GIẢI THOÁT TRONG LÒNG TAY
Một bài giảng khúc chiết về con đường
đạt đến giác ngộ
(Liberation in the Palm of Your Hand-
Aconcise discourse on the path to enlightenment)
Pabongka Rinpoche
Edited by Trijang Rinpoche
Translated by Michael Richards
Thích Nữ Trí
Hải dịch
--- o0o ---
PHẦN BA
NỀN TẢNG CỦA ĐẠO LỘ
NGÀY MƯỜI HAI
(Kyabje Pabongka
Rinpoche kể câu chuyện ngắn để khởi động lực cho chúng tôi, trích dẫn từ
tác phẩm của đức Tsongkapa:)
Tái sinh làm thân người
Là điều rất khó được.
Đời này không kéo dài.
Tâm thường quán như vậy
Và lơ chuyện thế gian…
(Sau khi nhắc lại
những tiêu đề đã giảng, ngài ôn lại tài liệu về nỗi khổ ở các đọa xứ, một
phần của chương “Nghĩ Về Loại Vui Hay Khổ Bạn Sẽ Gặp Trong Tái Sinh Sau Ở
Một Trong Hai Nẻo Luân Hồi.”)
Những điều ấy làm cho
bạn muốn rút tỉa tinh hoa của đời tái sinh may mắn này. Khi nghĩ đến những
thống khổ ở đọa xứ, bạn sẽ kinh hoàng và mong tìm chốn nương thân, cũng
như tìm cách nào để được sung sướng trong đời sau. Chỗ nương mà bạn tìm
được để che chở bạn khỏi đọa, chính là bậc thầy và Tam bảo. Cách để được
sung sướng đời sau là phát khởi niềm tin và luật nhân quả - lòng tin này
là gốc rễ của mọi sức khỏe và hạnh phúc - và thay đổi lối hành xử cho phù
hợp với luật ấy.
2.1.2. DẠY CÁCH ĐỂ
ĐƯỢC HẠNH PHÚC ĐỜI SAU
Có hai tiêu đề phụ:
(1) quy y, cánh cửa thiêng để đi vào nền giáo lý; (2) phát khởi niềm tin
vào luật nhân quả - gốc rễ của mọi sức khỏe và hạnh phúc.
a. Quy y: cánh cửa
thiêng để đi vào giáo lý
Có năm đoạn: (1)
nguyên nhân sự quy y; (2) nương tựa vào những gì; (3) tiêu chuẩn của chỗ
nương đầy đủ; (4) lợi lạc của quy y; (5) lời khuyên sau khi đã quy y.
a-1. Nguyên nhân
quy y
Sự quy y chính đáng
hay không là do trong dòng tâm thức người ta có nguyên nhân chính đáng để
quy y hay không. Những nguyên nhân ấy được bàn trong tác phẩm của Lozang
Choekyi Gyaeltsaen nhan đề Tiếng Cười Du Dương Của Lozang Dragpa - Trả
Lời Cho Những Câu Hỏi Về Lòng Vị Tha Tinh Khiết Nhất:
Bản chất chân thực
của quy y:
Quy y vì ta rất sợ chính ta
Và vì ta biết
Tam bảo có năng lực che chở
Đây là điều mà ta gọi Đấng
Toàn Tri.
Nói cách khác ta cần
cả hai nguyên nhân: vì sợ khổ sinh tử và các đọa xứ; và niềm tin rằng, một
khi ta đã đặt niềm tin vào Tam Bảo, thì Tam Bảo sẽ có năng lực che chở cho
ta thoát khỏi những nỗi kinh hoàng ấy. Nếu chúng ta không có hai nguyên
nhân ấy, thì không quy y được một cách thuần túy. Nếu chúng ta không sợ
khổ thì ta không nghĩ đến chuyện tìm một chỗ nương. Nếu chúng ta không tin
tưởng vào cái điều mà chúng ta đã tìm đến để nương cậy (quy y) thì ta
không nhớ đến sự tin cậy của ta vào chỗ nương ấy - ta chỉ có thể nhắc lại
bằng lời nói suông mà tim ta không đặt hết tin tưởng vào đấy. Mỗi phạm vi
trong ba phạm vi đều chứa lý do trước nhất của nó, trong sự quy y. Với
Phạm Vi Nhỏ thì đó là: Sợ nỗi khổ luân hồi trong sinh tử. Với Phạm Vi Lớn
là: lòng từ bi bao la làm cho ta không thể chịu nổi thấy kẻ khác đau khổ
trong sinh tử. Trong phần đặc biệt này của Lam-rim, lý do quy y là nỗi sợ
hãi các đọa xứ.
a-2. Nương cậy
vào cái gì.
Có hai phần: (1) nhận
ra những chỗ đáng nương cậy; (2) lý do tại sao đấy là những nơi đáng nương
cậy.
a-2.1. Nhận ra
những chỗ đáng nương cậy
Tác phẩm Một Trăm
Năm Mươi Bài Tụng nói:
Hãy nương tựa vào một người
Tuyệt đối không lầm lỗi,
Không mù quáng, và nơi người
ấy
Có đủ mọi khía cạnh của
thiện đức.
Khi bạn nghĩ về điều này.
Hãy tôn trọng người nào ca
tụng Ngài
Và an ttú trong giáo lý của
Ngài giảng dạy.
Nói cách khác, khi
bạn nghĩ làm sao để phân biệt cái gì đáng nương cậy cái gì không, thì bạn
sẽ muốn nương cậy Phật, người giảng dạy Pháp, nương cậy Pháp ấy, và nương
cậy Tăng, những người sống theo Pháp. Phàm phu tìm chỗ nương là những sinh
vật thế gian, như quỷ thần, rồng v.v… Những người không Phật tử tìm chỗ
nương là Phạm Vương, Đế Thích v.v… nhưng chính những sinh vật này cũng
đang ở trong sinh tử, bởi thế không phải là chỗ quy y xứng đáng.
Như vậy ai là chỗ quy
y xứng đáng? Tác phẩm Bảy mươi Bài Kệ Quy Y nói:
Phật, Pháp và Tăng
Là ba chỗ quy y cho
người cầu giải thoát.
Nghĩa là, chỗ nương
cậy duy nhất là Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng. Nhưng nếu ta không nhận ra cho
đúng, thì ta sẽ không quy y một cách thuần tịnh. Chúng ta không có tinh
thần phê phán, bởi thế tự hào là người biết Đại thừa, mà khi gặp chuyện
rắc rối,hay có việc quan trọng, ta lại đi tìm trú ẩn trong những chỗ nương
thế tục, như quỷ thần, thổ thần, v.v… Chúng ta làm lễ tịnh hóa bằng khói
hoặc đeo bùa, hoặc chạy bổ đến bất cứ một vị thần linh nào. Mọi hoạt động
bên ngoài này chứng tỏ tình trạng nội tâm ta. Phật tử thì phải tin tưởng
Tam Bảo. Chúng ta có thể đã thực thụ làm người xuất gia, được một tu viện
thâu nhận, thế mà ta không đủ tư cách làm Phật tử chứ đừng nói làm một
người hiểu biết Đại thừa.
Trời rồng, v.v…,
không có ba đức là toàn tri, tình yêu và năng lực. Những chúng sinh này
cón không thể biết mình lúc nào chết. Thông thường chúng được liệt vào hạn
súc sinh hay ngạ quỷ, sự tái sinh của chúng thấp hơn người. Không có cách
nào tệ hơn là tìm cách nương tựa vào chúng. Hoàn toàn không thể che chở ta
thoát khỏi sinh tử và nỗi khổ ở đọa xứ, hay giúp đỡ tạm thời cho chúng ta,
chúng còn làm hại chúng ta là đằng khác. Có câu chuyện chứng minh như sau.
Một người bị bướu cổ đi đến mọt nơi có quỷ ăn thịt sống thường lai vãng.
Những quỷ này có nợ chúng sinh khác một ít thịt, nên chúng lấy cục bướu
của người này. Một người khác có bướu cũng đến cầu xin quy y với hy vọng
khỏi bướu, nhưng những quỷ này không phá hủy cục bướu mà lại làm cho lớn
hơn. Cũng tương tự như vậy, quỷ thần ở thế gian đôi khi giúp người nhưng
cũng lắm lúc hại người; nên không bao giờ có thể tin cậy được.
Những người không
Phật tử thường quy y cả Đế Thiên Đế Thích, thần Shiva, Thần Ca lâu la,
Khẩn na la, v.v…; nhưng thần này có khá hơn nhưng cũng chưa giải thoát
khỏi sinh tử và đọa xứ nên không thể che chở người khác. Nhưng đức Phật
bậc thầy về giáo lý thì không như vậy. Tác phẩm Ca Tụng Những Người
Đáng Ca Tụng nói:
Ngài tuyên bố: “Ta là bạn
Của những người không ai che
chở”.
Lòng bi mẫn bao la của Ngài
bao trùm tất cả chúng sinh
Hỡi đấng đạo sư, Ngài có
lòng thương rộng lớn,
Ngài có từ bi và Ngài hành
động do từ bi thúc đẩy.
