GIẢI THOÁT TRONG LÒNG TAY
Một bài giảng khúc chiết về con đường
đạt đến giác ngộ
(Liberation in the Palm of Your Hand-
Aconcise discourse on the path to enlightenment)
Pabongka Rinpoche
Edited by Trijang Rinpoche
Translated by Michael Richards
Thích Nữ Trí
Hải dịch
--- o0o ---
PHẦN BA
NỀN TẢNG CỦA ĐẠO LỘ
NGÀY MƯỜI BA
(Kyabje Pabongka
Rinpoche trích dẫn Tsongkapa, vị Pháp vương vĩ đại)
Bạn không bảo đảm được rằng
Sau khi chết ta không rơi
vào đọa xứ…
Sau lời dẫn nhập ngắn
gọn này, ngài nhắc lại những đề mục đã bàn, và ôn lại phần đầu của tiêu đề
“Dạy những phương pháp để được hạnh phúc trong đời sau.” Phần đầu này nói
đến sự quy y. Rồi ngài dạy vắn tắt làm cách nào để hành trì:
Khi người ta dạy
những giáo lý truyền khẩu, thì có những tiêu đề riêng cho sự quán khổ ở
đọa xứ và tiêu đề riêng cho sự quy y. Tuy nhiên theo lối “giảng dạy thực
tiễn” thì ta phải thiền quán tổng hợp hai đề mục này, như được giải thích
sau đây.
Cách làm như sau. Sau
khi bạn cầu khẩn với bậc thầy ở trên đỉnh đầu bạn (bằng phép quán), bậc
thầy phóng ra từ nơi tim của ông một đồ hình quy y toàn vẹn, ví dụ ruộng
phước, và hình ảnh này đứng trước bạn giữa hư không. Hãy suy nghĩ sâu xa
về những thống khổ của súc sinh và ngạ quỷ; khi bạn đâm ra kinh hoàng
trước mỗi đọa xứ ấy, hãy quy y Tam Bảo. Đây gọi là sự hội nhập. Một ví dụ:
Nếu trong thế gian có một tên tội phạm được một ông lớn bao che, y sẽ được
an tâm và nghĩ rằng: “Tự mình ta, ta không làm gì được, nhưng ta đã có thế
dựa.” Đấy là lý do kẻ ấy tìm sự bảo trợ của ông ta. Cũng thế nếu bạn kinh
hoàng vì những đọa xứ, bạn sẽ muốn quy y và được an tâm vì nghĩ: “Ta đã
được sự che chở của Tam Bảo, một nơi nương tựa không lừa dối ta.”
Nếu bạn quy y nhiều
lần, thì chỉ cần lập lại phần đầu của nghi thức chuẩn bị. Tuy nhiên trong
phần này của Lam-rim, bạn nên phối hợp ba đề tài thiền quán của Lam-rim,
mặc dù chỉ cần nhẩm câu: “Con xin quy y bậc thầy, chư thần bảo hộ, và ba
ngôi báu” một số lần. Ta hãy lấy ví dụ phần “Nghĩ về nỗi khổ của địa ngục
Sống lại liên tục. Ba đề tài thiền quán như sau:
Trước hết một khi bạn
đã tuệ quán đi sâu vào việc tái sinh ở địa ngục, bạn nên nghĩ điều ấy sẽ
khó chịu như thế nào. Ở điểm này bạn sẽ nghĩ: “Bây giờ ta chưa bị tái sinh
vào đấy,” Đề tài thiền quán thứ hai xảy ra ở điểm này. Nghĩ rằng mặc dù
bây giờ bạn chưa bị sinh vào địa ngục này, song bạn đã tích lũy nhiều
nghiệp nặng để sinh vào đấy; nghiệp ấy vẫn chưa thối giảm, và bạn không
thể nào tịnh hóa nổi trước khi chết. Và khi bạn chưa thể tịnh hóa ác
nghiệp thì chắn chắn bạn sẽ sinh vào địa ngục. Điều này sẽ làm cho bạn
kinh hoàng.
Khi ấy đến đề tài
thiền quán thứ ba. Bạn nghĩ: “Chỗ quy y có thể che chở tôi khỏi đọa xứ này
phải có vô lượng thiện đức như toàn trí, từ bi, năng lực v.v… Thật may mắn
làm sao tôi đã ìm được một chỗ quy y như thế!” Và khi ấy bạn quy y.
Hãy theo một tiến
trình như vậy đối với các đọa xứ thấp hơn.
(Sau khi cho ba bài
giáo lý thù thắng về sự quy y - một bài dài, một bài trung bình và một bài
ngắn - Rinpoche nói.)
b. Phát triển lòng tin vào luật nhân quả - gốc rễ của mọi sức khỏe và hạnh
phúc.
Vì bạn đã quy y Tam Bảo, bạn có thể chắc chắn rằng mình đã ngăn được một
hay hai lần tái sinh vào đọa xứ, nhưng không phải là sẽ mãi mãi thoát khỏi
đọa xứ. Nếu bạn muốn bảo đảm không bao giờ đi đến các đọa xứ, thì bạn phải
cố tuân theo lời khuyên kèm theo sự quy y (xem Ngày 12, trang…) Sau đây là
ví dụ. Khi một tội nhân tìm sự che chở của một ông lớn, ông ta có thể bảo
y: “Từ nay trở đi ngươi phải làm điều này, không được làm điều kia.” Nếu
kẻ tội nhân không nghe lời mà chỉ phạm thêm nhiều tội khác, thì ngay cả
ông lớn ấy cũng không có cách nào che chở y, và y lại phải sa vào lưới
pháp luật.
Cũng thế nếu chúng ta không giữ lời khuyên kèm theo sự quy y Tam Bảo không
thể làm gì được cho ta. Đó là lý do đấng đạo sư của chúng ta dạy rằng Pháp
là nơi quy y chân thực duy nhất để che chở ta khỏi các đọa xứ. Pháp chính
là hành động thay đổi lối sống của ta cho phù hợp với luật nhân quả.
Nếu bạn không phát triển niềm tin ở luật nhân quả thì bạn chỉ muốn làm một
ít điều lành và bỏ đi một ít điều ác. Bao lâu bạn chưa thay đổi những hành
vi của mình cho phù hợp với luật nhân quả thì bạn đi đến địa ngục, dù bạn
có thông ba tạng hay là một hành giả tu thiền vĩ đại đi nữa cũng mặc kệ.
Một lần bậc thầy Avadhutipa ngoái nhìn Atìsha đi sau lưng trong khi họ
đang qua một chiếc cầu mà bảo: “Cho đến khi ông từ bỏ chấp thủ vào một bản
ngã, và khi ông còn coi thường luật nhân quả, thì hãy luôn luôn nhớ rằng,
học giả nọ với hành giả kia đã tái sinh trong địa ngục. Người ta bảo rằng
ngay cả vị dịch giả vĩ đại tên Ra cũng đã vài tháng trong địa ngục. Một
hành giả về mật điển Yamàtaka tái sinh làm một quỷ đói có hình thù rất
giống vị thần bảo hộ này; quỷ du hành từ Ấn Độ sang Tây Tạng. Đức Atìsha
nói: “Nếu quỷ ở lại thì Tây Tạng sẽ nguy khốn,” bởi thế ngài cúng những
bánh lễ cho quỷ và khiến nó đi xa.
Đề bà đạt đa biết rất nhiều pháp nhưng điều này không giúp gì khi ông bị
tái sinh vào địa ngục Rất Nóng. Một bà la môn tên Chanakya đã thành tựu
phép quán về thần Yamataka và đã giết nhiều người bằng thần thông. Người
ta bảo ông ta tái sinh vào địa ngục Vô gián.
Nếu bạn không tuân theo luật nhân quả thì sự nhập thất tu mật tông không
ăn thua gì. Một hành giả về mật điển Yamantaka ở miền hạ Paenpo cũng bị
sinh làm quỷ đói, có hình dáng giống như vị thần ấy, một vài người bạn
đồng tu làm lễ đốt thức ăn cho người chết và hành giả ấy đi đến xin ăn.
(Khi ấy Kyabje
Pabongka Rinpoche kể chuyện một vị trưởng lão ở tu viện Vikramashila tái
sinh làm quỷ đói có bàn tay dị dạng.)
Vậy nếu bạn không thể thay đổi lối hành xử của mình do tin tưởng vào luật
nhân quả, thì dù bạn là học giả hay hành giả cũng không ăn thua gì. Có câu
nói: “Nghiệp chín mùi bằng những cách bất khả tư nghì - ngay cả những chúa
tể của từ bi cũng bị sinh làm thú vật.” Nói cách khác, người ta bảo rằng
ngay cả những vị Bồ tát Ma ha tát cũng đã tái sinh vào các đọa xứ khi họ
tảng lờ luật nhân quả. Đây là lý do khởi dầu mọi thời thiền định, ta đều
phải xác định động lực tu hành và xem được tái sinh làm người là quý báu;
và lại phải xem định luật nhân quả là bước đầu của sự hành trì Phật pháp.
Định luật nhân quả đã từng được gọi là “Chánh kiến thế gian.” Ở đây “thế
gian” có nghĩa là những người thường: toàn thể câu ấy có nghĩa những người
thường trước hết cần phải hành xử đúng theo định luật ấy. Rất nhiều người
ngày nay làm bộ xem tri kiến là rất quan trọng, nhưng trước hết ta cần
phải phát triển lòng tin vào luật nhân quả rồi thay đổi lối hành xử cho
thích hợp cái đã. Nếu bạn không làm điều này, bạn có thể lẩm bẩm những lời
đọc tụng và làm như mình đang nhớ lại Pháp hay nổ lực để bắt chước trạng
thái tịnh chỉ thiền quán và giả vờ đây là thiền về chánh kiến. Nhưng đây
chỉ là những dấu hiệu chứng tỏ bạn không hiểu “Pháp” có nghĩa gì.
