So sánh kinh Trung A-hàm
chữ Hán và
kinh Trung Bộ chữ Pàli
Nguyên tác: Bhiksu Thich Minh Chau (1961),
"A Comparative Study of the Chinese Madhyama Agama
and the Pali Majjhima Nikaya",
Ph.D. Thesis, Bihar University, India
---o0o---
NC31
C210:
Pháp
Lạc
Tỳ-kheo
ni
kinh
P44:
Tiểu
kinh
Phương
Quảng
A.
Toát
yếu
kinh
C
C:
Cư
sĩ
Tỳ
Xá
Khư
đi
đến
Tỳ-kheo
ni
Pháp
Lạc
mà
hỏi
một
loạt
những
câu
hỏi
về
các
đề
tài
khác
nhau,
và
Tỳ-kheo
ni
Pháp
Lạc
trả
lời.
Những
câu
trả
lời
của
bà
được
cư
sĩ
Tỳ
Xá
Khư
khen
ngợi.
Rồi
Tỳ-kheo
ni
Pháp
Lạc
đi
đến
đức
Thế
Tôn
thuật
lại
cuộc
đàm
thoại
với
cư
sĩ
Tỳ
Xá
Khư.
Đức
Phật
đồng
ý
tất
cả
những
câu
trả
lời
của
bà
và
khen
ngợi
Tỳ-kheo
ni.
P:
Gần
giống;
nhưng
bản
P
đề
cập
cư
sĩ
Visàkha
là
một
nam
cư
sĩ,
trước
kia
là
chồng
của
Dhammadinnà,
và
chính
Visàkha
đã
thuật
lại
cuộc
đàm
thoại
với
đức
Phật
chứ
không
phải
Tỳ-kheo
ni.
B.
Nhan
đề
kinh
C:
Pháp
lạc
Tỳ-kheo
ni
kinh,
bản
kinh
nói
về
Tỳ-kheo
ni
danh
hiệu
là
Pháp
Lạc,
người
mà
nam
cư
sĩ
Tỳ
Xá
Khư
đặt
nhiều
câu
hỏi.
P:
Tiểu
kinh
Phương
quảng,
bản
kinh
về
Vedalla,
đề
cập
nhiều
đề
tài
khác
nhau,
được
Visàkha
nêu
lên.
Nó
mang
cùng
tên
với
bản
kinh
P
trước
đấy,
nhưng
thay
chữ
đại
bằng
tiểu.
C.
Nơi
thuyết
kinh
C:
Xá
Vệ,
Thắng
Lâm,
vườn
Cấp-cô-độc.
P:
Vương
Xá
thành,
vườn
trúc
Ca
Lan
Đà.
D.
Nội
dung
kinh
I.
Hoàn
cảnh
đưa
đến
sự
thuyết
kinh:
C:
"Lúc
bấy
giờ
nam
cư
sĩ
Tỳ
Xá
Khư
đi
đến
chỗ
Tỳ-kheo
ni
Pháp
Lạc,
đảnh
lễ
dưới
chân,
ngồi
qua
một
bên
và
hỏi:
'Thưa
Tôn
giả,
tôi
xin
phép
hỏi
một
số
vấn
đề.'
Tỳ-kheo
ni
Pháp
Lạc
trả
lời:
'Cư
sĩ
cứ
hỏi
nếu
muốn.
Sau
khi
nghe
xong
tôi
sẽ
suy
nghĩ.'
"
P:
Nói
Visàkha
là
một
nam
cư
sĩ
chứ
không
phải
là
nữ
cư
sĩ
như
trong
kinh
C.
Ông
ta
đặt
câu
hỏi
cho
Tỳ-kheo
ni
Pháp
Lạc
ngay,
không
xin
phép
trước.
II.
Những
loạt
câu
hỏi:
Hai
bản
kinh
có
nhiều
điểm
khác
nhau
về
những
câu
hỏi
được
nêu
lên.
Trong
bản
C,
có
30
câu
hỏi,
bản
P
có
34
câu.
Những
câu
hỏi
tương
đương
trong
cả
hai
bản
lên
đến
22
câu.
Trong
bản
C,
có
tám
câu
hỏi
không
có
trong
P;
và
bản
P
có
chín
câu
không
có
trong
C.
Trong
số
tám
câu
hỏi
không
có
trong
P,
có
sáu
câu
đã
có
trong
kinh
C
211.
Trong
số
chín
câu
hỏi
có
trong
P
mà
C
không
có,
có
ba
câu
đã
có
trong
kinh
C
211.
1/-
22
câu
hỏi
tương
đương
trong
cả
hai
bản
là:
C1
=
P1,C2
=
P6,
C3
=
P7,
C4
=
P3,
C5
=
P5,
C6
=
P8,
C7
=
P9,
C9
=
P10,
C12
=
P11,
C17
=
P15,
C18
=
P17,
C19
=
P20,
C20
=
P21,
C21
=
P22,
C22
=
P23
và
24,
C23
=
P25,26,27;
C24
=
P28
(C25
=
P28),
C25
=
P29,
C27
=
P30,
C28
=
P31,
C29
=
P32,
C30
=
P34.
2/-
8
câu
hỏi
có
trong
C,
không
có
trong
P:
C8,
C10,
C11,
C13,
C14,
C15,
C16,
C26.
Sáu
câu
hỏi
sau
đây
đã
có
trong
các
kinh
C
và
P
trước:
C10
=
C15,
C11
=
P18,
C13
=
C20,
C14
=
C21,
C15
=
C22,
C16
=
C23.
3/-
9
câu
hỏi
trong
P
không
có
trong
C:
P2,4,12,13,
14,16,18,19,33.
Trong
số
chín
câu
hỏi
này
có
ba
câu
đã
tìm
thấy
trong
kinh
trước:
P16
=
C24,
P18
=
C25,
P19
=
C26.
Những
chỗ
gạch
dưới
chỉ
cho
các
bản
kinh
C
và
P
trước
đấy.
a)
Những
câu
hỏi
về
tự
thân
và
các
uẩn:
C1
=
P1:
C:
Tỳ
Xá
Khư
hỏi:
"Thưa
Tôn
giả,
tự
thân
được
gọi
là
tự
thân.
Thế
nào
gọi
là
tự
thân?"
Tỳ-kheo
ni
Pháp
Lạc
trả
lời:
"Đức
Thế
Tôn
nói
về
năm
uẩn
tăng
trưởng
là
tự
thân,
sắc
uẩn,
thọ
uẩn,
tưởng
uẩn,
hành
uẩn,
thức
uẩn
tăng
trưởng
(năm
thạnh
uẩn).
Đấy
là
những
gì
đức
Thế
Tôn
nói
về
năm
thạnh
uẩn."
Tín
nữ
Tỳ
Xá
Khư
nghe
xong
khen
ngợi
nói:
"Lành
thay
thưa
Tôn
giả."
Khen
xong
tín
nữ
hoan
hỷ
lãnh
thọ.
P:
Gần
giống.
Câu
hỏi
giống
nhưng
trả
lời
hơi
khác.
C:
5
thạnh
uẩn
=
P:
5
thủ
uẩn.
C:
Đây
là
những
gì
đức
Thế
Tôn
nói
về
năm
thạnh
uẩn
=
P:
Năm
thủ
uẩn
này
được
đức
Như
lai
gọi
là
tự
thân
hay
thân
kiến.
C2
=
P6:
C:
(Cách
đặt
câu
hỏi
và
trả
lời
cũng
giống
như
các
câu
hỏi
còn
lại).
Hỏi:
Làm
thế
nào
thân
kiến
sinh
khởi?
Đáp:
Kẻ
vô
văn
phàm
phu
không
yết
kiến
các
bậc
đa
văn,
không
biết
pháp
các
bậc
thánh,
không
thuần
thục
pháp
các
bậc
thánh.
Kẻ
ấy
thấy
sắc
pháp
là
linh
hồn,
thấy
linh
hồn
có
sắc,
thấy
sắc
ở
trong
linh
hồn,
thấy
linh
hồn
ở
trong
sắc.
(Cũng
vậy
với
bốn
uẩn
còn
lại).
Đây
gọi
là
thân
kiến.
P:
Gần
giống.
C:
kẻ
vô
văn
phàm
phu...
pháp
các
bậc
thánh
=
P:
kẻ
phàm
phu
không
học,
không
yết
kến
các
bậc
thánh,
không
am
tường
thánh
pháp,
không
thuần
thục
về
thánh
pháp;
không
yết
kiến
bậc
chân
nhân,
không
am
tường
pháp
của
bậc
chân
nhân,
không
thuần
thục
pháp
của
bậc
chân
nhân.