Ngài tinh tấn không lười
biếng
Còn ai có thể được như Ngài?
Ngài là đấng che chở khắp
tất cả hữu tình;
Ngài là quyến thuộc từ bi
đối với tất cả.
Trong một chương khác
tôi sẽ bàn đến từng đức tính của Phật. Theo chương ấy Ngài có 3 đức tính
vĩ đại là toàn trí, từ bi và năng lực thần thông. Những những quỷ thần, ma
vương, không có dù chỉ một phần những đức tính này, mà tất cả những đức
tính của những chỗ quy y trên thế gian như trời rồng v.v…, cộng lại cũng
không thể sánh bằng những đức của một vị Dự Lưu thuộc Thanh Văn đạo.
Đức Phật là chỗ nương
tuyệt đỉnh bởi vì Ngài đã đạt được hai thứ lợi lạc là tự lợi và lợi tha
đến chỗ toàn hảo. Đấng đạo sư chúng ta đã trừ khử được tất cả lỗi lầm và
có được tất cả đức tính.
Nói một cách giản dị
thì Phật bảo tuyệt đối là hai pháp thân (thân chân lý); còn Phật bảo là
tương đối là hai thân vật lý (tức là báo thân và hóa thân).
Pháp bảo là như sau.
Pháp bảo tuyệt đối là bất cứ gì thuộc về diệt đế và đạo đế - đây là hai sự
thật có khả năng tịnh hóa (ngược lại với hai sự thật khổ và tập) trong
dòng tâm thức của những bậc thánh. Một phần của diệt đế có nghĩa là thoát
khỏi hay chấm dứt một vài chướng ngại đặc biệt, để cho một đạo lộ đặc biệt
nào đó không bị bế tắc. Đạo đế là phương tiện của các bậc thánh để hoàn
thành những diệt đế này và những thực chứng trong dòng tâm thức của họ.
Những người chưa học những tác phẩm cổ điển và suy nghĩ ở tầng thấp kém có
thể xem ba phạm vi của Lam-rim cũng gần như pháp bảo mật tuyệt đối.
Thông thường mười hai
thành phần của kinh điển được xem là Pháp Bảo.
Tăng bảo là như sau:
bảo châu tối thượng về tăng là những bậc thánh có bất cứ giải thoát nào
trong 8 giải thoát.
Một nhóm gồm 4 phàm
phu đã thọ và giữ cụ túc giới được xem là tăng bảo. Nếu chúng ta giúp đỡ
hay làm hại những người này ta sẽ tạo ra những quả báo thuộc phước hành
hoặc phi phước hành đối với tăng.
Ta không cần cả ba
chỗ nương này để được che chở khỏi vài loại hiểm nguy; một trong ba ngôi
báu này cũng đủ che chở. Có lần một người đàn ông ở Dokham khấn cầu đức
Quan Âm khi đang bị một con cọp lôi đi. Con cọp liền thả y ra và y được
giải thoát khỏi hiểm nạn.
Sau khi Phú Lâu Na
chứng quả A la hán có một vài người bà con và thương gia đi biển để tìm
trầm, nhưng chiếc thuyền của họ khởi sự tan rã. Những người bà con cầu
khẩn đức A la hán Phú Lâu Na và thoát khỏi chết chìm.
Vua của loài rồng
phun một cơn mưa khí giới trên vua Ba Tư Nặc, Mục Kiền Liên liền hóa chúng
thành những mưa hoa.
Tuy nhiên cả ba ngôi
báu đều cần thiết để che chở chúng ta hoàn toàn thoát khỏi sinh tử và các
đọa xứ. Muốn chữa một con bệnh khỏi chứng bệnh trầm trọng thì cần phải có
3 điều: y sĩ, thuốc và người điều dưỡng. Cũng thế muốn thoát khỏi cơn bệnh
khổ sinh tử và các đọa xứ, mối nguy của Niết bàn tiểu thừa, hay thoát khỏi
luân hồi, người ta đương nhiên phải cần tất cả: Đức Phật bậc thầy chỉ dạy
con đường đưa đến giải thoát, như một y sĩ; Pháp con đường giải thoát
thuộc ba phạm vi giống như thuốc, Tăng những người thực hành pháp giống
như người điều dưỡng. Vậy ba điều này là những nơi để quy y.
a-2.2. Những lý do
tại sao đấy là những chỗ nương xứng đáng.
Lý do chính là những
đức tính của Phật bảo. Có 4 lý do.
a-2.2.1. Lý do thứ
nhất.
Đức Phật đã giải
thoát khỏi nguy hiểm. Những người chết đuối hay bị sa vào đống cát lở
không thể cứu lẫn nhau. Nếu chư Phật - những đấng cứu thế mà chúng ta quy
y - chưa thoát hiểm, thì các ngài không thể giải thoát kẻ khác.
Đức Phật đấng đạo sư
chúng ta đã giải thoát khỏi tất cả những hiểm nguy. Đề bà đạt đa có lần
muốn ám sát Phật đã sử dụng một cái máy để tung đá vào Ngài nhưng không
thể làm hại được Ngài. Tại thành Vương xá, A xà thế thả ra một con voi
say. Tất cả các A la hán khác đều sợ hãi bay lên không nhưng Đức Phật
không sợ và đã hàng phục được con voi. Một gia chủ tên là Shrìgupta đặt
một kế hoạch ném Phật vào hầm lửa nhưng Phật đã không bị đốt cháy.
Shrìgupta còn đầu độc thức ăn của Phật nhưng cũng không thành công.
(Sau khi Pabongka
Rinpoche kể chi tiết chuyện này, ngài tiếp.)
Shrìgupta, vợ ông ta
và những người khác đã xem đấng Đạo sư như một người thường, có thể đem
hầm lửa hay độc dược mà dọa. Người ta dễ so sánh chuyện này với chương nói
về Thờ Kính Bậc Thầy trong đó nói rằng ta không thể chấp tướng bề ngoài.
Đức Phật đã giải thoát mọi nguy hiểm; điều ấy chứng tỏ rằng Ngài đã từ bỏ
hai loại chướng ngại cùng với những bản năng của chúng.
a-2.2.2. Lý do thứ
hai.
Ngài thiện xảo về
phương tiện giải thoát chúng ta khỏi hiểm nguy. Nếu Ngài giải thoát khỏi
mọi nguy hiểm riêng tư mà không đủ thiện xảo để che chở những người khác,
thì Ngài sẽ không làm gì được, cũng như người mẹ cụt tay không thể cứu đứa
con đang chết chìm. Nhưng đức Thế Tôn rất thiện xảo trong cách hàng phục
đệ tử. Ngài giải thoát cho những kẻ trọng tội như Chuỗi Ngón tay
(Angulimala) người bị đốt cháy bởi ngọn lửa thù hận; Pramudita, vua của
các nhạc thần; Ưu lâu tần loa Ca Diếp người bị ngọn lửa kiêu căng thiêu
đốt; những sinh vật hùng mạnh như Dạ xoa nữ Hariti và Dạ xoa Atavaca;
những người có năng khiếu chậm lụt như Châu lợi bàn đà già u mê ám chướng;
những người già và ít công đức như gia chủ Shrijata; những người nhiều dục
vọng như Nan đà. Thế đấy là sự thiện xảo của đức Phật trong cách hàng phục
đệ tử.
a-2.2.3. Lý do
thứ ba.
Ngài đối xử với tất
cả bằng tâm bi mẫn không thân sơ. Nếu không như vậy thì Ngài chỉ giúp đỡ
những người thân, không giúp những kẻ thù. Nhưng Đức Phật không có thân sơ
với bất cứ ai. Không có khác biệt nào trong sự giúp đỡ và thân tình của
Ngài đối với Đề bà đạt đa một kẻ thù và La hầu la con ruột của Ngài. Đề bà
đạt đa ăn một lượng bơ rất nhiều để cạnh tranh với Phật, nhưng ông ta
không thể tiêu hóa nên bị ốm nặng. Đức Phật đã cứu Đề bà đạt đa khỏi cơn
bệnh bằng cách thề rằng Ngài thương Đề bà đạt đa và La hầu la bình đẳng.
a-2.2.4. Lý do thứ
tư.
Đức Phật làm việc vì
tất cả chúng sinh, dù chúng có giúp gì Ngài hay không. Chúng ta thì không
thế: chúng ta còn không thèm chuyện trò với những người đã bị chà đạp, nói
vài lời từ mẫn với họ, huống hồ là giúp đỡ. Chúng ta chỉ làm việc vì những
người đã giúp chúng ta chứ không vì những người không giúp chúng ta; chúng
ta không che chở những người cùng quẫn. Đức Phật thì không thế; Ngài làm
việc vì tất cả mọi người, dù họ có giúp Ngài hay không. Ngài săn sóc kể ốm
đau. Chẳng hạn, có lần Ngài đã rửa thân thể một tỳ kheo ốm nặng đến nỗi
thân thể ông đầy cả phân tiểu do chính ông bài tiết. Ngài săn sóc cho
những người bà la môn xấu xí có mười tám vẻ xấu và là một kẻ bị bỏ rơi
ngay cả trong đám ăn mày. Đức Phật che chở và săn sóc cho người hất hạnh
như con gái xấu xí dị hình của vua Ba tư nặc (Prasenaji) tên Vajrì có mặt
như mặt heo, hay con trai của gia chủ Mahàmati tên Svàgata (Không được đón
chào), người quá vô phúc đến nỗi sinh ra thì gia đình mất dần hết tất cả
tài sản. Ông thành một kẻ ăn xin, nhưng gia nhập vào đám ăn xin nào là đám
ấy không xin được chút gì để ăn. Ông bị đặt tên lại là “Không được đón
chào.” Bất kỳ đi đâu không ai cho ông thứ gì, bởi thế ngay cả trong đám ăn
xin ông cũng là kẻ bị ruồng bỏ. Dù ông đi hành hương người ta cũng không
cho ông trở về.