Một vài người phạm tội suốt ngày đêm và còn lệnh cho những người khác, tôi
tớ và học trò, làm nhiều hành vi tội lỗi khắp nơi. Những người này có thể
sáng dậy sớm, tối ngủ trể sau khi đọc các bài kinh, nhưng đây là một cách
tu tập sai lầm.
Bạn phải nghĩ về luật nhân quả để phát triển đức tin vào luật ấy. Có ba
phần ở đây: (1) Nghĩ về nhân quả nói chung; (2) Nghĩ về những trường hợp
đặc biệt; (3) Sau khi nghĩ điều này, tìm cách thay đổi lối hành xử.
b-1. Nghĩ về nhân quả
nói chung.
Có hai tiêu đề phụ: (1) Nghĩ về nhân quả cách tổng quát và (2) Nghĩ về một
vài điểm đặc biệt.
b-1.1. Nghĩ về nhân
quả một cách tổng quát
Có bốn tiêu đề phụ: (1) Nghiệp cố định như thế nào; (2) Nghiệp tăng trưởng
mạnh; (3) Ta sẽ không gặp một điều gì nếu ta không tạo nghiệp cho điều ấy
xảy ra; (4) Nghiệp khi đã được tạo thì sẽ không tự nhiên mà biến mất được.
Đức Thế Tôn đã nói về nghiệp theo bốn cách ấy, bởi vậy nó rất quan trọng.
b-1.1.1. Thế nào là nghiệp cố định.
“Sự Truyền Thừa Luật Tạng” nói: “Bất cứ nghiệp nào đã được tạo ra sẽ đem
lại một hậu quả tương ứng.” Nói cách khác, hậu quả của một vài thiện hành
làm nhân thì chỉ có thể là hạnh phúc; nhân ấy không đem lại đau khổ. Hậu
quả của một vài bất thiện hành làm nhân thì có thể đem lại đau khổ; nhân
này không đem lại hạnh phúc. Đây là khía cạnh cố định của nhân và quả. Ví
dụ, điều cố định là từ hột của một cây cay sẽ có trái cay. Hột của một cây
đắng sẽ sinh ra trái đắng; hột của một cây ngọt sẽ sinh ra trái ngọt. Và
“Hiện tại” chính là thời gian mà chúng ta đang tạo những những nhân của
nghiệp, bởi thế ta phải hết sức cẩn thận, vì không thể nào điều chỉnh lại
một khi nhân đã phát sinh ra quả.
Khi chúng ta đau ốm chẳng hạn, sự cúng bái đôi khi có thể không ăn thua
gì; nghi lễ và cơn bệnh đi hai đường khác nhau. Nếu bạn gieo hột giống của
một cây cay như cây ớt, rồi khi nó bắt đầu lớn bạn lại trồng những cây nho
và mận xung quanh cây ớt để làm cho nó ngọt, thì những cây ấy sẽ mọc riêng
rẽ, không thể cho kết quả như bạn muốn.
Nhân và quả hết sức vi tế, bởi vì bất cứ một nhân nào mà người ta tích lũy
sẽ đem đến hậu quả tương ứng của nó. Tỳ kheo Priyabhadra có một thân hình
xấu xí mà giọng nói thanh tao. Cả hai điều này có nhân như sau. Trong một
đời quá khứ ông ta được sinh làm một người cu li; khi ấy có vị vua đang
xây một bảo tháp khổng lồ. Anh ta nói: “Xây tháp gì mà lớn dữ vậy? Sẽ
không bao giờ xong.” Về sau khi bảo tháp được hoàn tất, anh ta đã dâng
cúng một cái chuông để sám hối điều mình nói.
Lúc Atìsha ở Tây Tạng, có một người ngang nhiên phạm một vài tội nhỏ nhặt
trước mặt ngài. Atìsha thấy điều ấy thật quá đáng, và ngài bảo: “Than ôi,
bạn không nên chai lì như thế, nhân quả rất tế nhị! Nhân quả rất sâu xa!”
Một lần có một vị tỳ kheo đã làm vấy một tít mỡ trên tọa cụ của chư tăng
trong buổi lễ công cộng. Khi tái sinh ông làm một người có cái lưng đen.
Một lần khác khi một vị tỳ kheo nhuộm y, những cái y biến thành những
miếng thịt bò; ông ta bị buộc tội đã ăn trộm một con bò tơ và ở tù 6
tháng. Điều này được xem là hậu quả của một hành vi đời trước. Trong một
đời trước ông ta đã buộc tội một vị Độc giác là ăn trộm bò. Vị Độc giác bị
ở tù 6 ngày.
Sagama bà mẹ của một ông bộ trưởng ở trong thành Xá vệ có 32 người con
trai, tất cả đều là những người đô vật. Một ông bộ trưởng khác của vua Ba
tư nặc làm cho chúng bị thất sủng; vua bắt tử hình tất cả những người con
trai ấy và những cái đầu của chúng được đem đến cho mẹ chúng. Điều này là
hậu quả của việc trong quá khứ 32 tên trộm đã trộm và giết một con bò đực.
Còn bà Sagama là chủ nhà của những tên trộm trong lúc chúng sát sinh.
(Ngài kể những chuyện
này với đầy đủ chi tiết)
Như thế gọi là nghiệp cố định.
b-1.1.2. Nghiệp chứng tỏ có tăng trưởng lớn
Những nguyên nhân bên trong phát sinh những hậu quả lớn hơn những nhân bên
ngoài. Tuy thế, cũng có trường hợp nhân ngoài có hậu quả, như một cây đại
thụ mọc lên từ một hột nhân rất nhỏ bé, và hàng năm nó có cho hàng trăm
ngàn thứ như lá và quả. Như vậy đây là một tăng trưởng to lớn. Nhân nội
tâm còn cho những hậu quả lớn hơn nhiều.
Khi đức Thế Tôn viếng thăm thành Nyagrodhikà, có một người phụ nữ dâng
cúng ngài một nắm kẹo mè. Ngài tiên đoán trong tương lai bà sẽ tái sinh
làm một vị Phật hiệu là Susvasti. Người chồng nói một cách bất kính: “Yêu
cầu ông đừng nói như vậy chỉ vì bà ấy cúng ông một ít thực phẩm, này ông
Phật.” Đức Phật lấy hình ảnh hột cây đa nhỏ xíu nhưng mọc thành một cây
khổng lồ ngã bóng xuống che rợp năm trăm chiếc xe bò đặt không đụng nhau.
Phật dạy rằng những nghiệp nhỏ có những hậu quả lớn. Khi ấy người chồng
mới chịu tin.
Có lần một tỳ kheo bảo một người khác: “Giọng anh như chó sủa, hay như cóc
kêu, hay như khỉ lải nhải,” và ông ta đã tái sinh năm trăm kiếp làm mỗi
loài vật mà ông dùng để mắng nhiếc.
Ở
Trung Hoa, có lần một người viết: “Những học giả ngày nay giống như rắn.”
Nên quyển sách ông ta được đặt tên là
Luận Xà Dụ.
Thân thể tác giả về sau đau đớn quằn quại, tay chân co quắp vào trong
mình, trở thành thân một con rắn. Rồi một cái đầu rắn chui ra từ một chỗ
nứt trên đầu ông. Trong tái sinh ấy tác giả thực sự biến thành một con
rắn.
Ở
Ấn, năm trăm người chài lưới có lần bắt được một con giống như cá mà có 18
cái đầu. Phật dạy đấy là hậu quả của việc như sau. Con vật ấy xưa là
Mànavagaura, mẹ ông đã khuyến khích ông nhục mạ những thầy tu khác là
“Giống như chó,” vân vân. Nhưng khi đức Thế Tôn đi đến đấy để tuyên bố về
nghiệp nhân của sinh vật kia, thì Ngài bị các ngoại đạo chỉ trích là “Cồ
Đàm bậc thánh giả mà cũng khoái cảnh tượng thế gian.” Tôi đã kể chuyện này
một cách chi tiết trong phần nghi thức chuẩn bị. (Xem Ngày Thứ Tư, trang…)
Những hậu quả ghê gớm ấy đều do những lời mắng nhiếc nhỏ nhặt, chứ không
cần phải do những tội lớn lao như giết người cướp của chẳng hạn.
Trước khi xuất gia, tỳ kheo ni Utpalavarna (Liên Hoa Sắc) có hai con trai;
một đứa bị chết chìm, một đứa bị chó sói tha mất. Chồng bà bị rắn cắn
chết. Cha mẹ bà và nhà cửa bị thiêu cháy rụi trong một cơn hỏa hoạn. Sau
đó bà kết hôn với một thầy cúng tế. Trong khi sinh ra một bé trai, người
chồng cùng bạn uống rượu say về giết đứa bé và bắt bà ăn thịt con. Bà bỏ
nhà chạy đến một gia chủ chết vợ. Người này lấy bà làm vợ nhưng ông ta
cũng chết, và bà bị chôn sống theo xác của ông theo phong tục địa phương.
Một tên trộm chuyên trộm chỗ mồ mã đào bà lên và bà trở thành vợ y. Về sau
người chồng bị vua giết vì là đầu đảng bọn cướp, và bà cũng bị chôn sống
theo cái xác. Sở dĩ bà trải qua những đau khổ như vậy là vì trong một đời
trước, bà đã làm thứ phi của vua và đã giết con trai của hoàng hậu nhưng
lại thề nhiều kiểu để chối.
Còn nhiều chuyện tương tự. Nhân và quả còn tinh tế và mờ mịt hơn cả tánh
không: Thanh văn và Độc giác A la hán có thể hiều và giảng dạy những chi
tiết vi tế về tánh không, nhưng sự vi tế của luật nhân quả thì chỉ có chư
Phật mới phán xét được, và người ta biết được chỉ nhờ sự công bố chân thật
của Ngài. Luật ấy quả là vi tế đến nỗi ta phải tránh né dù là tội lỗi nhỏ
nhất. Kinh
Pháp Cú
nói:
Đừng tưởng một tội nhỏ
Tương lai không quả báo.