C:
linh
hồn
=
P:
tự
ngã.
C3
=
P7:
C:
Hỏi:
Làm
thế
nào
thân
kiến
không
sinh
khởi?
Đáp:
(Ngược
lại
với
câu
trả
lời
trên).
P:
Cũng
nhận
xét
như
trong
câu
hỏi
trước
.
C4
=
P3:
C:
Làm
thế
nào
thân
đi
đến
hủy
diệt?
Đáp:
Sắc
thạnh
uẩn
được
tận
diệt
không
dư
tàn,
được
từ
bỏ,
vứt
đi,
được
dập
tắt,
không
làm
ô
nhiễm
kẻ
khác,
chấm
dứt,
dừng
lại,
biến
mất.
Các
thạnh
uẩn
thọ,
tưởng,
hành
thức
được
tận
diệt
không
dư
tàn,....
biến
mất.
Đây
gọi
là
sự
chấm
dứt
của
tự
thân.
P:
Gần
giống.
Hỏi:
Tự
thân
diệt
được
gọi
là
tự
thân
diệt.
Thế
nào
đức
Thế
Tôn
gọi
là
tự
thân
diệt?
Đáp:
Sự
chấm
dứt
không
còn
ái
luyến,
sự
từ
bỏ,
tẩy
trừ,
giải
thoát,
đây
gọi
là
tự
thân
diệt,
được
đức
Thế
Tôn
nói
đến.
C5
=
P5:
C:
Hỏi:
Uẩn
được
gọi
là
uẩn.
Thạnh
uẩn
được
gọi
là
thạnh
uẩn.
Uẩn
và
thạnh
uẩn
là
một
hay
là
khác?
Đáp:
Có
khi
uẩn
và
thạnh
uẩn
là
một,
có
khi
là
khác.
Thế
nào
uẩn
và
thạnh
uẩn
là
một?
Khi
sắc
pháp
có
ô
nhiễm,
có
chấp
thủ;
khi
thọ,
tưởng,
hành,
thức
có
ô
nhiễm,
có
chấp
thủ,
khi
ấy
uẩn
được
gọi
là
thạnh
uẩn.
Thế
nào
là
uẩn
không
phải
là
thạnh
uẩn?
Khi
sắc
pháp
không
có
ô
nhiễm,
không
có
chấp
thủ;
khi
thọ,
tưởng,
hành.
thức
không
có
ô
nhiễm,
không
có
chấp
thủ,
khi
ấy
uẩn
không
phải
là
thạnh
uẩn.
P:
Không
giống
hẳn.
Hỏi:
Có
phải
thủ
đồng
nghĩa
với
năm
thủ
uẩn
hay
thủ
khác
với
năm
thủ
uẩn?
Đáp:
Thủ
không
là
một
với
năm
thủ
uẩn,
nhưng
cũng
không
khác
với
năm
thủ
uẩn.
Khi
có
tham
ái
và
chấp
thủ
trong
năm
thủ
uẩn,
khi
ấy
có
thủ.
C:
thạnh
uẩn
=
P:
thủ
uẩn.
Trong
loạt
câu
hỏi
này,
có
hai
câu
trong
P
không
có
trong
C:
P2:
Hỏi:
Tập
khởi
của
thân
gọi
là
tập
khởi
của
thân.
Gì
là
tập
khởi
của
tự
thân
được
đức
Thế
Tôn
nói
đến?
Đáp:
Bất
cứ
gì
có
khát
ái
đưa
đến
tái
sinh,
liên
hệ
đến
hỷ
và
tham,
tìm
hỷ
lạc
chỗ
này
chỗ
kia,
như
dục
ái,
hữu
ái
và
phi
hữu
ái.
Đây
gọi
là
tập
khởi
của
tự
thân,
được
đức
Thế
Tôn
nói
đến.
P4:
Hỏi:
Con
đường
đưa
đến
chấm
dứt
tự
thân
được
gọi
là
con
đường
đưa
đến
chấm
dứt
tự
thân.
Thế
nào
được
gọi
là
con
đường
đưa
đến
chấm
dứt
tự
thân
do
đức
Thế
Tôn
dạy?
Đáp:
Thánh
đạo
tám
ngành
này
được
gọi
là
con
đường
đưa
đến
chấm
dứt
tự
thân
do
đức
Thế
Tôn
dạy,
đó
là
chánh
kiến,
chánh
tư
duy,
chánh
ngữ,
chánh
nghiệp,
chánh
mạng,
chánh
tinh
tấn,
chánh
niệm,
chánh
định.
b)
Những
câu
hỏi
về
thánh
đạo
tám
ngành:
C6
=
P8:
C:
Hỏi:
Gì
là
thánh
đạo
tám
ngành?
Đáp:
Thánh
đạo
tám
ngành
là
chánh
kiến
cho
đến
chánh
định,
đây
gọi
là
thánh
đạo
tám
ngành.
P:
Gần
giống.
Bản
P
kể
cả
tám
pháp.
C7
=
P9:
C:
Hỏi:
Thánh
đạo
tám
ngành
có
phải
là
một
pháp
hữu
vi
không?
Đáp:
Thánh
đạo
tám
ngành
là
một
pháp
hữu
vi.
P:
Gần
giống.
C8
=
P
không
có:
C:
Có
bao
nhiêu
nhóm?
Đáp
có
ba
nhóm:
nhóm
giới,
định
và
tuệ.
C9
=
P10:
C:
Thánh
đạo
tám
ngành
bao
gồm
ba
nhóm,
hay
là
ba
nhóm
bao
gồm
tám
thánh
đạo?
Đáp:
Thánh
đạo
tám
ngành
không
bao
gồm
ba
nhóm,
mà
ba
nhóm
bao
gồm
tám
thánh
đạo.
Chánh
ngữ,
chánh
nghiệp
và
chánh
mạng,
ba
yếu
tố
này
được
bao
gồm
trong
nhóm
thánh
giới;
chánh
niệm,
chánh
định,
hai
pháp
này
bao
gồm
trong
nhóm
thánh
định;
chánh
kiến,
chánh
tư
duy,
chánh
phương
tiện,
ba
pháp
này
bao
gồm
trong
nhóm
thánh
tuệ.
Bởi
vậy
thánh
đạo
tám
ngành
không
bao
gồm
ba
nhóm,
mà
ba
nhóm
bao
gồm
thánh
đạo
tám
ngành.
P
:
Gần
giống,
nhưng
hình
thức
câu
hỏi
đặt
ra
hơi
khác.
Hỏi:
Ba
nhóm
được
bao
gồm
trong
thánh
đạo
tám
ngành,
hay
thánh
đạo
tám
ngành
được
bao
gồm
trong
ba
nhóm?
Một
dị
biệt
quan
trọng
ở
đây
là
bản
P
bao
gồm
chánh
tinh
tiến
vào
trong
nhóm
định,
còn
bản
C
bao
gồm
chánh
phương
tiện
vào
trong
nhóm
tuệ.
c)
Những
câu
hỏi
về
diệt
(Niết-bàn),
sơ
thiền
và
định:
C10
=
P
không
có:
C:
Hỏi:
Diệt
có
đối
hay
không?
Đáp:
Diệt
không
có
đối.
C11
=
P
không
có:
C:
Hỏi:
Sơ
thiền
có
bao
nhiêu
thiền
chi?
Đáp:
Sơ
thiền
có
năm
thiền
chi:
tầm,
tứ,
hỷ,
lạc,
và
nhất
tâm.
Đây
gọi
là
năm
thiền
chi.
P:
Không
có
ở
đây,
nhưng
đã
có
trong
kinh
trước
số
43,
P18.
C12
=
P11:
C:
Hỏi:
Định
là
gì?
Gì
là
định
tướng?
Gì
là
sức
mạnh
của
định?
Gì
là
hiệu
lực
của
định?
Gì
là
sự
tu
tập
định?
Đáp:
Khi
thiện
tâm
trở
nên
chuyên
nhất
thì
gọi
là
định.
Định
tướng
là
bốn
chánh
niệm.
Sức
mạnh
của
định
là
bốn
chánh
đoạn.
Hiệu
lực
của
định
là
bốn
thần
thông.
Khi
người
ta
tu
tập
các
thiện
pháp
này,
dấn
mình
vào
việc
tu
tập,
với
sự
tinh
cần
nỗ
lực,
đây
gọi
là
tu
tập
định.
P:
Gần
giống.
Hỏi:
Gì
là
định?
Gì
là
định
tướng?
Gì
là
định
tư
cụ?
(điều
kiện
của
định).