(Kyabje Pabongka
Rinpoche kể chi tiết đức Phật che chở ông ta như thế nào.)
Vậy đức Phật có tâm
đại bi thương xót tất cả, không có kẻ thân người sơ. Lại nữa, Ngài còn làm
việc cho tất cả hữu tình dù có giúp đỡ Ngài hay không giúp. Nhưng Ngài đặc
biệt thương những kẻ khốn cùng. Nếu Ngài không thương, không có lòng bi
mẫn lớn thì dù có xin cầu Ngài cũng không che chở. Nhưng đức Phật có những
thiện đức như thế, nên chắc chắn Ngài ban cho chúng sinh sự che chở dù
chúng sinh không yêu cầu.
(Sau khi bàn sơ qua
những lý do để quy y và quy y với ai, Kyabje Pabongka Rinpoche tiếp tục).
a-3. Thế nào để
biết ta đã chân thật quy y.
Có bốn mục nhỏ.
a-3.1. Biết rõ
những thiện đức của chỗ ta nương cậy.
Ta phải quy y bằng
cách biết rõ những thiện đức của từng ngôi trong ba ngôi báu. Vậy có ba
phần: (1) những thiện đức của từng ngôi trong ba ngôi báu. Vậy có ba phần:
(1) những thiện đức của Phật; (2) những thiện đức của Pháp; 93) những
thiện đức của Tăng.
a-3.1.1. Những thiện
đức của Phật.
Đức Phật có bốn loại
thiện đức: (1) về thân thể; (2) về lời; (3) về ý; (4) về hành động.
(i) Những thiện đức
của thân Phật.
Quyển Trang Hoàng Cho
Thực Chứng nói: “Tay chân Ngài đều có hình những bánh xe, lòng bàn chân
bằng phẳng như ngực rùa…” Nghĩa là, thân thể Ngài được trang hoàng bằng ba
mươi hai tướng tốt. Kinh ấy cũng nói đến những móng tay màu đồng của đức
Mâu ni…” Nghĩa là Ngài còn được trang hoàng bằng tám mươi tướng phụ.
“Tướng” nghĩa là Ngài
có dòng tâm thức của một bậc đại nhân. “Tướng phụ” làloại đức tính Ngài có
bên trong. Thật rất ích lợi nếu ta nghĩ về những đức tự nhiên của các
tướng hảo và tướng phụ, những đức của nguyên nhân các tướng ấy, vân vân.
Quyển Tràng Hoa Báu của Long Thụ nói rằng nếu ta cộng lại tất cả công đức
trong đời của những bậc Duyên giác và Vô học Thanh văn, Chuyển luân vương,
vân vân, thì tất cả những đức ấy cũng không phát sinh được một lỗ chân
lông của một vị Phật. Tất cả công đức cần có để phát sinh hết thảy lỗ chân
lông Phật, nhân lên trăm lần, mới sinh được một trong ba mươi hai tướng
hảo. Những công đức cần có để phát sinh ba mươi (trong số 32) tướng nhân
lên ngàn lần, mới sinh được tướng bạch hào (sợi lông xoán giữa hai hàng
lông mày của Phật). Công đức cần có để sinh tướng lông trắng này, nhân lên
trăm lần, mới sinh được tướng Ushnisha (nhục kế). Công đức để sinh tướng
hảo cuối cùng này, nhân lên gấp mười lũy thừa 14, sẽ được tiếng Phạm âm
của Phật. Lại nữa, mỗi phần trên thân thể của một đức Như Lai, các tướng
tốt và tướng phụ, đều là một bậc thầy dạy Pháp, và đều làm được công việc
của ý giác ngộ. Ngay cả tướng nhục kế của Ngài, những lỗ chân lông của
Ngài cũng đều làm công việc của ý giác ngộ và bởi thế đều nhận chân được
cả hai khía cạnh tương đối và tuyệt đối của mọi cái khả tri.
Tôi đã theo truyền
thống của những bậc thầy thuộc hệ phái Lam-rim trong quá khứ khi giảng
thiện đức của thân giác ngộ theo ba dòng của một bài kệ của Tsongkapa, đề
cập thân, lời, ý:
Thân thể sinh ra do mười
triệu đức tính tuyệt hảo
Lời nói thỏa mãn hy vọng của
vô lượng hữu tình,
Ý thấy được như thật tất cả
pháp khả tri:
Con kính lễ tối thượng trong
dòng họ Thích Ca.
Bất cứ gì được thân
Ngài thẩm thấu thì cũng thấy được bởi lời và ý của Ngài. Do vậy, “Tất cả
cõi Phật hiện thân Ngài và thân Ngài trong tất cả cõi Phật.” Đấy là những
huyền bí bất khả tư nghì của thân giác ngộ. Một bản kinh nói: “Bất cứ cái
gì mà trí bản giác của Ngài thấm đến, thì thân thể Ngài cũng đến.” Mỗi khi
ta thấy tướng nhục kế trên đỉnh Phật thì ta chỉ thấy cao bốn tấc Anh,
nhưng khi Bồ tát Vegadhàrin muốn đo, ngài phải dùng thần thông lên cao vô
lượng thế giới hệ mà vẫn không trông thấy được đỉnh nhục kế của đức Như
Lai, và ngài quá mệt không thể hoàn tất việc đo đạc. Việc này được nói
trong Kinnh Về Những Việc Bất Khả Tư Nghì.
Y phục của Phật
thường cách thân thể của Ngài một khoảng cách bốn tấc, nhưng nhìn từ ngoài
thì vẫn theo hình dáng của thân Ngài. Chân Ngài bước không chạm mặt đất mà
vẫn để lại dấu chân Ngài đi qua cảm thấy được phúc lạc trong bảy ngày, và
khi chết được sinh trên cõi trời. Tác phẩm “Xưng Tán Bằng Ẩn Dụ”
nói:
Thân Ngài được trang hoàng
bằng tướng hảo
Tuyệt đẹp, làm cam lồ cho
những con mắt nhìn,
Như một bầu trời không mây
Được trang hoàng với những
chòm tinh tú.
Hỡi đấng Mâu Ni, Ngài là sắc
vàng ròng
Bao phủ một cách kỳ diệu
trong lớp y phục
Như một đỉnh núi vàng
Vươn lên trên bờ những áng
mây.
Hởi đấng Che chở thế gian,
Ngài không trang sức ngọc
ngà
Mà gương mặt còn hơn cả
Vừng trăng rằm sáng chói
Trên nền trời không mây,
Như một đóa sen nở ra dưới
ánh mặt trời.
Những đệ tử như bầy ong dạn
dĩ bay đến.
Gương ánh sáng như vàng ròng
của Ngài
Thật đẹp với hai hàng răng
trắng
Như một dãy núi bằng vàng
ròng
Tắm dưới ánh trăng mùa thu.
Ôi hỡi đấng Ứng Cúng
Bàn tay phải của Ngài
Được trang sức bằng dấu luân
xa
Đem lại can đảm cho những
người
Sợ hãi vì bánh xe sanh tử
Hỡi đấng Mâu ni, mỗi khi
Ngài cất bước
Thì hai bàn chân như nở
những đóa sen
Để lại những đường nét trên
mặt đất.
Ôi đấng như Hoa Sen, Ngài
thực đẹp làm sao!
Hãy nhớ lại những đức
ấy. Nếu cần nhiều chi tiết hơn, bạn phải tham khảo tác phẩm Trang Hoàng
Cho Thực Chứng cùng các kinh khác.
(ii) Những thiện dức
của lời Ngài
Lời Ngài có sáu mươi
vẻ khác nhau; một mật điển nói đến những đặc điểm căn bản là: “Mặc dù Ngài
chỉ nói một chuyện, mà trong đám đông mỗi người hiểu theo hoàn cảnh riêng
của mình. “Tsongkapa, hiện thân của Văn Thù, nói trong tác phẩm Những
Bài Thơ Về Con Người Chân Thật:
Nếu tất cả hữu tình thế gian
Đồng loạt xin giải đáp nghi
ngờ
Ngài có thể hiện trước tất
cả chúng
Đồng lúc, với cùng một lời
nói
Sử dụng cùng một thân thể
ấy,
Giải quyết tất cả quan niệm
sai lầm của chúng.
