu, sợ hãi, v.v... đó là lúc ta cần xét lại và tìm cho ra những
vọng tưởng, ý nghĩ, thành kiến nào đã khiến cho ta phản ứng (vọng tình)
như vậy.
* Mỗi khi
có việc cần sự giúp đỡ, tôi đi hỏi những người quen và nếu họ từ chối thì
tôi cảm thấy xấu hổ, chán đời và chán ghét tất cả mọi người.
Lúc này tôi cần
ngồi xuống để nhận diện:
-
Tôi đã nhận thức thế nào về sự việc trên? Ghi nhận đúng như
thật hay đã nhìn qua lăng kính vọng tưởng?
-
Tôi đã có ý nghĩ gì trước khi đi nhờ vả người khác?
-
Khi bị từ chối thì tôi đã nghĩ gì để cảm thấy xấu hổ?
-
Ý nghĩ của tôi có chắc là đúng không?
-
Nếu chỉ bị vài người từ chối mà cho tất cả mọi người trên thế gian
này đều xấu, rồi sinh ra chán đời. Sự suy tư phán xét như vậy có hợp lý
(logic) không?
-
Một ý nghĩ đưa đến khổ đau có đáng cho ta tin và chấp nhận không?
4)
Chuyển Ý
1)
Vấn đề nhận thức hay sự lợi hại của ý nghĩ
Trước hết ta cần hiểu và nhớ rõ: Làm cho ta
đau khổ phiền não không phải là sự vật bên ngoài mà là sự nhận thức của ta
đối với nó. Nhận thức (perception) là cái thấy, suy nghĩ và cảm
nhận.
Đức Phật trên đường đi khất thực bị một người Bà la
môn theo sau mắng chửi thậm tệ, nhưng Ngài vẫn thản nhiên ung dung tự tại.
Trong khi đó chỉ cần ngồi yên hồi tưởng lại một chuyện trái ý là ta buồn
bực tức giận. Thế nghĩa là sao? Nếu nói bị người bên ngoài mắng chửi là
khổ thì tại sao Đức Phật không buồn giận? Trong khi đó hiện tại bây giờ
và ở đây không có ai đang mắng chửi hay làm gì ta nhưng tại sao ta lại
buồn bực? Chính những ý tưởng về sự việc trái ý quá khứ
hiện lên trong tâm làm cho ta khổ sở buồn giận.
Tôn giả Phú Lâu Na (Purna) khi tình nguyện đi hoằng
pháp ở xứ Du Lô Na (Sronaparanta) đã được đức Phật hỏi nếu dân xứ đó mắng
chửi ông thì sao? Ngài Phú Lâu Na trả lời: con nghĩ họ hãy
còn tốt vì chưa dùng gậy gộc đánh con. Đức Phật hỏi nếu họ dùng gậy gộc
đánh ông thì sao? Ngài Phú Lâu Na đáp: con nghĩ họ hãy còn
tốt vì chưa dùng đến dao kiếm đâm con bị thương nặng. Đức Phật lại hỏi:
nếu họ dùng dao kiếm đâm ông bị thương nặng thì sao? Ngài Phú Lâu Na đáp:
con nghĩ họ vẫn còn tốt vì chưa giết con. Đức Phật hỏi tiếp
nếu họ giết ông thì sao? Ngài Phú Lâu Na bình thản trả lời: đó là họ giúp
con từ bỏ cái thân tứ đại khổ đau này để sớm nhập Niết Bàn. Nhờ suy
nghĩ như vậy nên Phú Lâu Na không sợ hãi và đã giáo hóa được dân
xứ Du Lô Na.
Trong kinh Thủy Dụ, ngài Xá Lợi Phất có nói về năm
cách suy nghĩ để chuyển hóa phiền não khi tiếp xúc với người xung quanh
tùy theo thân, khẩu, ý của họ.
-
Đối với
người có hành động không dễ thương và tốt lành, nhưng lời nói lại dễ
thương thì ta không nên nhớ nghĩ về hành động của họ mà chỉ nên nghĩ về
lời nói của họ.
-
Đối với
người có lời nói không dễ thương, nhưng hành động dễ thương thì ta không
nên nhớ nghĩ về lời nói của họ mà chỉ nên nghĩ về hành động của họ.
-
Đối với
người có hành động và lời nói không dễ thương, nhưng tâm ý có chút dễ
thương thì ta chỉ nên nhớ nghĩ đến tâm ý của người đó.
-
Đối với
người có hành động, lời nói và tâm ý không dễ thương thì ta nên nghĩ như
sau: "người này cả ba nghiệp đều không thanh tịnh, tốt lành, khi chết sẽ
đọa vào cảnh khổ, rất đáng thương. Nếu người này gặp được bạn tốt thì
ba nghiệp sẽ trở nên thanh tịnh, sau khi chết sẽ sinh lên cõi lành".
Nhờ nghĩ như vậy ta sẽ phát khởi lòng từ bi.
-
Đối với
người có hành động, lời nói và tâm ý tốt lành, dễ thương thì ta nên
thường nghĩ về hành động, lời nói và tâm ý của người đó. Nhờ vậy tâm ta
được hoan hỷ.