Gì
là
sự
tu
tập
định?
Đáp:
Nhất
tâm
gọi
là
định;
bốn
niệm
xứ
gọi
là
định
tướng;
bốn
chánh
cần
là
tư
cụ
của
định;
sự
tu
tập,
huấn
luyện,
thực
hành
liên
tục
các
pháp
này
gọi
là
tu
tập
định.
d)
Những
câu
hỏi
về
chết,
diệt
định,
định
vô
tưởng:
(Xin
xem
đoạn
trước
nói
về
định
trong
C211).
e)
Những
câu
hỏi
về
cảm
thọ:
C20
=
P21:
C:
Hỏi:
Có
bao
nhiêu
cảm
thọ?
Đáp:
Có
ba
loại
thọ:
lạc
thọ,
khổ
thọ,
bất
khổ
bất
lạc
thọ.
Chúng
khởi
lên
do
duyên
gì?
Do
duyên
hưởng
thụ
mạnh
mẽ,
chúng
khởi
lên.
P:
Gần
giống;
nhưng
bỏ
phần
cuối
"do
duyên
gì
chúng
khởi
lên".
C:
hưởng
thụ
mạnh
mẽ
=
P:
xúc.
C21
=
P22:
C:
Hỏi:
Gì
là
lạc
thọ?
Gì
là
khổ
thọ?
Gì
là
bất
khổ
bất
lạc
thọ?
Đáp:
Khi
lạc
thọ
khởi
lên
do
hưởng
thụ
mạnh
mẽ
thì
thân
và
tâm
hưởng
một
cảm
giác
khả
ái,
dễ
chịu,
đây
gọi
là
lạc
thọ.
Khi
khổ
thọ
khởi
lên
do
hưởng
thụ
mạnh
mẽ,
thì
thân
và
tâm
trải
qua
một
cảm
giác
khó
chịu,
bất
lạc,
đây
gọi
là
khổ
thọ.
Khi
cảm
thọ
bất
khổ
bất
lạc
khởi
lên
do
hưởng
thụ
mạnh
mẽ,
thì
thân
và
tâm
kinh
nghiệm
một
cảm
giác
không
vui
không
khổ,
không
đáng
ưa
cũng
không
đáng
ghét,
đây
gọi
là
bất
khổ
bất
lạc
thọ.
P:
Gần
giống.
Định
nghĩa
ở
đây
giản
dị
hơn:
bất
cứ
cảm
thọ
thân
và
tâm
nào
dễ
chịu,
khả
ái,
thì
gọi
là
lạc
thọ....
C22
=
P23,24:
C:
Hỏi:
Lạc
thọ,
gì
là
lạc?
Gì
là
sự
bất
lạc
của
nó?
Gì
là
sự
vô
thường
của
nó?
Gì
là
sự
nguy
hiểm
của
nó?
Gì
là
khuynh
hướng
tiềm
ẩn
trong
nó
(tùy
miên)?
(cũng
câu
hỏi
tương
tự
đối
với
khổ
thọ
và
bất
khổ
bất
lạc
thọ).
Đáp:
Lạc
thọ
khi
sinh
khởi,
khi
đang
trú,
đó
là
khía
cạnh
lạc
của
nó;
khi
nó
biến
hoại,
đấy
là
khía
cạnh
khổ
của
nó;
tính
vô
thường
là
nguy
hiểm
của
nó;
tham
ái
là
khuynh
hướng
tiềm
tàng
trong
nó.
Đối
với
khổ
thọ,
khi
nó
khởi
lên,
khi
đang
trú,
đó
là
khía
cạnh
khó
chịu
của
nó;
khi
nó
thay
đổi
thì
đó
là
khía
cạnh
dễ
chịu
của
nó;
vô
thường
là
sự
nguy
hiểm
của
nó,
sân
hận
là
khuynh
hướng
tiềm
ẩn
trong
nó;
đối
với
bất
khổ
bất
lạc
thọ,
khi
nó
không
được
biết
đến,
đấy
là
sự
khó
chịu
của
nó,
khi
nó
được
biết
đến,
đấy
là
khía
cạnh
dễ
chịu
của
nó,
vô
thường
là
sự
biến
hoại
của
nó,
vô
minh
là
khuynh
hướng
tiềm
tàng
trong
nó.
P23:
Không
giống
hẳn,
ở
đây
nói
đơn
giản
hơn.
Hỏi:
Đối
với
lạc
thọ,
cái
gì
lạc,
cái
gì
khổ?
Đối
với
khổ
thọ,
cái
gì
khổ,
cái
gì
lạc?
Đối
với
bất
khổ
bất
lạc
thọ,
cái
gì
khổ,
cái
gì
lạc?
Đáp:
Đối
với
lạc
thọ,
trú
là
lạc,
biến
hoại
khổ.
Đối
với
khổ
thọ,
trú
khổ,
biến
hoại
lạc.
Đối
với
bất
khổ
bất
lạc
thọ,
biết
là
lạc,
không
biết
là
khổ.
Ở
đây
cách
giải
thích
trong
hai
bản
không
giống
nhau
về
cảm
thọ
bất
khổ
bất
lạc.
P24:
Về
khuynh
hướng
tiềm
ẩn
(anusaya,
tùy
miên)
trong
ba
cảm
thọ,
câu
trả
lời
giống
với
bản
C.
C23
=
P25,26,27:
C:
Hỏi:
Có
phải
tất
cả
lạc
thọ
đều
có
tham
tiềm
ẩn?
Có
phải
tất
cả
khổ
thọ
đều
có
sân
tiềm
ẩn?
Có
phải
tất
cả
bất
khổ
bất
lạc
thọ
đều
có
vô
minh
tiềm
ẩn?
Đáp:
Không
phải
tất
cả
lạc
thọ
đều
có
tham
tiềm
ẩn.
Không
phải
tất
cả
khổ
thọ
đều
có
sân
tiềm
ẩn.
Không
phải
tất
cả
bất
khổ
bất
lạc
thọ
đều
có
vô
minh
tiềm
ẩn.
Thế
nào
không
phải
tất
cả
lạc
thọ
đều
có
tham
tiềm
ẩn?
Khi
một
Tỳ-kheo
ly
dục,
ly
bất
thiện
pháp,
chứng
và
trú
sơ
thiền,
có
tầm,
có
tứ,
có
hỷ
lạc
do
viễn
ly
sanh,
đây
gọi
là
lạc
thọ
không
có
tham
tiềm
ẩn.
Vì
sao?
Vì
thiền
này
phá
hủy
tham.
Thế
nào
không
phải
tất
cả
khổ
thọ
đều
có
sân
tiềm
ẩn?
Khi
một
người
theo
đuổi
phúc
lạc
của
giải
thoát
cao
cả,
trong
sự
nỗ
lực
của
vị
ấy
có
khởi
lên
một
khổ
thọ,
đây
gọi
là
khổ
thọ
không
có
sân
tiềm
ẩn.
Tại
sao?
Vì
thiền
này
phá
hủy
sân.
Thế
nào
là
không
phải
tất
cả
bất
khổ
bất
lạc
thọ
đều
có
vô
minh
tiềm
ẩn?
Với
sự
chấm
dứt
lạc,
chấm
dứt
khổ,
chấm
dứt
hỷ
và
ưu
đã
cảm
thọ
trước
kia,
vị
ấy
chứng
trú
thiền
thứ
tư
được
thuần
tịnh
nhờ
chánh
niệm,
bất
khổ
bất
lạc.
Đây
gọi
là
cảm
thọ
bất
khổ
bất
lạc
nhưng
không
có
vô
minh
tiềm
ẩn.
Vì
sao?
Vì
thiền
này
phá
hủy
vô
minh.
P25,26,267:
Đoạn
kinh
C
bao
gồm
cả
ba
câu
hỏi
trong
bản
P.
Câu
hỏi
số
25
trong
bản
P
giống
với
câu
hỏi
số
23
trong
C,
nhưng
nó
chỉ
trả
lời
không.
Trong
P26,
câu
hỏi
là:
Cái
gì
cần
từ
bỏ
trong
lạc
thọ,
trong
khổ
thọ
và
trong
bất
khổ
bất
lạc
thọ?
Và
câu
trả
lời
là:
Trong
lạc
thọ
cần
từ
bỏ
tham,
trong
khổ
thọ
cần
từ
bỏ
sân,
trong
bất
khổ
bất
lạc
thọ
cần
từ
bỏ
si.
Trong
P27,
câu
hỏi
là:
Có
phải
tham
sân
si
cần
được
từ
bỏ
trong
tất
cả
lạc
thọ,
khổ
thọ,
và
bất
khổ
bất
lạc
thọ
không?