Như nước nhỏ từng giọt
Làm đầy bình chứa to
Những tội lỗi nhỏ nhặt
Kẻ hạ liệt tích lũy
Sẽ tràn ngập đời y.
Một đức hạnh nhỏ cũng sẽ tăng trưởng thành quả báo lớn. Vua chuyển luân
Màbhvàtà cai trị cả bốn châu lục và các cõi trời; tương truyền đấy là hậu
quả của việc ông đã ném một nắm đậu để cúng Phật Tỳ Bà Thi. Bốn trái đậu
rơi vào bát của Ngài và một trái rớt nơi nhục kế của Ngài.
Khi Phật còn tại thế, có một bà la môn tên Survanavasu. Tay ông thường
tuôn ra những đồng vàng không bao giờ hết; đó là hậu quả từ một đời trước
khi ông mà một người buôn gỗ. Một lần sau khi nhận được một đồng tiền vàng
người ta trả, ông đã cúng dường Phật Ca Diếp bằng cách bỏ vào một bình đất
sét đầy nước.
Kanakavatsa là một vị trưởng lão trong tăng đoàn. Vào ngày ngài ra đời, có
bảy thớt voi vàng xuất hiện tự nhiên trong kho tàng của gia đình. Tất cả
phân tiểu của voi đều là vàng ròng, nên Kanakavatsa được chu cấp rất chu
đáo. Bảy lần vua A xá thế sai đến trộm voi, nhưng không thành công vì
những con voi ấy biến mất xuống dưới mặt đất và trở về chủ cũ. Điều này
được bảo là hậu quả của một đời quá khứ trong đó Kanakavatsa đã khôi phục
và thếp vàng một pho tượng đất sét của con voi mà đức Phật Câu Na Hàm Mâu
Ni (Kanakamuni) đã cỡi.
Một tỳ kheo ni Shukla sinh ra từ bụng mẹ, cô đã mặc y phục lụa là. Khi cô
thụ đại giới, thì y phục ấy biến mất thành pháp phục. Điều này được nói là
do nhân đời trước, cô làm một người ăn xin, hai vợ chồng chỉ có một mảnh y
phục nên phải thay phiên nhau để đi ra ngoài ăn xin. Thế mà họ đã cúng
dường tấm y cho Phật Câu Na Hàm Mâu Ni, mặc dù vậy họ có thể chết. Hành vi
ấy đã có quả báo ngay tức khắc; vua và hoàng hậu cho họ nhiều y phục.
Người ta không nên xem thường những việc lành nhỏ. Kinh
Pháp Cú
nói:
Đừng nghĩ việc lành nhỏ
Tương lai không quả báo.
Như nước nhỏ từng giọt
Làm đầy bình chứa to.
Những việc lành rất nhỏ
Người tinh tấn tích lũy
Sẽ tràn ngập đời y.
Hai đoạn này nói về nghiệp có tính cách cố định như thế nào, và tăng
trưởng như thế nào, làm cho ta quyết định mình phải làm lành lánh ác, và
nên làm việc lành dù rất nhỏ, nên tránh việc ác dù rất nhỏ.
b-1.1.3. Ta không gặp một chuyện gì nếu ta đã không tạo cái nghiệp cho
chuyện ấy xảy ra.
Khi có một cuộc chiến tranh hay ấu đả xảy ra, có người bảo: “Tôi không đeo
bùa ngăn khí giới, vậy mà ở giữa súng đạn tơi bời tôi vẫn không bị hại.”
Bạn có thể xem chuyện này lạ lùng, nhưng đây là trường hợp một người không
gặp một sự gì chỉ vị họ không tạo nghiệp cho sự ấy xảy đến.
Một vài người lúc đầu không bị thương tích bởi khí giới nhưng về sau lại
bị giết. Thấy vậy người ta bảo, “Chắc lá bùa của họ hết hiệu lực.” Như vậy
người ta bảo, “Chắc lá bùa của họ hết hiệu lực.” Như vậy chứng tỏ họ không
hiểu nhân quả. Sở dĩ như vậy là vì lúc đầu, họ không gặp hoàn cảnh do
nghiệp họ tạo nên, sau đó lại gặp. Khi mà người ta không gặp hoàn cảnh do
chính nghiệp họ tạo ra, thì họ sẽ không chết, dù có bị thiêu trong ngọn
lửa. Giáo chủ Agnibhu có lần bị thiêu trong lửa cùng với xác bà mẹ, nhưng
ông không chết mà về sau còn chứng quả A la hán. A Xà Thế ăn trộm con voi
của Kanakavatsa bảy lần, nhưng không ích gì, vì lần nào chúng cũng lún
xuống mặt đất.
Thứ phi của vua Udayana là Shyàmavatì đã đắc quả Bất hoàn (nên có thể
bay). Năm trăm cung nữ tùy tùng cũng đạt đến địa vị kiến đạo. Nhưng khi bà
la môn Akàla châm lửa đốt phòng xá của bà (vì đời trước, họ đã đốt nhà của
một người bà la môn) thì họ chỉ bay được một đoạn. Shyàmavatì nói: “Ai cai
trị chúng ta nếu không phải chính nghiệp mà ta đã tạo và tích lũy?” Tất cả
họ đều lao vào ngọn lửa mà chết thiêu như những con mối. Có một người tớ
gái tên Kubjottarà, không có thần thông nào cả nhưng không cùng chung
nghiệp ấy, nên thoát được ngọn lửa bằng cách trốn vào một hố nước.
Khi Virùdhaka gây chiến với dòng họ Shàkysa, bảy mươi ngàn người dòng họ
Thích Ca đều đã đắc Dự lưu mà vẫn không thoát khỏi bị giết. Một số người
không tạo nghiệp đáng bị giết như vậy nên đã trốn thoát được, trong khi
đại danh của dòng Thích Ca bị xuống dốc.
Thành Ràvana bị chôn vùi dưới một trận mưa đất. Vua và đình thần đều bị
chôn, nhưng có hai bộ trưởng thoát được.
Đấy là vài ví dụ về những người không gặp một sự việc gì vì họ đã không
gây cái nghiệp cho sự việc ấy xảy ra.
b-1.1.4. Nghiệp một khi đã làm thì không tự nhiên mà biến mất.
Một kinh nói:
Nghiệp của chúng sinh có
thân thể
Không tiêu mất trải qua hàng
trăm kiếp.
Khi có điều kiện và đúng
thời
Nghiệp sẽ chín thành kết
quả.
Nghiệp không bị phai nhạt sau một thời gian dài, cũng không giảm bớt, trở
thành không hiện hữu, vân vân. Sớm hay muộn nó sẽ chín thành kết quả, như
trong câu chuyện bậc thánh Vibhudatta đã đắc quả A la hán mà vẫn không
được bố thí, cho dù có được thì của ấy cũng biến mất vì một lý do nào đó.
Trước khi chết ngài nói: “Cháo nấu bằng tro.” Rồi ngài từ giả thân xác.
Trong dòng tâm thức của gia chủ Shrìjàta có quá ít thiện căn, và thiện căn
của ông quá nhỏ để góp phần vào việc giải thoát ông, đến nỗi một vị A la
hán như Xá Lợi Phất mà cũng không trông thấy được. Những thiện căn mà ông
ta có được là như sau. Trong một đời quá khứ, Shrìjàta đã tái sinh làm một
con ruồi. Nó bay theo mùi một cục phân trâu đã khô rớt trong cống rãnh,
đậu được trên cục phân ấy. Khi nước cuốn cục phân trôi đi, nó bay theo và
tình cờ trên đường bay nó có vòng quanh một bảo tháp.
Có lần một con heo bị chó rượt quanh một bảo tháp; về sau nó được tái sinh
làm một vị trời.
Khi vua Lưu Ly tàn hại dòng họ Thích Ca, đức Phật Thế Tôn cũng đã bị một
cơn đau lưng, theo cái thấy phàm tình. Trong một đời quá khứ khi Ngài còn
là một cậu bé, một số dân chài bắt được hai con cá khổng lồ để ăn thịt, và
Ngài đã vui mừng trong việc này. Quả báo là sự đau lưng. Chuyện kể rằng
chính vua Lưu Ly cũng bị lửa đốt cho đến chết, mặc dù xung quanh ông toàn
là nước.
Đức phật tiên đoán rằng một người theo Kỳ na giáo tên Duhkhitaka sẽ chết
vì ăn không tiêu. Người ấy bèn nhịn ăn, nhưng vẫn chết vì nước mía và nước
mà ông ta uống không tiêu.
Long Thụ đã được trí bất tử, nhưng trong một đời quá khứ khi cắt cỏ ngài
đã cắt trúng cổ của một con kiến, do nghiệp ấy ngài chết vì bị mất đầu
Thánh Mục Kiền Liên đệ nhất thần thông; thế mà một số thầy tu đầu cạo trọc
chỉ trừ một nhúm tóc trên đỉnh, đã tìm cách đánh ngài bằng tích trượng của
họ. Toàn thân thể Mục Kiền Liên trông như một cây cỏ chỉ. “Thịt xương ngài
bị đòn nhừ tử thành một đống bột nhão. “Xá Lợi Phất hỏi tại sao ngài không
thi triển thần thông. Mục Kiền Liên đáp rằng ngài hoàn toàn ở dưới năng
lực của nghiệp; làm sao thi triển thần thông khi mà ngay cả tìm môt lối
thoát ra cũng không xong? Trong một đời quá khứ, ngài đã một điều hỗn xược
với mẹ; nghiệp ấy không tự biến mất, nên đây là hậu quả của nó.