Chúng ta
hay đổ lỗi cho người và sự vật bên ngoài làm ta đau khổ mà không biết khổ
đau hay hạnh phúc là do sự nhận thức và lề lối suy nghĩ của mình.
* Thí dụ: Chồng tôi hôm nay đi làm về trễ hơn mọi
ngày, ở nhà tôi làm cơm dọn sẵn và nóng lòng ngồi chờ. Về đến nhà anh chỉ
nói ngắn ngọn là hôm nay công việc nhiều và trên đường về bị kẹt xe, rồi
ngồi vào bàn ăn ngay. Qua việc này tôi có nhiều cách nhận thức:
a)
Tôi nghĩ
là anh nói dối.
b)
Tôi nghĩ là anh che dấu tôi một điều gì, vì tại sao không kể cho
tôi nghe rõ hơn chi tiết công việc, kẹt xe ở khu nào, v.v...
c)
Tôi tin
anh nói thật, nhưng anh không biết chú ý và cám ơn sự lo lắng săn sóc của
tôi.
d)
Tôi tin
anh nói thật và nghĩ chắc anh đói và mệt lắm.
Nếu tôi nhận thức sự việc theo kiểu a), b), c) thì
chắc chắn tôi sẽ cảm thấy khó chịu, buồn bực. Nhưng nếu tôi nhận thức theo
kiểu d) thì tôi sẽ thương và tội nghiệp chồng mình. Thương hay ghét là tùy
sự nhận thức (suy nghĩ) của tôi chứ không phải tại anh nói dối hay nói
thật, vì thực sự anh có nói dối hay không, có mệt hay đói, điều này tôi
không thể biết được.
Có nhiều
người gặp hoạn nạn hay vài chuyện bất như ý liền nghĩ mình là người đau
khổ nhất trên đời rồi chán nản, tuyệt vọng và nghĩ đến tự tử. Bình thường
ít có ai tự tử vì đói khát hay vì thiếu ăn thiếu mặc, mà họ tự tử vì khổ
tâm, thất tình, thất vọng, chán chường, quẩn trí. Trong tâm của họ không
còn lối thoát, cách suy nghĩ của họ đã đưa họ đến đường
cùng và nghĩ rằng tự tử là con đường duy nhất để thoát khổ.
Dưới đây
là vài lối suy nghĩ một chiều, rất nguy hiểm:
-
Tôi là người khổ nhất trên đời.
-
Hắn là người xấu nhất.
-
Tất cả mọi
người
đều thế
này thế nọ ...
-
Thầy X,Y là người giỏi nhất, hay nhất...
-
Tôi là người (giàu, nghèo, đẹp, xấu, giỏi, ngu, v.v...) nhất.
-
Người kia là (ác, tốt, dễ ghét, dễ thương, v.v...) nhất.
-
Tôi (tin) chắc chắn người đó, việc đó là như vậy.
-
Tất cả
mọi người
hay sự vật là ... như vậy.
Nếu tôi cứ
nghĩ mình là người khổ nhất trên đời thì thế nào tôi cũng tự tử.
Nếu hắn là
người xấu nhất thì tôi phải ghét hắn.
Nếu Thầy
X,Y là người hay nhất, giỏi nhất thì đương nhiên tôi phải kính phục và coi
thường những thầy khác.
Nếu tất cả
mọi người đều ích kỷ, bần tiện thì tôi không thèm chơi với ai hết.
Vì suy
nghĩ, quan niệm như vậy nên phản ứng của tôi trở thành tuyệt đối và chủ
quan. Nó sẽ gây cho tôi nhiều phiền muộn khổ đau.
2)
Thay thế vọng tưởng
Xưa nay chúng ta
khổ vì quen suy nghĩ, tư duy theo kiểu chấp ngã, ích kỷ đầy thành kiến sai
lầm (tà kiến) thì nay phải tập thay thế bằng những tư tưởng mới và chương
trình mới (new programs). Những tư tưởng mới và chương trình mới này cần
phải gần với thực tại, đó gọi chánh tư duy. Muốn có chánh tư
duy thì phải có chánh kiến, tức là sự thấy và hiểu biết
đúng. Và muốn có chánh kiến thì cần phải học.
Dưới đây là những
quan niệm căn bản của đạo Phật mà ta cần học để làm nền tảng cho mọi sự
suy tư của mình:
-
Lý nhân duyên: Tất cả sự vật trên thế gian này đều do nhân duyên
hợp thành, không phải tự nhiên mà có.
-
Tam Pháp Ấn: vô thường, khổ, vô ngã.
-
Lý duy tâm sở hiện hay Vạn pháp duy thức: Mọi sự vật đều không có
tự tánh, chúng ảnh hiện tùy theo sự nhận thức của ta.
-
Lòng từ bi: Suy tư, nghĩ tưởng trên sự thương yêu và thông cảm,
không độc đoán, không nghĩ xấu và làm hại kẻ khác.