Câu
trả
lời
gần
giống
như
trong
C.
C:
Tại
sao
thế?
Vì
thiền
này
phá
hủy
tham
=
P:
Do
thiền
này
tham
ái
được
phá
hủy
nên
không
có
tham
tùy
miên
ở
đây.
C:
Khi
một
người
theo
đuổi
hạnh
phúc
giải
thoát
cao
cả,
trong
sự
nỗ
lực
của
họ
có
khởi
lên
một
khổ
thọ,
đây
gọi
là
khổ
thọ
không
có
sân
tiềm
ẩn
=
P
:
Vị
Tỳ-kheo
nghĩ
:
"Sau
khi
đạt
đến
cảnh
giới
này,
ta
sẽ
trú
trong
cảnh
giới
mà
các
bậc
thánh
đã
chứng
và
trú."
Đối
với
Tỳ-kheo
đã
lập
một
lời
nguyện
như
vậy,
khi
bất
lạc
khởi
lên
do
lời
thệ
nguyện
này
mà
sân
được
phá
hủy,
không
có
sân
tùy
miên
ở
đây.
Về
câu
trả
lời
đối
với
cảm
thọ
bất
khổ
bất
lạc
cũng
giống
như
trong
C.
Nó
chỉ
thêm
rằng
"không
có
vô
minh
tùy
miên
ở
đây."
f)
Những
câu
hỏi
về
đối
(patibhàga
đối
xứng
và
đối
nghịch):
C24
=
P28:
C:
Hỏi:
Lạc
thọ
đối
với
cái
gì?
Đáp:
Khổ
thọ
là
đối
với
lạc
thọ.
P:
Giống
nhau.
C25
=
P29:
C:
Hỏi:
Gì
là
đối
nghịch
của
khổ
thọ?
Đáp:
Lạc
thọ
là
đối
nghịch
với
khổ
thọ.
P:
Giống
nhau.
C26
=
P
không
có:
C:
Hỏi:
Gì
là
đối
nghịch
với
lạc
thọ,
với
khổ
thọ?
Đáp:
Bất
khổ
bất
lạc
thọ
là
đối
nghịch
với
lạc
thọ
và
khổ
thọ.
C27
=
P30:
C:
Hỏi:
Cái
gì
là
đối
nghịch
với
bất
khổ
bất
lạc
thọ?
Đáp:
Vô
minh
là
đối
nghịch
với
bất
khổ
bất
lạc
thọ.
P:
Giống
nhau.
C29
=
P32:
C:
Hỏi:
Gì
là
đối
xứng
với
minh
trí?
Đáp:
Niết-bàn
là
đối
với
minh
trí.
P:
Câu
hỏi
giống
nhau
nhưng
trả
lời
khác.
Bản
P
trả
lời:
giải
thoát
là
đối
với
vô
minh.
Ở
đây
bản
P
thêm
một
câu
hỏi
nữa:
"Giải
thoát
lấy
gì
đối?"
Đáp:
"Giải
thoát
lấy
Niết-bàn
làm
đối".
C30
=
P34:
C:
Hỏi:
Niết-bàn
lấy
gì
làm
đối?
Đáp:
Ngươi
muốn
hỏi
một
câu
hỏi
vô
giới
hạn.
Nhưng
điều
ngươi
hỏi
không
vượt
ngoài
hiểu
biết
của
ta.
Niết-bàn
không
có
đối,
Niết-bàn
không
có
khuyết
điểm
của
sự
rối
ren,
tất
cả
mọi
rối
ren
đều
đã
được
trừ
khử.
Chính
do
ý
nghĩa
(mục
đích)
này
mà
người
ta
sống
đời
phạm
hạnh
dưới
đức
Thế
Tôn.
P:
Câu
hỏi
giống
nhưng
trả
lời
khác.
Trả
lời:
Câu
hỏi
của
ngươi
vượt
ngoài
giới
hạn.
Không
thể
nào
nắm
được
phạm
vi
của
câu
hỏi.
Đời
sống
phạm
hạnh
là
để
hòa
nhập
vào
Niết-bàn,
nhắm
vào
Niết-bàn,
chấm
dứt
trong
Niết-bàn.
Nếu
muốn,
ngươi
có
thể
đến
đức
Thế
Tôn
mà
hỏi
ý
nghĩa
này.
Những
gì
đức
Thế
Tôn
giải
đáp,
hãy
như
vậy
mà
thọ
trì.
Trong
bản
P
có
ba
câu
hỏi
không
có
trong
C.
Đó
là
câu
12,
13,14
P12:
Hỏi:
Có
bao
nhiêu
loại
hành?
Đáp:
Có
ba
loại
hành:
thân
hành,
ngữ
hành,
ý
hành.
P13:
Hỏi:
Gì
là
thân
hành,
gì
là
ngữ
hành,
gì
là
ý
hành?
Đáp:
Thở
vô
thở
ra
là
thân
hành;
tầm
tứ
là
ngữ
hành;
tưởng
và
thọ
là
ý
hành.
P14:
Hỏi:
Thế
nào
thở
vô
thở
ra
là
thân
hành?
Thế
nào
tầm
tứ
là
ngữ
hành?
Thế
nào
tưởng
và
thọ
là
ý
hành?
Đáp:
Thở
vô
thở
ra
thuộc
về
thân,
liên
hệ
đến
thân,
nên
gọi
là
thân
hành.
Trước
hết
phải
suy
nghĩ,
tức
là
tầm
và
tứ,
rồi
người
ta
mới
nói
thành
lời,
cho
nên
tầm
tứ
thuộc
về
ngữ
hành.
Thọ
và
tưởng
là
những
yếu
tố
tâm
lý,
là
những
pháp
liên
hệ
đến
tâm
nên
gọi
là
ý
hành.
III.
Cuộc
đàm
thoại
được
thuật
lại
với
đức
Phật:
C:
"Rồi
tín
nữ
Tỳ
Xá
Khư
sau
khi
nghe
Tỳ-kheo
ni
Pháp
Lạc
nói
pháp,
sau
khi
khéo
thọ
trì,
nắm
vững,
tụng
thuộc
và
khéo
tu
tập,
đứng
dậy
khỏi
chỗ
ngồi,
đảnh
lễ
dưới
chân
Tỳ-kheo
ni
Pháp
Lạc,
nhiễu
quanh
bà
ba
vòng
rồi
ra
đi.
Tỳ-kheo
ni
Pháp
Lạc,
sau
khi
tín
nữ
Tỳ
Xá
Khư
đi
không
bao
lâu,
liền
đến
đức
Thế
Tôn,
đảnh
lễ
dưới
chân
đức
Phật,
ngồi
xuống
một
bên
và
tường
thuật
với
Ngài
toàn
thể
cuộc
đàm
thoại
với
tín
nữ
Tỳ
Xá
Khư.
Bà
chắp
tay
hướng
về
đức
Phật
mà
nói,
bạch
đức
Thế
Tôn
con
đã
nói
như
vậy,
đã
trả
lời
như
vậy.
Con
có
xuyên
tạc
lời
của
đức
Thế
Tôn
không?
Con
có
nói
đúng
pháp
không,
con
có
nói
phù
hợp
với
pháp
không?
Y
cứ
vào
pháp,
có
điểm
nào
trong
lời
nói
của
con
trái
ngược
với
pháp,
có
gì
đáng
chất
vấn,
có
gì
lỗi
lầm
không?
Đức
Thế
Tôn
trả
lời:
'Này
Tỳ-kheo,
những
gì
ngươi
đã
nói,
những
gì
ngươi
trả
lời,
không
phỉ
báng
ta.
Ngươi
đã
nói
đúng
pháp,
phù
hợp
với
pháp,
không
có
gì
trái
ngược,
không
có
gì
đáng
chất
vấn,
không
có
gì
lầm
lỗi.
Nếu
tín
nữ
Tỳ
Xá
Khư
dùng
câu
như
vậy,
lời
như
vậy
đến
hỏi
ta,
ta
cũng
sẽ
dùng
nghĩa
như
vậy,
câu
như
vậy,
lời
như
vậy
để
giải
đáp
cho
tín
nữ
Tỳ
Xá
Khư.
Ý
nghĩa
này
là
những
gì
ngươi
đã
nói.
Ngươi
nên
thọ
trì
trong
tâm.
Vì
sao?
Vì
lời
này
phù
hợp
với
ý
nghĩa.'
"
P:
Không
giống
hẳn.
Ở
đây
bản
P
chỉ
nói
Visàkha
hoan
hỷ
tín
thọ
lời
Tỳ-kheo
ni
Dhammadinnà
và
cám
ơn
bà.