Nghĩa là nếu nhiều
hữu tình khác nhau hỏi đức Như Lai đồng thời nhiều câu hỏi, Ngài có thể
thốt một lời duy nhất mà trả lời tất cả những câu hỏi ấy bằng chính ngữ
ngôn của từng người và hợp với trình độ từng người. Đức Phật dạy ba loại
Bát nhã khác nhau, kinh dài, kinh trung bình, và kinh ngắn, đồng một lúc.
Do đó có ba kinh Bát nhã vì các trình độ của đệ tử không đồng.
Lại nữa, lời Ngài dù
cách xa mấy người ta cũng nghe được. Kinh nói về Những Việc Bất Khả Tư
Nghì nói rằng Mục Kiền Liên dùng thần thông đi qua nhiều cõi Phật để đo
lường sức bay xa của lời Phật, nhưng dù đi xa đến đâu ngài cũng nghe được
lời Phật nói.
Lời Ngài còn nhiều
đức nữa, như trong Một Trăm Năm Mươi Bài Tán Phật nói:
Gương mặt Ngài thật đẹp;
Giọng nói Ngài như cam lồ
Nhỏ xuống từ mặt trăng.
Lời Ngài như đám mây đem mưa
xuống
Để rửa sạch bụi bặm tham ái,
Vứt bỏ con rắn hận thù
Như thần điểu garuda; chinh
phục được
Những tia nắng ngu dốt
Như một cái lọng; như kim
cương sắc bén
Chinh phục ngọn núi kiêu
căng.
Vì Ngài đã thấy chân lý, nên
Ngài không lừa dối
Vì Ngài không lầm lạc nên
Ngài nói trước sau như một.
Khéo lập ngôn và dễ hiểu làm
sao.
Lời Ngài thật hùng hồn
Vượt trên tất cả,
Chính phục những người nghe;
Ngay cả khi nhớ lại
Cũng làm tiêu tan tham ái si
mê.
Nó an ủi những người khốn
đốn
Che chở người liều lĩnh
Và làm cho người bình thản
phải hăng lên;
Như vậy lời Ngài thích hợp
cho tất cả.
Đem lại niềm vui cho học giả
Khai tâm cho kẻ tầm thường
Và phá tan sự mù mịt của
người bực hạ.
Lời Ngài là lương dược cho
tất cả chúng sinh.
Nhưng vẫn chưa hết:
lời giác ngộ có vô lượng đức tính, cũng như có thể làm công việc của thân
giác ngộ và ý giác ngộ.
(iii) Những thiện đức
của ý Phật.
Những điều này được
đề cập chi tiết trong những cổ thư nói về những đức tính do 21 thành phần
của sự tinh thức nguyên ủy: thập lực, mười tám bất cọng, vân vân. Những
người học và quán những cổ thư cần quán giáo lý đặc biệt này để rút ra
những lợi ích.
Nói tóm, có hai hạng
thiện đức: thiện đức do toàn trí và do từ bi. Vì chư Phật toàn tri, nên
ngay cả khi Ngài đang trú trong thiền định về chân đế, Ngài cũng biết được
tất cả những pháp khả tri rõ ràng như nhìn trái xoài trên bàn tay. Ta có
thể biết điều này qua tác phẩm Ca Tụng Những Người Đáng Ca Tụng:
Đức Thế Tôn, tất cả pháp
trong ba thời gian,
Tất cả những nguồn gốc của
nghiệp,
Đều được trí Ngài phán xét
Như nhìn trái Am la trong
bàn tay
Tất cả hiện tượng
Động hay bất động, một hay
nhiều
Đều mở ra trước tâm Ngài
Không bị chướng ngại
Như giữa bầu trời trong
sáng.
Một lần có một người
dòng họ Thích Ca tên Nandaka chết. Những thầy tu viện thỉnh vong linh
người chết khi họ cử hành tang lễ. Hình dáng người chết xuất hiện và những
thầy cúng cho y thức uống ăn: y cư xử giống như Nankada thực, nhưng đấng
Đạo sư cho họ biết đấy là do nhạc thần ở cõi trời tạo ra. Nhưng những thân
quyến không tin lời Phật.
Một quyển kinh kể
rằng đấng Đạo sư mời mỗi người Sakya đem lại một hạt lúa và làm dấu trên
hạt lúa của mình. Có rất nhiều người đến nỗi lúa họ đem lại có thể chất
đầy một thớt voi. Đức Phật nhận ra từng hột của mỗi người không sai một
hột. Việc này làm cho mọi người tin lời Ngài nói.
Truyền thừa Luật tạng
kể rằng người ta đưa cho đức Phật nhiều mảnh gỗ đã cháy để dưới biển rất
lâu mà Ngài vẫn nhận ra đúng từng mảnh. Không cần yếu tố gì khác, Ngài có
thể nhận ra mãnh gỗ này đến từng vùng nào, nó thuộc về phần ngọn cây hay
gốc cây.
Năng lực thần thông
của thân giác ngộ là khả năng thị hiện trước bao nhiêu đệ tử cũng được,
như mười triệu, một tỷ v.v… Năng lực thần thông của ngữ giác ngộ là khả
năng nói vói mọi người; có thể dạy pháp đồng loạt mà mỗi hữu tình hiểu
theo ngôn ngữ và ước muốn của chúng. Năng lực thần thông của ý giác ngộ là
tịnh chỉ nhất tâm như sau. Khi đức Đạo sư của chúng ta có ý niệm về thế
gian thì tâm của các hữu tình khác, kể cả những con kiến, cũng hiểu được
đức Như Lai muốn nói gì. Nhưng khi Ngài có một ý niệm siêu thế thì ngay cả
những vị Bồ tát trong thân thể cuối cùng cũng không thể hiểu được tư tưởng
của Phật. Khi đức Phật giảng kinh Bát nhã ba la mật, Ngài làm cho
tất cả các thế giới đều trở thành thanh tịnh. Bởi thế tâm Phật có vô lượng
đức tốt lành.
Nhưng đức từ bi của
Ngài được vị Dalai Lama thứ bảy mô tả như sau:
Một người có thể ác độc đối
với Ngài,
Người khác có thể giận dữ
muốn giết Ngài
Nhưng Ngài luôn luôn nghĩ
đến chúng sinh
Như con của Ngài
Ngài đã tránh xa
Tất cả những tư tưởng làm
hại
Lòng yêu mến mà ta có đối
với chính bản thân
Cũng không thể sánh với đức
bi mẫn trong tâm Ngài.
Nói cách khác, loại
tình yêu mà ta có đối với bản thân không thể sánh với dù chỉ một phần của
tình yêu đức Phật đối với loài hữu tình. Lại nữa tình yêu của Ngài không
như lòng thương xót “có cơn” như chúng ta: chúng ta chỉ cảm thấy thương
xót khi ta trông thấy một hữu tình đau khổ, và không cảm thấy thương xót
khi khuất mắt. Một Đức Phật luôn luôn thấy được tất cả hữu tình đang đau
khổ; bởi thế lòng từ bi bao la của Ngài đối với chúng không bao giờ gián
đoạn mà luôn luôn vận hành. Lòng bi mẫn của một Đức Phật là hậu quả của
năng lực quen tập luyện từ khi Ngài mới bước vào đạo lộ. Điều này là ý
nghĩa của bài kệ trong quyển 150 bài tán Phật:
Tất
cả những chúng sinh này không khác gì nhau
Chúng đều bị vọng tưởng trói
buộc
Ngài đã bị trói buộc từ lâu
bởi lòng bi mẫn
Và sẽ giải thoát những chúng
sinh mê lầm
Trong quyễn Những Bài Thơ Về
Con Người Chân Thật:
Tâm của tất cả hữu tình luôn
luôn bị che phủ
Bởi bóng tối vô minh
Bậc đại thánh thấy được
Tất cả chúng sinh trong ngục
tù sinh tử và phát tâm đại bi.
(iv) Những thiện đức
của hành vi Ngài
Dòng Tương tục Cao Cả của
Đại Thừa của Di Lặc nói:
Như Đế Thích, trống,
Mây, Phạm Thiên, mặt trời
Bảo châu, âm thanh, trái đất
Đó là những ví dụ về đức Như
Lai.
Sự quán tưởng của bạn
nên theo lời dạy của văn bản này về chín ẩn dụ:
Hình ảnh phản chiếu
của Đế Thích hiện ra trên mặt lưu ly trên đỉnh Tu di, không tùy thuộc vào
nỗ lực hay suy nghĩ nào của Đế Thích. Khi những vị trời thấp hơn trông
thấy hình ảnh phản chiếu ấy, chúng nghĩ rằng: “Ta cũng sẽ hành động để
được như thế.” Rồi họ tích lũy nguyên nhân để thành một vua trời. Cũng thế
khi chúng ta trông thấy thân thể của một Đức Phật, được trang hoàng bằng
ba mươi hai tướng hảo và tám mươi tướng phụ, chúng ta nghĩ đến việc làm
sao để được thân thể như thế, và cố tích lũy những nguyên nhân để thành
Phật. Đây là những hành vi tốt đẹp của thân giác ngộ.