-
Nhân duyên
Sống ở đời ai cũng mong muốn cái này, cái kia, muốn
sự vật theo ý mình, nhưng sự vật xảy ra theo luật nhân duyên chứ không
phải theo ý ta. Vì không biết như thế nên khi gặp chuyện trái ý thì ta
buồn bực, thất vọng, bất mãn. Nói vậy không có nghĩa là ta không mong cầu
gì hết, ngồi yên phó mặc cuộc đời. Khi mong muốn điều gì ta phải cố gắng
tạo đủ nhân duyên. Nếu đủ duyên, đủ phước thì điều mong cầu sẽ thành tựu,
thiếu duyên thiếu phước thì việc không thành.
Có người phát tâm muốn xuất gia nhưng còn kẹt gia
đình níu kéo. Đến khi được gia đình và chư Tăng chấp thuận thì lại ngã
bệnh nặng không xuất gia được. Đây là phước xuất gia không đủ.
Có những người tự nhiên đến quấy nhiễu mắng chửi ta
mặc dù ta chưa hề làm gì họ. Nếu hiểu luật nhân quả ba đời (quá khứ, hiện
tại, vị lai) thì biết đó là những oan gia từ nhiều đời trước.
Làm ăn buôn bán ai cũng muốn giàu sang phát đạt,
nhưng thị trường kinh tế lên xuống bất thường. Nếu gặp thời gặp thế được
giàu sang thì đó là may mắn, ngược lại là xui xẻo. Nhưng nếu gặp may thì
đó cũng là do phước duyên.
Hiểu được lý nhân duyên thì khi dự định làm công
việc gì ta hãy cố gắng hết sức mình, nhưng việc thành hay không điều đó
không còn tùy thuộc vào ta nữa. Ngoài đời có câu: "Mưu sự tại nhân, thành
sự tại thiên" (tính toán do người, nhưng việc thành do trời).
Đi đôi với nhân duyên là nghiệp quả. Khi tạo nhân
duyên lành thì sẽ được quả báo tốt, gọi là thiện nghiệp. Khi tạo nhân
duyên xấu thì sẽ gặp quả báo xấu, gọi là ác nghiệp. Người có thiện nghiệp
là người có phước nên làm gì cũng may mắn, thuận lợi, như ý. Người tạo
nhiều nghiệp ác trong quá khứ thì hiện đời thường gặp rủi ro, buồn phiền,
trái ý. Thành sự tại thiên, việc thành do trời, trời ở đây không là gì
khác ngoài luật nhân quả nghiệp báo.
-
Tam Pháp
Ấn
(vô
thường, khổ, vô ngã) là nền tảng của đạo Phật.
Vô thường (anicca): Tất cả sự vật trên thế gian này
đều vô thường, luôn luôn thay đổi. Không những sự vật luôn đổi thay mà
chính ta cũng thay đổi trong từng giây phút, thân ta nay khỏe mai bệnh,
tình ta nay đẹp mai tàn, ý ta lúc vui lúc buồn. Ta không thể làm chủ được
mình và sự vật bên ngoài. Nhưng chúng ta lại muốn sự vật đừng đổi thay, ta
muốn trẻ mãi không già, khỏe mãi không bệnh, giàu hoài không nghèo, sống
mãi không chết, v.v...
Khổ (dukkha): Chữ dukkha thường được dịch là khổ,
nhưng dukkha mang nhiều ý nghĩa hơn thế nữa. Những khi khổ sở, đau đớn,
bất an, đói khát, thất vọng, giận tức, buồn rầu, lo âu, sợ hãi, v.v...
đương nhiên là khổ, nhưng ngay cả những lúc vui vẻ, sung sướng, hài lòng,
no đủ, giàu sang cũng vẫn nằm trong dukkha, vì tất cả những cái đó đều vô
thường. Trong Kinh Vô Ngã Tướng (Anattalakkhanasutta) đức Phật nói những
gì vô thường là khổ.
Vô ngã (anatta): Không có gì trên đời này là ta
(ngã) hay của ta (ngã sở). "Ta" chỉ là một cái tên (danh từ) đặt ra dựa
trên năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Chúng ta thường cho cái thân
là ta nhưng xác thân này do bao nhiêu thứ hợp thành như: xương, thịt, gân,
máu, tim, gan, thận, phổi, đờm, dãi, v.v... Chúng ta thường cho cái tâm
suy nghĩ, lo âu, tưởng tượng, tính toán, v.v... là Ta, nhưng những cái đó
cũng đâu phải là Ta. Những thứ "của ta" như vợ ta, con ta, nhà của ta, xe
của ta, tiền của ta, v.v... cũng đâu phải là của ta. Hôm nay còn thương
còn yêu thì là vợ của ta, ngày mai hết thương ra tòa ly dị thì là vợ của
ai? Con của ta nuôi nấng săn sóc từng ly từng tí hồi nhỏ, lớn lên nó bỏ
đi lấy chồng lấy vợ sống riêng đời của nó, đâu còn liên quan gì đến ta, đó
là chưa kể những đứa đốt tiền phá của làm cha mẹ khổ sở điêu đứng. Còn
tiền thì nhà, xe hôm nay là của ta, ngày mai hết tiền thì nó thuộc về ai?