Trong
bản
P,
chính
nam
cư
sĩ
Visàkha
đi
đến
Phật
thuật
lại
cuộc
đàm
thoại
với
ngài.
Bản
P
chỉ
nói
rằng
Phật
khen
Tỳ-kheo
ni
Pháp
Lạc
là
đa
văn,
có
đại
trí
tuệ,
và
Ngài
nói
rằng
nếu
nam
cư
sĩ
đi
đến
Ngài
mà
hỏi
những
câu
ấy,
Ngài
cũng
sẽ
trả
lời
y
như
Tỳ-kheo
ni
Dhammadinnà
đã
trả
lời.
Rồi
Ngài
khuyên
Visàkha
thọ
trì
ý
nghĩa
ấy.
E.
Phần
kết
C:
Đức
Phật
nói
như
vậy.
Tỳ-kheo
ni
Pháp
lạc
và
các
Tỳ-kheo,
sau
khi
nghe
lời
đức
Phật,
hoan
hỷ
phụng
hành.
P:
Nam
cư
sĩ
Visàkha
hoan
hỷ
tín
thọ
lời
Thế
Tôn
dạy.
NC39
C133:
Ưu
bà
lợi
kinh
P56:
Kinh
Upàli
A.
Toát
yếu
kinh
C
C:
Trường
Khổ
Hạnh
đàm
luận
với
đức
Phật,
trong
đó
ông
trình
bày
lý
thuyết
của
Kiền
Tử
về
hình
phạt
và
vai
trò
nổi
bật
của
thân
phạt
trong
bất
cứ
hành
vi
quấy
nào.
Ngược
lại
đức
Phật
trình
bày
lý
thuyết
của
Ngài
về
nghiệp
và
vai
trò
nổi
bật
của
ý
nghiệp
trong
bất
cứ
hành
vi
quấy
nào.
Trường
Khổ
Hạnh
thuật
lại
cuộc
đàm
thoại
với
Kiền
Tử
khi
có
mặt
gia
chủ
Upàli.
Khi
ấy
Upàli
được
Kiền
Tử
chấp
thuận
cho
đi
đến
phản
bác
quan
điểm
của
đức
Phật.
Nhưng
đức
Phật,
bằng
vài
ví
dụ,
đã
cảm
hóa
được
Upàli
theo
lý
thuyết
của
Ngài,
và
ông
trở
thành
đệ
tử
Ngài.
Sau
đó
Upàli
trở
về
công
bố
đức
tin
mới
của
ông,
từ
bỏ
niềm
tin
cũ
đối
với
Ni
Kiền.
Kiền
Tử,
sau
khi
nghe
tin
này,
đã
đích
thân
đến
nhà
Upàli,
và
khi
được
ông
ta
cho
biết
ông
đã
cải
đạo,
Kiền
Tử
đã
hộc
máu
nóng
và
chết
tại
Pàvà
sau
đó.
P
:
Gần
giống
nhưng
bỏ
cái
chết
của
Kiền
Tử.
B.
Nhan
đề
kinh
C:
Ưu
bà
lợi
kinh,
bản
kinh
nói
về
Ưu
Ba
Ly,
một
người
trước
đây
là
đệ
tử
của
Ni
Kiền,
sau
trở
thành
đệ
tử
đức
Phật.
P:
Kinh
Upàli,
giống
như
C.
C.
Nơi
thuyết
kinh
C:
Na
Lan
Đà,
trong
rừng
Pàvàrikamba.
P:
Nàlandà,
Pàvàrikambavana.
D.
Nội
dung
kinh
I.
Cuộc
đàm
thoại
giữa
Trường
Khổ
Hạnh
và
đức
Phật:
C:
Trường
Khổ
Hạnh
đi
đến
nơi
đức
Phật,
trao
đổi
với
Ngài
và
ngồi
qua
một
phía.
Đức
Phật
hỏi
ông:
"Có
bao
nhiêu
hành
vi
Ni
Kiền
Tử
chủ
trương
để
diệt
trừ
ác
nghiệp?"
Trường
Khổ
Hạnh
trả
lời
rằng
Kiền
Tử
không
nói
hành
vi
để
diệt
trừ
ác
hành
mà
nói
phạt.
Rồi
ông
tiếp
tục
giải
thích
có
ba
loại
hình
phạt,
thân
phạt,
ngữ
phạt
và
ý
phạt,
ba
loại
không
giống
nhau,
và
thân
phạt
có
vai
trò
quan
trọng
nhất
trong
sự
diệt
trừ
tội
ác.
Khi
ấy
đức
Phật
trình
bày
lý
thuyết
của
Ngài
về
nghiệp
để
diệt
trừ
tội
ác,
về
ba
loại
nghiệp
là
thân
nghiệp,
khẩu
nghiệp,
ý
nghiệp;
mà
ý
nghiệp
đóng
vai
trò
quan
trọng
trong
sự
diệt
trừ
tội
ác.
Đức
Phật
và
Trường
Khổ
Hạnh
đều
nhắc
lại
ba
lần
chủ
trương
của
mình;
rồi
Trường
Khổ
Hạnh
bỏ
đi.
P:
Gần
giống;
thêm:
Phật
nói
với
Trường
Khổ
Hạnh:
"Có
chỗ
ngồi;
nếu
muốn,
mời
ông
hãy
ngồi."
Rồi
Trường
Khổ
Hạnh
lấy
một
ghế
thấp
và
ngồi
xuống.
Câu
hỏi
của
đức
Phật
ở
đây
hơi
khác:
"Có
bao
nhiêu
nghiệp
Ni
Kiền
Tử
chủ
trương,
trong
sự
diễn
tiến
ác
hành,
trong
sự
thực
thi
tội
ác?"
C:
phạt
=
P:
danda
(roi).
C:
thân
phạt
đóng
vai
trò
quan
trọng
nhất
trong
sự
diệt
trừ
ác
hành
=
P:
thân
phạt
sản
sanh
nhiều
phi
công
đức
hơn.
C:
ý
phạt
đóng
vai
trò
quan
trọng
trong
việc
diệt
trừ
ác
nghiệp
=
P:
ý
phạt
đóng
vai
trò
quan
trọng
trong
việc
diễn
tiến
ác
nghiệp.
Giải
thích
của
C
gần
với
quan
điểm
Kỳ
na
giáo
hơn.
II.
Trường
Khổ
Hạnh
thuật
lại
với
Kiền
Tử,
và
Ưu
Ba
Ly
xin
đi
luận
chiến
với
đức
Phật:
C:
Trường
Khổ
Hạnh
thuật
lại
toàn
bộ
cuộc
đàm
thoại
với
Kiền
Tử,
ông
này
khen
như
sau:
"Tốt
lắm,
tốt
lắm,
ông
đã
làm
tròn
phận
sự
đệ
tử
đối
với
bậc
đạo
sư.
Ông
là
người
có
hành
động
thông
minh,
khôn
ngoan,
có
quyết
định
chắc
chắn,
bảo
đảm,
vô
úy,
đã
đạt
đến
tự
chủ,
một
người
biện
luận
đại
tài,
người
đã
có
được
cây
cờ
vinh
quang,
đã
đạt
đến
cảnh
giới
bất
tử
và
trú
trong
đó.
Vì
sao?
Vì
ông
đã
trình
bày
cho
Sa-môn
Cồø
Đàm
thấy
rằng,
thân
phạt
đóng
vai
trò
quan
trọng
nhất
trong
sự
diệt
trừ
ác
hành,
trong
sự
không
làm
ác
hành.
Ngữ
phạt
không
như
vậy.
Ý
phạt
là
phần
yếu
kém
nhất.
Ngữ
phạt
và
ý
phạt
không
thể
so
sánh
với
thân
phạt,
cái
mạnh
nhất."
Khi
ấy
Upàli
đang
ở
trong
chúng
hội
cùng
với
500
gia
chủ.
Ông
chắp
tay
hướng
về
Kiền
Tử
và
hỏi
Trường
Khổ
Hạnh,
có
phải
ông
ta
thực
đã
ba
lần
làm
cho
Sa-môn
Cồ
Đàm
xác
định
vấn
đề
ấy.
Khi
Trường
Khổ
Hạnh
trả
lời
phải,
Upàli
nói
rằng
ông
ta
có
thể
đè
bẹp
Sa-môn
Cồø
Đàm
trong
vấn
đề
này,
lôi
đi
xềnh
xệch.