Về phần quả báo của ác nghiệp, nếu bạn không tịnh hóa ác nghiệp nhờ bốn
năng lực của sám hối và chế ngự, thì ác nghiệp không buông tha bạn dù vào
đời cuối cùng của bạn làm Bồ tát. Kinh Hiền Ngu, Kinh Một Trăm Bài Kệ, Một
Trăm Mẫu Chuyện Đời, Truyền Thừa Tạng Luật v.v... đều nói, sau khi bạn
tích lũy tội hay phúc, thì kết quả sẽ không mất. Không thể nào nghiệp trở
thành phi - hữu, chính vì vậy mà bạn phải thay đổi lối hành xử ngay cả ở
cấp độ tinh tế nhất.
Hai phần kế tiếp bàn về sự quán xét những kỹ thuật để bảo đảm công đức của
bạn sẽ không bị phá hủy vì giận dữ. Thế nào bạn cũng phải quyết định thay
đổi hành vi phù hợp với luật nhân quả. Bốn tiêu đề trên cốt là để tăng
trưởng đức tin vào nhân quả. Khi bạn muốn thay đổi lối hành xử phù hợp với
nhân quả do lòng tin, bạn nên nghĩ về 10 nghiệp đạo - một đồ hình mô tả
thiện và ác - vì điều này làm cho công việc thay đổi lối hành xử của bạn
trở nên dễ dàng. Tác phẩm
Thực Hành Trung Đạo
nói:
Ngoài giới, không có nguyên
nhân
Cho tái sinh cao hoặc thù
thắng:
Của phàm phu và của Thanh
văn
Phát sinh do Ngữ giác ngộ.
Cho Độc giác hay cho Bồ tát.
Nói cách khác, mười nghiệp đạo là nền tảng của tái sinh cao cho những
người mới bước vào đạo lộ; nó là nền tảng cho loại giác ngộ của Thanh văn
và Duyên giác; và cũng là nền tảng cho vô thượng bồ đề của các vị Bồ tát.
Bởi thế điều cốt yếu cho phàm phu trong giai đoạn đầu tiên thuộc phần Phạm
Vi Nhỏ này, là giữ giới thay đổi lối hành xử của họ theo khía cạnh đen và
trắng của nhân quả.
b-1.2. Nghĩ về một
vài điều đặc biệt của nhân quả.
Có 3 phần (1) Nghĩ về khía canh đen của nhân quả; (2) Nghĩ về phía cạnh
trắng của nhân quả; (3) Dạy về những cửa ngõ vô tình đưa đến nghiệp cường
liệt.
b-1.2.1. Nghĩ về khía cạnh đen nhân quả.
Phần này cũng có 3: (1) Tiến trình nghiệp đen thực thụ: (2) Những sự khác
nhau làm nên nghiệp nặng hay nhẹ; (3) Dạy về quả báo của những nghiệp này.
(i) Tiến trình nghiệp đen thực thụ.
Nếu luật nhân quả là vô cùng quan trọng dù trên một cấp độ rất vi tế, thì
cái gì là căn bản để thay đổi lối hành xử của ta.
Tác phẩm Kho
Tàng Vật Lý Siêu Hình
nói:
Tiến trình nghiệp gồm 10
phần,
Dù là đen hay trắng
Được chỉ dạy
Để tóm thâu tất cả nghiệp.
Có nghĩa rằng thiện hay bất thiện có thể được tóm tắt dưới 10 loại. Ngay
cả những người đã thụ giới, chứ không chỉ những người thế tục cũng phải
thay đổi lối hành xử của mình. Đấy là lý do Longdoel Lama Rinpoche rất cẩn
thận muốn cho mọi người biết ông đã vi phạm bất cứ điều thiện nào trong 10
điều - quả thế, ông làm cho họ chú ý đến những bất thiện của ông.
Tác phẩm
Hành Bồ Tát Hạnh
nói:
Mặc dù bạn nghĩ rằng mình
muốn tránh đau khổ,
Kỳ thực bạn đang thực sự vội
vã đi đến đau khổ.
Bạn có thể mong muốn được
hạnh phúc
Nhưng vì vô minh si ám
Bạn phá hủy hạnh phúc như
một kẻ thù.
Nói cách khác, chúng ta có thể mong muốn hạnh phúc nhưng không hiểu làm
thế nào để tạo việc lành, nguyên nhân để có hạnh phúc. Chúng ta có thể
không muốn đau khổ, nhưng lại không hiểu rằng ta phải từ bỏ tội lỗi,
nguyên nhân của khổ đau. Bởi thế chúng ta đánh gục hạnh phúc - chính cái
điều mà chúng ta cần - làm như thế nó là kẻ thù của chúng ta. Chúng ta uốn
nắn lối hành xử của mình một cách trái ngược hẳn.
Một số người suy nghĩ thấp kém có thể bảo: “Tôi không biết 10 điều bất
thiện là gì?” Nhưng nếu ta có thể học 20 hay 30 bài hát thì không thể nào
chúng ta lại không biết 10 bất thiện sau khi nghe về chúng. Chúng ta không
đi đến các đọa xứ bởi vì ta không biết Pháp hay chưa học Pháp, mà chính vì
chúng ta đã biết Pháp nhưng không thực hành. Vậy điều cốt tử là phải thực
hành pháp.
Mười bất thiện, những điều cần phải từ bỏ là:
Thân nghiệp có ba
Ngữ nghiệp có bốn, và ý
nghiệp có ba.
Hãy sám hối mỗi một nghiệp
Trong mười bất thiện này.
Nói cách khác, giết, lấy của không cho, và tà hạnh về dâm dục là ba bất
thiện của thân. Nói dối, nói ly gián, nhiếc mắng, và nói lời phù phiếm là
bốn bất thiện của lời. Ba bất thiện của ý là tham, ác ý, và tà kiến.
Mỗi bất thiện này có 4 thành phần: “căn bản,” “ý định,” “hành vi” và “bước
cuối cùng”. (CT của DG.- Tức là bốn yếu tố:
Nhân, Duyên, Pháp và
Nghiệp nói trong kinh Phạm Võng.)
(1) Giết.
“Căn bản” của giết bao hàm một chúng sinh khác với mình, nghĩa là cái vật
sẽ bị giết - một con cừu chẳng hạn. “Ý định” chính nó cũng có 3 phần: “sự
nhận ra,” “động lực, “ và “vọng tưởng.” Ở đây sự nhận ra có nghĩa là không
lầm lẫn về một vật gì. Động lực có nghĩa là là muốn giết. “Vọng tưởng” là
một trong ba độc. Một ví dụ về giết do sân là tức giận một kể thù và dùng
khí giới đểâ đánh. Một ví dụ giết do tham là giết một con cừu vì tham thịt
của nó hay tham bộ lông của nó v.v… Một ví dụ về giết do ngu si là giết
một hữu tình để lấy máu thịt của nó mà cúng tế với tư tưởng rằng đó không
phải là một tội lỗi. “Hành vi” là sự thi hành việc giết bằng cách dùng độc
dược, một trong 5 loại khí giới hay bất cứ gì khác. Sự giết không cần phải
là một việc rõ ràng như dùng dao để đâm: nó cũng có thể được làm bằng
thuật phù thủy, những bài chú v.v… “Bước cuối cùng” là cái chết của chúng
sinh kia.
Khi đầy đủ 4 yếu tố ấy thì tiến trình nghiệp giết thành tựu. Ra lệnh cho
người nào khác giết thì cũng không khác gì tự mình giết.
Kho Tàng Siêu Vật Lý
nói, nếu 8 người giết một con cừu, thì không phải mỗi người “san sẻ” một
phần tội, mà mỗi người nhận “trọn vẹn” cái tội giết con cừu. Khi một viên
tướng phái nhiều người lính đi giết hại và một ngàn người bị giết, thì mỗi
người lính đều phạm tội giết số lượng mà mình đã giết; nhưng viên tướng
lại bị cái tội giết tất cả 1000 người.
Chúng ta có thể nêu một ví dụ rõ rệt tại đây ở tỉnh Trung ương, nhưng khắp
nơi ở Tây Tạng, tôi tin rằng những người tu đang khiến những người khác
giết súc vật cho mình ăn, và tuyên bố “chúng là kẻ tôi tớ.” Những đồ tể và
người sai giết, cả hai đều phạm tội giết. Nếu người tu sĩ chính tay mình
giết con vật, thì chỉ có một người phạm tội. Vậy sẽ tốt hơn biết bao nếu
vị ấy đừng bảo người khác làm mà chính mình làm, như thế nghĩ rằng ta
không có tội thực sự giết một chúng sinh, nhưng kỳ thực là chúng ta có
tội, vì sai người khác giết cho mình cũng là một trọng tội.
Có một số tỷ kheo và sa di giữ một con dê, một con cừu và một con bò đực
trong một cái chuồng. Khi những con vật sắp bị giết, con dê nói với hai
con kia: “họ muốn giết chúng ta.” Con bò đực nói: “nhưng ngày nào họ cũng
quy y. Họ chắp hai tay lại, nhắm mắt và nói: Mong tất cả hữu tình có được
hạnh phúc và nhân của hạnh phúc. Họ sẽ không giết chúng ta đâu.” Con cừu
nói: “họ là những đệ tử của Phật. Khi họ bắt đầu học giáo lý họ đã hứa giữ
lời khuyến cáo kèm theo sự quy y. Lời khuyên chính yếu là đừng làm hại
chúng sanh. Chắc chắn họ sẽ không làm hại chúng ta.”
Ba con vật bàn cãi rất sôi nổi. Rồi buổi sáng hôm ấy, người đồ tể cư sĩ đi
đến nhà các thầy tu. Những con vật trông thấy anh ta và lắng nghe. Người
đồ tể nói, vẻ hơi bực: “Hôm nay tôi bận. Thầy có thể nhờ người nào khác
giúp thầy không?” Một thầy tu năn nỉ: “Tôi không còn gì để ăn trưa, hãy
giúp tôi làm thịt cả 3 con ngay hôm nay.”
Người đồ tể phải hứa giết giúp.