Hôm nay còn việc thì còn tiền, ngày mai hết việc (thất nghiệp) thì tiền
còn là của Ta nữa hay không? Trong suốt cuộc đời, chúng ta nai lưng ra
tạo nghiệp phục vụ cho cái "Ta" và những cái "của Ta" để rồi tắt thở ra đi
không mang theo được một chút gì, ngay cả cái quý nhất là thân xác cũng
phải bỏ lại.
Sau khi hiểu rõ Tam Pháp Ấn, ta phải đem ra áp dụng
vào đời sống hàng ngày, nghĩa là tập suy nghĩ, tư duy mọi sự trên nền tảng
của Tam Pháp Ấn, nhìn cuộc đời qua lăng kính Tam Pháp Ấn. Nhờ đó ta sẽ
không còn bám víu vào sự vật, không ăn thua đủ với người khác, và biết
sống "thiểu dục tri túc".
* Thí dụ: Vợ chồng chung sống với nhau 10 năm, 20
năm rồi có chuyện gây gỗ ra tòa ly dị. Nếu không biết đạo thì sẽ ăn thua
đủ dành giựt với nhau từng cái bàn, cái ghế, cái ly, cái chén. Nhưng nếu
hiểu lý nhân duyên và Tam Pháp Ấn, biết vợ chồng là do nhân duyên ái luyến
hợp thành, ngày nay ái luyến không còn thì tan, có chi phải khổ đau luyến
tiếc? Nhà cửa, đồ đạc là vật vô tri vô giác, dù được bày bán ở tiệm hay
ngay trong nhà mình đi nữa cũng đâu phải là của ta, vì không có cái gì
trên đời này là thực sự của ta hết (vô ngã). Suy nghĩ như vậy thì đâu còn
muốn tranh dành với nhau.
Làm ăn buôn bán lúc được lúc mất, người đời lúc
được thì vui mừng hớn hở, lúc mất thì buồn rầu chán đời. Người hiểu lẽ vô
thường thì thản nhiên, được thì tốt mà mất cũng chẳng sao.
Mỗi khi
gặp chuyện khổ đau, trái ý, ta biết bản chất của chúng là khổ, ngay cả cõi
này tên của nó là Ta Bà (Saha) có nghĩa là Kham Nhẫn (khó chịu). Đâu phải
chỉ riêng ta khổ mà có biết bao nhiêu người khác cũng khổ và có lẽ còn khổ
hơn ta nữa.
- Duy tâm sở hiện hay Vạn pháp duy thức :
Không nên hiểu lầm chữ duy tâm nghĩa là muốn nghĩ
gì thì nghĩ và cảnh bên ngoài sẽ hiện ra như thế. Thí dụ như đời là khổ mà
cứ nghĩ sướng thì ta sẽ sướng, bệnh ung thư gần chết mà cứ nghĩ mình khỏe
thì sẽ khỏe, đau răng mà nghĩ không đau thì răng sẽ hết đau. Trời đang mưa
mà cứ nghĩ là trời nắng rồi thản nhiên đi ra ngoài thì sẽ bị ướt rồi cảm
lạnh.
Duy Tâm sở
hiện có nghĩa là mọi vật đều phát xuất ảnh hiện từ tâm. Vạn pháp duy thức,
nghĩa là mọi sự vật đều ảnh hiện qua sự nhận thức của ta. Đây là nền tảng
của học phái Duy Thức.
Ta không thể nào chối bỏ những cái khổ từ bên ngoài
đưa đến như thất nghiệp, vợ bỏ, cha mẹ chết, bệnh tật, già nua, tai nạn,
đói khát, chiến tranh, thiên tai, v.v... những cái này đúng là cảnh khổ.
Nhưng nếu biết thay đổi cái nhìn hay sự nhận thức của mình thì sẽ thấy
cảnh vật đổi khác. Ta xem đó là những thất bại xui xẻo của cuộc đời, nhưng
khổ hay không, đó là việc của nội tâm.
Thay
thế tư tưởng
Thay thế tư tưởng không phải là một phương pháp mới mẻ gì vì nó đã được
đức Phật giảng nói trong kinh Đoạn Giảm (Sallekhasutta) với phương pháp
khởi tâm suy nghĩ đối trị và trong kinh An Trú Tầm (Vitakkasanthanasutta)
cũng nói, "ví như một người thợ mộc thiện xảo dùng một cái nêm nhỏ đánh
bật ra, đánh tung ra, đánh văng ra một cái nêm khác. Tỳ kheo cũng
vậy, khi tác ý một tướng nào liên hệ đến dục, sân, si thì cần phải tác ý
một tướng khác liên hệ đến thiện". Nói cách khác đó là phương pháp
thay chốt hay thay thế tư tưởng cũ bằng một tư tưởng mới tốt lành hơn.