Rồi
Upàli
đưa
ra
bốn
(?)
ví
dụ
chỉ
rõ
ông
sẽ
lôi
kéo
Sa-môn
Cồ
Đàm
trong
cuộc
tranh
luận
như
thế
nào:
như
một
người
mạnh
nắm
lấy
bờm
một
con
cừu
đực
mà
lôi
kéo
thỏa
thích;
như
một
người
mạnh
nắm
một
tấm
áo
lông
cừu,
đập
nó
để
giũ
bụi;
như
một
con
voi
chúa
60
tuổi,
có
ngà
lớn,
chân
và
thân
khỏe
mạnh,
được
một
người
đem
đi
tắm,
rửa
mông,
lưng,
bụng,
vòi,
đầu,
và
cho
nó
chơi
trong
nước.
Kiền
Tử
tin
tưởng
Upàli
sẽ
thành
công
trong
cuộc
bài
bác
Sa-môn
Cồ
Đàm
và
giục
ông
ta
ra
đi.
Nhưng
Trường
Khổ
Hạnh
lo
sợ
hậu
quả
của
cuộc
đàm
thoại
này
và
nói:
"Sa-môn
Cồø
Đàm
biết
một
chú
thuật
để
dụ
dẫn
người
ta
trở
thành
Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo
ni,
tín
đồ
nam
nữ
cư
sĩ.
Tôi
sợ
rằng
gia
chủ
Upàli
sẽ
bị
Sa-môn
Cồ
đàm
dụ
dỗ
và
trở
thành
đệ
tử
của
ông
ta."
Ba
lần
Trường
Khổ
Hạnh
bày
tỏ
nỗi
lo
sợ
của
ông,
cả
ba
lần
Kiền
Tử
trấn
an
bảo
rằng,
có
thể
có
chuyện
Sa-môn
Cồø
Đàm
trở
thành
đệ
tử
của
Upàli,
nhưng
không
thể
có
chuyện
Upàli
thành
đệ
tử
Cồ
Đàm.
Cuối
cùng
ông
ta
để
cho
Upàli
đến
thách
đấu
với
đức
Phật.
Gia
chủ
Upàli
đảnh
lễ
dưới
chân
Kiền
Tử,
đi
quanh
ông
ta
ba
vòng,
rồi
ra
đi.
P:
Gần
giống.
Ni
Kiền
Tử
khen
ngợi
Trường
Khổ
Hạnh
như
sau:
"Lành
thay,
lành
thay,
Trường
Khổ
Hạnh
đã
trả
lời
Sa-môn
Cồø
Đàm.
Đấy
là
một
đệ
tử
đa
văn,
đã
khéo
hiểu
giáo
lý
của
bậc
thầy
mình.
Làm
sao
một
ý
phạt
nhỏ
nhoi
có
thể
bì
kịp
thân
phạt
to
lớn?
Quả
thế,
thân
phạt
đáng
trách
hơn,
trong
việc
diễn
tiến,
thi
hành
việc
ác.
Ý
phạt
và
ngữ
phạt
không
bằng."
Trong
bản
P,
Upàli
lập
lại
lời
khen
của
Kiền
Tử
đối
với
Trường
Khổ
Hạnh
và
bày
tỏ
ý
muốn
đi
thách
đấu
với
đức
Phật.
Bốn
ví
dụ
không
giống
nhau
hẳn.
Ví
dụ
thứ
nhất
cũng
như
trong
bản
C.
Ví
dụ
thứ
hai
khác:
"Như
một
người
làm
việc
trong
quán
rượu
nhúng
một
chiếc
chiếu
lớn
trong
một
cái
hồ
sâu,
cầm
lấy
bốn
góc
mà
kéo."
Ví
dụ
thứ
ba
cũng
không
giống:
"Như
một
người
chủ
quán
rượu
mạnh
mẽ,
nắm
lấy
một
góc
của
đồ
lọc
mà
lắc
qua
lắc
lại."
Ví
dụ
thứ
tư
nói
đến
một
con
voi
60
tuổi,
nhào
vào
trong
một
ao
sâu
và
chơi
trò
phun
nước.
Sự
lo
sợ
của
Trường
Khổ
Hạnh
giống
nhau
trong
hai
bản.
III.
Sự
đàm
thoại
giữa
Upàli
và
đức
Phật:
1)
Sự
gặp
gỡ
giữa
Upàli
và
đức
Phật:
C:
Rồi
Upàli
đi
đến
nơi
đức
Phật,
trao
đổi
lời
chào
hỏi
với
Ngài,
ngồi
qua
một
bên
và
khởi
sự
hỏi
về
câu
chuyện
giữa
Trường
Khổ
Hạnh
và
đức
Phật.
Khi
biết
được
đề
tài
cuộc
đàm
thoại,
Upàli
lập
lại
lời
ca
tụng
mà
ông
đã
thốt
lên
để
ca
tung
Trường
Khổ
Hạnh
trước
đấy.
Khi
ấy
đức
Phật
hỏi
Upàli,
nếu
ông
sẵn
sàng
muốn
thảo
luận
để
tìm
hiểu
chân
lý,
thì
đức
Phật
cũng
sẽ
sẵn
sàng
để
nói
chuyện
với
ông.
Upàli
chấp
thuận
và
cuộc
đàm
thoại
bắt
đầu.
P:
Gần
giống.
C:
trao
đổi
sự
chào
hỏi
=
P:
bhagavantam
abhivàdetvà.
2)
Luận
cứ
của
đức
Phật:
Ví
dụ
1:
C1
=
P2:
C:
Giả
sử
có
một
người
theo
phái
Ni
Kiền
đến,
người
ấy
thích
bố
thí,
hoan
hỷ
trong
hạnh
bố
thí,
không
ham
chơi
đùa
giải
trí,
tuyệt
đối
trong
sạch
và
luôn
luôn
hành
trì
chú
thuật.
Nếu
trong
khi
đi
qua
đi
lại,
người
ấy
giết
rất
nhiều
sinh
vật
lớn
nhỏ,
sự
sát
sinh
này
có
đem
lại
quả
báo
cho
người
ấy
không?
Upàli
đáp:
"Nếu
người
ấy
cố
ý
giết,
thì
là
một
trọng
tội;
nhưng
nếu
người
ấy
làm
một
cách
vô
ý
thức
thì
không
phải
là
trọng
tội."
Khi
ấy
đức
Phật
bảo
Upàli
hãy
suy
nghĩ
cẩn
thận
trước
khi
trả
lời,
vì
những
gì
ông
vừa
nói
trái
ngược
với
những
gì
ông
nói
trước,
những
gì
ông
nói
trước
trái
ngược
với
những
gì
ông
vừa
nói,
trong
khi
Upàli
đã
hứa
giữa
chúng
hội
là
sẽ
thảo
luận
y
cứ
trên
sự
thật.
P:
Bản
P
cũng
nói
một
Ni
Kiền
Tử
được
chế
ngự
trong
bốn
cách
chế
ngự,
nghĩa
là,
từ
bỏ
tất
cả
các
loại
nước
chưa
đun
sôi,
chỉ
sử
dụng
nước
đã
đun
sôi
(hoặc
đã
từ
bỏ
tất
cả
ác
hành),
đã
tránh
tất
cả
ác
hành,
đã
thực
hiện
tất
cả
sự
chế
ngự.
Ni
kiền
tử
ấy
trong
lúc
đi
lui
đi
tới,
giết
nhiều
sinh
vật
nhỏ.
Phần
còn
lại
giống
nhau.
Ở
đây
bản
P
thêm
:
"Ý
hành
này
thuộc
về
hình
phạt
nào?",
và
khi
Upàli
trả
lời
nó
thuộc
về
ý
phạt,
đức
Phật
bảo
ông
phải
suy
nghĩ
cẩn
thận
trước
khi
trả
lời.
Bản
P
thêm
Upàli
bảo,
mặc
dù
đức
Thế
Tôn
có
nói
gì,
đối
với
ông
ta
thân
phạt
vẫn
đáng
trách
hơn,
trong
sự
diễn
tiến
và
thực
thi
các
việc
ác.
Ví
dụ
2:
C2
=
P1:
C:
Nếu
có
một
Ni
Kiền
đi
đến,
chỉ
uống
nước
sôi,
kiêng
cử
nước
lạnh.
Trong
khi
cần
uống
nước
lạnh
vì
không
có
nước
sôi,
ông
đã
chết
vì
kiêng
nước
lạnh.
Nơi
tái
sinh
của
ông
ta
sẽ
là
chỗ
nào?
Upàli
trả
lời,
có
một
cõi
trời
gọi
là
"Ý
trước".