Ba con vật nghe chúng chắc chắn phải chết. Hai con đã từng bảo việc này sẽ
không xảy ra bấy giờ đang khóc thảm thiết. Ngay khi ấy người tu sĩ đi dến
vừa lần chuỗi đọc lời quy y và tụng câu
Om Na Ni Padme hum.
Ông ta đã đến để xem thử con dê, con cứu và con trâu đực có đủ mập hay
không.
Ba con vật nói rằng thật không hợp lý nếu thầy tu mà giết chúng sanh hoặc
sai người khác giết. “Tốt nhất là chúng tôi không bị giết. Nếu chúng tôi
phải chết thì này thầy tu, thầy nên tự tay giết chúng tôi.”
Vị tu sĩ không làm gì cả, người đồ tể trở lại lấy dây thừng cột chân 3 con
vật lại. Anh ta lấy búa đập con bò đực một cú vào đầu bất tỉnh, thọc một
cái gươm nhọn vào sườn của con dê và con cừu, và dùng những lưỡi câu bén
dể cắt những động mạch chính của chúng. Như thế những con vật trải qua sự
đau đớn không thể tưởng tượng. Con bò rống lên với một giọng bi ai thảm
thiết: “Nghe tôi đây này, hỡi tất cả chư Phật ở 10 phương. Tôi thấy những
điềm xấu. Những tỳ kheo trên đất này chỉ là những hình ảnh mường tượng tỳ
kheo, vì họ sai giết những hữu tình đã từng là cha mẹ họ.” Cờ chiến thắng
của Pháp đã bị hạ thấp và ngọn cờ của ma quỷ giương cao; tất cả chư Phật
và Bồ tát đều buồn bã.
Đây là cuộc đối thoại giữa vị tu sĩ, con dê, con cừu vàcon bò - tất cả
chỉ vì bữa ăn trưa của 1 vài tỳ kheo. Tác phẩm
Tấm Gương Trong
kể chuyện này rất dài.
Những điều như vậy lạc ra ngoài giáo lý; điều cốt yếu là tránh giết
chugnsinh. Bậc tôn sư tôi, chỗ nương cậy của tôi, là người có biệt tài làm
cho người khác hối hận từ bỏ sát sinh. Khi đến tỉnh Kham tôi cũng đã có
thể chấm dứt việc tàn sát súc vật tập thể mà chùa Sog Tsongkapa và những
tu viện khác thường làm để gây quỹ. Tôi nghĩ rằng đây là việc tốt nhất mà
tôi có thể làm cho chánh pháp trong đời này.
(2) Lấy của không cho
“Căn bản” là vật sở hữu của người khác. “Ý định” gồm ba phần: sự “nhận ra”
phải không lầm lẫn, “động lực” là ý muốn lấy một vật, vì người ta sẽ không
đem nó mà cho mình, “vọng tưởng” là một trong ba độc. Một ví dụ về ăn cắp
do “sân” là lấy tài sản của một kẻ thù; một ví dụ về ăp cắp do “si” là
truyền thống của người ngoại đạo Phật theo đó, “khi một người thuộc gia
cấp là ba là môn bị tài sản sa sút, thì người đó được phép ăn trộm.” Nghĩa
là họ không cho đó là một hành vi quấy.
“Hành vi” không cần phải là sự đi lén lút về đêm. Sự lấy của không cho có
thể bao hàm nhiều chuyện như: một người xuất gia lạm dụng của tín thí, một
quan tòa xử phạt bất công, cái kiểu bố thí cho ra rất ít với hy vọng nhận
lại thật nhiều (“thả tép câu cá”) vân vân. Khi một thầy tu vi phạm học
giới, ông ta phải lay sám hối v.v…; với mục đích là để chừa những hành vi
quấy như trên.
Tóm lại: bạn muốn có được một thứ sở hữu đặc biệt nào đó, mà khổ chủ của
vật ấy không muốn lìa. Bạn dùng nhiều phương tiện lừa bịp để được nó, làm
cho người kia không thể nào lấy lại. Không những chúng ta rất dễ phạm vào
kiểu ăn trộm này, mà chúng ta còn phạm những kiểu trộm cướp như sau. Hoặc
ta để cho người nào lấy của cải hay sở hữu của người khác, dù chỉ đáng giá
vài xu. Hoặc ta mượn vật gì của người khác đã lâu rồi chiếm làm sở hữu của
mình khi chủ quên đòi. Hoặc ta có thể nghĩ, “Lạy trời cho ông ấy quên,” và
nhận ra rằng ông ta đã quên.
“Bước cuối” xảy ra khi bạn nghĩ mình đã nhận được vật - khi ấy bạn thành
một kẻ trộm cắp. Nếu bạn còn làm chú tiểu, thì việc ấy cũng gàn như phạm
một trọng giới, nếu bạn là tỳ kheo, bạn phạm trọng giới thực.
(3) Tà dâm
Đối với cư sĩ thế tục thì “căn bản” là bất cứ một lỗ nào trừ bộ phận sinh
dục; bất cứ thời gian nào không thích hợp, như khi người phụ nữ đang có
bầu hoặc đang giữ giới bát quan trai; tại một nơi không thích hợp, như
trước bậc thầy hay gần một bảo tháp; bất cứ người nào không thích hợp, như
mẹ hay cha mình.
(CT. Nhân, Pháp,
Thời, Xứ - Quan niệm về “tà dâm” đói với người Tây Tạng có chỗ khác với
VN; ví dụ về “người không thích hợp” thì chỉ kể cha mẹ, chứ không kể vợ
hay chồng của kẻ khác. DG)
Đối với người xuất gia thì tất cả mọi hành vi dâm dục đều trở thành tà
dâm.
Sự ‘nhận ra’ là: người ta phải không nghi ngờ gì hành vi ấy là tà dâm;
nhưng khi bạn là tu sĩ mà phạm hạnh bất tịnh thì không kể bạn lầm hay
không.
‘Vọng tưởng’ là một trong ba độc. ‘Động lực’ là muốn làm quấy. ‘Hành vi’
là khi hai căn tiếp xúc, vân vân. Bước cuối thành tựu khi người ta cảm thọ
sự khoái thích.
(4) Nói dối
Người ta có thể nói dối về tám điều: (1) một điều gì ta đã thấy bằng nhãn
thức, nghe bằng nhĩ thức, cảm nhận bằng tỉ thức, thiệt thức, thân thức một
cách riêng rẽ; (2) một điều gì ta đã thấy bằng nhãn thức, v.v. một cách
tổng hợp; (3) một điều gì ta đã thấy bằng mắt v.v… một cách riêng rẽ; (4)
một điều gì ta đã không thấy bằng mắt, v.v… một cách tổng hợp; (5) một
điều gì ta đã kinh nghiệm bằng ý thức ta; (6) một điều gì ta đã không kinh
nghiệm bằng ý thức ta; (7) một điều gì ta biết; (8) một điều gì ta không
biết;
Bạn phải nói với một chúng sinh hiểu được điều bạn nói bằng tiếng người.
Thành phần của “ý định” là như sau. Sự ‘nhận ra’ là nhận ra bạn đang nói
(ví dụ) không thấy một điều gì, trong khi thực sự là bạn có thấy. Động lực
là muốn nói như vậy. ‘Vọng tưởng’ là một trong ba độc tố.
‘Hành vi’ là nói những lời dối gạt, hoặc dối bằng cử chỉ hay lắc đầu hay
gật đầu mà không thốt ra lời. ‘Bước cuối’ là khi người khác hiểu bạn muốn
nói gì.
Tuy nhiên, thật không hợp lẽ khi trả lời một cách thật thà cho những câu
hỏi của một kẻ có thể giết người: “Nạn nhân của chúng tôi ở đâu?” Tuy
nhiên nếu ai còn nghi ngờ về điều này thì nên làm như sau. Khi được hỏi:
Hắn đi ngõ này phải không?” thì bạn nên nói một điều gì để đánh trống lấp,
làm cho kẻ khác phải bỏ đi.
(5) Nói lời ly gián
‘Căn bản’ có thể là những người đang hợp nhau, hoặc không hợp. Sự ‘nhận
ra’ phải là không lầm lẫn; ‘động lực’ là muốn gây chia rẽ; ‘vọng tưởng’ là
một trong ba độc. ‘Hành vi’ là như sau: bạn muốn chia rẽ những người đang
hòa thuận, hoặc muốn cho những người không hòa đừng hòa giải; không có gì
khác nhau nếu lời nói ly gián của bạn là thật hay dối. Một vài người xem
việc làm này là một đức tính, nhưng không phải. Lời ly gián gây ra tai hại
lớn, nên không thể là điều phải.
‘Bước cuối’ là khi người ta hiểu ý nghĩa lời bạn nói. Nhưng nghiệp nói dối
sẽ không thành tựu nếu những lời ly gián mà bạn nói ra có tác dụng ngược
lại. Nghiệp ấy không thành nghiệp nói ly gián nếu lời nói không làm người
ta chia rẽ - những người đang hòa thuận, vân vân - vì họ không hiểu.
(6) Lời nhục mạ
‘Căn bản’ của lời nhục mạ có thể là một hữu tình dùng làm căn bản cho sự
phát triển những ý định tác làm tác hại, hoặc một vật vô tri như một cái
gai.
Sự ‘nhận ra’ phải là không lầm lẫn. ‘Vọng tưởng’ là một trong ba độc.
‘Động lực’ là muốn nói những lời như vậy. ‘Hành vi’ là nói về những lỗi
trong đạo đức, dòng dõi, thân thể, vân vân. Bạn có thể nói sự thật hay
điều dối trá; chẳng hạn bạn nói: “Anh đui rồi” cho một người mù thật hoặc
không mù. Khi bạn nói những lỗi lầm về đạo đức, dòng dõi, thân thể, v.v…
dù là nói đùa, bạn cũng đã phạm vào hành vi nói lời nhục mạ, nếu lời bạn
làm cho người kia bị tổn thương.