Trong cõi trời thứ 33
có một cái trống lớn do công đức những vị trời phát sinh. Không cần ai
đánh trống, nó cũng phát ra những âm thanh giảng dạy bốn dấu ấn của Phật
pháp; những âm thanh này kích động cho chư thiên tám cầu giải thoát. Chư
Phật cũng thế không cần nỗ lực dụng công mà vẫn làm cho lời nói của Ngài
lan đến tất cả những chúng sinh, đưa chúng đến tái sinh cao cấp và sự thù
thắng quyết định. Thiện hành của ngữ giác ngộ là khả năng giảng pháp cho
những chúng sinh may mắn đủ trình độ.
Mưa rơi xuống từ
những đám mây làm cho mùa màng tăng trưởng. Thiện hành của ý giác ngộ cũng
thế, là khả năng làm cho những đức hạnh phát sinh dòng tâm thức của những
đệ tử.
Thân giác ngộ thi
triển những thần thông để hàng phục hữu tình, thiện hành của ngữ giác ngộ
là giải thoát. Chư Phật làm những thiện hành của ý giác ngộ tùy thuộc vào
tâm tịnh chỉ không mê lầm.
Nói tóm lại chư Bồ
tát từ địa vị thứ tám trở xuống phải làm những nỗ lực thô; chư Bồ tát ở
trên địa vị thứ tám phải làm những nỗ lực vi tế để khởi động lực. Vì những
bồ tát này còn phải nỗ lực nên thiện hành của họ không đồng thời lan đến
tất cả hữu tình; những hiện hành của chư Phật thì không phụ thuộc vào
những nỗ lực như thế, hoặc vào những động lực như nghĩ rằng “Ta sẽ làm
việc vì tất cả hữu tình.” Một ví dụ: mặt trăng trên trời không nghĩ ta sẽ
chiếu xuống, tuy thế phản ảnh của nó vẫn hiện ra trên những giọt sương đầu
ngọn cỏ và trên mặt nước của hàng trăm ngàn bình chứa, miễn là nước ấy
trong và lặng. Nhưng hiện hành của đức Phật có hiệu quả một cách tự nhiên
không cần nỗ lực trong những giòng tâm thức của các đệ tử khi đã đến lúc
họ đáng được điều phục. Cũng thế, những thiện hành của Phật tùy thuộc vào
căn bản trí của pháp thân (pháp trí thân, Dharmajnànakàya) kể như một
trong những nhân duyên gọi là “hoàn cảnh.” Những thiện hành này bởi thế
được xem là kết quả của những thiện đức tích cực nơi Ngài.
a-3.1.2. Những thiện
đức của Pháp.
Nếu bạn đã học những
cổ thư thì hãy nghĩ về pháp là con đường diệt trừ những chướng ngại, một
nhiệm vụ của những con đường không gián đoạn trong đạo lộ kiến đạo. Nếu
bạn không hiểu điều này thì hãy nghĩ như sau: từ đâu chư Phật phát sinh,
những vị có được những điều bất khả tư nghì như trên? Các Ngài đã phát
sinh và sẽ phát sinh tùy thuộc vào pháp sở chứng nghĩa là con đường diệt
khổ v.v… và tùy thuộc và pháp sở truyền. Hãy nghĩ rằng Pháp có cái đức sản
xuất ra chư Phật.
Người ta thường
thường có thể xem Pháp bảo là mười tầng bậc, năm đạo lộ v.v… - nói cách
khác, đó là chân lý về diệt, và những con đường không gián đoạn ở trong
những đạo lộ về kiến và thiền (không là tri kiến và hành động). Tuy nhiên
điều quan trọng nhất là điều phục chính tâm thức của mình; bởi thế nói
cách giản dị và để cho bạn có được một hình ảnh cụ thể, ta cũng có thể nói
Lam-rim chính là pháp bảo. Tôi đã nói điều này.
a-3.1.3. Những thiện
đức của Tăng.
Ta hãy lấy ví dụ về
một Thanh văn trên đạo lộ tích lũy, vị ấy được thúc đẩy phải từ bỏ dòng
sinh tử luân hồi, rồi đi vào đạo lộ tích lũy công đức; xây dựng 13 điều
kiện để đạt giác ngộ Thanh văn, thành tựu ba ngành đầu trong 37 ngành giác
ngộ, hóa thân để giúp đỡ những người khác, có được thần thông sáng suốt
v.v… Những bậc Thanh văn trên đạo lộ đã hiêu được 16 khía cạnh của 4 chân
lý nhờ những hình ảnh trực tiếp trong tâm. Thanh Văn trên địa vị kiến đạo
đã trực tiếp hiểu được tánh không không cần hình ảnh trong tâm; Trên đạo
lộ thiền quán, họ bỏ được 81 đối tượng cần từ bỏ. Khi những vị Thanh văn
đạt quả A la hán, họ còn có nhiều thiện đức hơn nữa: Họ có thể phối hợp
nhiều vật thể lại với nhau, họ có thể phát xuất nhiều hóa thân nhờ thiền
định về đất nước lửa gió và hư không; họ có thể đi đến bất cứ đâu để giáo
hóa một đệ tử v.v…
Quả thế thanh văn A
la hán có vô lượng điều tốt lành. Sau khi đấng Đạo sư chúng ta đã vào Niết
bàn, thì A nan đã hàng phục các ngoại đạo, đưa 80 ngàn người đến chân lý
trong vòng 7 ngày. Còn có câu chuyyện về ngài Ưu Ba Cúc Đa, một lần ngài
đang giảng pháp, vị trời cõi dục mưa xuống thực phẩm và châu ngọc, và còn
hóa làm những vũ công nhảy múa. Bậc thánh Ưu Ba Cúc Đa quàng hoa cho những
vũ công ấy trước khi họ bắt đầu khiêu vũ; nhưng ngài làm phép cho những
tràng hoa ấy biến hành những vật hết sức ghê tởm. Người ngày nay xem Thanh
văn là thấp kém, nhưng bất cứ vị nào có những thiện đức cũng được xem như
là bậc hành giả vĩ đại.
Những vị Duyên giác
hay Độc giác Phật có nhiều thiện đức trăm ngàn lần hơn Thanh văn, và đã
tích lũy công đức trên 100 kiếp.
Những thiện đức của
một Bồ tát thì vô biên so với Độc giác Thanh văn. Trong khi còn trên những
đạo lộ tích lũy và chuẩn bị, và còn hành động vì lòng tin, những Bồ tát
vẫn luôn luôn tăng trưởng về đề mục tánh không. Họ huấn luyện về đức bi
mẫn, tâm bồ đề và tri kiến sâu xa, và như thế làm muội lược những thành
kiến nhị nguyên rõ rệt nơi họ để hoàn tất những tích lũy vô lượng đầu
tiên. Khi những Bồ tát ở trên đạo lộ kiến đạo, trước hết họ hoàn tất hình
thức bố thí phi thường (ba la mật đầu tiên trong sáu ba la mật). Khi họ ở
tầng thứ 9 của đạo lộ thiền quán, họ hoàn tất hình thức siêu phàm của sáu
la la mật và ba vô lậu học nhờ nhận thức đúng về chân như.
Bồ tát ở sơ địa hóa
ra hàng trăm thân thể, mỗi thân được vây quanh với hàng trăm bồ tát khác.
Những bồ tát sơ địa thấy được hàng trăm kiếp, du hành qua hàng trăm thế
giới, đi sâu vào hàng trăm thứ định, thầy hàng trăm chư Phật, nhận được sự
gia hộ của chư Phật này, hóa thân vào hàng trăm cõi Phật, du hành đến hàng
trăm chỗ, mở cửa hàng trăm pháp, thành thục hàng trăm loại hữu tình, và
sống lâu hàng trăm kiếp. Trong mỗi sát na, những Bồ tát sơ địa này làm
được hàng trăm trường hợp về 12 loại công đức như thế.
Người ta có thể làm
một sự so sánh về 12 đức này đối với những bồ tát ở các địa vị khác. Bồ
tát sơ địa thành tựu hàng ngàn đức, bồ tát tam địa hàng trăm ngàn, bồ tát
tứ địa hàng tỷ, bồ tát ngũ địa hàng mười tủy; lục đại hàng ngàn tỷ; thất
địa, 10 lũy thừa 23; bát địa một số lượng bằng vi trần trong một triệu tỷ
thế giới và thập đại bồ tát thành tựu một khối lượng công đức bằng những
vi trần trong một tỷ bất khả tư nghì vô số tỷ thế giới. Nói tóm lại bồ tát
ở 7 địa không thuần tịnh đầu tiên cần phải hai vô số kiếp để tích lũy hai
thức công đức trong khi bồ tát ở ba địa thuần tịnh sau cùng chỉ cần thêm
một vô số kiếp nữa để hoàn tất sự tích lũy.
Những cổ thư bàn
những việc ấy rất chi tiết. Vậy, tăng già có vô lượng công đức.
a-3.2. Biết rõ
những khác nhau giữa ba ngôi báu.