Nếu
Ni
Kiền
ấy
chết
vì
tâm
ý
còn
ràng
buộc,
ông
ấy
sẽ
được
tái
sinh
trong
cõi
trời
ấy.
(Phần
còn
lại
về
lời
cảnh
cáo
của
Phật
cũng
như
trong
ví
dụ
thứ
nhất).
P:
Gần
giống.
Bản
P
thêm
rằng
Ni
Kiền
Tử
ấy
bị
đau
nặng.
C:
Ý
trước
=
P:
Manosattà.
Phần
còn
lại
cũng
như
trước.
Ví
dụ
3:
C3
=
P3:
C:
Giả
sử
có
một
người
cầm
một
con
dao.
Người
ấy
nói
ông
muốn
giết
trong
một
ngày
tất
cả
dân
chúng
thành
Na
Lan
Đà,
làm
chúng
biến
thành
một
khối
thịt,
một
đống
thịt.
Phật
hỏi
Upàli,
người
ấy
có
thể
làm
được
như
ý
muốn
không?
Upàli
trả
lời
không
thể,
vì
Na
Lan
Đà
là
một
nơi
phồn
thịnh
đông
dân
cư,
người
ấy
chỉ
có
nhọc
xác
một
cách
vô
ích,
không
thể
nào
giết
hết
dân
chúng
của
Na
Lan
Đà,
biến
chúng
thành
một
khối
thịt.
Rồi
đức
Phật
hỏi,
nếu
một
Sa-môn,
Bà-la-môn
đến,
người
này
có
đại
thần
lực,
vị
ấy
có
thể
do
một
tâm
sân
hận,
biến
toàn
tỉnh
Na
Lan
Đà
ra
tro
hay
không?
Upàli
trả
lời,
không
chỉ
một
Na
Lan
Đà
mà
đến
hai,
ba,
bốn
Na
Lan
Đà,
người
ấy
cũng
có
thể
làm
ra
tro
tất
cả
các
xứ
sở
và
dân
chúng,
với
một
tâm
sân
hận.
Ở
đây
Upàli
cũng
được
đức
Phật
cảnh
cáo
như
trong
ví
dụ
trước.
P:
Gần
giống,
nhưng
với
nhiều
chi
tiết
hơn.
Nó
thêm:
"Trong
một
phút
chốc,
trong
một
giây
lát.
Không
những
một
người
mà
20,
30,
40,
50
người
cũng
không
thể
nào
giết
hết
được
dân
chúng
thành
Na
Lan
Đà,
biến
chúng
thành
một
đống
thịt".
Về
trường
hợp
một
Sa-môn,
Bà-la-môn
có
thần
thông
lực,
bản
P
cũng
gần
giống,
nhưng
thêm:
Sa-môn,
Bà-la-môn
ấy
không
chỉ
làm
cho
một
thành
Na
Lan
Đà
mà
10,
20,
30,
40,
50
Na
Lan
Đà
hóa
thành
tro
bụi
với
một
tâm
sân
hận.
Ví
dụ
4:
C4
=
P4:
C:
Đức
Phật
hỏi
Upàli,
ông
có
nghe
về
nơi
hoang
vu
lớn,
rừng
con
sơn
dương
lui
tới,
nơi
vắng
vẻ
của
những
con
nai,
nơi
thanh
bình,
nơi
rừng
hoang,
đã
trở
thành
rừng
hoang
vắng
vẻ?
Khi
Upàli
trả
lời
có,
đức
Phật
hỏi
Upàli,
ai
đã
làm
cho
những
nơi
vắng
vẻ
ấy
trở
thành
nơi
vắng
vẻ?
Upàli
giữ
im
lặng,
đức
Phật
thúc
giục
ông
ta
phải
trả
lời
vì
không
phải
là
lúc
giữ
im
lặng,
và
vì
ông
ta
đã
hứa
thảo
luận
căn
cứ
trên
sự
thật.
Upàli
sau
một
lúc
im
lặng
đã
trả
lời
rằng,
không
phải
vì
ông
ta
muốn
giữ
im
lặng,
mà
vì
ông
ta
đang
nghĩ
đến
một
chuyện.
Ông
đang
nghĩ
rằng,
Ni
Kiền
thật
điên
rồ
và
ngu
si,
không
biết
gì
cả,
đã
lừa
dối
mình
một
thời
gian
dài,
đã
giục
mình
đi
đến
Sa-môn
Cồø
Đàm
để
trình
bày
vai
trò
ưu
thắng
của
thân
phạt
trong
sự
không
làm
ác
nghiệp.
Nhưng
nhờ
đàm
thoại
với
Sa-môn
Cồ
Đàm,
ông
ta
đã
vỡ
lẽ
rằng,
do
một
tâm
niệm
sân
hận
của
các
vị
trời,
mà
những
nơi
hoang
vu
này
lại
trở
thành
hoang
vu.
P:
Không
giống.
Cũng
câu
hỏi
được
Phật
đặt
ra
cho
Upàli,
nhưng
ở
đây
bốn
khu
rừng
tên
là
Dandaka,
Kàlinga,
Mejjha
và
Màtanga
trở
thành
khu
rừng
vì
một
tâm
niệm
giận
dữ
của
các
vị
có
thần
thông
trong
rừng
ấy.
Phần
còn
lại
cũng
giống
như
trong
ví
dụ
thứ
nhất.
III.
Upàli
theo
đức
Phật:
1)
Upali
quy
y
Tam
bảo
lần
thứ
nhất:
C:
Upàli
bạch
đức
Phật
rằng,
bây
giờ
ông
đã
hiểu,
đã
biết,
và
ông
công
bố
xin
quy
y
Tam
bảo,
xin
đức
Phật
nhận
ông
làm
một
đệ
tử
cư
sĩ,
từ
nay
cho
đến
lúc
mạng
chung.
P:
Ở
đây
Upàli
trả
lời
rằng,
ngay
từ
ví
dụ
đầu
tiên,
ông
đã
thỏa
mãn
với
lời
giải
thích
của
Phật,
nhưng
ông
giả
vờ
đóng
vai
chống
đối
Ngài
để
được
nghe
thêm
nhiều
giải
thích
khác
nhau
của
Phật.
Rồi
ông
ca
tụng
sự
giải
thích
của
Phật
là
kỳ
diệu,
tuyệt
hảo
như
thường
lệ,
và
công
bố
xin
quy
y
Tam
bảo,
xin
đức
Phật
nhận
ông
làm
cư
sĩ.
2)
Quy
y
Tam
bảo
lần
thứ
hai:
C:
Đức
Phật
khuyên
Upàli
hãy
giữ
im
lặng,
đừng
công
bố
ồn
ào
vì
bậc
thượng
nhân
xem
sự
yên
lặng
là
thù
thắng.
Upàli
sau
khi
nghe
lời
khuyên
này
lại
càng
hoan
hỷ
hơn
nữa,
càng
hài
lòng
với
đức
Thế
Tôn,
vì
nếu
ông
ta
xin
làm
đệ
tử
các
Sa-môn,
Bà-la-môn
khác,
họ
sẽ
trương
cờ
lọng
ra
mà
công
bố
cho
toàn
thể
Na
Lan
Đà
biết
là
ông
đã
thành
đệ
tử
của
họ.
Nhưng
đức
Phật
lại
khuyên
ông
giữ
im
lặng,
đừng
công
bố
gì
cả.
Rồi
Upàli
lại
tuyên
bố
rằng
từ
nay
trở
đi,
ông
sẽ
không
để
cho
Ni
Kiền
vào
nhà
ông,
ông
chỉ
mời
bốn
chúng
đệ
tử
của
đức
Thế
Tôn,
nhưng
đức
Phật
bảo
Upàli
rằng,
Ni
Kiền
từ
lâu
đã
được
ông
cùng
gia
đình
tôn
trọng,
cung
kính,
nên
bây
giờ
nếu
họ
đến,
ông
phải
cho
họ
chút
gì
tùy
theo
khả
năng
của
ông.
Sau
khi
nghe
lời
khuyên
ấy,
Upàli
bảo
rằng,
ông
lại
càng
hoan
hỷ
và
hài
lòng
với
đức
Thế
Tôn
hơn
nữa,
vì
trước
đây
ông
đã
nghe
nói
đức
Thế
Tôn
tuyên
bố
chỉ
nên
bố
thí
cho
ngài
và
các
đệ
tử
của
Ngài
mới
có
công
đức
lớn;
bố
thí
cho
người
khác
và
đệ
tử
của
người
khác
sẽ
không
đem
lại
công
đức
lớn.