3) Thiền tập để có
định lực và khoảng cách
Có trí huệ
mà thiếu định lực thì khó chuyển nghiệp. Muốn có định lực phải tu tập
thiền định. Thiền định ở đây không phải để kiến tánh thành Phật hay đắc
đạo thành Bồ Tát, A La hán. Trong giới phật tử có những người hay chia rẽ
chống báng nhau. Người tu Thiền thì không thích Tịnh Độ, người theo Tịnh
Độ thì không ưa Thiền. Đây là một tâm lượng hẹp hòi, cố chấp và độc tôn mà
người phật tử chân chính không nên có. Bởi vì Thiền, Tịnh, Mật hay bất cứ
pháp môn nào cũng đều là Phật Pháp, là phương tiện thiện xảo giúp người
thoát khổ.
Muốn
chuyển hóa tâm ý cần phải có chánh niệm, tức là tỉnh giác
nhận diện những gì đang xảy ra nơi thân và tâm, và chánh định
tức là khả năng làm cho tập khí vọng tưởng dừng lại.
Đi vào
rừng ban đêm, tôi phải cầm theo một cây đuốc để soi đường nhưng gió thổi
tới tấp làm ngọn đuốc lập lòe muốn tắt, như vậy làm sao tôi ghi nhận được
lối đi hay bảng chỉ đường? Muốn nhìn rõ đường đi nước bước thì gió phải
ngừng để ánh sáng cây đuốc chiếu soi rõ ràng. Cây đuốc tượng trưng cho
chánh niệm, gió ví như vọng tưởng. Làm cho gió ngưng lại để nhìn rõ sự vật
là khả năng của chánh định.
Thiền tập
ở đây là một sự "lắng lòng để nhìn" hay một sự lắng tâm chứ không
phải để kiến tánh hay chứng ngộ điều chi. Bạn đừng sợ tu Thiền điên. Tu
Thiền mà điên là những người tham lam vọng cầu muốn đắc đạo thành Phật
thành Tổ nên dễ bị tẩu hỏa nhập ma hoặc bị tà sư ngoại đạo quyến rũ.
Phương
pháp
Sau đây
tôi xin giới thiệu ba phương pháp thiền tập đơn giản: quán hơi thở, niệm
Phật, và niệm chú.
1/ Quán
hơi thở
Quán hơi
thở gồm có hai phần: Sổ tức và Tùy tức.
Sổ tức là
đếm hơi thở. Bạn có thể ngồi kiết già, bán già hay trên ghế, miễn sao giữ
lưng cho thẳng là được. Trước khi đếm, bạn hít vào thở ra vài hơi thật
sâu, thật dài để tống trược khí ra ngoài. Sau đó bắt đầu đếm hơi thở, hít
vào thở ra đếm một, hít vào thở ra đếm hai, và tuần tự đếm như thế cho tới
mười. Khi đếm tới mười thì trở lại từ đầu. Trong lúc đếm như vậy bạn cố
gắng đừng cho những ý tưởng khác nhảy vào, nếu nghĩ tới chuyện khác hoặc
đếm lộn thì phải đếm trở lại từ một.
Sau một
thời gian thực tập và đếm dễ dàng từ một tới mười không lộn hoặc không có
ý tưởng khác xen vào thì bạn tập đếm ngược lại từ mười trở xuống một, gọi
là đếm nghịch.
Sau khi
thực tập đếm xuôi đếm ngược mà không bị lộn hay vọng tưởng thì bạn chuyển
sang phương pháp Tùy tức, theo dõi hơi thở. Không cần đếm hơi thở nữa mà
chỉ chú tâm theo dõi hơi thở ra, hơi thở vào. Bạn nhớ chỉ chú tâm theo dõi
thôi chứ không niệm thầm trong đầu như: "thở vào tôi biết tôi đang thở
vào, thở ra tôi biết tôi đang thở ra".
Trong lúc
đếm hoặc theo dõi hơi thở bạn nhớ hít thở bình thường và tự nhiên,
không cố gắng kéo dài, nín hơi hay điều khiển hơi thở.
Sổ tức và
Tùy tức là hai phương pháp căn bản của thiền tập, rất lợi ích và thông
dụng trong các môn phái Phật giáo, từ Nguyên Thủy tới Đại Thừa.
Bạn chỉ
cần tập từ mười đến mười lăm phút mỗi ngày. Nếu có thì giờ thì tăng lên
hai lần trong ngày, không cần ngồi quá lâu, vì mục đích ở đây là tập cho
có định lực để lắng tâm nhìn rõ và nhận diện những ý tưởng phá hoại hạnh
phúc.
2/ Niệm
Phật
Niệm Phật ở đây là dùng danh hiệu Phật để luyện tâm nên không cần phải
niệm thật nhiều hay lần chuỗi ghi sổ. Khi hít vào bạn niệm thầm sáu chữ
Nam Mô A Di Đà Phật. Khi thở ra cũng niệm sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật. Sáu
chữ này được kéo dài theo hơi thở vào và hơi thở ra. Nếu hơi thở ngắn thì
niệm nhanh, hơi thở dài thì niệm chậm. Trong khi thở và niệm như vậy cần
tỉnh giác không để cho các ý tưởng khác xen vào. Phương pháp này
thích hợp cho người thiền tịnh song tu.