Có sáu loại khác nhau
Sự khác nhau giữa
những đặc tính giác ngộ rõ rệt: Các ngài thấy rõ hình thái hiện hữu của
tất cả các pháp. Người ta nghi rằng âm jang trong danh từ
jangchub, Tạng ngữ có nghĩa là “giác ngộ” có nghĩa là “huấn luyện,”
như khi học thuộc lòng một bài học, bởi thế ta có thể nói rằng một đức
Phật đã đạt đến sự thực chứng toàn vẹn nhất. Pháp có đặc tính là hậu quả
sự xuất hiện của Phật. Khi đức Phật chuyển bánh xe Pháp Tứ Đế, thì 5 vị đệ
tử đầu tiên của Ngài khai triển những thực chứng khác nhau trong dòng tâm
thức của họ: địa vị kiến đạo v.v… Còn nhiều trường hợp tương tự đã xảy ra
khi đức Phật chuyển pháp luân. Tăng có đặc tính là những người thực hành
Pháp.
Sự khác nhau giữa
những thiện sự của Tăng bảo là như sau: Chư Phật giảng Pháp bằng cách cho
những giáo lý truyền khẩu. Thiện sự của Pháp thì khác: Pháp khiến ta từ bỏ
những gì ta cần từ bỏ. Tăng thực hành Pháp, và khi họ được những kết quả
của Pháp, thì những người khác thấy được điều này và khởi sự thực hành.
bởi thế những người thuộc thành phần tăng chúng và những người không
thuộc, hai bên giúp đỡ lẫn nhau. Đây là thiện sự của Tăng, tăng chúng hoan
hỷ trong giới đức.
Có nhiều cách khác
nhau để nhìn Tam bảo khi người ta quy y. Muốn cứu người chết đuối chẳng
hạn, ta cần một người chèo thuyền, chiếc thuyền của ông ta và những người
phụ giúp đi theo. Cũng thế, ta nên xem chư Phật như đối tượng của sự cúng
dường và phụng sự, Pháp là cái cần làm hiển lộ trong dòng tâm thức; và
Tăng là những người bạn chân thật.
Những pháp tu khác
nhau liên hệ đến Tam bảo là những phương tiện để thực hành 3 lối nhìn khác
nhau đối với Tam bảo.
Những cách khác nhau
để nhớ đến Tam Bảo là cốt để nhớ lại những đức tính khác nhau của Tam Bảo.
Điều này được giải thích trong kinh Nói về Sự Tưởng Niệm Tam Bảo
trong giai đoạn mở đầu, “Như vậy, chư Phật Thế Tôn…”
Những sự khác nhau
trong việc 3 ngôi báu làm tăng trưởng công đức của ta thì như sau. Đối với
chư Phật, công đức tăng trưởng tùy thuộc vào một người duy nhất; đối với
Tăng công đức tăng trưởng tùy thuộc vào nhiều người. Bởi thế trong trường
hợp Phật và Tăng, thì công đức tăng trưởng là nhờ người. Đối với Pháp thì
có khác ở chỗ, công đức tăng trưởng nhờ một cái gì không phải người.
Khi bạn quy y, bạn
làm vậy bởi vì bạn muốn cúng dường, phụng sự Phật, và khai triển Pháp
trong dòng tâm thức bạn.
a-3.3. Quy y do
lòng tin của mình
Lòng tin của ta là:
Đức Phật dạy chỗ quy y, Pháp là chỗ quy y thực sự, và Tăng giúp đỡ cho
những hành giả phát tâm quy y. điều này được làm sáng tỏ bằng ví dụ con
bệnh dặt hy vọng vào thầy thuốc, y dược và người điều dưỡng. Nếu qua tiến
trình thực chứng và từ bỏ mà người ta phát triển được từng phần của Pháp
trong dòng tâm thức, thì ta thoát khỏi mọi hiểm nguy. Bởi thế Pháp là chỗ
quy y chân thực.
a-3.4. Quy y Tam
Bảo, không chấp nhận một tôn giáo khác.
Ở xứ cổ Ấn Độ có bậc
đạo sư tên là Udbhat - askddhasvamin có 2 người em lúc đầu không theo
Phật. Họ đi đến núi tuyết để dâng cúng lễ vật cho thần Shìva, nhưng họ
thầy thần này đang quy y Phật, bởi thế họ cũng trở thành Phật tử. Và về
sau làm giáo thọ sư trong Đại thừa. Udbhata soạn tác phẩm Sự Ca Tụng
Tối Thượng, nói về những đức tính vĩ đại của Phật.
Như tác phẩm này nói,
chúng ta đã quy y bậc đạo sư và đã trở thành những đệ tử trong giáo lý
ngài. Chúng ta đã vĩnh viễn quy y Phật, không thể đổi sang một nơi khác
nương tựa nào khác. Những pháp của các đạo Bon, các tà giáo, v.v… đều
không phải là Phật giáo, và không được xem là chỗ nương tựa. Có sự khác
nhau về hơn kém giữa những bậc thầy trong đạo Phật và ngoài; về giáo lý và
đệ tử cũng vậy. Sự Ca Tụng Tối Thượng nói:
Con đã từ bỏ những bậc thầy
khác
Và tìm chỗ nương nơi Ngài,
hỡi đấng Thế tôn.
Tại sao điều này dễ dàng như
thế? Chính vì
Ngài không lỗi lầm và có
nhiều thiện đức.
Con càng xem xét
Những phẩm bình của ngoại
đạo
Thì tâm con càng thêm tin
tưởng nơi Ngài,
Hởi đấng che chở cho con.
Và trong tác phẩm Ca Tụng
Những Người Đáng Ca Tụng cũng nói như sau:
Ta nên đi vào cái gì,
Và cái gì ta nên từ bỏ?
Hỡi bậc Anh Hùng,
Ngài tịnh trừ tất cả vọng
tưởng,
Chỗ khác nhau chính là:
Lời của Ngài, và của những
người khác.
Ở Tây Tạng không có
những người tà giáo thật sự, nhưng có một vài người tự cho mình là hành
giả và học giả mà lại không thấy gì sai quấy khi nói về đạo Bon và về các
pháp ngoại đạo để mua chuộc người khác, thâu thập tín đồ, hoặc để có lợi
ích cho mình khi gặp chuyện khó khăn. Họ là những người quy y hai mặt; họ
đã gạt hành động quy y ra khỏi dòng tâm thức và đã tự mình bước ra khỏi
hàng ngũ Phật tử.
Một vài người nói:
“Một ít đạo Phật, một ít đạo Bon” nhưng không có lý do gì những vị thầy
đạo Bon, pháp và tín đồ của họ lại xứng đáng làm chỗ nương tựa; ba thứ này
không có đủ những đức tính cần thiết. Những bậc thầy của đạo này không có
những đức tính như từ bỏ mọi lỗi lầm v.v…, pháp của họ lại cũng không phải
là một phương tiện để giảm trừ vô minh vọng tưởng. Họ tuyên bố tăng già
của họ căn cứ trên giới biệt giải thoát, nhưng giới của họ không có hệ
truyền thừa.
Đạo Bon không phải là
một chỗ quy y cho Phật tử; nó không xứng đáng làm chỗ nương. Tuy nhiên
những người theo Phật và tín đồ đạo Bon thường nói chuyện với nhau vì thân
hay thù, và điều này không đưa đến sự tranh luận thẳng thắn. Điều cốt yếu
là bạn phải biết nguồn gốc của đạo Bon. Những nguồn gốc này được bàn trong
những sử liệu và những tác phẩm như Tấm Gương Về Sự Hùng Biện của
tác giả Tukaen Dharmavajra; sách này nói về những gì mà các bậc thầy khác
nhau công nhận, và nguồn gốc những giáo điều của họ.
Những pháp sư đạo Bon
và giáo lý của họ cũng như những kiến chấp của họ đã làm hỏng những quan
niệm và pháp hành của những người không Phật tử. Họ cũng đã ăn cắp giáo lý
của Phật. Những tà pháp của họ được sáng chế rất lâu về trước, và ác pháp
này hiện đang thịnh hành khắp nơi; nhưng đó không phải là chỗ nương xứng
đáng cho những người khát khao giải thoát, lại cũng không phải là chỗ
nương đáng tin cậy. Drigung Jigtaen Goenpo nói:
“Về pháp thiền và tri
kiến của đạo Bon: theo giáo lý của họ thì có vẻ rằng vũ trụ được sinh ra
từ những cái trứng hoặc sáng tạo bởi những vị thần Cha, thần Shiva v.v…
Đây là những vay mượn từ các tà kiến ngoại đạo.”
Lịch sử Phái
Kamdampas hậu kỳ nói:
Ngoại đọa và những người
theo đạo Bon mau đắc thần thông.
Mặc dù bây giờ sung sướng
Về sau họ phải sa đọa
Ngoại đạo và đạo Bon giống
như lửa:
Bạn cảm thấy ấm áp tiện nghi
khi đứng hơi xa,
Nhưng nếu sờ vào bạn sẽ bị
đốt cháy.
Milarepa nói:
Nguồn gốc của đạo Bon là tà
Pháp.
Một sự sáng tạo của loài
rồng.
Nó không đưa người ta đến
con đường tối hậu.
Bon là đạo thấp nhất.