‘Bước cuối’ là khi người kia hiểu được ý nghĩa của lời nói. Ngôn ngữ phải
được hiểu; bởi thế tiến trình nghiệp không hoàn tất nếu bạn nói lời nhục
mạ với một vật vô tri.
(7) Nói phù phiếm
‘Căn bản’ là một lời phù phiếm vô ích. Sự ‘nhận ra’ là điều mà bạn muốn đề
cập, là một điều phù phiếm không đáng nói. Đề tài của chuyện phiếm có thể
là một vị vua nổi tiếng hoặc không; bất cứ gì cũng có thể làm căn bản thực
sự của chuyện phù phiếm. ‘Động lực’ của sự ham nói. ‘Vọng tưởng’ là ba
độc. ‘Hành vi’ là nói về vua, về quân đội, hay bất cứ gì.
Ngày nay những tu sĩ chúng ta trong tu viện mỗi khi tụ họp lại là bàn luận
đủ thứ chuyện: chuyện chính phủ Trung Quốc, Ấn Độ, vân vân. Đấy là chuyện
phiếm. Chuyện phù phiếm là nghiệp nhẹ nhất trong mười bất thiện, nhưng nó
lại là cách tốt nhất để lãng phí cuộc đời chúng ta. Cái thói xấu tán gẫu
làm hỏng những cuộc đại lễ công cộng trong tôn giáo và chư tăng liên tục
họp ăn trưa nói chuyện quá nhiều. Atìsha nói: ‘Khi ở chung, hãy kiểm soát
lời nói. Khi ở một mình, hãy kiểm soát tư duy.’ Nói cách khác bạn phải cẩn
thận dù chỉ có một người bạn.
Những câu chuyện và thảo luận về những luận đề không phải Phật giáo đều là
chuyện phù phiếm.
Mặc dù với sáu tà hạnh về thân và lời, bạn có thể bảo người khác làm thay
bạn (trừ tà hạnh dâm dục), song chính bạn cũng bị vướng vào tiến trình
nghiệp.
(8) Tham
‘Căn bản’ là tài sản của một người khác. Giả sử khi đi chợ, bạn trông thấy
một món hàng hấp dẫn và nghĩ, “Ước gì ta có được!” và khát khao nó gần
muốn ốm.
Sự ‘nhận ra’ là biết được một vật đặc biệt nào đó làm căn bản cho lòng
tham của bạn.
‘Động lực,’ ‘hành vi,’ và ‘bước cuối’ phải được xem là những nhiệm vụ của
một ý định duy nhất. ‘Động lực’ là ý nghĩ: “Ước gì vật này là của ta!”
‘Vọng tưởng’ là một trong ba độc. ‘Hành vi’ là khi nghĩ càng mãnh liệt, và
bạn quyết định mình phải tìm cách nào khiến cho vật ấy biến thành của
mình.
Bạn cũng có thể tham ngay cả những sở hữu của bạn.
Khi chúng ta đi chợ ở thủ đô Lhasa chẳng hạn, ta khởi lòng tham hàng trăm
ngàn lần, vì bất cứ gì ta làm ở đấy ta đều làm trong sự không chánh niệm.
Ta nên áp dụng thuốc chữa bệnh tham là nghĩ tất cả những vật ấy đều hư
huyễn không có thực chất.
(9) Ác ý
‘Căn bản,’ ‘vọng tưởng’ vân vân của ác ý cũng giống như của lời nhục mạ.
‘Động lực’ là muốn gieo tai hại bằng cách đánh hoặc giết đối tượng (căn
bản) của các ý, hay mong những điều như “Thật là tốt nếu người ấy bị tàn
mạt.” ‘Hành vi’ là đặt nhiều nỗ lực vào ý tưởng ấy. ‘Bước cuối’ là quyết
định làm hại người kia.
Chúng ta làm những hoạt động mật giáo như cầu sự an lạc, tăng trưởng, năng
lực, phẫn nộ; nếu chúng ta không làm với những động lực tốt và bền bĩ, làm
vì lợi ích của hữu tình, thì những việc ấy có thể trở thành những hình
thái khác nhau của tâm tham, ác ý, vân vân; bởi thế phải cẩn thận.
(10) Tà kiến.
‘Căn bản’ phải là một cái gì hiện hữu: nhân quả, bốn chân lý, Ba ngôi báu,
vân vân. Một tà kiến là xem những việc này là phi hữu; chẳng hạn chối bỏ
những pháp ấy tức là bảo rằng chúng không có.
Ngoại đạo Akshipàda muốn làm tà hạnh với chính con gái ông, nên đã soạn
Một Trăm Ngàn
Bài Kệ
trong đó ông tuyên bố ngoài cuộc đời này, không còn có đời tái sinh nào
khác. Ngoài ra những ví dụ về tà kiến là mười sáu quan niệm sai lầm, tà
ác, bịa đặt, vân vân.
Sự ‘nhận ra’ là giống như chín hình thức kia của sự nhận ra, ngoại trừ sự
kiện người ta không nhận rằng cái điều mình chối bỏ kỳ thực là đúng. ‘Hành
vi’ là ý định chối bỏ cái điều dùng làm căn bản. ‘Bước cuối’ là quyết định
rằng điều đó không hiện hữu.
Chúng ta ít có cơ hội thực sự chủ trương những tà kiến, nhưng ta cũng có
thể bị bạn xấu lung lạc để có chủ trương như vậy. Bạn xấu nghĩa là những
người có rất ít công đức.
Khi ta đã biết rõ mười bất thiện ấy, điều cốt yếu là ta phải cẩn thận
tránh làm.
(ii) Cái làm nên nghiệp có nặng nhẹ khác nhau
Có sáu yếu tố:
(1) Nặng do bản chất
Bảy nghiệp của thân và lời xếp hạng từ nặng nhất là giết, cho đến nhẹ nhất
là nói phù phiếm. Lý do là thứ tự này phản ảnh mức độ đau khổ mà hữu tình
khác nhau phải chịu. Ví dụ: dù chúng ta có thể khác nhau cách mấy, thì
cũng có giống nhau một điều là, ai cũng yêu quý mạng sống mình hơn những
sở hữu của mình. Do vậy sự giết chết gây nhiều đau khổ cho người khác hơn
là trộm cắp. Tuy nhiên, với ba ‘điều bất thiện của tâm ý’, cái nhẹ nhất
nằm trước tiên, nặng nhất là cái cuối cùng.
(2) Nặng do ý định
Khi ý định xuất phát từ một vọng tưởng khá mạnh những điều bất thiện,
chẳng hạn nhục mạ, bản chất lại nhẹ, nhưng người ta nói: “Anh là con chó
già” do vì bản chất tức giận, thì hành vi này khi ấy trở thành nặng.
(3) Nặng do hành vi
Một ví dụ về điều này là giết một cách tàn bạo. Lại nữa giết một con voi
chẳng hạn nặng hơn giết một con sâu. Giết những con vật có thân thể khổng
lồ và có sức mạnh vật lý lớn thì tội nặng hơn. Vì chúng trải qua nhiều đau
đớn nhiều hơn. Ở một vài xứ sở, người ta thiêu sống những con ếch, gà vịt
và côn trùng; những hành vi này đều nặng theo cả 2 cách bởi vì bản chất
của chúng và do chính hành vi giết hại.
(4) Nặng do căn bản
Một tội được xem là nặng nhất chẳng hạn như có cái nhìn dữ dằn đối với
những bậc bề trên như là bổn sư, thầy truyền giới, những vị Bồ tát, những
thành phần của tăng chúng, cha mẹ, v.v…
(5) Nặng vì tính cách
thường xuyên
Nói phù phiếm chẳng hạn là nặng vì người ta luôn luôn làm.
(6) Nặng vì không có
cách cứu chữa
Những tội trong dòng tâm thức của một người không bao giờ làm một thiện
hành nào, là rất nặng.
Có từ một đến sáu loại nặng nhất trong bất cứ hành vi nào. Hai ví dụ về
hai loại tội nặng là: nhìn một vị Bồ tát một cách tức tối khi ta rất giận
dữ, hoặc giết một con vật một cách tàn bạo. Hát múa do tham mạnh là một
trường hợp chỉ có một loại nặng. Tất cả 6 loại nặng đều hiện hữu chẳng hạn
nơi một người đồ tể luôn luôn phạm tội và không bao giờ làm việc lành,
giận dữ với cha mẹ và giết một cách tàn bạo.
Dù tội lỗi của chúng ta nhẹ đến đâu, chúng ta luôn luôn làm cho chúng thêm
trầm trọng.
(iii) Dạy về quả báo của những nghiệp ấy
Có 3 loại quả báo: quả báo đã chín, quả báo phù hợp với nguyên nhân và quả
báo thuộc về hoàn cảnh (tức là “y báo” - DG).
Khi người ta phạm một điều nào trong bất cứ 10 điều bất thiện, thì ta phải
trải qua 4 quả báo chứ không phải 3, vì quả báo liên hệ đến nguyên nhân
được chia làm hai loại: Những kinh nghiệm phù hợp với nguyên nhân và hành
động phù hợp với nguyên nhân.
Những bất thiện lớn lao sẽ đưa đên tái sinh ở địa ngục, trung bình thì đưa
đến tái sinh làm ngạ quỷ, và nhỏ thì đưa đến tái sinh làm súc sinh. Hãy
lấy ví dụ giết. Quả báo đã chín có thể là tái sinh ở địa ngục. Về sau
người ta thoát khỏi địa ngục và được tái sinh làm người, nhưng mạng sống
ngắn ngủi, lại đau bệnh: đây là những kinh nghiệm phù hợp với nguyên nhân.