3/ Niệm
chú
Niệm chú ở đây không phải tụng thần chú mà niệm hai chủng tự Om và A. Đúng
ra có ba chủng tự: Om, A, Hum. Theo mật tông Tây tạng, ba chữ này tượng
trưng cho thân, ngữ, ý của chư Phật. Ở đây chúng ta không chủ ý tu mật
tông nên tôi chỉ lấy ra hai chữ Om và A để phối hợp với hơi thở. Khi
thở vào niệm thầm Om, khi thở ra niệm A. Chữ Om và A cũng được kéo dài
theo hơi thở.
Thiền định có rất nhiều phương pháp nhưng trên đây tôi chỉ nêu ra ba
phương pháp đơn giản nhất để bạn thực tập dễ dàng và hiệu quả. Có người
đếm hơi thở thấy chán và khó thở thì hãy niệm Phật. Nếu niệm Phật thấy
động tâm thì tập niệm chú. Tùy theo căn cơ và sở thích mà lựa chọn phương
pháp.
Tách rời
và giữ khoảng cách
Chỉ cần nghĩ đến tên người đó là tôi cảm thấy bực
mình và những ý nghĩ khó chịu đua nhau khởi lên. Công năng của thiền tập
sẽ giúp cho tâm tôi tách rời cái tên của người kia và
không bị nó quấy nhiễu nữa. Giai đoạn này gọi là chỉ, có
nghĩa là dừng lại, dừng dòng tư tưởng quấy nhiễu, không nói thầm hay suy
nghĩ tiếp trong đầu. Trước kia mỗi khi cơn giận nổi lên thì tôi với cơn
giận là một, tôi là cơn giận, cơn giận là tôi, nó nhập vào tôi và điều
khiển tôi. Dần dần với thiền tập, khi cơn giận nổi lên tôi thấy được nó,
cơn giận không phải là tôi nữa, giữa tôi và cơn giận bây giờ có một
khoảng cách, khoảng cách này tăng dần với định lực, nhờ đó tôi
nhìn thấy được cơn giận nổi lên, tăng giảm rồi tan biến và không còn sai
sử được tôi như trước. Giai đoạn kế tiếp là quán tức là
quán chiếu để tìm ra nguyên nhân nào đã khơi dậy cơn giận nơi tôi và tìm
cách chuyển hóa, đây là phần truy tìm vọng tưởng đã nói ở trước. Thiền
định làm cho phiền não không quấy nhiễu tác hại được nhưng chưa đủ, cần
phải có thiền quán mới nhổ được tận gốc phiền não.
Ghi
nhận và gọi tên
Ngoài giờ ngồi thiền tu tập lắng tâm, có một phương
pháp rất hiệu nghiệm giúp ta thoát khỏi sự sai sử của vọng tưởng và cảm
xúc, đó là phương pháp "ghi nhận" và "gọi tên".
Một phật tử đến gặp thầy: Thầy ơi, con buồn quá!
Thầy hỏi:
Ai buồn?
Phật tử đáp: Dạ thưa con buồn!
Thầy nói: Không phải CON buồn mà chỉ có một
cảm giác buồn đang khởi lên trong tâm.
Một phật tử khác đến thưa: Thầy ơi, con tức quá!
Thầy đáp: Không có CON tức mà chỉ có một cảm
giác tức đang khởi lên trong tâm.
Mỗi khi có cảm giác buồn thì ta ghi nhận và gọi tên
nó: Buồn ơi! Ta xin chào ngươi. Ngươi chỉ là một cảm giác, ta không phải
là ngươi!
Mỗi khi trong đầu đang lo nghĩ tính toán đủ thứ thì
ta ghi nhận: Lo tính ơi! Ta xin chào ngươi. Ngươi chỉ là một ý tưởng, ta
không phải là ngươi!
Buồn ơi, ngươi chỉ là một cảm giác,
ta không phải là ngươi.
Lo nghĩ
ơi, ngươi chỉ là một ý tưởng, ta không phải là ngươi.
Nhờ thiền tập và giữ khoảng cách, ta sẽ hiểu và
thấy rõ chúng chỉ là những cảm giác. Mà cảm giác nào cũng vô thường, đến
rồi đi, không tồn tại.
5)
Chuyển Tình
Sau khi nhận diện được những tin tưởng sai lầm
(vọng tưởng), nguyên nhân phát khởi tánh tình xấu (phiền não) và tập thay
thế nó bằng những tư tưởng mới, đó chỉ là tu tập trên phương diện của Ý
thôi. Phiền não bắt nguồn từ tâm ý, thể hiện qua tình cảm và hành động,
do đó phải tu sửa cả Tình và Thân nữa.
Trong phần chuyển Tình (hay tu Tình), ta tập phát
triển những tình cảm, đức tính, tánh tình mới ngược lại với cái tánh xấu
cũ, trong đạo gọi là dưỡng tánh (nuôi dưỡng tánh tốt).