Sự khác nhau giữa đạo Phật
và đạo khác
Là ở chỗ quy y:
Chỗ nương của Phật tử là 3
ngôi báu;
Của người không Phật tử là
Phạm Vương, Đế Thích.
Đức Phật đã giác ngộ hoàn
toàn
Tự mình thoát khỏi sinh tử
Nên cũng có thể giải thoát
người khác.
Những vị trời thuộc thế gian
như thần Shìva
Chính họ cũng bị buộc vào
sinh tử
Họ có thể ban cho người
những thành công ngắn hạn,
Nhưng làm sao họ có thể đem
lại giải thoát hoàn toàn?
Họ nói “mong tôi thành Phật
quả
Trong Mandala của 5 bộ loại
rồng
Được tìm thấy trong Tuyển
tập về Rồng Trắng.”
Những rồng được xếp vào loài
súc vật.
Phần đông tín đồ đạo Bon làm
những tượng thần như Kunzang
Và những đồ hình khác nhau;
nhưng tôi nghĩ đấy là tà pháp
Do đạo sư Váy Xanh sáng
chế..
(Kyabje Pabongka Rinpoche
nói chi tiết về việc này)
Ngày nay có người nói
rằng những vị thần đạo Bon như Shenrab và Oekar là một với đức Quán Thế Âm
trong đạo Phật. Họ tuyên bố: “Để cho tất cả hữu tình đều thành đệ tử Phật,
có nhiều hóa thân của chư Phật và Bồ tát đã xuất hiện trong hàng ngũ tín
đồ đạo Bon. Bởi thế theo đạo Bon cũng không sao, có thể là điều tốt.” Họ
tuyên bố ồn ào như vậy do sự mù lòa lớn lao của họ, bởi vì dòng tâm thức
họ đã bị nhiễm tà kiến. Nếu những gì họ nói là đúng, thì cũng có thể nói
rằng bắt chước những hành vi của chó và heo cũng không sao, có thể là điều
tốt bởi vì cũng có thể rằng những hóa thân của chư Phật Bồ tát đã xuất
hiện trong loài thú vật. Người nào mong muốn điều tốt nhất thì nên từ bỏ
những tư tưởng tà ác nôn mửa như thế, cũng như từ bỏ những cục đá họ sử
dụng để chùi đít. Chỗ nương duy nhất cho Phật tử là ba ngôi báu. Những
Phật tử nên quy y một cách thuần tịnh, và điều cốt yếu là họ phải hoàn
toàn quy phục chỗ mình đã quy y.
Tóm lại ta không chỉ
cần đọc lên những lời suông “quy y” mà thôi. Cũng như một tử tội tìm sự
che chở của một quan chức, chúng ta phải sợ những đọa xứ, sinh tử v.v…, và
phải tin chắc Tam Bảo có năng lực che chở cho chúng ta. Rồi ta phải nghĩ
một cách chân thành, bằng tất cả tâm vương và tâm sở, rằng chúng ta đang
đặt hết niềm tin vào Tam Bảo. Đây là tiêu chuẩn của sự quy y chính đáng.
Chúng ta đã khai triển sự quy y trong dòng tâm thức hay chưa, điều ấy tùy
thuộc vào việc ta đã phát sinh những tư tưởng như thế hay chưa trong dòng
tâm thức. Bởi vậy đừng giống như những người tụng đọc công đức quy y hàng
tỉ lần mà không một lần phát sinh thực chất của quy y trong dòng tâm thức.
Bạn phải nỗ lực theo những kỹ thuật để khai triển những nguyên nhân quy y
và chính sự quy y trong dòng tâm thức bạn.
Có 2 cách quy y khác
nhau: chỉ tìm sự che chở và xem Tam Bảo như là cái mà người khác đã thành
tựu trong dòng tâm thức của họ, và hình thức đặc biệt của sự quy y xem Tam
Bảo như một cái gì có thể được khai triển trong dòng tâm thức của mình, và
quyết định rằng mình đã thành tựu được điều này. Có nhiều cách làm hai
loại quy y này trong mỗi phạm vi của Lam-rim, nhưng vì chúng ta là những
người đang học và quán những cổ thư, nên chúng ta phải cố làm pháp quy y
đặc biệt, tuy nhiên sự học thật nhiều có thể không giúp gì bao nhiêu khi
nói đến chuyện quy y; nếu chúng ta học và quán chỉ như một sự luyện tập
tri thức, thì có mối nguy là sự quy y của chúng ta sẽ không khác gì sự quy
y của một cư sĩ già. Tuy nhiên ngay dù ta không biết gì về những cổ thư,
chúng ta cũng nên có cả 2 nguyên nhân quy y và nên hoàn toàn quy phục Ba
ngôi báu. Đây là cách làm như vậy.
Hãy nghĩ đến cách
những người bệnh phó thác mình cho y sĩ, thuốc và người điều dưỡng. Nếu
bạn có những nguyên nhân để quy y và tin tưởng ngôi Tam Bảo tận đáy lòng,
thì bạn sẽ phát sinh sự quy y một cách chân chính trong dòng tâm thức của
bạn. Vậy đây là điều cốt yếu nếu không, thì không ăn thua gì để đọc công
thức quy y nhiều lần mà tự xưng mình là một Bồ tát v.v…, như phái Kadampa
tiền kỳ đã nói: “Vị trưởng lão trước mặt bạn ở trong chánh điện có thể
chưa gia nhập hàng ngũ những người Phật tử.”
a-4. Những lợi lạc
của sự quy y
Có 8 điều lợi: Bạn
trở thành một Phật tử, bạn trở thành một người có thể thọ tất cả giới, bạn
sẽ tiêu trừ tất cả chướng ngại do nhiều nghiệp tích lũy từ trước, bạn sẽ
dễ dàng tích lũy một lượng công đức khổng lồ, bạn sẽ không bị phiền nhiễu
vì những hành vi tác hại của người hay chúng sinh khác, bạn sẽ không rơi
vào các đọa xứ, bạn sẽ thành tựu không khó khăn tất cả những mục tiêu tạm
thời và dài hạn của mình, và chẳng bao lâu bạn sẽ đạt giác ngộ.
Bởi thế khi làm pháp
quy y, đừng nên chỉ nhẩm lại những lời như người khác nói, hoặc chỉ quy y
ngoài miệng, mà phải quy y từ trong tâm. Bạn trở thành một Phật tử chỉ khi
nào bạn phát triển được hành vi quy y một cách chân chính trong dòng tâm
thức, việc đọc tụng công thức quy y hàng trăm lần không làm cho bạn trở
thành một Phật tử. Người ngày nay nói: “Bạn phải đọc công thức quy y nhiều
lần” nhưng rất ít người nói “Bạn phải khai triển việc quy y ngay trong
dòng tâm thức của bạn.”
Ngày xưa ở Dagpo, một
thầy tu tên là Atar đang nhập thất cùng với bằng hữu, họ phải tụng đọc
công thức quy y một số lần. Atar suy nghĩ sâu xa về ý nghĩa đằng sau sự
quy y nên đọc chậm hơn những người khác. Họ nhanh hơn nhiều bởi vì họ chỉ
lặp lại công thức quy y; họ hoàn tất gần một tỉ lần. Vì sợ Atar không hoàn
tất được số lần cần thiết, họ hỏi ông đã đọc được bao nhiêu lần, và Atar
đã nói: “Bạn chỉ có tích lũy một số lần đọc cho nhiều hay sao?” Vậy nếu
bạn tụng đọc công thức quy y mà đồng thời duy trì sự chú ý vào ý nghĩa của
quy y, thì nhờ thế bạn trở nên thuần thục, và sự quy y có đầy ý nghĩa.
Khi bạn phát nguyện
thọ bất cứ giới nào trong 3 loại giới, trước hết bạn phải quy y. Nếu không
bạn không thể thọ giới. Cũng như đất nâng đỡ nhà, mùa màng, tường vách,
rừng cây v.v… hành vi quy y là căn bản để thọ tất cả giới.
Bạn có thể đã phạm
nhiều ác nghiệp trong quá khứ và tích lũy nhiều chướng ngại - chẳng hạn
tội ngũ nghịch như A xà thế giết cha là vua Bình Sa người đã chứng quả Bất
hoàn, hoặc phạm những tội nhỏ hơn - nhưng khi bạn đã quy y bạn sẽ tịnh hóa
được những nghiệp như thế và những chướng ngại phát sinh từ nghiệp, vì bạn
đã tìm chỗ nương nơi đức Phật. Sau đó dù đọc danh hiệu chư Phật hay đọc bộ
kinh Bát Nhã Ba La Mật một lần cũng sẽ tịnh hóa nghiệp chướng nhiều kiếp.
Kinh tạng nói rất nhiều về những lợi lạc này. Bản kinh Bát nhã ngắn đã
nói:”Nếu công đức của sự quy y mà có hình tướng, thì 3 cõi cũng không đủ
chỗ để chứa đựng.” Nói cách khác, công đức do hành vi quy y thật là vô
lượng.