Khi
ấy
đức
Phật
dạy
Ngài
chưa
bao
giờ
nói
vậy,
những
gì
Ngài
thật
sự
nói
ra
là,
nên
bố
thí
cho
tất
cả
mọi
người
tùy
theo
ý
thích
của
mình.
Bố
thí
cho
những
người
không
tinh
tấn
sẽ
không
đem
lại
quả
báo
lớn;
bố
thí
cho
những
người
có
tinh
tấn
sẽ
mang
lại
quả
báo
lớn.
Khi
ấy
Upàli
nói
rằng,
ông
thề
không
làm
gì
cả,
ông
biết
nên
cho
hay
không
nên
cho
các
Ni
Kiền.
Rồi
lần
thứ
hai
ông
công
bố
xin
quy
y
Tam
bảo
và
xin
Phật
nhận
ông
làm
cư
sĩ.
P:
Không
giống,
ở
đây
đức
Phật
không
khuyên
Upàli
nên
giữ
im
lặng,
mà
khuyên
ông
trước
khi
làm
gì
hãy
suy
nghĩ
kỹ.
Khi
nghe
lời
khuyên
ấy
Upàli
tuyên
bố
ông
càng
hoan
hỷ
với
đức
Thế
Tôn
hơn
nữa,
vì
nếu
ông
trở
thành
đệ
tử
người
khác,
họ
sẽ
trương
cờ
lên
mà
công
bố
cho
toàn
thể
Nàlandà
biết
Upàli
là
đệ
tử
của
họ.
Ở
đây
bản
P
nói
ngay
rằng,
Upàli
xin
quy
y
Tam
bảo
lần
thứ
hai,
xin
được
làm
đệ
tử.
Phần
còn
lại
trong
đoạn
này
ở
bản
C
được
để
vào
đoạn
sau
ở
bản
P.
3)
Quy
y
Tam
bảo
lần
thứ
ba:
C:
Rồi
đức
Thế
Tôn
thuyết
pháp
cho
Upàli,
khuyên
bảo,
làm
cho
ông
phấn
chấn,
hoan
hỷ,
dùng
nhiều
cách
để
giảng
pháp
cho
ông.
Sau
khi
khuyên
bảo,
khích
lệ,
làm
cho
ông
hoan
hỷ,
đức
Phật
giảng
pháp
theo
cách
mà
chư
Phật
lần
đầu
tiên
thuyết
chánh
pháp,
làm
cho
người
nghe
hoan
hỷ,
như
pháp
thoại
về
bố
thí,
về
giới,
về
sự
sanh
lên
cõi
trời,
quở
trách
dục
vọng
đầy
nguy
hiểm,
quở
trách
sinh
tử
là
bất
tịnh,
ca
tụng
sự
ly
dục
là
thù
thắng,
chánh
đáng
và
trong
sạch.
Đức
Thế
Tôn
sau
khi
thuyết
pháp
cho
ông
như
vậy,
biết
rằng
tâm
của
Upàli
được
hoan
hỷ,
thỏa
mãn,
mềm
mại,
nhu
nhuyến,
được
nâng
cao,
được
nhất
tâm,
hết
hoài
nghi,
hết
chướng
ngại,
có
thể
đón
nhận
diệu
pháp
một
cách
mạnh
mẽ.
Rồi
giống
như
chư
Phật
thuyết
giảng
tinh
túy
chân
chính
của
Pháp,
đức
Thế
Tôn
giảng
cho
Upàli
về
khổ,
nguồn
gốc
khổ,
sự
chấm
dứt
khổ
và
con
đường
chấm
dứt
khổ.
Như
một
tấm
lụa
trắng
(?)
có
thể
ăn
màu
nhuộm
dễ
dàng,
Upàli
ngay
tại
chỗ
ngồi,
đã
thấy
được
bốn
chân
lý
cao
cả
khổ,
tập,
diệt,
đạo.
Thế
là
Upàli
thấy
pháp,
được
pháp,
thực
chứng
pháp
bạch
tịnh,
diệt
trừ
hoài
nghi,
vượt
qua
do
dự,
không
có
ai
hơn
ông,
không
còn
lung
lay,
đã
trú
trong
sự
chứng
quả,
trở
nên
vô
úy
đối
với
pháp
của
đức
Thế
Tôn.
Rồi
Upàli
đứng
lên
khỏi
chỗ
ngồi,
đảnh
lễ
đức
Thế
Tôn
và
lần
thứ
ba
ông
xin
quy
y
Tam
bảo,
xin
Phật
nhận
ông
làm
đệ
tử.
P:
Lý
do
thúc
đẩy
Upàli
xin
quy
y
lần
thứ
ba
cũng
giống
như
lý
do
được
đặt
ở
đoạn
trước
trong
bản
C.
Bản
P
bỏ
lời
tuyên
bố
của
Upàli
rằng,
từ
nay
trở
đi
không
sẽ
không
cho
Ni
Kiền
Tử
nào
vào
nhà
ông,
và
chỉ
đón
tiếp
bốn
hạng
đệ
tử
của
đức
Phật.
Ở
đây
đức
Phật
khuyên
Upàli
nên
bố
thí
cho
các
Ni
Kiền
Tử
vì
từ
lâu
gia
đình
ông
đã
giúp
đỡ
cho
họ.
Lời
khuyên
này
làm
cho
Upàli
càng
hài
lòng,
hoan
hỷ
với
đức
Thế
Tôn,
vì
ông
đã
nghe
nói
Sa-môn
Cồ
Đàm
bảo
rằng
chỉ
nên
bố
thí
cho
Ngài
và
đệ
tử
của
Ngài,
đừng
bố
thí
cho
người
khác
và
đệ
tử
người
khác;
sự
bố
thí
cho
Ngài
và
đệ
tử
của
Ngài
sẽ
có
quả
báo
lớn;
bố
thí
cho
người
khác
và
đệ
tử
người
khác
không
đem
lại
quả
báo
lớn.
Ở
đây
bản
P
bỏ
lời
phủ
nhận
của
đức
Phật.
C:
Upàli
thề
không
làm
gì
cả,
ông
biết
nên
bố
thí
hay
không
nên
bố
thí
cho
các
Ni
Kiền
=
P:
Upàli
nói
ông
biết
thời
để
làm
việc
ấy.
Trong
bản
P,
sau
khi
Upàli
quy
y
Tam
bảo
lần
thư
ba,
đức
Phật
thuyết
pháp
cho
ông.
Bản
P
bỏ:
"Đức
Thế
Tôn
khuyên
bảo,
làm
cho
ông
phấn
chấn,
hoan
hỷ....thuyết
pháp
cho
ông."
C:
Phật
giảng
pháp
theo
cách
mà
chư
Phật
lần
đầu
tiên
giảng
diệu
pháp,
làm
hoan
hỷ
những
người
nghe
=
P:
Phật
thuyết
pháp
theo
thứ
tự.
C:
như
là
pháp
thoại
về
bố
thí...thù
thắng,
chánh
đánh
và
trong
sạch
=
P:
như
là
câu
chuyện
về
bố
thí,
về
giới,
về
cõi
trời,
về
nguy
hiểm
của
dục
lạc,
sự
hạ
liệt,
ô
nhiễm
của
nó;
và
về
lợi
lạc
của
xuất
ly.
C:
Đức
Thế
Tôn
sau
khi
giảng
pháp
cho
ông
như
vậy,
biết
tâm
Upàli
đã
được
hoan
hỷ,
hài
lòng,
mềm
mại,
dễ
sử
dụng,
nâng
cao,
nhất
tâm,
hết
hoài
nghi,
hết
chướng
ngại,
có
thể
mạnh
mẽ
tiếp
nhận
chánh
pháp
=
P:
Khi
đức
Thế
Tôn
biết
tâm
Upàli
đã
sẵn
sàng,
nhu
nhuyến,
hết
chướng
ngại,
sung
sướng,
hoan
hỷ.
C:
Như
chư
Phật
đã
giảng
tinh
yếu
chân
chính
của
Pháp,
đức
Thế
Tôn
cũng
giảng
về
khổ,
tập,
diệt,
đạo
=
P:
Rồi
Ngài
giảng
cho
Upàli
các
pháp
mà
các
bậc
giác
ngộ
đã
khám
phá:
khổ,
tập,
diệt,
đạo.
C:
Như
một
tấm
lụa
trắng
sẽ
ăn
màu
một
cách
dễ
dàng,
ngay
tại
chỗ
Upàli
thấy
được
chân
lý
khổ,
tập,
diệt,
đạo.
Như
vậy
Upàli
thấy
pháp,
được
pháp,
chứng
ngộ
pháp
bạch
tịnh,
diệt
trừ
hoài