Người ta cũng có thể ưa giết từ tấm bé: đây là hành vi phù hợp với nguyên
nhân. Những “quả báo về hoàn cảnh” xảy ra trong môi trường sống: thức ăn,
thức uống thuốc men, v.v…, có ít hiệu lực. Sau khi chúng ta tái sinh làm
người thích giết. Sự giết hại chúng ta làm cho tiến trình này kéo dài bất
tận và chúng ta bị ném vào đọa xứ. Những hậu quả đáng buồn hơn tất cả là
những hành động liên hệ đến nguyên nhân; đấy là lý do tại sao chúng ta cần
phải nỗ lực ngăn chận những hành động tương ưng với những nguyên nhân bất
thiện, và phát sinh những hành động phù hợp với nguyên nhân bất thiện.
Bây giờ chúng ta sẽ đề cập các điều bất thiện khác - lấy của không cho -
theo thứ tự. Những kinh nghiệm phù hợp với nguyên nhân là: (đối với trộm
cắp) bạn sẽ thiếu vật sở hữu, phải xài chung với những người khác; (đối
với tà hạnh) bạn không thể giữ được đệ tử, tôi tớ hay chồng vợ; (đối với
nói dối), người khác không ai tin bạn; đối với lời ly gián,bạn sẽ có ít
bạn bè, không có tín đồ tôi tớ v.v…; (đối với lời nói nhục mạ) những người
khác sẽ nói xấu bạn; (đối với lời nói phù phiếm) lời bạn sẽ ít có hiệu quả
vì người khác sẽ xem thường những gì bạn nói; (đối với tham) bạn sẽ không
đạt được mục đích; (đối với ác ý), hoàn cảnh xung quanh bạn sẽ đáng sợ;
(đối với tà kiến) bạn sẽ đuôi mù trước chánh kiến. Một số người phạm tội
được sống lâu, mọi sự đối với họ đều suông sẻ; ngược lại một số người tu
hạnh nghiêm chỉnh thì lại bị ốm đau, mạng sống ngắn ngủi, v.v… Có nhiều
nguyên nhân cho việc này: những nguyên nhân ấy nằm trong các đời quá khứ.
Khi một chuyện gì khó chịu xảy đến cho ta trong đời này, chúng ta cứ nghĩ
đấy là một nguyên nhân gần nhất, nhưng sự thật không phải thế. Thông
thường những việc ấy được tạo tác bởi nghiệp từ những đời quá khứ.
Những hành động phù hợp với nguyên nhân là như sau. Trong đời này, có
những người từ nhỏ đã thích ăn trộm đồ vật; điều này là do trong những đời
quá khứ họ đã quen lấy của không cho. Có những trẻ con có tài làm cho
những trẻ khác ăn cắp; những trẻ như thế ưa nói chuyện trộm cắp. Những
hành vi khác phù hợp với nguyên nhân cũng tương tự như thế và dễ hiểu.
Những hành vi phù hợp vói những nguyên nhân là tham, ác ý và tà kiến làm
cho tham sân si càng tăng trưởng.
Những quả báo về hoàn cảnh do lấy của không cho là: mất mùa, trồng cây ít
kết quả, gặp sương mù, mưa đá, nuôi bò không có sữa v.v… Do tà hạnh bạn
phải sống trong những nơi bùn lầy hôi hám; do nói láo xung quanh có nhiều
kẻ lường gạt; do nói ly gián bạn phải sống những nơi đất không bằng phẳng;
do nói lời nhục mạ bạn phải sống một nơi có nhiều gốc cây bị chặt; do nói
lời phù phiếm mùa màng thất bại, mưa trái thời; do tham tất cả những lạc
thú của bạn sẽ bị mây ám; do ác ý sẽ có nhiều chiến tranh bệnh tật đói
khác; do tà kiến nguồn nước và những gì quý báu của bạn sẽ bị khô cạn.
Như vậy nếu bạn đã biết được những gì sẽ xảy đến do hậu quả của bất thiện
mà vẫn còn cố ý làm những điều bất thiện, thì cũng giống như đứng trên một
ngọn đá cao mà nhảy xuống với đôi mắt mở lớn.
Đất đai trước kia khá tốt, bây giờ rất xấu, khô cằn v.v… Nghiệp đã làm
việc ấy. Trong thời kiếp may mắn này, lúc đầu đất thật kỳ diệu nhưng nó đã
dần dần suy đồi và bây giờ đã bị ăn mòn, đầy những chỗ nứt nẻ và vực sâu.
b-1.2.2. Nghĩ về khía cạnh trắng của nhân quả.
Có 2 phần: (1) Dạy tiến trình nghiệp trắng thực sự; (2) Dạy quả báo của
nó.
(i) Tiến trình nghiệp trắng thực sự
Chỉ có tránh làm 10 bất thiện mà thôi thì không hoàn thành được tiến trình
nghiệp trắng (tức là bạch nghiệp hay nghiệp thiện). Tiến trình đầy đủ như
sau: nhận ra 10 điều bất thiện, kiêng làm những điều ấy sau khi thấy những
lỗi lầm, và sau khi có ý nghĩ từ bỏ chúng, là sự hoàn toàn chế ngự. Điều
thiện không giết hại chẳng hạn, có 4 phần: căn bản, ý định, hành vi và
bước cuối. Lấy ví dụ bạch nghiệp là không giết một con cừu. Con cừu là căn
bản. Bạn thấy lỗi lầm trong sự giết cừu nên muốn đừng giết nó và nghĩ
“điều ấy không nên.” Đây là động lực. Khi tư tưởng này càng mạnh hơn và
bạn thấy rằng giết con cừu là một ác hành, bạn cố hoàn toàn kiêng sự giết,
nỗ lực này là hành vi của bạch nghiệp từ bỏ giết. Tiến trình nghiệp hoàn
tất khi bạn quyết định rằng mình sẽ không giết: bạn thấy rõ lối lầm của sự
giết và nghĩ rằng mình sẽ hoàn toàn kiêng sát sinh: điều này cũng tương
đương với hành nghiệp của thân. Đây là bước cuối của bạch nghiệp không
giết cừu.
Khi bạn sắp ăn trộm một vật gì, thì động lực làm cho bạn không lầy là ý
tưởng như sau: “vật này là căn bản của nỗi đau khổ và sa đọa của tôi; ác
hành này sẽ là nguyên nhân dưa tôi xuống các đọa xứ, bởi vậy không nên
làm.” Hành vi
là nỗ lực của bạn để từ bỏ việc việc trộm cắp. Tiến trình nghiệp hoàn tất
khi bạn quyết định từ bỏ trộm cắp. Hãy áp dụng cùng một nguyên tắc ấy cho
những bất thiện khác, như tà hạnh về dâm dục, v.v…
(ii) Dạy về quả báo của bạch nghiệp
Có ba đoạn.
(1) Quả báo đã thuần
thục
Bạn được sinh làm một vị trời ở các cõi cao (nghĩa là ở Sắc giới và Vô
sắc giới) do thiện nghiệp rất thù thắng; làm một vị trời Dục giới do thiện
nghiệp trung bình; và làm một con người do thiện nghiệp nhỏ.
(2) Quả báo thích hợp
với nhân
Có hai loại: ‘Kinh nghiệm’ phù hợp với nhân là: trường thọ, có tài sản
lớn, vợ chồng hòa thuận, nói gì người ta cũng chú ý, bạn bè thuận thảo,
v.v… ‘Hành vi’ phù hợp với nhân là trường hợp xảy ra ở một vài người - như
tái sinh của những bậc thánh chẳng hạn - từ lúc sinh ra đã tự phát ý từ bỏ
và tâm đại bi.
(3) Quả báo thuộc
hoàn cảnh (y báo)
Điều này dễ hiểu: ngược lại với quả báo hoàn cảnh của mười bất thiện; do
là có thức ăn uống, thuốc men nhiều hiệu năng, v.v…
b-1.2.3. Dạy về những cửa vô tình dẫn đến nghiệp cường liệt
Có bốn phần.
(i) Cường liệt đo
ruộng phước
Quả báo của bố thí càng tăng lần lượt theo thứ tự sau: bố thí cho người
thường, cho cha mẹ, cho người có đức hạnh, cho Bồ tát tại gia hay xuất
gia, cho chư Phật, và cho bậc thầy của mình. Nhìn một Bồ tát với cái nhìn
khinh bỉ thì tội báo còn nặng hơn là ném tất cả hữu tình trong ba cõi vào
ngục rồi móc hai con mắt họ. Chắp tay kính chào vì lòng tin tưởng kính
trọng đối với một vị Bồ tát thì có công đức hơn là giải phóng tất cả những
hữu tình ấy ra khỏi tù ngục và đem con mắt cho họ. Cũng thế, khi một thầy
tu giết một súc vật, thì ông ta chỉ phạm một tiểu giới; nếu giết một con
người, thì phạm trọng tội.
(ii) Cường liệt do vì đã thụ giới
Một quyển kinh nói công đức một người hành thiện mà đã thụ giới thì lớn
hơn là chưa thụ giới. Cũng vậy đối với phi công đức: một người xuất gia
thụ giới mà làm một điều bất thiện nhỏ nhặt thì tội nặng hơn là một người
thường phạm cả mười bất thiện. Do vậy mà thật là trọng tội khi người đã
thọ bồ đề tâm và thọ giới mật tông mà vi phạm những tà hạnh. Có nhiều
người cho rằng vì thụ giới thì bị tội nặng nên tránh thụ giới. Nhưng không
cần thiết phải vậy. Quyển
Hành Trung Đạo
nói: “Không có nhân nào để tái sinh thù thắng trong đời sau ngoài ra nhân
giới.” Nghĩa là, muốn tái sinh làm người trong đời sau, thì bạn nhất định
phải thụ giới và giữ giới. Nếu bạn không thụ giới, mà chỉ bố thí chẳng
hạn, thì bạn có thể tái sinh làm một thú vật như con rồng.
Nếu bạn thụ giới, bạn sẽ liên tục nhận công đức. Và nếu bạn giữ một ác
giới thì bạn sẽ liên tục nhận phi công đức: một người đồ tể và một bà bán
rượu là những điển hình của người theo ác giới, và tội của họ sẽ liên tục
tăng trưởng, dù là khi họ đang ngủ hay khi họ nghỉ mệt.