Thí dụ đối với tánh hay sân hận thì ta tập phát
triển tánh từ bi, đối với tánh ganh tỵ thì ta tập phát triển tánh hỷ, đối
với tánh ghim chấp trong lòng thì ta khai triển tánh xả, đối với tánh nhút
nhát thì ta tập tánh can đảm, đối với tánh lười biếng thì ta tập tinh tấn,
đối với tánh bỏn xẻn ích kỷ thì ta tập bố thí, rộng rãi, đối với tánh
khinh người thì ta tập khiêm nhường và tôn trọng kẻ khác, đối với tánh độc
tài thì ta tập khoan dung, đối với tánh đa nghi thì ta tập thông cảm,
v.v...
Một ý nghĩ nếu khởi lên đều đặn sẽ đúc kết thành
một tánh tình hay tình cảm, một tánh tình nếu khởi lên thường xuyên thì
sinh ra một thói quen hay quán tính. Vì thế muốn có một tánh tình mới thì
phải bắt đầu bằng một ý nghĩ mới.
Tứ Vô
Lượng Tâm
Tứ vô lượng tâm (từ, bi, hỷ, xả) là bốn đức tính
cao đẹp mà người tu cần phải có, nếu không có hoặc chưa có thì phải cố
gắng phát triển. Tứ vô lượng tâm thường được định nghĩa như sau:
Từ (metta): tình thương, lòng từ ái ban vui cho kẻ
khác.
Bi (karuna): lòng bi mẫn thương xót, cứu vớt người
khổ đau.
Hỷ (mudita): mừng lây với cái vui của kẻ khác.
Xả (upekkha): bình đẳng đối với mọi người dù thân
hay thù.
Từ, bi, hỷ, xả là bốn tâm niệm, nhưng cũng là bốn
thứ tình cảm. Tại sao lại có người từ bi hơn kẻ khác? Có người dễ hỷ xả
hơn kẻ khác? Ai cũng muốn mình từ bi nhưng lòng từ bi không thể tự nhiên
mà có, nó cần phải được trau dồi và phát triển. Muốn phát triển lòng từ,
bi, hỷ, xả thì ta phải tập cho nó khởi lên thường xuyên trong tâm.
Sau đây là một bài nguyện ngắn về Tứ vô lượng tâm
thường được tụng trong các khóa lễ Tây Tạng:
1.
Nguyện cho tất cả chúng sinh được an vui hạnh phúc, hay tạo hạnh
lành.
2. Nguyện
cho tất cả chúng sinh được thoát ly mọi đau khổ phiền não, ngưng tạo
điều ác.
3. Nguyện
cho tất cả chúng sinh đều có tâm hoan hỷ, không oán ghét lẫn nhau.
4. Nguyện
cho tất cả chúng sinh đều có tâm bình đẳng, không thương người này ghét
người kia.
Phương pháp đọc tụng thường xuyên là tập gieo những
lời hay ý đẹp vào tâm thức để nó hiện hành ra cử chỉ, hành động, giống
như thiết lập chương trình (programming) điện toán tâm lý vậy.
Ngoài ra trong truyền thống Nam tông cũng có những
bài Thiền quán về lòng từ gọi là Metta Bhavana. Hành giả ngồi thiền và
khởi tâm cầu nguyện như sau:
1.
Cầu mong
cho tôi được mạnh khỏe, bình an, thân không tật bệnh, tâm không phiền
não, giận hờn, lo sợ, hằng ngày an vui, xa lìa khổ nạn.
2.
Cầu mong
cho người thân của tôi (cha mẹ, anh em,...) được mạnh khỏe, bình an,
thân không tật bệnh, tâm không phiền não,...
3.
Cầu mong
cho những người quen (tên...) được mạnh khỏe, bình an,...
4.
Cầu mong cho người
xa lạ (tên...) được mạnh khỏe, bình an,...
5.
Cầu mong cho kẻ thù
và oan gia của tôi ... được mạnh khỏe, bình an,...
6.
Cầu mong cho tất cả
chúng sinh được mạnh khỏe, bình an, thân không tật bệnh, tâm không phiền
não, giận hờn, lo sợ, hằng ngày an vui, xa lìa khổ nạn.
Ban đầu bạn học thuộc
lòng và đọc thầm bài trên, sau một thời gian bạn có thể thay đổi và thêm
bớt tùy theo sở thích để khi cầu mong bạn cảm thấy tình thương của mình
thực sự gửi đến đối tượng. Ngoài giờ thiền quán bạn vẫn có thể tiếp tục tu
tập được bài trên trong đời sống hàng ngày, thí dụ đi đường thấy một người
nào đó có vẻ buồn khổ thì bạn khởi ngay trong tâm: cầu mong cho ông/bà
được mạnh khỏe, bình an, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, ..., xa
lìa khổ nạn. Xa hơn nữa, mỗi khi giận người nào hoặc bị người đó làm phiền
thì bạn cũng khởi lên câu nguyện kia: cầu mong cho anh/chị được mạnh khỏe,
bình an, thân không tật bệnh, v.v... thay vì khởi lên ý nghĩ giận hờn, thù
ghét. Bình thường khi tức giận ta chỉ muốn mắng chửi, trù ẻo: cầu cho tên
đó bị trời đánh thánh đâm, hoặc bị xe cán chết cho rồi, v.v... Khởi lên
một ý nghĩ tốt lành cho kẻ thù không phải là dễ, ban đầu chưa quen nên
ngượng ngạo, không tự nhiên nhưng từ từ sẽ thành công.