Chư Phật là những
đấng có tiềm năng thiện nghiệp mạnh đến nỗi những thiện căn phát sinh liên
hệ đến các Ngài đều chắc chắn sẽ làm nhân cho người ta đạt đến toàn giác,
dù cho họ không có động lực thanh tịnh. Kinh Sen Trắng Của Lòng Bi Mẫn
nói:
“Này A nan, việc ấy
như thế này. Giả sử một gia chủ có một cánh đồng không đá, không gốc cây,
sỏi, gạch vụn, mà có một thứ đất mầu mỡ. Người ấy làm đúng bằng cách gieo
hạt giống trong khi đất còn mới, phì nhiêu. Nắng và gió không tác hại; hột
giống không bị nẻ cũng không thối và được gieo đúng lúc trên những luống
đất đã cày. Khi thì người ta tưới nước, khi thì để khô, và bảo vệ nó khỏi
mọi sự. Này A nan, người gia chủ có một ngày nào sau đó lại đi đến bờ
ruộng nói: “Hỡi hạt giống, xin đừng làm hạt giống nữa. Đừng nảy mầm, đừng
lớn lên. Ta không muốn kết quả. Ta không muốn phần thưởng.” Này A nan,
ngươi nghỉ sao? Liệu những hạt giống có vì những lời ấy mà không còn là
hạt giống nữa không?
- Không bạch Thế Tôn.
Không bạch Thiện Thệ.
Đức Phật bảo: Có phải
quả sẽ không là quả nữa, có phải người ấy sẽ không gặt được phần thưởng
nào?
- Không, bạch Thế
Tôn. Không, bạch Thiện Thệ
Khi ấy đức Phật dạy:
Này Ananda, khi những người ca tụng sinh tử, vui thích trong sinh tử, cúng
dường chư Phật, thì dù họ có cầu nguyện, mong rằng nhờ thiện căn này tôi
sẽ không bao giờ đến Niết bàn,” cũng không thể nào họ không đạt đến Niết
bàn. Này A nan, những thiện căn phát sinh liên hệ chư Phật sẽ có kết quả
là Niết bàn, dù chúng không muốn. Ta bảo ông, những thiện đức ấy sẽ chuyển
biến cho đến khi chúng đạt Niết bàn. Bởi thế, mỗi khi người ta phát thiện
căn dù chỉ là một niệm tưởng đến chư Phật Thế Tôn, thì kết quả của những
thiện căn như vậy sẽ là Niết bàn. Ta bảo ông, những thiện căn ấy sẽ chuyển
hóa cho đến khi người ta đạt tối hậu Niết bàn.”
Người ta se không bị
phiền nhiễu bởi những hành động tác hại của người hay loài khác. Đây là
vài câu chuyện để chứng minh.
Có lần một người
ngoại đạo làm một tròng bằng khí lực và cố bắt lấy một ưu bà di của Phật
với chiếc tròng ấy, nhưng không thành công.
Một người Ấn bị vua
kết án tử hình, phải bị quăng bỏ ở nghĩa địa. Tất cả những người bị đày
đến đấy đều đã biến mất: chúng bị một loài phi nhân mang đi ăn thịt, không
một ai sống sót trở về. Người Ấn này đặt trên đầu mình một mảnh vải y tỷ
kheo rồi làm pháp quy y. Sau đó y không bị các phi nhân quấy nhiễu hay làm
hại.
Một kẻ du mục có lần
bỏ lại mọt mình trong một ngày tại chỗ không người. Y bị một phi nhân yeti
tấn công gần chết, còn để lại nhiều vết sẹo trên đầu. Một vị lama hỏi
nguyên do những vết sẹo ấy; y kể lại và vị lama dạy nên quy y.
Về sau người ấy lại
gặp một yeti. Ông làm pháp quy y; yeti đánh hơi đã không nhận ra mùi thịt
người nên bỏ đi.
Một đêm, khi thấy
mình sắp lạc vào nghĩa địa, gia chủ Cấp Cô Độc đọc bài kệ quy y nên những
phi nhân ở đấy không làm hại ông. Sau đó ông lại quỳ trước một tượng thần
ngoại đạo, nên đã mất sự che chở.
Một tên trộm có lần
trông thấy người ta cúng y cho một tỷ kheo. Anh ta trở về đêm để ăn trộm.
Vị tỷ kheo làm phép trói lại đánh ba hèo, vừa đánh vừa đọc lời quy y. Tên
trộm bỏ chạy trốn dưới một cây cầu phi nhân thường lai vãng. Anh nhẩm lại
những lời vị sư đã đọc và nhủ thầm: “May quá, chỉ có ba quy y chứ nhiều
hơn nữa chắc mình sẽ chết.” Đêm ấy những phi nhân không thể qua cầu.
(Kyabje Pabongka
Rinpoche còn kể thêm vài mẫu chuyện khác.)
Khi gặp nguy chúng ta
không nên sợ hãi, mà phải rút can đảm từ nơi Ba ngôi báu; và chỉ cần nương
Tăng bảo cũng đủ thoát hiểm.
Quy y còn ngăn ta
khỏi tái sinh vào đọa xứ. Một vị trời biết chắc mình sẽ tái sinh làm một
con heo nên xin Đế Thích cứu và thỉnh vấn đức Phật, Phật chỉ dạy ông pháp
quy y. Vị trời theo lời dạy quy y rồi chết. Đế Thích tra tầm xem ông ta
tái sinh chỗ nào; nhưng ông chỉ thấy được những tầng trời thấp hơn mình và
không tìm thấy vị trời kia tại những nơi ấy. Ông hỏi Phật, Phật công bố
rằng vị ấy đã tái sinh vào cõi trời Đâu suất.
Chỉ có nhờ quy y, mà
vị trời ấy không những đã khỏi tái sinh làm heo, mà còn được sinh vào một
cõi trời rất thù thắng. Tuy vậy chúng ta lại không biết được tầm quan
trọng như thế của sự quy y. Trong những buổi lễ, chúng ta ngồi thấp thỏm
bồn chồn khi nhẩm đọc: “Cho đến ngày giác ngộ, con xin quay tựa về nương
tựa Phật, Pháp, Tăng…” Khi đến đoạn “Om svabhàva shuddhah sarva dharmah
svabhàva shuddho ham”,
chúng ta giả vờ đăm chiêu thiền định và lăn tròn đôi tròng mắt. Đây là
dấu hiệu ta không biết cái cửa ngõ đi vào Phật giáo hay một phương tiện kỳ
diệu để ngăn tái sinh vào các đọa xứ.
Atìsha thấy chỉ có
quy y và luật nhân quả là quan trọng, nên ngài chỉ dạy hai pháp ấy. Người
ta mệnh danh ngài là “vị lama quy y” hoặc “lama nhân quả.” Ngài nghe được
việc ấy và bảo: “Những cái tên đặt cho tôi như vậy cũng sẽ giúp cho việc
giảng dạy giáo lý.”
Khi ta chết, việc
thiền quán các giai đoạn phát sinh và hoàn tất có thể vượt ngoài khả năng
ta, nhưng nếu ta làm pháp quy y một cách chân thật thì chắc chắn một điều
là ta không sa vào các đọa xứ. Sangyae Oen nói:
Tóm lại, nếu tôi không phát
triển
Thực chứng về chết và vô
thường,
Thì cả đến mật điển
Guhyasamàja
Cũng không có gì sâu sắc.
Nhưng ba bài kệ quy y
Thật sâu sắc khi được phát
sinh
Trong dòng tâm thức tôi vào
lúc chết.
Cũng không có phương
tiện nào tốt hơn để thỏa mãn các ước nguyện của ta hơn là quy y. Jangsem
Retrenw nói:
Đừng đăt hy vọng nơi
con người - hãy cầu khẩn Tam Bảo!
Nói cách khác, những
bậc thánh trong quá khứ đã thành tựu được những mục tiêu ngắn hạn và dài
hạn của mình nhờ khẩn cầu Ba ngôi báu. Có lần vị bồ tát ở Retreng này
vướng vào một vụ kiện tụng; ông đã được kiện nhờ nương vào Ba ngôi báu.
Bạn cũng sẽ sớm đạt
giác ngộ. Sự quy y bây giờ của bạn sẽ có kết quả trong tương lai là những
hành động tương ứng với nguyên nhân ấy. Trong đời này, mỗi khi gặp nghịch
cảnh bạn liền quay về nương tựa Tam Bảo ngay. Và bởi vì điểm đặc biệt của
tâm thức ta là đi theo gì nó đã quen thuộc, nên bạn sẽ nhờ Phật khi bạn
chết. Kinh Tam Muội Vương nói:
Lại nữa, hãy làm những hình
tượng đấng Chiến Thắng,
Và nhớ nghĩ đức Thích Ca Mâu
Ni,
Trí tuệ căn bản của Ngài
thật vô lượng.
Nếu ta luôn luôn nhớ đến
Phật
Thì tư tưởng ta tự nhiên
quay về nơi Ngài…
Với thân lời thanh tịnh
Hãy luôn luôn ca tụng Phật.
Làm cho dòng tâm thức quen
thuộc với những ý tưởng ấy,
Bạn sẽ trông thấy Phật ngày
đêm.
Khi nào bạn đau ốm hay bất
hạnh
Hay gặp thống khổ trước khi
chết,