Giả sử hai người sống chung, một người đã thọ giới không giết, người kia
chưa thọ. Cả hai người có thể suốt một thời gian không giết một con gì,
nhưng người không thọ giới thì không có công đức do sự từ bỏ sát sinh,
trong khi người đã thọ giới thì công đức càng ngày càng tăng. Cũng tương
tự, những người thọ giới cư sĩ tại gia, giới sa di hay cụ túc giới có thể
không làm nỗ lực đặc biệt gì để tăng thiện căn công đức, nhưng ít nhất họ
cũng thấy được sự tăng trưởng trong các loại giới: ngũ giới, 36 giới, 253
giới; ngay cả trong lúc ngủ. Và điều này cũng áp dụng cho những người thọ
bồ tát giới, công đức càng tăng hơn bất cứ giới nào ở trên, không thể tính
được. Như trong
Hành Bồ Tát Hạnh
nói:
Sau đó ngay cả trong giấc
ngủ của họ,
Hay trong những lúc không đề
phòng,
Công đức của họ sẽ có nhiều
năng lực.
Nhiều công đức liên tục đến
với họ
Và sẽ trở thành to lớn như
hư không.
Những người thọ giới mật tông còn thấy tăng trưởng công đức trăm ngàn lần
hơn. Bởi thế một người chưa thọ bất cứ giới nào thì không tạo được những
thiện căn đặc biệt này; hãy so với người thọ giới ngày nào cũng thấy công
đức mình tăng trưởng và như vậy có lợi lạc lớn. Những người hẹp hòi không
nên có tà kiến ngay cả những người thế tục cũng nên thọ giới một ngày, thọ
giới nhịn ăn một ngày và thọ Bồ đề tâm.
Có 2 loại cấm chỉ: sự cấm chỉ tự nhiên và sự cấm chỉ có tuyên bố. Loại một
là như sau. Một trong những sắc thái của loại cấm giới này là
nhân
của chúng: những động lực thực thụ của người ta là những động lực bất
thiện. Một sắc thái khác của
bản chất:
bản chất chúng là tội lỗi, và chúng thể hiện sự bất thiện. Nhưng còn một
sắc thái khác nữa là hậu quả của chúng: một phần của bản chất chúng là
chúng có thể chín thành một hậu quả không vui. Bất kể một người thọ giới
hay chưa thọ, nếu những điều căn bản này mà có mặt, thì người ấy sẽ phát
sinh một tội thuộc loại
cấm chỉ tự nhiên.
Loại hai, sự cấm chỉ có công bố, là một nghiệp hay nghiệp chướng đi ngược
lại luật Phật chế. Loại này như sau. Một sắc thái của chúng là
nguyên nhân:
động lực thực sự là ý định tốt hoặc trung tính.
Bản chất
của chúng là một sắc thái khác: chúng thể hiện môt bản chất trung tính.
Một sắc thái khác nữa là quả báo của chúng: Một phần của bản chất chúng
là, chúng không thể chín mùi thành hậu quả bất lạc.
Nếu bạn vi phạm một tiểu giới, và nguyên nhân tức động lực, được liên kết
với một cái gì bất thiện, chẳng hạn tư tưởng bất chấp giới luật, khi ấy
bạn sẽ phạm một tội và vi phạm một tiểu giới: đấy là một điều cấm chỉ tự
nhiên và một điều cấm chỉ được công bố. Nếu bạn phạm một tiểu giới với một
động lực trung tính, bạn phạm tiểu giới ấy bằng cách đi ngược lại giới
Phật chế nhưng bạn không phạm tội - điều cấm chỉ tự nhiên. Nếu một Tỳ kheo
giết một con vật ông ta phạm một tội - điều cấm tự nhiên về giết súc vật -
và phạm một tiểu giới - điều cấm có công bố, vì giết một con vật là một vi
phạm trong tiểu giới của Tỳ kheo.
Những tội lỗi như thế và những tiểu giới vi phạm có thể có cùng bản chất
nhưng chúng vẫn bị hạn chế vào những pháp riêng biệt. Bất kể người ta áp
dụng một vài sự giải tội như thế nào, chẳng hạn 4 năng lực, và mặc dù
người ta có thể hoàn toàn tịnh hóa tội lỗi có cùng một bản chất, việc này
vẫn không phục hồi lại được một cách thích đáng cái tiểu giới đã phạm có
cùng một bản chất như tội. Lại nữa mặc dù người ta có thể phục hồi một
cách thích đáng tiểu giới đã phạm có cùng một bản chất như tội. Lại nữa
mặc dù người ta có thể phục hồi một cách thích đáng tiểu giới đã vi phạm,
song nếu người ta không dám hối tội nhờ 4 năng lực thì người ta vẫn chưa
tịnh hóa nó.
Người ta thọ giới Tỳ kheo từ nơi tu viện trưởng, thầy truyền giới, và
những thành phần của Tăng già; bởi thế người ta phải phục hồi những giới
này trước mặt các Tỳ kheo hay thành phần của tăng chúng. Những tà hạnh
ngược lại giới Bồ tát thường phải được sám hối và tịnh hóa trước bậc thầy,
chư Phật và các Bồ tát; những tà hạnh ngược lại với giới Mật tông cần phải
được sám hối và được tịnh hóa trước bộ loại chư thần của Mandala đặc biệt.
Khi tạo công đức lớn, sẽ có lợi ích hơn nhiều nếu ít nhất ta giữ giới đại
thừa một ngày bằng cách dâng cúng và xây dựng kho công đức.
(iii) Cường liệt do hành vi đã làm.
Bố thí Pháp tốt hơn bố thí tài vật cúng dường bằng sự tu tập hơn là cúng
dường vật chất, v.v…
(iv) Cường liệt do ý định
Nếu kèm với bồ đề tâm mà lập một lời cầu nguyện với Tara hay cúng một cây
đèn, thì công đức của ta sẽ rất mạnh, hơn là cúng một trăm ngàn cây đèn mà
không có tâm bồ đề.
Những tiêu đề trên dạy cho bạn những phi công đức cần tránh, và những công
đức nên thực hành.
Nếu bạn muốn trở nên thiện xảo trong việc tu tập, thì phải biết làm thế
nào để xây dựng một kho công đức khổng lồ mà không phải nhọc sức, và làm
thế nào để giảm bớt những điều phi công đức. Chẳng hạn nếu một tỳ kheo làm
những nghi thức chuẩn bị kèm theo tâm bồ đề, thì phước nghiệp này cường
liệt theo cả bốn cách, do lĩnh vực, do ông đã thụ giới, do việc làm, và do
ý định.
Lại cũng có sự khác nhau giữa “dẫn nghiệp” và “mãn nghiệp.” “Dẫn nghiệp”
là một nghiệp lành ta sinh vào thượng giới, hoặc một nghiệp ác khiến ta
sinh vào đọa xứ. “Mãn nghiệp” không có tính cố định như thế: một “dẫn
nghiệp” người ta làm có thể thiện. Một “dẫn nghiệp” có thể bất thiện nhưng
mãn nghiệp có thể bất thiện. Vậy có bốn khả năng.
Muốn có một tái sinh làm người hạnh phúc, làm chuyển luân vương, thì cả
hai loại dẫn nghiệp và mãn nghiệp cần phải đều là thiện. Một tái sinh làm
người đầy những đau khổ nhọc nhằn, ví dụ làm người ăn mày, là một trường
hợp dẫn nghiệp là thiện nhưng mãn nghiệp bất thiện. Tái sinh vào địa ngục
là một điển hình về dẫn nghiệp, mãn ngiệp đều bất thiện. Điển hình về dẫn
nghiệp mãn nghiệp bất thiện, mãn nghiệp thiện là làm con ngựa hay con lừa
cho Đức Dalai Lama hay Panchen Lama, hoặc làm con chó của các ngài.
Một hành nghiệp duy nhất cũng có thể khiến người ta tái sinh nhiều đời
kiếp liên tục, ví dụ nhục mạ người khác “Anh giống như ếch nhái” có thể có
quả báo tái sinh năm trăm đời làm con ếch. Hoặc nhiều hành nghiệp có thể
có quả báo trong một thân tái sinh duy nhất, vân vân.
Có nhiều loại nghiệp khác: nghiệp ta bắt buộc phải chịu, nghiệp ta không
bắt buộc phải chịu, nghiệp ta tích lũy do một hành vi nào đó, những hành
vi đã làm nhưng không tích lũy nghiệp, nghiệp đã tích lũy mà không cần làm
gì cả.
Quả báo của nghiệp mà ta chắc chắn phải chịu có thể xảy ra trong ba thời
gian khác nhau. Với những quả báo cụ thể: do vài động lực đặc biệt hay do
ruộng phước đặc biệt, người ta kinh quá những quả báo ngay trong cùng một
đời trong đó nghiệp ấy được tích lũy (“hiện báo”). Với nghiệp phải chịu
quả báo trong nhiều đời sau, thì người ta kinh quá quả báo của nó trong
đời kế tiếp với đời sau, hoặc trong những kiếp tái sinh về sau. Bạn nên
tham khảo những tác phẩm như của Tsongkapa
Những Giai Đoạn Lớn
Hay Trung Bình Của Đạo Lộ
để hiểu những điều này một cách chi tiết hơn.
b-2. Nghĩ về một vài
điều đặc biệt.
Bởi thế chúng ta nên sợ quả báo của bất thiện và giữ giới từ bỏ mười
nghiệp bất thiện. Nếu chúng ta làm mười nghiệp thiện một cách thích đáng,
ta sẽ không rơi vào các đọa xứ, thay vì thế sẽ được sinh làm người hay
trời. Nhưng chỉ riêng điều này mà thôi thì không đủ cho ta đạt giải thoát
và toàn tri. Tuy thế, nếu ta có thể được loại tái sinh thù thắng đặc biệt
có tám đức thuần thục, thì ta có thể