Một mặt khởi lên ý
tưởng thương yêu, từ bi trong tâm ý, một mặt tập biểu lộ nó ra ngoài hành
động và lời nói (tu Thân). Ta có thể thực tập thương yêu với chính ta bằng
cách ban cho ta một nụ cười hoặc mua cho ta một bó hoa, rồi dần dần tập
ban cho người khác một nụ cười, một lời khen khuyến khích, hoặc một món
quà gì đó. Thiền Sư Nhất Hạnh thường nhắc nhở chúng ta mỉm cười:
Thức dậy mỉm miệng
cười
Hăm bốn giờ tinh khôi
Xin nguyện sống trọn
vẹn
Mắt thương nhìn cuộc
đời.
Hoặc sống chánh niệm:
Thở vào tâm tĩnh lặng
Thở ra miệng mỉm
cười
An trú trong hiện
tại
Giờ phút đẹp tuyệt
vời.
Nụ cười không tốn
tiền mua nhưng chúng ta hay quên lãng hoặc không biết tặng cho chính
mình. Ta cứ tưởng phải có chuyện gì vui thì mới được cười, đó là một
thành kiến sai lầm làm cho cuộc đời nặng nề khó thở.
Hai đức tính từ và
bi thường được nhấn mạnh và đề cao vì nó là nền tảng của đạo đức, nhưng
hai đức tính hỷ và xả cũng quan trọng không kém, nhiều khi còn khó làm hơn
nữa. Sống trong cộng đồng xã hội, gia đình, suốt ngày phải va chạm tiếp
xúc với người xung quanh nên khó tránh khỏi phiền não. Phiền não phát sinh
do tình cảm bị tổn thương, tình cảm tổn thương thì sinh ra nội kết. Muốn
chữa vết thương lòng thì phải biết tha thứ, hỷ xả.
Sau đây là hai bài
thực tập về tha thứ và xả :
Quán Tha Thứ
1.
Nếu tôi đã
từng làm ai đau khổ hay tổn thương bằng tư tưởng, lời nói hay hành động
thì tôi xin được tha thứ.
2.
Tôi cũng
xin hoàn toàn tha thứ cho những ai đã từng làm tôi đau khổ hay tổn thương.
3.
Tôi cũng
xin tha thứ cho những điều lầm lẫn vụng dại của tôi.
4.
Cầu xin
cho tất cả mọi người biết tha thứ cho nhau và không ôm ấp hận thù.
Câu thứ
nhất xin người tha thứ cho ta, câu thứ hai ta tha thứ cho người, câu thứ
ba ta tha thứ cho chính mình, và câu thứ tư ta cầu mong cho mọi người biết
tha thứ lẫn nhau.
Cũng giống
như phần trên, ban đầu bạn học thuộc lòng bài thiền quán này và tập nhớ
lại một cách tổng quát trong lúc ngồi thiền, sau đó bạn đi xa hơn vào chi
tiết nghĩa là xét lại mình đã làm người nào đau khổ, người đó là ai? Bạn
đã làm tổn thương họ ra sao? Bằng lời nói hay hành động? Và sau cùng bạn
thầm xin người đó tha thứ cho bạn.
Có người
rất kiêu căng, ngạo mạn, nhiều khi biết mình có lỗi nhưng không chịu nhận
lỗi và xin lỗi. Thực tập câu thứ nhất sẽ giúp cho họ bớt kiêu căng và
thông cảm niềm đau của kẻ khác.
Có người
biết nhận lỗi và xin lỗi nhưng trái lại hay ghim trong lòng những niềm đau
nên khó bỏ qua hoặc tha thứ cho kẻ đã làm mình tổn thương. Thực tập câu
thứ hai sẽ giúp cho họ mở tâm độ lượng bao dung.
Có người
biết tha thứ cho kẻ khác một cách dễ dàng nhưng lại không tha thứ được cho
mình mỗi khi lầm lỗi. Họ mang mặc cảm tội lỗi và tự trách móc mình như:
tại sao tôi dở quá, tại sao tôi có thể làm những chuyện ngu si tồi bại như
vậy, v.v... Thực tập câu thứ ba sẽ giúp cho họ biết thương yêu và tha thứ
cho chính mình.
Câu thứ tư
tập cho tâm mở rộng hướng đến tất cả chúng sinh.
Quán Xả
1. Tôi cố
gắng giúp đỡ và làm vui lòng người khác, nhưng nếu họ vẫn không vui và đau
khổ thì tôi biết chấp nhận vì hiểu đó là nghiệp quả của họ.
2.